MƯA RỪNG

đêm trong rừng đêm mồ côi
con chim gõ kiến ngọn đồi mai xưa
ta tiều phu đến muốt mùa
dốc tiền kiếp nặng sợi mưa tóc thề

trái tim rú động lối về
đồng bằng còn nhớ man khê không đồng?
gùi lên đây một dòng sông
vực sâu huyền nhiệm lửa hồng mắt reo

mê trầm hương tự hút heo
vì đâu ngậm ngải truông đèo nắng mơ
đêm trong rừng mưa giang hồ
réo hoài chi một bài thơ nguyệt cầm

 ơn ai khốn khổ cát lầm
gõ lên tượng đá một lần kêu ca
rắc lên bụi cát hào hoa
suối khe từ độ diết da vô cùng

 TRƯƠNG ĐÌNH TUẤN

Vui buồn đời thợ ảnh

 

 

 

Tôi đã mang cái máy ảnh 26 năm. Làm nghề chụp hình để nuôi bản thân và gia đình. 26 năm, gần nửa đời tôi đã đi qua. Vui có, buồn cũng không ít với những gì mà nghề chụp hình mang lại

Người ta thường gọi nghề này là nghề Nhiếp ảnh, riêng tôi, tôi cho rằng hai chữ “Nhiếp ảnh” lớn lao quá, nó chỉ dành cho những “Nhiếp ảnh gia”, chuyên chụp những tấm hình nghệ thuật. Còn tôi, từ khi vào nghề, đã xác định là chụp hình kiếm cơm, kiếm cái ăn để sống nên từ ấy cao đẹp quá tôi không dám gán cho mình. Quả thật thế, 26 năm cầm máy ảnh, tôi chưa ghi được một tấm hình nào có đủ yếu tố để gọi là nghệ thuật, nên tôi luôn cho mình chỉ là anh “thợ chụp hình”. Nhờ nghề này, tôi tiếp xúc với nhiều khách hàng, với những hoàn cảnh buồn vui. Của mình và của người…

Nay tôi đã vào tuổi 63, xem như gần cuối đời, nên chăng ghi lại những câu chuyện này như những dòng… tâm sự?!

 

 1.Vào nghề:

Khoảng cuối năm 1982, Tôi rời nơi cư trú là Quảng Sơn, Ninh sơn, Ninh Thuận, vào Sài gòn kiếm sống bởi nơi đây không cho tôi được ngày hai bữa ăn như mong ước đơn giản nhất của tôi và cũng của nhiều người.

Người dân nơi đây lần hồi bỏ xứ vào Đồng Nai, xin vào công nhân Nông Trường Cao su, lên Buôn Mê Thuột làm thuê, làm nông, hoặc vào miền Tây làm ruộng…Họ đi bất cứ nơi nào, dù vất vả nhưng kiếm được cái ăn. Còn nơi đây, làm nông thì không được bởi nắng mưa thất thường. Đi buôn chuyến thì cũng có người sống được qua ngày nhưng không kiếm đâu ra vốn! May mắn lắm cho ai có bà con, thân nhân có hộ khẩu Sài gòn thì bám lấy nơi đây, chạy xe thồ, xích lô, buôn bán chợ trời, làm nghề linh tinh kiếm sống!

Tôi chẳng có ai bà con thân thích, chỉ có một đứa cháu gọi tôi bằng cậu. con bà chị đầu của tôi, đang học năm thứ ba trường đại học Y khoa và một vài người bạn thân cũng rời bỏ vùng dất khô cằn Quảng Sơn trước tôi, vào mưu sinh nơi thành phố khó khăn nhưng cũng có nhiều cơ hội, dù chỉ là cơ hội để tồn tại!

Bạn bè gặp lại nhau, sau cái bắt tay mừng là lo âu. Trước mắt, ai cũng lo lắng kiếm cho tôi một công việc để sống. Nhiều công việc, nhiều phương án được đưa ra nhưng rồi xét đi xét lại không chọn được việc nào. Đi bỏ trà và thuốc lá lậu, là công việc mà các anh em vào sài gòn trước tôi thường chấp nhận làm để qua ngày trước khi tìm một công việc khác ổn định hơn, thì tôi không có vốn gối đầu, lại không rành đường Sài gòn, không có các quán quen làm nơi tiêu thụ đều đặn (mối). Đạp xích lô cũng gặp phải trở ngại này, từ nhỏ đến lớn tôi sinh ra, lớn lên nơi Quảng trị, rối vào Ninh Thuận, chọn nơi đây làm quê hương thứ hai sau khi Quảng Trị tan hoang vì bom đạn từ mùa hè dỏ lửa 1972, thỉnh thoảng vào Sài gòn. Còn ngơ ngác như chú nhà quê trước cái bề thế của thành phố này.

Sài gòn ngày tôi vào lại chỉ nhiều đường sá. rộng lớn có sẵn trước đây thôi, cái sầm uất ngày nào chỉ còn trong kí ức của người Sài gòn. những dổi thay 7 năm, sau 1975 là một sự vắng vẽ, im lìm. chứ không đông đúc, náo nhiệt, xô bồ… như hôm nay.

Bạn bè thân tình thương thì thương nhau lắm, nhưng sẻ chia cơm áo trong những năm này thật không dễ chịu chút nào! Ai cũng có một hoàn cảnh khó khăn riêng nên không thể cưu mang thêm tôi. Vả lại, tôi cũng không muốn mình trở thành gánh nặng cho riêng ai.

Cái ăn đã khó, cái ở còn khó hơn, một vài người bạn vì tình cảm mà liều lĩnh muốn đưa tôi về ngủ trong nhà mình, nhưng vì biết là sẽ rất phiền toái cho bạn nếu bị xét hộ khẩu đột xuất hằng đêm…nên tôi từ chối, chấp nhận hằng đêm ra ga Bình Triệu hoặc Hòa Hưng, gần đâu thì về đó. thuê chiếu ngủ rồi sáng mai lại…lang thang gặp gỡ bạn bè tìm kiếm việc làm.

Vận may tình cờ đến với tôi, cùng lúc giải quyết luôn cả hai khó khăn: ăn và ở!

Một hôm, đang ngồi ăn cơm trong một quán bình dân ở đường Nguyễn Duy Dương, quận 5. Tôi gặp một người đạp xích lô, tên Tấn. anh ta lớn hơn tôi chừng sáu tuổi, chuyện trò qua lại, anh cho tôi biết là trước đây, anh từ Quảng Ngãi vào, cũng lang thang như tôi, sau đó anh xin được vào làm công, đóng bao bì ( két gỗ đựng bia hay nước ngọt chai) cho một xưởng mộc của Trường Lê Quý Đôn. Không hợp đồng giấy tờ hộ khẩu gì, Chỉ cần đưa cho tổ trưởng CMTND. Cứ sáng đến chiều tổ trưởng đếm được bao nhiêu thì tính tiền bấy nhiêu, một tuần lãnh tiền một lần vào chiều thứ bảy, chúa nhật nghỉ. Anh sẽ hỏi lại rồi báo cho tôi biết vào ngày sau.

Ngày sau, cháu tôi chở tôi đến quán cơm, hồi hộp chờ anh Tấn. Anh đến ăn muộn vì vừa đạp một cuốc xe qua quận Bình Thạnh.

Anh vừa lau mồ hôi vừa bào tin mừng cho tôi, không những đã xin được cho tôi việc làm mà còn có thể ngủ lại vào ban đêm cùng với nhóm thợ máy rong xẻ gỗ.

Tôi chộp lấy hai vai anh Tấn lắc mạnh với lòng biết ơn, ngưỡng mộ!

Anh Tấn chở tôi đến xưởng mộc chiều hôm đó, vào làm ngay. Tôi được giao cho một túi đinh 3 phân, chừng 2kg. Một công nhân dẫn tôi đến chỗ để gỗ, cứ ôm về đóng, hết thì  đến lấy tiếp. Công việc dễ đến độ tôi nhìn thoáng qua là làm được ngay. Buổi chiều hôm ấy, tôi đóng được 17 cái thùng. Một cái 0,5 đồng (năm hào), ngày sau và những ngày kế tiếp trung bình đóng được 40 cái. Tính ra một ngày được 20 đồng. Thu nhập khá cao cho cuộc sống của tôi khi ấy! Cơm trưa được ăn tại xưởng, không mất tiền, tối ăn cơm bình dân 2 đồng, sáng tôi uống cà phê với gói thuốc Mai hết 2 đồng. Một ngày trước mắt tôi thừa được 16 đồng. Tôi tính nhẩm, trước tiên, sẽ cố gắng để dành cho đến khi mua được chiếc xe đạp.

Niềm vui ngập lòng, tôi mong đến chúa nhật để khoe cho bạn bè yên tâm. đồng thời giới thiệu anh Tấn, ân nhân của tôi với họ. Tôi nghĩ đến chuyện sẽ cùng anh em uống mừng công việc và cũng bù cho những tình cảm mấy hôm nay của bạn bè. Địa điểm là các quán phở ở đường Kỳ Đồng, gần nhà thờ Chúa Cứu Thế, ga Hòa Hưng. Nơi đây phở rẻ nhất. một tô một đồng (rẻ là bởi có thể xin thêm dĩa giá trụng vun mà không thêm tiền). Về đây tìm là gặp bạn bè tôi.

Một tháng sau, tôi để dành được trước sau 50 đồng. một người bạn đem tôi lên đường Lê Lai, nơi đây là chợ xe đạp. Mới có, cũ có, vào hầm chứa xe thì có thể chọn theo ý mình. Tôi cùng bạn chọn một chiếc, cũ nhưng khá tốt: Xich, líp, Niềng và Sườn đều của Nhật.

Tôi hỏi bạn xe đâu mà ở đây nhiều thế?

– Xe chôm từ các nơi gom về đây. Cứ yên tâm vì chiếc này ráp từ ba chiếc lại, không ai nhận ra đâu!

Tốt nhưng rẻ, chiếc xe chỉ 36 đồng, vẫn còn thừa 14 đồng! Tôi có thể trả chiếc xe mượn từ hôm vào đến hôm nay lại cho cháu tôi đi học. Nó ở KTX  đường Ngô Gia Tự qua trường cũng gần nên mấy hôm nay nó đi bộ.

oOo

Xưởng mộc của trường Lê Quý Đôn là nơi hợp đồng của một HTX nào đó. Lấy nguồn gỗ từ Đồng Nai, dạo này vào mùa mưa, thỉnh thoảng bị gián đoạn vài ngày vì không có gỗ. Họ cũng đang có ý định chuyển hướng sang sản xuất đồ mộc cao cấp, nếu vậy thì cần ít công nhân hơn và tay nghề cao. Những ngày nghỉ tôi đạp xe loanh quanh tìm bạn bè ngồi chuyện trò, May mà tôi đã mua được chiếc xe để đi lại, công việc không còn đều đặn nên thời gian này cũng không dành dụm được gì!

Một hôm tôi đang ngồi đóng thùng, bảo vệ báo có người tìm, tôi ra cổng thì gặp Lượng. Lượng là em ruột Quảng. một người bạn thân của tôi, từ hôm vào đến nay tôi chưa gặp. Chuyên trò chút xíu rồi Lượng hẹn chờ tôi đi ăn cơm tối.

Quảng đã vượt biên bốn năm nay, Lượng cho tôi biết là Quảng đang đinh cư ở Canada.

Lượng hỏi han tình hình công việc, nơi ăn ở của tôi hiện nay. Nghe xong. Lượng đề nghị:

– Lâu nay trong gia đình của em vẫn xem anh như anh Quảng, nay ba mẹ mất rồi, anh Quảng cũng đã ở xa, trong nhà không còn ai, anh đã vào đây thì về ở với tụi em cho vui.

Từ ngày vào Sài gòn, những đề nghị của bạn bè như thế này cũng có, nhưng tôi từ chối vì biết là sẽ khó khăn nhiều cho bạn. bây giờ Lượng đưa ra đề nghị này làm tôi băn khoăn.

– Hình như em đã lập gia đình rồi phải không?

– Dạ, vợ em hiền và dễ chịu chứ không khó khăn gì đâu!

– Từ Bình Thạnh mà lên Lê Quý Đôn, Quận l, đi làm thì xa quá Lượng ha?!

– Em nghĩ anh thôi làm chỗ đó đi.

Tôi nhìn Lượng dò hỏi:

– Hiện nay bên quận Bình Thạnh, có mở Câu Lạc Bộ dạy nhiếp ảnh, anh qua ở với em rồi đăng ký học chụp hình đi, em thấy anh làm nghề này cũng hay, đỡ vất vã.

Tôi nói với Lượng:

– Mai anh em mình đi gặp anh Trung, hỏi xem ý anh ấy thế nào.

Anh Trung cũng là người ra đi từ nơi tôi ở, vào Sài gòn trước chúng tôi. Trước năm 75, anh ấy làm hiệu trưởng dồng thời dạy Pháp Văn cho một trường tư thục Thiên Chúa Giáo ở Nha Trang. Sau 75 đi cải tạo hai năm, về không được đi dạy nữa, anh đem vợ và hai đứa con vào Sài Gòn. Hiện anh làm bảo vệ không lương cho một võ đường Teakwondo,. Có nhiệm vụ trông coi, quét dọn sàn tập hằng đêm sau khi võ sinh tập xong. Chúng tôi thường đùa vui:

-Tầm cỡ bảo vệ võ đường Teakwondo thì in ít cũng là tam đẳng trở lên đây nhe…Liệu hồn mấy thằng lơ mơ!!!

Thực ra, anh nhỏ con và thậm chí gầy còm, đâu khoảng chừng 46 kg.

Không có lương nhưng anh lại có chỗ tá túc cho vợ con trong một căn phòng nhỏ chừng 12m2 của võ đường. Căn phòng ở tít lầu ba, cầu thang thì hẹp, không gởi xe ở dưới được, nên chúng tôi hoặc là vác xe lên lầu ba, hoặc là đứng ở dưới rồi hét gọi anh ấy mỗi lần cần gặp nhau.

Hai chúng tôi gọi thật lâu mới thấy con trai anh ấy thò đầu ra nơi cửa sổ, thấy tôi và Lượng, cháu quay vào gọi anh Trung. Chúng tôi cùng nhau đến quán cà phê đầu dường, quán cà phê không phải cửa hàng quốc doanh là một nơi xa xỉ, chúng tôi chỉ dến những quán này khi nào rủng rỉnh tiền bạc hoặc có chuyện quan trọng cần bàn, quán ngồi riêng từng bàn, cách nhau bởi các chậu cây cảnh chứ không ngồi bàn dài, tập thể như các cửa hàng quốc doanh!

Chính anh Trung là người báo cho Lượng biết tôi đã vào Sài Gòn…Anh lớn tuổi và chín chắn, rất có tình với anh em nên ai cũng quý mến và tôn trọng anh như anh cả. Nghe Lượng nói chuyện đưa tôi về ở trong nhà rồi đi học chụp hình, anh Trung nghĩ ngợi thật lâu:

– Trong anh em, Lượng là người có diều kiên nhất. Nhà của mình, kinh tế cũng tàm tạm chứ không chạy bữa như những anh em khác, chú Sinh về ở với Lượng thì tốt rồi, nhưng chuyên đi học chụp hình rồi kiếm sống bằng cái máy ảnh không biết có ổn không?

Lượng nói:

– Nghề này được cài là dễ học, đi sâu vào nghệ thuật thì khó nhưng mình chỉ cần biết kỷ thuật chụp, tráng rọi ảnh…kiếm cơm thì hai anh em cùng làm với nhau như lâu nay em làm, tính ra cũng đủ nuôi gia đình. Có mối thì đi chụp, khi nào rãnh  cứ lên công viên, bến nhà rồng… kiếm chừng hai chục kiểu là có ăn.

– Chuyện ăn ở, bên phường có khó khăn chi không?

– Có anh Sinh thì thêm chút xíu, nhưng hàng tháng anh Quảng có gởi cho em vài kg thuốc Tây. Em không khó khăn như anh em mình ở đây. Có anh Sinh như có người lớn trong nhà. Ông tổ trưởng rất thương em, hôm bà vợ ông ấy bệnh, anh Quảng gởi về cho mấy hộp thuốc, từ đó ông coi em như con ruột. Em cứ báo anh Sinh là anh con bác ngoài quê vào là êm, Tụi mình cùng nói “trọ trẹ” họ tin liền!

Lượng tuy đã có gia đình, nhưng còn nhỏ. chỉ mới hai mươi bốn tuổi. nhỏ hơn Tôi sáu tuổi. Lượng có một chị, lấy chồng hiện đang ở quê chồng dưới miền Tây. Sau Lượng còn hai em nhỏ học cấp hai. Trong nhà hiện nay gồm hai vợ chồng và đứa con hai tuổi, hai đứa em, thêm tôi vào là sáu miệng ăn nhưng đều còn nhỏ nên cũng không chật vật. Lượng rất chịu làm. Ngày lên hồ Con Rùa và các nơi chụp ảnh lưu niệm cho khách, tối về rọi, sáng mai giao. Trung bình ngày cũng kiếm được bốn năm chục đồng. Những ngày lễ có ngày được cả trăm.

Tôi ôm vai Lượng như ôm một đứa em. Gương mặt Lượng rất giống với Quảng, hồi còn nhỏ, Quảng rất lo cho cu câu, nghe đâu có đành lộn là y như rằng có Lượng. Tự nhiên Lượng thay đổi hẳn sau ngày cha mẹ qua đời…Nhờ vậy, Quảng mới yên tâm vượt biên.

oOo

Hôm đó tôi về nhà ngủ đêm đầu tiên với Lượng. Tôi gặp vợ Lượng ra chào mà ngạc nhiên không biết có phải đây là vợ của Lượng không ?! Một cô bé con chứ đừng nói đây là một thiếu nữ. lại là đã có một đứa con! Đóan được điều ngạc nhiên trong tôi, Lượng cười:

– Vợ em mới hai mươi tuổi thôi anh Sinh!

Tôi cười đùa:

– Ừ, tại chú dụ dỗ nên hoang sớm phải không?

Tối lại, hai anh em chúng tôi ngủ chung trên tấm chiếu trải giửa nên nhà, nằm đốt thuốc rầm rì chuyện xưa chuyên nay, phần nhiều là nhắc đến Quảng. Lượng kể tôi nghe cái khốn đốn ngày cha mất, rồi năm sau đến mẹ! Quảng vượt biên cũng do một người bạn của cha, thương mấy anh em côi cút, cho đi chớ nhà không có tiền hay vàng gì cả!

– Ban đầu, anh Quảng định cho em đi. Nhưng bác ấy nói:

– Con đi, trước mắt cứ đưa mấy em về ở với nhà em gái con. Chị em nuôi nhau, con đi được qua bên đó mới làm lụng được, nuôi mấy em chứ Lượng còn nhỏ, biết làm gì nơi xứ người!

– Thế chú lấy vợ khi nào?

– Anh Quảng đi, tụi em về ở với chị Thương dưới miền Tây. Vợ em là cháu của anh Thục, chồng chị Thương.

Gần sáng, hai anh em định chợp mắt một lát để ngày mai lên câu lạc bộ nhiếp ảnh dăng ký cho tôi học chụp hình. Tôi nhắm mắt thì nghe Lượng lâm râm một mình:

– Em nói gì vậy?

– Không, em cầu nguyện, từ khi anh Quảng vượt biên, đêm nào em cũng đọc kinh, giờ thành quen, tối nào không đọc, cứ trằn trọc…khó ngủ!

Sáng sớm. Lượng dậy trước tôi, lục tìm một lúc rồi đưa cho tôi hai cuốn Kiến Thức Phổ Thông, hai số báo chủ đề về nhiếp ảnh. Hai anh em đến cửa hàng giải khát Thanh Niên. Lượng mua phiếu hai ly cà phê, tiêu chuẩn kèm cho hai ly là một gói thuốc Hải Đảo. Tất cả là hai đồng. Chừng bảy giờ rưỡi, chúng tôi đến Câu lạc bộ. Học viên đăng ký chỉ cần có Chứng minh thư và đóng mười hai đồng cho một khóa ba tháng. Lượng không cho tôi đóng tiền:

– Anh giữ lại mà tiêu vặt, để em đóng.

Tôi mua tại quầy sách ở cổng một tập vở dày và một cây bút. Lượng dắt xe ra, nói với tôi:

– Có mấy ông thầy giỏi lắm. Em hồi đó nhờ thầy Tôn Lập. Vài bữa em giới thiệu với anh. Ông dạy Chân Dung và Háa chất, tráng rọi ảnh. Nhà cũng gần nhà mình…

Tôi vào học nghề Chụp hình như thế, một nghề mà từ trước tôi chưa bao giờ nghĩ đến, sẻ là nghề gắn bó với tôi suốt hai mươi sáu năm. Nuôi sống bản thân rồi cả gia đình, bốn đứa con…cho đến khi không thể theo nghề được nửa!

oOo

Khốn khổ phim Liên Xô ! 

Sau này, khi tuổi đời đã khá lớn, tôi mới thấy rằng cuộc đời nhiều chuyện đến với mình, suông sẻ hay trầy trật…cũng đều do cài Duyên cái Số.

Nhưng vào thời kỳ tôi dang chật vật với cái ăn, cái ở… những ngày tháng đầu khi đặt chân đến đất Sài gòn, với tuổi đời chưa tới ba mươi, tôi cho là số mình may mắn, thậm chí còn có chút tự hào là mình “Biết xoay xở” “ Cố gắng”và “ Tài giỏi” nữa!

Gặp lại Lượng, em của một người bạn thân trước 75 là Quảng, giờ đã vượt biên và định cư ở Canada. Về ở với Lượng, đi học chụp hình và cùng làm nghề nuôi thân với Lượng, cuộc sống tôi ổn định và thú vị với cái nghề tạm gọi là: Chụp hình lưu niệm.

Thời kỳ này, đã bắt đầu chụp hình màu trở lại. Ngày trước 75, cũng đã có hình màu nhưng phần nhiều là hình chụp lấy liền, với loại máy Polaroid vả giấy ảnh chụp xong là có hình, chỉ cần bóc lớp giấy mỏng. Sau 75, do khó khăn là thị trường không nhập được giấy ảnh nên rất đắt, rồi dần hết hẳn. Về sau, thời kỳ tôi làm chụp hình dạo, một số phim màu được đem về từ Đức, hiệu Agfa, thỉnh thoảng có  Kodak( Mỹ), bắt đầu có hình màu trở lại. Nhưng cũng rất khó khăn vì khâu tráng rọi thủ công. Cả nhóm thợ chúng tôi, nhiều khi  ba, bốn điểm chụp mới có một máy gắn sẵn phim màu, chỗ nào có khách thì chạy đến lấy về chụp rồi trả máy ngay. Khi cắt phim để rửa vì chưa hết cuộn,  rất buồn vì phải mất chừng ba kiểu phim, dù đã nối đuôi phim! Phần nhiều là thợ nào cần gấp thì chịu khoản phim này, Hẹn khách cả tuần mới giao ảnh, và đắt như vàng, chỉ tám kiểu là có thể ngang với một chỉ vàng!

Lượng đón đầu “phong trào” bằng cách đi học tráng rọi ảnh màu.

Quảng gởi về cho Lượng mấy đợt thuốc Tây, dành dụm mua được cái máy rọi ảnh Axomat, của Đức., vừa rọi ảnh đen trắng vừa có thể rọi ảnh màu, nhưng phải kèm nhiều phụ kiên hổ trợ như: Đồng hồ ngắt điện tự dộng (timer). Máy phân tích màu…( analiser) Thay cho cái máy Lucky cũ chỉ rọi được hình đen trắng.

Thời điểm chúng tôi làm nghể, cài gì của Đức cũng tốt! (hơn Liên xô và các nước XHCN khác).

Học chụp hình ở CLB chỉ ba đêm một tuần, tôi vẫn theo học đều đặn vì rất cần giấy chứng nhận của CLB. Người ta nói: “học thầy không tày học bạn”, trường hợp tôi thật đúng, chỉ cần Lượng bày cho tôi hai buổi, là tôi có thể tự canh ánh sáng qua khẩu đô, tốc độ, chỉnh nét….

Thực tập thêm bằng cách hai anh em đạp xe ra dường Tôn Đức Thắng, gần hãng tàu Ba Son, Lượng làm người mẫu, tôi chụp hình, lấy nửa người, nguyên người, có phông là những chiếc tàu, hay xóa phông, phông xa, phông gần, bố cục ảnh, chiều sâu ảnh…chưa đến một cuộn phim Orwo là tôi chụp được. Tối hôm thực tập, hai anh em cùng pha hóa chất, tráng phim. rọi ảnh. Lượng chờ sấy hình xong, đem ra hai anh em cùng xem…Lượng phán một câu làm tôi mát dạ:

– Ăn tiền thiên hạ được rồi!

Cái máy ảnh của Lượng tôi đang dùng hiệu Canon QL 17. gọi là mày gián tiếp, phân biệt với máy trực tiếp là hình ảnh đến mắt qua một lăng kính sau ống kính. Máy gián tiếp thì che tay đầu ống kính vẫn thấy hình vật chụp, Máy trực tiếp nếu che đầu kính sẽ không thấy gì. Máy gián tiếp lấy nét bằng cách chỉnh cho hai hinh chập lại nhau, trời sáng rõ thì dễ, chỉ nhắm hạt nút áo, hoặc một bên vai…nhưng trời âm u hay hơi tối thì rất khó khăn. Sai nét tức là bỏ tấm hình vì khách nào nhận tấm hình mờ! Suốt ngày, lúc nào rảnh là tôi mang máy ra tập chỉnh nét (focut). Chi tiết kỷ thuật này ám ảnh tôi ngay cả trong lúc ngủ!

Ngày sau, Lượng đem tôi đến gặp tổ trưởng tổ chụp hình lưu niệm, thuộc HTX nhiếp ảnh quận I. Xin thế chân Lượng, vì Lượng hoàn toàn dành thời gian cho việc học ảnh màu. Đã là dân chụp hình kiếm cơm, anh em thợ phần nhiều rất thoáng. Chúng tôi làm quen bằng một chầu nhậu, cũng chỉ rượu cây lý,  khô cá đuối…

Tôi bắt đầu vào sáng hôm sau, bấm những kiểu hình ăn tiền của khách!

oOo

Hai anh em chúng tôi dậy cùng lúc. Lượng vào phòng tối, đem cho tôi cái túi xách màu đen, Tôi ngạc nhiên nhìn Lượng lôi từ trong túi ra một con gấu bông, một cái lục lạc…đồ chơi trẻ con. Lượng cười với tôi:

– Bảo bối đó, có khách nào ẳm theo em bé, anh dụ cho cháu cười rất dễ, lại dụ thêm vài kiểu cũng không khó!

Hôm nay không uống cà phê cửa hàng, chúng tôi lên tới nơi chụp hình, uống cà phê với anh em thợ.

Gần cuối năm, thợ cứ ngồi với nhau là kháo chuyện chụp hình dịp tết. Ai cũng hy vọng vào dịp này có thể trang trải nợ nần, giải quyết nhưng khó khăn trong năm.

Lượng cũng sẽ đi chụp trong dịp tết nên hai chúng tôi đang lo lắng vì hiện chỉ có một cái máy, mua thêm thì không đủ tiền!

May cho tôi, chú em con chú ruột tôi, là Trung úy Quân cụ, bị thương mất một mắt, ngày 30/4 là thương binh, trốn trình diện, trốn cải tạo, về miền Tây, ở tận Minh Hải, Cà Mâu. Làm nghề bán cà rem từ 75 đến nay. Nghe tôi vào Sài gòn, đang làm nghề ảnh, chú viết cho tôi một lá thư dài, kèm thêm 05 đồng cho tôi đi xe… nhắn tôi về chơi. Tôi về, anh em mừng mừng tủi tủi vì quá lâu không gặp nhau, giờ gặp lại trong hoàn cảnh này…Sau khi thắp nhang trên mộ Thím tôi, chú ấy khóc thật nhiều:

– Em về đây là để tính chuyên vượt biển. Hai lần rồi không được, may là không bị bắt. Em tính khi đi thì chôn số vàng còn lại dưới tấm bia mẹ em, rối qua được sẽ nhắn anh vào đem mẹ em về quê. Chuyến vừa rồi, em chôn tới 4 cây vàng đó, vậy mà …

Là vai em, nhưng chú ấy lớn hơn tôi tới 15 tuổi. Về nơi đây, chú khai không biết chữ, thỉnh thoảng có việc gì phải ký tá, chú ấy xin lăn tay hoặc viết chữ thập! Nhưng rồi con gái đầu học lên đến cấp 2. không có ai kèm nên chú kèm cho nó. Thầy ngạc nhiên vì nó học xuất sắc, nhất là toán. Hỏi nó ai dạy cho nó, nó hồn nhiên nói là ba dạy! Chuyên vỡ lở, nhưng địa phương rất thoáng, họ cho qua hết, chỉ lâu lâu có việc gì cần người biết viết lách…thì nhờ chú ấy!!!

Đêm lại, chú ấy đem ra một cái máy mới tinh, bọc nhiều lớp vải, còn nguyên bao da màu nâu, hiệu Minolta. Máy này là của chú em, em của chú ấy đem về từ Mỹ. sau lần đi du học Kiểm soát không lưu mấy năm trước, Sau 30/4, chú ấy qua lại Mỹ từ phi trường Biên Hòa.

– Anh cầm lên Sài gòn mà làm nghề, em để lâu cũng hư !

Tôi xem qua máy, bấm nghe màn trập nhảy tốt, mừng vô cùng!

Về Sài Gòn. Lượng cũng mừng, máy dễ sử dụng vì ánh sáng auto. Trên đầu máy có một màn hình, hai chiếc kim, một chiếc màu dỏ nhỏ, một chiếc kim màu xanh lá cây lớn hơn. Cứ hướng máy về vật chụp (chủ đề), kim đỏ sẻ nhảy theo ánh sáng lúc đó, thợ chỉ cần vặn cho kim xanh chồng lên kim đỏ là đúng sáng!

Chụp và tráng rọi mấy kiểu hình, cả hai chúng tôi an tâm lắm. Ngày sau, tôi bỏ máy Canon ở nhà, dùng máy mới…Đến nơi chụp, anh em thợ ai cũng trầm trồ vì máy mới, ống kính trong veo, không một chút halo vì nhìn vào lớp màu tím nơi ống kính là biết. Lượng nói với tôi:

– Lâu lâu anh cũng nên dùng máy Canon kẻo quên đi kiến thức. Máy này thực ra không dùng cho thợ. Anh không chủ động kết hợp khẩu đô và tốc đô để tạo được chiều sâu ảnh, không xóa được phông, không chụp được hình ngược sáng…Qua tết, có đủ tiền thì mình mua thêm máy.

Lúc này, ban đêm tôi đi học, các thầy đang dạy: “ Tăng một nấc khẩu độ, bằng giảm một nấc tốc độ, hoặc ngược lại…”.

Tôi vẫn không nản, cứ ngồi nghe thầy giảng những đều đã biết! Giáo trình hình như được lấy từ hai cuốn Kiến Thức Phổ Thông mà tôi đã thuộc nằm lòng!

oOo

 

Càng gần đến tết, chúng tôi càng xôn xao vì chỗ chúng tôi đang hành nghề không phải lả điểm tập trung khách. Phần nhiều thợ tìm đến những điểm khác ngoài địa bàn xin vào chụp mấy ngày tết.

Tôi và Lượng cũng băn khoăn nhiều về chuyện này, nhưng vì tôi không có giấy phép và hộ khẩu nên chưa biết làm sao!

Cũng thêm một dịp may đến với tôi, nhưng lần này thì không suông sẻ!

Một bạn nghề già, chú Vang, lớn tuổi rồi, năm nay cũng đã 58 tuổi, nhưng vẫn còn làm nghề, chú khoe với tôi là chú có một ông hàng xóm, ngoài Bắc vào, hình như là con ông cháu cha gì đó bên sở Văn Hóa. Thầu chụp hình ở cảng Nhà Rồng. Lúc này vừa xây xong nhà lưu niệm rất hoành tráng. Cần nhiều thợ. Bản thân chú Vang cũng sẽ chụp ở đó dịp tết này. Tôi và một anh thợ nữa, anh Tùng, làm nghề khá lâu rồi, quê ở tận Bình Dương, cũng không có hộ khẩu Sài gòn, nhờ chú ấy xin dùm…

Không khó khăn gì, chiều 28 tết, chúng tôi cùng nhau đến gặp ông Danh, người thầu ở Bến Nhà Rồng để hợp đồng. Chúng tôi rất phấn khích, háo hức và tin tưởng lắm…

Tôi lo nhiều nhưng cũng trấn an mình vì nhờ cái máy mới, Không có đèn (flast) nên tôi quyết định không chụp ban đêm như lâu nay. Ba chú cháu chúng tôi luôn cặp kè bên nhau, những ngày này ít khách, ngồi uống cà phê hoài. Chiều chiều chúng tôi cũng làm vài xị cây lý, lạc quan mong chờ ngày tết!

Hợp đồng rất dễ: Chúng tôi chỉ cần có máy và tay nghề. Phim, tráng rọi ảnh đều do tổ tráng rọi của ông Danh lo, hẹn khách ngày sau nhận hình. 22 giờ giao phim và đếm biên lai giao tiền cho tổ trưởng, nhận phim cho ngày mai… tại nhà ông Danh.

Nhưng đến ngày cuối, khi nhận xong phim và những tập biên lai thì người của ông Danh yêu cầu thợ hẹn khách ba ngày! Phim được nhận không phải là phim Orwo của Đức như lâu nay chúng tôi vẫn dùng mà là phim Liên xô! Tên đọc từ tiếng Liên Xô là “Tắc ma”, cũng có loại hệt như thế, dọc là “ Xvai ma” Có hộp nhưng nhìn qua, chúng tôi rất nghi ngại về chất lượng, vả lại chúng tôi không quen chụp phim này, chú Vang hỏi, muốn tự mua phim orwo nhưng không được, người của ông Danh bảo: Cứ chụp bình thường như phim orwo.

Thực ra, phim này đã lưu hành lâu rồi nhưng ít ai dùng, chỉ trong các cơ quan, dịch vụ của nhà nước. Chất lượng có thể gọi là “may rủi”, Thợ chụp hình tránh xa, đến độ có người không biết nó tồn tại trên thị trường, như tôi !

Sáng mồng một chúng tôi có mặt, gặp nhau nhưng vì chưa có khách nên vào Can tin, uống cà phê. Ở đây cũng đã có một đám thợ khác, là người đã hợp đồng thẳng với HTX Nhà Rồng từ trước. Họ ung dung và có vẽ không lo lắng gì, họ có điểm giao hình và có người trực giao hình cho khách. Gần chín giờ, cũng lác đác vài anh thợ nữa đến, họ cũng hợp đồng với ông Danh. Nhập bọn cùng nhau, chúng tôi cũng chuyện trò thân tình vì cùng là thợ kiếm cơm như nhau…

Những thợ này cũng lo lắng vì phải chụp phim Liên xô và hẹn giao hình ba ngày như chúng tôi! Tự giao hình là một khó khăn vì khách phải tìm thợ, giao hình thì trở ngại chuyên chụp hình! Chúng tôi dự tính sẽ nêu khó khăn này với ông Danh vào cuối ngày…

oOo

Không có đèn flass là một thất lợi lớn. Tôi không dám chụp trong phòng trưng bày, chỉ lợi dụng hành lang và cửa sổ, nhưng cũng chỉ chụp hạn chế rồi đề nghị khách ra ngoài. Đêm thì hoàn toàn bó tay. Suốt ngày mồng một tôi chỉ chụp được năm (05) cuộn. Cổ tôi khàn, chân rã rời vì lên xuống cầu thang, chỗ này qua chỗ nọ theo khách!

Chiều, tôi về nhà ông Danh giao phim và tiển. Đếm theo biên lai được 184 kiểu, mỗi kiểu 05 đồng. Tôi nộp dủ 920 đồng cho thu ngân. Thu ngân là con gái của ông Danh. Tôi nhận biên lai rồi chạy về tìm Lượng ở điểm chụp.

Cái flas Lượng đang dùng hiệu Sunpak, có giá tới hai chỉ vàng. Nhưng có tiền chưa chắc đã mua được, phải ra các Kios chuyên buôn bán vật tư máy ảnh ở đường Nguyễn Huê đặt hàng may ra có, mà có cũng phải chờ vài tháng!

Tôi ngồi nghỉ một lát rồi thế chân cho Lượng nghỉ, uống ly nước, hút điếu thuốc! Lượng không chờ tôi hỏi, đưa năm ngón tay ý là đã năm cuộn phim. Tối nay nếu khá thì cũng thêm chừng  02 cuộn.

Lượng tuy ngồi nghỉ, nhưng luôn quan sát tôi để nhắc “gối phông”. Chụp đèn những nơi này mà không gối đầu và thân của khách lên một cái gì đó thì thua. Một bức tượng, một chậu hoa cao, Gốc cây….Ánh sáng đèn bắn vào khoảng không coi như chỉ sáng khuôn mặt, xung quanh tối, tóc mất hai mảng bên này, bên kia, hình rất xấu!

– Chụp đèn bên ngoài khác xa với trong nhà, nên phải luôn luôn tìm một cái gì đó làm vật phản quang nhe anh Sinh!

Lượng dặn tôi thật kỹ từ tháng trước, khi anh em tập sử dụng đèn, nhớ lời Lượng như in, tôi kiếm những chậu hoa kê gần tường, cho khách đứng…

Giao máy lại cho Lượng chụp, tôi phụ thu tiền và ghi biên lai.

Đúng như tôi dự đoán, đêm đó Lương chụp thêm 02 cuộn. là 07 cuộn. Mười giờ đêm chúng tôi về đến nhà, Tôi nói với Lượng về việc tôi dùng phim Liên Xô. Lượng cũng lo lắng không kém tôi.

Hai ngày, mồng hai và mồng ba, đám thợ hợp đồng của ông Danh và chúng tôi mong chờ tối mồng ba đễ nhận hình khách từ tổ tráng rọi ở nhà ông Danh.

Nỗi ám ảnh hình xấu, hình hư làm tôi lo lắng không một phút nào quên. Tôi không biết có phải đây là lương tâm nghề nghiệp hay không, nhưng cứ nghỉ đến khách thất vọng rồi to tiếng…là tôi lạnh người!

Chiều mồng ba. Minh, một người bạn từ hồi còn ở đường Hồ Đắc Hanh Quảng trị. Ghé vào tìm tôi. Lâu quá không gặp…Minh cũng chụp hình dao bên Thủ Thiêm, chụp loanh quanh các gia đình chứ không có điểm cố định nào. Anh em cho biết tôi ở đây, nên ghé thăm.

Khi tôi quay trả phim để ráp cuộn mới, Minh cản tôi lại:

– Trong máy tao còn chừng 16 kiểu, mày chụp luôn dùm tao, tối giao thợ làm hình, khỏi phải cắt phim mất công! Mai tao đem hình và phim qua.

Tôi hỏi Minh:

– Phim gì vậy Minh?

– Orwo. Vậy mày chụp phim gì?

– Phim Liên Xô mới lo chứ!

– Ủa sao không xài Orwo?

– Tay nhà thầu bảo giống nhau.Thợ hợp đồng với nó toàn xài loại này!

Tôi rã rời không muốn chụp tiếp. xong đoạn phim của Minh, hai chúng tôi cùng đi uống cà phê, đưa tiền 16 kiểu cho Minh rồi tôi về bên nhà ông Danh giao phim…

Đúng ra, ngày hôm nay là thợ phải nhận hình chụp hôm mồng một, mồng hai, để sáng mai giao cho khách theo như hẹn ba ngày. Nhưng cô thu ngân nói là tổ làm hình làm chưa xong. Cứ đóng phim và tiền ngày hôm nay, rồi ngày mai, mồng bốn nhận hình và thanh toán luôn tiền công.

Tôi phân vân, vì thợ vẫn đang chụp nên không gặp ai mà hỏi han. Tiền và phim chụp ngày hôm nay được 04 cuộn, tôi cũng đã đóng! Lo lắng mà không nói được với ai, tôi quay lại Nhà Rồng gặp chú Vang và anh Tùng. Họ cũng tức tối và lo lắng rã rời, các thợ khác cũng xúm lại xôn xao…

Một anh thợ có vẽ sành sỏi, bộ dạng ra dáng dân giang hồ:

– Đù má tụi này định chơi trò “ Sóng giang” rồi!

Chú Vang hỏi:

– Sóng giang là sao?!

– “Sáng dông” đó mà, mai mốt tụi nó ôm tiền về Bắc, thánh nào tìm cho ra?! Tụi mình đừng chụp nữa, bây giờ về nhà cha Danh, nhớ là không giao phim và tiền ngày hôm nay. Đòi đưa hình hai ngày trước, có hình mới tiếp tục. nếu không có, mai chúng ta mua phim va biên lai. Tự chụp…Nhớ là chưa có hình thì không giao phim và tiền…

Tôi như đứng không vũng, muốn ngồi thụp xuống đất. Tôi đã giao tiền và phim hôm nay. Cà ba ngày là 13 cuộn phim, Tôi không giữ lấy đồng nào!

Cả nhóm gần chục thợ cùng kéo nhau về nhà ông Danh đòi hình…

Cuối cùng, một gả đàn ông chừng 35 tuổi, đem ra một ôm phim trắng nhếch, thả tất cả xuống cái bàn:

– Các anh không biết chụp hình, coi phim này, hoàn toàn thiếu sáng, phim thế này làm sao ra hình cho được! Cả bọn im lặng, chết điếng đi một lúc, rồi cũng anh thợ có dáng giang hồ lớn tiếng:

– Đù má, tao nói cho mày nghe nhé, thằng nào ở đây cầm máy ảnh bét gì cũng dã 5 năm, ăn cơm thiên hạ mòn răng rồi, tụi mày lấy phim quá đát, lại là của liên xô, không bắt sáng. Giờ đổ thừa cho thợ phải không?

Một anh thợ khác:

– Mày ra đây, tao còn trong máy mấy kiểu, mày chụp tụi tao rồi tráng phim ngay, coi tại ai?

Gả đàn ông lầm bầm rồi lén vào trong nhà

Con hẻm xôn xao, người trong xóm đến xem chật ních. Lúc này mới có nhiều bà con cho biết:

– Nhà này là của một cán bộ, lâu nay cho thuê, dạo gần đây thì đóng cửa cho đến khi ông Danh vào…

– Đù má, đúng bài sóng giang mà! Anh em giữ lấy tiền ngày hôm nay, cố gắng tìm chỗ làm hình giỏi, may chăng cứu được. Mai mua phim orwo và biên lai, tự chụp, tự kiếm chỗ làm hình và tự giao. Không lẽ bỏ cái tết sao?!

Tôi nghe đắng trong cổ mình, Cái tết nhiều hy vọng mua cái flass tiêu tan!

Không dủ can đảm chụp tiếp vì sợ khách làm  reo. Mấy hôm sau tôi về đứng phụ chụp cho Lượng. Thấy tôi cứ bần thần buồn bã, Lượng nắm tay tôi siết thất chặt;

– Mình em chụp cũng dư mua đèn, anh đừng buồn, còn nhiều cái khốn nạn nữa chứ chưa hết đâu!

 

 

Chia tay là vĩnh biệt.

                                     

 

 

Qua tết, Tôi vẫn còn sốc với chuyện phim Liên xô! Tâm trạng hoang mang không biết có nên tiếp tục làm nghề chụp hình lưu niệm không?

Kiếm một công việc khác để nuôi thân vào thời điểm này cũng không dễ. Lượng hối thúc tôi đi mua cái flash, nhưng tôi ngần ngừ chưa muốn, thứ nhất là vì còn dao động trong thâm tâm, thứ hai là tiền mua đèn hoàn toàn do Lượng chi ra chứ tôi không có.

Tháng trước, hai anh em tôi đã lên nhận giấy chừng nhận xong khóa học ở CLB, đăng ký học tiếp khóa II được hai tuần rồi. Với tấm giấy chứng nhận này, tôi chỉ có thể cầm máy ảnh và sử dụng hợp pháp chứ chưa thể xin vào điểm chụp hình nào trong thành phố vì không có hộ khẩu thường trú.

Sau tết, công việc tráng rọi ảnh màu của Lượng cũng bận rộn, Lượng vừa học vừa làm phụ với thầy nên tôi chụp ban ngày, ban đêm tự tráng rọi ảnh để ngày mai giao cho khách. Có khi Lượng ghé điểm chụp hình, hai anh em cùng về, có khi tôi về trước, 11giờ đêm Lượng mới về tới nhà!

Lượng thấy tôi nản lòng, khích lệ:

– Làm nghề này được cái tự do, ít phụ thuộc, đỡ vất vả hơn so với những việc làm kiếm cơm khác. Nhưng cũng có những lúc xui xẻo. Anh đừng nản lòng. Sau nảy còn có những chuyện không do mình mà là do nhiều cái khách quan gây ra…Cũng đắng cay lắm!

– Ừ, anh cũng thấy như vậy. Nhưng thế này, mình xem có loại đèn nào rẽ, mua một cái làm một thời gian rồi tính. Em còn cả gia đình, bỏ ra hai chỉ vàng mua cái đèn cho anh, anh xót ruột lắm!

Lượng ngẩm nghĩ một lúc:

– Em nghĩ mua đồ làm nghề thì nên mua một cái cho ngon luôn. Hiện nay có loại đèn Crown chỉ năm phân vàng là mới tinh trong hộp. Thợ cũng dùng rất nhiều.

– Được đó, mình mua loại đó đi Lượng.

Hai anh em chúng tôi đạp xe một ngày, rảo qua các cửa hàng bán đồ nhiếp ảnh. Mua được một cái đèn hiệu Crown. Cũng dùng 4 pin, mua luôn bộ charge. Đèn lên khá nhanh, độ phát sáng không bằng đèn Sunpak, thợ dùng quen cho biết là nên tăng ½ khẩu độ, cự ly 3,5m trở lên thì tăng 1 khẩu độ khi chụp là vừa.

Lượng nói thêm:

– Mình chủ động tráng phim nên anh không lo, cứ tráng tăng thời gian chút xíu là đẹp hình thôi.

Nhìn cái đèn, 4 viên pin và bộ chage, mới tinh và hiện đại…tôi lại phấn chấn tinh thần…Lượng cũng vui với niềm vui của tôi.

oOo

Sau tết là mùa nghỉ của thợ ảnh. Minh tìm chúng tôi rũ đi chơi. Gặp anh em bạn bè mấy hôm, chuyện trò vui vẽ…So với anh em, Lượng và tôi làm ra tiền nhẹ nhàng hơn nên phần nhiều cuộc vui Lượng dành thanh toán.

Trong số bạn bè, có Phương là người ở Sài gòn lâu nhất. Một hôm Phương đến tìm tôi và Lượng tại nhà:

– Ê, có mối chụp hình này ngon lắm.

Lượng và tôi cùng hỏi:

– Ở đâu?

– Bình Dương. Chổ xưởng rượu “ Gin” tao đang làm đó. Xưởng nhận bằng khen và huy chương hôm triển lảm hội chợ Hàng Tết ở Hà Nội.

Phương vào Sài gòn khá lâu, bên vợ có nhà ở khu Hòa Hưng. Vùng này có một số gia đình là công chức chế độ cũ. Các ông gom vốn mở xưởng sản xuất rượu Gin, tạo công ăn việc làm cho con cháu…

Ở Sài gòn sau 30/4/75. Thành phần không có việc làm rất dễ bị đi kính tế mới, hoặc TNXP. Những người này có trình độ, họ cũng còn chút vốn liếng, xin hợp đồng với Huyện đôi Huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương, mở một xưởng sản xuất rượu, công thức họ nghiên cứu từ quy trình sản xuất rượu trái cây lên men của Pháp. Tận dụng nguồn trái cây của Bình Dương…Không những tạo việc làm cho con cháu, xưởng cũng thu nhận khoảng chừng 30 công nhân địa phương…

Vừa qua, triển lãm Hôi chợ hàng Việt Nam, xưởng được tặng huy chương mặt hàng Rượu. Chính quyền tỉnh Bình Dương rất vui mừng. Các bác trong xưởng làm tiệc mừng đón nhận huy chương theo gợi ý của Tỉnh.

Hồi mới vào Sài Gòn, Phương có rũ tôi vào làm công trong xưởng rượu, nhưng do lương không đều, lại rất thấp vì các bác phải bán tài sản trả lương, duy trì hai năm nay, với rất nhiều khó khăn mới hình thành và sản xuất được hàng đem triển lãm và tiêu thụ với số lượng ít ỏi, nên tôi từ chối, Tôi cũng có theo Phương về ở chơi vài lần, công nhân rất vui vẻ và thuận hòa vì xưởng tổ chức như một gia đình.

Lần này tôi và Lượng cùng lo vì chưa lần nào tôi chụp hình hội nghị, đám tiệc đông người. Nhưng rồi Lượng khích lệ tôi:

– Tiệc buổi trưa nên cũng không khó, anh cứ gắn đèn, bắn phụ vì đứng xa và nhiều người trong ảnh. Tránh cửa sổ vì bị ngược sáng, ánh sáng này rất mạnh, nhưng có đèn phụ nên cũng bớt lóe sáng. Bố cục anh đóng khung ảnh cho thật chặt, đừng thừa, đừng cắt mặt và đầu người, cái này thì về làm hình mình bố cục lại, nhưng tránh trước vẫn hơn. Chú ý cái phông và nội dung ghi trên phông. Khi chụp bàn tiệc anh nhớ là đứng trên một chiếc ghế đẩu rồi khom người xuống, cao hơn bàn tiệc để tránh đầu người lô nhô trong ảnh. Khi họ nâng ly anh nhắc hạ bớt đừng để che mặt nhau!

Những lời khích lệ của Lượng, trở thành bài học cho tôi lấn ấy và rất lâu, suốt những năm cầm máy sau này…

oOo

Sáng chúa nhật hôm đó, tôi run thật sự, khi mấy chiếc xe của tỉnh đoàn, huyện đoàn và quan chức đến. Tôi ân hận sao không kéo Lượng đi theo, dù sao cũng lên tinh thần hơn! Lượng không cho tôi dùng máy mới tự đông mà chụp bắng máy Canon QL 17. Tiêu cự 40mm rộng hơn máy Minolta, tiêu cự 50mm

Rồi cũng qua giây phút sợ hãi ban đầu, tôi nhủ lòng: Phải cẩn thận, nhẩm lại những gì Lượng dặn, tôi chụp chậm và tính toán kỷ từng tấm hình. Phương và bác Giám đốc không hạn chế số lượng ảnh: “ Mày cứ chụp thoải mái”, Phương nói  thế nhưng tôi chỉ chụp 50 kiểu, chưa hết 2 cuộn phim Orwo.

Chụp xong, tôi định đạp xe về, mấy công nhân kéo tôi ở lại để chụp ngoài, nhưng tôi hẹn lại khi nào về giao hình sẽ thong thả hơn, chụp đẹp hơn…Họ muốn chụp bên lò chưng cất, bể lọc nước và trong kho lên men…nơi mà hàng ngày họ sinh hoạt.

Tuyền, con của chú Vàng, tổ trưởng tổ lên men, đem đến cho tôi một cái khăn ướt và ly nước chanh đường. Lúc này tôi mới thấy mình ướt nhẹp mồ hôi. Tôi cảm ơn Tuyền bằng ánh mắt, ngồi xuống nơi bậc cấp uống ly nước mát lạnh. Cổ tôi khàn đi vì lo lắng, vì luôn miệng nhắc nhở các vị khách, cứ nâng ly là không thấy được mặt ai trong bàn!

Tuyền ngồi bên tôi như chờ lấy ly và khăn. Tôi nhìn Tuyền, nét phúc hậu, khả ái hiện rõ trên toàn gương mặt. Tự dưng tôi bâng khuâng!

Tôi đã gặp Tuyền trong những lần về chơi trước đây, Có chú ý Tuyền ví cô lớn tuổi nhất, có vẻ là đàn chị của tổ lên men. Lúc làm việc, họ mặc áo dài phủ tay, mặt đeo mạng và ai cũng giống ai. Tôi cũng có chút cảm tình đặc biệt với Tuyền cũng bởi cô là con gái lớn của chú Vàng, người ít nói nhưng hay cười, hiền hòa ngồi bên lò chưng cất với cuốn sách thường xuyên trên tay. Lần đầu tôi được Phương dẫn vào giới thiệu lò, Chú đang đọc cuốn “Quo Vadis”. Bằng tiếng Pháp. Tuyền cũng đã đỗ tú tài và đang học đại học thì biến cố 75 đến!

Các bác, các chú ở nơi đây đều có trình độ, từng làm công chức chế độ cũ. Đi cải tạo về với tấm giấy khoan hồng của chính phủ cách mạng lâm thời, trung bình chỉ chừng một tháng, tháng rưởi… Họ mừng vì với những người bạn đồng liêu ở các nơi, bây giờ vẫn còn đang lao động trong các trại cải tạo, có người bị đưa ra tận Nam Hà, ngoài Bắc!!!

Họ rũ nhau lập xưởng với công sức và tài chánh không còn bao lăm sau đổi tiền. Với số tài sản còn lại ít ỏi họ không ngại ngần bán đi để cùng xây dựng nên xưởng sản xuất rượu Gin.

– Anh lên lại Sài gòn chiều nay ả?

– Ừ, tráng phim và rọi hình xong, khoảng chiều ngày kia anh xuống lại.

– Những tấm ở bàn của khâu lên men, anh làm thêm cho em với nghe.

Tôi nửa đùa nửa thật:

– Đẹp thì làm thêm mà xấu thì thôi nhé?!

– Kỷ niệm mà, xấu đẹp gì !

Một đám cả nữ lẫn nam kéo đến:

– Chị Tuyền, chị nói anh nhiếp ảnh vào chụp cho tổ mình một kiểu ngay “dãy chuồng lên men” đi.

Khu lên men được xây y hệt chuồng nuôi heo, cao khỏang 90cm và ngăn lại, Chia ô lên men, ô chứa Thơm, ô chứa Mít, Chuối…ủ dưới những bao tải. Vào khu này lúc nào cũng có mùi ngây ngây như men rượu. Tuyền nói, giọng nhẹ nhàng:

– Anh Sinh phải đạp xe lên Sài Gòn. Xa quà, thôi để ngày kia ảnh xuống lại, mình chụp nhiều nhiều luôn.

Tôi chào Tuyền và các công nhân. Một cậu trai chạy đến cầm tay tôi:

– Em có phát biểu trong lễ, anh Sinh phóng thêm cho em tấm nghe.

– À, anh làm thêm cho cả tổ lên men nữa. Chờ nghe, ngày kia.

Tôi dắt xe ra cổng, đạp về Bình Thạnh. Hình ảnh Tuyền đi cùng tôi trên suốt đoạn đường, ngay cả khi vào phòng tối, chuẩn bị tráng phim và rọi ảnh!

oOo

Bỏ những thau thuốc cũ, tôi pha lại thuốc mới. Hồi hộp tráng phim, sau khi cho “riu”qua thuốc định hình, tôi mừng rỡ khi kiểm tra phim, phim trong và đẹp. Đôi mắt dịu dàng của Tuyền lại hiện đến làm  hưng phấn lòng tôi.

Chờ Lượng về, tôi ra đầu ngõ uống ly cà phê. Ngồi vẫn vơ…nhớ Tuyền…

Tôi cũng đã hai mươi tám tuổi, cùng tuổi với Tuyền. Không phải lần đầu tôi biết xao xuyến vì một cô gái. Cũng đã có những cuộc tình đến rồi đi… Những cuộc tình qua đi vì tôi không cố níu giữ. Níu giữ làm gì khi mà bản thân chưa lo được cái ăn, cái ở cho mình, Mưu sinh trong một hoàn cảnh khó khăn, những thiếu thốn tối thiểu nhất đã làm tôi sợ hãi chuyện hôn nhân!

Nhưng dạo gần đây, ở cùng gia đình Lượng, tôi nhiều khi thèm cài hạnh phúc gia đình, một cuộc sống bình yên với một người vợ sẻ chia cùng nhau những buồn vui…Tôi tự cười tôi, nhưng rồi lại thấy rằng đây là một quy luật tự nhiên, một thèm muốn rất bản năng trong con người của thằng Tôi 28 tuổi, sợ cô đơn, thèm hạnh phúc!

Cái khăn ướt và ly nước chanh chiều nay nhận từ dôi tay của Tuyền, ánh mắt, nụ cười…Tuyền không nói gì, nhưng tất cả những cái ấy đã cùng lúc nói thật nhiều vời tôi, rồi lớn lên , chiếm lĩnh hồn tôi với niềm cảm xúc tuyệt vời!

Gặp nhau chưa lâu, chỉ thỉnh thoảng, nhưng trong lòng tôi đã hình thành một hình ảnh khá trọn vẹn về Tuyền! Tôi đã yêu rồi người con gái ấy!

Lượng về nhà không thấy tôi, nhìn hai dãy phim đang treo, đoán là tôi ra quán.

– Phim đẹp đó chứ anh Sinh!

– Ừ, anh toát mồ hôi mấy lần, không có những kinh nghiêm Lượng dặn trước, anh chắc bỏ về không dám chụp luôn!

Thường thì chúng tôi phải đi mua lẻ giấy rọi ảnh nơi cửa hàng vật tư ngành ảnh Hồng Đào,  đường Quách Thị Trang, quận 1. Nhưng mấy hôm nay sau tết ít hình, giấy còn thừa rọi cho gần hai cuộn phim tôi vừa chụp. Chuẩn bị một lát, rữa sạch mấy cái chậu đựng thuốc định hình, rửa ảnh, Lượng muốn tôi tự làm nhưng tôi nói:

– Chú rọi số hình này, luôn tiện bố cục lại, lại nữa phim không đều “tông” , anh làm không đẹp bằng chú đâu.

oOo

Cho phim và hình vào túi xách, tôi nói với Lượng:

– Anh về giao xong hình, có thể ở lại chơi thêm một hai ngày…

Hôm qua khi rọi hình, tôi có chỉ cho Lượng xem hình của Tuyền. Tuy hình đông người, nhưng nhờ vị trí ngồi ngay giữa ảnh, nên Tuyền khá rõ ràng. Lượng cũng thấy Tuyền xinh:

– Để em đem vào cho vợ em xem, chị ấy coi bộ phúc hậu nhưng hơi lớn tuổi phải không?

– Bằng tuổi anh, con gái đầu nên có vẻ chững chạc, chín chắn lắm!

– Lần này anh coi “ dừng bước giang hồ” được rồi…

Tôi cười nói với Lượng:

– Anh vẫn chưa tỏ tình hay hỏi han cô ấy câu nào về tình cảm của cô ấy đối với anh!

Quả thật, tôi quá trẻ con và chủ quan khi tin rằng Tuyền cũng có cảm tình với tôi!

Con đường Điện Biên Phủ dài thật dài, qua khỏi cầu Bình Triệu, Tôi ghé vào quán nước gần ga xe lửa, uống ly cà phê. Chủ quán là một trung niên, có cái máy Cassette khá to và là tay sành “ nhạc vàng”. Đã uống vài lần nơi đây nên anh ta biết tôi. Chào hỏi qua loa rồi vào trong thay cuốn băng: “Băng Vàng Shotgun 71”. Gồm những bản nhạc tiền chiến mà tôi rất thích từ những ngày còn cắp sách đến trường, trốn học, học đòi làm người lớn, ngồi nhâm nhi nghe nhạc bên ly cà phê đen…

Tôi xuống đến Thuận An cũng đã trưa. Các chú bác đi họp trên tỉnh chưa về, Khi chưa giao được hình thì trong lòng tôi hồi hộp không yên, may mà các công nhân kéo tôi đi chụp nơi này nơi kia… Tuyền luôn bên tôi, tôi thực sự cảm nhận được tình cảm của Tuyền dành cho mình.

Khi tuổi đời không còn nhỏ, chỉ cần một ánh mắt, một nụ cười… cũng đủ để nhận ra tình cảm của nhau…Tôi hút thuốc nhiều, Tuyền mang cái túi xách đựng hình. Tay cầm hộp quẹt và gói thuốc dùm tôi…

Chiều hôm đó các chú họp về, gương mặt không vui. Khi tôi đem hình đến văn phòng, Chú Hòa giám đốc khen hình đẹp nhưng cũng với thái độ hững hờ rồi gọi Dung, cô con gái làm kế toán kiêm thủ quỹ:

– Con xem thanh toán tiền cho anh thợ nhé. Ba lên Sài gòn trước với các chú, con lên sau.

Chú Hòa cùng vài người nữa buồn bã lên chiếc Toyota cũ của chù Hòa. Chú Vàng ba của Tuyền, gọi công nhân bộ phận lọc nước căn dặn rồi cũng lên xe theo các chú về Sài gòn…

Không khí của xí nghiệp chìm hẳn xuống, công nhân vẫn bình thường nhưng Tuyền thì buồn ra mặt. Tôi lên tầng trên, nơi có hồ nước lớn, tìm Dũng, bạn thân của tôi. Thấy tôi, nó hỏi to:

– Mày lên Sài Gòn hay ở lại?

– Chắc là ở lại, tối tao ngủ đây nhé?

– Ô kê ! Để tao đi kiếm cái gì lai rai…

Trời chiều, vùng nông thôn Bình Dương buồn buồn nhưng dịu mát, vườn cây um tùm bao bọc khắp nơi. Những cây dâu tây to lớn mọc che kín nhà cửa trong khu dân cư, đứng trên cao nhìn ra chung quanh, chỉ cỏn một màu xanh cây lá.

Dũng trở về với Kha. Con trai của bác Hòa, công nhân vẫn chưa quen gọi bác là giám đốc. Người Kha lấm lem dầu mỡ vì suốt ngày vật vả với chiếc xe chở trái cây và củi của xí nghiệp!

Kha nhỏ hơn tôi chừng hai tuổi, gương mặt gầy với cái miệng móm nhưng khi cười thì trông rạng rỡ vui vui.

– Anh Sinh ở lại chơi luôn à? Anh Dũng, có cái ca nào đưa em cái coi?

– Mày coi trong bi-đông còn rượu không, hôm qua tao với Giai, Phú làm hơi quá hớp!

Kha quay tìm cái bi-đông, lắc lắc rồi cười to:

– Có ông Giai mà rượu còn thì chuyện lạ!!!

Dũng lấy cái ca nhựa, lau qua bằng vạt áo may ô rồi đưa cho Kha, nói rồi nheo mắt cười với tôi:

– Nửa ca thôi Kha ơi, anh Sinh còn “tư tác” tối nay nữa đó!

– Tư tác gì vậy anh Dũng?

– Thì lâu lâu người ta về Thuận An, phải đi thăm vườn cây vườn quả chứ!

Chính tôi cũng chưa xác định được tình cảm của tôi với Tuyền và ngược lại, nhưng sự ân cần của Tuyền với tôi trong những lần tôi xuống chơi đã làm cho bạn bè cảm nhận được là chúng tôi có tình cảm với nhau, dù rất mơ hồ…

Kha cười cười cầm ca đi xuống chiếc cầu thang sắt:

– Chị Tuyền ghét mấy thằng nhậu lắm đó nghe.

– Ai biểu mày uống vào là cứ lải nhải, nói dai… ai chịu cho được!

Rượu ở đây chúng tôi không mua, chỉ cần múc nửa xị rượu nguyên chất ở lò chưng cất, cho nước lọc vào là ra một bi-dông, Vẫn ngon và đậm đà hương vị trái cây. Cái thích nhất là say cỡ nào sáng mai cũng không nhức đầu…

Lúc nảy, Dũng đi kiếm mồi nhậu, cũng chẵng có gì, một trái xoài và dĩa “thịt vịt quay hàng xanh”…Các quán nơi đây lên tận Hàng Xanh mua vịt quay về bán cho dân nhậu, dĩ nhiên là đắt như vàng!

Uống một lát, Tuyền và Hương cùng xuất hiện nơi cầu thang. Hương là bồ của Dũng. Hương thương Dũng lắm nhưng ngán nhất cài gàn bướng khi rượu vào! Những đêm say, hắn khoái ngủ trên thành bồn lọc nước, bề ngang chỉ chưng 0,20cm.  Nằm vòng tay ngủ. Rớt xuống bồn nước cũng nguy hiểm vì đang say, rớt ra ngoài bồn cũng không thua gì vì cao tới 3m5! Nói gì cũng không chịu nghe. Khi nào có tôi về, Dũng mới chịu nằm nền nhà cùng nói chuyện, thỉnh thoảng chay ra xem mức nước trong bồn, tinh thần trách nhiệm cao quá độ!

Có lẽ thấy mấy anh em nhậu với mồi quá đơn sơ, hai chị em nháy mắt với nhau rồi xuống dưới. chỉ chừng một giờ sau, cả hai khệ nệ bưng lên nồi cháo và con gà luộc, muối chanh…Dũng và Kha cùng cười:

– Gà và cháo của ai đây ta?

Tôi nhanh miệng:

– Còn của ai nữa, ở đây chỉ có Hương là người địa phương, Mày coi ăn đi rồi mai chi tiền Hương đem trả lại cho bà già!

Tuyền cười cười, vừa xé thịt gà vừa nói:

– Cả chuồng mà Hương chỉ bắt con này, nói là Gà đen ăn bổ, ông Dũng ho mấy hôm nay!!!

Chừng mười giờ đêm, cũng vừa xong bi-dông rượu. Kha xin đi ngủ sớm, mai còn tháo cái láp xe đưa lên Sài Gòn tiện lại. Dũng xuống tổ lên men cùng Hương tìm trái cây ăn “ giải nhiệt”.

Tôi và Tuyền ra ngồi nơi cầu thang. Bầu trời đêm trong vắt lấp lành những vì sao trông thật thanh bình.

– Sao chiều giờ buồn vậy Tuyền?

– Không biết mấy hôm nay họp chuyện gì mà các chú xuống tỉnh họp hoài, cứ họp về là ai cũng rầu rầu buồn bã, ít nói, làm cả xưởng buồn theo!

Tôi cũng buồn lây, nắm tay Tuyền rồi quàng tay kia ôm nhẹ bờ vai. Mùi hương lạ ngào ngạt, có lẽ là của những loại trái cây đang ủ trong các ngăn, vương vất trong không gian cộng với mùi thơm riêng biệt của mái tóc dài cột đơn sơ của Tuyền hòa với nhau…làm tôi ngất ngây!

Muốn an ủi Tuyền một câu gì đó nhưng tôi không biết phải nóí gì ngoài sự đồng cảm mù mờ…Đặt lên mái tóc Tuyền một cài hôn nhẹ, tôi ghì lấy đôi vai rồi tìm đôi môi…Tuyền quay người lại, nụ hôn thật dài…Tôi cảm nhận được tình yêu của Tuyền qua đôi môi ngọt, vòng tay ấm quàng qua lưng mình! Chúng tôi im lặng, dành thời gian cho những nụ hôn,..lấp đầy trời đêm mát lạnh.

oOo

Tôi có thể ở lại chơi thêm, nhưng tâm trạng không vui của Tuyền và của anh em công nhân làm tôi ngần ngại. Sau khi uống cà phê với Dũng. Kha, có Phương vừa từ Sài Gòn xuống và cả Tuyền, tôi lên lại Sài Gòn!

Thứ bảy đến thật nhanh, Phương ghé nhà cho tôi biết là Tuyền muốn gặp tôi ở xưởng chiều thứ bảy này. Tôi nhìn đồng hồ, đã hơn 06 giờ chiều. Cũng rán về thôi, một linh cảm bất an cứ ngồn ngộn trong lòng!

Vừa đạp xe vừa nghĩ ngợi. Có chuyên gì xảy ra được đây. Tôi nhớ lại câu chuyên của Hợp Tác Xã Mành trúc ở ngoài quê, Khi các Soeur Dòng thánh Phao Lô ở đó, vận động bên tòa Giám Mục và các nơi, tổ chức nên một xưởng sản xuất mành trúc, tạo công ăn việc làm cho các tu sĩ của Dòng cùng một số Thanh nữ ở địa phương. Nông dân thì đi rừng khai thác trúc về bán lại cho xưởng. Từ nhiều khó khăn ban đầu, ba bốn năm sau thì hình thành và sản xuất được hàng đem bán, Địa Phương đã đưa người vào nắm quyền, gọi là chủ nhiệm, Soeur trông coi công việc chính và giao dịch, bị làm kiểm điểm lên xuống huyện nhiều lần…Rồi lấy cớ đã già không cho làm việc nữa! Một HTX Mây-Tre-Trúc ra đời không còn dính dàng gì đến Dòng Phao Lô, nơi mà từ đó cơ sở này ra đời!

Cái chết ngoắc ngoải của HTX này tôi đã chứng kiến trước khi vào Sài Gòn…

Hay là ván bài này cũng đang xảy ra với Xí nghiệp rượu Gin?!

Gặp nhau tối hôm ấy, nỗi lo lắng về xưởng bị quốc doanh không làm cho Tuyền buồn lắm, mà là chuyện ba củaTruyền, chú Vàng và các chú bác lo lắng với câu nói làm tuyệt vọng mọi người từ miệng ông Bí Thư Tỉnh Bình Dương:

– Nợ máu của các anh lớn lắm, cải tạo một hai tháng không nghĩa lý gì…Thế nên các anh cần thành khẩn, nhiệt tình cộng tác với các cấp địa phương…

Bảy tám năm nay không nhắc gì đến chuyện cải tạo, nợ máu…nay nghe như thế, không ai khỏi lo lắng đến mất ăn mất ngủ. Mọi người gầy xọp đi trong chỉ mấy ngày!!!

Tuyền gầy và buồn bã như người bệnh, tối đến, trên bồn lọc nước cao, Tuyền khóc thật nhiều, tiếng khóc rấm rứt như xé lòng tôi. Tôi ôm Tuyền bằng hai tay không nói. Hôn những nụ hôn lên đôi mắt sủng nước, vẫn không linh cảm được chuyện chia tay! Cuối cùng Tuyền nói trong nghẹn ngào:

– Ba tính chuyện vượt biên anh ạ!

Tôi buông vòng tay ôm, dặt hai tay lên vai Tuyền.

– Sao không tạm thời chấp nhận cho họ quản lý xưởng rồi tính sau?!

– Ba nói có thể họ sẽ bắt đi cải tạo lại, rối đưa người thay thế hết, họ sẽ trừ ba ra vì khó có người thay thế khâu kỷ thuật. Nhưng bác Hòa quyết đinh ra đi, ba theo bác Hòa!

– Bao lâu nữa?

Tuyền lắc đầu.

– Em không biết!

Chuyện vượt biên bằng tàu, những năm này rất khó khăn. Từ trên bờ cho đến trên biển và cả những trại tập trung chờ các nước bảo lãnh!

Cái cảm giác sợ hãi lại bất chợt ập đến với tôi. Từ dạo lênh đênh trên chiếc tàu năm đó, sự sợ hãi như đã thường trực trong lòng tôi mỗi khi nghe đến biển.

Sống trong thời điểm này, không ai không nghĩ đến chuyện tìm cách ra đi. Nhất là những thanh niên nhẹ nhàng ít gánh nặng như tôi. Nhưng chưa bao giờ tôi nghĩ đến chuyện phải đi bằng đường biển.

Sau 30/4/1975. Tôi cùng một anh bạn xin phép Ủy Ban Quân Quản đi tìm thân nhân. Vợ và con anh ta cùng gia đình bên vợ đều lên tàu mà Linh mục hướng dẫn xứ chúng tôi xin tòa Đại sứ Mỹ đưa dân vùng tôi ở rời Việt Nam. Cha quá ngao ngán vì đã chạy từ Quảng Trị vào trong này lánh nạn vẫn chưa yên…Tàu đến Hải phận Quốc tế thì nghe đâu có một cuộc điên thoại gọi cho Linh mục: “Sài gòn chưa mất mà cha!” Vốn không mặn mà gì với người Mỹ. Ngài tự ái gọi xin ngay hai chiếc tàu của Korea ( Đại Hàn) rồi quay tàu vào Phú Quốc chờ…

Tàu Korea đến các nơi như Long Hải, Vũng Tàu nhưng không có dân và Linh Mục. Họ cũng vớt lên tàu một số dân tứ xứ có một vài gia đình còn kẹt lại vì nhiều lý do…Tin Sài Gòn thất thủ đến khi họ ra khơi vì chẳng biết phải làm gì, họ cứ tưởng là Cha đã đưa dân dến đảo Guam nên cho tàu đến dó, đâu biết rằng toàn bộ dân và Linh mục vẫn đang ở Trường An Thới, Phú Quốc chờ tàu trong tuyệt vọng!

Đến Rạch Giá chừng 10 giờ đêm, hai chúng tôi xin được quá giang ra Phú Quốc trên một chiếc ghe dánh cá lớn. Ngồi trong khoang với tâm trạng an toàn, chúng tôi vui cùng các ngư dân Phú Quốc đi buôn bán trở về.

Hai ngày sau, khi đã gặp thân nhân, tôi trở lại Rạch Giá bằng chiếc ghe loại nhỏ…Ghe đánh cá, chủ ghe tham lam cho lên ghe nhiều người quá. Đi khoảng một hai giờ thì nghe nhốn nháo là có tàu Khờ me đàng xa! Mọi người lâm râm cầu nguyện, Lạy Phật, Gọi Chúa!!! Tôi nhìn mạn thuyền Cách mặt nước chỉ ba lóng tay mà sợ hãi, ghe chạy mà như vẫn đứng yên một chỗ! Sợ từ đàng trước, sợ từ trong thuyền! Chưa nói đến bọn Khờ me tàn bạo mà tiếng đồn nghe lâu nay…Nếu thuyền có sóng to, mạnh một chút thôi. Lắc lư một chút thôi cũng có thể bị chìm! Xung quanh mênh mông biển khơi, con thuyền cô đơn cùng với số phận của bao nhiêu con người chỉ cỏn biết cầu mong vào Trời Phật, Thánh Thần! Chuyện sống sót giữa biển khơi như thế này thật hy hữu!

Ôm chặt Tuyền trong vòng tay, tôi hy vọng bác Hòa và gia đình Tuyền không đi trên những chiếc ghe như thế!

Hôm đó, chúng tôi ngồi suốt đêm bên nhau. Tôi dự tính ngày mai chúa nhật sẽ ở lại thêm một ngày nữa với Tuyền. Nhưng sáng ra, Kha từ Sài Gòn xuống thật sớm, thì thầm với Tuyền cùng mấy người nữa trong gia đình, chuẩn bị lên Sài Gòn bằng chiếc xe Toyota cũ của bác Hòa.

Tôi lẫn Tuyền bàng hoàng, Nụ hôn cuối vội vàng sau căn phòng nhỏ của dãy lên men, tưởng chỉ là phút tạm biệt, chia tay cho một chuyến đi xa …Tôi nói với Tuyền, giọng nghèn nghẹn:

– Anh sẽ tìm cách qua bên đó với em.

Đâu ngờ rằng dó là lần vĩnh biệt. Chiếc tàu của gia đình bác Hòa đến được Bidong, Chiếc có gia đình Tuyền không đến được bến bờ nào, nó im lìm đâu đó trong lòng đại dương mênh mông!

Hai năm nghe ngóng chờ tin, tôi loay hoay tìm đường đi bộ qua ngã Campuchia, nhưng hai lần đều thất bại.

Có những lúc thật buồn, lòng tràn ngập nhớ thương, tôi đưa ngón tay trỏ sờ lên môi mình gọi khẽ:

– Tuyền ơi!

Sàigòn, 03 tháng 5.năm 2017,

Trạch An-Trần Hữu Hội.

 

 

MƯA HUẾ

gởi chị Ng.
 
chị khóc chị cười suốt mấy buổi em về
hèn chi Huế cứ mưa rồi lại nắng
mai em đi rứt lòng chi cho đặng
chị gượng cười cho mưa Huế buồn thêm
buổi em về phong thổ chưa quen
chị tưởng em buồn khi về với Huế
có phải vậy đâu. Được về quê Mẹ
là niềm vui chơ sao lại nỗi buồn !
ngặt lối về khi Huế gió mưa tuôn
trời ảm đạm khiến lòng người sầu thảm
mưa xứ Huế có điều chi sâu lắng
có điều chi nín nghẹn chẳng nên lời
hay tại dòng đời hưng phế nổi trôi
Huế vẫn giữ dáng trầm tư ngày cũ
tháp cổ rêu phong đền đài cung phủ
vẫn như còn nguyên nếp thời gian
khi em về thấy mưa giăng Vỹ Dạ
ngó bên tê Cồn Hến lòng ngẩn ngơ
nước sông Hương tràn mé đôi bờ
thương mấy nhịp Trường Tiền sóng nước
mấy mươi năm rồi bữa ni về được
lặng nhìn mưa mà thương Huế xót xa
hồi nớ Mạ ở đây nì ! Vỹ Dạ
chừ em về Vỹ Dạ, chị chờ em !
chị nhủ em là đi nhớ đừng quên
mai mốt nhớ ghé về đây thăm chị
hai chữ nhớ khiến lòng em ủy mị
khóc lặng thầm xa Huế, Huế mưa ơi !

 TRẦN HUY SAO

XUỐNG THẤP MỘT THOÁNG BUỒN

 

Không hẹn mùa
Tháng hai đã về ngang ngõ
Trái tim khô cằn 
Ứa nhựa khôi nguyên 
Một cánh hoa mỏng manh
Vẫn thấu lòng thấu dạ
Tình yêu ơi! Trong mấy chớp mắt…. em mãi hồn nhiên.

Ta đã cũ và em đã cũ
Còn biết bông đùa với cơn mộng dưới hoa
Thơm thảo chút hương thuở ban sơ dập dồn lên tóc gió
Bỗng dưng….tay lật nghiêng chiều thoáng hiện một mờ xa.

Trở tay lần đếm mấy mùa hoa bên phố 
Chén tình cay em chưa cạn hết tâm giao
Vút bay những trở giấc với vầng trăng khuyết 
Cõi vắng….. bây chừ ta thương suốt một gửi trao.

Một đường mây khuất xa còn vương dòng sông trong mắt 
Ai không đau khi nghiêng mặt một bể dâu
Đâu phải bên tê em không mòn tấc dạ
Bên ni….ngước mặt ta ru lại hồng phai tìm mãi trong lắng sâu.

Hoàng Chẩm

VỀ BẠN TRI ÂM : THI VĂN SĨ LÊ MAI LĨNH

 

                                  

Thả tiếu: 

Nhân sinh hàm khổ lụy / Y phạn tích bại thành

Phóng thủ vạn sự tuyệt / Đắc tiếu, tiếu nhất thanh.

Hãy Cười: 

Kiếp người nhiều khổ nhọc,/ Cơm áo lắm được thua,

Buông tay muôn việc hết,/Ðùa được, thì cứ đùa! 

(Nguyên tác và dịch: Hạt Cát)

 

***

Thi Sĩ Lê Mai Lĩnh đă gởi tặng thi phẩm THƠ TÌNH THẾ KỶ, LƯƠNG QUYỀN – CÔ LÁNG GIỀNG và TUYỂN TẬP LÊ MAI LĨNH như món quà Xuân quí. Bỏ qua một thời gian cũng khá lâu đọc các tác phẩm, Nguyên Lạc xin được ghi ra đây CẢM NHẬN của mình thành một bài viết.  Bài này xem như lời cảm ơn trân trọng đến Thi Nhân!

Xin mạn phép được chụp ra đây, ghi vài hàng tiểu sử,  cùng vài trích đoạn tuyệt vời (riêng với Nguyên Lạc tôi) tuyển chọn trong các tác phẩm.

  1. VÀI HÀNG TIỂU SỬ

Thi sĩ Lê Mai Lĩnh tên thật là Lê Văn Chính sinh năm 1942 tai Làng Quảng Điền, xã Triều Đại, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Khởi nghiệp văn chương từ năm 16 tuổi (1958) với bút hiệu SƯƠNG BIẾN THUỲ. Từ sau ngày lưu vong sang Hoa Kỳ (1/1994) lấy bút hiệu Lê Mai Lĩnh

Lê Văn Chính là Trung Úy sĩ quan VNCH. Sau khi “Bên thắng cuộc” chiếm miền Nam, ông được Đảng “vĩ đại” ưu ái cho ghi tên vào học  trường “Đại Học Nhăn Răng” Í lộn Nhân Dân. Đại học đó có tên là “Học tập Cải Tạo” mà thi sĩ Hà Thúc Sinh đặt tên là “Đại Học Máu”. Chuyên “ngâm cú” môn: “Chém tre, đẵn gỗ trên ngàn” (*). Mặc dù học hành bê bối, vậy mà còn “bài đặt” Đề Nghị  Ngài TBT Lê Duẩn “đáng kính”, yêu cầu THAY ĐỔI ĐƯỜNG LỐI LÃNH ĐẠO, Đảng và nhà nước cũng khoan hồng cho “tốt nghiệp” sau 8 năm, rồi “đạp” ra khỏi VN, đến xứ “tư bản giãy chết” Hoa Kỳ.

Sang ở Hoa Kỳ, ông tiếp tục sự nghiệp văn chương với tên Lê Mai Lĩnh và sau này KHÙNG THI SĨ sáng tác nhiều bài thơ “trong sáng đầy ấn tượng”. Ông tặng tui một bài, đọc đã quá, tui đưa vào bài Loạn Bút về Chữ Tình của tui luôn (đăng trên trang Bạn Văn Nghệ của thi sĩ Trần Yên Hòa)(**) Đó là lý lịch trích ngang của ông. Tui không dám nói nhiều, sợ người đời nói rằng tui xạo, thấy sang bắt quàng. Thôi để tui hú ông thần khác vào nói hộ.

– Ông ơi, vào gầy sòng!  Dạ đây là ly XO, xin mời ngài uống rồi nói giúp cho vài lời!

– Ực, khà! Hảo tửu, hảo tửu!  được rồi ta nói thế cho:

Tôi chưa gặp anh dù – Chỉ một lần,

Mà quý anh ngợp trời khí phách.

Dòng đời quanh co, ai dơ, ai sạch,

Huynh vẫn trong ngần một khối tinh anh.

Núi càng cao, sông càng thác lũ,

Mới biết ai thất phu, ai đấng anh hùng.

Trời càng cao, càng gió to, bão dữ,

Mới biết đâu là chim sẻ, chim hồng!

Tay hào kiệt vươn ngoài vạn lý,

Thì có sá gì một nhúm biển khơi?

Ly cụng ly, rượu tràn tràn sĩ khí,

Thiếu tiếng gươm khua vang bóng một thời!

Huynh nửa miệng cười đời ngạo nghễ

Cổ lai hy còn “Chống gậy tìm tình”!

(Uống Rượu Với Lê Mai Lĩnh – Kha Tiệm Ly)

Thấy chưa! Thôi bây giờ tui xin phép trích ra đây vài đoạn thơ của ông thần sư phụ  tui: Thi sĩ Lê Mai Lĩnh – KHÙNG THI SĨ .

  1. VÀI CẢM NHẬN NGẮN VỀ THƠ VĂN LÊ MAI LĨNH

Đầu tiên có thể nói thơ của Lê Mai Lĩnh là thơ TÌNH, thơ TÌNH CHỊU CHƠI, Tuyệt đối với TÌNH. TÌNH cho EM và cũng TÌNH cho ĐẤT NƯỚC.

Nào mời các bạn theo ông thần này “Chống gậy tìm tình” chơi.

Tìm tình như thế tìm trầm

Rừng thăm thẳm, núi cheo leo

Vì tình chống gậy cố trèo

Tình ơi, tình ơi, tình ơi.

 

Tìm tính, chống gậy tìm tình

Một mai gậy mòn, gối mỏi

Ta lê, ta lết, ta bò

Tình ơi, tình ơi, tình ơi.

( Chống gậy tìm tình)

Kế tiếp xem  Ngài “lụy” Tình như thế nào.

Ta ướp Trăng với trái tim si

Rượu được cất giữa bếp tình nóng bỏng

Nàng thơ ơi, hãy nhấp chén rượu tình.

Hãy nhấp chén rượu tình, Trăng ơi ta muốn chết

Trong mắt, môi và giữa địa đàng Trăng

Ta muốn chết dưới Trăng vàng, giếng ngọt

Cỏ biếc , suối, khe, ta bất xá, gục đầu.

(Lê Mai Lĩnh : Thơ Của Thời Trăng Mật)

– Bái phục, bái phục! Thơ TÌNH của Ngài nghe quá đã.

– Ha ha! Chưa hết đâu, dâng lên cho ta thêm một ly XO nữa, ta sẽ chỉ bảo thêm!

– Vâng đây, ly XO, kính xin Ngài đón nhận và cho thêm lời vàng!

– À há, hảo tửu, nhà ngươi hãy nghe ta  phán thêm đây:

Cảm ơn em,

Người đàn bà ngủ muộn.

Nhờ em, anh chàng còn muốn gõ mõ, tụng kinh

Gõ mõ thì mỏi tay

Tụng kinh thì mỏi miệng

Anh sẽ vì em

Miệng, tay dùng vào việc khác.

Cảm ơn em,

Người đàn bà ngủ muộn

Nhờ em, anh đứng, quỳ, nằm, bò đúng đội hình hành quân

Như thời tân binh

Trong quân trường Thủ Đức.

Cũng tại em, do em và bởi vì em

Anh hít đất không thua gì thời bị huynh trưởng phạt

Khi ra nhà thăm nuôi mà không đi những bước khoan thai…

(Người Đàn Bà Ngủ Muộn -2 – Lê Mai Lĩnh)

– Đủ chưa?  Thôi bai (bye) ngươi, ta đi gõ mõ, tụng kinh,  rồi “bò đội hình hành quân”

 

***

Giỡn chơi cho vui, các bạn đừng phiền, chớ cái TÌNH của thi nhân cũng ẩn nỗi niềm trong đó. Buồn là chuyện muôn đời của nhân sinh, đâu ai tránh được? Giàu nghèo, sang hèn ai cũng có nỗi niềm riêng! Thử xem nỗi niềm của Thi nhân ra sao?

Này có BẮC KỲ không còn nhỏ

Cô dứt áo ra đi, vội vàng chi, để rơi lại vài hột nút

Thoạt dầu, ta cũng muốn giữ lại làm kỷ niệm cho một cuộc tình muộn, si và mê tơi

Để đôi lúc, kẹp giữa hai chân, tìm chút hơi ấm của người góa phụ đang độ xuân thì

Vậy, này cô BẮC KỲ không còn nhỏ

Hãy nhin thời gian, trở lại chút chút, để mang đi theo những hột nút nầy.

Đơm lên lại trên chiếc áo ngày xưa cô thường nhờ tôi giúp cô mở khuy

Những lúc tôi chậm tay, cô la tôi như mẹ la con

Nhưng tôi vui lắm, mỗi lần được cô la như mẹ la con.

(Hãy Trở Lại Nhặt Giùm Ta Mấy Hột Nút – Khùng Thi Sĩ LML)

Và đây là bài tôi tâm đắc nhất của Thi sĩ: TÌNH CHO ĐẤT NƯỚC.

Tôi mơ một ngày

Tôi trở lại Sài Gòn

Bắt tay và nói lời cảm ơn những người cầm bút

Tôi đã quen tên mà chưa gặp mặt:

Đỗ Trung Quân, Bùi Chát, Nguyễn Cung Thương, Bùi Chí Vinh

Tôi sẽ chào các bạn theo kiểu nhà binh

Dẫu ngày trước chúng ta không chung chiến hào

Chưa có dịp nổ súng vào đầu nhau

Nên nay vẫn còn làm thơ, vẫn còn uống rượu, vẫn còn chưởi thề, và ve gái

Vẫn còn phất phơ bay bướm, buớm bay.

Chúng tôi vinh danh người yêu như Nữ Hoàng, Nữ Chúa

Thượng Để chúng tôi không sợ, nhưng chúng tôi sợ những người tình

Người tình càng nhiều càng tốt

Chúng tôi không từ chối bao giờ, một ai

Em nào đến, chúng tôi đều nhận, vui vẻ cầm tay

Nhưng em nào muốn đi, chúng tôi sẵn sàng phóng thích

Thi sĩ, đàn bà, chúng tôi nương tựa vào nhau mà sống

Không có đàn bà, thi sĩ chết rập

Không có thi sĩ, đàn bà cũng thoi thóp

Như gà nuốt dây thun.

Chúng tôi là vậy, chúng tôi là những người làm thơ

Thi sĩ là công dân thế giới

Nhưng với bọn độc tài, chúng sợ chúng tôi như sợ cọp

 

Chúng có thể cầm tù hay hãm hại xác thân thi sĩ

Nhưng với trái tim, tâm hồn thi sĩ, chúng đừng hòng

Chúng tôi, thi sĩ, những người không chết

 

Chúng tôi, thi sĩ, quan toà của lịch sử

Nhốt chúng thiên thu trong mọi lời thơ

Cầm tù chúng muôn đời trong những bài thơ bất tử.

(Thi Sĩ, Đàn Bà và Nhà Độc Tài)

Còn nhiều nhiều nữa những bài thơ và văn rất tuyệt, các bạn hãy tìm đọc.

Sẵn đây Nguyên Lạc tôi xin trích ra đây một đoạn văn (theo tôi) tuyệt vời  của Thi Văn Sĩ LÊ MAI LĨNH.

[…Tôi cũng nhớ tới một tình huống khác của một người bạn tôi, nhà văn Trần Hoài Thư, trong truyện ngắn Vườn Mía, đăng trên tạp chí Dân Việt số này. Nguyên văn đoạn văn hay tình huống đó như sau: «Một ngày nọ đại đội chúng tôi rời Tam Quan trở lại đơn vị sau gần một tháng hành quân, khi về Bồng Sơn, đoàn xe ngừng để đám lính vào chợ mua sắm và những sĩ quan ghé quán cà phê bên đường. Chúng tôi cùng nhau đấu láo, đủ điều, đủ chuyện. Riêng tôi không ngừng liếc trộm bờ tay lông măng cùng đôi mày rậm đen của cô hàng nước. Bỗng nhiên một cái bóng nhỏ vụt chạy đến. Tôi nhận rõ thằng bé cỡ 11, 12 tuổi. Nó quăng vào quán trái lựu đạn. May mắn cho chúng tôi, lựu đạn đã không nổ. Tôi chụp súng chạy đuổi theo thằng bé. Nó chạy vào trong xóm. Rồi nó băng ra đồng. Nó chui vô vườn mía. Nhưng làm sao nó có thể chạy bằng tôi và làm sao nó qua mặt được con mắt của tôi. Tôi chạy tới vườn mía. Tôi làm bộ la lên: Tao biết mày ở đâu rồi. Ra tao tha, thằng nhỏ. Sau đó tôi lên đạn cách cách, nói lớn, tao đếm một đến năm, nếu mày không ra, thì đừng trách tao. Tôi la một, hai, chậm và chờ đợi. Đến tiếng thứ ba thì thằng bé xuất hiện. Nó bò ra khỏi vườn. Tôi nhìn nó. Hay tôi nhìn lại tôi. Hay tôi nhìn cái tuổi thơ tôi. Hay tôi nhìn cái tuổi thơ Việt Nam. Tôi bỏ súng xuống, mắt cay nồng. Tôi bảo thằng bé chạy đi. Lần sau tao bắt được, đừng trách tao.” Sau khi đọc xong truyện ngắn trên, tôi gọi phone cho Trần Hoài Thư.
– A lô, cho tôi gặp anh Trần Hoài Thư
– Tôi là Trần Hoài Thư đây
– Anh biết tôi là ai không ?
– Tôi biết rồi. Có gì nói đi người anh em
– Ông thật có tội với nhân dân và lịch sử
– Cái gì mà khiếp thế
– Tôi đọc xong Vườn Mía của ông rồi
– Mà sao ?
– Cái thằng nhỏ ném lựu đạn mà ông tha cho nó chạy, sau này chính là thằng Lê Đức Thọ, quậy nát trời ông địa trong Bộ Chính Trị Hà Nội và là thằng có nhiều tội lỗi nhất lịch sử.

Điều sau cùng tôi muốn nói là, việc giết thằng bé thì dễ quá, nhưng lựa chọn việc cho thằng bé chạy là một lựa chọn đầy tính nhân đạo. Chúng ta chiến đấu vì con người, thì trước nhất, chúng ta phải sống, phải hành xử, xứng đáng là một con người…]

NHÂN BẢN thay, và cũng tội tình thay những chàng LÍNH TRẺ miền Nam VNCH, những chàng”NGỤY QUÂN”! Chính vì nhân bản nên mới là “Bên Thua Cuộc”. Nhớ lời một ông tướng CS đã nói với tướng VNCH Lê Minh Đảo rằng:  ” Các anh có biết tại sao các anh thua không? Không phải vì Mỹ bỏ rơi hay gì, mà vì các anh không dám cầm súng bắn vô đồng bào, còn chúng tôi sẽ làm khi có lệnh”  (Tướng LÊ MINH ĐẢO)”  (***)

III. KẾT

CHỮ quan trọng lắm, có thể làm chết hoặc tiêu tan sự nghiệp và tài sản con người. Không nhớ vụ án MINH SỬ triều Thanh đã làm tiêu mạng biết bao Nho sĩ MINH mà Kim Dung đã viết trong phần nhập của bộ truyện Lộc Đỉnh Ký sao? Và hàng chữ “Kim loại màu vàng” mà các Ngài CS ghi khí kiểm kê vàng của người dân miền Nam để cướp lấy!

Chữ viết chắt lọc từ tiếng nói, văn và nhất là thơ là tình túy của CHỮ. Nên cẩn trọng với CHỮ. Hãy dùng nó cho CÁI ĐẸP, phục vụ nhân sinh. Đừng dùng nó làm công cụ hạ thấp người khác, phổ biến điều xấu xa, giả dối. Đừng “hòa quá nhiều nước lã vào mực.” (Modern poets mix too much water with their ink – Goethe) Nghĩa là phải lương thiện.

Qua những bài văn, bài thơ tôi đọc trong các tác phẩm và kể cả trong giao thiệp hàng ngày, tôi có thể kết luận là: Thi Văn Sĩ Lê Mai Lĩnh là MỘT NGƯỜI LƯƠNG THIỆN

Đây là câu văn “trên cả tuyệt vời”(theo NL), tôi xin đưa hai tay bái phục Ngài!

Con người có thbthua cuc mt giai đon nào đó vì nhng di trá, bo tàn, phi nhân, nhưng cui cùng, con người luôn luôn là kchiến thng”   (Lê Mai Lĩnh)

Cám ơn THI VĂN SĨ LÊ MAI LĨNH đã tặng cho đời những bông hoa đẹp !

 

Nguyên Lạc                         

Garland, TX 2017

——————————————————————————————————————

NÓI VỚI EM MỘT GÓC SÀI GÒN NGÀY CHƯA THẤT THỦ

 
 
Đặt khẽ lên môi anh nụ hôn Em có nghe hơi thở Sài Gòn Vương chút bụi khi ngồi Thanh Thế (*) Và nắng Bến Thành thơm rất thơm
 
Nếu chán . Chúng ta vô rạp Rex Chờ xem phim lãng mạn ái tình Chiến tranh – súng đạn ! Thôi bỏ hết Cơm – áo-gạo- tiền . Gác một bên
 
Hãy tạt qua ngang thương xá Tax Loanh quanh đi cho trọn buổi chiều Anh sẽ đưa em về Bà Chiểu Ăn gỏi khô bò trước Lăng Ông
 
Đêm xuống. Ra công viên đứng ngắm Phà Thủ Thiêm và Bến Bạch Đằng Đợi khuya ghé phòng trà ca nhạc Ngồi Queen-Bee hay Đêm Màu Hồng
 
Ta sẽ đi cùng khắp ngả đường Vỉa hè – góc phố – của quê hương Tìm trong ký ức thời thơ dại Áo lụa em bay trắng giảng đường
 
Dẫu cách xa vời vợi muôn trùng Bên trời Âu Mỹ– em buồn không ? Sài Gòn vẫy gọi người xưa cũ Sống nửa đời làm kiếp lưu vong
 
Anh ở Việt Nam ngày thương nhớ Tóc bạc lâu rồi trong trại giam Ngửa mặt khóc cười theo vận nước Trời ơi ! Đã mấy chục năm ròng
 
LINH PHƯƠNG
(*) Nhà hàng Thanh Thế đường Lê Lợi trước 1975.
 

HƯƠNG

 

 

1.

Lúc đó đã hơn hai giờ khuya, trên chuyến xe điện ngầm ấy người ta xuống dần cho đến trạm cuối thì ngừng hẳn. Lẽ ra tôi xuống từ lâu nhưng một người phụ nữ – tạm gọi là Nữ – đi một mình vào giờ đó khiến tôi áy náy. Nếu là một người Mỹ thì tôi không thấy lo, đằng này Nữ là người Châu Á, và rất có khả năng là người Việt. Nữ lại đẹp và ăn mặc khá mong manh như là không biết New York đang chuyển từ thu sang đông. Trong xe ngoài tôi và Nữ chỉ còn thêm một người đàn ông da đen khi xe dừng ở trạm cuối. Tôi vẫn ngỡ subway ở New York chạy 24 trên 24 nhưng đêm đó tôi mới biết không phải vậy. Cửa xe mở toang và có tiếng thông báo đến 5 giờ sáng sẽ tiếp tục vận hành. Nữ bước ra ngồi trên chiếc ghế đặt bên ngoài và lấy thuốc ra hút. Tôi đến bên cạnh Nữ, xin mồi lửa và xin cả thuốc vì tôi không có thói quen này. Người da đen thì lảng vảng quanh đó một chút rồi kiếm một cái ghế khác nằm ngủ..

 

Chúng tôi có được một khoảng thời gian im lặng bên nhau bằng thời gian tàn một điếu thuốc. Khi giúp Nữ vất chiếc bao thuốc rỗng chứa tàn thuốc vào chiếc thùng rác gần đó, tôi chợt nhớ ra vở kịch của Mishima hiện-đại-hóa một tích Noh mà tôi đã được xem khi đến trường Sân Khấu để kiếm người anh họ. Mở đầu vở kịch, một mụ hành khất đi nhặt “dế”- tiếng lóng chỉ tàn thuốc lá- trong công viên để vấn 3 “dế” thành một điếu. Mụ gặp một thi sĩ, anh yêu cầu mụ biến đi, kẻo làm xấu nơi những cặp yêu nhau đang tình tự. Mụ tự hào, xưa ta trẻ đẹp lắm, bao nhiêu người đắm say, có viên tướng được ta báo sẽ nhận lời cầu hôn nếu đến viếng ta trăm đêm, tiếc là chàng đã bị tuyết vùi vào đêm thứ một trăm. Tôi chợt thốt lên: Komachi!. Đó là tên nhân vật nữ chính cũng là tựa vở kịch. Sau lưng tôi, một mùi hương lạ loang tới….

 

Tôi không phải là thi sĩ, nhưng tôi không dễ dàng rời xa Nữ khi tôi còn là một người đàn ông. Chúng tôi đã qua đêm với nhau như vậy. Dưới ánh đèn sáng choang của hầm xe điện ngầm và một vài đường phố lang thang hiu hắt sáng. Nữ bước ra khỏi hầm, tôi lẽo đẽo đi theo. Ði chán và có lẽ cũng vì trời trở lạnh, Nữ lại kiếm một cái hầm khác chui vào. Rồi hút thuốc và chia sẻ thuốc cho tôi tập hút. Không phải cái hầm nào cũng có những người da đen nằm ngủ. Có khi là vài cậu choai choai ngồi với nhau cười đùa vang động cả vòm hầm, và Nữ lại bỏ ra. Người đàn bà này muốn gì? Nếu không có mình, Nữ sẽ ra sao? Nữ chưa bao giờ nghe nói những chuyện cướp của, giết người vẫn xảy ra à? Tại sao cậu không về nhà? Nữ hỏi bằng tiếng Việt. Tôi ú ớ. Lẽ ra người hỏi là tôi chớ. Tôi có muốn không về nhà đâu, nhưng tôi không đành lòng khi thấy Nữ đi lang thang như vầy ở một thành phố xứ người.

 

Chúng tôi không trao đổi nhau nhiều. Giữa những hơi thuốc, là thơ của Komachi do Nữ đọc:

 

Như cỏ đứt rể,

Nước cuốn xuôi dòng.

Thân tôi trôi nổi

Ai có rũ rê,

Sẽ sống phiêu bồng…  (*)

 

Đó là câu trả lời của Komachi khi được một thi sĩ khác rủ đến một vùng đất mới. Đã có người cho là Komachi gần với Hồ Xuân Hương của người Việt: đẹp, tài, đào ba, hư ảo dù hai người cách nhau hơn chục thế kỷ. Người phụ nữ ngồi rất gần tôi kia không thể là Komachi dù Nữ rất đẹp, một nét đẹp bí ẩn bất chấp thời gian như lời thoại trong vở kịch mang tên nàng: “Một mỹ nhân, dù có tăng thêm bao nhiêu năm tháng, vĩnh viễn vẫn là mỹ nhân.” Chính nét đẹp bí ẩn như một cơn mộng ấy khiến tôi không dám gợi chuyện với Nữ vì cứ ngại cơn mộng kia bị tan ra như sương mù khi nắng lên.

 

Cứ vậy, tôi câm lặng theo Nữ, cho đến lúc bốn giờ rưỡi sáng, Nữ ngồi thiếp ngủ một chút. Trong giấc ngủ của khuôn mặt được hóa trang rất khéo ấy, nhiều lúc, tôi thấy thời gian như lướt qua mặt Nữ, khi thì những nếp nhăn, thoáng chớm tóc muối tiêu.. khi thì  cả mái đầu tuyền màu xám sắt… hiện ra rồi lại trôi đi. Lời trong vở kịch trở lại, khi chàng thi sĩ toan lên tiếng yêu nàng, mụ già nhặt “dế” nhắc nhở:

 

–         Ta, mụ hành khất tàn héo, da nhăn nheo, gần đất xa trời, khoác mớ giẻ thối hoắc, rách nát như tổ đĩa. Nhưng hãy nhớ, tuyệt đối không được nói yêu ta vì cái chết sẽ đến với ngươi.

Cuối vở kịch, chàng thi sĩ quyết thốt ra lời yêu. Anh ta nằm thẳng cẳng ngay sau đó. Cảnh sát tới, khiêng xác anh ta đi. Bà già vẫn tiếp tục lượm dế.

 

Tôi ngồi cạnh Nữ, rất gần, để có thể ngữi được mùi hương, rất trầm, toát ra từ thân thể Nữ, mùi hương không làm người ta muốn níu lấy hôn, mà chỉ cảm được rằng, mình nên giữ một khoảng cách, dù bằng một sợi tóc, nếu còn muốn sống.

 

Mãi đến khi trước chuyến năm giờ đầu ngày, có một thoáng hoan hỉ lướt qua mặt Nữ như một cơn mộng đẹp vừa thoáng hiện đâu đó. Ý thức được giây phút chia tay phải đến, tôi không kìm được, định ôm choàng lấy Nữ, ngỏ lời yêu, dù phải đổi bằng sinh mạng mình, thì cũng là lúc Nữ mở mắt ra. Tôi cứng người vì sợ hãi, Nữ đọc nhanh vài câu thơ trong tiếng subway đầu ngày ầm ầm chuyển động:

 

Hoài mãi nhớ nhung,

Đắm chìm giấc ngủ,

Đã tìm thấy nhau,

Nếu biết là Mộng,

Thức chi Người ơi!…  (**)

 

Lại là thơ của Komachi…Rồi Nữ bước vào chuyến xe ấy. Khung cửa khép lại. Tôi chỉ còn thấy một nụ cười. Điều lạ nhứt là toàn thân tôi cứng đờ, chẳng thể nhấc mình lao theo Nữ. Cho mãi đến chuyến subway kế tiếp…

 

 

2.

Năm tháng trôi qua. Khi kể chuyện nầy cho vài người bạn nghe, ai cũng cười tôi sống ảo hơn cả chữ ảo, nhất là sao lần gặp gỡ đó, các cuộc tình của tôi đều không có duyên đưa đến hôn nhân. Nghe kể lần kỳ ngộ đó đang mùa Halloween, có người còn tin lần đó tôi gặp một cô gái giả ma, và cũng rất có thể đã bị một ma nữ ám.

Một lần họp gia đình trên đất Mỹ, gặp lại người anh họ, nhắc lại vở kịch Komachi mà anh đóng vai thi sĩ, anh cho tôi địa chỉ liên lạc với gia đình của Nhụ Hương, người bạn cùng lớp đóng vai Komachi. Sau đó, tôi gọi điện thoại, để lại lời nhắn và gởi thư, đều không được hồi đáp.

Tình cờ, tôi được mời đến Toronto để …hát và nói chuyện. Người mời cho biết gần đầy, những người trẻ nơi anh ở bị trầm cảm nhiều quá, hy vọng những bài hát của một người độc thân chỉ lao vào những việc xã hội như tôi sẽ giúp họ tin và yêu cuộc đời nầy trở lại.

 

Làm xong việc của mình, tôi mua vé bus khuya lên Montreal. Ở chơi một ngày với bạn bè, tôi nảy ý kiếm xe đi Québec, nơi gia đình của Nhụ Hương đang sống với hy vọng người đàn bà tôi đã gặp ở subway của New York lúc 2 đến 5 giờ sáng có liên quan đến chị.

 

Tiếp tôi ở đó là Quê, một người con trai có khuôn mặt khá giống Nữ. Quê khẳng định:

 

–         Đó là chị Hương của tôi. Sau khi gặp anh, chị có gọi về, kể từ lúc lên tầu chị đã định lao vào một đầu máy chạy nghiến tới nhưng khi quan sát từng người khách quanh mình, ngại sẽ làm lỡ việc của họ nên chị hoãn ý đó. Lúc quyết tâm cao độ thì cũng là lúc tàu phải nghỉ khuya. Suốt thời gian bị anh lẳng nhẳng đi theo, trong đầu chị chỉ độc một ý: làm thế nào để mình chết mà không lụy tới người thanh niên kia. Rồi khi chị thiếp đi một chút, đúng là một cơn mộng đẹp lướt qua đã làm sạch tâm hồn chị, không còn đọng chút nào, cơn thèm chết. Nhụ Hương cho là anh đã cứu chị.

 

–         Nhụ Hương bị trầm cảm à?

 

–         Không giống những người trẻ vừa nghe anh hát. Chị vượt biển sang đây. Gặp cướp. Mang thai. Muốn chết. Nhưng thấy có lỗi với đứa bé vô tội nên giẳng co giữa quyết định sống và … đi.

 

–         Giờ có cách nào gặp được?

 

–         Sau cú phôn đó, chị không liên lạc nữa. Gia đình, bạn bè đều không ai biết chị về đâu, còn sống hay không?!. Tôi lấy ngày chị gọi về lần cuối là ngày tưởng nhớ. Đúng là hôm nay.

 

Tôi xin được xem hình. Vì khi đóng vai Komachi, Nhụ Hương hóa trang thành một mụ già ăn xin, lưng còng gần sát đất. Quê đưa tôi tấm hình. Trong ảnh là một cô gái khá giống Nữ dù mái tóc dài bay trong gió che phủ mặt chỉ còn thấy một đôi, mắt trái khóc, mắt phải cười. Sau lưng tấm ảnh là một bài thơ khác, vẫn của Komachi.

 

 

3.

Khi tôi kể cho anh họ tôi nghe, anh nói Nhụ Hương không có em trai. Tôi cho anh biết ngữi được mùi hương trầm thoáng bao quanh Quê và chiếc áo khoác lộn trái mà Quê mặc, anh tủm tỉm cười:

 

–         Em quên sao? Dân Nhật tin mặc áo trái ngủ sẽ có nhiều mộng đẹp. Biết đâu Nhụ Hương giả nam để bỡn em. Đừng quên nàng là diễn viên.

 

Sau nầy, nghĩ tới Nữ, tôi liên tưởng đến Liễu Hạnh, một trong tứ bất tử của người Việt, cô công chúa thứ hai của Ngọc Hoàng đã nhiều lượt xuống trần, vào nhà họ Phạm lấy tên Tiên Nga, vào nhà họ Lê là Giáng Tiên, với mong cầu Nữ – hay Nhụ Hương sẽ tái sanh kiếp khác. Nhiều lúc hụt hơi với đam mê nghiệt ngã của mình, tôi chỉ mong nó như Komachi, biết chạm vào là ngưng thở, vẫn phải tỏ tình với nguồn sống đó.

 

Và bây giờ, trong chuyến bay từ Phoenix tới Austin, hành khách bên trái của tôi đang xem một đoạn video có một cư sĩ nói về Nhụ Mộ Cố Hương, bên phải là một cô gái chỉ khoảng đôi mươi, đang ngủ say trên chiếc ghế sát cửa, một nửa mặt trái giống hệt Nữ. Suốt hai giờ bay, tôi loay hoay mãi, không lẽ đánh thức cô ta dậy chỉ để hỏi cô có bà con với Nhụ Hương không?.

 

Trong lúc mong cô choàng thức để xin tôi bước ra ngoài, tôi đành xem phim. Loáng thoáng cạnh tôi, lời giải thích Mộ là hết lòng mong cầu đạt đến, còn Nhụ Mộ Cố Hương ví như đứa nhỏ lạc loài, nhớ đến mẹ cha. Lời giảng còn dài, nói về tu tập. Người khách bên trái đột ngột chuyển sang xem những tài liệu về khoảng bốn trăm ngàn người Việt giạt trôi đâu đó mất tăm tích giữa lòng biển, xó rừng…

 

Tiếng loa kêu hành khách thắt chặt seatbelt vì sắp vào vùng thời tiết xấu. Cô gái bên tay phải  của tôi vẫn ngủ say. Thoáng hương trầm quen thuộc từ nơi ấy tiết ra. Khi tay tôi chạm vào tay cô, đúng ngay đoạn phim cho biết người chạm vào ma, có thể là một khoảng không, nhưng nếu đó là quỷ, mình cố nắm tay, da sẽ chạm được xương thịt, như với người. May mà cô ta không thức giấc, không thì chắc tôi chỉ nói được một lời xin lỗi. Chớ chẳng lẽ hỏi cô là ai? Là quỷ hay người? Là cô diễn viên đã đóng xuất thần vai bà già còng lưng, ngực gần chạm đất, là cô trinh nữ đã bị hãm hiếp trên biển Đông, là thiếu phụ đã gợi tôi nổi khát khao được tỏ lòng yêu dù biết nói ra mình có thể ngưng thở. Bỗng hiện rõ trong tôi, bài thơ của Komachi viết tay sau tấm ảnh của Nhụ Hương – hay Nữ, của tôi?!

 

Đường đến cõi Mơ

Chân bước tới Người

Đi không ngơi nghỉ,

Nhưng trong đời Thực

Chẳng sao gặp được,

Trong chớp mắt thôi…. (***)

 

Tôi đã gặp. Hơn một cái chớp mắt. Chẳng phải hạnh phúc hơn bao người?

 

Tôi đang ngồi cạnh. Hãy tận hưởng mùi hương đang tỏa ra trong cõi thực, sát bên mình.

 

——–

(*) thơ Komachi, Cổ Kim Tập- Tạp Ca

(**) thơ Komachi, Cổ Kim Tập- Luyến Ca

(***) thơ Komachi, Cổ Kim Tập- Luyến Ca

 

Nguyễn Thị Minh Ngọc

TỪ MÙA HÈ DẠO ĐÓ

 

Sớm nay nghe dự báo thời tiết
Trời sắp chuyển mưa giông
Chợt nhớ ra
Hình như đã lâu lắm
Từ mùa hè dạo đó
Bạn chưa một lần về thăm

Ai xác tín dùm tôi ngày đó
Bài hát của Nguyễn Đình Toàn chưa đặt tên
Dù đã nghe rất nhiều lần khúc phượng
Tôi vẫn thương hoài câu nhỏ nhẻ
“Mái trường xưa mỗi mùa phượng đến
Ve còn kêu vang ve còn kêu vang”

Bậc thềm rêu mòn đôi dấu lá
Chỗ gió ngồi và hương nắm níu
Có một câu chuyện ve còn bỏ lửng trên cây
Hàng me già thay áo
Hoa như mưa lướt trên tóc mây

Hình như cũng lâu rồi con quên bốn phép tính nhân chia trừ cộng
Chữ thầy cho đem trả cho thầy
Chữ thầy cho vòng tay thưa gởi
Ngẩng lên
Thầy đã hóa mây bay
Ngẩng lên phượng lại cháy đầy tay

Ngẩng lên
Đời chưa từng vá víu
Con chữ chưa vong thân trên trang viết từng ngày
Ngẩng lên
Để biết mình còn mắc nợ
Dù bóng một lùm cây bữa nắng lửa lỡ đường

Dù bạn sẽ không về thăm lần nữa
Tôi vẫn giữ
Chỗ chúng mình và mùa phượng cũ
Khuyết một chỗ ngồi
Và dư dả khúc ve.

BÙI DIỆP

Biệt Khúc

Say đi
chén rượu quan hà
mưa xa bóng núi
phai phai cuối trời
còn đây
một buổi này thôi
mai ta luân lạc
ngàn khơi mịt mùng

Nàng ơi
nâng chén rưng rưng
mắt em bể sóng
như chừng bão giông
môi hôn
chưa ấm xuân nồng
đã nghe đông giá
khơi giòng tử sinh.

Phạm Quang Trung

NGƯỜI CHO THUÊ TRUYỆN

Trước khi sinh ra, tôi đã đi lại trên con đường này.

Hòa bình vãn hồi, dân tản cư trở về từ vùng chiến khu, dựng nhà, cày ruộng, xây trường, tấp nập buôn bán, khởi đầu cuộc sống mới lam lũ nhưng vui. Nhà đông con, mẹ tôi gánh hàng rong bán dọc quốc lộ Một cho đến ngày sinh nở. Lớn lên, tôi theo bà vào ra đoạn đường từ thị xã đến Diên Sanh thăm dì tôi lấy chồng ở Hải Lăng. Ngày hè, gió Lào miên man thổi, mẹ tôi dắt tay tôi một tay giữ chặt nón, hai mẹ con vừa đi vừa bị gió thổi bay trên đường. Thỉnh thoảng tiếng súng từng chặp dội về từ rừng, phía đường xe lửa bỏ không nhiều năm, khuất trong cỏ lau trắng xóa. Tiếng tiểu liên carbine giòn giã, CKC gióng một bắn tỉa, Garand chát chúa. Nhưng nhiều năm súng đạn đã trở thành quen thuộc, trong cái bóng đổ dài của chiến tranh, cỏ vẫn mọc, người ta vẫn phải sống, và nhiều khi sống hạnh phúc.

Trước giờ đi học, tôi được mẹ giúi cho hai mươi đồng để ăn bánh mì xá xíu trưa ở lại trường, mười đồng đi đò ngang, từ làng qua thị xã. Tôi nhịn ăn dành tiền thuê kiếm hiệp. Mê đuổi theo số phận nhân vật, đôi khi tôi xài tạm tiền đò, vậy là tan trường, mùa hè cởi áo quần bơi qua sông về nhà. May nước không sâu lắm, nhưng có khi cũng uống đầy bụng. Trời nắng gió, bước lên bờ tóc đã khô. Đó là những bài tập bơi của tôi.

Thực ra, có một nỗi lo âu vần vũ xóm làng khi xảy ra chạm súng giữa dân vệ hay nghĩa quân của xã, địa phương quân của tỉnh và các toán du kích từ rừng về đánh lô cốt, phục kích viên chức chính quyền, hay chuyển hàng tiếp tế. Có lần, trên đường đi học tôi nhìn thấy một cái xác quần đùi ở trần với những bao thuốc lá Ruby đỏ, Cotab trắng, Melia vàng rơi vương vãi, máu nhuộm chúng đã khô, không ai dám nhặt.

Nước mắt cũng mau khô. Nỗi sợ hãi chóng qua, không khí yên bình tái lập. Lực lượng dân vệ, nghĩa quân hoạt động mạnh, gây cảm giác khá an toàn trong vùng bao quanh thành phố và khu trù mật. Làng tôi bên sông đối diện với thị xã, chiều chiều ánh điện chiếu xuống mặt nước soi lên tuổi mới lớn. Những đứa trẻ mới lớn hay mơ mộng, thích đọc truyện tình và trinh thám kiếm hiệp, cả hai đều lãng mạn, kiểu khác nhau. Hồi ấy ở miền Nam có phong trào thuê truyện, nhất là giới học trò. Các hiệu cho thuê phát triển, truyện kiếm hiệp Kim Dung, Ngọa Long Sinh, trinh thám Z.28, 007, truyện xã hội Dương Hà, Sĩ Trung, Bà Tùng Long. Tôi có nhiều địa điểm thuê truyện, nhưng trong một con hẻm nhỏ ở gần chùa Tỉnh hội, chạy sát bên thành cổ Đinh Công Tráng, dọc theo đầm nước có nhiều hoa sen nở trắng vươn lên dưới vòng rào kẽm gai, một hôm tôi tìm ra địa chỉ thú vị. Ở đầu ngõ hẻm có cái bảng nhỏ đề “Cho Thuê Truyện”, ba chữ sơn xanh nền đỏ, đập ngay vào mắt, mà dù không có cái bảng sơn xanh đỏ ấy, dù chỉ là hàng chữ li ti thì những đứa mê truyện như tôi cũng không bỏ sót. Một ngày, đi học tan trường về, tôi nhìn thấy nó từ sau chiếc cột điện, tôi đứng ngẩn người. Con hẻm sâu, đi loanh quanh một chặp, ở dưới hiên lợp mái tôn của những ngôi nhà lụp xụp, mới cất, của những người từ vùng phía Nam sông Bến Hải, Dốc Miếu chạy giặc giã sau cuộc bình định Ấp chiến lược, dựng tạm. Bên những đứa trẻ da xanh mét mặc áo hở rốn, quần đùi, là những thiếu nữ phấn son lòe loẹt. Tôi không chú ý lắm, vì thời ấy đầu óc còn nghĩ đến thú chơi như câu cá, bắt chim, coi phim cọp và những cuốn sách. Quán là căn nhà nhỏ, phía trước rộng có cái tủ cao mắt lưới, bên trong bày những gáy sách hấp dẫn. Giữa hai chiếc cột lớn là cái võng dù xanh, một người đàn bà còn trẻ thường nằm ở võng cho con bú, khi có khách vào thì mới đứng lên tới phía sau tủ sách, lụi cụi ghi chép. Nhiều lần quen thuộc, tôi biết chị có chồng là đi lính hay xa nhà. Chị có hai hoặc ba đứa con nhỏ, quê Gio Linh, gần cầu Hiền Lương, chạy vào thị xã mới vài năm trước. Chị ít nói, mặt không bao giờ trang điểm nhưng có nét đẹp kín đáo, dịu dàng, tần tảo. Nghề cho thuê truyện không phải là nghề khá giả, nhưng thích hợp vì chị có con nhỏ. Trong tủ có nhiều loại sách, truyện chưởng và tiểu thuyết văn học, từ Phi lạc sang Tàu của Hồ Hữu Tường đến Mối tình màu hoa đào của Nguyễn Mạnh Côn, từ Mèo đêm của Nguyễn Thị Thụy Vũ đến Đêm nghe tiếng đại bác của Nhã Ca, tôi nhớ một đoạn: Hãy mang tất cả về đêm nay cho tôi thấy. Cho ba tôi thấy. Cho em Kim tôi thấy. Cho chị Hạnh thấy. Tiếng đại bác. Tiếng đại bác. Gửi gì không.

Tủ sách của chị ngày một lớn, đầy ắp, khách ngày càng đông, bọn nhóc. Có lúc tôi vào nhà không có ai, ở cửa con chó nhỏ không sủa. Tôi đi lui đi tới nhiều lần, mỏi chân, nằm lên chiếc võng dù êm ái cho đến khi chủ nhà về. Lâu riết thành quen. Tuần nào thứ bảy tôi cũng ghé để tìm đọc một hai cuốn. Tôi đi tìm những thú vui trong chữ, trên giấy, ở ngoài cái thế giới mà tôi đang có, khốn khổ, chết chóc, thế giới có thực ấy cũng đẹp lạ thường nhưng nguy hiểm lạ thường. Tôi đi tìm những con đường khác của đời sống.

Đối với tôi, cuộc đời vừa mới đến.

Nhưng vội tàn. Ngày lễ Phục sinh, thứ Sáu 30 tháng 3 năm 1972, hàng chục ngàn quả đạn pháo từ Vĩnh Linh, bờ Bắc sông Bến Hải, bắn qua giới tuyến, phủ chụp các căn cứ Ba Hồ và Đầu Mầu phía Tây, Cửa Việt và Quán Ngang phía Đông, Cồn Tiên và Dốc Miếu phía Bắc, khởi đầu chiến dịch Xuân Hè. Sau cuộc tổng tấn công tết Mậu Thân 1968 bất thành, lực lượng du kích rút sâu vào rừng núi, tình hình nông thôn tại Quảng trị, Thừa thiên khá yên tĩnh nhiều năm. Nhưng lần này là cuộc tấn công trực diện của quân chủ lực miền Bắc: các đoàn xe tăng tràn qua sông Bến Hải tiến về Đông Hà. Các loạt pháo kích dồn dập dọn đường cho bộ binh theo sau, được bảo vệ bởi các hỏa tiễn đất đối không từ vùng phi quân sự. Hòa đàm Paris dự trù mở trở lại vào tháng 7 năm 1972, cả hai bên đều tăng cường hoạt động để giành thế mạnh. Ba ngày sau, thứ Hai 3 tháng 4, quân miền Bắc đẩy lùi các phòng tuyến bảo vệ của quân miền Nam, tràn qua Cam lộ, nơi có con đường 9 huyết mạch chạy từ Đông hà qua Lào. Sự viện trợ của không lực Mỹ rất giới hạn, phần do thời tiết mây mù, phần do các mệnh lệnh nào đó, gần như bất động trong thời gian này. Quân miền Nam tổn thất nặng, rơi vào hỗn loạn. Căn cứ Cồn Tiên, Mai Lộc thất thủ. Cầu Đông Hà bị giật sập làm chậm bước tiến đối phương nhưng cũng chỉ được vài ngày. Dân chúng và chính quyền địa phương rút chạy về phía Nam.
Gia đình tôi vào Huế, ở tạm nhà dì tôi bên Đập Đá và nhà chị tôi trong thành Nội, gần trường trung học Hàm Nghi, ngôi trường đẹp thơ mộng có nhiều phượng nở. Ngày 3 tháng 4, khi chúng tôi đang ở Huế, trên vô tuyến truyền hình, tôi thấy tướng Hoàng Xuân Lãm tư lệnh vùng 1 kêu gọi phản công trên các mặt trận. Ngày 6 tháng 4, hỏa tiễn và moọc chê bắn vào Đông Hà. Không chỉ vùng giới tuyến, trong tháng Tư này, trên nhiều mặt trận khác ở miền Nam lửa cũng cháy bừng bừng. An lộc bị vây hãm. Giữa tháng 4, trung tá tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 11 nhảy dù Nguyễn Đình Bảo tử trận, căn cứ Charlie ở Kon Tum tan vỡ. Sau đó tình tình địa phương trở nên lắng dịu. Hai tuần lễ yên tĩnh, một số dân chúng từ Huế, Đà nẵng lần lượt trở về nhà. Cha tôi mang tôi về quê, nhưng để các anh chị tôi ở lại Huế, vì ông cần trình diện công sở. Đến ngày 27 tháng 4, tình hình lại thay đổi, với các cuộc tấn công từ rừng núi phía Tây vào căn cứ Ái Tử của sư đoàn 3 bộ binh. Ngày 28 tháng 4, Đông Hà thất thủ. Bộ tư lệnh sư đoàn 3 rút qua sông Thạch Hãn về thị xã Quảng Trị. Do phối hợp kém, cầu Ga bắc qua sông Thạch hãn bị giật sập trong khi các toán quân cuối cùng của sư đoàn này và nhiều chiến xa, đại bác chưa kịp qua cầu. Các vũ khí nặng bị phá hủy bên bờ Bắc, trong làng tôi, gây những tiếng nổ làm dân chúng đã sợ hãi còn khiếp đảm hơn. Trên bến đò Nhan Biều tôi qua lại mỗi ngày, những chiếc xe quân sự chúc đầu xuống nước nghi ngút bốc khói, mặt sông dầu loang loáng xanh lè. Ba tháng nữa sẽ loang màu đỏ. Một ngày sau, trưa 29 tháng 4, xe tăng và bộ binh Bắc quân bắt đầu tiến qua sông. Lữ đoàn 147 Thủy quân lục chiến, đơn vị thiện chiến nhất của sư đoàn 3, buộc phải rút khỏi thị xã Quảng Trị. Tướng Vũ Văn Giai tư lệnh sư đoàn rời khỏi cổ thành phút cuối nhưng không thể đi xuyên qua đám dân chúng dày đặc trên đường; lực lượng yểm trợ của Mỹ phải gởi trực thăng tới chở ông ta và đoàn tùy tùng rời khỏi cổ thành Đinh Công Tráng. Lữ đoàn 147 rút theo đường số Một đến bờ Nam sông Mỹ Chánh, bị pháo kích nặng nề trên đường đi.

Ngày 1 tháng 5, quân miền Bắc chiếm thị xã Quảng Trị. Dân chúng tiếp tục ra đi trong hoảng loạn. Họ chia làm hai ngả, trên đường quốc lộ mới hoặc rẽ xuống đường quốc lộ cũ, phía biển, từ ngã ba Long Hưng đến chợ Diên Sanh. Quảng Trị nhiều cát, nhiều sông, nhiều rừng, vì vậy chỉ cần đến bìa rừng là đã đặt đường quốc lộ chính vào tầm mắt, lọt vào tầm đạn. Khi các đơn bị địa phương quân bảo vệ các trục lộ giao thông rút đi, quân miền Bắc dễ dàng đưa súng lớn vào trong một đêm. Một vài khẩu đại bác từ trên các đồi cao, gần các thôn Trường phước, Trường thọ, Diên Sanh, từ sau nhà thờ La Vang, từ các điểm cao của vùng Như Lệ, Tích Tường có hồ nước mơ màng, thừa sức uy hiếp đoạn đường từ thị xã vào Huế. Hình như họ đã kiên nhẫn chờ và tìm cách dùng bộ binh để đẩy lui đoàn người tị nạn. Đến một lúc không thể ngăn cản được, họ đã nổ súng, đạn đại bác rót ngay vào giữa mặt đường lộ, trên đầu những người di tản. Ba tháng sau, các lực lượng Nhảy dù và Thủy quân lục chiến phản công từ phía Nam cũng đã đi qua đoạn đường này, đếm được nhiều bộ xương khô còn sót lại.
Dọc đường số Một có những bãi cát trắng và rú thấp, khô cằn, nhưng khi đi sâu vào làng mạc phía Đông, phía biển, sau những đồi cát đầu tiên, cảnh tượng khác hẳn, bạn lại thấy quê hương gió mát trăng trong, nhiều tôm cá. Dưới tác động của gió Lào, cát thay đổi mỗi ngày, từ sáng đến chiều một rú cát bỗng dưng biến mất, từ chiều hôm trước đến sáng hôm sau một rừng cây lúp xúp bỗng bị che phủ, vì vậy trong vài ngày những xác chết vô thừa nhận chưa kịp bốc mùi đã vùi sâu trong cát. Gió Lào thổi rào rào qua trảng cỏ, cát bay đầy mặt, đầy người, ngứa ngáy, đau buốt. Trên những cánh đồng sau đồi, lúa đã vào mùa sắp chín, trái cây nở rộn ràng trong các khu vườn rộng líu lo chim hót của Gio Linh, Triệu Phong, Hải Lăng, Quảng Điền, Phong Điền.

Tiếng đại bác rít trên đầu chúng tôi, tiếng nổ gầm vang, lửa, khói dày đặc, tiếng la hét, í ới, tiếng than khóc, tiếng rên rỉ, hoảng hốt. Đạn bắn rất gần, tiếng súng chống tăng M72 của quân miền Nam, B40 của quân miền Bắc, súng cối, tiểu liên AK 47 đinh tai, M16 sát thương khủng khiếp. Đoàn người chạy ngược lại từ cầu Trường Phước, khi tới cầu Bến Đá, cầu cũng vừa bị giật sập. Chúng tôi cùng với một số người bơi qua sông. Tôi và cha tôi chạy qua những rú, những truông, cỏ lau mọc phất phơ cao ngất, những bụi dứa trái chín vàng ươm, những đồi sim tím, muồng muồng đen, tre cào xước mặt, mây quấn lùng nhùng, chạy qua những căn nhà dân chúng hấp tấp ra đi bỏ lại. Khi ngó xuống, đôi dép sứt quai, hai bắp chân tôi đầy máu vì gai nhọn. Chạy qua một căn nhà trống, gió thổi tơi bời phên liếp, trước cái cột nhà đen bóng, cha tôi dừng lại. Tôi nhìn qua vai ông, trên cột treo tấm lịch hiệu Quán thế âm bồ tát của Khuôn hội Phật giáo, có những tờ xé ra từng ngày. Tờ lịch đứng lại ngày 30 tháng 4. Đó là ngày hôm qua. Một ngày đang còn in dấu tay của người chủ nhà. Chúng tôi dừng nghỉ một lát, nghe tiếng súng nổ xa xa. Tôi đứng đó, nhìn vào con mắt thăm thẳm của thời gian. Thời gian nhìn trả lại. Sau cửa sổ, qua vai cha tôi, đọt lá ổi non chấp chới nắng lay động ngoài vườn.

Có một nỗi sợ hãi khủng khiếp khi bạn chạy lạc, lọt vào tầm đại bác, úp mặt trên cỏ, thân xác phơi ra, không có gì bảo vệ, tiếng depart, tiếng đạn réo trên đầu. Bạn biết bạn sẽ chết. Nhưng chết là khái niệm trừu tượng, siêu hình, sự kết thúc đời sống, cái quan tài, hàng nến lung linh, nước mắt người thân, hư vô, kiếp sau. Cái chết của chiến tranh không phải thế, không kết thúc, đó là sự bắt đầu. Bạn bắt đầu bước xuống tầng hầm tối đen địa ngục, bạn khởi sự đoạn đời khủng khiếp, sợ hãi kêu thét một mình, không ai nghe, không ai biết, bạn kêu gào xin kết thúc, không có tiếng lắc chuông của Địa tạng vương bồ tát, chỉ những bông hoa sim tím bên đường giữa cát trắng dội lại tiếng than khóc của bạn, dội đi dội lại âm thanh ngày cuối cùng. Bạn lớn lên bao giờ cũng tin rằng cá nhân mình là ngoại lệ, mọi người có thể phạm tội ác nhưng bạn không thể phạm tội ác, mọi người có thể rơi vào thảm họa nhưng chính bạn không thể rơi vào thảm họa, người khác có thể phản bội nhưng bạn không phản bội, người khác có thể đạp phải mìn mất một bàn chân nhưng bạn không thể dẫm phải mìn mất một bàn chân trong một ngày sương còn đọng trên cỏ ướt.
Giữa xác thường dân, thỉnh thoảng chúng tôi gặp xác những người lính, những người bộ đội, bên súng cối, súng AR15, súng phóng lựu dài ngoằng. Không chỉ pháo kích, các trận đánh phục kích bên đường cũng diễn ra ác liệt, súng bắn vòng trên đầu, súng bắn ngang. Cha tôi cầm tay tôi chạy hốt hoảng giữa đoàn người, một số chạy về phía Nam tìm vợ chồng con cái thất lạc, một số chạy về phía Bắc khi gặp pháo kích. Tôi lạc mất cha tôi, giữa những cái xác. Đêm tôi thức dậy một mình, nằm trong một cái hố cát nhỏ trong vườn cách xa quốc lộ vài chục mét. Có một tấm vải bạt đắp ngang người tôi, như thể tôi đã kéo xuống từ một cái chòi nào đó, hay là một người nào bí mật đã đi ngang qua và đắp cho tôi. Đêm mùa hè, sao trời sáng rực, nhiều như hoa đăng, sáng đến nỗi bạn có thể nhìn thấy rõ đường chỉ tay. Gió Lào bắt đầu ngừng, xen lẫn với gió nồm từ biển vào đem theo hơi mát, mùi muối mặn, mùi máu mặn. Xa xa con đường số Một nằm trơ trụi, về phía đường xe lửa là rừng rú, về phía Đông là đồng bằng, càng đi xuống làng mạc càng đông đúc. Tôi ngồi dậy, mỏi rã rời, lắng nghe tiếng ve sầu bàng bạc lưng chừng cây như khóc than, báo cho tôi biết rằng đây không phải là nơi trú ẩn an toàn. Bạn phải chạy đi, quê hương không còn là nơi trú ẩn an toàn. Tôi nhắm mắt lại.

Ba.
Papa.
Tôi gọi khẽ.
Không tiếng trả lời.

Hồi nhỏ, tôi gọi cha tôi là Papa, vì ông là thầy giáo Pháp văn, dạy tôi tiếng Pháp thời vỡ lòng. Bạn mười mấy tuổi, những năm đẹp nhất đời, vầng trăng tròn vừa ngự trời cao lồng lộng. Bạn từng sống ngày hạnh phúc, quê hương của bạn kịp thấy trời rạng đông, phảng phất thứ tai ương mới đầu bạn tưởng mình không hề nhúng tay vào, thật ra bạn có nhúng tay vào. Khi không người nào chịu trách nhiệm thì tất cả mọi người đều chịu, sự hủy hoại của chiến tranh trong khi cày xé mặt đất cũng bẻ vụn tâm hồn, biến chúng ta thành người khác, tàn nhẫn hơn, khôn ngoan hơn, điên cuồng hơn. Giữa chiến tranh, không có một niềm hy vọng nào cả, tôi nằm đó, nhìn sao, qua những cành lá, cỏ may, cỏ hổ ngươi, một nỗi buồn rầu xen lẫn giận dữ từ từ dâng lên như khi bạn đi vào giấc mộng, cánh cửa sập lại đằng sau và bạn sống với những quy luật khác. Trong căn phòng của quy luật khác ấy tôi đi lại một mình, dùng một ngôn ngữ không ai hiểu. Tôi còn trẻ quá, nhưng chỉ vài năm nữa thôi nếu chiến tranh tiếp diễn, tôi sẽ phải cầm súng. Đây là đất nước tôi, đây là ngày mai, nhưng tôi chẳng có tiếng nói, không ai có quyền quyết định trước số phận, một nửa dân tộc biết rõ như thế, một nửa chưa biết điều ấy, nhưng không một người nào có quyền quyết định số phận mình. Tại sao nằm giữa chiến tranh, kề cận cái chết, tôi lại nghĩ những điều mông lung, tôi muốn nghĩ một điều gì để quên đi hiện tại, tôi muốn ghi nhớ vì ngày mai xóa sạch ngày hôm nay. Máu sẽ ngừng chảy, nước mắt sẽ khô, người sống sẽ chết, đứa trẻ đi lạc sẽ trở về nhà, thời gian trở thành kẻ dối trá. Để có thể sống bình thường, mỗi người đều phản bội chính mình, như một người mẹ vừa khóc đứa con trên tay, vài ngày sau đã phải áo quần tươm tất ra đường. Chỉ có đất nhận lại lỗi lầm của chúng ta, uống lại máu chúng ta, như chiếc nôi xưa nhận lại hài nhi.
Nếu đời sống trước mùa hè ấy không đáng yêu đến thế, nếu con người tự do không hạnh phúc đến thế, nếu ngày vui chim đã không hót vang trong bụi trúc, thì đêm ấy tôi đã không muốn khóc. Vì nỗi thương tiếc chẳng làm nên tích sự gì, bọn bạo chúa chẳng bao giờ tin vào quyền lực của tiếc thương. Nhưng tôi đã bơi qua dòng sông cùng với cha tôi, rồi thất lạc, rồi bơi một mình qua dòng sông khác, đã nhìn thấy những xác chết đen nhẻm trên đường, đã cầm mảnh đạn pháo nóng hổi màu xám trên tay, mùi kim khí khét rẹt, mùi thịt người cháy xém trong không gian, tôi đã thấy một cánh tay vắt vẻo trên cành tre cao ngất, chim chào mào hay về đậu, đã thấy hàng ngàn người chạy trên đoạn đường chín cây số, đã nhìn thấy một cây cầu đổ ụp phía chân trời.

Bạn có bao giờ nhìn thấy một cây cầu đổ?

Khi chúng tôi vừa vượt qua cầu Bến Đá về phía Bắc được vài trăm mét thì có tiếng nổ lớn, mọi người dừng lại, ngoái đầu, một cột nước cao ngất, tồi đám khói bốc lên, bụi mù, cây cầu bằng sắt đen từ từ nẩy lên rồi chúi đầu xuống ở giữa dòng. Chậm đến nỗi bạn biết điều ấy không có thật. Sau nhiều giấc ngủ chậm chờn, những giấc mơ ngắn, mồ hôi ra đầm đìa, tôi ngồi dậy, từ trong cái hố cát nhỏ trong vườn bên đường số Một nghe ngóng, nhìn lên mặt đường. Tôi ngạc nhiên về im lặng, về tỉnh thức xen lẫn sợ hãi, đôi khi sợ hãi lớn đến mức che mờ ý thức, người tôi run lên từng chập, tôi chỉ muốn chết để kết thúc sự đau khổ ấy, nhưng nhiều khi ý thức trở lại xua sạch nỗi sợ hãi. Vào lúc ấy, bầu trời sáng bừng, khổ đau trở nên hiểu được, nỗi bơ vơ mất cha lạc mẹ trở nên chịu đựng nổi, dù tạm thời. Chân tôi dầm trong cát mát lạnh vì sương đêm, cơn đói tới dồn dập. Tôi bò quanh tìm trái mít rụng, tìm dễ dàng nhờ mùi thơm. Đó là một trái mít ướt vừa rơi, múi còn nguyên, tôi úp mặt xuống, ăn ngấu nghiến, nuốt hết nước mũi nước mật hòa nhau.

Khi đã no, tôi bắt đầu nghe tiếng dế kêu trong cỏ, con dế nào vừa ra khỏi hang đi tìm bạn. Hai tay tôi cầm chặt cái vỏ mít đầy gai nhọn. Có một lúc tôi nhận ra nỗi đau khổ của tôi lớn đến nỗi không một lý thuyết nào có thể giải thích được, có thể tự chứng minh sự đúng đắn của nó. Chiến tranh không chỉ là vết thương súng đạn, mà còn là con đường dẫn tới mọi ảo tưởng, ảo giác, dẫn một dân tộc vào mê lộ ở đó đúng và sai lẫn lộn, thắng và bại lẫn lộn, trước và sau lẫn lộn, một dân tộc, không trừ một người nào, như những người bị kiếm sắc đâm vào mắt, mù lòa, dẫn nhau đi sờ sẫm trong hang động, như trong tiểu thuyết của Kim Dung. Chúng ta sẽ không còn yêu ai nữa nếu chiến tranh tiếp tục. Vì tình yêu cần một cấu trúc vật thể như linh hồn cần thân xác, như tín ngưỡng cần nơi thờ phượng. Trong một thời kỳ đầy rẫy những lý tưởng, mỹ ngữ, xảo ngữ, cuộc chiến tranh đã bắt đầu từ lâu trước khi tôi ra đời, sự đau khổ này tuy diễn ra đột ngột, với nhiều người là kết cục tất nhiên của nhiều năm tháng lầm lỗi của dân tộc, không trừ một ai, ở đó sự hỗn loạn lấn át trật tự, sự độc ác chiến thắng tình người. Nỗi hối hận gõ cửa, đến tìm thăm nơi cội nguồn của bạn, nhưng bạn lúc ấy đi xa, không bao giờ biết. Những nạn nhân của bạo lực bao giờ cũng chết trước khi bạn trở về, không bao giờ kịp kể lại câu chuyện của họ, trước đây vẫn thế, sau này sẽ thế. Bất cứ một gia đình nào cũng vừa có người thuộc phía miền Nam vừa có người thuộc phía miền Bắc, bất cứ một gia đình nào cũng có người thân dù gần hay xa bị Pháp tra tấn hay bị Việt Minh chôn sống. Tội ác và dối trá của người Việt đối với nhau không bao giờ chịu kém hơn tội ác và dối trá của người ngoại quốc, trong chiến tranh, sau chiến tranh.
Khi tôi cầm tay cha tôi chạy trên đoạn đường khỏi cầu Bến Đá, tôi không ngờ rằng tôi sẽ mất người. Những buổi chiều ngồi trên võng tôi la đà đọc, nhẩn nha, theo dõi tâm sự của Kiều Phong, sự lầm lỡ của Nhạc Linh San, cuộc phiêu lưu của Tiêu Lĩnh Vu. Đang học ban toán, tôi bỏ bê, bài tập về nhà không chịu làm. Vì có thói quen học trước lớp vài chương nên bài vở của tôi chưa thay đổi, giáo sư không biết, nhưng tôi biết. Tôi biết nguồn kiến thức của mình cạn dần vì nhiều tháng đem xài hết. Năng lượng của một đứa trẻ mới lớn đã dành theo kịp những đoạn đường mạo hiểm ra Băng hải đảo của Trương Vô Kỵ, những thế võ của Mộ Dung Phục. Ngược lại tôi nhận được một thứ năng lượng kỳ lạ không tên của trí tưởng tượng, của những ước mơ run rẩy, tuy chẳng có ích gì cho môn toán của tôi trước mắt, nhưng về lâu dài cũng có thể đã gieo vào lòng thói quen suy nghĩ mông lung chẳng đâu vào đâu, đối với nhiều người là vô tích sự, đối với một số ít khác là có thể dùng được.

Chẳng bao lâu bạn sẽ mất tất cả.

Nhưng bây giờ bạn có hết. Ngõ hẻm, chị chủ nhà đứng chờ sau tủ sách, nở nụ cười buồn rầu, cây bút chì trên tay chậm chạp ghi tên bạn lên cuốn tập học trò. Người đàn bà ấy ghi thật chậm vừa chép vừa đánh vần, đôi khi đọc thành tiếng. Như vậy tôi có cả buổi chiều, cơn mưa đám mây, bến đò ngồi đợi, chuyến đò cuối cùng ngày thứ Bảy, chiếc võng trước hiên nhà, dưới dàn thiên lý hoa thơm mà mẹ tôi hay nấu canh khá ngon, và nếu may mắn, trong tủ bếp có một thứ gì đó để nhâm nhi mà các chị tôi thường để lại cho em trai út, kẹo bánh, đậu phụng, bắp nướng. Tôi nằm trên võng, trong im lặng của vùng quê yên tĩnh, như có chiến tranh mà như không có chiến tranh. Một ngày tròn trịa như chú gà non mới nở từ quả trứng, vừa nhảy ra kêu chim chíp trên sân. Rồi nó bỗng vươn cánh, xòe rộng, bay đi mất.

Tôi sống giữa những nhân vật phiêu lưu, và những nhân vật ấy, người tay đao tay kiếm, người súng lục rút nhanh như chớp. Một thiếu niên khí phách dám xông vào sơn trang mà chủ nhân là kẻ tà đạo, tất nhiên. Trong cuộc diện kiến quanh bàn tiệc trên tầng tháp cao, khi mọi người trổ tài khuất phục người khác, chàng chẳng làm được gì cả. Chàng ngồi đó, khiêm tốn và nhẫn nại, như lịch sử. Cho đến khi chẳng đặng đừng, liền cầm tách trà bằng sứ lên thuận tay liệng ra cửa sổ. Thiếu nữ đem lòng yêu chàng, có mặt ở đó, lấy làm ngao ngán về môn công phu quá ư tầm thường. Tôi cũng ngạc nhiên, thất vọng. Câu trả lời tất nhiên thuộc về tác giả, ở chương sau, trong một cuốn sách khác hình như Sài Gòn chưa kịp in, hay chị chủ nhà cho thuê chưa kịp mua về. Tôi không biết, chỉ nhớ tôi đợi dài cổ xem chương tiếp, không ngớt thắc mắc về số phận nhân vật.

Số phận của tách trà bị ném qua cửa sổ ở tầng tháp thứ mười ba.

Nhưng chương kế tiếp không bao giờ đến, trang sách bị xé rách, tan hoang. Tôi sống lẫn lộn giữa ký ức và tương lai, giữa bùn lầy nước đọng của nghèo khổ và ánh điện, đèn chớp tắt xanh đỏ, giữa ảo tưởng của hiện tại và nỗi mơ hồ của tương lai, giữa cái đẹp và tội ác. Văn học làm giàu trí tưởng tượng chừng nào càng làm chúng tôi xa rời sự thật chừng ấy, một thế hệ lớn lên mơ mơ hồ hồ, chẳng biết trong chiến tranh phía nào là đúng, phía nào là sai. Cả một dân tộc, hay ít nhất một nửa, như mê đi, như khờ dại, một tâm trí văn hóa mù mờ lẫn lộn, không thực tế, không sẵn sàng trả lời các vấn nạn trước mắt. Nhưng đó là việc bây giờ nhìn lại, thời ấy chỉ thấy thanh bình, thấy đẹp. Những nhân vật kia, kẻ trọng nghĩa khinh tài, người đại gian ác, kẻ tu luyện nhiều năm, người con nhà lành rơi vào đáy vực, những anh hùng thiếu niên, những kỳ nữ diễm lệ, ai cũng biết khóc cười như chúng ta. Có muôn ngàn lý do để giải thích cuộc chiến tranh, biện hộ cho sự bắn giết, hủy hoại. Nhưng từ mấy chục năm nay, có bao giờ dân tộc chúng ta đi chệch khỏi con đường dẫn nó xuống vực thẳm đâu?
Tờ mờ sáng hôm sau, đã yên tĩnh, tôi đi ngược về phía Bắc, giữa mùi thuốc súng, mùi bánh xe hơi và nhựa đường cháy khét, chạy lúp xúp bên đường. Sắp tới ngã ba Long Hưng gần con đường rẽ ngược lên phía nhà thờ La Vang, tôi nhìn thấy một xác chết nằm ngay trên vệ cỏ, khuất sau một chiếc xe đò bị bắn cháy. Vì chiếc xe chắn ngang mặt đường, tôi phải đi vòng ra sau một đám cỏ khá cao. Đó là một người phụ nữ trông hãy còn trẻ, một tay vòng trên bụng, một tay xoải ra, bàn tay khuất trong cỏ như một người đang ngủ. Hai ống quần rách tươm để lộ bắp đùi.

Vì sao người dân rùng rùng bỏ chạy, không ở lại với ruộng đồng phố thị của mình, người Gio linh bỏ khu phi quân sự chạy vào Đông hà, người Đông hà chạy vào Quảng trị, người Quảng trị vào Huế? Một đặc điểm của du kích là chỉ tấn công các lực lượng quân sự, hầu hết không chủ trương tàn sát dân lành hàng loạt, dễ hiểu là vì họ cần thu phục cảm tình của dân chúng; tuy nhiên, khi nào đám người ấy bị mắc kẹt giữa các mục tiêu quân sự, thì họ cũng sẵn sàng hy sinh dân lành, có khi bất chấp mọi giá để giành chiến thắng. Trong hoàn cảnh thuận lợi, người ta có tâm lý thận trọng, nhưng khi bối rối, lối hành xử bạt mạng như pháo kích bừa bãi dễ xảy ra. Có lẽ chiếc xe đò của chị đã trúng phải mìn hay B40 và nhiều người chết vì sức ép, tôi chỉ đoán thế. Trên người không một vết thương nào khác. Khi sắp bước đi, tôi bỗng giật mình, quay lại nhìn khuôn mặt một lần nữa. Tôi đau nhói như bị bắn vào ngực. Dáng người và khuôn mặt ấy, tôi không thể lầm, đó là chị chủ nhà tiệm cho thuê truyện mà tôi vẫn gặp hàng tuần. Tôi tới gần hơn, phía cánh tay của chị duỗi thẳng, nhận ra trong cỏ cao một bàn tay cháy xém, các ngón tay chỉ còn xương và gân, xoè ra như một cánh bướm đen.

Đêm trước, tôi thức dậy mấy lần vì tiếng mít rụng. Mọi việc trở nên mơ hồ lẫn lộn khiến tai tôi ù đi, mắt mờ. Nằm không xa tôi mấy, một người đàn bà từ một thành phố sắp bị xóa tên trên mặt đất. Khuôn mặt trong cát bỏng xao xác tỏa ra một thứ ánh sáng kỳ lạ như khi nguời ta chiếu đèn từ xa bằng loại đèn pha cực mạnh trong tối. Nghĩ đến chị, tôi lấy lại can đảm, lấy lại sức mạnh, vừa đi vừa chạy qua đoạn đường dài, băng qua thị xã, chạy qua trường Bồ đề, xuống bến đò, bơi qua sông Thạch hãn, một dòng sông mà sau này tôi sẽ bơi ngược trở lại.

Gió mùa Quảng trị thổi nhiều giọng. Rú từng đợt khi qua đèo Lao Bảo, nỉ non trên Tân Sở, rì rào cuốn bụi đỏ từ Dốc Miếu, dịu dàng khi qua nguồn nước Tích tường. Nếu bạn ngồi thật lâu cuối khu vườn có mít và ổi, như tôi ngày ấy, bạn có thể nghe được lời nhắn gởi của gió, lời nhắn gởi của tiếc thương. Trong lớp học tiếc thương này, số học sinh hiện diện bao giờ cũng đông hơn học sinh trong giờ toán của tôi, giờ văn của anh tôi, và bài giảng của nó sẽ được nhớ lâu dài. Vì vậy, hai mươi năm sau, khi đi tìm một tài liệu tiếng Việt cho công việc điều tra dân số của chính phủ liên bang, có liên quan đến môn học toán thống kê của tôi, trong thư viện lớn nhất ở trung tâm Calgary, mùa hè năm 1992, tôi đã tình cờ nhìn thấy cuốn sách kiếm hiệp của mình, cuốn kế tiếp, chương kế tiếp, hồi kế tiếp. Bạn nhớ không?

Tách trà uống cạn, rời tay chàng thiếu niên bay qua cửa sổ, sau một hồi nín thở chờ đợi, giữa ánh mắt châm biếm ngờ vực, cái tách ấy đã bay vòng trở lại qua một cửa sổ khác, vào phòng. Và tất nhiên từ từ đáp xuống. Vậy là chiếc tách sứ ấy đã bay một khoảng thời gian lâu đến nóng ruột bên ngoài tầng tháp cổ. Không phải một thời gian, nó bay một mạch hai mươi năm, từ vùng gió mặn đến xứ tuyết trắng.

Tôi đã bơi qua sông Thư Rơi, qua sông Thạch Hãn. Bơi một mình, lặng lẽ, không phải để dành tiền đò thuê truyện kiếm hiệp coi chơi, mà để chạy trốn cái chết.

Đêm yên tĩnh lạ lùng. Mùi mít mật dâng lên từng đợt. Tôi ngửng đầu, sao băng chi chít. Có một ngôi sao sáng hơn cả, tôi bắt chước một nhân vật tiểu thuyết, mở và gài cúc áo lại để cầu nguyện cho cha mẹ anh chị, cho đồng bào tôi, xin không ai còn phải chết vì súng đạn hay vì hận thù. Ngôi sao băng ấy có lẽ nghe được lời cầu nguyện của tôi nên vạch một đường thật dài, thật chậm, như linh hồn một người đàn bà đã bay lên cao còn nhìn ngoái lại mặt đất.

Nguyễn Đức Tùng