LÒNG EM GIẤY MỚI GIỮ GIÙM…

 

nắng soi lấp lóa xuống dòng
nhớ anh nỗi trải mướt nong tơ vàng
trải lòng em giấy mới sang
lật thơm hương nhẹ từng trang vợi vời

ghi lên giấy khúc ạ ời
câu thơ dìu dặt ru đời thuở xưa
mẹ đi sớm quá cơn mưa
phùn rơi lắc rắc dây dưa nỗi buồn

con sông từ đó bắt nguồn
đáy sâu cuộn suối ủ muôn trùng sầu
đưa vào mắt hốc đêm thâu
đặt vai gánh nhẫn bể dâu cõi người

bầy chim về tổ chơi vơi
thương anh bay thấp sà chơi sân nhà
líu lo hót giọng ba hoa
gọi mây í ơi ghé nha thăm vườn

vườn hiu hắt lắm lá vương
sót từ thu trứớc nhuốm tương tư tình
mà anh còn bận lặng thinh
nên màu úa mãi yên bình nằm phơi

tóc lau còn bận chưa ngơi
nhờ em trang giấy thảnh thơi giữ giùm
trái tim anh chút bao dung
chút xa xót chút nhớ nhung cuối trời… .

HIỀN MÂY

Bạn Yên Tâm Cứ Làm Theo Ý Bạn

 

Bạn yên tâm cứ làm theo ý bạn, cứ mắng tôi đi khi nào nản thì thôi, đừng gắn lên môi tôi một nụ cười, đừng để trong thơ tôi mặt trời hoành tráng…

Những năm tôi ở lính, mặt trời là viên đạn, tôi bắn đi tôi có lậy Trời “xin đừng chạm đến những trẻ em đang vui chơi, xin đừng chạm đến những người dân vô tội”.

Tôi cầu mong mặt trời là con suối chở hào quang cho sáng rực dòng sông, chở tình yêu cho ấm áp muôn lòng…nhưng bạn ơi, mặt trời chỉ là đóm lửa!

…nó tàn rồi!  Nó không còn nữa.  Chân lý trên cõi đời này Sắc tức thị Không!  Thân tứ đại mà còn mênh mông…thì mặt trời chỉ là cái vòng hư ảo!

Tôi cũng xin bạn chớ choàng cho tôi tấm áo.  Ba mươi năm thơ chỉ là trò đùa.  Trong thơ tôi, bạn thấy những giấc mơ.  Có giấc mơ nào tan rồi lại hợp?

Bạn nhìn kìa, hàng hàng lớp lớp, người theo người, người đuổi theo người.  Người giàu, người nghèo, gặp, nói với nhau “Mình phải đi thôi!”.  Hai chữ Việt Nam (*) hỡi ơi là vậy!

“Thà mất nước chớ không mất Chúa”.  Linh Mục Hoàng Quỳnh nói năm 1954.  Từ Bắc vào Sài Gòn, Ngài dựng lên một ngôi nhà thờ. Nhà Thờ Ba Chuông, bạn thấy, đó.

Tôi để vào thơ tôi ít nhiều nắng gió,  Có mưa sa, có bão tố một thời.  Có những niềm vui, có những tiếng nghẹn lời…Có cả những câu bạn thường mắng chưởi!

Bạn cho tôi đường hay bạn cho tôi muối, tôi thật tình:  thưa với bạn, đều thơ!  Thơ của tôi có thể là ánh sao mờ, cũng có thể là vầng trăng-buổi-sáng!

Tôi hạnh phúc vì tôi lãng mạn, một kiếp còng nhớ mãi biển trùng dương…Thơ của tôi thường nhắc đến Quê Hương, vì đó là điểm muôn phương tụ nghĩa…

Trần Vấn Lệ

(*)Vua Gia Long, 1802-1820, đặt tên nước là Nam Việt, chữ Việt viết với bộ Mễ: “Một nước ở phía Nam Bắc Quốc, sung túc và thịnh vượng”, phù hợp với niên hiệu Gia Long: “Ngày càng giàu mạnh”. Vua nhà Thanh là Càn Long ngâm sứ điệp của ta mãi đến năm 1804 mới trả lời là chỉ đồng ý nếu đặt ngược chữ Nam Việt thành Việt Nam mà chữ Việt viết với bộ Tẩu, chạy trốn về Nam, chớ ngầm nhắc lại chuyện Triệu Đà và chuyện Quang Trung.  Vua Gia Long không dùng quốc hiệu Việt Nam mà nói gọn Nước Nam,  Vua Minh Mệnh năm 1820 kế ngôi đặt lại là Đại Nam, tới năm 1945 thì vua Bảo Đại mất ngôi và Hồ Chí Minh lên làm chủ đất nước dùng danh xưng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa… 

tạm biệt chiều

 

ngàn lau trắng quanh đời anh giông bão
chiều đã tàn và mây cũng ngừng trôi
anh chợt nhận ra mình đang hư ảo
vạn tinh cầu chìm dưới khói sương thôi

 

em rồi cũng như bao nhiêu chiều khác
hoàng hôn buồn kéo níu một đời hư
hạnh phúc đến đen trò chơi bội bạc
quăng quật anh qua ngày tháng nát nhừ

 

đời sống đó buồn như là vai diễn
giấu đời mình anh còn biết tin ai
giọt nước mắt khóc cho chiều đưa tiễn
thành môi cười che chắn những tàn phai

 

tạm biệt em tạm biệt chiều cay nghiệt
buổi quay về sám hối nhuộm đầy tay
nhưng miên viễn giữa đời nầy anh biết
vẫn yêu em trong cát bụi mệt nhoài…

nguyễn minh phúc

 

 

Saloon Cao Bồi

“Sometimes too much drink is barely enough – Đôi khi uống mãi mà không say.” Xin lược dịch như thế cho câu nói của Mark Twain về những câu chuyện say như men rượu ở các Saloon miền Viễn Tây nước Mỹ, nơi chuyện cũ không bao giờ cạn, nghe hoài không chán. Bởi lẽ hình ảnh một miền Tây Cao-bồi hoang dã luôn gắn liền với các Saloon này.
Hãy bắt đầu từ con đường đất đầy bụi, gió khô khốc, cái nóng khát họng, khách dừng ngựa trước quán, buộc cương trước hiên, qua bậc thang bằng gỗ là đến cánh cửa trước mở khép cả 2 chiều gọi là swing doors. Chúng có hình cánh dơi, lưng lửng ngang vai. Cánh cửa đó gọi mời những kẻ lang bạt, không cần gõ cửa, đi thẳng vào quán. Tấm cửa không cài, quét bụi đường lấm áo và cũng dễ dàng tống tháo một kẻ xấu say sưa ra ngoài lề đường. Hai cánh cửa dưới tầm nhìn để chủ quán có thể thấy khách bước vào, cũng như khách có thể nghe thấy tiếng lao xao gọi mời từ bên trong, cánh cửa thấp cũng để thoáng mát trong miền Tây nóng nực vào thuở chưa có máy lạnh. Từ cửa đi thẳng vào quầy làm bằng gỗ mahogany bóng láng. Sát quầy có thanh đồng cũng bóng láng do khách hàng tì tay. Nhìn vào khuỷu tay chai sần của khách sẽ biết anh ta là khách thường xuyên, dựa tay vào đấy bao năm rồi! Dưới chân dọc theo quầy là một thanh dắt chạy song song cho khách gác chân, nghỉ tựa những đôi giày ủng da có ngôi sao thúc ngựa lấp lánh. Cạnh dưới là ống nhổ thuốc lá ngậm. Dọc quầy treo những chiếc khăn tay để khách lau ngụm bọt beer còn dính vào hàm râu rậm. Những chiếc ghế cao dọc theo quầy, nơi khách uống có thể quay lưng lại cả quán và cũng thấy tất cả ở trong tấm gương lớn phía sau quầy rượu chứa đầy các chai rượu bắt mắt. Trên tường thường trang trí bằng các sừng nai, đầu gấu, bò rừng, nhiều bức tranh vẽ phụ nữ khỏa thân, poster quảng cáo các sản phẩm thời ấy như beer, thuốc lá, rượu, các tay thợ săn và vũ nữ nổi tiếng…Vài bộ bàn ghế cho khách tựa lưng, gác chân trò chuyện hay đen đỏ, hoặc bàn chuyện mua bán…
Ngày đó những ly rượu mang đầy lợi nhuận nên pha tạp. Cồn cao độ trộn với nước đường nấu vàng cháy và thuốc lá nhai nghiền. Bởi vậy chúng được đặt những tên trứ danh như Dynamite (Thuốc nổ), Red Eye (Mắt đỏ), Coffin Varnish (Nước bóng quan tài)…Nhưng từ phổ thông nhất được gọi là Fire Water. Từ được dùng khi các thổ dân da đỏ được các tay buôn da thú trao đổi và uống thử. Uống vào nóng như lửa, đổ vào củi làm bùng lên ngọn lửa. Khách hàng thường kêu rượu uống không pha (straight). Uống một hơi cạn ly. Sẽ là trò cười cho cả quán nếu gọi ly cocktail hay uống nhâm nhi. Bởi đó không phải là kiểu cách của dân Miền Tây. Một thức uống phổ biến khác là Tequila làm từ cây xương rồng, whiskey và rượu lên men từ dâu đen. Các loại rượu này thật nặng, độ cồn đến 50% (100 proof). Các chủ quán đôi khi pha thêm nhựa thông, thuốc súng, ớt cay và a-mô-nhắc. Thời đó cũng đã có bán beer. Những ly beer ấm bởi chưa có nước đá. Mãi đến những năm 1880 thì Adolphus Busch mới có loại beer ướp lạnh và Budweiser trở thành thương hiệu nổi tiếng đến ngày nay.
Các Saloon thường xuyên mở cửa 24 giờ, suốt 7 ngày, đáp ứng cho khách hàng thuộc nhiều tầng lớp, nhân viên địa phương, cảnh sát cũng như tội phạm và dĩ nhiên khách vãng lai. Khách hoàn toàn là người da trắng và quen thuộc. Hiếm khi có khách da đen, ngoại trừ đi cùng bạn da trắng hay chủ nhân. Những người da đỏ không bao giờ dám bén mảng, bởi đó là “luật bất thành văn”. Ngay cả người Hoa kiều, bước vào đó xem như chấp nhận rủi ro mất mạng. Tuy vậy có một loại khách da trắng không được chào đón nơi này, đó là binh lính. Lý do là phần đông những người di dân và về miền Tây đều là dân giang hồ tứ xứ, kẻ buôn lậu, người đào ngũ trong cuộc nội chiến…sự hiện diện của người lính là cái gai trong mắt họ. Và ngay cả phụ nữ. Ngoại trừ họ là gái làm trong Saloon hay là một mệnh phụ phu nhân.
Do đa phần di dân đến đây đều có quá khứ phức tạp, nên mọi người chỉ biết nhau qua tên mà không cần biết họ. Cái tên thường đi kèm một tên lóng đặc trưng…Nhiều vụ tò mò hay tìm hiểu về lai lịch của cư dân thường kết thúc bằng khói súng và xác chết nằm trước Saloon. Người ta cũng không bao giờ hỏi một chủ trang trại có bao nhiêu con bò (cũng như ngày nay không ai dám hỏi bạn khai thuế bao nhiêu.) Một lệ xã giao là luôn mời rượu khách kế bên, dù bạn là kẻ từ nơi xa đến. Cũng như đã vào Saloon mà từ chối lời mời một ly rượu ắt làm lắm kẻ rút súng. Tuy vậy nếu khách vào quán và thú thật rằng mình cháy túi và cần tí men, ít ai có thể chối từ. Nếu không nói ra, uống quịt, thì anh ta sẽ sưng mắt hay tệ hơn bị quăng ra vỉa hè. Địa điểm mở một Saloon bao giờ cũng thuận tiện giữa phố. Lắm khi lại là nơi làm việc chung của thành phố, sở cảnh sát và ngay cả nhà thờ như ở Hays City, Kansas. Một vài tay cảnh sát cũng mở Saloon và chia bài như Wyatt Earp, Doc Holliday…Chính vì sự chông chênh luật pháp và tư thù, quyền lực và công lý bấy giờ mà bao vụ nổ súng chết người xãy ra. Mọi câu chuyện gây gỗ thường bắt đầu ở trong Saloon và kết thúc tại đường phố.
Nói đến Saloon hẳn phải nhắc đến các cô kỹ nữ. Họ là những gái quê theo lời các quảng cáo tìm đến làm với đồng lương cao 10 đô một tuần, cộng thêm hoa hồng từ việc mời khách mua whiskey. Các cô thường uống trà đá hay nước đường nâu trong ly thấp, khách hàng phải trả cho các ly đó với giá của ly whiskey chừng 10 đến 25 xu một ly. Khác với phim ảnh, các cô không làm điếm, thường chỉ nhảy múa và ngồi chơi tâm sự chuyện đời với khách trai xa quê, nhớ nhà, vắng người tình. Đôi khi vui giùm khách một lá bài, lắm khi tựa vào khách chút son phấn quyến rũ. Dù vậy các cô gái luôn được sự mến mộ và quý trọng của khách bụi đời. Mọi cư xử khiếm nhã đều kết thúc bằng một trận đòn đau nhớ đời cho khách say sưa quá chén, lỡ tay. Khách phải bỏ ra 75 xu đến 1 đô để được nhảy với các cô gái thơm tho này. Tuy vậy, các cô lại là hình ảnh đáng ghét của các phụ nữ làm lụng ở nhà hay nông trại, bởi chính họ là người ngày đêm lo chuyện con cái, bếp núc, giúp chồng con lo vụ mùa, bò ngựa. Đây cũng là lý do khiến phụ nữ nổi dậy biểu tình làm nên luật cấm rượu 13 năm sau này.
Các Saloon ngày ấy giờ tàn lụi như Miền Tây vắng bóng những con ngựa và chàng cao-bồi. Ngày nay chỉ còn sót lại hình ảnh của những nơi gọi là Tavern, Club, Country bar. Thi thoảng bạn ghé thăm các thôn quê miền Tây hẽo lánh vẫn còn thấy vài Saloon lạc lỏng trong các khu phố cổ. Vẫn cánh cửa swingdoor, vài chiếc mũ cao-bồi, một vài bước nhảy với ủng da trong điệu nhạc đồng quê. Bạn có da màu như tôi cũng đừng ngại. Khi lòng muốn khuây khỏa làm một ly cho ấm bụng, cho trút bớt muộn phiền chốc lát, thì hãy ghé vào đây lì-một-lam (làm một ly) whiskey, liều-một-đám (làm một điếu) xì gà, thả khói để nhớ về một thời cao-bồi bạt mạng trong các Saloon miền Tây đầy bụi thời gian. Chỉ một ly thôi nhé! Ngày xưa con ngựa nhớ đường cõng chủ say mèm về nhà. Ngày nay con ngựa sắt của bạn mà lạng quạng, bị sheriff quay đèn thì mệt lắm.
SEAN BẢO

CÙNG “GÃ BÙ NHÌN” TRẦN THIÊN THỊ “ĐI TÌM THÂN THÍCH”

Thật lòng, người viết chưa biết gì về tác giả tập thơ cho đến trước khi nhận tuyển thơ đầy đặn “Bản thảo thơ Trần Thiên Thị”. Đọc và ngạc nhiên sao trước đây chưa từng biết đến “bản thảo” này ?! Người viết bắt gặp ở đây một lối tỏ bày giàu tính đối thoại, mở rộng trường liên tưởng và khéo léo dẫn người đọc chạm đến mạch ngầm văn bản. Tác giả chẳng cần cố công gọt bàn chân khoáng đạt của ngôn ngữ, hình ảnh cho vừa chiếc hài thi pháp hay cấu trúc ngữ pháp, thậm chí ngạo mạn cả với những vụn vặt chính tả như cái khoát tay cho qua. Nhưng độc giả thì chẳng nên xuề xòa như thế, mà hãy ôm bản thảo trĩu nặng suy tư bằng hai tay để mắt rơi vào từng trang sách cẩn thận, vì lẽ hợp tuyển gồm các tập thơ kết lại: 1. Đi gõ cửa tình; 2. Biên tập nụ cười; 3. Như cỏ đã từng xanh; 4. Nơi đám mây đã chết; 5. Lục bát già và nàng thơ trẻ; 6. Anh hàng xén và chị đồng nát.
Và nâng sách bằng đôi tay, tôi đọc trang đầu tiên của bản thảo trong một đêm rằm. Lại ngẫu nhiên chạm mắt vào đúng vầng trăng sáng lung linh giữa những câu thơ:
“Con trăng bạc cứ rằm lại đến
Em nói rằng thương
Mà như gió giữa trời”
Ừ thì lời nói gió bay ! Ừ thì, trăng thanh gió mát hợp cảnh hò hẹn! Chứ thi nhân thừa hiểu chẳng nên mong đợi gì ở lời thương. Cơn cớ chi mà đòi phẫu thuật thẩm mĩ cái cần cổ ?. Vì lẽ dài cổ trông đợi hay rát họng “mà gọi: người ơi” ? Hồ Dzếnh đã từng nhắn nhủ người nữ đấy thôi “Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé”. Thì cứ kiên trì chờ cho đến khi cần cổ ủ rũ như tàu lá héo thì hãy tìm nơi “Giải phẫu cái cần cổ” cho vừa lòng nhau:
“Ai chỉ dùm cho chỗ giải phẫu thẩm mỹ
Cần phải đi sửa lại cái cổ
Chờ nhau đã cạn tháng giêng rồi”
Thơ Trần Thiên Thị hiếm khi giản đơn, một chiều theo kiểu dắt tay độc giả. Nhà thơ không định co kéo trì níu người đọc nhưng biên độ tứ thơ giãn nở không cùng. Có khi lời thơ đã khép nhưng hồn thơ vẫn mở. Có khi ý thơ miên man dẫn người đọc đi khắp nẻo đường. Vừa mới thấy dáng em ở chợ mai – chợ chiều “Chợ mai bán một mặt trời/ con gà ngửa cổ bán lời o…o/ có em bán một hẹn hò/ và tôi bán cái ngây ngô của mình”, lại thoáng thấy bóng người ở Duy Sơn (Chiều Duy Sơn), vượt đèo Giàng đèo Gió ở Cao Bằng rồi xuôi đèo Ba Dội (Qua đèo Ba Dội mà yêu) … Thoắt cái đã thấy “đưa người về với Hội An”. Như một lãng tử cuồng hành túng chân, nợ nần những chuyến lên đường từ tiền kiếp, hình ảnh bàn chân gợi nhắc hành trình lên rừng xuống biển, du lãng đến thôn cùng xóm vắng cứ bày ra đều đặn trong cả mấy phần thi phẩm:
“Bàn chân nằm nhớ con đường
Tóc tai nằm nhớ gió sương cận kề”
(Lục bát chưa đặt tựa)
Ngỡ ngàng không chỉ vì cách gieo chữ hiệp vần hồn nhiên, người đọc còn bắt gặp điều giản đơn thần tình trong thi ảnh này đây: “Đường xa mấy suối mấy sông/ Đôi giày nằm ngó bàn chân mà buồn”. Chắc nhà thơ buồn chân muốn đi, chớ e chẳng buồn lòng. Còn người đọc đến đây hẳn hơi ngả đầu ra sau cho đỡ mỏi cổ (cần chi phải “sửa lại cái cổ” cho mệt !) và tủm tủm cười với hình ảnh đôi giày ngao ngán nhìn bàn chân quen nết rủ rê nhau. Ý tưởng xê dịch như là ẩn ức bẩm sinh, mời gọi tác giả lên đường. Không đi thì cùn chân đến nóng lòng bỏng dạ. Không đi không đành. Đến nỗi phải “chạm vào lòng bàn chân/ để người nhớ lối mà về”.
Vẫy tay mà biệt với rừng
Hai bàn chân nhớ đã từng qua đây
Thơ Trần Thiên Thị có những bài, những câu gai góc ngang tàng nhưng đây đó, người đọc vẫn lượm được đôi câu thủ thỉ ngọt ngào như mật nằm lẫn giữa thơm thảo lối hoa hay lấp lánh trên đường trăng: “Xin cúi xuống tạ ơn đôi hài nhỏ/ Như trăng vàng về thắp buổi buồn ta/ như lòng gần/ ngắn lại những đường xa/ (….) / Gót sen hồng/ đánh động những đường hoa ” (Mùng sáu thật trăng). Thật ra, vầng trăng xẻ đôi trong Truyện Kiều hay trăn trở chia ly đôi ngã trong ca dao đã quá đau xót :
“Vầng trăng ai xẻ làm đôi
Đường trần ai rẽ ngược xuôi hỡi chàng”
Vậy mà thi nhân đòi cắn vỡ trăng (Tôi giật mình/ Tưởng đã cắn vỡ vầng trăng). Xẻ, chí ít trăng chỉ chia đôi mà vẫn còn nguyên mảnh. Trăng bị cắn vỡ bao nhiêu mảnh, thi nhân cũng nát lòng bấy nhiêu ! Can cớ chi mà vọng động, rồi mộng mị một vầng trăng lên ngôi viên mãn:
Dỗ dành tôi
“Vầng trăng vẫn còn nguyên vẹn
Một vầng trăng đầu mùa hò hẹn
Đang sáng dần thắp lại những đêm anh”
Say trăng hay chếnh choáng men tình, men rượu chỉ “gã làm thơ” họ Trần mới tỏ. Bởi chắc gì người thơ đã say mà có mấy câu thơ tỉnh đến thế ! “Điều khổ tâm thứ nhất/ Là khi con người quá đỗi chân thành/ Điều khổ tâm thứ hai/ Là giữa cơn say/ Gã làm thơ được khải huyền phong thánh”. Khổ tâm còn lại, không nói thành câu thành chữ được, phải chăng là ngoài làm thơ thi nhân còn biết làm gì ngoài sinh sự với mình ? Phải rã lòng nát dạ lắm mới ngán ngẩm chính mình, mà nói bằng giọng dửng dưng như thể bàng quan, xa lạ với cái tôi ngã mạn: “Và tôi cũng ớn tôi rồi/ Trách chi em bỏ lại người mà đi”. Làm sao vô ngã vô chấp khi thi nhân còn đau đời thương người đến thế !
Đời vẽ chi con ngựa hồng ?
Ta vẽ thêm vào ria với mão
Rồi ngồi mà khóc long đong
Vẽ thanh roi cày thành kiếm sắc
(….)
Không chỉ riêng ta đau đời
Không chỉ riêng ta một thời”
Tiệm cận hiện thực không có nghĩa là triệt tiêu cảm xúc thẩm mĩ mà có thể cảm nhận đối tượng ở những chiều kích khác nhau, để dò được độ sâu trong vẻ đẹp tiềm ẩn của sự vật, con người. Sáng tạo đích thực phải là khơi dậy trong đống tro than chút tàn lửa để nhóm lên ý thơ vừa mới tượng hình: “Khi người ta giơ nắm đấm/ đánh vào lồng ngực/ tiếng kêu vang/ tiếng trống bịt da người (…)/ không thể nhân danh ai/ để đánh lên tiếng trống bịt da người”. Những tiếng trống thơ dội vào thịt da đau tức !. Đánh vào tiếng trống hay cần gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh trước bạo quyền, nơi cái ác nhân danh những lời hoa mĩ sáo rỗng như “cứu cánh biện minh cho phương tiện” ? Nhà thơ bị vấp liên tục trước những nghịch lý mà hiện thực phũ phàng bày biện ra từ năm này qua tháng nọ:
“Thương chi con ngựa già sứt móng
Giữa truông dài một tiếng hí khan”
(Bài của năm trước)
Có thể vì niềm thương bi tráng nên “con ngựa già” chẳng cần chốn dừng chân cố định, chỉ muốn buông cương rủ bờm gõ móng, như thuyền lòng cứ chực chờ xuôi dòng hải lưu mà lướt sóng ra khơi “Không biết dòng sông sẽ chảy như thế nào/ trong lòng biển khơi/ thế mà những con nước muôn đời hăm hở/ rủ rê nhau căng buồm” (Biên dạng một hải lưu).
Thơ tình Trần Thiên Thị ngai ngái buồn, có sự hòa hợp giữa những trào cảm lẫn sầu muộn có ý thức. Hầu hết là những dùng dằng tình tứ “vịn vai”, “tựa đầu” “ôm mòn tay áo”, “ôm chân”, “vẽ vào tay” … mà ôi thôi vẫn bị dính mắc vào nỗi sầu dai dẳng:
Buồn em cộng với buồn ta
Hôm nay cộng với hôm qua cũng buồn
Thật ra, cũng nhờ nỗi buồn lay tỉnh mà thơ cùng cháy hết lòng với người. Như ngọn bấc tưởng đã lụi tàn được châm thêm dầu thêm lửa “Sầu đã đủ/ Năm cùng tháng tận/ Giữ lại trái tim nhịp đập yêu người”. Kệ thôi !
“Ừ thì
Buồn ấy không nói được
ừ thì
Buồn ấy không chia được” nên tôi “trả lại em nguyên vẹn một em buồn”. Có sao đâu !. Sông vẫn sống đời sông. Gió vẫn nói lời gió. Can chi đến thời tiết nắng mưa mà đổ tại “nắng mưa rụng xuống bao nhiêu lần buồn”. Cứ mặc cho lòng nghiêng xuống đón bước người, gác ngoài tai chuyện sông hồ dâu bể: “Giang hồ ta chỉ thằng hóng hớt/ Chẳng thiết núi sông chỉ mê người” (Gối đầu vào đây mà ngủ). Mà, thì, là cớ gì người viết lại liên tưởng đến mấy câu hay thôi rồi của Phạm Hữu Quang:
Giang hồ ta chỉ giang hồ vặt
Nghe tiếng cơm sôi đã nhớ nhà.
Trần Thiên Thị không giang hồ vặt, bởi chất phiêu bạt đã hòa vào máu thịt. Trong bất cứ bài thơ nào, ta cũng bắt gặp thi sĩ đang rong chơi, đã hoặc sắp sửa lên đường. Thử chung toa tàu, chuyến xe với nhà thơ xem ông có thể lang thang đến đâu. Ai chẳng thích rong chơi đây đó khi “sầu đã đầy tháng ngày”: Chiều Duy Sơn; Qua đèo Ba Dội mà yêu; Đưa người về với Hội An; Viết ở rừng cổ chi; Tháng ba ở rừng Tân Hạnh; Ở một góc chợ mới ba xã; Gởi Pleiku; Rao em trên chợ Nổi (Cần Thơ); Mưa Sài Gòn; Viết trên vé xe 1; Về bến Cấm; Bữa đau ở Quy Nhơn; Ở chân đền Mỹ Sơn …
Thỉnh thoảng giữa hành trình xuôi ngược đa đoan, thơ Trần Thiên Thị đánh rơi dáng dấp ngang tàng cố hữu bên đường, chỉ còn lại trên vạt cỏ chú dế cơm, con thuyền giấy và bạn mèo hen tội nghiệp được đặt vào đãy thơ chừng đó món hành trang ít ỏi: “Em đã nhặt chiếc thuyền, chú mèo và con dế cơm bỏ vào câu thơ làm của riêng (…)/ Con dế cơm hồn nhiên hát ca giữa biềng cỏ biếc/ Ta và những con thuyền không thể ra khơi”. Những câu thơ, bài thơ trong tập “Bản thảo” gần như biết cách chừa một khoảng xanh cho thiên nhiên ghé lại. Khoảng xanh của bầu trời, rừng cây, đồi cỏ, dòng sông, … như tóc ai xanh, “như cỏ đã từng xanh”. Cần gì phải đặt lại tên cho cỏ ?! Đôi hài cỏ em đi tự nó đã gọi về những biềng cỏ đẫm sương đêm:
Một đôi dép cỏ mùa xuân
Đi từ dạo cỏ trên truông còn vàng
Người ta lãng mạn viễn vông với nhẫn cỏ, thi nhân mơ mộng “sến súa” (chữ dùng của Trần Thiên Thị) với cỏ áo phù dung buổi “ngã lưng bờ cỏ lạ”. Cỏ úa vì khô hạn thì đành tìm một khoảng xanh gần gụi mà xa vời khác “Quay về phía núi nhìn cây/ Bao nhiêu nắng/ Để lá bày biện xanh”. Thiệt tình mà nói, bài thơ “Nắm lấy tay mình” có những câu hữu ý, hữu tình kì lạ và hoang hoải dày dặt hơn cỏ xanh nhiều lắm. Ví như “Tôi ngồi gặm nhấm lại tôi/ Nhìn vai tìm dấu tay người đã vin (…)/ Ngày vui cắn lấy vai người/ Như giông đánh dấu xuống đồi cỏ khô”. Thì thôi đành “nắm lấy tay mình”, dẫu có ai nắm được bàn tay của mình thật lâu bền nên hãy tự nhiên như nhiên tựa lời hoa cỏ. Vì nỗi buồn không cần tư biện. Tự thân phiền trược sẽ thất lạc trên đường đời xa ngái, cần chi những tác động ngoại giới:
“Buổi chiều còn lại tôi và
Hồn nhiên cây cỏ nở hoa ven đường”
Tôi – hồn nhiên được kết nối mật thiết bởi chữ “và” nhờ cây cỏ. Dòng thơ ngẫu nhiên đột khởi tách hàng để lòng thơ chan hòa cùng hoa cỏ mùa xuân. Bạn đọc cho rằng những câu thơ dễ thương nhất của thi nhân không phải là những câu ca tụng người nữ (kiểu như “Này bàn chân hồng bé nhỏ”; “Gươm liễu liêu xiêu cặp chân mày”; “Da hồng ngọc cháy lời của lửa”…), mà là những dòng viết về cỏ, về những kỷ niệm tuổi thơ xanh trong, hồn hậu: “Một đôi cánh sáp vân vi/ Hoa trên đất trích/ Yêu vì ải mây/ Giá như cầm được trên tay/ Một mùa xuân/ Tặng em bày cuộc chơi” (Bay trên đôi cánh sáp). Trò chơi cò cò, ô ăn quan, oẳn tù tì … (Trả cho em hòn mạng) cứ tự nhiên rồng rắn kéo về những hồn nhiên trong ngần tuổi thơ, khiến cấu trúc bài thơ ở khổ cuối láy lại khổ đầu và mở ra mênh mang hoài niệm:
“Trả cho em hòn mạng
Để em quay về sân cò cò
Đi canh một canh hai (…)
Ta tặng em chiếc gương chiếc lược
Trả em về
Chơi tiếp cuộc cô dâu”.
Có những thi ảnh sáng tạo khiến người đọc giật mình bỡ ngỡ:
“Chở em đi trên chiếc thuyền vỏ trấu/ Qua lòng Ba Bể mênh mông” hoặc thả những ước mơ lên bầu trời cao rộng trong chuyến đi xa của con diều giấy “Lòng cứ muốn bay lên/ Nên tôi chép những vần thơ/ Có hình dáng một cánh diều …”.
Và cỏ, đã từng rất xanh:
“Con dế cơm hồn nhiên hát ca giữa biềng cỏ biếc
Ta và những con thuyền không thể ra khơi”
Và nỗi buồn tinh khôi, cũng đã từng biết mấy trong veo:
“Quá vãng lại về
Thơm tho mùi dủ giẻ
Ta thì rong ruổi trên con ngựa lá dừa
Phi hoài không tới đích
Em thì cầm cánh diều với sợi dây dài một sải tay
Chạy mòn vẹt bàn chân
Mà cánh diều chỉ bay ngang mái tóc”
(Nhớ về Mộ Dung Phục)
Những câu thơ ngọt như những viên kẹo óng ánh màu sắc mang ta về tuổi thơ vàng son, với trò hái lá mít làm mũ mão, kết lá dừa làm ngựa. Trong “Thiên long bát bộ”, họ Mộ Dung thuộc dòng dõi thế gia, khí chất hơn người. Mộ Dung Phục thiên tư thông minh nhưng tâm tính cao ngạo, chấp mê bất ngộ, nên kết thúc trò chơi chính trị (cùng giấc mộng phục quốc, mà tài năng và thời thế chưa chín muồi) y hóa rồ dại. Một người võ công cái thế, thiên bẩm sáng láng về cuối đời đội mũ miện làm bằng giấy, dùng kẹo bột dụ bọn trẻ trong làng làm quần thần, tôn y làm vua và tung hô vạn tuế. Người đọc bất giác xót xa thương cảm. Tuy thế, bài thơ là món quà tinh thần giúp ta tạm quên những phiền trược trong cõi hồng trần tục lụy, để lắng lòng đúc kết: “Chính trị, (…), chiến tranh/ Thực chất là trò chơi của bọn nhà giàu/ Và xương máu đổ ra cho cuộc chơi này là của người nghèo” (Này ngồi lại đây với tôi). Đôi khi phát điên như Mộ Dung Phục biết đâu lại hay không kém hành động lánh đời về làm “ngư, tiều, canh, mục” thời loạn. Làm mục tử cưỡi trâu như Lý Nhĩ, thành Tô Vũ chăn dê hay thất chí mà hóa dại như Mộ Dung biết đâu lại thanh thản ?!.
“Này ta tặng em khu rừng tháng tám
Cỏ đã lên xanh
Bầy dê non tình tự”
(Bài ca người chăn dê)
Dẫu biết rằng mai sau “Còn lại một tôi già/ Và cỏ xanh nguyên vẹn” (Nghé ngọ) thì độc giả mến thơ tình Trần Thiên Thị hẳn còn vì những câu thơ dễ thương như thuở nụ trà mi còn thơm lừng hương cỏ, hương xuân: “Tầm hương trên đóa trà mi/ Con ong mõn sức cũng vì mùa xuân”. Chỉ cần một chữ “Mõn” gieo đúng ở câu thứ hai, cả ý thơ đã chinh phục được những người đọc thơ cẩn trọng, khó tính. Thế nên, bạn đọc dễ gì ngán món thơ độc đáo mà nhà thơ đã mời tặng bằng cách tự trào:
“Bây giờ tôi ớn cả tôi
Trách chi chúng nó bỏ rơi một người”.
Có thể, người đọc thơ mải vui chân theo thi nhân mà lạc giữa cơn giông gió trái khoáy vào buổi chiều tháng năm, như đã từng lưu lạc theo dòng sông quê nhà tìm dấu vết cỏ xanh ngày trước. Nhưng chẳng bao lâu sẽ nghiệm thấy như tôi rằng: thơ Trần Thiên Thị không chỉ có vầng trăng huyền ảo mộng mị, những chuyến đi xuôi nam ngược bắc để thỏa chí tang bồng, những trò chơi trẻ thơ như chú dế cơm náu mình trong biềng cỏ non thanh lành, những câu thơ thỉnh thoảng cố ý không thành vần điệu, ẩn trong thi ảnh giàu cá tính sáng tạo là những thông điệp vô ngôn đầy ám ảnh … Đọc thơ Trần Thiên Thị, ta còn kịp thoáng thấy nỗi buồn thân phận u uẩn trong những cuộc rượu tàn canh, như trong thi phẩm “Uống nào bé nhỏ”:
Chiều nay uống với mây ngoài núi
Chén rượu như chừng có cả giông
Em uống với ta nào bé nhỏ
Sầu chi
Sầu chi
Mà đau lòng.
Còn bạn, có đau lòng cùng “ta” không ?
(P/S: Viết giữa cơn giông chiều tháng 5/ 2017.
Cảm ơn nhà thơ Trần Thiên Thị)
*Chú thích: Nhan đề là tên một bài thơ trong tập “Bản thảo” của thi sĩ Trần Thiên Thị.

NGUYỄN THOẠI VY

EM CÒN NHƯNG TÔI ĐàRƠI..

 

Thấy rồi – một chút heo may
Thổi lên tóc rối cho dài bóng tôi
Thấy rồi- một nửa hồn côi
Bay theo ngọn gió cuối đời đợi mong

Thấy rồi- có một mùa đông
Đến trong nỗi nhớ chờ mong một người
Em bên đó với cuộc chơi
Nửa vui, nửa khóc, nửa vời vợi xa

Vui trong tiếng hát người ta
Khóc trong tiếng vỡ nhạt nhoà bóng đêm
Nỗi buồn cứ thế nhân lên
Cuối đời vào mộng buồn tênh kiếp người

Em còn – nhưng tôi đã rơi
Rơi theo nỗi nhớ của thời lãng du
Rơi trong xa tít sương mù
Rơi rơi sót lại thiên thu tình nồng..

Sắp rồi- đến một mùa đông
Mùa Xuân sẽ đến – thuyền trông, bến chờ
Hình như- có gã làm thơ
Tương tư cho lắm- rồi ngơ ngẩn…buồn..

 

HỒ CHÍ BỬU

XIN EM…

 

Chôn tôi giữa chốn ngàn lau
Xin em
đừng nhỏ lệ vào thơ tôi
Đừng câu ly biệt bùi ngùi
Đừng hoài niệm những xa xôi nhạt nhòa


Kể từ
buổi xuống thuyền hoa
Thơ tôi em đốt
hay là lãng quên???

Tôn Nữ Thu Dung

NGƯỜI VỀ

 

trong sương mù dấu hạc
tà áo lụa sông trôi
trong hồn xưa mưa vọng
tiếng chuông tan ngậm ngùi

người về dòng sông trắng
cánh buồm mơ hồ thôi
lầu chuông rung âm hưởng
một thuở xưa tơi bời

có nghe chiều len tới
ngồi bên mái hiên tây
cung đàn ai xa vợi
tơ vương cùng đất trời

người về cho mưa tới
làm đau ngọn lá khô
người về âm thương nhớ
lơ lửng treo mái đời

phamquangtrung

NỢ MỘT ĐIỀU KHÔNG NÓI

 

Núi kết núi dáng em nằm xõa tóc
Đợi chờ ai mà năm tháng mõi mòn
Thành phớ biển cùng em trong tiềm ức
Ta nhớ mình còn có một cố hương

Cố hương với cánh chim trời bay lạc
vào hồn ta hót tiếng hót nhẹ nhàng
Chia tóc em thành hai bờ trái đất
Nửa ở bên này nửa ở Nha Trang

Nửa ở bên này dòng sông em chảy
Len êm đềm qua ngõ ngách đời ta
Có chuỗi nắng ai xâu từ ký ức
Đeo nụ hôn lên gò má trắng ngà

Có giọt biển xưa chạy vòng khoé mắt
Như bóng hoàng hôn quanh quẩn nỗi sầu
Từ New Orleans ngồi nhớ về cổ tháp
Nối nụ buồn vào mắc xích hư vô

Chiều xa xứ vàng hồn ai vật vã
Rót thời gian xuống dòng nước xanh trong
Con đường cũ hỏi khi nào trở lại
Để bao giờ biển mặn được vầng trăng

Mơ một giấc mơ về một thành phố
Cổng nhà ta xưa dĩ vãng chứa đầy
Có tiếng guốc em đi từ một buổi
Cùng lời thề ước nguyện ở đâu đây

Cuộc sống vốn có nhiều điều khác biệt
Cuộc đời ta và em chẳng giống nhau
Ta có một tuổi thơ đầy khánh kiệt
Tuổi thơ em dòng sữa ngọt ca dao

Ta trải qua thời chiến tranh khốn khổ
Thành trái cây lột vỏ vứt ngoài đường
Em là giọt sương bón ta nhú rễ
Nứt xuân thì trên cuối biển đầu non

Rừng hành quân xưa mùa này sim nở
Nghe bên tai tiếng bìm bịp kêu chiều
Nỗi thấm đó giải thích sao em hiểu
Dĩ vãng của ta buồn như tương lai

Mưa xuống núi trôi Nha Trang ra biển
Xưa bày em môn đánh lưới ái tình
Tay lớ ngớ bủa ra ngoài vô vọng
Mõi mắt trông vời đã mấy mươi năm

Ta mắc nợ em một điều không nói
Cuộc sống khiến ta phá sản ngôn từ
Đêm chắc lưỡi tiếng thạch sùng quá khứ
Nếu có luân hồi xin hẹn kiếp sau

Quan Dương

Trò Chơi Xác Ma

1.

Thỉnh thoảng, anh em nhà nhỏ Nga và vài đứa bạn học tụ lại để chơi một trò chơi đặc biệt lý thú. Xác ma, nội tên gọi nghe đã dị thường, hèn chi trò này chỉ nên chơi vào những đêm tối tăm, vắng vẻ…

Tối bữa nay, nhằm lúc bố mẹ đi ăn đám cưới, cả bọn tụ lại ở một căn phòng đóng kín cửa. Kỳ này, cũng một tên bạn học của Minh phối hợp với cậu ta cùng Đăng – cậu em kế – và nhỏ Nga – cô em út – cho đủ bốn người, tạm gọi là bốn pháp sư, như yêu cầu của trò chơi. Và, cũng không hề có ý tự nguyện nhưng nhỏ Liên – bạn hàng xóm của nhỏ Nga – lại phải miễn cưỡng đóng vai xác ma như ý kiến áp đảo của cả bọn.

Nhỏ Liên ngồi dưới đất, nhắm nghiến mắt, hai chân hơi co lại, hai cánh tay vòng qua đầu gối, các ngón tay đan vào nhau. Ba cậu trai và nhỏ Nga cùng quì một chân, nhanh nhẩu đặt ngón trỏ tay phải của mình vào hai nách và phía sau hai khuỷu chân nhỏ Liên. Cả bốn pháp sư thầm khấn vái với người cõi Âm, nhất là những bóng quế đang có mặt quanh quẩn đâu đây, rằng xin giúp nâng xác ma lên cao.

Minh chậm rãi đếm “một, hai, ba”. Tiếng “ba” vừa dứt là cả bốn anh em đồng loạt nín thở, dùng ngón tay của mình nâng nhỏ Liên lên với ý nghĩ hết sức nồng nhiệt là nhất định sẽ cùng làm được việc này.

Kết quả không như mong muốn: thân mình nhỏ Liên chỉ bị lay chuyển chút ít mà không hề cất lên cao một chút nào cả.

Đúng ra đây là một điều nếu như bình thường thì phải thế. Cân nặng ở một bé gái 8 tuổi nào khác nếu phát triển bình thường khoảng 25 – 26 kí lô. Còn trường hợp này, nhỏ Liên ròm con nhà nghèo nhất định sẽ nhẹ hơn mức ấy, nghĩa là khoảng 21-22 kí lô. Nhưng đối với chừng ấy khối nặng, chỉ có bốn ngón tay của bốn thiếu niên thì làm sao mà nâng bổng lên được?

Trước khi làm lại lần nữa, Minh lại nhắc cả bọn phải hết sức tập trung, mỗi đứa đều phải thành tâm hơn nữa so với lần trước khi khấn vái ngưởi cõi Âm trợ giúp cho sức mạnh của ngón tay mình.

Lần này thì thật kỳ diệu: xác ma được nâng bổng lên như một khối bông gòn. Rồi chừng khoảng 5 – 10 giây trôi qua, những ngón tay tự buông lỏng theo quán tính. Thân hình nhỏ Liên nhẹ nhàng rơi xuống vị trí cũ. Sự việc chỉ diễn ra vài giây ngắn ngủi vậy thôi nhưng cả bọn ồ lên, cười hể hả, vô cùng mãn nguyện như là mình mới cùng thực hiện được một phép thuật tuyệt vời. Chỉ có nhỏ Liên – cái  xác ma mới được các pháp sư người phàm cho bay lên hạ xuống, lúc này đã trở lại làm người bình thường – là im lặng, ngơ ngác, bàng hoàng nhìn hết người này đến người khác.

 

2.

Nhỏ Nga chợt đề nghị:

“Tụi mình chơi trò này nhiều lần rồi, bốn người thì trước sau gì cũng nâng được con nhỏ Liên. Giờ mấy anh thử để một mình em thôi, em cầu bóng quế hết sức rồi cũng dùng một ngón tay nâng thử cái gì đó. Như cái ghế nhỏ kia kìa.”

Lập tức Đăng tỏ vẻ không tin:

“Làm sao em làm được? Cái ghế nhựa đó coi thấp và nhẹ như vậy nhưng nó vẫn nặng đối với người nhỏ, yếu như em. Cỡ em thì bằng cả hai tay mới mong nâng nó lên cao được. Còn em tính đưa ra có một ngón tay thôi thì…, coi chừng không bị gãy thì cũng bị quẹo ngón đó nhe!”

Riêng Minh thì lo lắng cho em gái mình:

“Hồi nảy, tụi mình nâng nhỏ Liên lên được đúng là nhờ có sự giúp sức của bóng quế, nhưng phải tính thêm cái vụ bốn ngón tay đã kê vô bốn vị trí cân bằng trước/sau và trên/dưới, nghĩa là chịu đồng đều sức nặng của thân hình nhỏ Liên. Còn thí dụ như tụi mình dồn hết bốn ngón tay vô dọc một bên thân mình hay chỉ nâng chỗ cặp giò nhỏ Liên thôi chẳng hạn, thì mất cân bằng liền, trọng tâm vật được nâng sẽ bị lệch, nghĩa là con nhỏ này sẽ ngã qua một bên hay ngã ra đằng sau thôi chứ tụi mình không nâng bổng nguyên người nó lên được.”

Minh lấy cái ghế nhựa đặt vào một chỗ trống giữa phòng, chỉ vô một góc vuông, chỗ tiếp giáp giữa một chân ghế với phía dưới mặt ngồi, bảo em mình:

“Vậy với cái ghế này, em nên kê ngón tay vô chỗ đây nè, thì khi em nâng, hy vọng trọng tâm của ghế đỡ bị lệch, ghế đỡ nghiêng ngã.”

Nảy giờ, cung cách suy nghĩ và hành động của Minh rõ ràng cho thấy là dù vẫn có tin tưởng về thế giới thần bí và các quyền lực siêu hình, cũng như lâu nay cậu có tin vào “công lực” chưa khám phá của em gái mình, nhưng cậu trai trẻ vẫn tỏ lộ một cách đáng khen xu hướng lý trí thường thấy nơi nam giới, đồng thời cậu biết vận dụng kiến thức về khoa học, vật lý học, động lực học, đặc biệt là về luật hấp dẫn và trọng lực.v.v.. học hỏi được từ cả bên trong lẫn bên ngoài nhà trường để góp phần lý giải sự việc.

Thế là một mình nhỏ Nga nhắm mắt khấn gọi các bóng quế trợ giúp rồi đặt một ngón trỏ tay phải vào vị trí Minh đã chỉ ở cái ghế. Nhỏ đếm thầm “một, hai, ba!” rối quả quyết cất tay lên thật nhanh.

Kết quả thật mỹ mãn: cái ghế được nâng bổng lên theo phương thẳng đứng, cao gần cả thước mà không hề đổ ngã! Cứ như cái ghế được nâng lên bởi một, hai bàn tay vô hình, cỡ tay của người lớn khỏe mạnh có thừa chứ không phải bởi ngón tay nhỏ xíu, gầy guộc của nhỏ Nga…

 

PHẠM NGA