CÓ THẤY NHAU

buidiep

vay con mắt đom đóm
soi vào lòng biển đau
thấy triệu triệu cái chết
máu tràn qua đỉnh sầu

sóng âm ti dội lại
xé vết thương rừng già
cá tôm và hoang thú
hiến sinh mùa nhã ca

ngữ ngôn vá đôi cánh
bỗng mọc lông ló đuôi
hạt muối giờ nhạt thếch
cứa rách môi nụ người

em bảo ta còn gặp
ngày phục sinh địa đàng
nhưng em đâu có biết
hạt bụi còn đa đoan

và tôi đâu có biết
đêm vẫn thiếu mặt người
lá cỏ nào tận hiến
gói mặt trời nằm nôi

BÙI DIỆP

Phanrang, V.2016

GIẤC MƠ

nguyenleuyen

Ba bức thư điện tử cách nhau ba ngày, cùng một nội dung là những lời thăm hỏi vu vơ không khiến ông phải bận tâm. Nhưng đến thư thứ tư cách thư trước khoảng một tuần thì nội dung giống chiếc đuôi con thằn lằn ngoay ngoáy trên vách tường rình mồi. Cái đuôi ấy lúc cong lên lúc lắc qua lắc lại, vừa xa mà cũng vừa như tóm được con mồi trong chiếc lưỡi dài: “Chào ông, ông có nghĩ rằng thời gian sẽ đẩy con người tới chốn âm u để quên đi tất cả. Trí nhớ sẽ không còn nhạy bén như hồi trẻ. Đi đứng khó khăn. Một vài thứ bệnh xuất hiện… Hẳn nhiên người ta sẽ phải loay hoay với những thứ đó, bận rộn suốt ngày với nó để không còn thời gian mà nhớ…?”.
Ông phì cười. Có lẽ cô nàng nào đó đã nhầm ông với một người nào khác. Rõ ràng cái địa chỉ này ông chưa hề quen, chưa một lần tiếp xúc qua bàn phím, nói chi đến chuyện nhớ quên? Nhưng mười ngày sau, trong inbox lại xuất hiện cái địa chỉ xa lạ kia. Cố nén bực bội nhưng cũng vừa tò mò, ông mở ra: “In life, there are moments when you miss someone so much that you feel like you could only fulfill your dreams by holding that person tight in your arms. Ngộ chưa? Nhớ đến ai, tương tư ai đến nỗi phải ôm chặt người ta trong giấc mơ? Một mối tình tan vỡ chăng? Hay là hoài nhớ lại những ngày xuân xanh? Ông muốn gõ vài chữ trả lời rằng, xin lỗi cô (bà) đã nhầm địa chỉ, nhưng ông không đụng vào ô reply, nghĩ bụng một cô bé theo kiểu nhân vật trong các feuilletons trước kia thì cứ để mặc cho cô chìm đắm trong những giấc mơ đẹp, không mất gì! Ông bỏ qua, mở các thư khác và trả lời, và không còn nhớ gì đến những giấc mơ của cô hay bà nào đó. Những giấc mơ bay mờ dần, tan dần trước màn hình kín đặc những con chữ màu đen.
Ông lại chúi mũi vào công việc. Bàn phím lại lóc cóc vang lên những âm thanh quen thuộc. Viết được nửa trang thứ ba có chuông điện thoại reo. Lại ngưng công việc, lại phải nhấc ống nghe áp lên lỗ tai:
-Tôi là Bằng, xin nghe.
-Thưa ông tôi muốn nói chuyện với ông một chút, có phiền lắm không ạ?
-Vâng, chị cứ nói, tôi nghe.
-Tôi là Mai, Ngọc Mai, ông còn nhớ không ạ?
-Mai thì rất nhiều, nhưng Ngọc Mai thì cũng có vài người thân sơ. Chị có thể nói rõ hơn chút được không? – Ông lúng túng với trí nhớ bắt đầu lãng đãng của mình.
Đầu dây bên kia ngập ngừng một lát rồi nhỏ nhẹ vang lên. Chất giọng mềm mượt tựa thảm cỏ tỉa tót cẩn thận trước sân vườn nhà ông.
-Đáng lẽ ra không nên làm ông bận rộn vì một việc không đâu, nhưng hôm qua, trong bữa họp mặt đồng hương, có người nhắc đến tên thầy làm em nhớ những ngày còn ở trường Lê Ngọc Hân.
Ông giật mình. Trong số các nữ giáo sư cùng trường thời xưa, hình như chỉ có Thanh Mai và Lê Thị Mai một dạy pháp văn, một dạy triết. Ngoài ra không còn Mai nào khác. Ông cố lục tung mọi ngõ ngách trong đầu. Một loạt các đồng nghiệp cũ hiện ra, nhưng cái tên Ngọc Mai thì chịu. Chẳng lẽ ông bắt đầu bước vào vũng còm cõi đến vậy sao. Hay cô ta dạy ở trường tư thục nào đó cùng thành phố. Mà tư thục thì có đến năm sáu trường, ông có quen ai đâu.
Ông nói với giọng không mấy tin tưởng:
-Tôi dạy ở Lê Ngọc Hân chỉ có hai năm, sau đó chuyển đi trường khác. Không rõ cô có dạy cùng thời gian với tôi ở đó không?
-Không thầy ơi. Em là học trò thầy lớp 11B3, phòng học ở cuối dãy hành lang lầu 1, xế hành lang có cây bằng lăng vượt cao hơn balcon. Giờ ra chơi tụi em hay vói tay níu hái những búp hoa tím, có lần bị thầy bắt gặp và nhắc nhở một câu nhớ đời: “Hoa thì đẹp đấy. Nhưng các em thì còn đẹp hơn gấp ngàn lần. Từ balcon tới mặt đất có đến 4 mét. Phía dưới không êm ái như tấm nệm trong phòng ngủ có máy điều hoà đâu”. Thầy chỉ nói có vậy rồi bỏ đi không thèm ngoái nhìn lại coi coi lũ học trò có thôi đi trò nghịch ngợm nguy hiểm kia không hay vẫn tiếp tục vói tay ra tận những cành xa. Hôm qua chị bạn nhắc lại, chị Lan làm thơ hay nhất lớp đấy, chắc thầy nhớ?
-Vâng, tôi nhớ cô Lan, tôi nhớ những năm Lan và các bạn say mê làm tờ đặc san cuối năm cho trường.
-Dạ, giờ chị Lan không thành nhà thơ mà là một doanh nhân tầm cỡ trong cộng đồng ở nơi đất khách quê người này.
-Tôi cầu mong tất cả mọi người đều thành đạt. Niềm hạnh phúc riêng tư của mỗi người là nắm giữ được những mơ ước có thật trong tay.
-Thầy có khoẻ không và hiện đang làm gì?
-Cảm ơn, có lúc khoẻ lúc không bởi tuổi già cứ rập rình ngoài khung cửa, giống như khạp nước bị nứt. Bữa nay nước rỉ ra một chút, mai một chút cho tới khi cạn đáy coi như chấm dứt mọi món nợ trần gian.
-Thầy luôn có lối ví von gây sự chú ý. Tụi em nhớ thầy chính vì điểm này. Thầy luôn có sự khác biệt đối với những thầy khác, khó nói, khó tả chính xác. Xin lỗi thầy, giờ em có hẹn, em sẽ gặp lại thầy. Chúc thầy…
Ông gác máy, ngã người ra thành ghế, nhắm mắt làm một cuộc thanh lọc và tái hiện lần hồi, bắt đầu từ buổi sáng cầm sự vụ lệnh đến trình diện với bà hiệu trưởng. Giờ phút đầu tiên cầm viên phấn và đám nữ sinh xì xào bên dưới… Một khối trắng bềnh bồng trôi trong phòng học, không phải là những con thiên nga giang đôi cánh trên trời cao mà là những chùm bông gòn kết dính, rối nùi bay lả tả trong không gian hẹp đến khó chịu. Sự khó chịu kia có lần ông buộc miệng với bà hiệu trưởng: “Tôi không thể nào hiểu nổi ai đó ở bộ Giáo dục lại đưa ra ý tưởng lập một trường trung học toàn nữ. Sự mất thăng bằng về giới tính trong nhà trường dễ dẫn đến những hậu quả tai hại về học tập, sinh hoạt về vấn đề tâm sinh lý…”. Câu tổng kết kinh nghiệm mới mẻ kia được phát đi từ miệng anh thầy giáo non choẹt mặt mũi, non choẹt tuổi nghề, được đón nhận bằng những ánh mắt trái ngược nhau và đều có ngầm ý cho rằng ông đang nói trên vị trí của anh đồ gàn của nhiều thế kỷ trước còn sót lại. Nhưng với ông, lúc đó hoàn toàn chính xác đến từng ly mét. Một thầy giáo mới ra trường, tuổi tác so với học trò chỉ cách nhau năm ba tuổi, có thể gọi là cùng thế hệ đã dẫn tới nhiều hệ luỵ rất trẻ con.
Chất trẻ con đầu tiên ông đụng mặt là những câu tấn công tình cảm vu vơ trên bảng, đánh lừa người khác bằng cách viết tay trái. Thỉnh thoảng lại nhìn thấy một cánh hoa dại bứt vội đâu đó trên đường tới trường đặt trên bàn kèm theo mảnh giấy “gửi đến thầy với trái tim tan nát”, một tờ giấy pelure màu hồng sực nức nước hoa và những vệt nước nhoè trên mặt giấy mà ông đoán chắc là những giọt nước từ chiếc vòi ngoài sân cỏ. Nhưng khủng khiếp hơn cả là khi ông giảng về phong trào thơ mới ở Việt Nam. Hàng chục cánh tay giơ lên, nhao nhao tranh luận, đặt những câu hỏi phản biện như đùa như thật:
-Thưa thầy, tại sao yêu là chết trong lòng một ít? Vô lý, không yêu nhau thì thôi chớ chết chi cho uổng? Sao ông Phan Khôi tự dưng đặt tên bài thơ là tình già, tình già khác tình trẻ chỗ nào, thầy? Lại còn liếc nhau con mắt còn có đuôi, bộ như đuôi chim đuôi gà hay kiểu tóc đuôi ngựa tụi con gái thời nay? Ông Nguyễn Bính so sánh khập khiễng: Nắng mưa là bệnh của trời/tương tư là bệnh của tôi yêu nàng. Dạ, cứ cho là bệnh đi, nhưng so sánh với mưa nắng thì nhà thơ dở ẹt… Dạ, thưa… có bao giờ thầy tương tư, thầy chê…ết… chưa ạ? Tiếng cười ồ đồng loạt nổi lên. Tôi lúng túng thật sự. Lúc đó tôi không còn là ông thầy nghiêm trang nữa, mà quay lại đúng vị trí anh thanh niên vừa tròn 23 tuổi mụ, đang bị bao vây bởi một bầy thiên nga lông trắng, nhao nhao bên dưới. Rất khó khăn tôi mới lập lại được trật tự. Và, cũng chừng ấy khó khăn, tôi bình tĩnh giải thích, cắt nghĩa rành rẽ về cấu trúc ngôn ngữ thơ ca, về tứ trong một bài thơ… đến khi chấm dứt giờ học, thay vì những tiếng cười ồ trước đây là những tiếng vỗ tay bôm bốp, kèm theo: “Ôi, thật tuyệt vời, thầy đáng yêu quá… Chúng em yêu thầy…”.
Chuông đổ, tôi thu gom tài liệu trên bàn, vụt ra cửa như một chiến binh bị địch truy đuổi phía sau. Những tiếng la í ới, tiếng đập bàn như thể những phát đạn bắn với theo.
*
Bầy thiên nga lông trắng ngày xưa với giấc mơ lỏng lẻo từ trời cao rớt xuống, cách một đại dương mênh mông, nếu dừng lại ở đấy thôi cũng đủ làm ông nhồn nhột, huống chi ba ngày sau cuộc nói chuyện bất ngờ trên điện thoại, lại có một bức thư khác ở một địa chỉ e-mail khác, viết rằng: Thầy có biết thầy là người vô tình không? Con Mai yêu thầy đến phát cuồng. Nó yêu thầy ngay từ ngày đầu thầy nhận lớp. Đã chồng con đề huề, nhưng mỗi khi nhắc trường xưa bạn cũ nó lại khóc ròng nói nhớ thầy. Nếu hồi đó mà thầy biết sự tình, giờ này chắc tròn trịa. Thầy có tưởng tượng ra nó chưa? Con Mai đẹp nhất trường, kiêu kỳ nhất, đa cảm nhất… và yêu thầy nhất… Ông tắt cả hộp thư, shut down máy. Đầu óc váng vất, mệt muốn đứt hơi với mớ chữ vừa đọc.
Ông xô ghế, rót cốc nước lọc, uống từng hớp nhỏ. Thần kinh dịu xuống đôi chút. Lúc sau ông thừ người ngồi nhìn chiếc laptop mỏng dính im lìm trên bàn: lẻ loi, cô độc bởi ông không đụng đến nó; im lìm như người có lỗi bị xua đuổi. Trong đầu bổng dưng lóe lên một ý nghĩ không mấy bình thường: nếu như ông biết sự thể kia, nếu như ông chấp nhận mối tình của cô bé học trò, nếu như hai người lấy nhau… thì giờ này ra sao nhỉ?
Những chữ “nếu” kéo dài và dính cục lại, bồng bềnh như cánh những con chim thiên nga lông trắng muốt trên trời cao vẫy những giấc mơ đẹp bay theo. Ông nhắm mắt lại và ngỡ như mình đang bay đuổi theo những cánh thiên nga trắng muốt kia.

Nguyễn Lệ Uyên
Tháng 5/2010

KẺ TỪ PHƯƠNG ĐÔNG QUA

dutule

một người già hồn nhiên chống gậy đi ngang
một chiều dừng chân đứng hỏi
– ngươi từ đâu đến đây
mà đầu đầy dấu đạn?
– tôi từ phương đông qua
lửa cháy hừng bốn phía
rừng đã thành tro than
biển cũng trào máu mặn
đạn bắn rền đông tây
tôi tình cờ sống sót.

– ngài giúp được tôi chăng?
sống còn một tổ quốc.

một người già hồn nhiên chống gậy đi ngang
một chiều dừng chân đứng hỏi
– ngươi từ đâu đến đây
mà lưng đầy vết chém?
– tôi từ phương đông qua
nơi núi thành bình địa
sông lấp bằng xác người
dao chém loạn bắc nam
tôi không ngờ thoát hiểm.

-ngài giúp được tôi chăng?
buồn vui một đất nước.

một người già hồn nhiên chống gậy đi ngang
một chiều dừng chân đứng hỏi
– ngươi từ đâu đến đây
mà mắt đầy bóng tối?
– tôi từ phương đông qua
mẹ tôi trong chợ loạn
con tôi trên phố đông
vợ tôi trong góc bếp
chết không ngờ một đêm ùn ùn quỷ dậy…

– ngài giúp được tôi chăng?
bình an một mái ấm.

một người già hồn nhiên chống gậy đi ngang
một chiều dừng chân đứng hỏi
– ngươi từ đâu đến đây
mà xác, hồn thất lạc?
– tôi từ phương đông qua
hồn không còn cõi trú
xác không còn mái che
quỷ sa tăng một hôm trùng trùng vây khổn

– ngài giúp được tôi chăng?
triệu hồn cần cứu rỗi.

một người già hồn nhiên chống gậy đi ngang
một chiều dừng chân đứng hỏi
– ngươi từ đâu đến đây
chọn chỗ ngồi cô quạnh?
– tôi từ phương đông qua
vai không đeo hành lý
đường đi không bạn bè
khóc không người chia sẻ
sống không còn mai sau

– ngài giúp được tôi chăng?
một ngày mâm rượu cũ.

một người già hồn nhiên chống gậy đi ngang
một chiều dừng chân đứng hỏi
– ngươi từ đâu đến đây
mà tim bầm máu đọng?
– tôi từ phương đông qua
cõi trần gian quỷ ám
bầy thú đội lốt người
bước chân là súng đạn
tay nắm là dao đâm
óc rỉ hoen sắt thép
miệng thở mùi máu tanh
giết bao đời thơ dại

– ngài giúp được tôi chăng?
một vườn xanh hoa cỏ.

một người già hồn nhiên chống gậy đi ngang
một chiều dừng chân đứng hỏi
– ngươi từ đâu đến đây
mà nguyện cầu ánh sáng?
– tôi từ phương đông qua
cõi đêm-ngày: bóng tối
quỷ dữ nuốt mặt trời
bụng trương phình giáo mác.

– ngài giúp được tôi chăng?
một người còn muốn sống.

Du Tử Lê

BÓNG NẮNG QUA HIÊN

huvo

Mẹ bỏ con đi từ dạo ấy
Phương trời còn lại nắng mưa khang
Có đêm thức giấc mùa đông bấc
Bóng mẹ ôm choàng lệ chứa chan

Rồi chợt đến tháng ngày yêu cỏ biếc
Màu thiên thanh trong mắt tuổi lụa là
Những làn mưa xuân đất trời se lạnh
Tóc em dài thư thả nhánh sông xa

Thương chiếc lá phiêu bồng trong gió sớm
Cầm trên tay bao kỉ niệm ngọc ngà
Trăng e ấp lên ngõ vàng lối mộng
Tình chiêm bao vườn sao rụng bao la

Ngồi đếm giọt bên quán đời rả rích
Người hiện về lay bóng nắng qua hiên
Và ảo giác đã một lần tan biến
Miền hoa niên giờ trắng xóa ưu phiền.

HƯ VÔ
Ngày của Mẹ – Lập Hạ

Hôm Nay Mother’s Day

tranvanle

Hôm nay trời không nắng.
Ngày của Mẹ buồn buồn.
Mẹ nhìn ra, xa vắng,
đời bộn bề, nhớ con…

Đôi mắt Mẹ rồi mòn,
chờ con…mà Non Nước
biết chừng nào có được
một-ngày-vui thật vui?

Mẹ không ai thốt lời,
thôi thì…như ngậm ngải,
mắt vẫn nhìn xa ngái…
như hai bờ sông Hương!

Sông nào cũng sông Thương!
Sông nào cũng sông Nhớ,
con đứa đi lính Bộ,
con đứa đi lính Trời…

Đứa…mười bảy tuổi thôi…
đi lấy chồng, biền biệt!
Tôi nhớ ai tha thiết
như Mạ đang nhớ em!

Em có biết không em?
Hôm nay Ngày-Của-Mẹ,
em chắc bồng con bé
ru con ầu ơ ơi ầu ơ…

Hôm nay có thể mưa,
em đếm giùm giọt nước…
anh thì đếm từng bước
đi trên bờ sông Hương!

Sông nào cũng sông Thương
Sông nào cũng sông Nhớ
Anh biết đời anh lỡ
Nên yêu em muôn đời!

Đêm nay nhìn sông trôi,
mất đâu nửa vầng Nguyệt?
Mồng Bảy, ôm trăng, siết:
Nửa Vầng Trăng, em ơi!

Đêm-nay-có-một-nửa-trăng-thôi! Một-nửa-trăng-ai-cắn-vỡ-rồi? Ta-nhớ-mình-xa-thương-đứt-ruột! Gió-làm-nên-tội-buổi-chia-phôi! (thơ Hàn Mạc Tử)

Trần Vấn Lệ

Vì tôi là con của mẹ

truongvandan

Nguyên tác: I due autisti. Tác giả: Dino Buzzati (Ý)

“Dino Buzzati sinh năm 1906 tại Belluno, mất năm 1972 ở Milano (Italia). Trước khi viết văn, ông là họa sĩ, nhạc sĩ và nhà báo, từng là phóng viên chiến trường và phụ trách mục phê bình nghệ thuật cho Corriere della Sera, một nhật báo quan trọng nhất nước Ý. Với Sa mạc Tartari (1940), tác phẩm đã được dịch ra nhiều thứ tiếng, ông đã trở thành một trong những tên tuổi lớn của thế kỷ 20. Nhiều truyện dài của ông đã được chuyển thành kịch bản sân khấu, phát thanh và truyền hình. Truyện Con chó gặp Chuá, đã được trình diễn trên đài truyền hình Pháp.

Ông viết nhiều tiểu thuyết nhưng hình như thể loại yêu thích của ông là truyện ngắn. Chủ đề quen thuộc của Buzzati là những ám ảnh và nỗi bất an của kiếp người, sự chạy trốn thời gian, định mệnh, sợ hãi đối với hư vô, thất bại của sự sống, mong manh của tình yêu, bí ẩn của nỗi đau và cái ác…”

Bằng bút pháp độc đáo ông dắt người đọc ra khỏi cuộc sống thường ngày để bước vào một thế giới khác, rồi đẩy họ vào những sự kiện nghịch lý, ly kỳ và đầy bí ẩn. Bí ẩn vì nằm ngoài cánh cửa của đời sống thường nhật nhưng cũng có thể đồng hiện hữu với diễn biến thường ngày mà chúng ta đã vô tình không nhận thấy để cuối cùng phải kinh ngạc, suy nghĩ… trong một niềm xúc động sâu xa.”

Nhiều năm đã trôi qua, nhưng tôi vẫn còn thầm hỏi hai người tài xế đã nói gì trên đường chở linh cửu mẹ tôi đến nghĩa trang .

Ðó là một cuộc hành trình dài hơn 300 km, tuy đường vắng người nhưng xe đi rất chậm. Lũ con chúng tôi theo sau bằng xe hơi, giữ khoảng cách chừng 100 thước, và đồng hồ đánh dấu tốc độ 60 km/giờ. Có thể loại xe tang được chế tạo để di chuyển chậm nhưng sao tôi cứ nghĩ là có một quy luật nào đó, xem tốc độ là một điều bất kính với người đã khuất. Ðiều này hơi vô lý – bởi tôi tin mẹ tôi sẽ rất thích nếu xe chạy 120 km/giờ, ít ra cũng tạo cho người cái cảm giác về một chuyến đi bình thường như những dịp hè về Belluno nghỉ mát.

Bữa đó là một ngày tháng sáu tuyệt vời, hai bên con đường quen thuộc mà mẹ tôi đã đi qua lại hằng trăm lần đang hiện ra những cánh đồng bát ngát mà bây giờ người không nhìn thấy nữa. Mặt trời lúc ấy đã lên cao, hơi nóng trên đường nhựa bốc lên làm đoàn xe phía trước giống như đang lửng lơ trong không khí.

Ðồng hồ vận tốc chỉ 60 km/giờ, xe tang như đứng yên một chỗ vì có nhiều xe qua mặt , trên đó chở những người đang sống tự do, hay những cô gái thả tóc bay trong gió, ngồi cạnh các thanh niên trên xe mui trần. Rồi những xe cam nhông, kể cả loại kéo rờ mọt cũng vượt qua phía trước … Tôi nghĩ sao mà dại thế, phải chi người ta chở linh cửu mẹ tôi trên một xe thể thao màu đỏ, phóng hết tốc lực để hiến dâng cho người thêm chút nữa về đời sống thực, thay vì chậm chạp lăn trên đường như một đám tang.

Bởi những lý do đó nên tôi muốn biết là hai người tài xế đã nói những gì; một người khoảng ba mươi lăm tuổi cao chừng thước tám, khuôn mặt hiền lành, còn người kia cũng to con với màu da sạm nắng. Tôi thoáng thấy họ ngay từ lúc khởi hành và chợt nghĩ với vóc dáng như thế, họ không mấy phù hợp với việc lái xe tang; một chiếc cam nhông chở ống sắt có lẽ sẽ thích hợp với họ nhiều hơn .

Sở dĩ tôi muốn biết là họ đã nói với nhau những gì bởi vì đó là câu chuyện cuối cùng của loài người, những lời lẽ cuối cùng của cuộc sống mà mẹ tôi còn nghe được; vì trong cuộc hành trình dài và nhàm chán đó thế nào mà hai gã tài xế không nói chuyện với nhau. Còn việc sau lưng họ có linh cửu mẹ tôi thì đối với họ nào có quan trọng gì, dĩ nhiên, công việc này đã quá quen với họ, nếu không chắc họ đã chọn nghề khác .

Ðó là những lời cuối mà mẹ tôi còn nghe được vì sau khi đến nghĩa trang, các nghi lễ của nhà thờ sẽ bắt đầu, và từ lúc ấy những âm thanh và lời lẽ sẽ không còn dành cho cuộc sống này nữa, mà dành cho một thế giới khác.

Họ đang nói với nhau về chuyện gì? Về sự oi bức? Về thời gian cần thiết khi quay lại? Họ kể chuyện gia đình hay bàn về kết quả các trận túc cầu bữa trước? Họ chỉ cho nhau những quán ăn ngon nằm rải rác trên đường rồi tiếc rẻ vì không ngừng lại được? Hay bàn tán về xe hơi với những hiểu biết về cơ giới như những tay sành sõi? Tuy là tài xế xe tang, nhưng có mấy ai dính líu đến ngành cơ khí mà không đam mê máy móc? Hay họ tâm sự với nhau về những cuộc phiêu lưu tình ái? Mầy còn nhớ con bé tóc vàng bán nước ở cái quán cạnh cây xăng mà bọn mình thường dừng lại ? Ðúng là con đó đó. Thôi đừng xạo cha nội, tao không tin. Thiệt mà, tao thề liền đó… Hoặc họ đang kể cho nhau những chuyện tiếu lâm tục tĩu? Bỡi vì hai gã đó cứ tưởng chẳng có ai; cái hòm gỗ đóng kín nằm đằng sau như không hiện hữu, vì họ đã quên rồi…

Và mẹ tôi phải nghe những lời đùa bỡn ấy cùng với những trận cười khoái trá? Chắc thế, người đã nghe và con tim đớn đau của người lại co thắt thêm lên, chẳng phải vì xem thường hai gã đàn ông lạ mặt mà chính vì nỗi cay đắng là phải nghe những lời lẽ đó thay vì nghe giọng nói của những đứa con mà người hằng yêu thương.

Tôi còn nhớ lúc gần đến Vicenza, khi cái nóng trưa tròn bóng làm rung mờ bóng hình mọi vật, đã bàng hoàng nghĩ lại là thời gian sau này tôi đã sống quá ít bên cạnh mẹ. Rồi chợt nghe một mũi nhọn buốt đau giữa ngực, như người ta thường gọi là niềm ân hận.

Ngay lúc ấy – không hiểu sao trước đó vẫn chưa hề xảy ra – âm vang giọng nói của người bắt đầu dội lại trong tôi, của những buổi sáng đến phòng người trước khi ra tòa soạn: “Mẹ có khoẻ không? “ “đêm qua mẹ ngủ được “ ( mà tôi biết là nhờ những mũi thuốc an thần ) “con đi làm nghen mẹ” “ừ thôi con đi đi ”.

Tôi bước được vài bước trong hành lang thì giọng nói đầy sợ hãi của người vọng đến: “ Dino!” Tôi quay lại . “Con về ăn trưa chứ ?” “Dạ” “ Còn bữa cơm chiều?”.

“Còn bữa cơm chiều?” Chuá ơi, trong câu hỏi bình thường đó có ẩn chứa một ước vọng nhỏ nhoi. Người không yêu cầu cũng không đòi hỏi gì ở tôi, chỉ nói để hỏi thăm một tin tức thế thôi.

Nhưng tôi đang có những cuộc hẹn hò ngu xuẩn, với những đứa con gái chưa chắc đã thương yêu gì tôi, thậm chí còn cóc cần đến tôi nữa… nhưng ý nghĩ trở về nhà lúc tám giờ ba mươi tối trong căn nhà buồn thảm, đượm không khí già nua bệnh hoạn như nỗi chết cận kề đã làm tôi sợ hãi; mà đã có mấy ai can đảm thú nhận những điều kinh khủng này, dù rằng rất thật? “Con cũng không biết nữa, con sẽ điện thoại về sau ” Tôi thường trả lời như thế. Và tôi chắc thông báo là sẽ không về. Có lẽ người cũng biết là tôi sẽ nói thế nên hai tiếng “đi đi” mang một nỗi buồn vô tận. Nhưng tôi là một đứa con ích kỷ. Ích kỷ như tất cả mọi đứa con.

Lúc đó tôi không hề ân hận, không hề ăn năn hay có một ray rức nào. ” Con sẽ điện thoại về” và người đã thừa hiểu là tôi sẽ không về nhà ăn tối.

Mẹ tôi già nua, bệnh tật và biết là ngày tàn sắp đến nên rất hài lòng nếu tôi về ăn tối ở nhà để bà bớt cô đơn. Bà chỉ cần tôi hiện diện, dù không nói lời nào hay đôi khi gắt gỏng về những việc bất như ý trong ngày. Nằm bất động trên giường nhưng bà sẽ thấy ấm lòng và được an ủi nếu nghe tiếng lục đục của tôi ăn cơm trong bếp.

Nhưng tôi thì không. Tôi quả thật là thằng khốn nạn và ngu đần vì trong khi tôi đi khắp thành phố Milano để vui chơi cùng bè bạn thì chính đấng sinh thành, điểm tựa thật và duy nhất, sinh vật có một không hai trên cõi đời có khả năng thông cảm và yêu thương, trái tim duy nhất có thể rướm máu vì tôi ( và tôi sẽ không bao giờ tìm được dẫu sống thêm ba trăm năm nữa ) đang nằm chờ chết .

Tôi chỉ cần nói vài lời với người trước bữa ăn tối về công việc và sinh hoạt trong ngày, tôi ngồi trên đi văng và mẹ nằm duỗi cẳng trên giường. Rồi sau bữa cơm tối, mẹ vui lòng để tôi đi đâu mặc kệ ; người đâu có tiếc gì, trái lại, còn vui mừng nữa nếu tôi có những cơ hội giải khuây. Nhưng trước khi ra khỏi nhà để lao mình trong đêm tối tôi sẽ đến chào người “mẹ đã chích thuốc chưa ?” “Chích rồi, mẹ hy vọng là đêm nay ngủ được”.

Mẹ chỉ yêu cầu có thế. Nhưng ngay cả điều nhỏ nhoi này tôi cũng không làm được, do lòng ích kỷ thấp hèn. Bởi vì tôi là con; và trong sự ích kỷ của kẻ làm con tôi đã không cần biết là mình đã thương mẹ bao nhiêu. Ðể bây giờ, trong khoảng khắc cuối đời, trên đường ra nghĩa trang, người phải nghe những lời tán gẫu, những chuyện tiếu lâm và tiếng cười thô lỗ của hai gã đàn ông lạ mặt. Ðấy là món quà cuối cùng mà cuộc đời đã dành cho mẹ.

Giờ thì quá muộn rồi. Không còn gì nữa. Đã muộn quá rồi. Gần hai năm qua, tảng đá đã hạ xuống để mãi mãi đóng kín ngôi mộ trong lòng đất, nơi ánh sáng lờ mờ có linh cửu của ông bà, cha mẹ nằm chồng chất lên nhau. Ðất đã lấp kín những đường rãnh, đây đó mọc lưa thưa vài chùm cỏ dại. Mấy chậu hoa mới đặt trong chậu đồng vài tháng trước giờ phai tàn đến nỗi không còn nhận ra hình dáng. Không. Những ngày mẹ bệnh hoạn và biết mình sắp chết chắc chắn sẽ không bao giờ lùi lại. Mẹ vẫn câm lặng, mẹ không trách móc gì tôi và có thể là người đã tha tội cho tôi, bởi vì tôi là con của mẹ. Mà chắc là mẹ đã tha tội cho tôi. Thế nhưng cứ mỗi lần nghĩ đến, tâm hồn tôi lại bất an.

Mỗi một niềm đau sẽ được khắc lên tấm bia bằng chất liệu diệu kỳ, so với nó cẩm thạch vẫn còn mềm như đất sét. Và thời gian dù vô tận cũng chưa đủ để làm nó phai mờ. Sau một triệu thế kỷ niềm đau và nỗi cô đơn của mẹ do tôi gây ra sẽ còn mãi mãi. Và tôi sẽ không thể nào cứu vãn. Tôi chỉ còn biết thở dài, và hy vọng là người nhìn thấy.

Nhưng mẹ không nhìn thấy tôi. Người đã chết, xác thân bị huỷ hoại, không còn sống nữa hay đúng hơn là chẳng còn gì ngoài sự mục rữa hình hài đã bị tháng năm xúc phạm, theo sự phân hủy kinh hoàng và đau đớn của thời gian.

Không còn gì? Ðúng là không còn gì. Mà quả thật về mẹ tôi đã không còn gì nữa?

Biết đâu! Có khi, nhất là trong những buổi chiều đơn độc, tôi lắng nghe một cảm xúc lạ lùng. Có một điều gì đó xâm nhập trong tôi mà trước đó vài giây chưa hề có, như một bản thể mơ hồ ngự trị trong tôi làm tôi không còn cô độc, và mỗi cử chỉ, mỗi một lời đều như có chứng nhân của một linh hồn bí ẩn. Mẹ! Nhưng phép lạ chỉ kéo dài rất ít, chừng một giờ rưỡi chứ không hơn. Rồi sau đó dòng đời lại tiếp tục nghiền nát tôi dưới những bánh xe khô khốc và bạo tàn của nó .

Trương Văn Dân chuyển ngữ

THU NÀO XƯA HỞ EM?

nguyenngocnghia

bao-tuoi-ngoc

Hoa cúc nhà ai nở ngập vườn
Tháng Tám thu về nghiêng mái sân
Thu của em vàng rưng lá úa
Rơi dạt muôn tà nắng bâng khuâng

Có phải thu nào xưa rất ngoan
Em ngẩn ngơ áo lụa khăn choàng
Lòng ta như một con đường nhỏ
Trải nỗi buồn trong gió thênh thang

Ta của ngàn năm trời biệt mù
Em của muôn đời mắt chớm thu
Cho bay một chút tình vời vợi
Vỗ cánh mềm lời cây lá ru

Từ môi em phả chút trầm mơ
Tay se lọn tóc chẻ đôi bờ
Ta nhìn nhau buồn trong mưa lạnh
Nghe khói sương tan chốn bụi mờ…

NGUYỄN NGỌC NGHĨA

HUẾ CỦA MỘT NGƯỜI

doanthachbien

Đã nhiều lần đến Huế
Vẫn lạ như lần đầu
Sông Hương lơ đãng chảy
Nắng tím vướng chân cầu.

Đi dưới tàng cây muối
Không thấy hoa trên cành
Mai này trong trang viết
Muối xanh màu lá xanh.

Ngồi đò nghe ca Huế
Cứ tưởng như nghe đài
Lim dim mơ o nớ
Mưa tóc dài qua vai.

Ăn vài ly chè hẻm
Ngọt lịm quên đường về
Cũng may quán bún Mệ
Ớt cay như câu thề.

Tịnh Tâm sen tàn hết
Lẩn khuất hương cỏ bay
Vẫn chưa hiểu Huế được
Sao lựa lời chia tay?

ĐOÀN THẠCH BIỀN

BÀI THƠ ĐỘC VẬN “Ơ” LÀM TRONG MEN RƯỢU SAY

tranthoainguyen

Những ngày qua hồn tôi thất thơ
Mượn rượu tiêu sầu,hồn vẫn bơ phờ!
Tôi đi mênh mang như thần tửu
Lang thang trên những bãi biển một chiếc bóng dật dờ
Ôi biển khóc gào mùa cá chết phơi tròng mắt trắng
Ôi gió oi nồng một mùi tanh dơ!
Còn đâu nữa! Hỡi Thần hỡi Thánh!
Còn đâu nữa! Những bãi biển đẹp thơ!

Tôi không còn làm Thi sĩ
Bởi Em đã chết! Em đã chết xác ngập tràn bờ!
Sóng dội ầm vang mùa trăng vỡ
Mang linh hồn biển Em nằm chết như mơ!
Phật Chúa nín thinh! Thời Ma Quỉ!
Thời của ngững kẻ giết Thơ!

Đại thi hào Nguyễn Du đã khóc từ gần ba trăm năm trước
Đã khóc cho Bây Giờ!
Chúng nó đã đầu độc Em bằng độc dược
Bằng cường toan độc tố triệu triệu nguy cơ:
Di chứng nhân loại đời sau tật nguyền méo mó,
Di chứng nhân loại đời sau bại não dại khờ!

Hỡi Việt Nam ! Sao còn rước nhập chi chúng nó?
Sao còn rước nhập chi tư tưởng tìm thiên đàng mặt đất mù mờ?
Sao còn rước nhập chi những thứ độc dược mà nhân loại đã trút bỏ?
Ôi! Độc dược nầy đầu độc con cháu Mẹ Âu Cơ!
Người dân Việt đã trường tồn qua hàng ngàn năm lịch sử
Vẫn mãi giữ vững cõi bờ.
Xương máu trí tuệ cha ông đâu phải để cháu con lưu lạc tha phương viễn xứ
Làm thế nào rửa sạch vết nhơ!

Những ngáy qua hồn tôi xác xơ
Chén rượu khôn khuây! Hồn thêm bơ phờ!
Ôi môi trường sống Việt Nam ngày càng ngộ Độc!
Biển chết! Em đã chết! Không một bóng cờ
Khắp cả l;oài người rùng mình giận giữ,
Tôi có thể nào! Tôi có thể nào lại làm ngơ!

Tôi không còn làm Thi sĩ
Bởi Em đã chết! Em đã chết xác ngập tràn bờ!
Sóng dội ầm vang mùa trăng vỡ
Mang linh hồn biển Em nằm chết như mơ!
Phật Chúa nín thinh! Thời Ma Quỉ!
Thời của những kẻ giết thơ!

TRẦN THOẠI NGUYÊN

TÔI VỀ…

nguyenhuynh

Tôi về sửa giấc chiêm bao
Cho vừa vặn với hư hao chiếu giường
Gối chăn xô lệch vất vương
Mộng tôi nghiêng ngã giấc đường đen đêm.
Tôi về đo ước mơ thêm
So cho cao thấp không hơn hình hài
Bản lai diện mục không hai
Mơ tôi vừa đủ ngang tài tôi thôi.
Tôi về đếm hạnh phúc rồi
Trừ qua dĩ vãng dư dôi chút nào
Đem chia vách dốc vị lai
Nằm trên thương số ngã dài bóng tôi.
Tôi về đong lại tôi xưa
Khí cha huyết mẹ cho vừa vặn ơn
Đặt trong một cuộc thiệt hơn
Một vuông mộ huyệt nằm trên phận mình!

NGUYỄN HUỲNH