CHÀO VIỆT NAM

tonnuthudung

Chào Việt Nam dòng máu Tiên Rồng
Chào Việt Nam dòng máu Lạc Hồng
Chào Việt Nam bắt đầu cuộc chiến
Chào Việt Nam biển đảo mịt mùng.

Chào Việt Nam bên kia đại dương
Chào Việt Nam mờ mịt khói sương
Chào Việt Nam mất rừng, cạn biển
Chào Việt Nam một nước Việt buồn.

Chào Việt Nam chào những con đường
Chào Việt Nam chào những bước chân
Chỉ đơn giản đòi những gì đã mất
Lựa chọn nào khi đất nước phân thân?

Chào Việt Nam chào những bất công
Chào Việt Nam chào những anh hùng
” Đứng thẳng làm người?” đừng hô khẩu hiệu
Những biểu ngữ buồn gỡ xuống cho xong.

Chào Việt Nam chào những bóng đêm
Chào Việt Nam chào những trái tim
Chung nhịp đập với một thời giữ nước
Những tội đồ dân tộc lặng thinh.

Chào Việt Nam bên này đại dương
Một chút tôi, trong buổi xuống đường
Chào Việt Nam mịt mù khói sóng
Tôi bên đời, tâm cảm lưu vong…

Tôn Nữ Thu Dung

Mẹ Và Quê Hương

trantrungdao

Một danh ngôn mà chúng ta thường nghe “thế giới có rất nhiều kỳ quan, nhưng kỳ quan tuyệt vời và vĩ đại nhất vẫn là trái tim người mẹ” Thật vậy, bao nhiêu thơ viết về mẹ cũng không đủ, bao nhiêu nhạc hát về mẹ cũng không vừa. Biển Thái Bình bao la, nước sông Hằng cuồn cuộn nhưng không sao có thể so sánh được với tấm lòng của mẹ. Bản nhạc nào viết về mẹ cũng hay, bài thơ nào viết về mẹ cũng cảm động bởi vì ngôn ngữ dành cho mẹ là ngôn ngữ của trái tim.

Mẹ là biểu tượng trọn vẹn và tuyết đối của tinh thần Chân Thiện Mỹ. Nếu có một người để chúng ta có thể san sẻ những điều thầm kín, riêng tư nhất, thì người đó phải là mẹ. Nếu có một người có thể tha thứ cho chúng ta dù phạm phải bất cứ một lỗi lầm gì, người đó sẽ là người mẹ. Tôi tin, nếu chúng ta biết dành ý nghĩ đầu tiên của một ngày, thay vì để nghĩ đến chuyện hơn thua, danh lợi nhưng là để nghĩ về mẹ, nghĩ về khuôn mặt của mẹ, tiếng cười của mẹ, lời dặn dò của mẹ hay thậm chí chỉ để gọi tiếng mẹ thôi, chúng ta sẽ có một ngày an lành và hạnh phúc.

Mẹ là người mang ta đến cuộc đời, và cũng là nơi ta trở về. Người đàn bà chân mang đôi dép ngược, khoác chiếc mền rách, như trong một câu chuyện thiền mà chúng ta có thể đã từng nghe kể, dù bao mùa mưa nắng vẫn không than van, không oán trách, vẫn chờ đơi ngày về của đứa con mải mê trên đường đi tìm chân lý. Nếu chân lý mà chàng trai trẻ kia đi tìm là tình thương và sự thật thì chân lý sẽ không ở đâu xa mà trái lại vô cùng gần gũi. Trong tấm thân gầy yếu nhỏ nhoi của người mẹ chứa đựng cả một đại dương của hy vọng, tình yêu, sự thật và lòng vị tha sâu thẳm.

Hơn mười năm trước, tôi có viết một bài thơ về mẹ, trong đó có hai câu đã trở thành quen thuộc:

Ví mà tôi đổi thời gian được
Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.

Bài thơ ra đời trong một đêm mưa, sau lần điện thoại đầu tiên với mẹ tôi từ Việt Nam. Giọng của mẹ như vọng lại từ một thế giới khác xa xôi. Tôi viết rất nhanh, nhanh hơn khi viết những bài thơ khác nhiều. Những dòng chữ, những câu thơ đúng ra là từ mơ ước, thao thức đã ấp ủ trong tâm thức tôi từ lâu lắm, chỉ chờ dịp để tuôn ra. Tôi không làm thơ, tôi chỉ chép như có một người nào đang nhắc nhở bên tai mình. Nguyên văn bài thơ như thế này:

Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người
Tiếng ai như tiếng lá thu rơi
Mười năm mẹ nhỉ, mười năm lẻ
Chỉ biết âm thầm thương nhớ thôi

Buổi ấy con đi chẳng hẹn thề
Ngựa rừng xưa lạc dấu sơn khê
Mười năm tóc mẹ màu tang trắng
Trắng cả lòng con lúc nghĩ về

Mẹ vẫn ngồi đan một nỗi buồn
Bên đời gió tạt với mưa tuôn
Con đi góp lá nghìn phương lại
Đốt lửa cho đời tan khói sương

Tiếng mẹ nghe như tiếng nghẹn ngào
Tiếng Người hay chỉ tiếng chiêm bao
Mẹ xa xôi quá làm sao vói
Biết đến bao giờ trông thấy nhau

Đừng khóc mẹ ơi hãy ráng chờ
Ngậm ngùi con sẽ giấu trong thơ
Đau thương con viết vào trong lá
Hơi ấm con tìm trong giấc mơ

Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người
Giọng buồn hơn cả tiếng mưa rơi
Ví mà tôi đổi thời gian được
Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.

Bài thơ đơn giản và dể hiểu, không có gì phải cần bình giải. Tất cả chỉ để nói lên tâm trạng của một người con xa mẹ, bay đi như chiếc lá xa cành, mười năm chưa về lại cội. Năm tôi viết bài thơ, mẹ tôi, đã ngoài sáu mươi tuổi và đang sống trong căn nhà tôn nghèo nàn ở Hòa Hưng Sài Gòn. Căn nhà nhỏ có giàn hoa giấy đỏ đó là nơi tôi đã sống tám năm.

Nhớ lại đêm cuối cùng ở Sài Gòn, tôi đón xe xích-lô từ cửa sông về chào mẹ. Trời mưa lớn. Nhưng khi gặp mẹ, với tâm trí ngàn ngập những lo âu, hồi hộp cho chuyến đi, tôi không kịp nói một câu cho trọn vẹn ngoài ba tiếng “con đi nghe”. Và như thế tôi đi, đi không ngoảnh lại, đi như chạy trốn. Để rồi hai ngày sau, khi chiếc ghe nhỏ của chúng tôi được hải quân Mỹ cứu vớt trên biển Đông vào khuya ngày 13 tháng 6 năm 1981, đứng trên boong chiến hạm USS White Plains nhìn về phía Nam, tôi biết quê hương và mẹ đã ngoài tầm tay vói của mình. Đời tôi từ nay sẽ như chiếc lá, bay đi, bay đi, chưa biết ngày nào hay cơ hội nào trở về nguồn cội.

Nếu có một quốc gia mà những người dân của quốc gia đó đã phải từ chối chính đất nước mình, từ chối nơi đã chôn nhau cắt rốn của mình, tôi nghĩ, đất nước đó không còn bao nhiêu hy vọng. Việt Nam sau 1975 là một đất nước sống trong tuyệt vọng như thế. Dân tộc Việt Nam những năm sau 1975 là một dân tộc sống trong tâm trạng những kẻ sắp ra đi. Sài Gòn giống như một sân ga. Chào nhau như chào nhau lần cuối và mỗi ngày là một cuộc chia ly. Bắt tay một người quen, ai cũng muốn giữ lâu hơn một chút vì biết có còn dịp bắt tay nhau lần nữa hay không. Gặp người thân nào cũng chỉ để hỏi “Bao giờ anh đi, bao giờ chị đi”, và lời chúc nhau quen thuộc nhất mà chúng thường nghe trong những ngày đó vẫn là “Lên đường bình an nhé.”

Đất nước tuy đã hòa bình rồi, quê hương đã không còn tiếng súng nhưng lòng người còn ly tán hơn cả trong thời chiến tranh. Đêm cuối ở Sài Gòn lòng tôi ngổn ngang khi nghĩ đến ngày mai. Ngày mai sẽ ra sao? Nếu bị bắt tôi sẽ ở tù như lần trước nhưng nếu đi được thì sẽ trôi giạt về đâu?

Suốt sáu năm ở lại Sài Gòn, tôi chỉ nghĩ đến việc duy nhất là ra đi. Khi chiếc ghe nhỏ bị mắc cạn trong một con lạch ở Hải Sơn buổi sáng ngày 11 tháng 6 năm 1981, trời đã sáng, nhiều người, kể cả một trong hai người chủ ghe, cũng bỏ ra về, nhưng tôi thì không. Tôi phải đi dù đi giữa ban ngày. Tôi phải tìm cho được tự do dù phải bị bắt và ngay cả phải trả giá bằng cái chết. Tự do đầu tiên, biết đâu cũng sẽ là cuối cùng và vĩnh viễn. Nhưng hai ngày sau, khi đứng trên boong tàu Mỹ, tôi biết mình vừa mất một cái gì còn lớn hơn ngay cả mạng sống của mình. Đó là đất nước, quê hương, bè bạn, con đường, tà áo, cơn mưa chiều, cơn nắng sớm, và trên tất cả, hình ảnh mẹ. Không phải những người ra đi là những người quên đất nước hay người ở lại bám lấy quê hương mới chính là người yêu nước. Không. Càng đi xa, càng nhớ thương đất nước, càng thấm thía được ý nghĩa của hai chữ quê hương. Không ai hiểu được tâm trạng người ra đi nếu không chính mình là kẻ ra đi.

Nói như thế không có nghĩa là tôi hối hận cho việc ra đi. Không, tôi phải đi. Nhưng chọn lựa nào mà chẳng kèm theo những hy sinh đau đớn. Bài hát Sài Gòn Vĩnh Biệt, tôi thỉnh thoảng nghe trên đài VOA khi còn ở Việt Nam như những mũi kim đâm sâu vào tâm thức. Bao nhiêu điều hai ngày trước tôi không hề nghĩ đến đã bừng bừng sống dậy. Bao nhiêu kỷ niệm tưởng đã chìm sâu trong ký ức đã lần lượt trở về. Tự do, vâng, tôi cuối cùng đã tìm được tự do nhưng đó chỉ là tự do cho chính bản thân mình. Những gì tôi đánh mất còn lớn hơn thế nữa.

Nhớ lại đêm thứ hai trên biển, khi biết chiếc ghe chiều dài vỏn vẹn mười mét rưỡi nhưng chứa đến tám mươi hai người của chúng tôi vừa cặp vào thành tàu chiến của Mỹ thay vì Ba-Lan hay Liên-Xô như mọi người trên ghe lo sợ, ai cũng hân hoan mừng rỡ. Đám bạn tôi, có đứa thậm chí còn hô lớn “USA, USA” và ôm chầm lấy những người lính hải quân Mỹ đang dang tay đỡ từng người bước lên khỏi chiếc cầu dây đang đong đưa trên sóng.

Tôi cũng vui mừng, biết ơn và cảm động nhưng không ôm chầm hay hô lớn. Lòng tôi, trái lại, chợt dâng lên niềm tủi thẹn của một người tỵ nạn. Chiếc cầu dây mong manh tôi bám để leo lên chiến hạm, trở thành chiếc cầu biên giới, không chỉ cách ngăn giữa độc tài và tự do, của quá khứ và tương lai, mà còn giữa có quê hương và thiếu quê hương. Tôi nghĩ thầm, cuối cùng, tôi cũng như nhiều người Việt Nam khác, lần lượt bỏ đất nước ra đi mà thôi. Dù biện minh bằng bất cứ lý do gì, tôi cũng là người có lỗi với quê hương.

Tôi nhớ đến mẹ, người mẹ Hòa Hưng vất vả nuôi nấng bảy đứa con, trong đó tôi là con lớn nhất, trong một hoàn cảnh hết sức khó khăn. Mẹ tôi bán bánh bèo ở đầu đường để nuôi chúng tôi ăn học. Mẹ tôi tình nguyện đi kinh tế mới ở Sông Bé để các em tôi còn được phép ở lại Sài Gòn học hết bậc phổ thông. Mẹ tôi đi mót lúa, mót khoai gởi về nuôi nấng chúng tôi trong những ngày đói khổ.

Trong tâm trí tôi, hình ảnh bà mẹ Hòa Hưng, đêm đầu tiên trong căn nhà không vách trên vùng Kinh Tế Mới, khoảng 20 cây số phía Nam thị trấn Đồng Xoài vào năm 1976. Cánh rừng vừa được khai hoang vội vã này không ai nghĩ một ngày sẽ được gọi bằng một cái tên rất đẹp, khu Kinh Tế Mới. Kinh Tế Mới là những căn nhà lá mỗi chiều chỉ hơn mười mét do những bàn tay học trò của thanh niên xung phong dựng lên, nối nhau chạy dọc theo cánh rừng hoang.

Tôi kính yêu mẹ. Mẹ Hòa Hưng là người săn sóc tôi trong những tháng ngày khó khăn nhất của tôi và người đã thôi thúc tôi viết nên bài thơ Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười trong đêm mưa hơn mười năm trước. Tuy nhiên, mẹ của Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười không phải là người đã mang tôi vào cuộc đời này.

Người mẹ sinh ra tôi đã chết khi tôi còn rất nhỏ. Nhỏ đến nỗi tôi gần như không biết mặt mẹ mình. Trong tuần hoàn của vũ trụ, giọt nước còn biết mẹ mình là mây, chiếc lá còn biết mẹ mình là cây, còn tôi thì không. Tôi là đứa bé cô độc, một con người cô độc, không anh em, không chị em. Tôi lớn lên một mình với cha tôi trong cảnh gà trống nuôi con trong căn nhà tranh nhỏ ở làng Mã Châu, quận Duy Xuyên. Đêm đêm nằm nghe cha kể chuyện thời trai trẻ buồn nhiều hơn vui của đời ông. Những ngày tản cư lên vùng núi Quế Sơn. Những ngày sống trong túp lều tranh dưới hàng tre Nghi Hạ. Và dưới hàng tre Nghi Hạ nắng hanh vàng đó, cha mẹ tôi đã gặp nhau, đã chia nhau ly nước vối chua chua thay cho chén rượu tân hôn nồng thắm. Dù sao, bên khung cửi vải, bên lò ươm tơ, họ đã cùng nhau dệt một ngày mai đầy hy vọng. Mặt trời rồi sẽ mọc bên kia rặng tre già, mặt trăng rồi sẽ tròn bên kia giòng sông Thu, những ngày chiến tranh, tản cư cực khổ sẽ qua đi nhường bước cho hòa bình sẽ đến.

Nhưng rồi chiến tranh như một định nghiệp, đeo đuổi theo số phận của đất nước chúng ta, đeo đuổi theo số phận của đời tôi. Năm tôi mười ba tuổi, chiến tranh đã cướp đi cha tôi, người thân yêu cuối cùng của tôi. Chiến tranh lan tràn đến làng Mã Châu, đẩy tôi ra khỏi xóm lụa vàng thân quen để làm người du mục trên quê hương đổ nát của mình. Từ đó tôi ra đi. Từ chặng đường đầu tiên trên căn gác hẹp trong con hẻm 220 Hùng Vương Đà Nẵng, đến chùa Viên Giác Hội An, xóm nghèo Hòa Hưng, trại tỵ nạn Palawan và hôm nay trên nước Mỹ, nơi cách chặng đầu tiên trong hành trình tỵ nạn của tôi hàng vạn dặm.

Hình ảnh duy nhất của tôi về mẹ là ngôi mộ đầy cỏ mọc dưới rặng tre già ở làng Mã Châu. Ngày tôi còn nhỏ, mỗi buổi chiều khi tan trường tiểu học, trên đường về tôi thường ghé thăm mộ mẹ. Nhổ những bụi cỏ hoang, trồng thêm những chùm hoa vạn thọ. Tôi ưu tư về cuộc đời và về thân phận của mình ngay từ thuở chỉ vừa năm, bảy tuổi. Tại sao tôi chỉ có một mình? Tại sao mọi người đều lần lượt bỏ tôi đi? Nếu mai mốt ba tôi cũng đi thì tôi sẽ sống với ai? Lớn lên tôi sẽ làm gì? Tại sao đất nước tôi lại có chiến tranh? Những người du kích bên kia sông là ai? Và ở đó những buổi chiều vàng, bên ngôi mộ nhỏ của mẹ, tôi để lòng tuôn chảy những suy tư, dằn vặt đang bắt đầu tích tụ. Từ khi năm bảy tuổi tôi đã linh cảm cuộc đời tôi sẽ là những ngày đầy biến cố. Tôi đã nghĩ đến chuyện một ngày nào đó tôi sẽ đi xa khỏi rặng tre già, khỏi ngôi làng tơ lụa Mã Châu dường như thôn làng nhỏ bé này sẽ không đủ lớn để chứa hết những buồn đau, u uất của tôi. Nếu tuổi thơ là tuổi hồn nhiên với những cánh diều bay, với những con bướm vàng thơ mộng thì tôi đã không có tuổi thơ. Tuổi thơ tôi là một chuỗi ngày ưu tư và chờ đợi một điều gì sắp đến.

Mẹ tôi qua đời vì bịnh trong một xóm nhà quê nghèo khó nên không có ngay cả một tấm hình để lại cho tôi. Cha tôi thường bảo, tôi giống cha nhiều hơn giống mẹ. Tôi cũng chẳng có cậu hay dì nên tôi lại càng không thể tìm đâu ra được một nét nào của mẹ trong những người thân còn sống. Vì không biết mẹ, nên mẹ trở thành tuyệt đối. Khi nhìn ánh trăng tròn trong ngày rằm tháng Bảy, tôi nghĩ đó là khuôn mặt dịu dàng của mẹ, nhìn nước chảy ra từ giòng suối mát tôi nghĩ đến giòng sữa mẹ, nhìn áng mây trắng bay trên nền trời tôi nghĩ đến bàn tay mẹ, nhìn những vì sao trên dải thiên hà tôi nghĩ đến đôi mắt mẹ. Nói chung, hình ảnh nào đẹp nhất, tinh khiết nhất, thiêng liêng nhất, đều được tôi nhân cách hóa nên hình ảnh mẹ. Vẻ đẹp của mẹ tôi là vẻ đẹp không những tuyệt vời mà còn tuyệt đối.

Tôi về thăm mộ mẹ lần cuối vào năm 1980 trước ngày vượt biển. Ngôi mộ đầy cỏ mọc hoang vu. Sau 1975, ngay cả người sống cũng không ai chăm nom đừng nói gì chuyện chăm nom cho người đã chết. Hôm đó, tôi ngồi nơi tôi đã từng ngồi trong thời thơ ấu và kể cho mẹ nghe đoạn đời chìm nổi của mình. Tôi nói với mẹ rằng tôi sẽ ra đi khỏi nước và hứa sẽ về dù biết nói như thế chỉ để an ủi hương hồn mẹ mà thôi. Tôi cầu mong mẹ phò hộ cho đứa con duy nhất của mẹ được bình an trong những ngày sóng gió sắp xảy ra.

Ôi đời mẹ như một vầng trăng khuyết
Vẫn nghìn năm le lói ở đầu sông.

Vâng, vầng trăng bên giòng sông Thu Bồn từ đó không còn tròn như trước nữa.

Ai cũng có một cuộc đời để sống. Nỗi bất hạnh nào rồi cũng nguôi ngoai. Vết thương nào cũng lành đi với thời gian. Tuy nhiên có một nỗi bất hạnh sau bao nhiêu năm dài vẫn còn, đó là bất hạnh của dân tộc Việt Nam. Điều làm tôi đau xót nhiều hơn cả, không phải vì tôi mất mẹ, không phải vì tôi xa mẹ nhưng chính là sự chịu đựng của hàng triệu bà mẹ Việt Nam triền miên suốt mấy chục năm qua, từ chiến tranh sang đến cả hòa bình.

Trên thế giới này, bà mẹ Nga, mẹ Ý cũng thương con như một bà mẹ Việt Nam. Trong lúc tình yêu của một bà mẹ ở quốc gia nào cũng bao la, cũng rộng lượng, cũng vô bờ bến, tôi vẫn tin một bà mẹ Việt Nam thì khác hơn nhiều. Bà mẹ Việt Nam, ngoài là biểu tượng cho tất cả những nét đẹp của quê hương, đất nước, tình thương, còn là những hình ảnh đầy thương tích, tủi buồn nói lên sự chịu đựng, gian nan, khổ cực không thể nào đo lường hết được. Hình ảnh bà mẹ giăng tấm vải dầu trên một góc đường Trần Hưng Đạo để che nắng che mưa cho bầy con thơ dại đang đói khát. Hình ảnh bà mẹ chết đói sau khi ghe của mẹ đi lạc nhiều tuần trên biển. Hình ảnh bà mẹ chết trong mỏi mòn tuyệt vọng dưới gốc me già trên góc phố Sài Gòn vào một ngày mưa bão. Hình ảnh bà mẹ chết cô đơn trong chiếc thuyền chài nghèo nàn. Tất cả hình ảnh đau thương đó đã trở thành mối ám ảnh thường xuyên trong tâm trí tôi. Ám ảnh nhiều đến nỗi, dù viết về bất cứ chủ đề gì, thể loại gì, văn hay thơ, cuối cùng tôi cũng trở về với hình ảnh mẹ. Mỗi bước chân tôi đi trên đường đời mấy chục năm qua vẫn còn nghe vọng lại tiếng khóc của những người phụ nữ Việt Nam bất hạnh, đã khóc trong chiến tranh, khóc trong hòa bình, khóc trong bàn tay hải tặc giữa biển Đông và khóc trên xứ người hiu quạnh.

Mơ ước lớn nhất của tôi, vì thế, không phải cho tôi mà cho những người mẹ đang chịu đựng, để các mẹ có cơ hội được sống trong một đất nước không còn hận thù, rẽ chia, ganh ghét, một đất nước chan chứa tình đồng bào, một đất nước thật sự tự do, ấm no, hạnh phúc. “Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười” trong một ý nghĩa rộng hơn là ước mơ của tôi, của anh chị, của cô chú và của tất cả những ai còn nghĩ đến sinh mệnh của dân tộc, về một ngày đẹp trời cho đất nước mình.

Quá nhiều máu và nước mắt đã đổ trên mảnh đất linh thiêng và thống khổ Việt Nam. Mỗi người Việt Nam, hơn bao giờ hết hãy trở về với mẹ như trở về với chính cội nguồn uyên nguyên của dân tộc mình. Trong đêm rằm tháng Bảy này, xin hãy cùng nhau thắp lên những ngọn nến, dù nhỏ, dù đơn sơ nhưng được làm bằng chất liệu dân tộc, nhân bản và khai phóng đã được tổ tiên chúng ta hun đúc sau hơn bốn ngàn năm lịch sử.

Đời tôi là những cơn mưa dài. Mưa khi tôi rời làng Mã Châu, mưa trong đêm đầu tiên trong căn gác trên đường Hùng Vương Đà Nẵng, mưa dưới gốc đa già ở Chùa Viên Giác, mưa khi tôi vừa đặt chân đến Sài Gòn lần đầu tiên và mưa lớn trong đêm tôi rời đất nước ra đi. Nhưng tôi chưa bao giờ tuyệt vọng, chưa bao giờ cảm thấy cuộc đời là hố thẳm. Tôi không sống trong hôm qua, trái lại mỗi ngày là một chặng đường mới của đời mình. Tôi bình tĩnh đến độ hồn nhiên khi đón nhận những khắc nghiệt đến với đời tôi và tôi rất lạc quan trong khả năng chuyển hóa hoàn cảnh của chính mình.

Trong cuộc đời này, tôi đã nhiều lần vấp ngã nhưng nhiều người cũng đã giúp vực tôi dậy, lau khô những vết thương trên thân thể và trong cả tâm hồn. Tôi mang ơn xã hội nhiều đến nỗi biết mình sẽ không bao giờ trả hết. Tôi biết ơn những người đã che chở cho tôi và cũng cám ơn cả những người đã dạy tôi hiểu giá trị của gian lao, thử thách. Cám ơn đất nước đã cho tôi được làm người Việt Nam, cám ơn mẹ Duy Xuyên mang tôi đến thế gian nầy, cám ơn mẹ Hòa Hưng nuôi nấng tôi trong những ngày bà con thân thuộc đã ruồng bỏ tôi, cám ơn cây đa già chùa Viên Giác che mát cho tôi suốt năm năm dài mưa nắng.

Nếu một mai tôi ra đi không kịp viết điều gì, thì đây, những kỷ niệm của một lần ghé lại.

Trần Trung Đạo

Đừng Khóc Tôi Ơi

ngotinhyen

“Xoá làm chi những bài thơ ngày cũ
Xoá được không bao kỷ niệm mênh mông…

Đừng khóc mưa ơi! Mùa đã lạnh
Nắng phai rồi hãy để mây rong chơi
Mây nào hay trời cũ nhớ một người
Đường duyên kiếp đã không còn chung bước

Đừng khóc vườn ơi! Chim thôi hót
Lá rụng rồi hãy để chim bay đi
Chim nào còn lưu luyến buổi chia ly
Mà hát mãi khúc tình ca nước mắt

Đừng khóc biển ơi! Thuyền đã khuất
Cuối chân trời hãy để sóng lang thang
Sóng nào thương một kiếp dã tràng
Xây đắp mãi một lâu đài trên cát

Đừng khóc thơ ơi! Tình phai nhạt
Mực cạn rồi hãy xếp lại mộng mơ
Mộng nào mơ đời chẳng đẹp như thơ
Trang giấy lệ đã khô giòng lưu niệm

Đừng khóc tôi ơi! Tình đã liệm
Người quên rồi… hãy để cố nhân vui.


Ngô Tịnh Yên

Ly Cà Phê Đầu Phố.

luutrongtuong

Ly cà phê đầu phố.
Dáng em vương cuối đường.
Sương vàng trôi trên lá.
Thấp thoáng bóng Thu sang .

Hương cà phê góc phố.
Thu tình tự khắp trời.
Dãy tường hoa trăn trở.
Ngại ngùng, tiếng Thu rơi.

Cà phê từng giọt nhỏ.
Nghe tách buồn đơn côi.
Sương Thu nhòa hơi thở.
Tình lạnh tràn mắt môi.

Khói cà phê lãng đãng.
Dáng em tan cuối trời.
Sợi nắng mềm ảm đạm.
Tình em vàng trong ta.

Hương cà phê thoang thoảng.
Màu Thu loang nhẹ êm.
Hơi Thu hòa gió loãng.
Phố buồn. Ta nhớ em.

Lưu Trọng Tưởng

Nỗi Buồn Mùa Thu

phamtinanninh

Có lẽ những chiếc lá mùa thu đã nhuộm vàng phần lớn thi ca nhân loại. Và dường như nếu không có mùa thu thì những cuộc tình sẽ không còn lãng mạn, thế gian này sẽ không có mặt của thi nhân. Ông Văn Cao đã khởi đầu sự nghiệp của mình bằng “Buồn Tàn Thu” để rồi cuộc đời của người nghệ sĩ tài hoa này cũng tàn theo Giai Phẩm Mùa Thu (trong Nhân Văn Giai Phẩm). Ông mất đi trong cảnh khốn cùng để lại cho đời một kho tàng âm nhạc quí giá, cùng sự thương tiếc ngậm ngùi và bao điều suy ngẫm. “Cây đại thụ” Phạm Duy phỏng theo một bài thơ Tây, phổ bản “Mùa Thu Chết”. Ở Việt nam ta, nếu “con nai vàng ngơ ngác đạp trên lá vàng khô” đã làm nên Lưu Trọng Lư, thì bên Tây “Les Feuilles Mortes” đã khắc sâu tên tuổi Jacques Prévert trong lòng những người mê thơ, yêu nhạc.

Riêng cái thằng vừa nhà quê vừa ít chữ như tôi dĩ nhiên không thể nào làm nổi một câu thơ và cũng chẳng mò ra được một nốt nhạc, vậy mà tâm hồn lại rất dễ bị đắm chìm trong những lời thơ tiếng nhạc – đặc biệt có Mùa Thu trong đó. Nhưng trong tất cả những tác phẩm có bóng dáng Mùa Thu trên thế gian này, cái bài làm tôi xúc động nhất, thuộc lòng từ thời tấm bé, không phải là thơ, là nhạc, của ta hay tây, mà lại là một bài văn xuôi rất… học trò của ông Thanh Tịnh.

“Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường. Tôi quên thế nào được…
Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh, mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp…”

Không biết ngày ấy ông Thanh Tịnh ở tận nơi đâu, mà sao cái cảnh ngày đầu tiên ông đi học giống tôi như đúc. Tôi cũng được mẹ nắm tay dẫn đi trên con đường làng Phú Hội, cũng vào một buổi sáng có (một chút) sương thu và gió lạnh.

Một năm sau mẹ tôi qua đời, bỏ lại tôi một mình đi trên con đường dài và hẹp đó với bóng dáng yêu dấu của bà. Rồi cũng một năm sau nữa, cha tôi đang dạy học ở trường Pháp Việt thì bị Việt Minh bắt đưa ra Liên Khu Năm làm “công tác xóa nạn mù chữ”. Tôi trở thành thằng bé mồ côi, phải về ở với ông bà nội. Mỗi ngày tôi vẫn đi trên con đường làng ấy, nhưng bây giờ tôi đến trường cùng một đám anh em bà con trạc tuổi. Sau này, trong đám học trò dưới mái trường làng ngày ấy có vài thằng lên núi đi làm… kách mệnh, có đứa sớm thành liệt sĩ; nhiều đứa làm quan làm lính cộng hòa, cũng có lắm thằng đuợc Tổ Quốc Ghi Ơn; đám còn lại là nông dân năm tháng soi mặt với ruộng đồng, nhưng cũng có thằng trở thành giáo sư, bác sĩ, lấy vợ rồi đóng đô luôn ở chốn thị thành, chỉ lâu lâu dắt díu nhau về thăm làng cũ.

Vậy mà cái tình đồng môn của thời thơ ấu đó lại keo sơn gắn bó đến không ngờ. Mấy ông nông dân có con cháu đi lính, được mấy ông bạn nhà binh nhận về đơn vị chở che, xuống thành phố đi học có mấy ông bạn thầy giáo hướng dẫn lo trường lo lớp, nơi ăn chốn ở; đau bệnh thì có mấy thằng bác sĩ chăm sóc thuốc men, xin vào nhà thương miễn phí. Mấy thằng làm quan lâu lâu về quê chở cả đám nông dân ra thành phố tập tễnh ăn chơi cho biết cái sự đời. Quân với dân còn hơn cả cá với nước.

Rồi đùng một cái, tháng 4/75, bão tố bất ngờ ập xuống, kéo theo cơn lốc đổi đời bi thảm: Mấy ông bạn trên núi nghênh ngang về nắm chính quyền, mấy ông nông dân vốn bao năm an nhàn với đồng áng bây giờ lại được mấy ông bạn chính quyền ưu ái lấy hết ruộng đất đưa vào hợp tác xã, giúp những thằng bạn cũ sớm trở thành vô sản, hầu cùng nhau “tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc” lên thế giới đại đồng (!). Mấy ông lính, ông thầy, ông bác sĩ tự dưng trở thành “những con nai vàng ngơ ngác”, cuốn gói về quê nương náu để đợi chờ số phận, lại được mấy ông bạn nông dân ngày trước cho gạo cho tiền, chí ít cũng đãi đằng được một chầu thịt gà rượu đế, tiễn đồng môn cũ đi vào “trường cải tạo”. Một ít vào trường sơ cấp, trung cấp trong nam, số còn lại được ưu ái ra trường cao cấp tận vùng núi rừng Việt Bắc.

Sau sáu, tám, rồi mười năm, thằng nào còn sống mang tấm thân tàn tạ ra tù, kẻ thì vượt biển, người thì đi diện HO, lưu lạc tha phương, bỏ lại sau lưng con đường quê, ngôi trường làng cũ với biết bao kỷ niệm êm đềm. Đất khách gặp nhau, chỉ còn biết vỗ vai an ủi:

Qua cơn mờ mịt binh đao
đứa còn đứa mất ba đào tang thuơng
Lạc loài trên chính quê hương
thôi thì gió cuốn mười phương cũng đành

Định cư xong, lo góp tiền gom bạc gởi về cứu đói mấy ông bạn nông dân, bây giờ đã bạc cả mái đầu mà còn trắng cả đôi tay. Còn mấy ông bỏ trường lên núi hồi còn son trẻ bây giờ phục viên về nằm nghỉ mát, mỗi ngày uống trà ngắm mấy cái “bằng khen”, mấy cái huy chương “dũng sĩ” treo tòn ten trên vách mà ngẫm nghĩ con đường cách mệnh đã bỏ gần cả một đời theo đuổi mà sao cái làng quê của mình vẫn cứ xác xơ và những bạn bè ấu thơ giờ thì đã chết hoặc điêu linh tan tác.

Rồi cũng vào một mùa thu, từ đất khách tôi về lại quê hương. “Mùa thu năm ấy tôi ra đi, mùa thu này nữa tôi… trở về”. Khoảng cách giữa hai mùa thu… vậy mà cũng đã hai mươi năm. Tôi về để tìm lại ngôi mộ của cha tôi được mấy người bạn tù chôn cất sơ sài trên núi bên ngoài trại cải tạo Đá Bàn. Ông đã chết sau hơn một năm bị giam trong trại tù này, cũng vào một ngày cuối thu ảm đạm. Tôi nhờ người cải táng, đưa ông về nằm bên cạnh mẹ tôi và ông bà nội trong nghĩa trang gia tộc.

Tôi đi một vòng thăm lại làng xưa. Cái làng Phú Hội của tôi một thời đông vui giàu có như cái tên gọi, bây giờ sao trở nên vắng vẻ điêu tàn. Đám bạn bè cũ bây giờ chẳng còn mấy đứa, thằng chết, kẻ ra đi, gởi thân khắp bốn phương trời. Hôm nay, tôi lại đi trên con đường làng cũ, vẫn con đường dài và hẹp mà ngày xưa mẹ tôi âu yếm dắt tay tôi tới lớp. Hôm nay cũng có nhiều sương thu và gió lạnh, tôi đi một mình trơ trọi, chỉ còn đâu đây bóng dáng, tiếng nói tiếng cười của đám bè bạn ngày xưa rì rào trong gió. Tôi chợt nhớ tới bài thơ của một ông bạn già thân thiết:

Tôi về đứng trước ngôi trường cũ
nhìn xuống làng xưa chạnh nỗi niềm
nhấp nhô những mái nhà rêu phủ
thương hải tang điền mấy biến thiên
Tôi về xuôi một giòng sông chảy
con nước vô tình lặng lẽ trôi
hiểu nghĩa cuộc đời đành không thể
hai lần tắm ở một giòng thôi
– Tôi về – có phải sông về biển
sao nghe từng con sóng não nề
như thể bây giờ là cổ tích
tôi về – chỉ gặp lại mình… tôi

Bây giờ nhờ tiền tài trợ của mấy ông tư bản, nên ngôi trường vừa được xây cất lại khang trang. Có lẽ học sinh cũng vừa mới tựu trường, nên cờ xí khẩu hiệu còn đỏ cả sân trường. Cái trường mang tên làng Phú Hội ngày xưa bây giờ đã được đổi tên thành “Trường PTCS Lê văn Tám”. Nhìn các em bé sắp hàng vào lớp mà lòng tôi cứ bâng khuâng. Không phải vì vừa mới tìm lại được bóng dáng của mình ngày trước, mà vì thấy thương và tội nghiệp cho các cháu học trò. Không biết mỗi ngày phải học thuộc lòng những bài “thơ trong tù”của bác, thơ “Khóc ông Lê Nin” của nhà thơ lớn Tố Hữu, có bao nhiêu em đã “từ ấy trong tôi bừng nắng hạ, mặt trời chân lý chói qua tim” (thơ T.H), và liệu các em có còn nhớ đuợc cái bài văn xuôi “hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc…” hồn nhiên và dễ thương của ông Thanh Tịnh mà thế hệ cha ông ai cũng nằm lòng? Các em có xót xa khi biết trường của các em mang tên “anh hùng Lê văn Tám” mà các em được dạy như là một tấm gương, lại là một người không hề có thật, mà chỉ là nhân vật trong phim truyện của đạo diễn Phan Vũ (xem Báo Thế Giới – Hà Nội số 39 (154) ngày 27.09.04 trang 22-23, website Talawas ngày 11.10.04 / Quang Hùng, đài BBC chương trình ngày 15.10.04)

Rồi mới đây bà Hiệu trưởng Trần Thanh Vân đầy quyền uy (dưới những ô dù) kéo theo một nhóm thầy cô vây cánh của trường chuyên Lê Quí Đôn nào đó ở “thành phố mang tên bác” thản nhiên lấy tiền đô la, làm hồ sơ ma nhận cả một đám học trò dốt nát, con cháu của những đại gia và các ngài quan lớn (trong đó có con trai của đồng chí chánh thanh tra sở giáo dục thành phố) vào ngôi trường chuyên một thời có tiếng.
Tội nghiệp, chẳng lẽ mới lớn lên, các em đã phải học những điều gian dối, và tương lai các em sẽ ra sao với một nền giáo dục và văn hóa “phong bì”?
Cũng may mà các em còn bé và ở tận một vùng quê, nên không biết nhiều về đạo đức của các nhà “mô phạm”, những “nhất tự vi sư bán tự vi sư” một thời được dân chúng trải chiếu hoa mời ngồi dưới mái đình làng.

Ngoài Hà Nội, có lẽ vì thành phố thủ đô trữ tình với mùa thu và hương hoa sữa, nên ông thầy già trưởng khoa Đỗ Tư Đông “khả kính” ở trường Cao đẳng Truyền Thanh Truyền Hình nhà nước “lấy điểm gạ tình” một số nữ sinh viên. Thầy chỉ cho điểm cao khi nào trò hoàn thành nhiệm vụ “trả bài” cho thầy trong khách sạn!
Dưới cái tỉnh Bình Phước mới toanh, nên thầy Lê Hoàng Sang, Hiệu trưởng trường Lê văn Tám (lại Lê Văn Tám!) cũng vừa làm một điều vô cùng tân tiến: bắt các cô giáo chưa chồng phải uống rượu cùng các quan lớn địa phương, bất kể trưa chiều hay trước giờ lên lớp. Nếu lỡ gọi các quan già bằng “chú” mà không phải bằng “anh” thì bị thầy hiệu trưởng nạt nộ đòi kỷ luật.
Mới đây trên đài BBC,  Tạ Phong Tần, cán bộ sở thuơng Mại Du Lịch Bạc Liêu, sau một khóa được đào tạo tại chức, đã công khai tuyên bố: “Không ít tiến sĩ, thạc sĩ là những người biết diễn đạt những điều đơn giản trở thành khó hiểu hoặc không ai hiểu nỗi.” (nguyên văn)
Cầu mong cho các em học trò nhỏ ở quê tôi không nghe được mấy cái tin “vui” này đăng đầy trên báo mỗi ngày, để còn thấy mùa thu trên quê nghèo vần còn một chút thơ mộng dễ thương.

Trước khi rời khỏi quê hương, tôi ghé lên thành phố thăm thằng bạn học cũ, trước tháng 4/75 là một giáo sư toán-lý-hóa nổi tiếng của một trường trung học lớn. Bây giờ ngồi bán thuốc lá ở vỉa hè. Con cái nó cũng đã nghỉ học từ lâu để lăn vào cuộc sống, nên mấy cái bằng cử nhân toán từ cái thời 63-64 chỉ còn cùng để… gói thuốc lá. Bỗng dưng tôi nhớ tới bài thơ của một ông nhà thơ nào đó trong nước mà lòng thấy ngậm ngùi.

“Thầy có nhớ con không…?”
Tôi giật mình nhận ra người đàn ông áo quần nhếch nhác
người đàn ông gầy gò ngồi sau tủ thuốc ven đường.
“Thầy còn nhớ con không…?”
Câu lặp lại rụt rè rơi vào im lặng
hoa phượng tháng Năm rơi đầy vỉa hè
rụng xuống trên vai người thầy học cũ
“không… xin lỗi.. ông lầm…
Tôi chưa từng dạy học
Xin thối lại ông tiền thuốc… cám ơn!”
Cuộc sống cho ta nhiều quên, nhớ, vui, buồn
Thầy học cũ mười năm không lầm được
Thầy học cũ ngồi kia giấu mình sau tủ thuốc
giấu mình sau hoa phượng rụng buồn tênh.
Con biết nói gì hơn, đứa học trò tôn sư
người Thầy cũ lại chối từ kỷ niệm,
chối từ những bài giảng dạy con người đứng thẳng,
biết yêu anh em – đất nước – xóm giềng.
Đứa học trò vào đời với trăm nghìn giông bão,
Bài học ngày xưa vẫn nhớ mãi không quên.
Bên hè phố im lìm,
vành nón sụp che mắt nhìn mỏi mệt.
Câu phủ nhận phải vì câu áo rách
trước đứa học trò quần áo bảnh bao?
Tôi ngẩn ngơ đi giữa phố xá ồn ào,
những đứa trẻ con tan trường đuổi nhau trên phố.
Mười năm nữa đứa nào trong số đó,
sẽ gặp thầy mình như tôi gặp hôm nay?
( ĐỖ TRUNG QUÂN, Có Một Chiều Tháng Năm)

Ngày rời khỏi quê hương, ngồi trên máy bay nhìn xuống, mùa thu Sài gòn không có lá vàng rơi, cũng không có con nai vàng nào ngơ ngác, mà sao tôi thấy như vàng cả không gian, ảm đạm cả đất trời. Tôi bỗng ngộ ra một điều ngộ nghĩnh: Đâu phải chỉ có mấy ông nhà thơ, mấy ông nhạc sĩ mới nhuộm buồn được mùa Thu, mà có những “đỉnh cao” đang ngự trị trên quê hương tôi, dù chẳng có một chút xíu tâm hồn nào, có khi không có cả quả tim, cũng có thể làm cho mùa thu quê tôi… buồn chết được.

Phạm Tín An Ninh

NÍU LẠI CHÚT XƯA

hoangvancham

Chút lòng gần
Níu chân xa
Đêm sâu níu bóng
Phôi pha mộng thường.

Từ em khuất một ngàn phương
Nghiêng đời lối cũ phấn hương hao gầy.
Ngọt bùi chia cuộc sum vầy
Chiều đưa luân lạc vơi đầy mắt môi.

Nâng chiều em thả tinh khôi
Như thương tóc gió một thời hương mơ.
Nâng tay em níu đôi bờ
Giọt ngâu rơi níu em chờ mùa hoa.

HOÀNG CHẨM

ĐỪNG TRÁCH BIỂN

khuatdau

Đừng trách biển xin nhớ đừng trách biển
sóng trùng dương cũng là sóng lòng tôi
nước biển mặn nước mắt tôi cũng mặn
biển bạc đầu thì cũng bạc đầu tôi

Thuyền be bé lá tre mỏng mảnh
đạn rào rào bắn đuổi sau lưng
biển nghiêng nghiêng hết mấy từng
hứng bao nhiêu đạn xé lòng quặn đau

Đừng oán biển nhớ đừng oán biển
Thái Bình dương cũng nghĩa trang dương
nấm mồ lớn của quê hương
mây đùn trắng giải khăn tang ngút trời

Những mẹ tôi và những chị tôi
những anh tôi và những em tôi
những thuyền nhân bị người xua đuổi
nổi bập bềnh trên sóng chơi vơi

Gió mang lên trời khát vọng
sống
biển ôm vào lòng nỗi chết
đen
chỉ còn lại chút xương trên cát
long lanh buồn xá lị của ai

Chiều nay có tôi ngồi bên biển
nghe gió trùng khơi nói tiếng người
trông thấy mây chiều dài như tóc
thả xuống đại dương những sợi buồn

Nghìn năm sóng vỗ biển ơi
điệu ru nước mắt khóc người ra đi
nghìn năm biển vẫn thầm thì
rằng xưa đã có cuộc di cư buồn
bao nhiêu đá ở sườn non
cũng đều đứng ngóng như hòn vọng phu
bao nhiêu giận bấy nhiêu thù
chỉ chờ tiếng sấm phất cờ mà lên
Việt Nam tiếng sấm vang rền.

KHUẤT ĐẨU

ĐÁNH ĐỔI

nguyenthaibinh

Bạn trầm ngâm nói: “ Nếu chọn nơi hẻo lánh, tốn khoản một trăm năm mươi ngàn. Tao tính rồi, với ba đứa nhóc, tiền trợ cấp của chính phủ đủ để cả nhà chi phí, kể cả tiền thuê nhà. Đợi hết hạn cư trú bắt buột hai năm sẽ tính tiếp”.
Từng là chuyên gia hàng đầu về công nghệ thông tin, đối tượng bị săn đầu người. Tài sản của bạn nếu nhìn thấy được cũng không phải là ít, trị giá triệu đô. Hiện đang làm nông nghiệp tri thức, khá thành công, thu nhập hàng tháng cỡ trăm triệu.
Hai vợ chồng người thân trong gia đình, năm ngàn trụ thanh long, xe hơi, nhà cửa rải rác năm bảy cái, thợ thầy trong nhà cả chục người, con cái học hành tốt, cuộc sống tạm gọi là sung túc.
Chị thản nhiên: “ Qua đó, tao học và đi làm nail , ổng đi làm hãng, nghe nói cũng nhàn chứ không có vấn đề gì”.
Danh sách những người quen biết có ý định hoặc đang tìm cách rời đi ngày càng nhiều,tăng dần theo thời gian. Toàn là những người có chút thành đạt trong cuộc sống, tạm gọi là thuộc tầng lớp trung lưu của xã hội hiện tại.
Điều gì khiến họ đánh đổi cuộc sống nhàn hạ và đẳng cấp xã hội hiện tại để chọn những khó khăn thấy được trước mắt nếu không là vì con cái.
Họ không muốn nhìn thấy con cái mình nhiễm độc vật chất qua đường ăn uống, hít thở , vui chơi, nhúng mình trong cái bầu không khí đặt quánh chất độc hại và sự vô cảm này.
Họ không muốn con cái mình nhiễm độc trí não bởi những bài học nhãn tiền, khi tiếp xúc với cái xã hội xô bồ ngoài kia . Họ muốn con cái mình cách ly với cái định dạng giáo dục vong bản , te tua , sửa hoài không hết lỗi mà họ đã, đang hay từng là nạn nhân.
Có gì buồn hơn khi biết trước mình sẽ từ ông chủ sẽ trở thành culi, hay từ người trí thức trở thành anh rửa chén.
Có gì đau đớn hơn phải ly hương, rời xa quê cha đất tổ, ngơ ngác và làm lại từ đầu nơi đất khách quê người.
Có người nói họ dại. Có thể đúng nhưng cũng có thể sai, tùy. Nhưng chắc chắn họ là những người tử tế và đáng khâm phục ở sự hy sinh.
Họ đã dám vì những giấc mơ đẹp trong tương lai của con cái mà đánh đổi, nhận về mình những cơn ác mộng có thể có và được báo trước trong hiện tại.
***
Mấy hôm nay, vụ cá biển chết ở miền trung chấn động dư luận Việt. Dân tình hoang mang và phẫn nộ cực điểm.
Nhưng cũng có một số ý kiến cho rằng, muốn phát triển kinh tế thì phải có sự đánh đổi về sự tàn phá môi trường, miễn sao giảm thiểu ở mức độ thấp nhất. Họ dẫn chứng rằng các nền kinh tế lớn trên thế giới như Mỹ , Nhật, Trung Quốc và các nước Châu Âu đều trãi qua tình trạng như thế.
Ô hay! Làm gì có sự chấp nhận đánh đổi quái dị và tàn độc như thế nhỉ?
Giã sử như có một người nói sẽ cho bạn 1 tỷ đồng, đổi lại bạn phải cho con cái mình ăn cái bánh, mà trong cái bánh ấy có chứa đựng nguy cơ 1% là con bạn sẽ bị bệnh. Là bậc làm cha mẹ, bạn sẽ xử trí thế nào với lời đề nghị trên? Nên nhớ là con cái bạn ăn chứ không phải bạn nhé!
Cái gì cũng có cái giá của nó. Cái giá của nước Việt sau nhưng năm tháng dài triền miên chiến tranh, nồi da xáo thịt là sự tụt hậu về kinh tế so với các nước khác không có chiến tranh.
Các nước phát triển trước thì lại trả giá bằng những sai lầm làm tác hại đến môi trường sống, thậm chí cái giá phải trả là sinh mạng của con người.
Việt Nam là nước đi sau, chúng ta có đầy đủ cơ sở thực tiễn , thông qua rút kinh nghiệm từ các nước khác bằng những quy chuẩn giấy trắng mực đen để không mắc phải sai lầm, làm tổn hại đến môi trường, qua đó tác động đến sức khỏe, sinh mạng của chính chúng ta và con em chúng ta.
Mọi sự tác động xấu đến môi trường lúc này, nếu xảy ra chỉ có thể là sự thậm thụt của những bàn tay bẩn, của sự tham lam đến tận cùng độc ác, của sự tha hóa quyền lực chứ hoàn toàn không phải là sự đánh đổi.
Không một con người có lương tri nào lại có thể đem đánh đổi sưc khỏe, sinh mạng của con em mình để lấy bất cứ thứ gì khác. Chứ đừng nói đến đánh đổi để lấy một sự phát triển đầy viễn vông và không tử tế.
Nói một cách khiêm tốn nhất, tôi chọn gia đình mình và sẽ không dùng họ để đánh đổi bất cứ một thứ gì khác.
Tôi chọn Tôm Cá, nếu bắt buộc tôi phải chọn nó với ô nhiễm môi trường ở bất cứ cấp độ nào.

4/5/2016
NGUYỄN THÁI BÌNH

THÁNG NĂM HOA TÍM LẠI VỀ

nguyenanbinh

Tháng năm bằng lăng lại nở
Con đường tím bước chân ai
Nắng ơi đem theo làn gió
Mùi hương một thuở thương hoài.

Tôi như chim hoang bỏ núi
Rong chơi giữa chốn đồng bằng
Bỗng đâu người dưng rất lạ
Vô tình chịu cảnh trói chân.

Từng chiều mưa sao dai quá
Đường xa chẳng thấy em về
Sợ gần em nghiêng mặt lại
Tỉnh tuồng giả bộ nhà quê.

Cuối mùa chồi non nẩy lộc
Từng chùm quả nỏn xanh tơ
Tình tôi sao không kết nụ
Người xa nên nỗi dại khờ.

Tháng năm nhớ tà áo trắng
Một thời trốn gió bâng khuâng
Ai thương đỏ màu phượng thắm
Riêng lòng tôi tím bằng lăng.

NGUYỄN AN BÌNH

Những kẻ thất lạc

nguyendanhlam

Xe ngang chừng dốc thì dừng lại. Ngồi yên một lúc rồi bác tài ngoảnh ra sau:
– Xin lỗi, bà con xuống ít phút. Có thể đi vệ sinh… Có tiếng nhốn nháo: Dừng bao lâu đây? Một tiếng khác, có vẻ rành: Hư thế này, không khéo tới tối.
Anh quảy cái ba lô, nhảy xuống lòng đường. Nắng run trên mặt nhựa. Xung quanh trống hoác. Một sắc cỏ khô vàng, nhòe tận chân mây. Dòm xuôi dốc, thấy có bóng cây, một mái lá, anh quyết định thả bộ về hướng ấy. Tuy khá xa, nhưng còn hơn ngồi chịu trận ở chỗ này. Anh rất dị ứng với cái nóng. Xe sửa xong sẽ đổ thuận chiều, sẽ nhảy lên, chẳng sao. Anh quay bảo gã lơ:
– Tôi xuống cuối dốc, kiếm nước uống. Lát đi ngang bấm còi kêu giùm.
Hơi nóng hất lên từ mặt đường khiến anh sa sẩm. Lâu lắm rồi anh chưa lội bộ trong tình trạng nắng gắt như thế này. Anh quờ tay xuống bụng, thấy da mình lạnh ngắt. Mới có mấy năm, tất cả đã bệ rạc đi nhanh chóng. Cơ thể dường như không còn hòa hợp với xung quanh nữa. Hơi thở anh từ mũi tụt dần xuống hai đầu gối, khiến nó run lên bần bật.
Thật may, đã tới quán. Có cả võng, vài chiếc ghế bố. Anh lựa góc ngồi xuống, đưa tay vét những giọt mồ hôi quanh cổ. Có giọng nói từ chái sau vọng lên:
– Có khách, lên coi người ta mua gì kìa.
Thay cho câu trả lời, là tiếng chậu thau va đổ, tiếng con nít khóc ré lên. Lặng im lúc nữa. Một bà già tay cầm quạt đi vào. Anh gọi chai nước ngọt. Bà già với tay lên cái tủ gần đó, quơ chai nước, đặt trước mặt anh, thêm cái mở nắp chai. Chai nước có dung tích dễ đến nửa lít, bên trong chứa một chất lỏng vàng vàng. Anh đoán là nước cam.
– Bà cho con ly nước đá.
– Ở đây không có đá.
Anh chỉ nghe được thế, không có thêm gì khác. Anh mở nắp, dốc ngược chai, hơi ga ộc ngược cuống họng, đắng ngắt. Anh phun búng nước ra nền. Một đám bụi bốc lên từ chỗ vệt nước, một đám ruồi phóng ào lên một lượt, và ngay lập tức, hàng chục con khác lại lấp vào.
Coi như mua một chỗ ngồi. Anh duỗi mình, úp cái nón lên mặt, đám ruồi lập tức bò rơn rơn mu bàn tay. Những vệt mồ hôi chảy sau cổ gây cảm giác nhột nhạt khó chịu. Anh lại cất mình dậy, ngoảnh qua khoảng liếp trống phía sau, nhìn thấy cái giếng. Bên giếng, là bóng một người đàn bà. Anh lục ba lô, tìm chiếc khăn.
Lúc anh bước vào, người đàn bà cũng vừa rời giếng nước. Anh liếc ngang khoảng lưng, dáng đi…
– Chị làm ơn cho xin miếng nước rửa tay!
Người đàn bà đã bước vào đến chái bếp, ngoảnh mặt lại:
– Ông cứ lấy xài.
Anh giật nhoàng người, suýt chút nữa đã buông tiếng “Em” nhưng lập tức kịp kềm lại.
Vục mặt vào cái khăn đến mấy chục giây, anh phà ra một hơi thật mạnh. Không, không thể nào! Chỉ là một phiên bản trùng lắp. Hé mắt ra, anh nhìn vào khoảng bếp, thấy thấp thoáng một bóng trắng. Rõ ràng cô ta đã nhìn thấy anh mà chẳng hề phản ứng gì. Nhưng… biết đâu… Hình dung anh đã thay đổi quá nhiều, mái tóc, cách phục trang, cả tướng tá cũng đã trôi ra ngoài hình dạng cách đây mấy năm…
Anh cố ý rửa thật kỹ mặt mũi, cả hai cánh tay, khoảng lưng đẫm mồ hôi cũng được cái khăn mát lạnh lùa vào. Bóng trắng khi nãy đã khuất hẳn phía sau bếp.
Anh nhắm mắt, cố ghì hai chân xuống mặt đất, trong khi chúng tiếp tục run. Khoảng lưng ấy, mái tóc ấy… không thể là người khác… Duy có đoạn hông đã hơi bè ngang. Xương chậu phụ nữ là nơi có thể thay đổi dễ thấy nhất trên cả cơ thể. Sau khi sinh nở, chúng có hình chữ nhật, chứ không phải hình thang cân như thuở con gái. Mà rõ là cô ta đã có con, cái tiếng khóc óe lên khi nãy.
Anh thẫn thờ trở lại ghế ngồi, đầu ráng ngoảnh đằng sau. Như trêu ngươi, khi anh vừa buông mình xuống ghế, người đàn bà lại trở lại giếng nước. Anh kéo ghế, xích ra một đoạn, điều chỉnh sao cho thuận hướng nhìn nhất.
Anh nhớ rõ từng cọng lông mày, mỗi đường cánh mũi, những gợn môi. Bao đêm rồi, tất cả cứ hiển hiện. Giờ thì chúng đấy, ngay trước mắt anh, tuy hơi thấp thoáng. Chỉ có nước da là hơi khác… Có lẽ nào?
Cánh cửa bên hông quán kẹt mở khiến anh giật mình. Bà già khi nãy xuất hiện, vẫn cái quạt phe phẩy.
– Bà ơi, bà đến ở vùng này lâu chưa?
– Có ở đây đâu. Nhà chỗ khác. Chỗ này mướn cất quán…
– Bán được không bà?
– Thì ông thấy đó.
– Bà ở đây một mình sao? Vắng vẻ thế này…
– Còn con trai, dâu, cháu – Bà già thở ra một tiếng, buông mình xuống cái võng gần đó.
Vậy là anh có thể khẳng định “người ấy” đã yên phận chồng con. Nhưng bà già đang nằm kia, đu đưa cánh võng, quạt úp bụng, hai mắt khép hờ. Anh chẳng thể nối dài thêm câu chuyện cho đến khi tìm được những thông tin khả dĩ, cũng chẳng thể đường đột quay lại giếng nước, càng không thể gọi tính tiền để buộc cô xuất hiện. Ánh mắt anh càng rụt rè hơn trong những cái ngoái nhìn về phía giếng.
Con đường trước mặt vẫn ngút dài trong nắng. Phía xa, ngược chiều với chỗ xe anh dừng xuất hiện một chấm đen. Tiếng nổ xe máy đinh tai từ khoảng cách cả cây số. Chiếc xe tấp vào quán. Gã đàn ông đen nhẫy nghiêng người gạt chống, uỵch từ trên xe xuống một cái bao.
Bà già cất mình khỏi võng, lơ đãng ngó ra, rồi lại thả mình xuống. Gã đàn ông văng một câu chửi thề, kèm theo tiếng quát to:
– Bộ đui hay chết hết trơn rồi hả, sao không ra phụ một tay?
Như phản xạ, anh đứng dậy:
– Để tui phụ anh.
Gã đàn ông hất một cái nhìn sang phía bà già:
– Ông này ở đâu ra vậy?
– Khách thôi…
– Khách thì ngồi đó đi…
Anh lóng ngóng ngồi xuống. Vừa lúc ấy, thiếu phụ bước lên.
– Biến đâu nãy giờ, bộ không nghe người ta về sao?
– Tui đang kẹt…
– Kẹt cái gì cũng quăng đó – Lại nối tiếp một tràng những tiếng chửi tục.
Anh không kềm được cái nhìn trực diện về phía người đàn bà. Trong khi hướng mắt cô ta lại là cái bao nửa nằm dưới nền, nửa trĩu trên tay gã đàn ông.
Hàng trăm hình ảnh chồng lên nhau, nhòe đi như những bản in bị lỗi. Quá khứ – hiện tại, xác định – hồ nghi… Bàn tay ghì chặt thành ghế, anh như ngất đi trong tích tắc. Tiếng chân huỳnh huỵch về hướng nhà sau. Vẫn những chuỗi chửi thề tục tằn.
Anh ước sao ngay khoảnh khắc ấy được nghe tiếng còi xe toe lên trước quán, để lên đường ngay tức khắc. Một cái gì đó trào lên ngang ngực. Sự tổn thương? Sự tan rã? Anh nghĩ mình đang lên máu. Để lại chiếc ba lô chứng tỏ mình chưa rời quán, anh bước ra khoảng sân phía trước. Bóng cái xe vẫn câm lặng trên sườn dốc. Lốm đốm vài bóng khách.
Quang cảnh như thể siêu thực. Bốn phía chói chang, dựng ngược. Ngôi quán kỳ lạ hệt một tảng thiên thạch vừa rơi xuống từ vũ trụ. Anh còn thức hay đang mơ? Chuyến xe kia từ đâu đến, và sẽ đưa anh về đâu? Tại sao anh lại hiện diện ở chốn này?
Những vệt nắng như đổ ngược từ sườn dốc xuống, cuốn quanh chân anh tựa một dòng suối. Mồ hôi lạnh ngắt cứ nhỏ dọc sống lưng, vài đốm đen nhảy nhót, lửng lơ trước nhãn cầu. Anh có cảm giác mình sắp rơi vào sự cố nguy hiểm cho sức khỏe…
Lựa chọn sáng suốt nhất là ngay lập tức quay lại chỗ ghế bố. Anh buông mình xuống ghế. Da thịt òa ra tứ phía. Anh nhắm mắt, đắp cái khăn ướt lên mặt. Trong khoảnh khắc bồng bềnh, anh nghe có tiếng cãi vã ở nhà sau. Giọng cộc cằn chát chúa của gã đàn ông. Những lời phân bua, rên rỉ trách cứ của người đàn bà.
Không thể nhầm lẫn được, ngay cả giọng nói ấy, hình như có khàn đi tí chút, nhưng vẫn là của cô. Chỉ có thể là cô. Lắng qua ký ức anh, cái âm rên rỉ kia chùng xuống thành thủ thỉ. Xa ngút mà gần gũi. Đau đớn mà dịu êm. Cô đã nhìn ra anh chưa? Anh tin, dù chỉ một cái liếc mắt của cô, anh vẫn thu được, ngay cả những phản xạ nhỏ nhất. Nhưng anh vẫn không dám chắc là cô chưa hề nhìn ra anh. Một người khách lạ bỗng xuất hiện trong cái quán nhỏ này, đâu phải là việc hay xảy ra… Anh sừng sững đứng đó, lẽ nào cô chỉ chú mục vào cái bao hàng và gã chồng?
Nhưng anh nhận ra mình đã ngồi khá lâu, nên lại đảo mắt vào tủ hàng. Chẳng còn gì có thể mua ngoài mấy gói thuốc rẻ tiền. Anh không hút, nhưng vẫn gọi một gói, để sẽ quăng đi chứ không thể cứ tiếp tục ngồi ỳ ra thế này.
Không phải cô, lại vẫn bà già xuất hiện. Sau khi lấy gói thuốc cho anh, bà hỏi anh có cần diêm. Anh lắc đầu, cảm ơn, tìm cách gợi lại câu chuyện.
– Cái anh hồi nãy là con bà phải không?
– Nó đó chớ ai. Trời cho có một mình nó. Hồi nhỏ cưng quá, lớn chẳng ra làm sao. Tưởng cưới vợ về, lo chí thú làm ăn, thì khá được, vậy mà nghèo cũng cứ nghèo. Tiền bạc có bao nhiêu đưa hết cho nó… Bà già nửa như nói với anh, nửa như độc thoại.
– Vợ anh ấy hình như không phải người ở đây?
– Thì vậy đó…
Những câu nói của bà già cứ như treo trước anh một quả bóng. Anh dồn sức đấm vào, nó lại bật sang hướng khác. Bà già tiếp tục rơi vào trạng thái lơ mơ. Anh nhón chân ngồi dậy, nhìn ngược về hướng chiếc xe. Nó vẫn còn đấy.
Cô lại hiện ra bên giếng nước, tay cắp cái thau. Anh ngồi thụp xuống ghế, ghé mắt qua khe liếp. Cô nhướn người kéo sợi dây gàu. Một khoảng lưng lộ ra, trắng run dưới nắng. Đây mới đích thực là làn da thuở ấy. Tháng ngày, bao thăng trầm, thay đổi chỉ có thể làm sạm đi duy nhất gương mặt cô… Anh càng tin chính là cô đang ở bên mình…
Cô đổ nước, vớt những bộ quần áo nặng trịch, đen đúa ra. Hai cánh tay chống vào cái thau, đỡ cả khoảng lưng trĩu nặng. Mắt anh nhòa đi.
Bóng gã chồng lảng vảng. Vẫn những tiếng hậm hực, lầm bầm. Anh làm sao có thể bước lại bên giếng mà hỏi chuyện cô trong tình cảnh thế này?
Thời gian nặng trĩu trôi qua cái bóng cây cứ dài dần ra trước cửa quán. Đã hơn hai tiếng đồng hồ, kể từ khi anh rời khỏi xe. Đúng là tiến thoái lưỡng nan, anh không thể nào rời mắt khỏi cô, nhưng cũng không có lý do để nấn ná thêm được nữa. Mà chẳng lẽ quay trở lại xe, ngồi dưới cái nắng cong người và chờ đợi chẳng biết đến lúc nào… Anh định gọi thêm chai nước nữa, nhưng lại nhìn thấy chai kia còn bỏ dở trên bàn, ruồi bu đen. Anh chưa hề đụng đến nó, từ ngụm đầu đắng ngắt.
Anh ỳ câm, thiêm thiếp, ráng rũ khoảng bồng bềnh trong trí óc. Có lẽ hãy nghĩ về công việc ngày mai, thứ công việc đã nhồi anh suốt bao năm. Anh đã ném mình vào đó và tất cả rã ra từng mảng, tan chảy, trôi đi cùng thời gian, cuốn theo cả linh hồn cả thể xác…
Cô vẫn hì hục cùng thau quần áo. Có lẽ đây là thứ công việc của ngàn ngày. Giữa cái nơi quạnh vắng, hoang vu bát ngát này, phải định nghĩa cuộc đời cô là gì? Ngẫm vậy chứ đời cô thì có mấy khác anh? Giữa anh và cô, nếu thực đấy là cô, có những tương đồng đầy hài hước, đắng cay về ý nghĩa cuộc đời. Cái tương đồng ấy trôi song song qua một hố thẳm ngay giữa, không cách gì bồi lấp…
Có tiếng máy xe ỳ lên phía đầu khoảng dốc. Trái tim anh như bị ai bóp nghẹt. Một cuộc chia tay? Có đúng là lại một cuộc chia tay? Hay người đàn bà trong kia chỉ là một sản phẩm của ảo giác. Cả vụ hỏng xe, cả ngôi quán này, đều là sản phẩm của một cuộc đào thoát ngắn hạn khỏi hiện thực quá nhàm chán bởi chính linh hồn? Và anh đang bập bềnh trong giấc mơ giữa một cơn say?
Điều ấy vẫn xảy ra. Ngay cả cô của ngày xưa cũng chỉ là một âm bản, một nửa của chính anh thất lạc mà anh mãi mỏi kiếm tìm… Anh lìm lịm với những ý nghĩ ấy trong khoảng thời gian để chiếc xe trôi từ lưng dốc xuống cuối dốc.
Và giờ nó đã đến, thật rồi. Còi toe lên. Bóng gã lơ đu cửa, đập thình thình vào thành xe những tiếng ầm ầm như có láy âm:
– Lên xe, lên xe! Nè, ông kia, ngủ rồi hả?
Anh muốn cất mình khỏi ghế mà không sao nhúc nhích được. Bóng cô nhòe đi trước mắt. Anh thèm lao lại, siết chặt hình thể ấy trong tay, vùi mặt mình vào gương mặt ấy, hứa định một thời điểm trở về…
Anh cầm ba lô, bước lùi ra khỏi quán sau khi ném vội lên bàn tờ giấy bạc. Bà già hiện ra, nhìn tờ bạc trên bàn và ông khách đang thất thần lùi khỏi quán bằng ánh mắt ơ hờ.
Chiếc xe trôi chầm chậm. Anh nhào lên, tay vít cửa xe. Bóng cô từ giếng nước bỗng lao vụt vào nhà trong. Từ mé ấy, một đứa trẻ chạy chúi về phía cô. Gã đàn ông lăm lăm cây roi trên tay, quất nháo nhào theo sau con bé. Cô gào lên, ôm con bé vào lòng.
Trong khoảnh khắc cuối cùng, anh thấy gã đàn ông vung roi. Cô đưa tay ra đỡ. Bàn tay xòe lên trong không khí với năm ngón cong oằn.
Anh thét to một tiếng, tay bưng ngực, ngã chúi vào người gã lơ. Những ánh mắt trên xe dồn cả lại.
– Ông ấy bị sao đó?
– Trúng gió, hay là cảm nắng… Trời nắng thế này… Có ai giúp một tay?
Xe xuôi hết dốc. Nó phải chạy bù cho khoảng thời gian đã mất khi phải dừng lại sửa.
Chiều xuống dần phía đồi núi mênh mông…

NGUYỄN DANH LAM