TỪNG NGÀY. CỦA CHÚNG TA

chuthuynguyen

tôi đón
tháng mười lẻn vào nhà
như đứa trẻ làm điều xấu hổ sợ bị bắt gặp
mảng tối duy nhất nơi góc nhà
còn vướng lại sợi tóc mai
và chuyện kể của những người lớn
về cánh đồng những cánh tay thiếu phụ
về những bước chân thấp
chân cao
những bước thiếu phụ đầu bù tóc rối
mắt đã thất thần
chạy theo đoàn xe nối đuôi nhau về phía rừng già

tôi đón
cơn mơ lẻn vào giấc ngủ
những bước chân sưng phù
lở loét
bên các song sắt vô hồn
cầm tù những trái tim khô dần
bởi luôn vắt kiệt đến từng mạch thở tuyệt vọng
tôi chán ghét tiếng chim “ bắt cô trói cột “
tôi mơ tự do cho từng búp nơ xanh
tôi chán ghét sợi xích thừng choàng qua cổ họng mình

tôi đón
em lẻn vào dưới mái hiên
nhưng buổi trưa giờ nầy đã thưa thớt mùi cám mới
bữa mai ?
và từng giọt mồ hôi chợt lạnh
khuôn mặt trẻ luốc lem thất học
bàn tay đen nhẻm gầy đét cố nắm thật chặt vốc cơm khô
bụng đã lép kẹp trơ xương nhưng bé vẫn chưa ăn vội
chốc chốc lại nhìn nắm cơm như thứ của để hiếm hoi
bé so vai lạnh
nhìn những tán lá ngoài kia từng giọt sương rơi
như nước mắt ai ngậm ngùi …

Chu Thụy Nguyên

CHẤT XÚC TÁC

phudu

Việc cô bồ hắn đi Mỹ không phải là biến cố khác thường gì có thể làm đảo lộn cả tâm hồn êm ả của hắn vì lâu nay hắn là người sống theo đạo lý tĩnh lự điềm nhiên của Lão Trang = được pha chế thêm tinh thần khắc kỷ hiện đại đồng thời một chút gia vị lang thang của dân hippy bên trời Tây = nhưng dù sao hắn cũng phải để cho lòng mình có đượm vào một ít bâng khuâng nhung nhớ và buồn rầu ngơ ngẩn các cái để tỏ ra mình là một con người đa sầu đa cảm, có thủy có chung, vân vân. Và muốn cho tình cảm được tràn trề lai láng, hắn cần phải tìm một cái gì đó để gợi hứng, đặng dễ dàng bày tỏ nỗi u hoài. Một chất xúc tác à? Cái gì nhỉ? Hắn nghĩ mãi vẫn không tìm ra phương thuốc nào diệu dụng. Xem thử nào! Lang thang dưới biển à? Thôi đi! Trời đang mùa hè, ông tướng ạ. Khùng khịu gì mà phải đắm mình dưới cái nắng lửa ngùn ngụt ấy? Lại đi cho rạc cẳng sái chân ra nữa! Hứng ở đâu mà gợi lên được chứ? Thế thì vào quán cà phê? Hừm, chả dám, không ổn! Quán xá bây giờ chật ních cả người lẫn nhạc. Nhạc rock kim loại chật ơi là chật, nghe đến chan chát cả lỗ tai lẫn con tim, nhạc Việt thì toàn nhạc hải ngoại ấm ớ, mà thịnh hành nhất, hăng nhất là mấy cái giọng sướt mướt ỏng ẹo của các ca sĩ đực C. L, T. A, ngán! Nhạc Việt trong nước thì cũng sàn sàn  những giọng lên gân lên cổ của những Quang, Quang, Quang gì gì rồi Trường, Trường, Trường gì gì nghe phát mệt! Khách vào quán cà phê nhiều anh ăn bận trông phát ớn, thùng thình lảng kảng bắt mệt con mắt. Tóc đầu đinh, tóc dài, ióc…trọc. Con gái chủ trương bận càng hở càng hay cho thiên hạ tha hồ nghía! Lại thêm cái mốt đội mũ chỉ trơ có cái vành, để mỗi mái tóc xù trông thật phi thẩm mỹ. Thôi chịu, không có hứng khởi gì được khi vào chịu khổ hình trong mấy cái quán cà phê mốt mới. Vậy thì về nhà, lên gác, đóng cửa lại, ngồi bên cưa sổ nhìn mây lang bạt một phương trời mà hoài niệm về Phương Tiên, ôi, Phương Tiên yêu dấu vô vàn. Chà! Cái này coi bộ đặng đó, Thoái à! Coi thử. Chậc! Cũng không ổn nữa rồi! Mấy thằng em hiện giờ đang bắt đầu chơi nhạc cho mấy em thiếu nhi Gia đình Phật tử để trình diễn giúp vui trong dịp lễ Thích Ca Thành Đạo sắp tới. Thôi, có mà khổ với họ! Tai nghe bản Trầm Hương Đốt hay Ánh Đạo Vàng mà hồn lơ mơ nghĩ đến Phương Tiên thì trống đánh xuôi kèn thổi ngược rõ ràng! Phải tìm chất xúc tác cảm hứng, đồng thời với một khung cảnh vắng vẻ, khả dĩ không gây ảnh hưởng đến môi sinh tập trung định lực. Chất xúc tác cảm hứng hả? Lấy đâu ra? À! Thuốc phiện? Rượu? Đề xuất thứ nhất bị gạt bay ngay ra khỏi ban tham mưu sọ não. Rượu! Chỉ có rượu là hắn còn có đủ gan mật để sờ vào chứ thuốc phiện thì hắn chả ham mà còn sợ nữa là khác! Rượu thì thảng hoặc trong những buổi lễ tiệc chiêu đãi đại loại các kiểu xã giao kia, hắn cũng có uống tí đỉnh cho phải phép, và hắn cho rằng rượu không đáng sợ. Hắn ngồi định thần, cố nghiệm lại lần nữa cho chắc ăn. Ừ, rượu vài chung lếu láo thì chẳng ăn nhằm gì đâu. Báo chí người ta phê phán châm chích mấy ông bợm rượu, còn mình thì chỉ mượn rượu để tìm chất xúc tác mà phô diễn tâm hồn trăm nhớ ngàn thương về giai nhân Phương Tiên kiều mỵ mà thôi. Mà nào có phải là sỉn tảng gì đâu? Ừ, phải! Chả sao cả! Ba cốc đế là đủ thấm men nồng. Hắn chưa uống rượu đế lần nào, chỉ toàn rượu nếp than, mà cũng chưa có lần nào uống đến ba cốc. Phần lớn ở những bữa tiệc cưới hay tiếp tân thì chỉ rặt bia lon hay bia hơi. Lần này phải uống đế, nghe nói dễ mau bốc. Rượu nếp than uống ngọt sợt, chỉ dành cho cánh phụ nữ. Mình muốn mau đạt hiệu quả xúc tác thì chỉ cần tìm đến một cái quán cóc vắng vẻ nào đó, gọi một ly, à không, một xị đế rót vừa đủ ba cốc, thế là đủ lâng lâng để trôi dạt lòng ta vào cõi tình nùng diễm chừ đã xa biền biệt.

Thế là hắn quyết định đi uống rượu. Hắn lang thang trên các con đường nhỏ ở mạn phía nam thành phố, vốn thường có các quán cóc bình dân bán rượu gạo rượu thuốc các loại. Hắn đi qua đi lại, đi tới đi lui, đi ngang đi dọc năm lần bảy lượt ở khu xóm máy nước mà vẫn chưa tìm ra được một khung cảnh nào có thể đáp ứng được nhu cầu và nguyện vọng chính đáng của hắn về việc uống rượu cả. Là vì ở quán nào nhìn vào cũng thấy đông người mặt đỏ! Phát ớn! Quán nào cũng ồn ào nhặng xị, cũng nghiêng ngửa ly chai bát đĩa, cũng là chỗ chiến trường, không, tửu trường đang hồi náo hoạt! Kia rồi! Quả là chốn thánh địa! Không phải, chốn đạo tràng hội đủ điều kiện để ta lắng lòng mà hoài niệm  kẻ đi xa!

Hắn dừng lại trươc một cái quán nhỏ tồi tàn xiêu vẹo bên dưới một tàng cây me. Quán chỉ có một cô bán hàng đang mở thẩu đựng đậu phọng rang đong ra một đĩa, và một ông khách trạc ngũ tuần, tóc muối tiêu, mặt mày khắc khổ đang ngồi trầm ngâm bên một xị đế vừa lưng. Hắn bước vào quán, ngồi xuống bên một cái bàn kê tận góc trong cùng, gọi một xị đế và một đĩa mồi; hắn gọi thêm bốn điếu Ngựa Trắng và một gói Đà Lạt. Như thế là gọn, hắn nghĩ, giờ thì ông tướng hãy ung dung mà đánh chén lai rai, hay nói khác hơn, hãy thoải mái mà bơm chất xúc tác cảm hứng vào cho tâm hồn được nở hoa tương tư thương nhớ. Hắn nâng ly rượu lên ngắm  nghía. Chất rượu gạo trắng đùng đục. có thể nhìn thấy những hạt cặn màu  trắng dập dềnh lên xuống trong ly. Ly là loại ly nhỏ dùng để uống trà mà mấy quán cà phê thường đem ra. Ly này ắt vừa ba lần rót là đủ một xị. Mùi rượu nghe chua chua nồng nồng. Hắn nhắm mắt tợp thử một ngụm nhỏ, đâu khoảng phần ba ly, nuốt đanh ực và khà một cái rõ to. Có thể cảm thấy được rượu chạy nóng ràn từ cổ họng xuống tới bụng. Chà! Khiếp thật! Hắn nhón ngay vài hạt đậu phọng và chợt băt gặp ánh mắt của ông khách già ngồi sát bên bàn bày hàng đang nhìn hắn có vẻ chăm chú. Ông khách mỉm cười với hắn. Hắn cười trả và cảm thấy ngay là hắn đã dại dột vi phạm một cái lỗi đáng trách. Hắn đã tự hứa khi vào quán rượu thì đừng bắt chuyện làm quen với ai cả, và cũng đừng để ai đó có cớ làm quen với mình. Phải độc ẩm để được vùi mình vào trong nỗi nhung nhớ người yêu chứ! Nhưng…lỡ rồi, trời ạ! Ông khách già đã đứng dậy, hai tay tóm trọn cả bộ lệ ly chai đĩa của mình và khệnh khạng bước qua bên bàn hắn. “Xin lỗi, chú em để qua ngồi chung bàn cho vui được không?” Giọng nói nghe rè rè như tiếng chuông bể và cặp mắt ngó xoáy vào hắn một cách đòi hỏi bắt buộc khiến hắn ngớ người ra, nhất thời chưa biết đối đáp ra làm sao. “Ơ…ừa…ờ.” “Hừm,” ông khách ngồi ngay xuống ghế bên cạnh, ngang tàng đặt bộ lệ ly chai đĩa của mình lên bàn, cười cười, “Làm giao hữu cái, chú mày!” Từ ‘chú em’ qua ‘chú mày’. Nhanh thật! Đành phải uống chứ sao nữa!? Lỡ bộ rồi, ngán chưa! Hắn tợp một ngụm nữa rồi lo sợ khi thấy ông khách già ngửa cổ, hả họng, đánh tróc một cái cạn sạch ly rượu đầy. “Chậc,” ông khách ngó cái ly còn một phần ba của hắn. “Sao vậy chú mày? Giao hữu thì làm trọn chứ? Vô đi! Uống là phải trọn nghĩa trọn tình. Đừng bạc đãi rượu mà rựợu nó buồn. Vô coi!” “Vô!” hắn đưa ly lên làm luôn và bắt đầu cảm thấy khoái cái giọng khinh bạc của ông khách già có khuôn mặt khắc khổ của một ông thầy tu dòng kín.

“Tao là Tiến, tức Tiến DDT. Còn chú mày?” “Dạ, em là Thoái. Nguyễn Thoái.” “Ha ha!” Tiến DDT cười khoái trá, “Tiến lại gặp Thoái. Ngẫu nhiên mà thú vị chớ hả? Chuyện đời mà chú em.”lão nhón lấy chai xị của hắn rót vào ly của hắn, đoạn lấy chai của lão rót vào ly của lão, hắn thầm nghĩ, rõ rồi, dân nhậu thường minh bạch sòng phẳng! “Gặp gỡ nhau tình cờ bao giờ cũng có điều thú vị. Tao thấy chú mày có vẻ hay hay ngay từ khi chú này đứng ở ngoài kia ngó vào quán. Y như thể chú mày đang dò xét xem thử cái quán này có thể vào uống rượu được không vậy? Hay! Như vậy chứng tỏ chú mày đi uống rượu có cân nhắc, chọn lựa. Chú mày không phải là dân ghiền rượu, đúng không? Dân ghiền cứ thấy có quán rượu là a lê hấp xung phong vào. Đó là điều tao khoái ở chú mày. Vả lại bộ dạng của chú mày cũng có vẻ nghệ sĩ lắm. Nào, vô cái coi! Tao tiến, chú mày thoái, rồi chú mày sẽ tiến để tao thoái. Chịu không? Ha ha! Vô!” “Vô!” hắn cũng hào hứng nâng ly lên. Có lẽ cổ họng hắn đã được bôi trơn bởi ly rượu đầu tiên nên ly thứ hai này hắn uống nghe ngọt sợt. Mặt đã  nóng bừng lên đồng thời với cơn hứng bát ngờ. Bằng cả hai tay trân trọng, hắn mời Tiến DDT điếu Ngựa Trắng, bật quẹt gas cho lão mồi thuốc và tự hắn rót rượu = của hai chai xị = vào hai ly của lão và hắn. “Dạ, anh công tác ở đâu vậy?” hắn hỏi. “Hừ, công tác quái gì đâu?’ Tiến DDT nheo mắt khinh khỉnh, “Gõ đầu trẻ, mà gõ tại tư gia…Anhvăn. Thôi, dẹp đi. Uống rượu không nói chuyện làm lụng. Vướng lắm. Chú mày có biết điều này không? Uống rượu rất khoái và uống rượu rất khó. Đó là câu tao học được ở một thằng cha kiến trúc sư kiêm thi sĩ kiêm tửu quỉ. Chớ sao nữa hả? Khoái lắm mà cũng khó lắm, chú em ạ! Đâu dễ gì uống được rượu phải không? Nhưng mà…coi, vô cái đã, chú mày!” Lại vô, ngọt sớt. Một xị quả nhiên rót đúng ba ly. Chai của Tiến DDT cũng vừa tóm trọn vô ly lão. “Tìm ra người đối ẩm với mình chẳng phải như tìm tay đánh bạc hay đánh bi da đâu, chú mày ạ. Là vì uống rượu rất khó. Chú mày có hiểu thủng điều ấy không nào?” “Dạ, hiểu chớ anh Tiến. Phải hạp nhau thì mới ngồi đối ẩm với nhau được ngon lành chớ!” “Ừ,” Tiến DDT gật gù, “Chú em có căn cơ đó. Phải hạp nhau. Đã hạp nhau được rồi thì từ chỗ rất khó thành ra rất khoái…” “Vô, anh Tiến” hắn nâng ly lên, đưa ly ra đụng đánh cộp vào ly Tiến DDT. “Gọi tao là Tiến DDT nghen mày – uống rượu với tao mà loạng quạng thì dễ bị nuốt DDT lắm đa! Hề hề! Vô, chú mày!” Rượu hết. Hắn gọi luôn hai xị nữa. Men say bỗng làm hắn trở nên hào sảng. Tiến DDT ngồi rung đùi, khật khà khật khưỡng, hết nhìn hắn rồi nhìn qua cô bán quán. Hắn cũng muốn nói một câu gì đó cho ra vẻ mình cũng là một tay phong trần lịch lãm, nhưng hình như cục hứng ở trong hắn chưa đủ sức để động đậy. Phải, cha này nói thế mà đúng. Dễ gì mà uống được rượu? Hôm nay hắn uống được rượu là nhờ ở hình bóng Phương Tiên. Và hắn thấy uống rượu chẳng có gì là đáng sợ cả. Khoái thật đấy chứ! Và hôm nay hắn uống rượu thấy khóai là nhờ ở Tiến DDT. Một sự gặp gỡ tình cờ đầy thú vị ở quán rượu giữa tiến và thoái. Hắn nghĩ là về nhà hắn sẽ ghi câu ấy vào trong sổ nhật ký.

Vào lúc ấy bỗng có hai người bước vào quán và xà đến bàn của hắn. “A ha! Tiến DDT đây rồi! Kiếm ông mải hồi sáng đến giờ!” Tiến DDT ngẩng phắt lên, mắt sáng rỡ, “A trời! Kẻ giết rượu!” Người được gọi là “Kẻ giết rượu” là một tay mặt mày bặm trợn, thân hình to khỏe, chắc nịch, mặt đỏ lựng, ria mép rậm rì. Gã kéo người bạn cao lênh khênh có mái tóc bù xù ngồi xuống bàn. “Tiến DDT là ông thần này đây! Còn xừ này là Phong Nháy.” Tiến DDT và Phong Nháy bắt tay nhau. Hắn thấy lúng túng quá. Kẹt thật! Một trự là đủ mệt rồi. Bây giờ lại đến những ba ông! Chắc phải tìm cách chuồn êm thôi. “Đây là Thoái, thằng em dễ thương mà tôi mới lượm được. Chào anh Đại của mày một ly giao hữu đi, Thoái!” Phong Nháy quay qua cô bán quán, “Lấy hai xị nữa, em! Thêm đĩa kim chi, bốn điếu Ngựa Trắng nghen!” Giao hữu hết ly này qua ly khác. Lạ kìa! Dường như rượu càng uống càng thấy dễ vô chớ không đến nỗi nào! “Đã uống ở đâu rồi?”Tiến DDT hỏi. “Quán Con Gấu. Một trận ở đó rồi. Buồn buồn bỗng nhớ đến ông. Kéo nhau đi tìm ở mấy cái quán kia không thấy, độ chừng chắc ông ngồi ở quán Sừng Nai này  chớ không đâu khác. Quả nhiên.” “Thì vậy…Rõ ràng.” Quán chẳng có bảng hiệu bảng hiếc gì sao gọi là quán Sừng Nai. Hắn rụt rè hỏi, “Sao gọi đây là quán Sừng Nai hả anh?” Đại chỉ tay lên trên đầu hắn. “Thì đó!” Hắn nhìn trật lên trên. Ngay phía trên đầu hắn là một cặp sừng nai được đóng vào vách gỗ. Một mũ phớt treo ở cái gạc nai bên trái. Tiến DDT giải thích, “Quán kia có một bộ da gấu treo trên tường nên gọi là quán Con Gấu, còn quán này là quán Sừng Nai. Hề hề! Chủ không thèm đặt tên quán thì anh em mình đặt cho biết chỗ mà tìm gặp nhau. Thoái à, đây là anh Đại, mệnh danh là Kẻ Giết Rượu đó!” Đại nâng ly lên cười khà khà, “Cụng cái coi, Thoái! Nè! Mình đã uống rượu thì phải giết rượu chứ đừng để cho rượu nó giết mình nghen, chú em!”

Hắn dạ dạ thưa thưa suốt và uống suốt. Có vẻ ba tay hảo hán kia coi hắn là bạn đồng hội đồng thuyền như đã từ bấy lâu nay rồi vậy. Chẳng ai thắc mắc xem hắn uống theo kịp bọn họ hay không. Điều này lại làm cho hắn hài lòng và hắn đã cố gắng uống cho ngang với tốc độ và số lượng của ba kẻ đàn anh đáng nể ấy. Phong Nháy nói chuyện huyên thuyên nhất và y đang nói gì về địa chất, trắc địa lung tung các thứ hắn không nghe ra và cũng không hiểu thấu. Cặp mắt Phong Nháy không hiểu sao cứ nháy lia nháy lịa. Có lẽ bị tật ở dây gân. Thảo nào chẳng gọi là Phong Nháy. Họ uống rượu đến mềm môi. Lần đầu tiên trong đời, hắn thể nghiệm được câu nói quen thuộc đó. Tuy môi hắn chẳng mềm di nhưng rõ ràng hắn cảm thấy MỀM và DẺO cả miệng lãn lưỡi. Hắn bắt đầu nói, lung tung lang tang, về cuộc sống hiện nay của hắn, về anh em hắn, về bạn bè hắn, về Phương Tiên, về Thùy Linh, về Bạch Cúc, vân vân. Hắn nói và cảm thấy ba người kia vừa nghe vừa uống và cũng vừa nói. Thế rồi bỗng nhiên hắn thấy hắn và Phong Nháy bắt đầu bắt cặp nói chuyện với nhau, trong khi Tiến DDT và Đại, Kẻ Giết Rượu, thì cặp đôi với nhau mà nói. A! Trà tam tửu tứ chắc là chỗ này đây! Uống trà ba người tỉnh táo thì một người nói, hai người nghe, còn uống rượu thì phải là bốn người để chia thành hai cặp mà nói, bằng không cả bốn dều nhao nhao lên tranh nhau mà nói thì chẳng ai nghe được ai cả. Hắn phát hiện ra điều này mà chẳng biết suy diễn như thế có đúng hay không, nhưng lấy làm khoái trong bụng và trù tính sẽ về nhà ghi vào sổ nhật ký. Men rượu mạnh đên nỗi bây giờ hắn đã quên béng cả yêu cầu và mục đích đi uống rượu hôm nay của mình. Hắn quay sang tranh luận với Tiến DDT khi hắn bỗng nghe lão nói với Kẻ Giết Rượu về câu “Đạo khả đạo phi thường đạo” trong Đạo Đức Kinh. Ủa? Đó là món ruột của hắn mà! Phải rồi, Tiến DDT đúng ở chỗ đó. Dịch sang tiếng Anh thì đúng là “The way that can be mapped is not the eternal way”. Con dường có thể vẽ bản đồ thì không phải là con đường thường hằng (con đường hay đạo lý). Lão Tiến dịch từ “thường” của tiếng Hán và từ “eternal” của tiếng Anh nghĩa là “vĩnh cửu”  thì hắn không đồng ý. Phải dịch từ “thường hằng” mới đạt. Bây giờ thì hắn và lão Tiến đang cãi nhau về mấy từ ngữ ấy, còn Đại và Phong Nháy gật gù ngồi nghe, và gọi lung tung rượu, thuốc lá, kim chi, đậu phộng, bày ra la liệt cả bàn. Hắn đã ngầy ngật choáng váng. Đầu hắn nặng trình trịch. Mắt quáng và tai lùng bùng. Quán rượu không hiểu từ lúc nào, đã đông nghẹt khách. Quanh cái bàn bày hàng và ở ba cái bàn con khác trong quán đều đầy người, lô nhô, ỏm tỏi. Hắn như trôi nổi dật dờ trong cái toàn cảnh mờ mờ ảo ảo và bát nháo loạn xạ ấy. Hắn chẳng còn phân  biệt nỗi ai là ai  mà lúc này bỗng dưng quanh bàn hắn ngồi  có tất cả là chín người chứ không phải là bốn nữa. Hắn cũng chẳng rõ thời gian trôi qua mau lẹ cỡ nào mà lúc này trong quán đã vừa bật đèn lên. Hắn nhìn ra ngoài. Trời ạ! Đã choạng vạng rồi sao? Hắn thấy trên bàn ly chai đĩa và thuốc lá lềnh khênh. Và không hiểu từ đâu lại xuất hiện hai cái bát đầy thịt vàng ươm. Cô bán hàng đem ra một chồng chén đĩa và một mớ muỗng dũa. Quán chỉ bán kim chi, đậu phộng, vậy là chắc có ai đó đã đi mua thịt ở đâu gần dây. Tiến DDT giục hắn gắp mồi. Hắn ăn và lấy làm lạ trước miếng thịt béo, thơm và ngon một cách lạ thường dường ấy. Hắn gắp thêm miếng nữa, nhai nhồm nhoàm, tợp cạn một ly rồi gắp tiếp miếng khác. Thêm miếng nữa thì Phong Nháy háy háy cặp mắt, “Ê! Phá mồi bạo quá vậy? Chú em lâu ngày không xực món này à?” “Kệ,” Đại nói, “Để nó ăn cho đã cái lỗ miệng chớ!” “Mồi!” hắn cười lỏn lẻn, “Mồi ngon quá mấy anh!” “Ngon chớ!” Tiến DDT nói, “Nè Tám! Mày mua món hon này ở đâu mà ‘tới’ quá vậy Tám?” “Quán cầy tơ đường Trần Quý Cáp đó anh,”  một gã béo trùng trục ngồi đối diện hắn nói, “Mới mở mà đồ nhắm ngon hết ý!” Cầy tơ à? Trời đất! Hắn sửng sốt ngó gã béo. “Sao mậy?” Đại hỏi, “Bộ nghe cầy thì ớn hả?” “Dạ đâu có…” Nhưng hắn hết dám  cầm đũa nữa. Ớn thật chớ! Lâu nay thường nghe nói đến món cầy tơ, rồi nai đồng quê, nhưng hắn có bao giờ dám đụng đến món thịt chó ấy đâu? Bây giờ đã trót thì phải đành chịu thôi. Có điều phải công nhận thịt chó ngon ra phết! Ừ, đâu phải ở mỗi nước Việt ta mà cả ở Trung Quốc, ở Hàn Quốc, người ta cũng xơi thịt chó dài dài ra đấy mà có sao đâu? Vấn đề ở chỗ quen ăn năng nhai!

Một gã ngồi cạnh hắn = chẳng biết từ bao giờ = nói với hắn câu gì đó và cười lớn. Hắn gục gặc đầu và cười theo. Tay hắn chờn vờn đưa tới cái ly nằm ngay trước mặt, nhưng cánh tay hắn không còn lệ thuộc vào ý chí hắn nữa. Bàn tay hắn quơ phải chai rượu. Chai rượu lảo đảo rồi ngã đánh rầm xuống bàn, tông phải bát thịt cầy. Bát thịt ngoáy một vòng rồi văng nhào xuống lòng Phong Nháy. “Ôi dào! Thằng quỉ say tới chỉ rồi mây đứa ơi!” “Chú mày say rồi phải không, Thoái?” Tiến DDT ân cần hỏi. “Dạ,” hắn líu lưỡi, “Em say quá, anh Tiến…anh Tiến DDT ơi!” hắn móc túi ra lôi hết mười hai ngàn đồng đặt lên trên mặt bàn. “Trả dùm em…” “Ừ, về nghỉ đi, chú mày. Say rồi thì về nghỉ đi. Đừng ráng “ Hắn loạng choạng đứng dậy, lệch hẳn về bên phải. Gã ngồi cạnh đưa tay đỡ hắn và nói, “Thôi, cha nội! Để tui dìu ra cho!” “Ờ, Vinh! Em dìu dùm thằng Thoái ra kêu xích lô cho nó về.” “Được rồi, được rồi.” hắn cố đẩy Vinh ra khỏi hắn, “Ông vào quán lại đi. Tôi đi một mình được mà. Vào đi, không sao đâu.” “Đi nỗi không cha nội? Nhà ở đâu? Để kêu xích lô chở về cho.” “Thôi khỏi. Nhà gần mà, chỗ kia,” hắn đưa tay chỉ đại về phía trước. Hắn đứng lắc lư tại chỗ, xiêu qua vẹo lại, đợi cho Vinh quay lại quán rượu. Hắn nghe thấy mạch máu hai bên thái dương đập tưng tưng. Tim hắn cũng nện liên hồi kỳ trận. Chà, say quá! Say quá say! Hắn vừa thở hổn hển vừa bước đi. Hắn vừa bước được ba, bốn bước thì cả thân hình té chúi nhũi về phía trước.

Hắn tỉnh dậy, cổ họng khô đắng. Hắn mở mắt ra, ngạc nhiên nhìn sững lên trần nhà trăng toát ở bên trên. Ủa? Sao kỳ vậy? Hắn nghe những tiếng nói lao nhao quyện lẫn và thấy những bóng người lơ mờ  thoáng lướt qua bên chỗ hắn nằm. Theo thói quen, hắn đưa tay qua bên trái để mò tìm cái gương cận. Không có. Hắn lại mò qua bên phải. Cũng không có nốt. Chết cha! Hắn đang ở đâu vậy ta? Rồi hắn bỗng ngửi thấy mùi thuốc sát trùng, mùi bông băng, mùi thuốc đỏ. Ôi, cái mùi nhà thương!? Hắn ngồi bật dậy, đầu óc hãy còn váng vất cơn say, đưa cặp mắt lờ mờ nhìn quanh và thấy có mấy người đàn bà và trẻ nít đang bu lại trước một cái bàn dài. Sau bàn, lờ mờ hình bóng một cô y tá bận áo blouse trắng. Rõ ràng hắn đang nằm ở nhà thương! Hắn đang nằm trên một trong hai cái giường sắt của Phòng Cấp Cứu. Hai tháng trước, hắn đã đưa thằng bạn hắn bị té xe đến nằm ngay ở cái giường này.Chuyện gì đã xảy ra cho mình vậy chớ? Quái quỉ thật! Hắn mò hai chân xuống đất và tìm được đôi dép. “Chị ơi chị! Cái gương của tôi đâu?” “Gương gì của anh? Khéo hỏi chưa?” “Ủa? Vậy chớ gương tôi đâu?” hắn chỉ lờ mờ trông thấy khuôn mặt của cô y tá. “Ai biết? Hôm qua người ta chở anh đến có gương giếc gì đâu? Một anh xích lô thấy anh nằm xỉu bên lề đường nên thương tình chở anh đến đây đó. Thôi, về đi!” “Sao lại chở đến đây?” “Hỏi lạ! Bộ cái đầu rịt băng không thấy sao? Uống sỉn ở đâu về té lỗ đầu nằm xuôi xị trên đường luôn,” hình như cô ta không phải nói với hắn mà với mấy người đàn bà kia, “Mà gương gì của anh? Gương cận à?” “Vâng, cận,” hắn đưa tay lên đầu, và lúc ấy mới nhận ả trên trán mình có rịt một miếng bông băng lớn. Nhưng hắn không cảm thấy đau nhức gì. Có lẽ sơ sài thôi. Hắn xấu hổ lui ra sau và khi thấy mấy người đàn bà đang bu lại bên cô y tá, hắn lẳng lặng rút ra khỏi phòng cấp cứu. Không có gương, hăn đi như người trong mộng, với cơn say chếnh choáng, thẳng một lèo về  nhà.

Thằng em kế hắn trợn tròn xoe cặp mắt. “Chu cha! Đi đâu mà giờ mới về? Hôm qua chị Thùy Linh đến kiếm anh hai lần đó. Ủa? Sao băng bó ở trán vậy? Còn gương cận đâu?” “Ừ. Té…Mất gương rồi.” Hắn lủi ngay lên gác, nằm vật xuống giường, mở mắt thao láo nhìn lên mái nhà ngói đã sỉn đen và thở ra một tiếng dài thượt. Uống rượu rất khoái và uống rượu rất khó! Ôi dào! Chất xúc tác cảm hứng! Thôi, đành vậy! Phương Tiên ơi! Anh quên nghĩ rằng quán rượu nào thì cũng như quán rượu nào cả thôi. Dù sao, anh đã nhớ trọn đến Phương Tiên rồi đấy.

Phù Du Vĩnh Hiền

 

BÀI CÁO HẬU BÌNH NGÔ ( BÙI CHÍ VINH)

buichivinh

“Như nước Việt ta từ trước
Vốn xưng văn hiến đã lâu
Sơn hà cương vực đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác”

Lần thứ hai, đất nước
Khoác ba lô theo Nguyễn Trãi lên rừng
Bài tuyên ngôn chuẩn bị trước mười năm
Chân trái đạp đầu quân Minh, chân phải bước vào Văn Miếu
Có phải lần trước bên này sông
Lý Thường Kiệt ung dung phát biểu :
”Nam quốc sơn hà Nam Đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư…”

Bài tuyên ngôn đầu tiên khi chưa xác định màu cờ
Dung tích máu không có ngân hàng nào chứa nổi
Ông cha ta đánh giặc, ông cha ta làm thơ
Ngọn giáo chẳng suy tư dù dạ dày có đói
Lương thảo ở Lam Sơn được đo lường bằng xác con ngựa già chia những phần ăn cuối
Thực đơn của nghĩa sĩ Tây Sơn trên võng cáng băng rừng là cơm nắm, rau măng
Những cuộc hành quân không nhờ cậy thánh thần
Được ra đời giống như truyền thuyết
Mà truyền thuyết cũng vô cùng đặc biệt
Những cuộc hành quân nhà chép sử phải đau đầu
Mười vạn chiến sĩ nông dân vượt sông Mã ra sao
Để kịp ăn Tết Thăng Long với anh hùng Nguyễn Huệ ?
Hàng trăm thớt voi vượt sông Cả thế nào
Để hoa đào Nhật Tân không nở trể ?
Cái giá của tuyên ngôn lạ lùng như thế
Quá khứ có thịt xương nên hiện tại có luân hồi
Tương lai không dành cho bọn sâu bọ làm người
Không thuộc độc quyền lũ rước voi giày mã tổ
Không nằm trong tay đám cõng rắn cắn gà nhà láu cá
Tương lai là của những kẻ đứng mũi chịu sào dám đem hạt gạo xẻ làm đôi
Những kẻ dám mở cuộc hành trình chống suy dinh dưỡng
Từ nạn đói năm 45 đi tới tiếng cười
Chúng ta yêu nhau đúng quy luật con người
Em yêu anh và anh yêu em đấy
Đừng quay đầu và đừng khép đôi môi
Khi tim cùng đập ở lồng ngực trái
Có Hội Thề Lũng Nhai mới có quân sư Nguyễn Trãi
Có bô lão mài gươm mới có Hội Nghị Diên Hồng
Hạt thóc thành cơm nhờ cấy ở trên đồng
Không có hạt thóc nào tái sinh nếu gieo trên sàn lót nệm
Chúng ta yêu nhau chẳng cần ai bảo hiểm
Những đứa con như những chứng từ
Đất nước mình phải cấp chứng minh thư
Cho bất cứ ai làm ra sản phẩm
Nếu chiến tranh sinh ra những bài tuyên ngôn chiến thắng
Thì hòa bình còn lâu mới là bức bình phong mang khẩu hiệu giả hình
Đừng bắt Phật bị cầm tù, đừng bắt Chúa bị đóng đinh
Con mắt láo liên làm sao mà nhìn thẳng
Mười ngón chân ta không mọc đằng sau nên không hối hận
Lúc bước đi gặp dấu của ông bà
Lúc đọc bài thơ gặp bát ngát trường ca
Làm sao nói hết về tình yêu tổ quốc
Cái lai lịch trong một chương, cái cội nguồn trong một mục
Cuộc sắp xếp văn minh trong trật tự mỗi điều
Cũng như làm sao minh họa hết tình yêu
Sự rung động của các tế bào gây cảm xúc
Ta yêu tổ quốc bằng bài thơ giữ nước
Đại Cáo Bình Ngô một thuở lên đường
Ta yêu tổ quốc bằng bài thơ dựng nên cột mốc
Biết giữ gìn từng tấc đất biên cương
Uy lực của một nước có chủ quyền từ hàng loạt tuyên ngôn
Cuộc chiến đấu ngàn năm bằng chữ
Luật Hồng Đức, luật Quang Trung
Hiến pháp của Rồng Tiên đó chứ !
Ta bỗng thơ ấu như bắt đầu tham dự
Chuyện kể ngày xưa về cô chú ông bà
Ta bỗng nồng nàn hiểu máu và hoa
Thấm thía trong từng chương vệ quốc
Ta bỗng bàng hoàng thấy đường trên mặt đất
Có triệu bàn chân Nam tiến phá rừng
Ta bỗng hiên ngang tuyên bố rõ ràng
Bờ biển Việt Nam hình cong như chữ S
Đất nước Việt Nam bắt đầu từ ải Nam Quan bất diệt
Đất nước Việt Nam kết thúc bằng mũi Cà Mau lẫm liệt
Không có lý do gì giặc ngoài thù trong móc ngoặc cách chia
Máu chảy 4000 năm cho cuống rún chưa lìa
Khi trước trận thắng giặc Mãn Thanh, vua Quang Trung hiệu triệu
Khi nghĩa sĩ Tây Sơn cùng đồng thanh phát biểu :
”Đánh cho để dài tóc
Đánh cho để đen răng
Đánh cho nó chích luân bất phản
Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn
Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”

Ta bất chợt nhìn ra mình thật sự
Máu cha ông đổ ra thì ruột con cháu bắt buộc mềm
Ta hạnh phúc nhập hồn vào kinh sử
Nỗi nhục bị đô hộ 1000 năm không được phép lãng quên !

Bùi Chí Vinh

Điệu Buồn Tráng Sĩ

lephuhai

Nhã nhạc ngân lên từ mắt lệ
Thôi rồi cánh phượng đã về xa
Hiu hắt lòng ai chiều bóng xế
Lạc loài câu hát giọng ngân nga

Cúi xuống nghe rên từng uẩn khúc
Thương hồn tráng sĩ điệu buồn vương
Gió thổi bên kia bờ nhẫn nhục
Mất rồi một chính sử bi thương

Trời đất mênh mang mà vẫn hẹp
Hết lời tử tế gởi cho nhau
Tay vỗ trán vuông lòng khép nép
Mai ngồi ngó lại mấy niềm đau

“Thế sự thăng trầm quân mạc vấn”*
“Thị phi thành bại chuyển đầu không”*
Đành đi cho hết đời lận đận
Trót làm con đỏ chẳng hoài mong

Mây bay đầu núi, mây đầu núi
Biển còn sôi sục những cuồng phong
Người xa xa lắc người lầm lủi
Kiếm gãy lâu rồi ai nhớ không

Lê Phú Hải

NHỮNG CON CHUỘT GIÀ CHƯA CHỊU CHẾT!

khuatdau

Không mùi nào thối cho bằng cái mùi chuột chết. Nó khai khai, khăm khẳm, vừa có mùi nồng nồng của thịt động vật đang mục rữa vừa có mùi tanh tanh của cá ươn; nó thối dai thối dẳng, ngồi đâu đứng đâu cũng nghe thấy, ngay cả khi ngủ nó cũng làm ta ngộp thở như bị mộc đè. Nhưng thà bịt mũi chịu thối ít lâu còn hơn trông thấy chúng vẫn cứ sống nhăn hai cái răng cửa mà nghênh ngang nghểnh ngảng cả bầy.
Những con chuột gọi là đại lão suốt một đời ăn phá đó vẫn còn ngự đằng sau cái cung đình cũng thối hoắc của nhà chuột. Nào là nguyên lão tờ bờ tờ, nguyên lão tướng to, nguyên lão tướng nhỏ…Chúng không lở lói, lông rụng từng mảng nham nhở như chúng ta thường thấy trên các bãi rác hay hố xí công cộng mà vẫn láng lẩy sởn sơ béo tốt. Hang ổ của chúng đều cực kỳ sang trọng, cực kỳ lộng lẫy với ngai chạm đầu rồng, tượng này tượng nọ bằng vàng ròng y như đang thiết triều tại gia. Và tuy không còn làm vua, làm tướng gì nữa nhưng tiền và quyền thì chúng vẫn còn, nếu không muốn nói là còn nhiều hơn lúc tại vị. Vì rằng, đây là lúc chúng được cống nộp nhiều nhất, chỉ một cái gật đầu cho một tước vị nào đó là y như rằng một trận mưa tài lộc chảy vào kho như thác lũ.
Như bốn cái chức gọi là vua trong đại hội đoảng sắp tới đây. Trước hết là soi mói xem có tì vết gì không, chẳng hạn khi ở tù có vì bị đánh đau mà khai báo đồng bọn, có đói quá mà làm ăng ten chỉ điểm không. Nếu qua được thì hẵn xem nó đứng về phe nào. Đứng về phe mèo Mao thì chính danh bà lang trọc cái maoit, tức là kiên trì bảo vệ tới cùng cái XHCN, còn đoảng còn mình. Đứng về phe mèo Tom thì có thể ngồi trên đống đô la cao ngất ngưởng nhưng coi chừng mất mẹ cái tính đoảng.
Thế nên cái khéo hay cái ranh ma của những con chuột chạy chức chạy quyền là làm thế nào để vừa được lòng anh Hai, anh Ba, và cả anh Tư, anh Năm…anh nào cũng muốn có tiền và quyền, cũng được đảm bảo yên thân phì gia.
Mới đây, trong cuộc viếng thăm mèo Tom, vua mèo sô cô la đã khẳng định rằng chẳng những cái đoảng không mất mà cái vị thế của nhà chuột XHCN hãy cứ còn mãi nếu chịu bám đuôi ta. Trong khi mèo Mao, ngoài miệng thì thơn thớt bốn tốt và mười sáu chữ vàng, mà trong bụng thì hắc ám nam mô một bồ dao găm.
Xem ra các cụ trong phe mèo Mao cũng đã muốn trở cờ, nhưng mà hãy cứ ỡm ờ, đợi xem mèo Mao sắp giở trò gì, hứa hẹn dỗ dành hay ra oai thịnh nộ, rồi hãy quyết. Vậy nên, trong báo cáo bế mạc tiền đại hội, vua chuột chù chỉ hé ra đôi chút, rằng thì là có thể châm chước cho cái tuổi đời của một vài anh đã quá tuổi vẫn còn muốn tái cử. Còn ai ngồi vào chỗ nào thì hãy còn trong vòng bí mật, nghĩa là hãy cứ chạy vòng ngoài, cứ cắn xé nhau cho tới phút chót nhưng hãy nhớ đừng quên phong bì. Cái phút ấy, là lúc vua mèo Tom sô cô la ghé qua không chút tình cờ, thì cái chức vua nọ mới tuyệt nhiên định phận tại đô la. Chừng đó không cần cháy nhà cũng lòi ra mặt chuột.
Một lẽ nữa khiến các bô lão chưa muốn làm chuột chết vì rằng còn phải cơ cấu cho đám con cháu và bọn đàn em yên vị rồi mới chịu vểnh râu nhắm mắt. Mâm cổ ê hề cứ 5 năm một lần đang bày ra đó, chiếu trên chiếu dưới đã giải ra rồi, chỗ nào ngon ăn đã có giá và có chủ, nếu không của anh Hai anh Ba thì cũng anh Tư anh Năm.
Cái nhà nước chuột này không chỉ có một triều đình cấp nhà nước, mà còn triều đình cấp tỉnh, cấp huyện và ngay cả cấp xã, thôn cũng có tiểu triều đình. Cấp nào cũng có những con chuột già chưa chịu chết rúc rích đằng sau hậu trường, sắp đặt mọi sự sau khi đã cân đo đong đếm vừa cả tiền và quyền, chia chác nhau một cách êm thắm dù trước đó chửi nhau, ngầm phá nhau (nhưng không đến nỗi đánh giết nhau rùng rợn) rồi mới đưa ra cái gọi là bầu cử để mà khoe mẽ dân chủ.
Mà cái giống chuột thì sinh sôi nẩy nở mau và nhiều khủng khiếp. Nên cái khổ của những ai đang sống trên mảnh đất hình chữ S này xem ra hãy còn khổ dài dài, khổ vì cứ phải sống chung với chuột!

(Mèo chuột ký sự)
Khuất Đẩu

ĐẤT KHÁCH

tranvannghia

B’Lao ơi! Ơi B’Lao xưa!
Lao xao thèm nhớ những cơn mưa
Lang thang đêm phố buồn xa xứ
Nghe gió về ngang lạnh mặt hồ

B’Lao ơi! Ơi B’Lao xanh!
Búp chè nõn mượt lá mỏng manh
Tay ai quấn quýt đồi sương trắng
Đưa đẩy hương về một phía anh

B’Lao ơi! Ơi B’Lao em!
Góc chợ quê mùa quán cóc quen
Cổng trường áo tím, đường hoa tím
Lối dốc nhà ai buốt ánh đèn

B’Lao ơi! Ơi B’Lao xa!
Tháng năm lãng mạn khói mây và…
Những bài thơ viết thời mới lớn
Đánh rớt chân cầu mưa ngả ba

B’Lao đất khách làm lữ khách
Vắt vai nỗi nhớ lúc qua đèo
Theo gió giang hồ xa biền biệt
Chỉ nhớ mây trời xanh ngóng theo

TRẦN VĂN NGHĨA

MÙA THU

10735644_826194720769236_378143114_n (1)

mùa thu
lá vàng rơi
có cả tình ta rụng
( ta nói em đừng cười
như lần đầu ấp úng )

mùa thu

mùa thu
buồn bay còn gì nữa
ờ mắt còn long lanh
thì bịnh ta sao chữa

có chăng là thuốc tiên
tìm ra trong gió núi
mà ta đâu là chim
chỉ biết đi lủi thủi

( hy vọng em tội nghiệp )
những lúc ta khua đêm
thưa em cùng nỗi nhớ
càng múa càng nhớ thêm

con trăng trên đầu mọc
lu lú những nhành gai
tay sờ / tay nhuốm máu
gọi thu suốt đường dài

mùa thu
thu
ơi thu
hoàng hạc bay ngang phố
lúc em thức chong đèn
có nghe mầu mưa đổ

Ngô Yên Thái

Trả Được Mối Thù!

diemchaunguyen

(Truyện ngắn xã hội hiện thực)

Đã bao năm nay, đi làm Nail cho mụ chủ hà khắc, Thu thường mong mỏi có ngày trả cho được cái thù nhục nhã đã mang nặng trong lòng! Cho dù bên ngoài lúc nào Thu cũng phải làm mặt giả nai, rất tử tế và tình cảm với bả, lý do là mong bà đừng đuổi việc!
Không hiểu sao trong tiệm có bao nhiêu là thợ, mà bả không ghét lại ghét mình? Phải chi Thu là một người chảnh chẹo, thích khoa trương hay đua đòi khiến bà ngứa mắt cho cam! Đàng nầy Thu lúc nào cũng bình thường, áo quần sạch sẽ chứ không mốt miếc gì cả! Thời trang của Thu thường là quần Jean xanh đậm hoặc lợt, áo sơ mi trắng, đen hay xanh da trời, thế thôi, vài màu ít kiểu…
Có điều bà chủ tên Thoa và Thu lại nhìn hơi giống nhau về nhân dáng, công tâm mà nói thì Thu dễ thương hơn bà, tính tình lại hiền lành và có mái tóc bồng bềnh nghệ sỹ… trong lúc bà Thoa tóc tém, rất chưng diện, đánh phấn thoa son kiểu cọ hàng hiệu thay đổi mỗi ngày.
Nhưng dù có tiền, bà lại không phải là người biết cách làm đẹp! Quần áo mua hàng hiệu, nhưng không hợp với tuổi tác và nhân dáng của bà. Còn son phấn thì bà trát cho nhiều lên mặt, tô xanh tô đỏ như phường tuồng, không khéo tay và thiếu thẩm mỹ! Dầu thơm bà xức quá nhiều, khiến đôi khi nức mũi người khác!
Thu có dáng của một qúy bà phong lưu dù Thu nghèo, còn bà Thoa thì lắm tiền nhưng nhìn có vẻ rẻ tiền! Đó là lời phê bình của những cô biết ăn diện vào làm, bị bà đuổi việc, đã tức giận mà thốt lên như vậy!
Điều bà Thoa bực mình nhất mỗi khi người ta lầm Thu là bà chủ! Điều nầy khiến bà thấy mình bị xúc phạm nặng nề!
– Nghĩ sao vậy Trời! Tui ngồi đây mà lại hỏi bên đó là sao!
Thu cũng lật đật đính chính:
– Dạ, tôi chỉ là thợ, không phải bà chủ!
Nói xong nàng vội nhìn xuống, cắm cúi tiếp tục với công việc của mình!
Bà Thoa nhìn Thu khinh khi ra mặt. Dù không ưa Thu, nhưng bà chưa sa thải lý do dễ hiểu là Thu đi làm đúng giờ, không hay lấy cớ nghĩ việc tầm bậy, chưa bao giờ bị khách khó chịu xài xể, và Thu còn nói tiếng Mỹ lưu loát trong tiệm, gặp chuyện gì khó xử với khách hàng ngoại quốc… là Thu phải đứng ra dàn xếp cho êm…
Nhờ điều đó mà bà Thoa còn dung dưỡng cho Thu. Nếu trường hợp bà có tay thợ nào tin cẩn và biết rành tiếng Mỹ, chắc Thu đã không còn ngồi đây!
Nhiều khi bực mình chuyện gì, thấy Thu đi qua, bà bĩu môi, khơi khơi phát ngôn:
– Lúc nào cũng có nhiêu đó… đúng là hãm tài… cục nợ đời trời bắt tui phải gánh hay sao vậy ta!!!
Đôi môi bà trề ra sau câu nói. Nhiều khi Thu tức, muốn hỏi:
– “Bà nói vậy là có ý gì? Bà ám chỉ ai???”
Nhưng Thu đã cố dằn miệng, vì bà ta không nói thẳng tên, hơi đâu mà tức cho thiệt thân!
Thấy Thu lì mặt ra, bà Thoa càng bực hơn! Bà cho rằng Thu coi thường mình… Bà chì chiết thêm vài câu nữa cho đã miệng, và rốt cuộc trong tiệm cũng không ai hiểu bà muốn ám chỉ cái gì!
Vừa dũa nail, Thu vừa suy nghĩ nát óc, không biết mình phải làm nghề ngỗng gì cho có tiền ngoài nghề làm Nail! Thu có hai đứa con phải nuôi, thằng Phước mười lăm và con Hiếu mười bốn tuổi. Cũng may là chúng nó tự lo cho bản thân được, nên Thu mới cắm đầu cắm cổ mà kiếm tiền!
Bị chồng bỏ từ mấy năm nay, khi Thu sống chết miệt mài với nghề nail để kiếm tiền, vì nàng bị thất nghiệp, đi kiếm hãng điện khác không ai mướn!
Ông chồng Thu thấy vợ cứ lo đi làm thì chán, kiếm cớ theo bạn bè về thăm Việt Nam, được các em gái o bế, chàng trở lại Mỹ Quốc đòi xé hôn thú với vợ, dứt áo một mình ra đi không thương tiếc, cũng không đòi chia con chia của!
Chàng dư biết của không có để mà chia! Ngôi nhà thì ở mướn, tiền mỗi tháng chàng đưa cho vợ có bảy trăm, coi như hùn trả tiền nhà tiền cơm… Con thì đi học trường chính phủ không phải tốn kém, vợ làm nail lậu vì trả tiền mặt, không khai báo gì hết.
Thu lo chi tiêu trong nhà, tiền nàng kiếm được chồng không biết chính xác là bao nhiêu, nhưng anh ta nghĩ rằng nhiều lắm, cho nên số tiền chàng đưa coi như là OK, bởi chàng nghĩ Thu kiếm cả bốn năm ngàn một tháng, quá nhiều còn gì!
Thực tế thì từ ngày nền tài chính thế giới đi xuống, thì Thu cao lắm có được ngàn rưỡi một tháng, ít nhưng đâu phải là thời làm nail huy hoàng như xưa mà muốn cho đầy túi. Nhiều người tay nghề vụng thì đói thê thảm, chẳng ai thèm thuê! Mình vậy mà có khách, còn may mắn, chỉ bực là mụ chủ cứ chiếu tướng hoài!
Thu ngồi làm việc, vừa nói chuyện với khách, đôi khi lại mơ màng nghĩ đến việc mình trở nên giàu xụ, có một cơ sở làm ăn lớn… Lúc đó khỏi còn lo lắng chuyện tiền bạc như hiện nay! Và mối hận thằng chồng bạc bẽo không đoái hoài đến con cái, mối thù con mụ chủ hay hạch hoẹ và luôn mắng Thu như tát nước… bà sẽ cho chúng mày biết thế nào là lễ độ, lẽ phải!
Nghĩ vậy cho đỡ tức, chứ cho dù giàu thiệt, thì chắc Thu sẽ chẳng bao giờ đi kiếm ai mà trả thù cả, vì cái tính Thu vốn hiền lành xưa nay. Ngày xưa mẹ vẫn nói Thu lúc nào cũng hay cười và lành tính, có lẽ sau nầy cuộc đời sẽ sung sướng!
Nhưng làm thế nào để giàu đây?
Tiếng chị bạn ngồi kế bên đang nói chuyện với bà Mỹ:
– Mega Millions nay lên đến hơn ba trăm triệu rồi, bà có mua chưa?
Bà Mỹ có vẻ không hứng thú:
– Thế à, tôi không chơi đâu, tôi thấy khó trúng lắm!
– Tui mua năm đồng, còn ông chồng tui thì tuần nào cũng tốn cả hai chục để chơi vé số đấy!
– Thế cơ à, tôi thấy trúng số khó còn hơn là bị sét đánh đấy!
Nghe bà Mỹ nói, Thu thấy buồn cười! Nếu bà không mua số, thì làm sao trúng! Mà trúng thì cũng có thể do hên xui, làm gì mà cho là khó… Cũng có nhiều người Việt Nam được trúng số đấy thôi!
Có lần Thu nhớ một cô bạn đã nói với Thu rằng:
– Số phận của những người trúng số sau đó đa số đều bi thảm, không tốt chút nào… Trúng số là tới số!
Dù không chơi số, nhưng Thu không chịu lý lẽ đó, nàng cãi:
– Thu nghĩ có đa số người trúng số do họ nghèo, trúng được mẻ lớn, theo thói thường là lao đầu vào ăn chơi trác táng, nhất là rượu chè, hút sách, bài bạc… cho bỏ những ngày cực khổ… thì chỉ vài năm sau là hết tiền, lại thân tàn ma dại còn hơn xưa… nếu họ biết tính toán, đầu tư, làm phước để lấy đức… thì đâu đến nỗi! Cũng có nhiều người giàu trúng, họ biết thuê luật sư lo giùm mớ tiền, chẳng những không bị phiền toái, mà còn khuếch trương thêm cơ sở, thảnh thơi với cuộc sống giàu có… dĩ nhiên là đa số họ cũng đều giúp cho nhiều cơ quan từ thiện… của trên trời rơi xuống phải chia bớt, không nên giữ một mình!
Mặc cho những lời bàn ra tán vào, từ đó Thu chịu khó bỏ ra hai đồng mỗi tuần để mua vé số. Phải, không mua số thì lấy đâu mà trúng! Mấy đứa nhỏ ngạc nhiên đôi khi thấy Thu thường chịu khó đừng xe ở mấy chợ để vào mua vé số, chúng bàn tán:
– Khó trúng lắm mẹ ơi…
– Con thấy vé mẹ cứ dục lung tung, mua chi cho uổng tiền!
Mấy đứa nhỏ nhận xét đúng. Thu nhớ mua vé, nhưng lại hay quên dò số. Có khi tấm vé số bỏ bóp nầy bóp nọ rồi quên, những cái bóp mà nàng thay đổi hàng ngày, là thú đam mê trong đời Thu…!
Có khi Thu cũng chăm chỉ ngồi dò, nhưng được vài lần lại nản, mua thì mua và chẳng bao giờ theo sát chuyện dò vé…
– Cả mấy triệu người mua vé số mỗi tuần… bon chen với bao nhiêu đó người, khác nào mò kim đáy biển!
Thôi kệ, mò cũng được, chỉ tốn hai đồng không bao nhiêu. Biết đâu cây kim lại nhảy vào tay mình thì sao!
Ngày mai là ngày bà chủ đãi tiệc kỷ niệm 10 năm mở cửa tiệm. Chẳng phải bà chủ tốt lành gì mà đãi ăn mọi người chi cho tốn kém. Chỉ vì bà mới lượm được trong “parking” một chiếc nhẫn xoàn của ai làm rơi, bà đưa vào tiệm vàng hỏi cho biết đồ thật hay giả, và bán được ba ngàn đô.
Với của lượm nầy, bà bèn ăn mừng bằng cách đi cắt mỡ hai mí mắt cho trẻ trung và nhìn trong sáng hơn, còn dư hai ngàn thì đãi bọn thợ ăn một bữa để khánh thành cặp mắt, và nghe những lời khen sẽ tới tấp gởi cho bà…
Nghĩ đến đó là bà khoái rồi.
Bà Thoa đứng trước gương tô xanh lè hai mí mắt của mình! Trong những màu dùng cho mắt, bà thấy màu xanh blue là bà thích nhất. Nhìn vô là biết có trang điểm. Bà kẻ lên hai mí đường line màu đen, nhưng mỗi khi tô, tay bà cứ run rẩy, nên vệt kẻ lem luốc chứ không ngay hàng thẳng lối như người ta!
Cuối cùng thì bà cũng hài lòng với cặp mắt mới của mình!
Chọn chiếc áo hở vai hoa hòe đủ màu khoác vào, trông bà nổi lắm. Những người biết ăn mặc hay Thu mà thấy, có thể nghĩ rằng bà là một con két xứ nóng di động!
– Nếu bả biết thời trang, thì bả trông sẽ qúy phái hơn là ăn mặc hở hang như thế!
Thằng Ryan nó rất thân với Thu, từng phê bình rằng:
– Bà Loan có tiền mà nhà quê!
– Ê… coi chừng bả nghe là toi đời!
– Nói thiệt chứ bộ!
– Mày ngon thì mày làm đi, phê bình người ta hoài… mà mầy thì cũng có bảnh bao gì đâu mà nói ai!
– Tui có tiền đâu mà diện hả bà!
Thu phán:
– Đợi đấy, khi nào trúng số tao sẽ chia cho mầy 1 triệu, để mày mua nhà, mua xe, và mở tiệm riêng cho mầy, tha hồ ăn diện, cua đào…
– Tui mà có tiền thì tui sẽ mua một cái nhà nhỏ để ở, và tui cho trẻ em mồ côi, người già neo đơn…
– Cha, mày tốt quá há… chứ không phải chui vô sòng bài ngay à?
– Muốn biết tui có tốt hay không, thì chị cứ cho tui một triệu đi, tui làm cho chị coi! Không có tiền tui mới vô sòng bài ăn chực, coi văn nghệ chùa… có tiền vô đó làm chi cho nó thu tóm hết!
– Hãy đợi đấy…
Câu nói nầy Thu chẳng lấy gì làm chắc chắn cho lắm! Mụ chủ thì lúc nào cũng nhìn Thu với cặp mắt hổng ưa, còn ông chồng cũ ngoài những cô bồ sơ cua bên VN, thì nay cặp bồ với một bà rất đô con, kèm theo đức tính dữ như chằng, họ đi đâu cũng có nhau, dính như đôi sam… Cứ nghĩ đến là Thu sôi gan! Cho dù không còn một chút tình cảm nào sót lại trong lòng!
Thu ước ao một ngày nào đó, mình sẽ ngồi vào chiếc xe chiến, như Phantom Rolls Royce, yểu điệu từ trên xe bước xuống, quần áo bóp xách sang trọng, mùi dầu thơm bay thoảng ngạt ngào hương… cho mụ chủ và tên cựu chồng nhà nó lé mắt chơi!
Bà chủ đã cho dẹp lại căn phòng thành khoảng trống vuông vức khá lớn, một chiếc bàn hình chữ nhật có phủ khăn trắng bên trên, bày những thức ăn được “order” từ những người nấu nướng tại gia mang đến.
Thu nhìn vào những khay thức ăn, thấy có con heo sữa quay dòn rụm, bánh bao, xôi gấc, gỏi chân gà, bánh mì, cơm chiên, tôm chiên dòn, và cái bánh kem to tổ bố. Nàng ghé tai Ryan:
– Hôm nay mày tha hồ ăn, đồ ăn nhìn ngon.
– Tui có mang theo mấy cái bao ny lông sạch, chút nữa có gì dư, tui lấy về cho bạn và mai ăn tiếp!
Thu trố mắt:
– Lấy vậy không sợ người ta cười cho thúi đầu à?
Ryan biũ môi:
– Ai cũng sợ cười thúi đầu như bà… thì đồ ăn bỏ tội, tui “chụp giựt” lấy cho mấy người bạn “homeless”, và cất mai ăn…
– Gì mà dùng danh từ “chụp giựt” nghe ghê vậy mày!
– Bà nầy ngây thơ! Bà thấy cứ cái gì free là người ta nhào vô tranh dành… ai cũng như bà thì không có chiến tranh! Lát nữa bà cũng dành cho tôi vài thứ nghe…
Thu suy nghĩ, thấy thằng nầy nói cũng có lý! Bà Thoa thì chắc chắn là không phải dân chịu thương chịu khó, thu lượm đồ ăn dư và cất tủ lạnh ăn dần! Thế nào hôm nay bả cũng sai mấy người thợ thu dọn, chia nhau mang về mà ăn.
Trong số thợ, thì ai cũng ăn diện nhưng tinh thần nhường nhịn thì phải coi lại! Chút nữa, chắc là Thu sẽ lấy cho thằng Ryan vài cái bánh bao và ít xôi.
Bà Thoa mở lời:
– Hôm nay chị muốn mời mấy cưng là vì cám ơn Trời Phật đã cho tiệm của chị sống được lâu dài, mới đó mà mười năm rồi… Cám ơn mấy cưng đã làm với chị, nhất là chị Tám đã ở đây năm năm…
– Chúc chị ngày càng trẻ đẹp…
– Nhìn chị cứ y như là con gái!
– Tướng chị Thoa số sướng hiện rõ ra mặt… đời chị được sống trong lá ngọc cành vàng… nhiều người nhờ phước đức của chị
Nghe cô Tim khen lộ liễu. Thằng Ryan ngứa miệng:
– Nếu không lượm được cái nhẫn, chị có đãi tụi em không?
Bà Thoa hơi quê, nhưng làm tỉnh:
– Thì đó, cũng nhờ nó mà mình ăn một bữa thoả thê hôm nay. Nào, mời mấy cưng nhập tiệc…
Chỉ đợi có thế, bà con thi hành lời mời ngay. Thằng Ryan hỏi đúng, nếu không lượm được của rơi, chắc chắn không đời nào bà đãi nhân viên cả! Ngu sao móc tiền túi cho tụi nó ăn! Cái tính của bà lâu nay là chỉ chi cho bản thân của mình thôi!
Vì vậy tuy cho là thằng Ryan cà chớn, nhưng bà Thoa không giận nó, vì nó hỏi đúng quá! Bà cần những người tính nết như nó để hiểu thêm về nhân viên … Trong đám nầy có ai dám làm phiền lòng bà đâu… nếu không nói là luôn nịnh nọt để công việc của họ được thoải mái.
Lúc về, Thu xách tong teng bịch đựng ba cái bánh bao, còn xôi gấc thì không có phần, vì người ta đã chia nhau hết mất rồi. Nhưng Thu có bốn cái giò heo nho nhỏ, do chị Tám bỏ vào bao cho Thu:
– Lấy mấy cái giò nầy về hầm khoai tây cũng ngon đó em…
Thu hơi mắc cở, lí nhí:
– Cám ơn chị.
Gặp thằng Ryan ngoài bãi đậu xe, Thu đưa cái bao cho nó:
– Em có lấy được thức ăn nhiều không? Đồ ăn dư quá trời!
– Có chứ, em chạy ra chỗ mấy người bạn “homeless” ngay bây giờ, cám ơn chị.
Nhờ vậy mà Thu bớt mặc cảm khi cầm cái bao đồ ăn thừa nãy giờ! Thu nhớ rõ cặp mắt bà Loan sắc lạnh chiếu tướng vào Thu rất soi mói, khi thấy nàng bốc ba cái bánh bao bỏ vào bịch, cái bịch ny long thằng Ryan đưa cho Thu giữ trước đó!
– Nhà quê… đi ăn tiệc mà đem bao ny lông theo! chuẩn bị sẵn sàng dữ hén!
Bà Loan nói ra câu bà nghĩ thầm trong đầu! Thu định trả đũa thì thằng Ryan trờ tới, hất nhẹ tay nàng một cái, như nhắc nhở “một câu nhịn chín sự lành…”. Nhìn mắt thằng Ryan nháy lia, Thu hạ cơn tức, làm mặt lỳ quay ra.
Phải chi mình giàu, mình trúng số thì Thu sẽ nói lý lẽ với con mụ cà chớn nầy cho biết mặt! Rồi không thèm làm ở đây nữa, có khi mình còn mua bứt cái tiệm của nó, cho nó biết thân! Không biết bao giờ mình mới được trúng số đây!
Bà Thoa chỉ cà khịa với Thu thôi, hôm nay là ngày vui, bà mặc kệ cho đám nhân viên dọn dẹp và thâu tóm đồ ăn. Bà biết đưa về để vào tủ lạnh thì cũng được, nhưng rồi không ai ăn lại mất công dục uổng! Lâu lâu bà cũng muốn cho nhân viên có cơ hội như được của chùa, để họ vui.
Nhìn họ chia chác đồ ăn, bà cảm thấy như đang làm chuyện phước thiện, vì vậy bà khoan khoái, hài lòng.
Đưa cho Ryan cái bịch đồ ăn xong, Thu chậm rãi lái xe về nhà. Ngày nào cũng lái cái xe cà rịch cà tang nầy… thấy chán!
Vừa ngừng xe lại, Thu thấy hai đứa con ló mặt ra cửa:
– Có gì ăn không mẹ?
– Sáng nay mẹ chiên cơm trên bếp đó, sao không ăn đi…
– Con không thích lạp xưởng… mẹ cho tiền con đi ra đầu đường mua gà chiên đi mẹ.
Thu gắt:
– Nghèo mà cứ muốn chơi sang!
Nói vậy, nhưng nàng cũng móc ra tờ mười đồng đưa cho hai đứa! Tội nghiệp, ăn cơm chiên mì gói mãi, cũng chán!
Vào nhà, Thu rót ly rượu vang to bưng ra ngồi xuống bàn máy nốc một hơi ngon lành! Lúc nãy Thu cũng đã uống mấy ly, có vẻ mệt rồi… uống thêm cho đã khát và dễ ngủ!
Thấy có tờ vé số ở trên bàn… “Chắc con Hiếu lại tìm thấy vé số trong bóp nàng, lấy ra bỏ đây cho Thu nhớ mà dò”… Mở Internet, Thu bắt đầu dò số, và nàng chợt nghe tim đập thình thịch, trợn tròn mắt khi nhìn thấy những con số ở tấm vé giống y như trên màn ảnh.
– Trời ơi, tôi trúng số rồi….
Phải trấn tỉnh lắm Thu mới thấy con tim mình bớt nhảy mạnh. Thành triệu phú rồi…. Phải làm gì bây giờ? Bao nhiêu khôn ngoan trong đầu Thu bay đi mất trơn, nàng chẳng biết làm cái gì, chỉ còn bàn tay rung rẩy nắm khư khư tờ vé số, làm như sợ nó tan biết đi vậy!
Không thể cho hai con biết được! Cứ từ từ, để các con sinh hoạt như ngày thường… Mai, mình sẽ hỏi người quen làm ở văn phòng luật sư…
Giờ thì Thu đang đứng trước mặt con mụ chủ dễ ghét, nàng bắt đầu tấn công trong lúc con mụ đang há hốc miệng, trợn mắt mà nghe:
– Tôi nói cho bà biết, bà thưởng bà giàu lắm hả? Thật ra thì bà không đáng xách dép cho người ta! Bà quen thói ăn hiếp tôi vì thấy tôi hay nhịn bà…. Hãy nhìn bà kìa, son phấn không biết đánh, nhìn thấy gớm, mắt xanh lè như con tắc kè bảy màu, quần áo thì giống như đồ của bọn con nít tuổi “teen”, nhìn bà tôi chỉ muốn đá cho một phát!!! Có tiền mà không biết gì là đẹp, chỉ biết a dua theo thời… kêu tôi là thầy thì tôi sẽ dạy cho mà làm đẹp… Kiểu của bà thấy gớm… không tin hỏi tụi nó coi, mấy người ở đây sợ bà đuổi việc nên phải nịnh bà thôi… Phải không mấy anh chị em?
Thu nhìn quanh, chẳng ai dám biểu đồng tình, nàng hét lên:
– Nói thật đi, rồi tôi sẽ tặng cho mỗi người vài ngàn đô xài chơi…
Chẳng mặt nào dám lên tiếng! Thu tức quá, biết vậy đi lãnh tiền trước rồi chửi con mụ chủ sau! Giờ chỉ có mấy chục trong bóp, có đâu mà lôi ra cho bà con tin là mình giàu đây!
Bất ngờ, mụ chủ đứng bậy dậy, tay xỉa sói vào mặt Thu:
– Mầy là con cà chớn, khốn nạn… mày là cái gì mà dám chê tao hả mậy???
Miệng nói, tay bà túm lấy Thu…nàng hoảng hốt quơ quào, vung tay tát bốp bốp vào mặt bà ta được hai cái, thì nghe tiếng con Hiếu và thằng Phước gọi lớn:
– Mẹ ơi, mẹ sao vậy… vô phòng ngủ đi mẹ…
Thu mở mắt ra, miệng thều thào:
– Để mẹ cho con mụ nầy một bài học cho nó chừa… không phải sợ nó nữa… mình trúng số giàu rồi con ơi…
– Trúng số gì mẹ? Hôm qua mẹ dò số rồi, có trúng đâu!
– Cái vé số trúng mới đây đâu rồi?
– Vé nào?
Thì ra là Thu vừa nằm mơ! Nàng mới trải qua một giấc mộng sôi động mà trong đời sống thường nhật không bao giờ dám bày tỏ! Thu vào phòng, hai mắt nhíu lại, nhưng cũng hơi tỉnh mà nghĩ ra rằng:
– Giấc mơ sôi động cũng làm mình hả dạ lắm rồi…

Diễm Châu Nguyễn

Từ Buổi Chiều Trên Nghĩa Địa Hàng Dương

trantrungdao

Một ngày hè như thế này 29 năm trước, người anh cùng sở làm và cũng cùng quê Đà Nẵng ghé qua hỏi tôi có thích đi Côn Đảo một chuyến với anh. Không giống như khi được các anh chị khác rủ đi thăm miền bắc trong những lần họ nghỉ phép về thăm nhà mà tôi đã từ chối trước đây, Côn Đảo có một hấp lực cực mạnh khiến tôi gật đầu không chút gì ngần ngại. Chiếc ghe vượt biên anh đóng sắp hoàn tất và đã hứa dành cho tôi một chỗ. Nghĩ đến việc ra đi không hẹn ngày trở lại, thăm Côn Đảo là dịp hiếm hoi không thể bỏ qua. Côn Đảo là đất lịch sử của cách mạng Việt Nam, điểm hẹn của những tâm hồn yêu nước và cũng là nơi nhà cách mạng Phan Chu Trinh từng tả “Bốn mặt dày vò oai sóng gió / Một mình che chở tội non sông” trong bài thơ “Đập đá Côn Lôn” nổi tiếng của ông. Người anh cùng sở làm lo hết các phương tiện cần thiết, và như thế chúng tôi đi. Anh có vài việc phải đi, còn tôi chỉ đi theo cho biết chứ không làm gì cả.

Khi anh làm xong việc, thời gian còn lại anh em chúng tôi đi vài nơi trên đảo. Côn Đảo ngày chúng tôi đến còn rất hoang vắng. Những khu tù chính trị đã giải tán từ lâu. Tù chính trị mới không bị đưa ra đây mà vào Chí Hòa, Phan Đăng Lưu hay các trại tù miền Bắc. Các khu trại giam Côn Đảo đã trở thành một viện bảo tàng nhưng ít có người thăm. Bên cạnh những xà lim nơi các đảng viên Cộng sản cấp trung ương từng bị giam giữ, Côn Đảo còn có những khu nổi tiếng vì được báo chí phản chiến Mỹ và Việt khai thác tận tình như chuồng cọp, chuồng bò. Khu chuồng cọp được xây từ thời thực dân, cũ kỹ, kích thước rộng bằng những lớp học nối tiếp nhau. Đặc điểm của khu chuồng cọp là phòng giam không có mái che mà chỉ có những bờ tường dày và thanh sắt lớn. Chị coi sóc ở đây, vốn là một tù nhân Côn Đảo, cho biết trên bờ tường dựng sẵn nhiều thùng vôi bột, nếu tù nhân la ó, phản đối, trật tự tù sẽ đổ vôi xuống.

Trên đường ra về chúng tôi đi theo chị coi sóc nhà tù đến nghĩa địa Hàng Dương. Nắng đã dịu nhiều. Mặt trời đang xuống dần bên kia đỉnh núi. Được gọi là Hàng Dương có lẽ vì chung quanh nghĩa địa có rất nhiều dương liễu. Nghĩa địa có nhiều khu. Mỗi khu có vài trăm ngôi mộ. Chị trịnh trọng giới thiệu một ngôi mộ mà chị gọi là rất linh thiêng: mộ chị Võ Thị Sáu. Tôi không biết gì nhiều về chị Sáu ngoài bản nhạc bắt đầu với “Mùa lêkima nở, ở quê tôi miền đất đỏ” và đọc đâu đó chuyện chị bị xử bắn khi còn trong tuổi vị thành niên. Tấm bia trên mộ chị Sáu hướng về phía biển và nỗi bật lên vì ngày đó đã được xây cao hơn các ngôi mộ khác. Phía sau mộ chị Sáu có một cây dương liễu cụt ngọn, cằn cỗi, trên tàn cây có những chồi xanh nhú lên. Việc một cây bị chặt ngọn nên sinh ra những nhánh non là chuyện bình thường nhưng qua lời giải thích của chị hướng dẫn thì đó là một điều kỳ diệu, một dấu chứng linh thiêng, điềm báo của một cái cũ tàn đi nhưng những cái mới ra đời. Ngay cả một cây dương liễu cũng được giải thích bằng lý luận và niềm tin Cộng Sản.

Anh tôi không thích cảnh nghĩa trang buồn tẻ nên đã đi dạo nơi khác. Cả chị hướng dẫn cũng đi ra ngoài. Tôi ngồi một mình nhìn mấy trăm ngôi mộ, có tên và không tên, được đắp và không được đắp, cao thấp không đều. Bên cạnh một số mộ có bia, tên tuổi và vừa được chỉnh trang, hẳn là của các đảng viên Cộng sản cao cấp, rất nhiều ngôi mộ không có ngay cả tấm thẻ gỗ ghi tên, cỏ mọc đầy sau nhiều năm chưa được một lần chăm sóc. Phần lớn các ngôi mộ trong nghĩa địa Hàng Dương là dấu tích tàn ác của thực dân Pháp. Thời Việt Nam Cộng hòa, chuyện ở tù Côn Đảo cho đến chết là chuyện hiếm hoi. Hầu hết tù chính trị chỉ ở một thời gian ngắn trước khi được đưa ra Thạch Hản, Thiện Ngôn, Lộc Ninh, Bồng Sơn để trao trả về phía bên kia như đã ghi lại một cách chi tiết trong tác phẩm ký sự Tù binh và hòa bình của nhà văn Phan Nhật Nam.

Hôm qua, khi bắt đầu viết bài này tôi vào Google tìm mộ chị Võ Thị Sáu. Cây dương liễu đã chết và được thay vào đó bằng cây phượng đỏ. Ngôi mộ của chị cũng được xây bằng đá đen, cao hơn ngôi mộ cũ nhiều và không phải sơn màu vôi trắng như lần tôi đến. Nghĩa địa Hàng Dương bây giờ là một trung tâm du lịch, màu sắc lòe loẹt, không còn những mộ cỏ hoang vu, những con đường đất hẹp và những hàng dương cằn cỗi chung quanh. Tôi không cảm thấy chút nào xúc động khi nhìn lại cảnh nghĩa địa Hàng Dương mà chỉ tội nghiệp cho các em học sinh đang sắp hàng vào xem các di tích được gọi là cách mạng ở Côn Đảo. Các em đi xem kịch mà tưởng mình đang tìm về lịch sử cha ông.

Một trong những đặc điểm của chế độ Cộng sản là lừa dối. Không phải chỉ Việt Nam mà mọi quốc gia Cộng sản đều như thế. Khi chế độ Cộng sản Đông Đức sụp đổ, báo chí khám phá trong cơ sở dữ liệu của cơ quan an ninh Stasi một hệ thống lừa dối có tầm vóc quy mô ngoài giới hạn đạo đức của con người. Việc nghi kỵ, lừa dối không chỉ ở nằm trong hệ thống đảng, các cơ quan nhà nước, mà cả trong mỗi gia đình ruột thịt, máu mủ thân yêu. Anh lừa dối em. Vợ lừa dối chồng. Cha mẹ lừa dối con cái. Cháu chắt lừa dối ông bà. Lừa dối là phương tiện duy nhất để tồn tại trong xã hội Cộng Sản.

Tại Việt Nam cũng thế. Vở kịch tuyên truyền mà Đảng đã đóng suốt mấy chục năm qua làm thui chột nhận thức của nhiều thế hệ Việt Nam. Từ chuyện Lê Văn Tám lấy thân mình làm đuốc đến chuyện Tôn Đức Thắng kéo cờ Cộng sản trên Hắc Hải đều là những chuyện hoang đường nhưng nghe riết cũng quen tai, nghe riết nên tin là chuyện thật.

Có một thời không ít người dân miền bắc còn tin rằng những khẩu CKC, AK47 của mấy chị dân quân đã từng bắn hạ những F-4 Fantom, F-111 của Mỹ. Theo lời kể của cựu Thiếu Tướng Yevgeni Antonov, nguyên trưởng đoàn cố vấn quân sự của Liên Xô tại Việt Nam trong một bài báo trên tờ Pravda nhân dịp đánh dấu 30 năm cuộc chiến Việt Nam chấm dứt, Liên Xô đã gởi nguyên một trung đoàn phòng không với đầy đủ vũ khí và trang bị sang Việt Nam tham chiến và 13 người lính phòng không Liên Xô đã chết trên đất bắc. Những chiếc máy bay Mỹ đầu tiên bị bắn rơi trên bầu trời Hà Nội, kể cả chiếc chiến đấu cơ F4 Fantom của Thượng Nghị Sĩ John McCain (đúng ra là A-4 Skyhawk theo tiểu sử của Thượng Nghị Sĩ John McCain), cũng từ hỏa tiễn của các đơn vị Hồng quân Liên Xô chứ không phải từ “Bộ đội phòng không anh hùng”, nói chi là các chị dân quân núp bên bờ ruộng như trong mấy bức ảnh tuyên truyền của đảng.

Cũng theo lời kể của cựu trung tướng Liên Xô Yevgeni Antonov, chỉ huy lực lượng phòng không Liên Xô tại Việt Nam từ 1969 đến 1970, Việt Nam chỉ là một phòng thí nghiệm cho vũ khí Liên Xô. Họ muốn đích thân xử dụng vũ khí để chuẩn bị cho việc máy bay Mỹ và NATO oanh tạc vào nội địa Liên Xô trong trường hợp có chiến tranh giữa hai khối sau này. Cuộc chiến đã tàn, chế độ cũng đã tan, ngọn đèn đời sắp tắt, những người lính già Nga chẳng bị áp lực nào để phải nói dối, để tuyên truyền, để bảo vệ cho đảng, hay cho cả chính mình. Họ chỉ còn kỷ niệm, và kỷ niệm của tuổi về chiều thường thành thật, trong sáng như những ngày mới lớn.

Bên cạnh Liên-Xô, vào thời điểm 1967 ngoài hàng vạn tấn đạn dược, vũ khí, đã có 16 sư đoàn với 170 ngàn quân Trung Quốc tại miền Bắc Việt Nam để yểm trợ cho đảng Cộng sản Việt Nam nhưng đồng thời để bảo vệ vòng đai an ninh của Trung Quốc. Tội ác của đảng Cộng sản Trung Quốc đối với dân tộc Việt Nam, từ các tư tưởng độc hại đến võ khí giết người, từ cải cách ruộng đất đến đến Hoàng Sa, Trường Sa, từ chiến tranh biên giới đến trận chiến Lão Sơn, không thể viết hết trong một bài, trong một cuốn sách mà phải xây dựng một trung tâm dữ kiện.

Máu đổ, thây rơi, nhà tan, cửa nát ở Hà Nội, Hải Phòng là điều có thật. Những mất mát đau thương vô cùng to lớn của đồng bào miền Bắc đã chịu đựng dưới đạn bom Mỹ là điều có thật. Căm thù, phẫn uất vì thế là những phản ứng tự nhiên. Tuy nhiên không phải chỉ vì đế quốc Mỹ đã đơn phương xâm lược Việt Nam như các thế hệ sinh viên học sinh đã và đang được dạy. Hơn ba mươi năm là một thời gian đủ dài để đồng bào miền bắc, các thế hệ trẻ miền bắc có gia đình chịu đựng đau thương bất hạnh trong chiến tranh, nhìn lại cuộc chiến một cách khách quan và so sánh với thực tế đất nước để qua đó biết rõ những ai và học thuyết nào chính là nguyên nhân của chiến tranh, độc tài và chậm tiến hôm nay.

Đảng Cộng sản có thể tùy thích tạo ra hàng trăm đảng viên cỡ Lê Văn Tám, Tôn Đức Thắng. Đó là chuyện nội bộ của đảng nhưng họ không có quyền biến Côn Đảo thành tài sản riêng của đảng, không có quyền mê hoặc của các thế hệ trẻ Việt Nam bằng các mẫu chuyện hoang đường kiểu Lê Văn Tám như bộ máy tuyên truyền Liên Xô đã từng tô điểm lên một cậu bé nhà nông Pavlik Morozov bất hiếu trước đây. Côn Đảo cũng không phải là đất hương hỏa của Marx, Lenin để lại cho đảng Cộng sản Việt Nam mà là đất thiêng của cách mạng Việt Nam nơi nhiều thế hệ đã lấy xương thịt mình làm phân bón cho mầm xanh tương lai dân tộc.

Trong nghĩa địa Hàng Dương, bên chiếc cầu đá phía bên phải dinh chúa đảo, trước những xà lim chật hẹp, một ngày không xa, các thế hệ Việt Nam sẽ đến đó, không phải để nghe kể công, nghe tuyên truyền mà đến để im lặng cúi đầu tưởng niệm các anh hùng dân tộc.

Họ là ai? Họ là những đảng viên Việt Nam Quang Phục Hội, Phong trào Đông Du, Phong trào Duy Tân, Tân Việt Cách mạng Đảng, Việt Nam Quốc dân Đảng, Đại Việt Quốc dân Đảng, Đại Việt Dân chính, Dân Xã Đảng, Đảng Lập hiến, Đại Việt Duy dân và nhiều tổ chức, phong trào không Cộng sản khác.

Họ là ai? Họ là tín đồ các tôn giáo, nhất là Cao Đài và Hòa Hảo, hai tôn giáo được ra đời tại miền Nam, có truyền thống kiên quyết chống cả thực dân lẫn Cộng sản.

Nếu họ đã từng là đảng viên Cộng sản thì sao? Không sao cả. Như tôi đã có dịp viết vài lần trên diễn đàn này, việc tham gia vào đảng Cộng sản của một số người Việt Nam, chủ yếu là để được tổ chức hóa nhằm mục đích hợp đồng chiến đấu, đạt đến chiến thắng dễ dàng hơn chứ không phải vì tin vào chủ nghĩa Cộng Sản. Ngày đó, vì điều kiện giao thông khó khăn, núi non cách trở, sự phát triển của các đảng phái chống thực dân ít nhiều bị giới hạn bởi các đặc tính địa phương, bà con giòng họ, hoàn cảnh trưởng thành. Nếu họ sinh ra ở Quảng Nam họ sẽ gia nhập Việt Nam Quốc dân Đảng, sinh ra ở Quảng Trị họ sẽ gia nhập Đại Việt, sinh ra ở Cần Thơ, Vĩnh Long, An Giang họ sẽ gia nhập Dân xã Đảng. Đó là trọng điểm của các đảng phái chống Pháp trong những thập niên đầu của thế kỷ 20. Ông bà chúng ta có súng dùng súng, có gậy dùng gậy, và trong nhiều trường hợp chỉ là những bàn tay không gầy yếu.

Những người Việt yêu nước thời đó chọn lựa đảng phái như chọn một chiếc phao để đưa dân tộc sang bờ độc lập. Những nông dân hiền hòa chất phác , nhưng công nhân đầu tắt mặt tối làm sao biết được con đường họ đi không dẫn đến độc lập, tự do, hạnh phúc mà dẫn đến nghèo nàn, lạc hậu, độc tài và làm sao biết được chiếc phao họ bám cũng là chiếc bẫy buộc chặt chẳng những cuộc đời họ mà còn gây hệ lụy cho cả dân tộc đến ngày nay.

Tôi tin, phần lớn những người yêu nước đã chết trong giấc mơ về một Việt Nam hòa bình, độc lập chứ không phải trong giấc mơ về một xã hội Cộng sản đại đồng. Người yêu nước bằng tình yêu trong sáng, không đánh thuê, đánh mướn cho một chủ nghĩa, một ý thức hệ ngoại lai vong bản hay cho một quyền lợi đế quốc nào sẽ không bao giờ chết, không bao giờ bị lãng quên. Lịch sử sẽ đánh giá, dân tộc sẽ ghi ơn họ một cách công bằng.

Tôi tin, cuộc chiến chống thực dân Pháp là cuộc chiến chính nghĩa. Đó là cuộc đấu tranh đầy gian khổ nhưng anh hùng của một dân tộc bị nô lệ đã đứng lên chống lại một thực dân tàn bạo. Trong suốt gần một thế kỷ trong bóng tối thực dân, hàng vạn đồng bào thuộc nhiều thế hệ Việt Nam đã bị bắt, tra tấn và đã hy sinh trên Côn Đảo. Ngoài một Nguyễn An Ninh để lại thịt xương, một Trần Cao Vân, một Phan Chu Trinh để lại những bài thơ viết bằng máu và mồ hôi trong những ngày đập đá, còn có hàng ngàn, hàng vạn đồng bào đã chết trong âm thầm, không để lại họ tên.

Nhưng cho dù họ có để lại đủ họ tên đi nữa, các thế hệ Việt Nam sau 1975 cũng không có quyền biết đến họ, không có cơ hội để cám ơn họ, để thắp một nén hương, và phần mộ họ một mai có thể sẽ bị san bằng theo mưa nắng. Đảng Cộng sản không chỉ nhuộm đỏ miền Nam, nhuộm đỏ Việt Nam mà còn cố tình nhuộm đỏ cả lịch sử.

Côn Đảo ngày nay gắn liền với tên tuổi của các đảng viên Cộng sản trung ương Tôn Đức Thắng, Lê Duẩn, Phạm Hùng, Hà Huy Tập, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Văn Linh, Lê Quang Vịnh v.v. Các em học sinh đang sắp hàng chờ vào xem những xà lim kia làm sao biết được, với số đảng viên vỏn vẹn 5 ngàn vào mùa thu 1945, đảng Cộng Sản, dù bị bỏ tù và chết gấp mười lần trong hai cuộc chiến, cũng không thể bằng với con số khoảng 200 ngàn người Việt Nam yêu nước đã từng ở tù Côn Đảo theo nhiều nguồn ước lượng.

Các em cũng không biết rằng hàng trăm lãnh tụ cách mạng không Cộng sản mà đức độ và tài năng bao trùm nhiều lãnh vực như Đức Huỳnh Giáo Chủ, Trương Tử Anh, Phạm Quỳnh, Khái Hưng, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch, Bùi Quang Chiêu, Hồ Văn Ngà, Nguyễn Thế Nghiệp v.v., đã không ở tù hay chết ngoài Côn Đảo chỉ vì họ bị Cộng sản thủ tiêu ngay tại đất liền.

Khác với đảng Cộng sản được thành lập từ nước ngoài theo chỉ thị của quốc tế Cộng sản và nhiều đảng viên được đưa sang Trung Quốc, Liên Xô huấn luyện một cách bài bản nhằm thực hiện các mục tiêu ngắn hạn cũng như dài hạn của trung ương đảng đề ra, phần lớn đảng phái không Cộng sản đã sinh ra và lớn lên ngay trong lòng dân tộc với tất cả khó khăn, thiếu thốn về mọi mặt. Họ không chỉ bị chết dưới lưỡi đao phong kiến, máy chém thực dân mà còn chết trong bàn tay của những người cùng máu mủ với mình.

Đọc lại diễn tiến của cuộc khởi nghĩa Yên Thế, quá trình thành lập các đảng phái không Cộng sản và lắng nghe các nhà cách mạng trải lòng qua thơ văn đẫm đầy máu lệ, mới cảm thấy lòng yêu nước của thế hệ cha ông thật vô bờ bến.

Bằng hành trang duy nhất trên vai là lòng yêu nước, các nhà cách mạng không Cộng sản dấn thân vào con đường giải phóng dân tộc trên chuyến xe chạy bằng máu của chính mình.

Chiều mùa hè năm đó, lần đầu tiên trong đời tôi xúc động đứng im lặng trước anh linh của những anh hùng đã ngã xuống cho độc lập tự do thật sự của dân tộc. Xương thịt của những người đã hy sinh từ phong trào kháng thuế miền Trung, Hà Thành đầu độc, khởi nghĩa Duy Tân, Thái Nguyên, Yên Bái hẳn đã hòa tan vào lòng đất mẹ nhưng anh linh họ vẫn là ngọn đuốc soi sáng giấc mơ Việt Nam độc lập, tự chủ của dân tộc.

Như tôi có lần đã viết. Giấc của họ là giấc mơ của những người để lưng trần, tóc cắt ngắn, đóng khố che thân, dắt bầy con, vượt bao nhiêu núi rừng ghềnh thác trong cuộc nam tiến đầy gian nan nhưng vô cùng hiển hách, từ dọc bờ Dương Tử di dân xuống lưu vực sông Hồng cách đây gần 50 thế kỷ. Trong lúc bao nhiêu bộ tộc Bách Việt khác đã hoàn toàn bị tiêu diệt hay đồng hóa vào những tỉnh, những huyện như Hồ Nam, Quảng Tây, Quảng Đông, Vân Nam, Phúc Kiến của Trung Quốc ngày nay, giòng giống Lạc Việt qua bao độ thăng trầm, vẫn tồn tại và trưởng thành như một nước Việt Nam.

Giấc mơ của họ là giấc mơ của những người đã tạo nên nền văn minh Việt Nam rất sớm. Nơi đó, từ nhiều thế kỷ trước Công nguyên, tổ tiên chúng ta đã biết trồng cây ăn trái, biết làm đồ gốm, biết đẽo đá thành những lưỡi cuốc nhọn, biết đắp đất ngăn bờ để đưa nước sông vào ruộng. Tổ tiên chúng ta đã biết xây dựng các cơ xấu xã hội, lấy thôn làng làm căn bản, lấy nông nghiệp làm nền tảng kinh tế, lấy tình nghĩa đồng bào làm sức mạnh, lấy nguồn gốc tổ tiên (một mẹ trăm con, chung cùng bọc trứng) làm nơi nương tựa tinh thần. Những hình ảnh thân thương quen thuộc của cây đa, bến nước, sân đình gắn liền trong tâm thức của mỗi người Việt Nam. Những chiếc trống đồng Đông Sơn, Ngọc Lũ được chạm trổ tinh vi đánh dấu một thời đại vàng son trong tiến trình phát triển văn minh nhân loại. Chính tinh thần văn hóa Hòa Bình, Đông Sơn đã hun đúc thành sức mạnh dân tộc, để các thế kỷ sau đó, đủ sức đối kháng với sự xâm lăng thô bạo của các nguồn văn hóa mang ý đồ đồng hóa phát xuất từ phương Bắc.

Giấc mơ của họ là giấc mơ của một dân tộc hơn một ngàn năm trong bóng đêm nô lệ nhà Hán, nhà Ngô, nhà Đường, nhà Minh qua bốn lần bắc thuộc với bao nhiêu cực hình đày đọa, sáng xuống bể tìm ngọc châu, chiều lên non săn ngà voi, trầm hương, châu báu, dân tộc Việt vẫn bảo vệ được tính độc lập, vẫn giữ được bản sắc văn hóa Việt trong sáng và thuần nhất.

Đất nước chúng ta đã hơn một lần bị mất đi và giành lại được nhưng chúng ta hãnh diện nói lớn rằng dân tộc Việt Nam chưa bao giờ bị mất gốc. Hình ảnh những chiếc búa, những chiếc rìu, những mũi thương, mũi đao, mũi tên bằng đồng đào được ở vùng Trung Châu, Bắc Việt, ở sông Bạch Đằng, dọc Ải Nam Quan không chỉ là những cổ vật mà còn là chứng tích của bao nhiêu trận mạc, bao nhiêu cuộc chiến đấu, bao nhiêu máu xương và nước mắt của tổ tiên đã đổ xuống trước các cuộc xâm lăng của các triều đại Bắc phương khác.

Lịch sử bao giờ cũng mang tính kế tục nhưng trước hết là lịch sử của thời đại. Mỗi thế hệ có một trách nhiệm để hoàn thành những trách nhiệm mà lịch sử giao phó cho thời đại của họ nhưng dù không hoàn thành, ngọn đuốc lịch sử vẫn phải được chuyển sang bàn tay thế hệ khác. Giấc mơ về Việt Nam tự do, dân chủ và giàu mạnh dù sớm hay muộn sẽ phải thành hiện thực.

Thời gian gần đây, tôi có dịp đọc nhiều bài viết từ những tấm lòng đang băn khoăn vì đất nước. Phần lớn bắt đầu bằng nhóm chữ “chưa bao giờ …như hôm nay”. Chưa bao giờ con người Việt Nam bị khinh thường như hôm nay. Chưa bao giờ lãnh thổ Việt Nam bị chiếm đoạt trắng trợn như hôm nay. Chưa bao giờ chủ quyền đất nước bị đe dọa như hôm nay. Chưa bao giờ tài nguyên thiên nhiên bị thất thoát như hôm nay. Tất cả đều đúng cả. Tôi chỉ muốn thêm vào một “chưa bao giờ” nữa, đó là, chưa bao giờ ranh giới giữa dân tộc và phản dân tộc rõ ràng như hôm nay. Biên giới đó rõ ràng đến mức một người Việt Nam có thể chọn lựa đứng về phía chính nghĩa, phía dân tộc mà không phải lo lầm lỡ về sau.

Giới lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam đã chọn một con đường riêng của họ. Con đường đảng chọn cũng rất rõ ràng: phát triển đất nước theo định hướng Trung Quốc và cùng lúc bằng mọi giá duy trì chế độ độc tài toàn trị tại Việt Nam.

Bộ chính trị trung ương đảng Cộng sản Việt Nam không phải là những người không biết suy nghĩ, không thấy đúng, thấy sai và thậm chí có rất nhiều cơ hội để sửa sai nhưng quyền lợi cá nhân, phe nhóm và đảng đã che khuất sự sống còn và tương lai đất nước.

Nhân dân Việt Nam chịu đựng quá nhiều rồi, nhượng bộ quá nhiều rồi, lùi bước quá nhiều rồi. Từ xâm lăng Hoàng Sa đến chiến tranh biên giới, các trận đánh khu vực Lão Sơn, lấn chiếm Trường Sa, bắn chết ngư dân Thanh Hóa và hôm nay Bauxite. Chỉ một thời gian ngắn thôi mà nhìn ra biển, nhìn lên núi, nhìn xuống phố, nhìn qua sông, đâu đâu cũng thấy hàng Trung Quốc, đất Trung Quốc, đảo Trung Quốc, người Trung Quốc, vài chục năm nữa đất nước sẽ ra sao?

Tại sao Trung Quốc không bắn thủng tàu, không ăn cướp tài sản, đất đai của Thái Lan, Philippines hay ngay cả của đàn em Bắc Hàn một cách công khai, lộ liễu như họ đã và đang làm đối với Việt Nam? Một người có ý thức nào cũng biết, đơn giản bởi vì giới lãnh đạo Cộng sản Trung Quốc sống trong gan ruột của giới lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam những kẻ không còn một chọn lựa nào khác ngoài việc núp dưới chiếc dù Trung Quốc.

Như tôi có lần mách nước cho bà con ngư dân trong bài “Ai giết 9 ngư dân Thanh Hóa”, cách hay nhất để khỏi bị hải quân Trung Quốc bắn chết là khi tàu đánh cá vừa ra khỏi cửa biển thì xin các bác làm ơn hạ cái lá cờ gọi là “cờ tổ quốc” xuống dùm. Nếu phải treo thì treo đại một lá cờ Phi, cờ Thái Lan, cờ Nhật lên mũi tàu. Nói ra thì cho là phản động nhưng tin tôi đi, làm như thế bà con ngư dân mới hy vọng còn đường trở về với vợ con.

Thời điểm 1958, Pháp đã rút đi và Mỹ thì chưa đến mà Phạm Văn Đồng, còn có thể thay mặt cho 11 ủy viên bộ chính tri, hạ bút ký một văn kiện nhục nhã như thế thì với hoàn cảnh phe Cộng sản chỉ còn lại năm anh em trên một chiếc xe tang, trong đó có đến bốn em đang lâm cảnh hàn vi đói khát, thì chuyện gì mà họ không dám làm. Lê Khả Phiêu, trong giai đoạn tìm về chủ cũ năm 1991, cũng có thể đã ký những văn bản tương tự như văn bản của Phạm Văn Đồng, khác chăng, “đồng chí Phạm Văn Đồng bị lộ” và “đồng chí Lê Khả Phiêu chưa bị lộ” mà thôi.

Người Do Thái nguyền rủa Hitler, nhân loại kết án Hitler, nhưng nhân dân Đức trước khi có thái độ tương tự, họ phải biết trách các thế hệ Đức trong thập niên 30 của thế kỷ 20, bởi vì chính dân Đức thời đó bằng con đường bầu cử hợp pháp đã đồng ý đặt mình dưới sự lãnh đạo của Hitler và đảng Quốc Xã. Nhân dân Việt Nam chưa bao giờ bầu đảng Cộng sản để lãnh đạo nhưng chắc chắn cũng sẽ phải trả lời cho các thế hệ mai sau về thái độ thờ ơ, thỏa hiệp, yếu hèn của các thế hệ hôm nay trước tình trạng băng hoại đạo đức, lạc hậu kinh tế, thất thoát tài nguyên, mất mát lãnh thổ và suy yếu chủ quyền đất nước.

Trần Trung Đạo

HẠT MƯA XANH

truongdinhtuan

chưa đủ hay sao hồn gió cát
còn mong còn ngóng cơn mưa về
qua sông ướt át ngày chưa tạnh
qua núi xanh rì xanh ngõ mê

có rắc thì rắc thêm mưa bụi
mù đường chẳng thấy dốc quì hoa
anh lạt phai vàng màu nắng lụa
cho đậm trầm hương em bữa qua

là chảy ngang đây một nhánh sông
chiều lam ám khói hồn mục đồng
đếm dấu chân trâu mà ngồi đợi
chim bay trời tây tìm trời đông

mưa bụi chắc không làm ướt áo
không lạnh đầy vai lá nhớ quên
ngậm cả trời vui đi qua đó
môi nhớ cười thả hạt mưa xanh

TRƯƠNG ĐÌNH TUẤN