CƯỠI NGỌN SẤM 24

cuoingonsam
pic2 (800 x 800)

Chương 19

Tổng công kích “Mùa Hè Đỏ Lửa”

Trận công kích mà Bắc Việt gọi là Chiến dịch Nguyễn Huệ vào tháng Ba năm 1972 được người Tây phương biết đến dưới cách gọi của họ là Tổng Công Kích mùa Phục Sinh 1972 (VNCH gọi là Mùa Hè Đỏ Lửa). Trận tổng công kích này, giống như trận Tết Mậu Thân 1968 là một kế hoạch táo bạo nhằm đánh một trận quyết định về quân sự và chính trị để tiêu diệt cái mà chúng cho là tay sai của đế quốc Mỹ ở miền Nam. Cùng một lúc, bọn vẽ kế hoạch phương Bắc hy vọng sẽ tập trung được tối đa tất cả sức mạnh quân sự để tạo ra sự hoảng hốt và hỗn loạn ở miền Nam. Bởi nguy cơ về một cuộc xâm lăng ra Bắc vượt vĩ tuyến 17 do quân đội Hoa Kỳ và VNCH đã không còn nữa, chúng có đủ lý do an toàn để tung hết sức ra đánh xả láng thêm một lần. Ngoại trừ một số phải ở lại để sử dụng các hệ thống phòng không, chúng nghĩ không cần phải giữ lại lực lượng chính quy bộ binh nào tại Bắc Việt, tuy vậy vẫn có một số đơn vị trừ bị được để lại trong một thời gian vô hạn định ở phía Bắc của khu phi-quân-sự.

Với tác động của một cú sốc lớn nhờ vào sự phối hợp về bộ binh, thiết giáp và pháo binh, cộng thêm việc sử dụng tối đa các hệ thống phòng không tối tân nhất do Liên Xô viện trợ được mang vào tận các vùng tiền phương, mục tiêu tối hậu của Bắc Việt là phải chiến thắng toàn diện.

Trong khi những người dân bình thường của Bắc Việt không có chỗ nào để trút được sự bất mãn về việc các thanh niên cũng như người lớn tuổi đã bị hy sinh quá nhiều cho niềm vinh quang của “Cách mạng” thì cấp lãnh đạo của họ hoàn toàn ý thức được cái giá phải trả về nhân mạng cho chiến tranh. Cho tới thời điểm này, tâm lý các nhân vật nắm quyền hành tại Bắc Việt vẫn chưa bị chạm đến ngưỡng phải chịu thua.

Nỗ lực Việt Nam hóa chiến tranh rõ ràng đang tiến hành tốt đẹp. Bộ sậu lãnh đạo Cộng sản ý thức được là, như một quốc gia, Hoa Kỳ chịu ảnh hưởng nặng nề bởi tinh thần tự do báo chí và các sự biểu lộ phản đối chiến tranh đang lan rộng trong các trường đại học. Trong khi các thái độ tương tự sẽ bị đàn áp một cách thẳng tay tại Hà Nội hay Hải Phòng, hay bất cứ nơi nào khác phía trên vĩ tuyến 17, bộ chính trị Cộng sản ngồi rung đùi sung sướng khi thấy có quá nhiều người Mỹ đủ sức để tạo ảnh hưởng như vậy đến chiều hướng của chiến tranh.

Hậu quả của Tết Mậu Thân là một sự thất bại toàn diện giáng lên các lực lượng Cộng sản bởi quân đội Đồng minh. Dân chúng tại miền Nam đã không chịu nổi dậy chào đón các “chiến sĩ giải phóng” như chúng đã tính toán. Tuy là chiến thắng, nhưng vì cái giá phải trả quá cao đã đánh gục quyết tâm tiếp tục chiến đấu của dân Mỹ. Đầu tư về xương máu phải đổ ra để đánh đổi lấy những điều ít ỏi đạt được đã bị đánh giá là quá cao. Người Mỹ quý trọng mạng sống con người và hết sức chú ý đến việc hồi hương các tù binh chiến tranh của họ. Tất cả những điều này đã phù hợp với các nhận xét của giới lãnh đạo tại Bắc Việt.

Hành động của quân đội Mỹ tại Mỹ Lai đã trở thành một biểu hiệu có tầm mức quốc gia về sự nhục nhã, về sự sám hối, một hình thức tự hành hạ, và người Mỹ lại có vẻ thích thú một cách bệnh hoạn khi cho rằng mình đích thực là thủ phạm. Trong khi đó các tội ác và sự tàn bạo thường lệ của Cộng sản nhiều gấp bội của người Mỹ lại rất hiếm khi được bàn tán hay tường thuật một cách đàng hoàng trên báo chí.

Một trong các mối lo ngại chính của các tay vẽ kế hoạch Bắc Việt là liệu Hoa Kỳ có quay ngược lại nỗ lực lớn rút chân ra khỏi Việt Nam hiện nay đang tiến hành càng lúc càng nhanh và càng rộng lớn tựa như tảng băng đang lăn nửa đường xuống dưới chân đồi hay không? Chúng đánh giá là không. Việt Nam Cộng Hòa không có bạn bè chính trị trong nội bộ nước Mỹ. Không có ai chịu vận động thật tình để bênh vực cho họ, để đối phó lại một cách có hiệu quả ảnh hưởng của các sinh viên đang nổi giận, hoặc của những nhóm nhỏ khác gồm các cựu chiến binh Việt Nam cũng phản chiến do lòng cay đắng mà tiếng nói của họ ngày càng mạnh hơn.

Cũng không hề có truyền thống, khác với trường hợp Trung Cộng, là các nhà truyền giáo Hoa Kỳ làm việc ở đó, hoặc có kết hợp lâu dài với những người yêu chuộng tự do tại Việt Nam. Trong bài diễn văn nổi tiếng trong lễ nhậm chức năm 1961, những lời Tổng thống Kennedy đã phát biểu rằng Hoa Kỳ sẽ “trả bất cứ giá nào, chịu bất kỳ gánh nặng nào, đáp ứng bất cứ sự khó khăn nào để giúp đỡ tất cả các bạn bè chống lại bất kỳ kẻ thù nhằm bảo đảm sự trường tồn và thành công của nền Tự Do” đã không còn được áp dụng đối với Việt Nam nữa.

Bắc Việt tính toán là khả năng Hoa Kỳ sẽ sử dụng tối đa hỏa lực không quân trong một mức độ chưa từng thấy cũng cần phải lưu ý tới. Hệ thống phòng không tối tân nhất do Liên Xô cung cấp có thể sẽ hạn chế hay vô hiệu hóa được nỗ lực trả đũa của Hoa Kỳ. Thời tiết cũng sẽ giúp họ trong những ngày đầu tiên. Không chừng nếu bộ đội Bắc Việt có thể chiếm được một phần lãnh thổ nào đó đủ để khi thời tiết trở nên bất lợi cho họ, họ có lẽ cũng đã gây đủ thiệt hại cho đối phương để có thể tuyên bố là đã thành công hay bằng cách nào đó, lật đổ được cái chế độ Nguyễn Văn Thiệu đáng ghét.

Chắc chắn Hoa Kỳ sẽ không đưa binh lính hay TQLC trở lại chiến trường. Giới truyền thông và các đối thủ phản chiến trong Quốc Hội sẽ không bao giờ cho phép chính quyền làm điều đó. Nếu Nixon đủ điên rồ mà làm chuyện đó thì tất cả các trường đại học trên toàn quốc sẽ bùng nổ trong một cơn giận dữ khiến cho sự kiện tại Kent State sẽ thành mờ nhạt khi so sánh với biến động này. Còn đối với hỏa lực không quân thì Bắc Việt sẽ đành phải chấp nhận ăn thua đủ, đánh ván bài đỏ đen vậy.

Việc chuẩn bị cho cuộc tổng công kích và các hành động táo bạo của Bắc Việt đơn giản là sự khẳng định lại những điều bi quan nhất mà các nhà phân tích tình báo của Đồng minh đã lo ngại từ lâu. Phải mất tới vài ngày, khi khói lửa chiến tranh ban đầu đã tan mới đủ để cho bộ chỉ huy hỗn hợp Việt – Mỹ quá chậm chạp trong việc phát triển xong một kế hoạch phòng thủ liên hiệp nào đó và bắt đầu lên kế hoạch phản công.

Thần chiến tranh có vẻ ủng hộ phe xâm lược. Trong những ngày và tuần lễ trước khi cuộc tấn công được phát động, lực lượng phòng không gồm pháo binh và hỏa tiễn địa đối không Bắc Việt tuyên bố đã bắn hạ một số máy bay Hoa Kỳ đang thực hiện các phi vụ yểm trợ như thường lệ trong khu phi-quân-sự. Hệ thống phòng không tốt hơn và thời tiết xấu đã làm cho khả năng quan sát trên không về sự di chuyển của địch thủ bị hạn chế một cách đáng kể.
Việc sử dụng một loạt các trọng pháo tầm xa do Liên Xô và Trung Cộng cung cấp, lâu nay vẫn chỉ được dùng đến để chống các lực lượng Đồng minh khi được bắn đi từ vùng Cơ Rốc bên Lào đến các mục tiêu như Khe Sanh, vượt suốt chiều dài của khu phi-quân-sự và các vùng sát biên giới với Lào, đã lộ ra là khả năng của kẻ thù vượt xa các dự đoán. Ngay cùng một lúc, có vẻ như tất cả các vị trị đóng quân của các đơn vị Quân Lực VNCH và TQLC cùng với các khu dân cư quan trọng trong tầm tác xạ đều bị pháo kích với một cường độ mãnh liệt và chính xác.

Từ hầm trú ẩn đến lòng chảo nóng

Chẳng ai có thể xác định được phe Cộng sản có thể chọn một thời điểm nào thuận tiện hơn để tung ra các loạt tấn công lớn khủng khiếp vượt qua khu phi-quân-sự và qua địa phận Tây Bắc của Lào hay không. Nhưng cũng chẳng cần phải là Tôn Tử, Clausewitz hay McArthur, hoặc ngay cả bất cứ khóa sinh hạng bét nào trong các trường trung cấp quân sự tại Hoa Kỳ hay Liên Xô, ai cũng thấy Cộng sản đã chọn được một thời điểm lý tưởng để chơi xả láng.

Cho dù vô tình hay cố ý, có vẻ như lực lượng Đồng minh đã bị ru ngủ bởi một cảm giác an toàn giả tạo vì không ai có thể nghĩ đến một cuộc tấn công theo hết chiều rộng của khu phi-quân-sự. Bọn Cộng sản chưa hề làm chuyện đó bao giờ và dĩ nhiên họ không có quyền làm điều đó theo Hiệp định Genève. Ngay lúc này thì thời tiết xấu đã hỗ trợ cho địch quân vì các đám mây mù xuống thấp khoảng từ 1.000 đến 1.500 bộ trên khắp Vùng I Chiến Thuật trên thực tế đã làm cho không quân yểm trợ chiến thuật hoàn toàn vô dụng.

Thêm vào sự xáo trộn và hỗn loạn, đặc biệt là ở câu hỏi phải chăng đã có những hành động xảo quyệt và phản bội từ cấp chỉ huy cao cấp của QLVNCH, là ngay đúng vào lúc đó có hai trong số ba Trung đoàn của Sư đoàn 3 BB đang thực hiện một thao tác gọi là hoán chuyển vị trí tác chiến. Trong thao tác này, hai đơn vị thường là cùng cấp số với nhau di chuyển thay vị trí với nhau với mục đích đánh lừa đối phương. Trong những điều kiện thực tập bình thường, thì động tác chiến thuật này cũng đã là một sự nhức đầu cho cấp chỉ huy và tiếp vận rồi. Trong tình huống đang giao chiến thì thật sự là một cơn ác mộng. Đối với Sư đoàn 3, chuyện đó là một sự thảm hại.

Sư đoàn 3 được thành lập sau cuộc hành quân Lam Sơn 719 và còn chưa kỷ niệm được đệ nhất chu niên như một sư đoàn nữa. Được tạo thành từ ba Trung đoàn bộ binh – Trung đoàn 2, 56 và 57 – chỉ có Trung đoàn 2 là có lịch sử thâm niên hơn đơn vị chủ quản và được các sĩ quan Hoa Kỳ vừa mới phục vụ trong vai trò cố vấn quân sự đánh giá là tạm đủ sức chiến đấu. Hai Trung đoàn 56 và 57, tuy là những đơn vị quân sự hợp pháp nhưng có vẻ giống như là lực lượng dân quân nhiều hơn vì đa số binh lính được tuyển mộ tại địa phương như Quảng Trị hay các tỉnh lân cận. Với quân lính được huấn luyện sơ sài, lãnh đạo ở hầu hết mọi cấp bực cũng giống như vậy, là thiếu kinh nghiệm và không được trui rèn đúng mức. Một số khá lớn binh sĩ trong các Trung đoàn này là đã bị sung vào vì tội đào ngũ từ những đơn vị Quân Lực VNCH khác.

Trên nhiều khía cạnh, sự tương quan giữa Quân Lực VNCH và Quân đội Hoa Kỳ cũng y hệt hình ảnh của TQLC Việt Nam và TQLC Hoa Kỳ vậy. Trong khi Quân đội Hoa Kỳ chỉ nhỉnh hơn binh đoàn TQLC Hoa Kỳ một chút thì Quân lực VNCH lớn hơn binh chủng TQLC Việt Nam rất nhiều. Tuy nhỏ và có nhiều hạn chế hơn nhưng binh chủng TQLC Việt Nam có vẻ như đang phát triển toàn diện trong các nhiệm vụ, và dù được thành lập khá muộn màng trong cuộc chiến, binh chủng này vẫn giữ được nhiều tiêu chuẩn rất cao. Các đơn vị QLVNCH cũng có rất nhiều binh sĩ dũng cảm và các cấp chỉ huy đơn vị cấp nhỏ táo bạo. Tuy nhiên vấn đề đau lòng đối với họ là đã bị lẫn vào một số lớn hơn các đồng đội được chỉ huy và động viên tinh thần một cách quá yếu kém. Mặc dù Quân đội Hoa Kỳ đã nhiều năm qua sử dụng các cố vấn để giúp các đơn vị này nhưng tầm vóc đơn vị cũng là một vấn đề lớn. Với tiến trình Việt Nam hóa chiến tranh và việc giảm thiểu liên tục các lực lượng Hoa Kỳ, rất ít đơn vị VNCH còn đủ cố vấn quân sự thông hiểu tình thế hầu là chỗ dựa trong những tình huống nguy kịch. Trong ngày 30 tháng Ba 1972, Trung đoàn 2 không còn được sự cố vấn trực tiếp nào nữa từ phía Hoa Kỳ. Cả hai Trung đoàn 56 và 57 thì vẫn còn một ít nhưng chỉ ở cấp trung đoàn mà thôi.

Bắt đầu vào giữa trưa giờ địa phương ngày 30 tháng Ba 1972 cả 12 căn cứ hỏa lực cố định trải dài toàn bộ chiều ngang từ Đông sang Tây của khu phi-quân-sự và khoảng 20 cây số từ Bắc xuống Nam sát với biên giới Lào, cùng một lúc chịu đựng những cuộc pháo kích khốc liệt và liên tục của trọng pháo và hỏa tiễn với mức độ chưa từng thấy bao giờ. Một lần nữa, ở vị thế phòng thủ, các đơn vị VNCH và TQLC hoạt động chung quanh các căn cứ hỏa lực cố định, dễ thấy và dễ bị xác định tọa độ bởi tiền sát viên Bắc Việt. Ngoại trừ bốn khẩu 175 ly của VNCH tại căn cứ Camp Carroll, các đơn vị VNCH và TQLC khi đụng trận chỉ có thể gọi được pháo binh 105 và 155 ly. Với tầm tác xạ tối đa vượt xa cả hai loại 105 và 155 ly, quân Bắc Việt ung dung bố trí trọng pháo 130 ly và hỏa tiễn 122 ly của chúng ra khỏi tầm bắn của VNCH và tự do pháo kích họ mà không sợ bị trả đũa.

Kế hoạch của Bắc Việt là những đợt pháo kích đầu tiên nhắm vào các vị trí pháo binh VNCH mà chúng đã rõ. Đó là chưa kể bên VNCH phản pháo cũng chậm chạp. Các pháo thủ VNCH chưa quen bị pháo kích như vậy. Sau khi các đơn vị pháo binh của VNCH bị tắt tiếng – vì bị tiêu diệt hay ngưng hoạt động vì quá sợ – kẻ thù có thể tự do chuyển qua các mục tiêu khác. Ngoài ra, những đợt pháo kích đầu tiên cũng đã phá hủy được một số lớn các phương tiện liên lạc của VNCH và làm tăng thêm cái cảm giác bị hỗn loạn, bị cô lập như rắn mất đầu.

Đằng sau những cuộc pháo kích là hơn 30.000 lính Bắc Việt và, lần đầu tiên tại Việt Nam có hằng trăm chiến xa T-54 và PT-76 do Liên Xô cung cấp đã lăn bánh tiến về phía trước giống như một gã khổng lồ không thể ngăn cản nổi. Kiểu chiến tranh quy ước mà quân Mỹ vẫn luôn mong muốn được dàn ra đánh tại Việt Nam sau khi thắng một lần trong kỳ Tết 1968 lại được Bắc Việt tung ra, lần này với một tầm cỡ lớn hơn rất nhiều.

Cuộc tổng công kích của quân Bắc Việt không chỉ hạn chế ở các mục tiêu quân sự. Trong vài năm qua, người dân thường Việt Nam đã bị đánh lừa bởi cái cảm giác an bình nên không hề nghĩ tới chuyện họ sẽ bị quân xâm lược tấn công như vậy. Các cuộc pháo kích vào khu đông dân cư bởi quân Bắc Việt đang tiến dần về phía Nam là một mục đích trọng yếu của kế hoạch nhằm gieo rắc hoảng loạn và phá chặn các mạng lưới giao thông quan trọng, từ đó làm chậm thêm phản ứng của Quân lực VNCH và TQLC.

Nhìn từ khía cạnh những người phản chiến hung hăng nhất tại Hoa Kỳ thì phản ứng chậm chạp, hay thụ động của Quân lực VNCH là điều đương nhiên có thể dự đoán trước được. Trong khi nhiều đơn vị VNCH cố gắng chống cự và chiến đấu thì có một số đơn vị bộ binh, pháo binh và yểm trợ khác tưởng chừng là đã tan biến đi, vào nhiều nơi mà không còn hiện hữu nữa. Trong những giờ đầu tiên khi quân Cộng sản mở cuộc tấn công, các con đường dẫn xuống phía Nam và xa vùng giao tranh bị tràn ngập bởi hàng ngàn và hàng ngàn dân chúng đi bộ, chạy trốn, thậm chí bò dưới đất, một cách hỗn loạn. Họ cưỡi bất cứ con vật nào hay lái loại xe nào có bánh nhằm thoát khỏi cơn bão lửa từ phía Bắc. Lẫn lộn với dân chúng có hàng ngàn thanh niên vẫn còn mặc quân phục nhưng không còn đeo bảng tên, cấp bậc hay phù hiệu đơn vị nữa. Một số lớn những người đó là lính của Trung đoàn 57 đã buông khí giới chạy theo Quốc lộ 1 về nhà gần đó để di tản gia đình về phía Nam nhằm lánh xa cuộc tàn sát. Gần như tất cả các nơi ở phía Bắc tỉnh Quảng Trị đều bị bắn phá tan tành. Không có một tin tức nào là tốt đẹp cả.

Cùng với việc không có một tin mừng nào để báo cáo, trong những giờ đầu tiên của cuộc tấn công của Cộng sản, nguồn thông tin đưa xuống Sài Gòn ở phía Nam chỉ là những sự chỉ trích lẫn nhau qua hệ thống điện đàm chiến thuật của Quân lực VNCH. Có lẽ vì cuộc tấn công quá bất ngờ nên các sĩ quan cao cấp của Quân lực VNCH có cảm giác bị lúng túng – có khi bị mất mặt là đằng khác – do đó họ khó chấp nhận các tin xấu và làm chậm trễ đi việc loan báo các thông tin nầy.

Người Mỹ không hề bị vướng mắc về vấn đề sĩ diện, vì vậy Gerry Turley, lúc đó đang ở trong hầm trú ẩn của Trung tâm Hành quân Sư Đoàn 3, tuy chỉ giữ vai trò quan sát và không chính thức, đã lập tức nắm lấy tình hình và bắt đầu báo cáo về Sài Gòn. (đường liên lạc giữa TTHQ Sư Đoàn 3 và Trung Tâm MACV ở Sài Gòn chạy qua một đường dây điện thoại duy nhất, lỗi thời và vận hành bằng tay gắn trong hầm trú ẩn. Gerry không biết là đường dây liên lạc này có chạy thẳng vào Sài Gòn hay nó được chuyển qua những trạm tiếp vận hay không. Ông chỉ lo ngại về phẩm chất của các cuộc điện đàm, nếu tốt lắm cũng chỉ lúc được lúc không). Những vị ở MACV cũng phản ứng chậm chạp không khác gì bên phía bạn VNCH nhưng vì các lý do khác nhau. Họ tin chắc trong đầu là nếu có tổng tấn công xảy ra thì các mục tiêu sẽ xa hơn ở phía Nam chứ không thể nằm trong vùng phi-quân-sự được. Do vậy họ nghĩ đợt tấn công này chỉ là đánh nhử mà thôi. Quả thật, rất khó thông cảm được sự ẩm ướt của sương mù San Francisco nếu người đó chỉ sống trong nắng ấm Los Angeles. Do đó, cũng thật khó để mường tượng được chiến tranh toàn diện tại Quảng Trị trong khi Sài Gòn vẫn sinh hoạt như thường lệ. MACV vẫn chưa tỏ ra có dấu hiệu gì bối rối lắm.

Quang cảnh và hoạt động tại TTHQ Sư Đoàn 3 tại Ái Tử lúc này là ngoài sức tưởng tượng. Ngoài việc bị lãnh pháo kích và hỏa tiễn như các nơi khác, tại đây còn là chỗ tiếp nhận, theo sát các dữ kiện và báo cáo điện đàm từ các đơn vị phụ thuộc, rồi ghi chú lên những tấm bản đồ hành quân lớn cho những người có trách nhiệm điều phối số lượng tăng viện vốn ít ỏi có thể ra quyết định được, là chỗ nào cần tiếp thêm máu, chỗ nào cần thắt lại hay cắt bỏ đi…. Tất cả những nhân sự trong quân đội Hoa Kỳ giữ vai trò yểm trợ, cũng như các nhân viên VNCH đều chưa hề được chuẩn bị cho các cuộc tấn công với tầm vóc và cường độ lớn như vậy.

Nằm trong hầm trú ẩn TTHQ là một cách tiếp cận với mặt trận gần nhất – trong trường hợp các đơn vị tiền tuyến bị đụng độ – mà không thực sự chạm địch. Tình hình biến chuyển liên tục được thể hiện bởi các điểm được di chuyển liên tiếp theo hướng xấu nhất đã vẽ ra một bức tranh ảm đạm cho thấy tất cả các điểm quân ta ở trên bản đồ sắp sửa bị tràn ngập. Đối với các nhân sự trong Trung tâm Hành quân thì tình hình giống như trong một cuộc tranh giải vật lộn trong trường đại học, chỉ có điều là không hề có thời hạn hay trọng tài nào cả. Trên từng cái chiếu tranh tài cách biệt nhau, các đối thủ chỉ biết phạm vi không gian của mình. Họ vật lộn sống chết với nhau mà không cần biết bên cạnh chuyện gì đang xảy ra. Chỉ có những người trong TTHQ mới có cơ hội để quan sát một bức tranh toàn diện hơn. Khi ánh nắng tắt dần vào ngày 30 tháng Ba 1972, bức tranh này không cho thấy một tia hy vọng nào cả

Screen Shot 2015-06-03 at 9.18.31 AM

TRÁNG SĨ HÀNH.

khatiemly
(Viết tặng Vĩnh Thuyên)

Tạm dừng vó ngựa ở nơi đây,
Quán cũ phong sương phủ lớp dày.
Còn ta, nửa kiếp phiêu linh đó,
Gom vào bầu chưa đủ cuộc say!

Hàng liễu vật mình theo gió chướng,
Chợt nhớ quê nhà tóc liễu bay.
Hoa đào trước quán bâng khuâng rụng,
Chẳng biết người xưa má vẫn đầy?
Môi xưa còn mọng màu mận chín,
Tóc xưa còn thoảng chất hương lài?
Bóng xưa mờ nhạt lung linh chén,
Lá xưa buồn đón gió heo may?

Tống Giang rượu uống đong nghìn chén,
Mà giận mình chưa đổi cuộc xoay.
Muốn tung cánh đại bàng muôn dặm,
Mà giận mình chưa đủ sức bay!
Sờ tóc bạc, thẹn cùng tuấn mã,
Vỗ gươm thiêng, thẹn với cỏ cây.
Vó ngựa kì hồ chưa mỏi bước,
Mà áo phong trần đã bạc vai!

Thẹn nỗi bình sanh chưa toại chí,
Gươm anh hùng đã vuột tầm tay,
Thẹn nghiên bút chợ đời rao bán,
Thẹn ơn cha, ơn mẹ, ơn thầy!
Lỡ thẹn cùng Lương Sơn hảo hán,
Lại thẹn cùng bóng nguyệt non tây.

(bỏ một đoạn)

Tầm Dương kĩ nữ ôm đàn hát,
Hơi rượu mơ hồ, thương nhớ phôi phai?
Nàng nức nở làm sầu tiếng nhạc,
Ta bâng khuâng dở chén Mao Đài.
Bóng người cũ tan dần trong men đắng,
Em và nàng, tri kỉ mấy ai?

Dũng sĩ ngày mai nào dám hẹn.
Nên nghìn đêm, còn lại một đêm nay.
Nén u uất, rượu nồng luôn cạn chén,
Giấu đau thương, tóc liễu rũ che mày.
Nàng nửa kiếp đón đưa người mấy lượt,
Nên đắng lòng mà rượu ngọt thành cay?
Ta nửa kiếp giang hồ chân mỏi bước,
Gom vào bầu chưa đủ một cơn say!

Kha Tiệm Ly

NGỌNG NGHỊU THƠ

levanhieu

Thi thoảng tôi làm thơ có lời đề tặng
Và không đề tặng .
Đề tặng là minh chứng với mọi người
Không đề tặng là muốn riêng mình em nhận

Thơ thì vô cùng
Quà thì vô tận
Tôi không có những món quà thượng thặng
Em giả bộ ngu ngơ
Thích những món bình thường

Tôi thấy thơ tôi em gối đầu giường
Thơ tôi chật trong ví em nữa đấy

Hèn chi ,
Thơ tôi cứ nóng lên hôi hổi
Khoảng cách vợi xa
Chữ vẫn nồng nàn

Này là bóng cây , này là con đường
Này là gót chân em bỏng đỏ
( mãi nhớ con đường in dấu chân hai đứa )
Giờ đi qua , lòng cứ ngậm ngùi

Thoáng thấy con đường có cánh hoa rơi
Loanh quanh hoài mà không tìm được cho em chiếc trâm cài tóc
Giận trời mưa làm tóc em ướt
Anh giận anh sao lắm vụng về

Đi suốt cuộc đời
Anh đứa trẻ mãi lên ba…

Lê Văn Hiếu

THƠ NGÂY ĐàMẤT…

phamnguyen

Những năm tháng hoang dại thời thanh xuân, sẽ nằm yên đâu đó trong lớp bụi thời gian, nếu không có hình ảnh hay một âm thanh nào nhắc nhở ta quay trở lại, tìm kiếm trong quên lảng một vài kỹ niệm đẹp. Một tiếng chim kêu trên gờ mái xám xịt mùa thu hay giọng hát nỉ non của con dế mèn nơi đống đồ phế liệu. Một tấm hình cong queo quen thuộc nụ cười hay một bảng tên đường dẫn về nhà ai có hàng cây xanh xao mùi vị cuộc tình. Tất cả đều có khả năng đánh động trái tim và làm cho chúng ta trở nên vui hơn hoặc buồn rầu hơn. Hạnh phúc nhiều hơn hay đau khổ kém hơn- trong một khoảnh khắc nào đó.
Cái hình ảnh mà tôi muốn nói với các bạn khi một mình đi qua cánh đồng còn ướt đẫm sương đêm như những dòng lệ hoan lạc ngày nào. Và trên đầu tôi xanh ngắt một vầng trăng. Ðêm về sáng. Con đường nửa khuya mơ hồ sương khói và thiếu tiếng cười làm nên cõi mộng mị Bồ Tùng Linh. Thiếu câu thần chú và hồi còi đuổi theo dấu chân loài chồn tu luyện ngàn năm. Vầng trăng tròn hiện ra trước xe tôi trong một khoảng cách đều đặn và hình như có mặt từ lâu lắm. Khi trời đất còn hoang sơ những vùng thảo nguyên chưa có dấu chân
người. Ai đó đã nói rằng trăng trên xứ Mỹ tròn hơn trăng nơi quê nhà. Trăng cũng sáng hơn trăng của thời thơ ấu. Nhưng trăng đã lạnh lùng hơn. Ðiều đó rất đúng.
Ðâu mất rồi những mùa trăng êm đềm mà tuổi thơ thao thức chờ vầng trăng vượt lên hàng cau trước sân nhà. Ðứa bé trai mười tuổi chờ đợi trăng lên nhưng mõi mòn và ngủ quên trên ghế bố, đem theo giấc mơ có vầng trăng non cùng chú cuội già. Ðêm trung thu đầu đời xách đèn lồng của ông ngoại làm ban chiều đi vòng quanh xóm. Và chiếc đèn bị cháy trước khi về trở lại nhà. Ðứa bé bất lực nhìn ngọn lửa ăn dần những manh giấy bóng nhiều màu như tuổi thơ trong suốt những điều huyễn hoặc. Chưa biết sau lưng cuộc đời trăng mênh mông kia là những gai nhọn âu sầu. Ngọn lửa cháy rụi theo những dấu chân tức tửi cơ hàn, nơi mẹ tôi chạy vạy từng ngày để nuôi một bầy con chưa biết buồn, dù bão giông hôm qua còn hằn trên vai những roi đời sợ hãi.
Ðâu mất rồi những miếng bánh trung thu được chia dè sẽn còn thơm mùi hạt dưa hạt mè. Miếng bánh trôi mất trong cổ họng ham ăn của chúng tôi trước khi kịp nhai. Chúng tôi thèm thuồng tự nhủ thôi hãy chờ đợi mùa trăng năm sau. Vì biết rằng khả năng mẹ tôi chỉ có ngần ấy. Nhưng không phải vì vậy mà cuộc đời thiếu đi vị ngọt và tâm hồn mờ nhạt hình ảnh cây đa và chú cuội già. Trăng luôn là nỗi đam mê làm choáng ngợp tâm hồn tôi trong suốt nhiều năm. Cho đến khi tôi vào lính. Cho đến khi tôi chạy đuổi theo những cuộc tình vô vọng.
Tôi lái xe đi qua ngôi trường con tôi học năm rồi. Nó vừa từ giả nơi đó để đến học một trường khác. Buổi sáng mai lòng no đầy tiếng gió.
Nơi sân trường vắng bóng bầy trẻ thơ và những người cha không còn có dịp đưa chúng đến trường. Không có dịp nghe chúng nũng nịu. Những lời nói thơ ngây của chúng làm xót xa những người cha đã có một thời ngã ngựa. Nơi ghế dựa êm ái và thắt lưng an toàn, có lẽ chúng đang mơ một giấc mơ đầy những kẹo ngọt, lúc xe chạy trong buổi sớm mai còn ướt đẫm sương mù. Nhưng có còn giấc mơ nào cho những người đàn ông già trước tuổi của mình? Những người đàn ông cách đây mấy chục năm dâng hiến thanh xuân mình cho một lý tưởng rực rỡ?
Hình như không có ai không ngậm ngùi khi hồi tưởng lại quá khứ thời thanh xuân, nơi tiếng ve sầu rền rĩ dọc theo những hàng phượng đỏ. Khi cổng trường vừa khép lại và mới vừa hôm qua ai đó đã để lòng thổn thức trên từng trang giấy trắng học trò. Lời chia tay nắn nót trong quyển lưu bút như một hành trang mang theo xuống tam cấp cuộc đời. Những gả học trò tóc tai bồng bềnh lãng mạn mới vừa biết tương tư nơi sân trường. Biết đâu ngày mai sẽ không biền biệt nơi một vùng biên giới nào đó. Và nói cho cùng mọi giá trị và chân lý cuộc đời không quan trọng hơn một ly rượu ngày chia ly. Hay một hơi thuốc se môi chiều mất ngủ. Họ quay lưng lại những lấp lánh hào quang đời thường và đi về một nghiệt ngã phía trước.
Mùa này ở Austin ngày thật dài và đêm thật ngắn. Tám giờ tối còn ánh sáng mặt trời trong khi chiều đang chết trên đường phố. Trên những cành phượng vĩ màu hồng. Chúng đang có mặt và phân bua với cuộc đời cháy rát những dung tục. Không có màu hoa mang nỗi rưng rưng học trò từ trong này cửa lớp nhìn ra. Cùng những giông bão ngày mới lớn:
“Có hoa có lá và người khóc
Em sợ ngày nao phải lấy chồng…”
Thế hệ con tôi bây giờ không còn những hình ảnh đó. Cho nên chúng không có một kỹ niệm mật thiết về trường lớp. Về những năm tháng đầu đời hồn nhiên bên bảng đen phấn trắng. Thế hệ con tôi chắc không còn cảm xúc khi nghe lại tiếng hát Thanh Tuyền qua Nỗi Buồn Hoa Phượng. Chúng không hình dung ra tại sao ”… màu hoa phượng thắm như máu con tim”?
Khi con tôi sang Mỹ, nó còn nhỏ. Nhỏ lắm. Nó không còn nhớ Trung Thu ở VN như thế nào và tôi cố gắng dạy cho nó hiểu ý nghĩa của ngày Tết Nhi Ðồng. Mỗi năm, khi có dịp tôi đưa nó xem người ta tổ chức Trung Thu. Khi thì ở Chùa, khi thì ở Nhà Thờ. Năm vừa qua tại nhà thờ Tin Lành. Trong không khí êm dịu của một ngày đầu tháng mười, trên những tàng cây bắt đầu mang triệu chứng của tàn phai, vầng trăng vượt lên lặng lẽ. Ban đầu nó chỉ là một quả banh màu cam dịu dàng nằm trốn lánh đâu đó sau bức tường in hình cây Thánh Giá. Một lúc sau nó rời xa những ngọn đèn xa hoa và nhà cửa cao tầng. Như thơ ấu đã rời xa tôi và chìm khuất trong cổ tích. Tôi không biết mình phải làm sao dạy cho nó bài học của người lớn. Có những sự việc mơ hồ tưởng như một giấc chiêm bao nhưng lại quyết định không nhỏ đến cuộc sống con người. Chỉ vài phút nửa thôi, người ta sẽ phân phát cho bọn trẻ những chiếc lồng đèn làm sẳn cùng một kích thước, cùng một kiễu mẫu giống nhau. Người ta sẽ gởi thêm cho chúng một chiếc bánh được gọi tên là bánh Trung Thu nhưng chắc chúng sẽ không tìm thấy mùi thơm nồng nàn của hột dưa hột mè nằm đâu đó trong bánh. Chúng sẽ không tìm thấy hương vị hạnh phúc tê đọng trên đầu lưỡi, giữa hai hàm răng để cảm giác sự luyến tiếc. Vì không có danh từ thiếu thốn trên xứ sở được mệnh danh là Hợp chũng quốc Hoa Kỳ. Không có bà mẹ nào tại đây chạy đôn chạy đáo trong buổi chiều trước ngày Trung Thu để tìm mua cho con mình một chiếc bánh mang dấu ấn màu đỏ của tiệm Ðông Hưng Viên. Chỉ có những bà mẹ Việt Nam của tôi xa tít buồn rầu đứng chôn chân trước hàng bánh không muốn bước đi vì tiền trong túi không đủ để mua thêm cho con mình một chút vị ngọt.
Tôi không nhớ con tôi rời khỏi tôi trong lúc nào. Nó đang đứng xếp hàng phía trước chờ đến phiên được quà. Sự vui mừng của nó đong đầy bao nhiêu trên những năm tháng cơ hàn của ba nó? Chắc vừa đủ thêm một chút sức nặng làm tâm hồn tôi bồi hồi. Tôi ngồi xuống dựa lưng vào chấn song của hàng rào sắt phân chia sân nhà thờ. Sân xi măng sạch sẽ vì cơn mưa hồi sáng đã cuốn trôi đi mọi bụi bậm. Tôi muốn nằm xuống gối đầu lên hai cánh tay nhìn lên vầng trăng lạnh lùng. Thật khó lòng để chúng ta thả rong trí nhớ về ngược thời gian ba bốn chục năm mà không vấp phải sự kháng cự của quên lãng.
Ánh trăng vằng vặc trên đầu và gió mát mơn trớn da thịt tôi. Không vách phên nào đủ sức nhốt kín được gió, nên “gió không có nhà gió đi muôn phương… và… có thằng cuội già ôm một giấc mơ…”
Không có ngăn kéo nào trong tim để giữ cho hồi tưởng hãy nằm yên. Nên bây giờ vài vì sao xa tít nơi cuối trời kia làm tôi nghĩ đến những giọt lệ.
Tôi nhớ đến đoạn văn của Alphonse Daudet, có tựa là “Những Vì Sao” nói về gã chăn chiên và cô chủ bé bỏng. Một buổi chiều cô đem thức ăn lên đồi cho gã mục đồng và định bụng sẽ quay về trước khi trời kịp tối. Nhưng cơn mưa tình cờ giữ chân cô lại. Cô sợ những dòng suối cạn đầy bất trắc cùng những con sói trên đường về. Khuya, khi vị Thần Ðêm đi rãi hàng vạn viên kim cương lấp lánh trên vòm trời, thì cô quá mệt mõi ngũ quên trên vai của gả mục đồng lương thiện. Tác giả dùng ngôi thứ nhất để kể lại tâm trạng của người chăn chiên vừa biết có điều gì đó giống như tình yêu- gần gũi với tình yêu. Một điều gì đó cũng thánh thiện như giọt nước ướt sũng trên đôi mi đang khép kín kia. Cô bé vừa qua một cơn sợ hãi khi chợt thấy một vì sao đổi ngôi. Trong khi cô chủ ngủ, gã nhìn lên những vì sao trên trời và ao ước một tình yêu lấp lánh những huyền nhiệm.
“những vì sao nhỏ lệ suốt đêm thâu
gió sẽ bảo tình yêu nào cũng đẹp”
Không có ai trên vai để tôi tin rằng cuộc đời luôn êm đềm và lôi kéo theo những tình yêu đẹp. Trên cuối đường tạm dung, giấc mơ nhà xe, cơm áo làm thui chột mọi lý tưởng thời trai trẻ. Trong khi tình yêu, sao quá mờ nhạt ở cuối trời. Chỉ còn lại, một chút ánh trăng bàng hoàng trên đầu. Và một chút thơ ngây đã mất…

Phạm Ngũ Yên

KHI TA CHẾT

10735644_826194720769236_378143114_n (1)

khi ta chết …đừng đem ta ra biển
đừng chôn ta
đừng liệm
cũng đừng thiêu
đừng bắt ta đầu thai , đừng bắt ăn cháo lú
đừng khóc , đừng cười , đừng nói những câu điêu!

sau khi chết ta sẽ làm …ma quỉ
về đặt bom nổ mẹ cái Ba Đình
về nói nhỏ với bà con lối xóm
này sợ gì mấy đứa giả thần linh…

sẽ làm phép cho cây xanh Hà Nội
những Vàng Tâm , hoa Sữa biết ..biểu tình
tràn xuống phố với đoàn người đòi sống
sống như người , như nắng gọi bình minh.

tay sẽ vẫy trong rừng cờ tiếng gọi
về Thăng Long lập hội nghị Diên Hồng
có con nít , có ông già , bà lão
có đàn bà , (có luôn cả đàn ông ).

em đem mực xâm trên vai : Sát Thát
ta ra đường vỗ trống gọi dân đi
đòi lại đất , lấy lại rừng đã mất
ra biển đông cắm lại ngọn hoàng kì.

khi ta chết ta sẽ thành ma quỉ
quỉ nước Nam ( vua phương bắc đéo thèm )
lưng đeo kiếm , xài luật rừng ,luật khỉ
đi trảm đầu lũ sâu bọ , quan tham …

khi ta chết đừng đem ta ra biển
để ta trôi hôm đường biến thành sông
làm ngập nước nhà ông to bà lớn
úm ba la biến chúng nó thành không.

khi ta chết đừng ….cọp thơ ta nhé
đừng đạo văn ( ta bóp cổ bây giờ )
đừng ăn cắp , đừng làm phường trộm đạo
hãy để đời quay lại chốn còn thơ…

NGÔ YÊN THÁI

Tam bách dư niên hậu.

 

luutrongtuong

Somewhere in time.
Ba trăm năm,
Ðâu phải đã lỡ làng.
Ðường xưa ngại lối,
Bước hoang mang.
Vườn hoang cỏ lặng.
Hồn phiêu lãng.
Người đấy,
Ta đây,
Sao ngỡ ngàng.

Ðây là đâu?
Ðâu là đây?
Cầu nghiêng liễu rủ,
Nắng hây hây.
Phấn hương thoang thoảng
Lồng trong gió.
Nét vàng rực rỡ
Áo hoa bay.

Mỏng như sương,
Nồng như khói,
Yểu điệu như chiều thu,
Nõn nà như nắng sớm,
Cuộc vờn mây
Theo gió
Thoát xiêm y.

Thực hay mơ?
Mông lung sương khói,
Tình hư ảo.
Ðiên loạn cuồng say,
Ta với ai?

Thúy-Kiều chăng?
Cơn lốc tình giông bão
Dập dồn như sóng cuốn mây trôi.
Rồi nàng Vân
E ấp gỡ trâm cài
Yếm buông nhè nhẹ,
Lưng cầu nước xuôi.
Somewhere in time.

Tố-Như Tiên-Sinh ơi!
Ta đắc tội cùng Cụ rồi.
Ba trăm năm thật quá ngắn,
Mà giấc mộng lại quá dài.
Somewhere in time…

Lưu Trọng Tưởng.

( Ta và Người, Một chút cảm thông
NỬA ĐỜI THAO THỨC)

Xuân Lối Cũ

trandzalu

Tôi trở lại kiếm người trên lối cũ
nghe mùa xuân chợt rũ xuống giận hờn
nơi thành cổ loài chim xưa thôi hót
tôi tìm đâu bóng nhớ thuở môi hồng?

Người đã xa như một vì sao nhỏ
cuối chân trời thương nhớ vẫn chưa nguôi
tôi đếm những mùa xuân qua hút bóng
nghe trong hồn hoa cỏ cũng tàn phai

Phố chợ đó cũng hoang đường cổ tích
dấu chân son người xoá bỏ tháng ngày
bây giờ đó đạn bom thay tình ái
ru tôi hoài trên những luống chiêm bao

Người đã xa người còn nghe tiếng nói
tôi phương này tuổi đá lạnh vàng không?
ơi lối cũ mùa xuân xưa chợt hiện
chuông tim tôi dây đứt lạnh vô cùng

Trần Dzạ Lữ
(trích “Hát Dạo Bên Trời”)

THẰNG CHẢ

 

nguyenleuyen
(A Madame Phuong Thao, avec la chanson Aimer à perdre la raison)

“Nè, tao hỏi thiệt. Mày chết dưới bàn tay lão ấy rồi hả…?”.
Chị Nhân kéo chữ “hả” dài thậm thượt, rất giống với âm thanh lưỡi sóng trườn vào mép cát đang đuối sức. Lại thêm cái mặt dài đuỗng, miệng há rộng, hai đồng tử mở hết cỡ; trông chị cứ như vừa thấy xác người lạ trên vệ đường, khiến nàng muốn cười thật to, dẫu cho giọng cười lúc đó có thể ướt nhẹp, khai khai mùi nước tiểu trẻ con đái dầm.
Tại sao người lớn, ý nàng muốn nói là người có vai vế, tuổi tác thường hay nhìn kẻ dưới với đôi mắt kẻ cả, bộ tịch bề trên.
Giọng điệu của chị Nhân nghe y chang giọng mẹ. Cũng xẳng lét. Chua lòm, cũng bới tận gốc ngọn, thiếu điều bứt trụi cả lá mà không cần động tới tay chân. Thiệt buồn cười. Người lớn bao giờ cũng cho rằng mình đúng. Người càng có nhiều quyền thì càng chứng tỏ mình là đấng toàn năng, luôn luôn chính xác hơn kẻ dưới từng ly mét, mặc dù những suy nghĩ và hành động thì sai ngoắt, trật lất.
Độc đoán, cố chấp, bảo thủ, nàng lẩm bẩm.
Mà mẹ mình nói gì nhỉ? Phải, nhớ rồi. Mày điên hay sao mà phải ra chỗ ấy, một khu mồ mả vừa san lấp. Oan hồn nằm dưới nền đất sẽ bóp họng tụi bay. Đâu có mẹ, nàng ôm hai vai xương xẩu bà cụ. Đâu có đụng chạm gì, bóp là bóp tụi móc ngoặc làm dự án, thẩm định rồi giao cho lũ đầu tư. Con chỉ mua thôi, đâu có phá phách, xua đuối người chết đi chỗ khác để giành đất, nàng dông dài. Mẹ nhướng cặp mắt hom hem nhìn nàng như kẻ lạ. Nhưng tại sao nhà cửa rộng thênh thang không ở, lại mò ra chỗ mồ mả ấy, hay có thằng nào rù quến? Mẹ day day dấu hỏi như thể bà cụ đang ngoáy trầu. Nàng chụp lấy tay mẹ. Ai rù được con, mẹ khéo lo. Chẳng ai có thể quến được con đâu. Mẹ giật tay lại. Ăn nói kiểu đó đó, con với cái. Tao nói để coi, một mẹ một con thể nào “đi đêm cũng có ngày gặp ma”, làm sao mà cái bọn đàn ông như lũ sói ấy, thấy đàn bà cô thân đơn độc lại không rắp tâm rình nhử này nọ. Cục mỡ tránh sao nổi miệng mèo, hả con?
Thêm một cú hạ giọng nữa của mẹ, lúc đó giống sao giống lạ giống lùng giọng anh kép tuồng đóng vai tướng xuống xề bi ai với người đẹp từ chối mối tình đầy nặng như trái núi của mình khiến nàng bật cười lớn. Mẹ nàng kêu: Con điên!

Lúc dọn đến nhà mới, việc đầu tiên là nàng đến chùa xin thầy trụ trì, trì chú cho tấm gương bát quái. Nàng không tin lắm, nhưng cả khu phố mới ai ai cũng “thỉnh” về, treo lủng lẳng trước hiên tấm kính bát quái trừ tà ma đuổi quỷ khiến nàng không thể dửng dưng.
Kệ. Treo lên chẳng chết ai, đôi khi buồn ngước dòm hẳn cũng sẽ thấy vui mắt. Mà cũng rất có thể, nếu có ma quỉ thật, chúng sẽ phải lộn vòng vòng trong lưỡng cực không thể chạy ra phá phách? Ủa, mà sao lưỡng cực lại có hai cái hột nhỏ xíu y như tinh trùng và trứng tưng tửng nhìn nhau, chực chập lại? Ý nghĩ này bất ngờ nhảy xộc vô đầu khi nàng thấy thầy, cũng trạc tuổi nàng, vừa gõ mõ, điểm chuông, đọc trì chú vừa liếc nhìn vào chỗ hõm trên cổ áo khoét rộng. Nàng kéo cổ áo lên, giữ chỗ ngực bằng hai tay chắp lại, mà nghe như mùi nhang khói dậy lên từ nịt áo muốn bứt tung ra.
Khi cầm tấm kính “chiếu yêu” bước lui khỏi chánh điện, thầy dặn với:
-Con cần gì cứ tới thầy giúp.
-Mô phật, con cảm ơn thầy – Nàng đáp. Thầy ngó xoắn chỗ vết cong trên ngực. Hai con mắt cha này dâm vô độ. Không rõ kinh kệ có làm xẹp xuống phần nào chăng, nàng tự hỏi khi bước gần tới cổng tam quan.
Có xẹp xuống hay phồng lên là việc của thầy. Nàng không phải quan tâm, bởi từ bữa hôm đó, nàng không quay lại cổng chùa lần nữa, mặc dù tấm kính bát quái chỉ bốn tháng sau, bị gió bão đập cho rơi xuống nền gạch hoa, răn nứt nhiều mảnh.
Phải công nhận, những đêm đầu tiên ngủ trong căn nhà mới, thiệt sợ. Hai mẹ con nàng ôm cứng lấy nhau khi nghe tiếng rú rít trong hàng dương phía bên kia đường. Tiếng rít nghe như tiếng mài gươm trên tảng đá, như âm thanh luyện đao của Bát Lê (*) sau vườn chuối dinh quan Tổng Đốc. Lạnh cả gáy.
Kinh khủng hơn, khi quán mở, độ hai tuần sau, đêm, hai mẹ con nàng lại phải ôm nhau, kéo mền trùm kín, vì lũ chuột xộc vào nhà chí chóe suốt đêm. Ban đầu là những cảm giác sợ đến són đái. Hết sợ chuyển sang bực bội rồi quen dần thời gian không lâu sau đó, nhưng chẳng dễ chịu chút nào. Đôi lúc nàng nghĩ vẩn vơ, hay ta kiếm quách một tay vệ sĩ. Chí ít nó cũng linh nghiệm hơn tấm kính bát quái răn nứt kia?

Chị Nhân tới thăm, lại ồ ồ lớn giọng: “Tao thấy nhiều thằng xứng đáng hơn, mắc chứng ôn dịch gì lại nhào vô thằng chả”?
Nàng xâu chuỗi lại cấp thứ của nhân vật có gai nhọn hoắc này. Lúc đầu là “lão”, nay chuyển sang “thằng chả”, có nghĩa rằng trong mắt chị Nhân, nhân vật làm cho nàng “chết” và “nhào” đang nhích gần hơn, thu hẹp dần khoảng cách tuổi tác. Mà có khi nào chị hạ thấp hơn nữa không nhỉ, như “nó” hay “anh ta” chẳng hạn? Vì ít ra, theo suy nghĩ của nàng, chị không còn coi trọng chuyện cách biệt tuổi tác quá lớn đến độ dị hợm; nhưng đằng nào, lớn nhỏ gì cũng vẫn là nguyên nhân gây ra sự không hài lòng đối với những người lớn, trải đời như chị; lại nữa có rất nhiều nguy cơ làm cho em gái chị phải biến thành “cục mỡ” như mẹ đã cảnh báo.
Nhiều khi đứng trước gương soi, nàng xoay qua bên này, ẹo chút bên kia, đưa tay véo vào hông, nắn ngực, xoa xoa lên mặt, nắn chóp mũi… Đẹp. Nàng cười rung rinh và thừa nhận mình đẹp từ đầu đến chân ngay tại thời điểm “gái một con” (nàng thầm cảm ơn tạo hóa đã tặng cho nàng chút nhan sắc, và rồi tự hỏi tại sao Tùng lại bỏ mẹ con nàng để chạy theo cô nàng ca sĩ cà tong cà teo gần giống que nhang?). Tự nhiên cái xộc xệch, vớ vẩn lại chun vô đầu. Gái một con. Ờ thì một. Hơi đúng đúng, dù rằng trước đó nàng không mấy tin tưởng nhan sắc tùy thuộc vào vấn đề sinh học cùng dắt tay đi theo chiều dọc thời gian, tồn tại ở thời điểm “một con”. Hai, ba… hay một bầy lúc nhúc của mẹ Âu Cơ thì sao nào? Mấy ngàn năm rồi, mẹ vẫn đẹp trong mắt dân Việt kia mà?
Hay mẹ hoặc chị Nhân thử đứng ra giả bộ tổ chức kén chồng lần nữa cho nàng, dám chắc rằng không chỉ có hai anh Sơn Tinh và Thủy Tinh, mà sẽ có nhiều chàng sắp hàng từ đại lộ vua Hùng chạy vào đích là cái quán này. Kẻ chiến thắng sẽ bế xốc nàng lên giống như mấy tay coureur về đích ôm bó hoa tươi trước bục. Rồi sau đó… Hoang tưởng. Bậy bạ.
Ý tưởng về chuyện đua xe đạp, đua marathon dậy lên trong đầu như khói chiều vương vất trên đọt cau. Nàng nghĩ vụ này sẽ hấp dẫn như một tuồng cải lương mùi và liền sắp xếp mọi diễn biến của từng nhân vật, theo thứ tự thời gian các anh chàng tới quán cà phê buổi sáng và bia bọt buổi chiều.

Đầu tiên là anh chàng sĩ quan mang quân hàm cấp tá, đang còn tại vị, vợ chết ba năm, có đứa con gái duy nhất lên bốn, tính theo tuổi bà mụ. Anh chàng đến quán uống cà phê tám lần. Lần thứ chín, quán vắng, chàng nhìn nàng đắm đuối, mở lời. Chàng khai vắn tắt lí lịch rồi nói tôi yêu em. Nếu em đồng ý, tôi sẽ cưới em và chỉ cần sinh cho tôi đứa con trai. Lương hiện tại của tôi mười mấy triệu. Nhà cửa vật chất đầy đủ. Chỉ cần em sinh cho tôi đứa con trai, em sẽ không thiếu thứ gì trên đời này. Giọng chàng diễn tả thiếu chút gia vị mùi mẫn, nhưng mang nhiều cân đong đo đếm như đang đối mặt với đối phương ngoài chiến trường. Dòm bộ dạng, chàng có vẻ là một kịch sĩ hơn là một chiến binh, bởi chàng đang tập diễn hài kịch trên sân khấu nhỏ!
Nàng áp tay mình lên mu bàn tay chàng, như thầy lang vườn mới học nghề, bắt mạch cho bệnh nhân. Nàng nhỏ nhẹ: Em cảm ơn anh. Nhưng em sợ cái “không thiếu thứ gì trên đời này”. Bộ anh tính thụt két hay ăn chặn của lính sao? Không. Em sợ cảnh tù tội. Thứ đến vụ “sinh cho tôi đứa con trai”. Lại tra ổ khóa, điều khiển tôi như cái máy đẻ sao? Cảm ơn anh. Tôi không thể đẻ được. Chắc chắn tôi không đẻ được nữa đâu.
Chàng chết lặng. Sau đó biến mất. Không bao giờ thấy tới quán nữa. Ồ, giặc đến chàng đánh đấm ra sao nhỉ? Nàng mất đi một khách hàng nhưng bù lại, những lúc buồn buồn, nhớ chuyện cũ, nàng bật cười đến nước mắt chảy ràn rụa.
Chàng thứ hai là một giảng viên khoa tiểu học. Chàng tầm thước. Bụng to hơn ngực, thuộc loại “mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao”. Giọng nói thì luôn dính cục như những viên kẹo ướt phơi ngoài nắng, có biệt tài nói bất cứ đề tài gì, từ thượng vàng đến hạ cám theo kiểu suy diễn của “giai cấp bần cố nông” làm nên lịch sử, đang ở tầm cao thời đại. Chàng khai trước “tòa” rằng vợ sắp hưu, bị bệnh gì đó bằng tiếng tây, nàng không nhớ, không còn chức năng đàn bà. Chàng nói tôi thương em. Chúng ta hãy đến với nhau. Nhà ai nấy ở. Anh sẽ lo chu đáo cho mẹ con em.
Lần này nàng không xem mạch vì tay đang bận ghi hóa đơn tính tiền cho khách nhậu. Đến khi chàng hỏi lại: Em đồng ý chứ? Nàng giật mình, hỏi cái gì đồng ý. Chàng nhắc lại đúng lúc ông khách bước tới xìa hóa đơn kêu ghi nợ. Tâm trạng nàng đang như vừa bị con kiến cắn, tiếp liền sau đó là con ong đốt, đau ngứa rát tạt, khiến nàng xẵng giọng: Bộ anh tưởng tôi là gái gọi sao? Ông khách cầm hóa đơn khất nợ la lên: Thì ghi nợ một lần, cuối tháng lãnh lương trả. Làm gì ầm ĩ gái gọi ở trỏng. Này, cầm cái này vậy. Vừa nói khách vừa tháo chiếc nhẫn trên ngón áp út đặt xuống bàn, hầm hầm quay ra. Tai họa. Mồ hôi nhiểu lộp độp và hơi thở hắt lên đè cứng ngực bay vọt ra cả miệng cả mũi, thiếu điều nhấc bổng mấy cái ly trên bàn lên không trung. Nàng vội vã cùng với mồ hôi, hơi thở gắt, nhổm dậy cầm chiếc nhẫn lao ra cửa đuổi theo ông khách…
Chàng thứ ba là anh nhà báo tỉnh, có mái tóc nghệ sĩ, kính mát luôn gắn lên mắt dù đang ngồi trong nhà. Vợ chàng là đốc tờ tại chức, trưởng khoa sinh đẻ bệnh viện địa phương. Chị bác sĩ bốn bảy này chưa một lần sinh nở, không biết lỗi do ai bởi cả hai đều khăng khăng đối phương mới là thủ phạm chính. Chén đũa rổn rảng, lọc cọc suốt. Chàng buồn tình chè chén và quán nàng là địa điểm lý tưởng để trút bầu tâm sự. Nàng chia sẻ nỗi đau và cảm thông hoàn cảnh. Bà bác sĩ được điệp báo cung cấp thông tin, bỏ sở, phóng xe máy tới xách tai chồng như xách con thú cưng và buông tuồng những ngôn ngữ chưa hề ghi trong từ điển, dẫu là từ điển.bách khoa toàn thư do các viện sĩ, giáo sư tiến sĩ lỗi lạc ở nước ta biên soạn!
Nàng thở dốc. Đếm ra chắc còn dài ngoằng. Tựu trung là chàng nào cũng có cặp mắt và ý nghĩ và một vài hành vi rất kém vệ sinh.
Nàng gạt tất qua một bên.
Và như vậy, nàng chưa là cục mỡ, chưa kẻ nào rù quến được nàng như mẹ nghĩ.

Vậy mà mấy tháng sau, sau những “cuộc tấn công thần tốc” lớn nhỏ, thân cây chỉ một người ôm lỏng là nàng đang bắt đầu có dấu hiệu rung rinh run rẩy; không vì bão tố, không vì sấm sét mưa giông, mà chỉ là những cơn gió thoảng, hiu hiu nhẹ.
Nàng cố xua đuổi hình ảnh “những ngọn gió” bằng nhiều cách khác nhau trong mọi sinh hoạt hàng ngày: Băm dao xuống thớt mạnh hơn. Những con mực ống bị nhồi thịt băm quá mức, đến nỗi con mực phình chướng như thằng chết trôi, rồi tưởng tượng thằng đó đã chết thật, chí ít đang sặc nước, đang ngáp ngáp gần chết. Nàng lại hả hê khi miết đầu bút vào các chữ số tờ hóa đơn, xé cái roẹt, dứt khoát như thể đang xé nát thằng chả ra làm nhiều mảnh. Lại hả hê. Nàng bắt đầu cự nự, đốp chát tay đôi với khách, trái với bản tính dịu dàng, đôi khi phải đóng kịch trước mặt các thượng đế. Thói xấu này rõ ràng có duyên cớ, duyên cớ tù mù rối như nùi rơm quấn quanh nọc!
Cả hai tháng nay thằng chả lặn đâu mất tăm, trong khi nàng vẫn tiếp tục miết mạnh đầu bút bi vào các chữ số; tiếp tục xé roẹt những tờ hóa đơn mỗi lúc nghe chừng to hơn, nhưng không biết để làm gì.
Ủa, liên quan gì vậy cà?
Mắc mớ chi vậy cà? Thật thảm hại!

Nàng không nhớ thằng chả đến quán vào lúc nào, nhưng thường có nhiều người, ít nhất bốn người cùng đến quán. Hai người là công chức địa phương. Người thứ ba là thầu khoán. Người cuối nghề tự do, hình như có trang trại cà phê đâu đó trên Lâm Đồng. Không biết thằng chả nghề ngỗng gì. Mù tịt. Nhưng xem ra, trong lúc chuyện trò, cả bốn người đều tỏ ra kính trọng rất mực. Trong quán ồn ào, những người bạn ồn ào thì thằng chả ngồi im, góp chuyện bằng những nụ cười, hiếm khi nghe tiếng tranh biện. Thằng chả chỉ có cười, nụ cười như đứa con nít còn ẵm ngửa. Đẹp lạ.
Nàng ra tay khai thác bạn đi cùng thằng chả: Ổng sống độc thân một mình trong ngôi nhà cổ cách phố chừng mười phút chạy xe máy. Đó là lời anh công chức. Anh thầu khoán thì thêm: Suốt ngày giam mình trong nhà, vẽ và chép tranh thuê cho người khác. Mấy cha đầu nậu lợi dụng chả mang tranh qua bên kia kiếm bộn xu.
Té ra thằng chả là thợ vẽ, họa sĩ vườn. Nàng khoái trá khi tưởng tượng thằng chả là tay thợ vẽ đang trong trạng thái đứt dây, bị chạm, tàng tàng các thứ…
Mà thằng chả đứt dây thiệt. Thử tưởng tượng, trong tiết trời tháng Chạp. Lạnh cắt da. Gió bấc từ biển thổi ào ạt, lạnh đến ngứa rần rần mang tai, ngón tay… thì thằng chả bất ngờ đề nghị với đám bạn bốn tên: Mang tất ra bãi ngồi nghe biển và hàng dương hát. Cả bọn hào hứng lên đồng với chả, bước ra khỏi quán với vẻ mặt lũ trẻ con chính hiệu. Tất nhiên nàng phải tò mò, bám theo như công an theo dõi bọn tội phạm hoặc chuẩn bị thành tội phạm.
Thùng bia lật úp làm bàn. Món nhậu trong túi nylon. Bia trên tay mỗi người. Cả bọn cười nói gì đó vang động một góc bãi vắng. Mây vần vũ tối xầm trên đầu. Biển đập ầm ầm, bọt sóng tung tóe lên gần sát chỗ thùng bia lật úp. Những đọt dương như muốn ngã chúi vào đường lớn. Gió quật nghiêng ngã. Nàng tựa người khuất vào gốc dương lẩm bẩm: Đấy mà gọi là biển hát, dương hát. Đồ khùng! Nàng muốn chạy lại và gào lớn lên. Nhưng nàng không chạy, bước chậm về phía chiếc thùng giấy lật ngược, vây quanh bởi năm con người như cây cau cảnh che chắn chiếc thùng không để gió đuổi bay đi. Cát ướt miết trong lòng bàn chân. Gió thổi dạt mái tóc nàng ra sau, tốc vạt áo choàng đen, muốn bứt tung hàng cúc cài kín. Mọi người cùng ồ lên: Em ra chi đây, gió lạnh lắm. Riêng chả không hề mở miệng, cho đến khi nàng đứng tựa vào thân cây dương trụi lá, chả mới ngước lên, nói với gió gào: Nhin cô chủ nhỏ như đang bay. Mái tóc ngược gió và hát kìa. Tuyệt vời…

Thằng chả lại mất tăm đến bốn tháng trước và sau tết. Một bữa chả đột ngột xuất hiện, tóc tai rối nùi, áo quần xộc xệch. Chả chào nàng bằng nụ cười nửa miệng, từ tốn kéo ghế ngồi xuống, từ tốn rút máy gọi bạn. Không đủ, nhưng cũng có anh công chức trốn sở và anh chủ trang trại cùng mấy người khác nàng chưa gặp bao giờ.
Thằng chả nói: Bữa nay tôi đãi mấy chú, nhưng không phải ngồi đây. Mang tất lên tôi, mừng bức tranh vừa xong? Hai người kia kêu ô kê. Khi mọi thứ đã đặt vào túi nylon, vào thùng. Thằng chả ngước cặp mắt như thỏi nam châm quay về phía nàng: Mời cô. Cô sẽ ngạc nhiên vì nó đó. Nàng tỉnh queo: Cảm ơn, tôi bận khách. Thằng chả cười cười: Cô sẽ hối tiếc giây phút đấy đấy. Giây phút nào, hối tiếc cái gì? Nàng bĩu môi thầm trong đầu. Nhưng sau đó, khi mọi người chuẩn bị ra xe, nàng đổi ý. Có lẽ thằng chả nói không quá. Có điều gì đó mà linh cảm đàn bà trong nàng chỗi dậy gây chút bứt rứt, chút háo hức, tò mò… không thể hiểu, không thể giải thích.

Căn nhà cổ kính nằm sâu trong khu vườn cây um tùm. Mái ngói âm dương rêu mốc. Hàng hiên rộng, kê chiếc bàn nước và nhiều ghế đẩu kiểu cổ. Gian thờ chính giữa với câu đối, hoành phi, tủ cẩn xà cừ, bộ trường kỷ. Bên phải là phòng ngủ, bên trái la liệt vải toan, ống màu, giá vẽ. Tranh dựng vào tường, treo trên vách, lộn xộn như gánh hàng xén ở chợ quê…
Nàng tò mò bước vào, xán lại gần những bức tranh đầy sắc màu mà không mấy hiểu. Một bức khác nằm trên giá, phủ tấm voan màu xanh nhạt. Trong khi mấy người bạn bày biện lên bàn, chả xộc vô miệng nói mời cô, tay đưa ra phía hàng hiên. Chà, có đâu kiểu mời mọc trịch thượng, kém lịch sự như vậy? Tự ái lăn tăn trong đầu, phập phều trong bụng. Nàng chưa chịu nhúc nhích. Còn thằng chả thì đưa đôi cánh tay rắn chắc bê nguyên giá vẽ phủ tấm voan xanh…bước đi với điệu bộ của một kẻ hãnh tiến, phách lối, chẳng coi ai ra gì!
Nàng còn lớ ngớ ngó cái hóc xó lộn xộn thì bên ngoài, mọi người cùng ồ lên một lượt. Nghe động, nàng quay ra cũng một cách bước tới như hồi ở dưới bãi bước nhẹ về phía chiếc thùng giấy lật ngược.
Bức tranh hiện ra trước mắt. Thiếu nữ bước trên cồn cát. Gió thổi lật mái tóc ra sau chẻ thành trăm, ngàn sợi bay rối cọ vào nhau và phát ra âm thanh. Chiếc khăn choàng và vạt áo cũng bay ngược. Cả khối hình chính trên khung vải như đang bay lên không trung, bên dưới là bãi cát mịn, là gốc dương trụi lá, sóng biển vồng cuộn xa xa. Nàng há hốc mồm nhìn chăm chăm. Người thiếu nữ trong tranh là nàng, cả mái tóc, khăn choàng kẽ ô vuông đen trắng và tấm áo màu xanh lá cây. Tất cả như đang cùng với sóng cuộn, với hàng dương ngân lên những khúc nhạc bất tận của đại dương…
Thằng chả cầm lon bia trong tay trái, nói tôi vẽ bức này để tặng cô chủ nhỏ hôm ra bãi với chúng ta.
Cái đẹp chỉ xuất hiện bất thần trong tích tắc, chả thêm.
Cảm ơn cô. Bức tranh tên Giấc Mơ Bay.
Nàng đứng chết trân. Tâm thần bấn loạn.

NGUYỄN LỆ UYÊN

(*) Bát Lê: nhân vật trong truyện Chém Treo Ngành (Vang Bóng Một Thời – Nguyễn Tuân)

ĐIỆU TANGO CHIẾN TRANH

linhphuong

Lấm lem mối tình chân mây ngàn dặm
Qua rồi cơn mê sảng tìm lại bóng hình em
Người đàn bà hóa đá những chiều hoàng hôn tim tím
Lặng lẽ yêu-lặng lẽ ghen hờn-lặng lẽ cầu nguyện cho người đàn ông của mình

Nơi cỏ xanh em mơn mởn màu xanh
Bàn tay vuốt ve anh ủ hương em nồng hương đàn bà thơm phức
Mặt trời cháy đỏ đốt khô giọt nước mắt
Ngày hành quân xuôi ngược cánh đồng em run rẩy bật tiếng : -“ Anh ơi ! “

Người đàn bà lặng lẽ đợi chờ
Đêm không sao ngủ được
Đêm không sao không khóc
Khi nghe giọng anh qua phone xa lắm…xa biền biệt ngút ngàn

Lạc vào thơ-vào thế giới người đàn ông
Hiến dâng bao tháng năm trong veo hạnh phúc
Bao tháng năm trong veo khao khát
Được nằm bên anh-được yêu anh-được anh hôn lên chiếc ngực trần trụi -hôn những đường cong cho em chết lâm sàng

Vời vợi sầu tiếp sầu rớt xuống môi người đàn bà-rớt xuống ngọn đồi Charlie gợi cảm
Điệu Tango chiến tranh nhún nhẩy giọt mưa chảy lăn tăn kết thúc cuộc giao tranh
Sáng mai vầng trăng quên báo thức-bất động em-bất động anh – ngâu vàng lóng lánh
Nhà ai thức dậy mở đĩa cải lương “…Lan đã cắt đứt dây chuông. Điệp ơi ! Sao vẫn nghe lòng mình run rẩy theo từng thanh âm “

Chưa nghe hết xề-người đàn bà nghẹn cổ họng
Nhớ người đàn ông cuộc đời trôi theo cơm áo buồn tênh
Ngàn cơn bão đi qua cột chiếc thòng lọng định mệnh
Siết chặt cổ anh mùa binh lửa ám ảnh không rời

Nắm tay nhau đi nửa câu thơ
Buông vội người đàn ông ở đâu đó với nỗi đau dịu dàng chưa chịu vỡ
Điệu Tango chiến tranh hững hờ bay theo gió
Chui vào trái tim anh mang vết chém định hình…

LINH PHƯƠNG

đoản khúc

npphan

lụa

buổi sáng nào đi qua
vẫn mang hoài bóng dáng
buổi sáng nào tình cờ
ta nghe lòng nằng nặng

mùa xuân

em, áo lụa qua đồi
của một thời hoa bướm
mùa xuân vàng thắm đượm
đâm lộc biếc, hồn tôi

ánh mắt

tia nhìn nào rất vội
ánh mắt nào phôi pha
mùa xanh
trời đổi nắng
em có về, mưa xa…

giọt mưa phai

mưa trên tay mòn mỏi
mưa không kịp bên trời
mưa, em về ướt áo
hồn sáng mùa xuân tươi
hồn rạng trời mưa phai

lá non, màu nắng cũ

nắng, một mùa rạng rỡ
gió đã về, non xa
rực áo mùa nhung nhớ
ta, hồn cũng nhạt nhòa
thương hoài màu nắng cũ

lối

ánh sáng nào bao dung
trên bàn tay ngọc bạch
trên mộng ước không cùng
trên lối mùa xanh thơ

NP phan