Khúc tháng chín

dutule

Này tháng chín, mùa thu về rất sẽ
Em biết không? Tôi kẻ đứng bên đường
Hồn tháng chạp, cuối đời khua tiếng gậy
Em từ tâm có đủ lượng bao dung?

Này tháng chín, mùa thu về như thể
Giữa đêm qua, có kẻ lén vào
Vườn hạnh phúc một người đang tập nói
Chàng phục sinh như một giấc mơ

Này tháng chín, mùa thu hồng, lối biếc
Mưa ở đâu? Ướt trí nhớ ai?
Chàng đứng lại bên kia bờ nước cuốn
Em bên này có lạnh đôi bàn tay?

Này tháng chín, mùa thu về rất mới
Bởi hôm qua có kẻ qua đời
Hồn thánh thiện lối vào thơm cỏ cũ
Em xạ hương từ quá khứ tôi

Này tháng chín, này em, này tháng chín
Em biết không, tôi, kẻ đứng bên đường
Hồn hải điển có bao giờ qui thuận
Bỗng bình minh như một cửa gương

Này tháng chín, lược đời tôi, hãy chải
Và cho tôi sợi tóc cuối chân ngày
Đêm tháng chạp tôi sẽ ngồi nối lại
Những con đường (những sợi tóc rơi)

Những con đường mãi mãi chả ai thôi
Quên nhắc đến bởi chính hồn em đó
Này tháng chín, nghe không lời nói nhỏ:
“Hoàng hôn em, tôi gửi một que… diêm”

Du Tử Lê

ĐÊM CỎ TUYẾT

kiettan

Anh nói với em nhiều tiếng thâm trầm
Nằm đêm nghĩ lại nát bầm lá gan.

CA DAO

Tôi dắt Tuyết xuống bờ đê. Mùa gặt đã qua từ lâu, ruộng khô chỉ còn lác đác một vài gốc rạ. Trăng lưỡi liềm kín đáo ngọt ngào. Tình nhân yêu nhau, trăng yêu tình nhân, từ muôn thuở. Nhưng có chắc tôi yêu Tuyết? Còn Tuyết? Có lẽ. Nhưng điều đó nào có quan trọng gì với tôi lúc này. Đây phút thiêng liêng đã khởi đầu.

Tôi tìm một lùm cây có bãi cỏ kéo Tuyết ngồi xuống. Trước mặt là con rạch nhỏ. Nước nhiều hay ít, tôi không để ý. Có lấp lánh ánh trăng hay không, tôi cũng không biết. Quanh tôi có dế than rỉ rả, vạc kêu não nùng không, tôi cũng không biết. Tôi chỉ có một mục tiêu duy nhất: Tuyết.

Khi nãy trên đường từ cầu Bắc chạy về, Tuyết bảo tôi dừng vespa, vì nàng “mắc” lắm rồi. Trước đó hai đứa tôi ăn cháo trắng hột vịt muối, uống trà đá ly cối, hèn gì! Tôi còn đang loay hoay dựng xe thì Tuyết đã chạy ù xuống ruộng. Tôi bị kích thích, tim đập mạnh như bước hụt, chới với. Phần nhạy cảm nhất của con trai mười tám tuổi trổi đậy. Chẳng phải riêng tôi. Mấy chiếc xe hơi chạy ngang, thắng gấp, tiếng bánh xe cày trên mặt đường rít nghe ê răng. Không có tai nạn. Cũng may. Khi sắp trở vào thành phố Vĩnh Long, tôi quẹo xe ở ngã ba và trực chỉ hướng Cần Thơ. Tôi đậu xe ở gần ruộng dưa gang và dắt Tuyết xuống bờ đê. Tuyết ngoan ngoãn đi theo, thỉnh thoảng cười rúc rích. Còn tôi thì chẳng thiết gì đến cười nói, thần kinh bị kích thích căng thẳng, có lẽ mặt tôi lúc đó hắc ám lắm. Câu quảng cáo in trên toa thuốc bổ thận chắc cũng đúng đến chín phần: “Phàm một con hai cẩu đến mùa rượng đực, ngày đêm chỉ nghĩ đến chuyện giao cấu, không thiết gì đến ăn uống, nghỉ ngơi… “

Tôi tìm lùm cây khuất, tự mặt đường ngó vào không thấy phía sau. Tuyết vừa ngồi xuống là tôi đi thẳng vào nỗi ám ảnh của mình. Bàn tay tôi sục sạo tìm kiếm đóa hoa thầm kín của nàng. Mềm mại, ấm áp, trơn ướt, nhung êm. Mê mẩn, sung sướng, hạnh phúc. Cứ gọi là hạnh phúc, dù tôi chẳng có định nghĩa nào về hạnh phúc. Lần đầu tiên tôi được tiếp xúc với đóa hoa thầm kín của đàn bà thân mật, chi tiết và trọn vẹn đến như vậy. Cả người tôi cháy thành một khối cảm giác đê mê. Tôi đã biến mất.

Sau cơn cảm xúc mãnh liệt, tôi vội vã, hấp tấp. Tôi loay hoay, luống cuống, bộp chộp. Tôi trật ngã, thiếu chút nữa lăn tuốt xuống rạch nước. Tuyết kịp nắm vai áo tôi giữ lại. Tôi nằm bẹp trên người nàng, hùng hục, hổn hển. Ngay lúc đó trời có sập đề tôi chết tốt tôi cũng không màng. Tôi ôm nàng cứng ngắc. Tuyết lầm thầm: “Anh làm gì… dữ.. . vậy… gì dữ vậy?” Tiếng nói nàng đứt quãng theo nhịp của tôi. Còn phải hỏi! giá mà lúc đó miệng anh rộng đến có thể nuốt chửng được em thì anh cũng nuốt tuốt tuột cho đã cơn dục tình.

Và cơn dục tình của tôi đã được thỏa mãn. Khi đó tôi mới nghĩ đến hôn nàng. Tôi áp môi trên má nóng hổi của Tuyết và hít chùn chụt. Nàng vuốt ve lưng tôi và trách mát: “Anh này đồ quỉ! Đã chưa?” và nàng cười rúc rích. Tôi ngồi dậy. Ánh trăng mát mẻ trên thân thể nàng thật tuyệt vời và hấp dẫn. Mùi ân ái còn thoang thoảng. Tuyết hối tôi:

– Thôi mình đi về, không có chị Tư chỉ la em. Hồi nãy xin phép đi có một giờ mà đi quá mạng, hết lên Cầu Bắc rồi lại ghé đây.

Tôi cố tình chọc Tuyết:

– Em nóng ruột thì ra đón xe đò về trước đi.

Nàng la:

– Đồ quỉ! Thôi đừng có cù nhây, đưa em về sớm, mai mốt chị Tư còn cho đi chơi. Tối nay thứ bảy đông khách mà quán chỉ có mình chỉ với con Liên, lo hổng xuể.

Tôi vừa cặp xe vào hông quán, quả nhiên chị Tư Tùng đã cất tiếng:

– Dữ thần hông! Đi đâu mà mất biệt làm chị lo muốn chết. Cậu chở nó đi đâu vậy?

Tôi phịa đại:

– Thì cũng chạy gần gần đây thôi. Nhưng hồi nãy lên tới cầu Tân Bình thì xe bị bể bánh…

– Thôi cậu đừng có nói dóc. Cái tuồng đó tôi rành quá mà!

Rồi chỉ vào bánh xe sơ-cua gắn trên chiếc vespa, chị hỏi:

– Vậy chớ cái gì đây? Còn mới tinh mà nói bể.

Tôi giả lả:

– Thôi mà chi. Em biết trễ sợ chị la nên nói gỡ gạc vậy thôi, chị thông cảm.

– Ai mà dám la cậu. Mà thôi mấy người cũng lớn rồi muốn làm gì đó thì làm. Hồi nãy tui sợ không biết có tai nạn dọc đường gì không mà đi lâu quá, cả hơn hai tiếng đồng hồ nên mới nói vậy… Cậu cũng biết tui thương con Tuyết lắm, coi nó như em ruột, gia đình không có nên…

Lúc đó khách quen tới, chỉ đon đả chạy ra chào khách. Tôi thừa dịp thoát thân, chạy qua phía bên kia quán, kéo ghế ngồi ở bàn đặt cạnh bờ sông. Gió từ bên cù lao An Thành thổi qua mát mẻ. Những giề lục bình chỉ còn là những khối đen lững lờ trên dòng nước. Nhìn Tuyết chạy lăng xăng khui nước, chặt dừa, xay rau má, lòng tôi tràn đầy hạnh phúc và thương mến. Thỉnh thoảng nàng liếc tôi và cười ỏn ẻn, đồng lõa. Chập sau nàng đem tới cho tôi một ly cối nước cam-sô-đa với hai tròng đỏ hột gà lờ đờ, nàng nói:

– Anh uống đi, bổ lắm!

– Bổ là có chuyện nữa!

– Đồ quỉ!

Chị Tư cưng Tuyết cũng phải. Nhan sắc nàng cũng đại khái thôi, nhưng thịt da mơn mởn dễ nhìn, cười lúm đồng tiền có duyên tuy hai răng trước có kẽ hở. Nàng hay cười nói vui vẻ nên kéo khách cho chị Tư cũng bộn – trong đó có tôi. Khi đó tôi vừa đậu xong tú tài đôi, về Vĩnh Long nghỉ hè. Ban ngày tôi họp bạn đánh đàn hoặc đi thăm người yêu nữ sinh, hoặc ngủ li bì. Ban đêm tôi la cà . Chị Tư thì tôi biết từ hồi còn học đệ tứ, thuở tôi bắt đầu mặc quần đa-cờ-rông láng coóng, thắt dây nịt nhỏ, chải đầu trét bi-dăng-tin và đi giầy mỏ vịt. Hồi đó xuống quán là để uống nước dừa, ăn cơm gà rô-ti, tán dóc với bạn bè và theo dõi đàn anh tán gái để chờ ngày xuống núi hành đạo (hay hành lạc?) . Nói quán nghe rườm rà chớ thiệt ra đó chỉ là một cái chòi bằng thiếc khi giương thì mở ra bốn phía, khi sập xuống thì kín mít. Tuyết nằm ngủ bên trong với Liên, trên một diện tích khoảng hai thước x hai thước. Quán nằm phía cuối chợ cùng với ba quán khác, hai quán bán cơm, một quán bán nước cạnh tranh với chị Tư. Bàn ghế bắc xung quanh quán, không có vị trí nhất đinh. Tôi thường xuống quán rà rà để được ngửi mùi nem nướng hay thịt bò xào. Mùi thơm ngọt ngào sực nức, khói tỏa mịt mù và thú vị biết bao! Tôi không ăn vì sợ ăn sẽ đâm ngán cái thú ngửi mùi đó. Tôi như một cô hồn thưởng thức đồ cúng. Tôi hạnh phúc mà không hay, có lẽ nhờ vậy mà hạnh phúc. Khi hay, hạnh phúc tan biến.

Sống như con nít ngây ngô, ngơ ngác, lúc nào cũng khám phá, khám phá nào cũng tuyệt vời. Tôi khám phá đàn bà như con nít trước một rương đồ chơi bí mật. Lắm lúc tôi cười, nhiều khi tôi khóc. Tôi mê đàn bà, tôi tội nghiệp tôi, thằng ngốc tử. Tôi tội nghiệp các nàng đã trót yêu thằng ngốc tử.

Dĩ nhiên nếu chỉ ngửi thôi thì làm sao sống nổi. Tôi cũng có ăn. Tôi khoái nhứt món hủ tiếu “đầu trọc”. Không phải ăn rồi là rụng tóc trọc đầu, mà bởi món này do một ông chệt đầu trọc gánh đi bán dạo, gõ nhịp lắc-cắc-cụp trên hai miếng tre ngắn đã lên nước. Hủ tiếu khô của ông có nước xốt gì nâu nâu sền sệt chan lên ăn là hết xẩy. Xế trưa tôi một tô, Tuyết một tô, ních vô là thấy hạnh phúc nằm trong tầm tay, đâu cần gì phải đi hành hương xa xôi trắc trở. Lại thêm giọng cười rúc rích của Tuyết giữa trưa nắng rạng rỡ miền Nam, với ngần ấy thứ mà không ngửi thấy hạnh phúc thì dù có tu chín kiếp cũng coi như huề cả làng. Chị Tư không thích hủ tiếu nên thường làm một tô mì hai vắt, cũng mì khô có nước xốt mầu nhiệm đó chan lên. Chị buôn bán nhưng tánh chị thật thà. Da chị ngăm đen, môi dầy, mũi lân và. . . đa tình. Tụi tôi biết vậy nên dụ dỗ kép Thế xuống quán. Kép này là một tay tứ chiếng giang hồ lấy đĩ làm vợ, cao lớn đẹp trai, có nụ cười lém như Gene Kelly. Chị Tư chíp lắm. Mà khi chị đã chịu đèn rồi thì tụi tôi dễ bề làm ăn với Tuyết và Liên. Có quá quắt thì chị cũng làm ngơ. Có chở đi quá giờ thì chị cũng xí xóa. Dẫu giận mấy, có “anh Thế” xuống là xong ngay. Thành thử tôi cũng được rảnh chưn rảnh tay “một mình thong thả mần ăn, khỏe quơ chài kéo mệt quăng câu dầm… “

Lúc đầu tôi xuống quán bên kia. Một tối Tuyết ngó tôi nheo mắt cười tình mấy cái là tôi di cư luôn qua quán chị Tư. Tuyết làm bộ hỏi:

– Anh ghé chơi một chút rồi dọt qua bên kia hả?

– Không, anh lấy cơm tháng ở đây luôn.

Nàng cười rúc rích:

– Anh giỏi tài ba xạo!

Tôi cũng chỉ biết nhăn răng ra cười trừ. Rồi tôi tán tỉnh Tuyết ra sao tôi cũng không nhớ rõ. Tôi vốn đã ít nói. Mà cuộc trao đổi văn nghệ giữa một cậu tú mới toanh và một em bé bán nước dừa chắc cũng không có câu nào đáng đi vào văn học sử. Nhưng hai đưa cũng khắng khít nhau ra rít, đâu cần gì phải vô vọng cổ hay thao thức viết thư tình.

Có lần tôi tò mò hỏi Tuyết:

– Em có yêu anh không?

– Em hổng biết, nhưng em khoái anh!

– Khoái ở chỗ nào?

– Tại anh có hàm răng bẹt-lông, cười có duyên thấy ghét.

Perlon là hiệu kem đánh răng đang được quảng cáo thời đó, với một nụ cười duyên dáng và hàm răng đẹp. Tôi có ngó vô kiếng cười thử, thấy răng mình to và hơi gie ra đằng trước, không có gì đáng ca ngợi. Anh tôi bảo mày hô ống điếu (?) nên cười có duyên ngầm (?). Chắc tại tôi có cái duyên “ống điếu” nên Tuyết đâm mê.

Còn tôi, tôi thèm muốn Tuyết. Yêu? Gọi thế nào cũng được, có đặt tên cho tình cảm hay không thì nó cũng vậy thôi. Riêng tôi, tôi không quan niệm tình yêu mà không có tình dục. Nếu ép tôi bỏ bớt một thứ, có lẽ tôi sẽ giữ lại tình dục. Tôi thường ngạo mấy cô tình nhân khi nàng từ chối tình dục: “Em yêu anh bằng linh hồn còn xác thịt em để cho người khác? Nếu vậy hãy cho phần thứ hai anh trả lại em tình yêu.” Kết quả tôi lại bi rầy: “Anh khôn thấy mồ ?” (Té ra yêu bằng linh hồn là ngu lắm sao . ) Tôi bị rầy là nàng đã hiểu. Xong. Thành thử tôi chỉ có một tình yêu duy nhất không có tình dục, đó là lúc tôi học tú tài một ở Mỹ Tho và yêu Hoa. Không phải tôi thánh thiện mà vì lúc đó tôi chưa thành quỉ. Chưa gặp dịp có lẽ.

Cùng lúc dâm lụy với Tuyết, tôi lại thánh thiện với Ánh, người yêu nữ sinh. Tôi tới nhà Ánh ngồi chơi, rất mực là thư sinh ngoan ngoãn. Nói chuyện gì tôi cũng không nhớ rõ. Nhưng nghĩ cũng phục tôi luôn. Nói gì mà nói nhây hàng giờ, ngày này qua ngày khác, mà không sờ mó mân mê gì cả. Phục lăn. Nhưng xét ra cũng chẳng có gì đáng phục. Tôi đã no nê dục tình với Tuyết, hơi sức đâu mà mơ ước chuyện gì khác. “Phàm một con hải cẩu… ” nhưng tiếc thay tôi chưa bằng được con hải cẩu. Tôi chẳng bao giờ hẹn Ánh nơi chốn tối tăm nào khác bên lùm bên bụi hay (người hẹn cùng ta đến) bên lùm chuối…

Mỗi tuần tôi phải dắt Ánh đi coi phim Ấn Độ một lần, với bà má vốn mê phim Ấn Độ. Tôi thường bẻ một chùm bông thiên lý đem theo. Khi trên màn ảnh hoàng tử và công chúa bắt đầu nắm tay nhau ca múa và lắc lắc cái bụng là tôi ngủ gật với mùi thơm ngầy ngật của hoa lý ở đầu mũi. Nhưng tôi được an ủi lúc ra về. Ánh theo má đi trước, tôi lẽo đẽo theo sau. Trăng lên cao, ngọn dừa dật dờ lấp lánh, dáng Ánh gầy gầy, bóng Ánh ngã trên đường nhẹ hổng như vết chim bay. Tôi nghĩ nàng chỉ cần đập cánh là có thể bay lên trời, bỏ tôi lại cõi trần gian dâm dật này cho Tuyết với đôi mông trắng hếu. Có lẽ tôi sẽ khóc, nhưng rất bằng lòng. Tình thực tôi cũng chẳng giấu diếm gì Ánh. Tôi nói tôi ngủ với mấy cô bán quán. Ánh không tin và cho rằng tôi nói vậy để lấy le. Đến một hôm, Ánh bắt gặp tôi chở Tuyết chạy ngang nhà, nàng mới bắt đầu ngờ vực là tôi nói… thiệt.

Mà trong cái tỉnh nhỏ xíu này, đi một vòng là gặp nhau hết, nói gì đi quanh quẩn năm này tháng nọ. Một đêm gần Tết, tự nhiên Tuyết nổi hứng thay áo dài mới xanh lè quê một cục, nhứt quyết đòi tôi chở đi chơi. Tôi thấy Tuyết vui nên cũng chiều ý. Tôi chạy lòng vòng lạng quạng. Bỗng Tuyết đòi đi nhà thờ gần cầu Cái Cá. Nhà của Ánh ngay dưới dốc cầu. Tôi bấn quá, mà từ chối sợ em buồn. Tết nhất rồi, ai nỡ làm vậy. Nhưng lỡ Ánh bắt gặp, chạy ra níu áo rồi mới tính sao đây? Di nhân nan ! Di nhân nan ! Gần tới cầu tôi nảy ra sáng kiến (nhờ ơn trên?). Tôi khóa ga xăng giả bộ xe lên dốc không nổi. Tôi bảo Tuyết xuống và đi bộ qua cầu vô nhà thờ trước chờ tôi. Chùi bu-di xong xe sẽ vọt ngon lành như trước, tôi qua sau. Tôi rất ghét nói dóc. Nhưng nói dóc với Tuyết tôi không thấy lương tâm bị cắn rứt một chút nào hết.

Tuyết bỏ gia đình đi hoang năm mười sáu tuổi. Tuyết cùng một tuổi với tôi. Gia đình Tuyết ở Gò Công. Tôi không rõ lý do ra đi của nàng, hay nàng đã kể rồi mà tôi không nhớ. Tôi cũng chẳng để ý. Ôm được Tuyết, vật với Tuyết trên bờ cỏ đối với tôi là quá đủ. Nếu có ai dọa sao chổi xẹt xuống làm tan băng hà ở Bắc cực, nước sẽ dâng lên cao ba thước khắp địa cầu, tôi cũng coi như pha. Chỉ cần bụi cỏ đen và đôi vú trần của nàng, kỳ dư tôi chẳng ăn nhập gì với quả đất quay nhanh hay chậm. Tôi là một vệ tinh vô danh tiểu tốt quay xung quanh ngực và mông nàng, quay điên cuồng và hạnh phúc. Cho đến ngày nổ tung trên trục quay hay cho đến lúc tôi lạc quỹ đạo đâm sầm vào hành tinh mẹ và cả hai đều bốc cháy tan tành, trả lại bụi sao cho ngân hà, cho nguyên thủy, cho thuở khai thiên lập địa, không có âm không có dương, không có tôi không có nàng, không có đam mê không có dâm luyến, tôi với nàng chỉ là một. (Bởi duyên cớ nào khiến ta thành hai?)

Khi trước tôi ở nhà má tôi, gần rạp hát. Mùa hè năm đó tôi dời đô về nhà ba tôi ở dốc Cầu Lộ cho dễ bề hành hiệp. Nhà ba tôi là một tiệm mộc nên giường chõng tha hồ. Đi chơi khuya về thấy mùng giăng sẵn, dở lên không thấy ai là cứ chun vào ngủ. Tối tối tôi đi đón Tuyết về. Có lúc trời nóng gặp ba tôi còn ngồi ngoài hàng ba phơi bụng hút ống vổ, nàng khẽ cúi đầu:

– Dạ, chào bác.

Ba tôi cười khì khì đồng lõa, hỏi vớ vẩn:

– Tiết đó hả? Lóng rày bán khá không cháu?

– Dạ khá.

– Cháu khá mà bác coi bộ thằng Kiệt nó hơi xanh.

– Dạ… Tuyết ấp úng.

Tôi đỡ lời:

– Tuyết có cho tui uống cam sô-đa hột gà hoài đó chớ.

Tuyết quay lại la tôi:

– Đồ quỉ!

Một bận tờ mờ sáng chúng tôi còn mê mệt ôm nhau ngủ thì ba tôi lay dậy:

– Mau mau! Vọt? Má mày tới!

Tôi còn đang lính quýnh, ba tôi kéo Tuyết chạy ra nhà sau, giấu nàng trong cầu tiêu. Tôi giả bộ ngủ tiếp. Má tôi (có lẽ ai mét) ập vào kinh lý. Bà dở mùng thấy thằng quý tử say ngủ chèo queo một mình nên yên bụng bỏ ra về. Tôi ra cầu tiêu kiếm Tuyết. Sau hồi chới với chúng tôi ôm nhau cười ngất. Nàng hỏi:

– Sao má anh khó quá vậy?

Tôi vớt vát:

– Chắc bả canh ông già chớ đâu phải rình anh.

– Vậy mà làm em cũng hết hồn.

Ba tôi trấn an:

– Ôi! Hơi sức nào mà lo. Bề gì đã có tao đứng mũi chịu sào. Cùng lắm là bả bắt thằng Kiệt về nhà dưới ngủ, không cho ngủ ở nhà tao nữa.

– Ý! Đâu có được.

Tôi phản đối tức khắc. Nhưng cũng may, mọi việc vẫn cứ diễn tiến như trước, đêm đêm tôi đi đón Tuyết về. Đêm nào tôi ngủ quên thì Tuyết tự động ngồi xe xích lô về. Tuổi mười tám sao hăng quá sức, đêm nào cũng như đêm nấy. Tôi thấy đời tôi quá đầy đủ, không dư không thiếu một chỗ nào. Đôi khi quá hăng say, tôi đã được một anh thợ của ba tôi lưu ý.

– Thầy Sáu ác quá! Cái đi-quăng bữa nay giao cho người ta mà thầy làm sao ố hết trọi, báo hại tôi phải cạo sơn lại.

Rồi anh ta chỉ mấy vết vân vân trên mặt gỗ sơn làm tôi cũng hơi quê, nhưng cũng hãnh diện ngầm (sự hãnh diện ích kỷ của con thú đực).

Một đêm, sau khi rời thân thể Tuyết, tôi lò dò bước xuống giường xỏ đôi guốc định ra nhà sau tè một phát trước khi đi ngủ. Bỗng nhiên trong bóng tối có một bàn tay nắm tôi kéo lại rồi giọng anh tôi rỉ vào tai tôi:

– Mầy để đó cho tao.

Tôi chưa kịp phản ứng thì hắn đã xô tôi ra rồi trèo lên giường dở mùng chun vô. Tôi lớ ngớ đi ra nhà sau ngồi chờ, trong lòng bứt rứt. Có tiếng la ó dẫy dụa. Chập sau anh tôi tuột xuống giường vòng ra sau nhà đi về. Tôi rón rén trở lại bên Tuyết. Nàng nằm quay mặt vô vách. Nàng không nói gì tôi cũng không dám lên tiếng. Tôi thiếp ngủ trong niềm ăn năn và ghen tức lẫn lộn. Khi tỉnh đậy không thấy Tuyết đâu nữa. Tôi nghĩ bụng nếu phen này mà Tuyết bỏ tôi thì tôi sẽ kiếm thằng cha anh của tôi xin tí huyết.

Buổi trưa tôi xuống quán gặp Tuyết đang ngồi ăn cơm với chị Tư và Liên. Chị Tư mời lơi:

– Cậu Kiệt ăn cơm.

Được lời như cởi tấm lòng, tôi kéo ghế xáp vô bàn ăn liền. Để kiểm điểm, tôi gọi thêm một dĩa phá lấu. Tôi gắp một miếng ngon bỏ vào chén cho Tuyết. Tuyết cũng gắp lại cho tôi một miếng và cười rúc rích. Tôi biết như vậy là huề. Tôi được thể kể thêm chuyện tiếu lâm cho mọi người cười cho vui bữa.

Ăn xong Tuyết kéo tôi ra bàn gần bờ sông ngồi hóng mát. Tuyết đi thẳng vào chuyện đêm qua:

– Sao hồi hôm anh làm kỳ vậy? Em mắc cỡ muốn chết.

Mặt Tuyết đỏ gấc, cả vành tai cũng đỏ.

– Em thương anh mà sao anh làm kỳ vậy?

Tôi sượng trân, không biết trả lời ra sao. Tôi ấp úng:

– Anh cũng thấy kỳ thiệt… Nhưng chuyện xảy ra quá bất ngờ, anh đâu có muốn như vậy. Em giận anh lắm hả?

Nàng ngẫm nghĩ một hồi rồi lắc đầu. Tôi cảm động nắm lấy tay nàng. Nàng liếc tôi cười mỉm:

– Thôi bỏ qua chuyện đó. Mà anh đừng có làm vậy nữa nghen. Em thương anh chớ đâu có thương anh Lộc, bộ anh không biết sao?

– Anh biết chớ… Thôi anh xin lỗi em.

Tôi nói tôi biết chớ thiệt ra tôi chẳng biết khỉ mẹ gì hết. Tôi là thằng ngốc tử. Cho tới bây giờ khi tổng kết tình hình quốc tế, quốc nội và tâm lý ái tình đời mình, tôi chẳng biết tôi có yêu ai không nữa. Tôi đam mê, nhiều lúc muốn tự vận thì có. Yêu? (còn phải hỏi lại). Biểu tôi đinh nghĩa tình yêu, tôi cũng bí luôn. Sau một lúc con thuyền tròng trành, tôi và Tuyết trở lại khắng khít nhau như trước. Như không có chuyện gì xảy ra. Tôi lấy thêm một quyết đinh sáng suốt: Nếu thằng cha anh tôi còn dở trò lạng quạng là tôi sẽ quyết liệt mời hắn đi chỗ khác chơi. Bằng võ lực nếu cần. “Ối thôi tôi mời cậu đi ra cho lẹ, nếu còn ở đây ắt sanh tử với tôi?“. Hắn cũng nằm lòng câu hát đó.

Mùa hè trời oi bức nên Tuyết thường đòi đi tắm, hoặc trước hoặc sau khi làm tình. Có khi cả trước lẫn sau khi làm tình. Sau nhà tôi là một sàn nước, trên có để mấy cái lu. Thợ thuyền thường mặc quần xà lỏn tắm lộ thiên trên sàn nếu làm biếng tắm sông. Lần nào Tuyểt về với tôi cũng quá nửa đêm, lối xóm ngủ hết. Tuyết trần truồng như nhộng tắm lộ thiên. Tôi có cái thú đứng ngắm Tuyết tắm. Thân thể Tuyết trắng muốt và ngực Tuyết no tròn, đứng sững đẹp tuyệt. Đã bao lần tôi ngã chết trên đó. Mà rủi có chết luôn tôi cũng không hối tiếc. Canh khuya dế kêu rỉ rả. Khi nàng xối nước ào một cái thì lũ dế im tiếng. Khi nàng kỳ cọ thì tiếng dế lại trổi lên. Có nhạc, có mỹ nhân, nghê thường là đó. Nếu Tuyết biết ăn nói văn chương và biết gảy đàn, tôi sẽ ngờ nàng là hồ ly tinh. Ôi con hồ ly yêu dấu. Tiếng em kỳ cọ trên thân ngà ngọc nghe sao mà dâm tuyệt!

Tôi khổ sở nhất là lúc mỗi tháng Tuyết treo cờ đỏ hưu chiến mấy ngày. Vào thời kỳ này đàn bà hay quạu quọ mà tôi còn quạu hơn Tuyết. Tôi đứng ngồi không yên như bị táo bón, nhăn nhăn nhó nhó như khỉ ăn ớt. Khi nàng hạ cờ là tôi mừng quýnh như con nít má đi chợ về. Nàng lại có dịp la tôi: “Đồ qui, làm gì dữ vậy?” Nàng treo cờ tôi khổ sở. Nhưng nàng không treo cờ, lại là một nỗi bận tâm khác. Một lần nàng nói nhỏ với tôi:

– Sao tháng này em trễ quá, có hơn hai tuần rồi. Rủi em cấn rồi làm sao hả anh?

Đã không lo, trái lại tôi còn thấy vui:

– Cấn rồi thì mang bầu.

– Mang bầu kỳ chết.

– Mang bầu thì đẻ chớ kỳ gì.

– Đẻ rồi làm sao?

– Đẻ rồi thì nuôi chớ làm sao.

– Anh này nói nghe dễ ợt. Lấy gì mà nuôi đây chớ?

– Thì lấy cái này…

Tôi đặt tay lên vú nàng. Nàng hất tay tôi ra:

– Đồ quỉ!

Thấy tôi cười khì khì nàng cũng tủm tỉm cười theo, hai má đỏ rực.

Cách tuần sau, một đêm tôi thiếp ngủ, giật mình không thấy Tuyết bên cạnh, tôi hơi lo sao đêm nay nàng không về. Trưa hôm sau xuống quán chỉ thấy một mình chị Tư. Tôi hỏi Tuyết đâu.

– Tuyết nó đang nằm trong quán.

Tôi chui vào quán thẩy Tuyết nằm co. Tôi đỡ Tuyết dậy hỏi:

– Em bịnh hả?

Tuyết xanh ẻo thều thào:

– Em mệt.

Chị Tư nói thêm:

– Tuyết nó bi thuốc hành nên mệt.

Cách đây mấy bữa, tôi đã nghe chị Tư bàn lén với Tuyết về vụ đó. Tôi nắm vai Tuyết lắc lắc:

– Em phá thai phải không?

Tuyết cúi đầu không nói. Cơn giận đột nhiên bốc dậy trong tôi bừng bừng. Tôi xáng Tuyết một bạt tai ngã chúi vô góc quán rồi đứng dậy. Tuyết gục đầu, nước dãi nàng chảy ra ở miệng. Biểu diễn xong màn tặc-dăng nổi giận, tôi nhảy lên vespa rồ ga phóng đi thẳng. Tôi chạy lòng vòng một hồi rồi trực chỉ ngã ba Cần Thơ. Tôi chui vào một cái nhà sàn gọi bia ra uống. Bà chủ quán còn trẻ, mặc quần áo xốc xếch, một tay bồng nách thằng con lem luốc, một tay bào nước đá. Tôi vụt hối hận chua xót. Tôi bỏ chai bia rồi phóng xe trở lại quán chị Tư. Nghe tiếng xe đậu lại, Tuyết lồm cồm bò dậy ra đứng vịn ở cửa quán. Mắt nàng đỏ hoe, tóc tai bù xù. Tôi ăn năn quá đỗi. Tôi chỉ muốn chạy thẳng ra bờ sông và nhảy ùm xuống dòng nước đục (không phải để tự vận). Tôi muốn lội băng qua con sông lớn, cho tới cù lao An Thành bên kia, tôi leo lên đó trốn hết mọi người, ẩn dật ở cù lao, biến thành con xà niêng hay con dã nhơn gì đó, cho không còn ai nhận ra tôi, cho Tuyết không còn bao giờ nhận ra tôi, gã bạch diện thư sinh sau cái bộ mặt lông lá. Môi Tuyết khô queo, tay nàng run rẩy. Trời nắng chang chang. Hai đứa ngó nhau rưng rưng nước mắt.

Rồi mùa hè qua. Nắng hết vàng rực. Phượng vĩ hết đỏ. Dế hết còn gáy ở sàn nước. Tuyết hết còn khỏa thân tắm lộ thiên. Và tôi cũng bi đuổi ra khỏi nghê thường. Hai đứa còn khắng khít, nhưng nàng ở lại quán, còn tôi lên Sàigòn bước vào đại học. Sau khi đậu tú tài, tôi thi rớt liên miên. Thi công chánh: rớt. Thi trường điện: rớt! Thi sư phạm: rớt ! Thi quân y: đậu. Và đậu hạng nhất, ngành nha khoa. Ba tôi vốn ghét nghề “nhổ răng và thiến heo” của đám hành nghề dạo trong xóm nên ông chửi tôi tàn canh gió lạnh vì tôi thi đậu ngành nhổ răng. Ông nói:

– Tao với má mày gia tài còn có mấy cái răng ăn cháo bộ mày tính học về nhổ luôn cho hết hả? Rồi bà con đau bụng đẻ rước mày tới mày nhổ răng cho chết luôn hay sao? Mầy học cái nghề gì mà ác ôn quá vậy?

Tôi nản quá nên bỏ ngành quân nha. Tôi lêu bêu vào năm đầu đại học khoa học. Tôi lạc lõng, mất hướng. Tôi chỉ mong cuối tuần về để vọt về Vĩnh Long. Có lúc kẹt xe, tôi về tới thành phố đã tối mò. Tôi ghé nhà Ánh trước vì gần bến xe. Nhà nàng ngủ sớm (ông già làm thầy giáo). Một tay gõ cửa mà tay kia tôi còn lận theo khúc bánh mì thịt chưa kịp ăn. Bà chị ra mở cửa la lên:

. Ánh ơi! Thằng Kiệt nó về.

Ánh chạy ra mừng rỡ. Tôi ghé vào nói chuyện láp dáp một chút rồi vọt, hẹn bữa sau trở lại. Tôi kêu xe lôi đi thẳng xuống quán, và trên đường tôi tạt ngang báo cho ba tôi biết tối nay tôi ghé ngủ nhà để ổng cho đem mùng ra tối về có mà giăng. Thấy tôi về Tuyết cũng mừng lắm. Lại một tô hủ tiếu “đầu trọc”, một ly cam sô-đa hột gà. Và tôi lại chết thiếp trên ngực hồ ly, bằng lòng, hạnh phúc.

Có dạo bận học quá, cả tháng không về được, tôi nhận được thư Tuyết. Nàng viết: “.. Anh biết hông, mỗi bữa chiều em bắt ghế ra ngồi trước quán ngó ra ngoài đường thấy người ta đi qua đi lại, em nhớ anh thấy mồ. Lúc nào anh học thuộc bài hết rồi thì anh mau mau về đây cho em thả mãn… “

Trong thơ nàng kèm theo một tấm hình sau lưng có viết mấy chữ: “Em xin tặng anh một đá hoa hồng để làm kỳ nhiễm. Tuyết. “

Kỳ nhiễm? hay kỷ niệm? Tôi đoán lờ mờ. Chữ nghĩa không làm tôi bận tâm, nhưng khi nhìn tôi đâm lo. Thường mấy cô nữ sinh cầm nhánh bông hay đóa hoa để làm duyên khi chụp hình. Đàng này Tuyết cầm hẳn chậu bông đưa thẳng ra một bên, phía trên có cụm hoa hồng bằng nhựa màu. Tôi chỉ sợ nàng mỏi tay buông ra bất tử thì đổ nợ. Thà nàng giả bộ leo lên máy bay ló đầu ra chụp hình như ông anh tôi mà còn khá hơn. Cầm chậu bông kiểu này là chết kiểu con người ta. Bữa nọ thằng bạn lục bóp tôi, lôi ra tấm hình Tuyết, ngắm xong, đọc xong, nó bèn ngửa mặt lên trời cười hô hố, chảy cả nước mắt nước mũi. Tôi quê quá nên từ đó giấu biệt hình nàng.

Trở lại việc học vấn của tôi. Trong cái rủi mà cũng có cái may. Nhờ phất phơ như vậy mà tôi được đi du học. Số là bữa nọ đi lơ ngơ trong Chợ Lớn tôi gặp lại một thằng bạn cũ khá thân. Nó kéo tôi về nhà ở đường Da Bà Bầu tán dóc. Khi mở hộc tủ tìm cây viết nó chợt à một tiếng rồi lôi ra một xấp giấy đưa cho tôi. Đó là đơn xin đi du học ở Canada. Nó nói tao quá tuổi rồi xin không được, mày nhỏ hơn tao hai tuổi, đậu hai tú tài hạng bình thứ xin có hy vọng lắm. Tôi nhắm mắt điền đơn, nộp đại rồi quên bẵng. Năm tháng sau, đùng một cái tôi được mời khám sức khỏe, làm thủ tục xuất dương: tôi đã được chọn. Tôi cầm tấm giấy mời chới với. Có bao giờ tôi nghĩ tới hay mơ ước chuyện xuất dương. Nhà tôi không giàu, ba má tôi dốt nát. Tôi là một thứ cao bồi hương thôn. Dù tôi có bận quần jean cao bồi đi nữa là cũng để chà lết ở miệt vườn. Thế giới của tôi có cù lao An Thành, có cây da Cửa Hữu, có cái miễu Bà, có cầu Cái Cá, có bến xe đò. Và có cái quán nước của chị Tư Tùng. Và trong quán nước có Tuyết, dĩ nhiên. Tôi không muốn đi đâu hết. Tôi tấn thối lưỡng nan. Ông anh thứ ba (không phải Lộc) của tôi biết vậy nên đặc cách cho một lâu la của ông ta dắt tôi đi làm hết mọi giấy tờ. Thành thử tôi kẹt cứng ngắc, tôi chẳng biết gì về Canada ráo, từ nguồn gốc cho tới ngôn ngữ. Má tôi hỏi:

– Nghe anh Ba mày nói mày sắp đi Ca Bá Đại hả? Nghe nói ở đó nước ngập quanh năm mày qua bên đó làm chi vậy?

Tôi bí. Phải chi bà hỏi ở chợ Vĩnh Long có mấy cái quán cóc, quán nào bán cơm quán nào bán nước, quán nào có mẩy cô, tên gì, mấy tuổi tôi bảo đảm trả lời rót rót, đúng đến chín chục phần trăm.

Nhưng rồi mọi việc cứ tuần tự diễn tiến, theo một trật tự bất kham. Bánh xe du học cứ lăn tới và kéo tôi ra khỏi cái cứ địa “cao bồi hương thôn” mặc tình cho tôi trì níu lại. Còn ba tháng nữa sẽ xuất dương, rồi hai tháng, rồi một tháng, rồi nửa tháng. Rồi chỉ còn một tuần lễ. Tuyết có theo dõi tình hình quốc nội do Lộc báo cáo nên nàng cũng khăn gói lên Sài gòn để gặp tôi vì tuần chót tôi kẹt luôn ở thủ đô để lo giấy tờ, thủ tục, thông hành, hối đoái v.v.. Một tối, nàng hẹn gặp tôi trước rạp Khải Hoàn, không phải để coi hát, mà là để giã biệt. Đúng hẹn, tôi dắt Tuyết qua chợ Thái Bình ngang mặt rạp. Nàng đi guốc mộc xanh, bận quần sa-teng trắng, áo xá xị màu hường lợt. Lần đầu tiên tôi để ý nàng vẽ mắt đen, tô son nhạt và đeo bông tòn teng. Coi cũng hấp dẫn lắm. Nhưng tôi thích Tuyết ở truồng đứng xối nước ở nhà sàn hơn. Tuy nhiên tôi cũng khen nàng một câu lấy lòng.

Tôi đề nghị nàng kiểm một cái gì ăn đã, vì lúc đó đã hơn mười giờ đêm mà tôi chưa ăn gì từ chiều. Nàng đồng ý. Tôi hỏi nàng muốn ăn gì, nàng đáp tùy ý anh, em không đói. Không có hủ tiếu đầu trọc, tôi đề nghị nàng ăn mì ở một cái xe đẩy trong chợ. Xe cẩn kiếng đủ màu kể lại sự tích Tam Quốc có Quan Công mặt đỏ, sau nồi xúp nghi ngút là một xì thầu bụng phệ, không trọc đầu, nhưng tôi tin tưởng. Tôi kêu một tô mì đặc biệt có mì và hoành thánh trộn lẫn. Còn nàng, một chai xá xị Con Nai. Bụng đói nên tôi cúi gầm đầu ăn một mách gần hết mới ngửng lên gợi chuyện:

– Em lên đây hồi nào?

– Hồi chiều hôm qua.

– Lên đây em ở đâu?

– Ở đậu nhà bà dì con Liên trong chợ Bàn Cờ. Còn anh, bữa nào thì đi Da… Cá Đại, hay cái gì Da Da đó?

– Bữa nay thứ ba. Còn đúng một tuần nữa thì anh đi. Đi Gia Nã Đại.

– Cái gì Gia?

– Gia Nã Đại.

– Ờ vậy hả? Gia Nã Đại! Cái tên gì kỳ thấy mồ, nói muốn trẹo bản họng. Nghe nói bên đó đất thấp nước ngập dữ lắm phải hông?

Không biết ai đồn cắc cớ như vậy. Tuyết cũng hỏi một câu y chang như má tôi. Tôi giải thích: “Em đừng có lộn Gia Nã Đại với xứ Hòa Lan”. Nàng càng mù tịt thêm nên tôi lảng sang chuyện khác:

– Em có tính ở lại Sài gòn để đưa anh lên máy bay luôn không?

– Ý, đâu được? Chị Tư bi cúm hổm rày nằm liệt địa, quán chỉ có mình con Liên coi, bê búi lắm. Sáng mai em phải về. Hơn nữa…

Nàng ngập ngừng:

– … hơn nữa gia đình anh, em chỉ biết có ba anh và anh Lộc. Má anh lại khó nữa, khi không em nhào vô đưa anh đi coi kỳ chết.

Thiệt ra nếu nàng đòi đưa tôi ra tận phi trường mới là đổ nợ. Vì hôm đó sẽ có Ánh tiễn tôi, chương trình đã in như vậy rồi, cáo phó đâu có kịp nữa. Tôi dò dẫm:

– Em về dưới rồi tính làm cái gì ăn?

– Thì bán quán chớ làm cái gì?

– Bộ em tính bán quán hoài sao?

– Không bán quán chớ anh biểu em làm cái gì bây giờ?

Tôi ỡm ờ:

– Thì chờ anh học thành tài về nước cưới em.

Nàng ngó tôi hoài nghi:

– Anh đừng có nói cà rỡn. Bản mặt anh mà cưới em.

Tôi kênh kênh:

– Thiệt chớ! Em mà dám chờ thì anh cũng dám cưới cho mà coi.

Nàng nghiêm mặt (ít khi tôi thấy nàng nghiêm như vậy) làm thằng nhỏ hơi teo:

– Hồi thở giờ em có biểu anh cưới em lúc nào đâu mà bữa nay anh phát thinh nói kỳ cục vậy?

Mắt nàng hoe đỏ. Tôi sợ nàng khóc bất tử nên gạt ngang:

– Em không tin thì thôi anh không nói nữa.

Nàng dụi dụi mũi, ngần ngừ:

– Mà em hỏi thiệt, anh có thương em hông?

– Có nói em cũng không tin nên anh không nói.

Nàng nài nỉ:

– Hồi nào tới giờ em đâu có hỏi, bữa nay em mới hỏi thiệt anh chớ có thương em hông đó?

– Thương chớ. Thương đứt ruột.

Thấy nàng chưa chịu tin, tôi đưa một ngón tay lên thề:

– Đứa nào nói láo cho ông Táo đội nồi cơm.

– Anh thiệt ba xạo.

Nàng cười, tôi cũng cười theo. Nàng cười là tôi đỡ lo. Nàng cười là tôi đã được tha thứ, chấp nhận. Tôi nắm tay nàng ngó trân trân:

– Bữa nay em đẹp lắm… Anh muốn ngủ với em một đêm chót.

Nàng ngần ngừ:

– Bộ anh tính đem em về ngủ nhà anh hả?

– Anh tá túc nhà anh Ba của anh. Má anh cũng ngủ ở đó . Anh về nhà em được không?

– Ý, nhà dì con Liên em đâu có quen. Hơn nữa nhà có chút xíu, dỉ ngủ trên gác còn em ngủ bộ vạt ở dưới với đứa nhỏ. Anh tới đó làm quỉ đâu có được.

Chợt ngó lên trời, tôi đề nghị:

– Hôm nay có trăng lưỡi liềm, hay anh chở em dạo một vòng ra Bình Điền, ở đó có cây cối…

Nàng gạt ngang:

– Ở dưới mình khác, ở đây khác. Anh làm bậy bạ lính bắt là hết đi Gia Cái Đại luôn. Anh ẩu tả, bữa đó ở Cầu Bắc về anh thiệt thành quỉ. . . Em mà níu anh không kịp là anh lọt tuốt xuống mương rồi!

Nàng cười rúc rích. Lời Tuyết nói vô tình càng kích thích tôi mãnh liệt. Tôi nhớ rõ lắm, tôi nhớ rõ hết, tôi nhớ đóa hoa thầm kín của nàng lần đầu tiên dưới bàn tay tôi mân mê, sục sạo, tôi nhớ bụi cỏ đen, tôi nhớ ánh trăng mát mẻ trên thân dưới lồ lộ của nàng. Tôi thèm muốn điên cuồng, tôi thèm thuồng muốn chết. Tôi cúi đầu tiu nghỉu, như những lần Tuyết treo cờ đỏ hưu chiến. Nàng ngó tôi một hồi coi bộ không êm. Nàng kêu tính tiền, nàng trả tiền rồi nói:

– Thôi mình về anh, khuya rồi.

Thấy tôi cứ ngồi đực mặt ra đó, nàng nắm tay tôi kéo đi, nói nhỏ:

– Thì anh về với em, về Bàn Cờ.

Tôi riu ríu theo nàng. Về tới đầu xóm, nàng biểu tôi dừng xe lại, tắt máy, rồi dắt xe theo nàng. Đi quanh co một hồi tới một căn nhà lợp tôn nàng ra dấu là đã tới. Tôi dựng xe và theo nàng đi vòng cửa sau mở khóa vào nhà. Bên trong chỉ có một bóng đèn đỏ thắp tù mù. Bốn phía vắng lặng. Nàng chỉ ngón tay lên gác rồi đưa lên môi ra dấu cho tôi giữ im lặng. Tôi tuột giầy ra. Nàng nắm tay tôi dắt vào nhà tắm nhỏ hẹp, bên trong kê một cái lu nước và một cái khạp thấp. Nàng khép cửa lại, tối om tôi không thấy gì hết. Tôi nghe tiếng sột soạt. Tôi cũng trút bỏ quần áo theo nàng. Tôi mở hờ cửa cho ánh sáng đỏ lọt vào. Ánh sáng đỏ trên da lụa càng tăng thêm kích thích, tôi muốn cắn lên đó. Nàng còn mặc áo. Tôi đâu chịu như vậy Ngón tay tôi lần mò mở nút áo rồi cởi bộ nịt vú của nàng. Tôi mở rộng cửa phòng tắm cho ánh sáng tù mù vào đầy. Tôi hạnh phúc muốn phát điên. Tôi sắp nổ tung như một bóng đèn quá cường độ. Tôi đè nàng ưỡn người trên lu nước và tôi làm tình với nàng ở tư thế đó. Tư thế bất tiện mà tuyệt vời. Ngực nàng rung rinh, đôi bông tai nàng lắc lư, đôi mắt nàng khép hờ mở nửa cánh thiên đường cho tôi lọt vào (và lạy trời cho tôi đừng lọt ra nữa). Trong trận mưa dục tình tôi hôn nàng khắp mình mẩy (tôi chưa hề hôn nàng như vậy). Hai đứa ôm riết, không muốn rời, không nỡ rời, không chịu rời …. Tuyết! Tuyết! Tuyết!

Buổi chiều hôm sau đứng ở bao lơn, tôi chợt nhận thức Tuyết đã lọt khỏi tầm tay tôi biệt mù. Nàng đang ở đâu đó bên bờ Tiền Giang có gió mát, trăng thanh, hay đang nằm dật dựa trong quán hay nàng đang chặt dừa, xay rau má xôn xao giữa đám khói tỏa mịt mù của sườn nướng, nem nướng. Tôi chợt lo sợ vu vơ. Tôi lo sẽ không bao giờ còn gặp lại nàng nữa.

Nhà anh Ba tôi đường Hùng Vương, cạnh đường rầy xe lửa. Bên kia đường là dãy bàng cao, rất cao, lá lớn xào xạc. Buổi chiều sắp hết, trời chạng vạng. Cơn mưa chiều vội vã đến rồi vội vã đi. Gió không có hướng nhất định, lay lắc lá bàng, nước rơi lộp độp. Tôi chợt sợ hãi, ruột quặn thắt. Bên tôi không có Tuyết, không có Ánh. Mai mốt đây không có người tình quán nước, không có người yêu nữ sinh, chắc tôi không sống nổi (tôi nghĩ vậy).

Trong cơn bàng hoàng, đầu tôi lởn vởn bài thơ tôi muốn viết tặng người yêu và người tình:

Tôi đã khóc như thành đô đã khóc
Mưa chiều nay đánh đẳm ngõ đi về
Dãy bàng cao u đọng chút sầu tê
Và rỏ lệ như lòng tôi đã khóc

Tôi sẽ chết như hoàng hôn đã tắt
Mây bay đi không cuốn được u hoài
Chớm đêm về mưa gió sẽ chia tay
Cho lá nhớ mưa buồn dâng ướt mắt…

Rồi tôi đi du học. Những năm lang thang ở xứ người, tôi đã yêu những người đàn bà khác, ôm ấp những bộ ngực khác, mân mê những bụi cỏ sắc màu khác, chết giấc bên cạnh những hồ ly tinh khác. Tôi quên bẵng Tuyết. Có lúc tôi yêu đời, có lúc tôi muốn tự vận. Nhưng may mắn tôi còn sống sót về nước sống giai đoạn bi thương của xứ sở – cùng những hồ ly khác nữa của quê hương, giữa cái chết và cái sống dằng co mỗi giờ mỗi phút.

Ngày về, một nửa những người khi trước đưa tôi đi đã ra đón tôi. Có ba tôi, có má tôi, có Ánh, có Lộc v.v… Dĩ nhiên không có Tuyết. Mọi người kéo về nhà anh Ba tôi ăn mừng. Tôi mệt quá lăn ra ngủ một giấc, mơ thấy những chuyện trên trời dưới đất. Bữa chiều, tôi đang đứng bên đường rầy xe lửa, chợt ba tôi đến bên cạnh tôi, hỏi:

– Ờ Kiệt, mày còn nhớ con nhỏ Tiết không Kiệt?

Tôi giật mình:

– Nhớ chớ ba. Tui nhớ chớ. Bộ nó còn bán quán hả?

Ba tôi lắc đầu:

– Nó đã đi lấy chồng.

Tim tôi chợt nhói. Ba tôi nói tiếp:

– Tội nghiệp! Con nhỏ đó có lòng lắm. Nó ghé thăm tao hoài và bận nào nó cũng hỏi thăm mày. Hai năm trước, lúc đi lấy chồng nó có lại nhà mình lựa mua cái tủ ba buồng chở về Tân Bình. Chồng nó có tuổi, góa vợ, buôn bán coi mòi cũng khá. Năm rồi nó mang bầu nhưng rủi ro có chửa ngoài tử cung. Khi hay được đem vô nhà thương thì trễ quá cứu không kịp…

Mình mẩy tôi vụt lạnh ngắt, xây xẩm. Tôi băng qua bên kia đường Hùng Vương, đi dọc hết dãy bàng cao rồi chui vào một quán nhỏ. Bên ly bia tôi ngồi khóc lặng lẽ. Tôi muốn dằn cơn khóc mà nước mắt cứ vọt ra. Tay bưng mặt, tay ôm bụng, tôi tưởng chừng ruột gan mình đang đứt ra từng đoạn một. Tôi giận tôi, tôi giận đời sống, tôi giận đủ thứ. Sao đành để Tuyết nhận chịu bất công như vậy? Trong lúc nàng đi lấy chồng đàng hoàng (không phải với thẳng giỏi tài ba xạo như tôi), muốn làm ăn đàng hoàng, muốn có con đàng hoàng thì nàng lại lăn đùng ra chết. Chết tức tưởi. Dãy bàng cao còn đó, thơ học trò tôi tính tặng nàng hãy còn đó, dù chẳng bao giờ nàng đọc, có đọc cũng chẳng bao giờ nàng thích:

Đốt hoàng hôn vỡ thành theo khói thuốc
Ai dày vò mà khói thuốc cong queo
Gió cuốn vội vàng mây phải bay theo
Và tôi gục ngã như hoàng hôn dẫy chết.

Nhưng không phải tôi, mà là “nàng đã gục ngã như hoàng hôn dẫy chết”. Tôi thương Tuyết bạc phước của tôi, tôi nghĩ đến những người gái đĩ bất hạnh. Không bao giờ tôi còn được cái thú viết vớ va vớ vẩn để tặng nàng như thưở còn là học trò nữa. Tuyết ơi là Tuyết ơi!

Thôi nhé em về yên Xóm Cỏ
Sự đời đã trải cuộc yêu đương
Nhớ nhau vẫy bút làm mưa gió
Cho nắm xương tàn được nở hương
(1)

KIỆT TẤN

(1) Thơ Hoàng Hải Thủy

NHỮNG NGÀY VẮNG EM…

vuhytrieu

Vắng em ngày tháng buồn tênh
Nắng rơi lúc nhớ lúc quên hiên nhà
Vắng em cây chẳng trổ hoa
Vẩn vơ đứng nép góc nhà buồn thiu
Vắng em chiều ngẩn ngơ chiều
Buông vài chiếc lá quạnh hiu sau vườn
Vắng em vạc chẳng kêu sương
Nửa khuya trăng nhạt nhoà vươn cuối trời
Vắng em gió cũng chơi vơi
Thổi ngàn thương nhớ cho tôi muộn phiền
Vắng em lạnh cả ngàn phương
Gối chăn ủ dột chiếu giường bơ vơ
Vắng em đêm cũng ơ hờ
Mộng rơi rớt mộng bơ thờ giấc yêu
Vắng em vắng cả mọi điều
Em đi mang cả trời yêu đi cùng…

Vũ Hy Triệu

CÚC HƯƠNG

levanhieu

Lang thang trên đồi cúc
Nghe như thu mới về
Chợt chút gì thoảng nhẹ
Lời em bay đi xa.

Biết mùa thu đã qua
Anh vẫn tìm đồi cúc
Hóa ra thăm thẳm rừng
Mùa đông còn trổ búp.

Còn trỗ vàng sắc thu
Còn níu nương sợi gió
Vương vương trong sương mù
ẩn chìm bao dặm cỏ.

Ta lật tìm dấu chân
Tìm bóng thu xa hút.
Bàng hoàng trước mùa đông,
Phỉnh phờ ta lời cúc.

LÊ VĂN HIẾU

CƠN GIÓ MANG HỒN TUỔI THƠ (TT)

 

ledachoanghuu

Anh ta bay là đà, nói với chính mình, “ta về với tuổi thơ thì ta gọi ta bằng nó và tự gật đầu, “vậy đi”.
Trước lúc cơn gió mang linh hồn chết bay ra khỏi căn phòng có nói sẽ ngao du Sài Gòn, nghe tên này rất quen, bay dạo một vòng thấy vùng đất cũng rất quen thuộc vậy là nó biết đang ở trên vùng đất Sài Gòn. Vừa bay lang thang vừa tìm kiếm có gì quen nữa không, rồi từ xa xa một cơn gió nhỏ bay tới và ngoắc ngoắc, nó bay lại với đôi mắt tròn xoe, cơn gió nhỏ cười hì hì:
“Chào bạn, bạn nhớ tui hông?”.
Nó lắc đầu:
“Mình không nhớ”.
Cơn gió nói tiếp:
“Không sao, để mình nhắc lại, mình là cơn gió mang hồn tuổi thơ của bạn, mình đi chung hết quãng đời tuổi thơ của bạn đó”.
Nó hỏi lại cho chắc:
“Vậy bạn biết và nhớ hết quãng đời này của mình?”.
Cơn gió mang hồn tuổi thơ gật đầu:
“Phải, bây giờ bạn không nhớ, nhưng bạn muốn nhớ lại hông?”.
Nó đáp ngay:
“Rất muốn, rất nóng lòng nữa là đằng khác”.
Cơn gió mang hồn tuổi thơ nắm tay nó:
“Được, vậy để mình nhắc để bạn nhớ lại nghen”.
Nó gật đầu:
“Cảm ơn bạn!”.
Cơn gió tiếp tục:
“Ở đây ngày trước gọi chung là thành phố Sài Gòn, còn được gọi là vùng đất lành chim đậu”.
Nó reo lên:
“Ấy dà, hèn gì mình nghe tiếng Sài Gòn rất quen, Sài Gòn đẹp lắm phải hông?”.
Cơn gió gục gật:
“Phải, rất đẹp, bạn sanh ra ở ngoại ô của thành phố, ở Hóc Môn thuộc vùng Gia Định, để mình đưa bạn về đó ngay bây giờ”.
Cơn gió kéo nó đi, bay về nơi chôn nhau cắt rún của nó. Và quả tình vùng quê yêu dấu rất đẹp và hiền hòa, nó bay tới đây bỗng dưng trong đầu nó hiện ra mồn một tuổi thơ của nó. Nó reo lên:
“Ý dà, mình nhớ ra rồi – Nó chỉ về hướng có mấy dãy nhà: đằng kia là nhà mình kìa”.
Cơn gió mang hồn tuổi thơ ngừng lại:
“Bạn nhớ rồi hả, chắc từ từ rồi sẽ nhớ hết, thôi bây giờ mình có công chuyện phải đi, chừng nào cần thì cứ gọi cho mình, chúc may mắn”.
Nó ôm chầm cơn gió mang hốn tuổi thơ:
“Cảm ơn bạn nhiều lắm!”.

***

Chạy về tới nhà, gặp má mình đang ngồi với chiếc máy may, nó khoanh tay:
“Thưa má! con mới về”.
Má nó nhìn lên:
“Tổ cha bây, xin đi chơi chút mà giờ mới về”.
Nó cười hề hề:
“Dạ, con xin lỗi con quên nói, mấy anh ở xóm trên kêu lên làm lồng đèn mai đi chơi Tết Trung Thu, tụi con ráng làm cho gần xong, buổi chiều mai má cho con đi làm tiếp rồi tối đi chơi luôn nghen má”.
Má nó gật đầu:
“Ờ, vậy thì được, thôi giờ xuống tắm rửa đi, chờ chút ba con về rồi dọn cơm cùng ăn”.
Nó dạ và chạy xuống sau nhà tắm rửa. Nhà chỉ là căn nhà trệt nhưng khá rộng rãi nằm trong một dãy mà bên ngoài nhà nào cũng giống nhau. Có lần nó hỏi:
“Sao người ta làm nhà giống nhau vậy ba?”.
Ba nó trả lời:
“À, làm một kiểu cho nhanh với lại làm như vậy để nhận biết đây là khu riêng, dành cho những gia đình như mình là làm trong trại gia binh”.
Nó hỏi tiếp:
“Ba làm gì trong đó vậy?”.
Ba nó cười:
“Ba làm bàn giấy”
Nó đoán thử:
“Giống như cô giáo của con?”.
Ba nó gật đầu:
“Ừ, giông giống vậy”.
Ba nó làm bàn giấy trong trại gia binh có tên là Quan Trung, người ta gọi tắt của Trung tâm huấn luyện Quốc Gia Quan Trung. Còn má ở nhà đi chợ, nấu cơm nước, lúc rảnh rang thì sửa đồ cho những người lính ở trong đó, nó biết thêm sơ sơ vậy.
Học bài xong lên giường nằm nhưng chưa ngủ được, nó nghĩ thêm cái gì để làm cho cái lồng đèn đẹp hơn, mấy anh chị lớn chỉ làm cái khung sườn dán giấy và kêu tự trang trí sao ai đẹp sẽ có thêm quà. Nó nằm cạnh bên cửa sổ miên man suy nghĩ một hồi thì những cơn gió thổi tới, gió nhè nhẹ ru nó chìm vào giấc ngủ.
Đêm Trung Thu, trăng rằm lên sáng rực, tròn quay. Đám tụi nhỏ nó đã làm xong hết các lồng đèn, ui cha đứa nào làm cũng đẹp hết. Mấy anh chị quẹt lửa thắp dùm những ngọn đèn cầy bên trong làm lồng đèn sáng lung linh, rồi mấy anh chị dẫn đầu thành đoàn, tụi nó tung tăng đi theo sau cùng hát bài Rước Đèn Tháng Tám:
Tết Trung Thu rước đèn đi chơi,
em rước đèn đi khắp phố phường.
Lòng vui sướng với đèm cầm tay,
em múa ca trong ánh trăng rằm.
Tùng dinh dinh cắc tùng dinh dinh.
Tùng dinh dinh cắc tùng dinh đinh,
em rước đèn này đến cung trăng.
Tùng dinh dinh cắc tùng dinh đinh,
em rước đèn này đến chị Hằng...”
Đoàn kéo đi khắp mấy xóm. Sau đó tụ tập lại bãi đất trống, ngồi xúm xít dưới gốc cây xoài chớ hổng có cây đa, tiếp tục cùng hát bài Thằng Cuội:
Bóng trăng trắng ngà,
có cây đa to, co thằng Cuội già, ôm một mối mơ.
Lặng yên ta nói Cuội nghe.
Ở Cung trăng mãi làm chi?
Bóng trăng trắng ngà,
có cây đa to…”
Hát xong mấy anh chị phát bánh Trung Thu ăn thiệt là ngon còn được nghe kể chuyện sự tích Chú Cuội rất hay nữa. Đêm Trung Thu quá là vui!…
Nó đã nhập học được hơn nửa tháng.
Năm nay nó đang học lớp ba. Bước vô lớp học, câu đầu tiên nó thấy phía trên tấm bảng là: “Tiên học lễ hậu học văn”, hai bên vách là hai câu: “Kính trên nhường dưới – Kính thầy, quý bạn” và “Học thầy không tầy học bạn”. Được cô giáo dạy: Đối với Cha Mẹ, anh chị phải “Đi thưa về trình”. Khi gặp người lớn, học sinh đều phải lễ phép chào kính. Mỗi lần đi ngang trước mặt người lớn phải cúi đầu, khi Cha Mẹ tiếp khách không được ngồi nghe, không được hỏi leo hay nói leo chuyện với khách của Cha Mẹ mình. Mỗi khi đi ra đường, thấy các cụ già yếu, người tàn tật phải dìu dắt băng qua đường, hay tránh những chỗ khó đi, gặp người bị nạn phải lập tức giúp đỡ, thấy có cuộc chào cờ phải lập tức dừng chân ngả nón, mũ đứng trong tư thế trang nghiêm, kính cẩn cho đến khi chào cờ xong, gặp đám tang cũng vậy, ngã nón cúi đầu chờ đám đi qua. Không bao giờ được phép đứng trước cửa nhà người khác nhìn vào, như vậy là bất lịch sự. Không được nói những lời lẽ thô tục, không được vô lễ với bất cứ ai. Khi lượm được của rơi, phải đem trình thầy cô, để thầy cô tìm cách trả lại cho người bị đánh rơi…
Hàng ngày cô luôn luôn nhắc nhở học sinh: “Có học phải có hành”. Những em nào thực hành đúng như những điều đã học, sẽ được cô cho điểm tốt, hoặc ngược lại, sẽ bị ghi điểm xấu và ba học sinh đứng đầu lớp, mỗi người sẽ nhận được một Bảng Danh Dự cuối tháng. Mỗi lần nhận được Bảng Danh Dự là má nó thưởng quà cho nhiều lắm.
Nó học thuộc lòng nhiều bài ca dao như:
Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”
Gia Huấn Ca của Ức Trai Nguyễn Trãi:
“Thấy người hoạn nạn thì thương,
Thấy người tàn tật lại càng trông nom,
Thấy người già yếu ốm mò,
Thuốc thang cứu giúp, cháo cơm đỡ đần.
Trời nào phụ kẻ có nhân,
Người mà có đức, muôn phần vinh hoa.
Rồi thuộc luôn cả bài Quê Tôi anh nó học trước ở lớp bốn để lại nữa, anh nó học trên hai lớp:
Quê tôi có một con sông,
Có nương khoai thắm, có đồng lúa xanh.
Bốn mùa gió mát, trăng thanh,
Bốn mùa lúa tốt, dân lành vui tươi.
Đó đây vang tiếng nói cười,
Câu hò, giọng hát của người nông dân,
Ngày đêm chẳng quản tấm thân,
Nắng mưa dầu dãi bao lần nào than.
Mồ hôi đem tưới mùa màng,
Chân tay xới mảnh đất vàng thân yêu.
Quê tôi trong ánh nắng chiều,
Vi vu thoáng tiếng sáo diều nhặt khoan.
Đi học còn được học làm toán, khoa học thường thức, sửa địa, hội họa rồi có khi ra ngoài tập thể dục, nhưng nó thích nhứt là môn Quốc văn. Giờ tập làm luận văn cô cho đề bài tả cảnh tả người, con vật này nọ nó rất mê.
Đi học rất khoái, chỉ ớn ông thầy giám thị, ổng nghiêm nghị không bao giờ thấy nở nụ cười, ổng chắp tay sau đít đi lòng vòng, những lúc xếp hàng chào cờ hay vô lớp đứa nào lộn xộn ổng ton cho một ba ton dễ hổng xưng đít thì thôi á.
Đi học một buổi còn một buổi thả sức rong chơi chạy nhảy với đám bạn cùng xóm, có khi kéo cả bầy qua xóm khác cùng chơi nhiều trò, tạt lon, cướp cờ, bắn bi, đá banh… Phía sau dãy nhà không xa là những cánh đồng lúa và những vườn trồng rau, trồng ớt, trồng bông rất đẹp nữa. Tụi nó cũng hay ra đây men theo bờ ruộng bắt chuồn chuồn, bắt dế, bắt bướm về chơi.
Một bữa nhận được Bản Danh Dự, ra về nó mừng quýnh chạy một mạch tới nhà luôn. Về tới nhà, thấy má đang ở dưới bếp, nó chạy ào xuống lấy ra khoe:
“Má ơi! con được Bản Danh Dự nè!”.
Má nó đang làm lỡ tay cũng buông, hun nó cái chóc rồi khen:
“Con giỏi lắm! ráng giỏi hoài vậy nghen, má thương và thưởng”.
Nó dạ một tiếng to, vui hết cỡ.
Chiều gần tối ba đi làm về, má lại lấy Bảng Danh Dự ra khoe với ba nó:
“Nè, thằng con ông nó lãnh được nè!”.
Ba bồng thốc nó lên quay một vòng, sướng đã đời, hạ xuống, ba nó nói giông giống má:
“Ừ, con giỏi lắm, mai chủ nhựt ba cho đi chơi”.
Nghe được đi chơi nó mừng líu ríu:
“Dạ, đi chơi ở đâu vậy ba?”.
Ba nó trả lời:
“À, mai ba chở hai anh em xuống Sài Gòn coi đá banh”.
Chiều chủ nhựt được ba lấy chiếc xe Mobylette chở hai anh em đi coi đá banh. Dưới Sài Gòn nhà cao lắm, người đông đúc, nhiều xe hơi chạy qua lại tấp nập luôn. Ba nó dẫn hai anh em vô trong sân, Trời! cái sân rộng mênh mông vậy mà chật cứng người coi, người ta la rần trời đất khi hai đội ra sân, mấy chú đá banh hay quá chừng, hai anh em coi không chớp mắt. Nghĩ giữa hiệp được mua cho hai anh em hai cây cà rem mát lạnh, mút ngọt sớt. Ra về ba cha còn bàn tán về trận đá banh suốt dọc đường không dứt.
Về đến nhà là đèn đã lên ngọn sáng trưng. Được má thưởng nữa chớ, một bữa tối ngon lành. Má đi chợ Bà Điểm mua vịt cỏ về trộn gỏi, nấu cháo, vịt cỏ ở đây là số một. Anh chị em tụi nó được uống nước xá xị còn ba má thì cụng ly với lave con cọp* (*bia con cọp) vừa ăn vừa trò chuyện rôm rả.
Rồi một bữa ba má nó nói hôm nay nghỉ học. Má với mấy chị chộn rộn xếp quần áo và những bị cơm sấy, mì gói cùng một bịch cơm rang vào ba lô, trời vừa sáng cả nhà kéo nhau ra đường trừ ba, má nó nói đi tản cư tránh đạn còn ba phải vào trong trại. Ra đường cũng quá chừng người gồng gánh, vác ba lô cùng đi về một hướng cách nhà mấy cây số tụ tập ở một ngôi nhà lớn lắm, ai nấy vẻ mặt lo lắng, rầu rĩ mặc cho lũ con nít chạy nhảy vui đùa. Chơi mệt vào lục đồ ăn, lấy ra được một thanh sôcôla, nó nhớ lại một bữa mấy đứa đang đi học về thì có một chiếc xe ríp (jeep) chạy qua rồi ngừng lại, trên xe có một ông da trắng bóc, cao to nhảy xuống, ổng hỏi giọng lơ lớ:
“Các cháu đi học về hả?”.
Tụi nó đồng thanh thưa:
“Dạ thưa, tụi con đi học về”.
Ổng cười tươi và lấy một bịch sôcôla chia cho mỗi đứa mấy thỏi và dặn:
“Các cháu ngoan lắm, học cho giỏi nghen”.
Tụi nó dạ và cảm ơn xong, ổng xoa đầu và lên xe thì nghe chú lái xe nói:
“Dạ, đại úy coi bộ khoái trẻ con”.
Ổng cười đáp lại:
“Phải, mình rất mê trẻ con, trẻ con rất dễ thương, hồn nhiên và ngây thơ, mình ước gì không lớn lên mà mãi mãi là trẻ con”.
Xe chạy đi rồi tụi nó còn thắc mắc hoài, cái ông này lạ, sao lại không muốn lớn lên trong khi con nít muốn lớn nhanh ào ào lên bằng mấy ổng.
Tới chiều có thông báo không có chuyện gì xảy ra. Bà con lục tục trở về, ai về nhà nấy. Về nhà thì ba đã ở nhà, vẫn y xì như lúc đi hổng có gì khác. Ba má nó thầm thì, “hổng có oánh nhau như thông báo”. Nó cũng chẳng hiểu gì, ai oánh với ai chẳng biết.
Ngày tháng tuổi thơ êm đềm, có lẽ vậy mà tụi con nít thấy trôi qua rất chậm, tụi nó đâu muốn vậy, muốn mau tới Tết, mau tới nghỉ hè để được rong chơi cả ngày, được đi đây đi đó.
Rồi một ngày gần tới nghỉ hè, đang trong lớp học, thì nghe một tiếng nổ uỳnh thiệt lớn, cô trò chạy ào ra coi, cách xa có cột khói đen nghịt bốc lên cao. Sau đó có thông báo cho nghỉ về nhà. Trên đường về tụi nó thấy nhiều người hớn hở ra mặt, có người còn hét lớn, “hòa bình rồi”, “thống nhứt rồi bà con ơi”, “hết chiến tranh khói lửa rồi”. Về tới nhà, ba nó cũng có mặt, thường ngày ba nó ở trong trại giờ này, nó hỏi:
“Ba hổng có đi làm hả?”.
Ba nó gật đầu:
“Ừ, từ giờ ba không đi làm lính nữa, ba không vô trong đó nữa, đất nước mình hòa bình rồi con à”.
Đã nghe loáng thoáng, nó hiểu thêm, à chiến tranh là đi lính xung trận bắn giết nhau, chết chóc và đau thương.
Buổi chiều ngày hôm đó và mấy ngày sau nữa, ngoài đường người nườm nượp rầm rập kéo ngang qua nhà đi thẳng tới trại gia binh. Người đi bộ, người đi xe Honda, người kéo xe kéo, xe kút kít* và cả xe lam**, (*Xe đẩy hai bánh thường dùng trong chợ, **Lambro 550 dùng chở khách, chở hàng gần lúc bấy giờ) khi trở ra người đi bộ thì vác, ôm, các loại xe thì chất lỉnh kỉnh đủ thứ, bao bì, bàn ghế, máy móc, tôn lợp nhà rồi những cuộn dây thép gai… Ở nhà thì lạ, ba má nó lấy đồ của mấy chú lính đổ hết xuống cái giếng ở sau nhà, cái giếng sâu chừng ba bốn thước vậy mà gần đầy luôn, rồi mà sao nhà nó không ai vào lấy đồ như người ta, nó hỏi:
“Người ta lấy cái gì vậy ba?”.
Ba nó trả lời:
“À, trong trại có cái kho, người ta phá kho lấy đồ đó, mấy cái bao là gạo, đường, còn mấy đồ kia con nhìn là biết rồi chớ gì?”.
Nó nói dạ biết rồi hỏi tiếp:
“Sao nhà mình hổng ai vô lấy?”.
Ba nó giải thích:
“Những người đó người ta kêu là hôi của, gần giống đi ăn trộm, như vậy là không tốt, nên mình không được làm, đói cho sạch con à”.
Nó hiểu rồi, cô nó cũng dạy như vậy mà.
Nhà trường đóng cửa, phải nghỉ học, nó nhớ lớp nhớ cô giáo và nhớ cả ông thầy giám thị.
Độ chừng hơn tháng sau, sáng sớm một chiếc xe cam nhông* (*xe tải chở hàng hóa) đậu xịch trước cửa, bác tài xế và chú lơ xe* (*phụ xe) nhảy xuống chạy vào nhà hỏi:
“Đâu anh, đồ đạc nào đâu anh?”.
Ba nó chỉ đồ đạc đã đóng gói, vô rương, chất đầy trong nhà:
“Đó, chừng đó đó, có mấy cái rương đựng chén dĩa kiểu, anh để cẩn thận dùm”.
Bác tài xế dạ:
“Chà đồ nhiều quá chớ, chất phải mất hết cả buổi, vậy sáng mai mình lên đường hen”.
Ba nó gật đầu:
“Theo anh tính vậy”.
Ba má với mấy chị phụ chuyển đồ lên xe. Nó chẳng biết ất giáp gì, mon men hỏi chị:
“Nhà mình làm gì vậy chị?”.
Chị trả lời:
“Chuẩn bị về quê”.
Nó hỏi tiếp:
“Quê ở đâu lận?”.
“Ở Quảng Nam”.
“Ủa, sao phải về đó làm chi?”
Chị nó ký đầu nó cái cốc:
“Con nít biết gì hỏi nhiều, đi chơi đi”.
Nó tấm tức chạy một mạch ra đồng. Hỏi mấy chị thì ai cũng nói con nít biết gì mà hỏi, mai mốt lớn sẽ biết. Nhưng nó vẫn thắc mắc sao phải đổ đồ xuống giếng, uổng quá chừng, rồi bây giờ phải bỏ nơi này mà đi, nơi nó sanh ra đẹp đẽ là vậy mà. Nó kêu cơn gió tuổi thơ lại, nó hỏi:
“Cơn gió tuổi thơ ơi, sao lại có chuyện kỳ cục vậy?”.
Cơn gió tuổi thơ lắc đầu:
“Mình cũng như bạn thôi, hổng hiểu chuyện người lớn, chỉ biết chuyện của tụi mình”
Nó buồn hiu, cơn gió cũng buồn theo thổi hiu hiu, ngồi đờ dẫn nhìn vườn ớt trái ra chín đỏ, rụng đầy mà chẳng ai buồn hái, lát sau đành chia tay cơn gió tuổi thơ, một mình lủi thủi trở về.
Sáng sớm hôm sau, ba má kêu dậy sớm, súc miệng rửa mặt xong xuôi thì bác tài xế tới, bác tài liềng thoắn:
“Rồi lên đường thôi”.
Ba đỡ nó và anh nó lên cái cầu thang bên hông đầu xe, phía bên trên có cái cửa nhỏ chui vô trong thùng phía sau, như cái sàn gát trong thùng mà ngồi, má và mấy chị leo theo sau, ba ngồi phía trước với bác tài. Xe lăn bánh, không còn thấy gì nữa nơi này.

***

Chiếc xe chầm chậm và đều đều chạy. Xe khá êm, chỉ lâu lâu mới thấy người nghiêng qua nghiêng lại hay tuột lên tuột xuống, có lẽ là qua những khúc cua hay lên xuống dốc, ngồi bên trong đoán chừng vậy chớ đâu thấy gì. Nó có cảm giác như đang ở bên trong căn gác xếp tối tăm, chỉ có vài tia sáng chiếu qua những khe hở thùng xe. Khi ánh sáng không còn nữa, xung quanh tối thui mịt mờ mới nghĩ là đêm đã buông xuống. Phân biệt được ngày hay đêm khi xe dừng để ăn cơm nước mà thôi. Lúc nó thức lúc nó ngủ trong bức tranh tối tranh mờ mờ như vậy. Thời gian trôi qua thiệt chậm chạp, không biết mấy ngày mấy đêm đã qua, như cả tháng trời.
Rồi cũng tới lúc xe ngừng hẳn. Má nó thò đầu ra cái cửa sổ nói với vô:
“Tới rồi đó các con, mình về tới quê rồi, xuống các con ơi!”.
Ba và chú lơ xe đã xuống trước, dang tay đón đỡ từng đứa một xuống khỏi căn gác bịt bùng. Một làng quê yên bình hiện ra trước mắt, cũng giông giống nơi nó sanh ra, chỉ có nhà cửa là ít hơn, cách xa xa mới có một mái nhà. Đồ đạc được chuyển xuống bên vệ đường. Trong lúc chuyển đồ có vài người từ trong nhà gần bên chạy ra, mấy người vui mừng tranh nhau hỏi tới tấp:
“A, cô dượng Tư mới về hả?”.
Ba má nó vừa cười vừa gật đầu:
“Ừ, vừa về tới”.
“Ủa, cô dượng về răng* (sao) không nói, không tin* (nhắn tin) chi cho ai biết hết rứa* (vậy)?”.
Má nó chưng hửng:
“Cô có đánh điện tín về rồi mà, không ai nhận được hết sao?”.
Mấy người trải lời:
“Dạ, có nhận chi mô* (đâu), có ai biết chi mô”.
Một bà lớn tuổi, mái tóc đã bạc màu chạy tới:
“Con Tư đó hả, hai vợ chồng bây mới về đó hả?”.
Ba má nó lại dạ:
“Dạ thưa cô tụi con vừa về tới, cô khỏe luôn chớ cô?”.
“Cô khỏe”.
Ba má nó nói tiếp:
“Dạ, chính quyền mới trong đó nói chừ giải phóng, hết chiến tranh rồi, ai có quê thì về quê mà mần ăn”.
Người lớn tuổi mà ba má nó xưng là cô hỏi tiếp:
“Chớ bây về tính ở mô, răng chẳng tin cho bà con chi hết vậy?”.
Ba má nó càng chưng hửng, hỏi lại:
“Ủa, vậy là răng, thì đất cát nhà mình xưa thì mình ở chớ có chi lạ rứa cô?”.
Bà cô nói giọng buồn buồn:
“Bây đi lâu quá, bây chẳng biết chi hết, đất cát còn chi nữa”.
Má nó trợn tròn mắt:
“Cô nói vậy là răng?”.
Bà cô ngồi phịch xuống đất, đôi mắt rưng rưng:
“Bây ơi, khổ quá chẳng biết chi, cha mẹ bây mất, rồi anh em bây mỗi đứa mỗi nơi đi lánh nạn, đi làm ăn nơi khác, người ta nói cha mẹ bây là địa chủ ngày trước, từ đó đất cát ruộng vườn một số người chiếm một số chính quyền tịch thu xung công hết rồi”.
Nghe nói xong má nó cũng ngồi phịch xuống ôm mặt rưng rưng, ba, mấy chị thì đứng như trời trồng. Lát sau ba nó lên tiếng giọng nghèn nghẹn:
“Thiệt vậy hả cô, chắc để con chạy lên chính quyền hỏi cho kỹ, chừng đâu họ chỉ giữ dùm rồi giờ trả lại cho mình”.
Bà cô ngồi ôm má nó:
“Ừ, bây lên hỏi thử răng chớ cô thấy không dễ đâu”.
Mặt trời lên chừng nửa buổi sáng mà nó thấy như nắng gay gắt, nắng chiếu thẳng mặt, nắng muốn thiêu đốt mấy má con nó ra thành tro tàn, thiêu đứa con của quê hương lưu lạc trở về, như đứa con mang đầy tội lỗi, mặc cho má nó tấm tức, than trời than đất và hỏi vì sao, không một câu trả lời từ bất cứ ai, ông Trời chắc ở xa thăm thẳm…
Ba nó trở lại, trên nét mặt hằn nét vừa buồn vừa hậm hực. Má nó nhào tới hỏi:
“Sao rồi ông?”.
Ông lắc đầu:
“Không xong rồi, họ nói đã làm sổ sách chia hết từ xưa nên đâu thể có cách nào”.
Má nó hỏi dồn:
“Vậy giờ tính sao, làm cách nào đây, làm cách chi đây?”.
Ba nó nói tiếp:
“Thôi, cứ bình tĩnh đã. Bây chừ xin cô Bảy tạm thời cho mẹ con nó tá túc nghỉ chân đỡ, con chạy về bên nội coi ra răng”.
Bà cô Bảy gật đầu:
“Ờ, bây vô nhà nghỉ để thằng Tư về bên đó coi ra răng rồi tính”.
Ba nó lấy mấy tấm bạt phủ che đồ đạt lại xong rồi nổ máy chiếc Mobylette vọt đi. Má con lững thững đi theo bà cô Bảy.
Xế chiều ba nó quay trở lại cùng với bốn người kéo hai chiếc xe kéo. Má nó bươn bươn chạy ra, nghe ba chậm rãi nói:
“Đất cát của ông nội mấy đứa bên đó cũng bị lấy hết rồi…”.
Má nó đang lo lắng càng thêm xịu xuống chưa kịp nói gì thì ba nó nói tiếp:
“Nhưng còn may, cô Ba kêu cho miếng đất cất cái nhà, còn vài sào ruộng cô giữ lại của ông nội lấy lại làm đỡ rồi tính tiếp, bây chừ cô Bảy cho mẹ con nó ở tạm vài bữa, con về cất xong nhà rồi qua đón về cô Bảy nghe”.
Bà cô Bảy ừ:
“Thằng Tư tính vậy cũng được”.
Má nó suy nghĩ một hồi rồi đáp:
“Thôi, vậy mẹ con tui về bển luôn đi, tui coi có phụ được gì thì phụ, về lấy mấy tấm bạt che trại ở tạm cũng không sao”.
Ba nó gật đầu:
“Vậy cũng được, thôi ra chất đồ lên cộ* (xe kéo) để họ kéo về”.
Chất đồ xong ba nó thưa cô Bảy về, lấy xe chở hai anh em đi trước, rồi quay lại đón dần dần mấy chị và má nó. Bốn người kéo cộ chở đồ cọc cạch đến khi trăng lên cao mới tới nơi. Bên này cách nhỗ bà cô Bảy gần hai chục cây số.

***

Miếng đất bà cô Ba là em ông nội cho nằm gần bờ sông, cách chừng một trăm thước. Cạnh dòng sông có bãi cát dài, dòng sông rộng và rất thơ mộng, nhìn qua bờ bên kia có những lũy tre xanh ngắt xen lẫn những đám lau sậy, nước trôi êm đềm như dải lụa. Được ví von như lụa bởi có những đoạn trên bãi bồi trồng rất nhiều cây dâu cho lá tằm ăn và nhả tơ, những sợi tơ óng ả dệt thành dải lụa không khác gì dòng chảy dòng sông gợn sóng lăn tăn trong những buổi chiều dưới ánh nắng vàng. Đó là dòng sông Thu Bồn nổi tiếng khắp nơi.
Buổi sáng sau giấc ngủ dài bù cho mấy ngày mệt mỏi, nó thức dậy thì đã thấy đông đúc gần cả chục người lớn đục đục đẽo đẽo những cây gỗ, lâu lâu có vài người kéo cộ trên chất đầy cây gỗ đem lại. Vừa làm mấy bác mấy chú chuyện trò rôm rả lắm mà nó không hiểu được bởi không nghe được tiếng nói, tiếng rất lạ, như tới nửa buổi sáng hay chiều, má nó đem đồ ăn dặm thì hay nghe nói en en đi, rồi cùng ngồi vào ăn, có chú chỉ chú khác, thèng ni cà chớn cà chố, nó cũng chẳng hiểu gì luôn, dần dà sau này nó mới quen dần, à thì ra là phát âm có khác, âm a thành âm e, oa thành ô…
Phía trước miếng đất khoảng hai trăm tước là con đường đi ngang, đường vắng lặng, ít người qua lại, lâu thiệt là lâu mới có tiếng xe chạy tới. Băng qua con đường là cánh đồng trồng lúa, nhưng ruộng lúa từng miếng nhỏ nằm cao thấp khác nhau chớ không lớn và bằng phẳng trải rộng như ở Hóc Môn. Nhà cửa cũng xa xa cách chừng năm chục tới một trăm thước mới có một ngôi nhà, vườn xung quanh nhà cũng có vườn cây mít xoài… nhưng không nhiều lắm, đất còn để trồng bắp trồng khoai… Nhìn xa xa qua cánh đồng lúa là những gò cao, rất nhiều ngôi mộ màu xám xám đen đen ở trên đất gò này.
Anh em nó ngày ngày chạy nhảy tung tăng trên cánh đồng hòa cùng với màu xanh của đồng lúa có khi còn bắt được con ốc con cua. Buổi chiều chờ trời mát là chạy ra lăn đùng đùng trên bãi cát rồi ùm ùm xuống sông mà tắm táp, chiều chiều xuống là nhiều người ra sông tắm giặt và chơi đùa.
Khoảng chừng mười ngày sau là ngôi nhà gỗ lợp tôn được cất xong. Ngôi nhà xoay hướng ra bờ sông hứng gió. Má nó cùng mấy chị sắp xếp đồ đạc giường chõng gọn gàng trong nhà. Cái đi văng lớn ngồi được cả chục người thì để phía trước nhà dưới gốc cây nho nhỏ, chiều tối ba nó và mấy chú bà con, chòm xóm hay ngồi uống trà nói chuyện, có khi nhâm nhi ly rượu gạo.
Mấy miếng ruộng bà cô Ba đưa lại, ngày ngày ba má và mấy chị ra cuốc lật rồi cho nước xâm xấp vào để đó, nó thấy vậy hỏi ba nó:
“Sao cuốc lên rồi để vậy làm gì vậy ba?”.
Ba nó cười:
“À, để chừng hơn tháng cho nó mềm mình bang ra cấy lúa, lúa là những cây ba gieo trên luống nhỏ đó”.
“Còn kêu là gieo mạ phải hông ba”.
Ba nó ừ
“Đúng rồi”.
Ông nội nó về. Cả nhà vui lắm. Ông nội rảnh rỗi hay đi chặc tre về chẻ nan đang những cái rổ để xài. Một bữa ba hỏi ông nội:
“Cha à, con thấy gần mé sông phía dưới còn đám đất cỏ lau sậy um tùm cũng khá rộng mà bỏ hoang, chưa ai làm gì, mình xuống đó phát hoang để trồng bắp trồng khoai được hông cha?”.
Ông nội nghĩ một lát sau nói lại:
“Cha nghĩ chắc được chớ, đất hoang mình khai phá thôi”.
Ba nó gục gật:
“Dưới đó sát mé sông dễ tưới, trồng mùa nào cũng được, vậy vài bữa con xuống đó phát cỏ”.
Ông nội ở nữa tháng sau ông kêu lên nhà cô Út đâu trên núi ở nhà chơi với đứa con nhỏ của cô vừa coi nhà dùm để cô đi làm.
Mấy bữa sau ba nó cầm rựa dài mà đi phát lau sậy, có ngày tụi nó lon ton chạy theo chơi, cũng không có xa mấy, chừng nữa cây số. Được mấy ngày thì một buổi tối ăn cơm xong má nó chìa tờ giấy:
“Ông à, sáng mai ở nhà họ kêu lên xã, có giấy mời gởi nè”.
Ba nó hỏi:
“Có biết kêu lên làm gì hông?”.
Má lắc đầu:
“Hổng biết nữa, họ chẳn nói gì, đưa giấy rồi đi”.
Ba thắc mắc:
“Kêu lên làm gì ta, hổng lẽ cái vụ phát hoang dưới mé sông?”.
Sáng mai ba nó lên xã. Tới trưa về mặt mày hầm hầm bực bội. Má thấy lạ:
“Có chuyện gì vậy ông, hổng lẽ họ phạt…”.
Ba giọng gắt gỏng:
“Chẳng phải chuyện đó, chuyện phát hoang họ nói cứ làm, nhưng ngày từ mai phải lên xã ít nhứt là hai tuần để học tập cải tạo, cải tiết gì đó chẳng biết nữa”.
Má nhíu mày khó hiểu:
“Học tập cái gì vậy trời, đã về mần ruộng mà còn học tập cái gì hổng biết nữa”.
Ba nó tiếp:
“Thì tui cũng nói vậy nhưng họ có nghe gì, thằng lính quèn lính quyết gì, ngồi bàn giấy bàn má gì cũng phải học tập hết ráo, họ nói chính sách là vậy, đành chịu chớ sao, chỉ hai tuần thôi, cãi họ gông cổ luôn thì khổ”.
Sáng chiều hai buổi lên xã học tập cải tạo, có bữa tối trên cái đi văng trước nhà, ba nó với vài chú uống rượu nói chuyện nho nhỏ:
Một chú hỏi:
“Anh lên trên xã học cái chi vậy?”.
Ba nó uống ực ly rượu, nhìn đăm chiêu xa xa một hồi rồi trả lời:
“Học tập tương tử để thành con người mới của xã hội mới, bởi tui là người ngụy quân ngụy quyền, biết vậy thôi chớ học cái gì tui có nghe lọt lỗ tai, nhớ được gì”.
Một chú hỏi tiếp:
“Chi lạ rứa?”.
Một chú xen vô:
“Nghe nói mấy đứa dạy còn choi choi phải hông?”.
Ba gật gù:
“Mấy đứa ở làng mình đây chớ đâu, ngày xưa lúc tụi mình lớn tụi nó còn con nít, chẳng học hành chi đó, bây giờ cầm giấy tờ đọc chữ được chữ mất ai hiểu cho thấu, với lại ngồi học mà lo đất cát ruộng vườn chưa làm được gì thì sao mà tập trung cho được”.
Mấy chú gật đầu, ừ à, một chú cười nho nhỏ:
“Mấy thằng này đọc còn đánh vần mà, nó theo vô rừng đánh nhau thời gian đâu đi học”.
Ba nó rót rượu mời mấy chú cụng ly:
“Thôi kệ, ngồi cho qua ngày lấy cái chứng nhận xong về làm ăn, mà bỏ mấy chuyện này đi nói chuyện khác cho vui”.
Ba nó về cầm theo tờ giấy chứng nhận hoàn tất lớp học cải tạo. Má vui mừng lắm:
“Vậy là xong hả ông?”.
Tiếng thở dài phát ra:
“Chưa đâu, mỗi tuần phải lên trình diện ít nhứt một ngày nữa”.
Má nó cũng thở hắc, không nói gì nữa.
Hết học tập, tiếp tục phát lau sậy mé bờ sông, cả tuần được khoảng đất rộng, ba nó nhẩm nhẩm chắc cỡ bốn sào* (*một sào ở xứ Quảng tính bằng 500m vuông). Lau sậy khô châm lửa đốt cho cháy hết. Bữa đốt vào ban đêm lửa thì khỏi nói, sáng cả một vùng trời, khói đen bay mịt mù. Sáng ra đất biến thành màu đen cùng một lớp tro trên mặt đất. Sau đó ba nó cuốc lỗ cách nhau chừng ba bốn tất, má và các chị bỏ phân và bỏ ba bốn hột giống bắp xuống lỗ rồi lắp lại, gánh nước từ dưới sông lên tưới vào. Mấy ngày sau hột giống nảy mầm lên cây bắp non màu xanh lợt. Lúc này luống mạ cũng lên cao, bắt đầu bang đất cuốc lật hổm trước, anh em tụi nó lội xuống chơi thấy đất sình sình mền nhão, má nó cùng các chị tiếp tục nhổ mạ đập đập vào cẳng chân cho bung hết đất bám vào rễ, bó thành từng bó bằng cỡ ống tre to, cắt đầu lúa đem thảy xuống ruộng lội xuống mà cấy. Tuần sau thì lúa nảy ngọn trở lại, lên xanh mơn mởm, những ngọn gió thổi lúa bay nhấp nhô như những ngọn sóng con sông Thu Bồn phía sau nhà nhìn mát mắt.
Vậy là hơn hai tháng trôi qua kể từ ngày cất xong ngôi nhà.
Ba nó đi thăm vườn bắp về cười cười nói với má nó:
“Bắp lúa đều lên xanh tốt, lạy trời cứ như vậy”.
Má nó gật đầu xong lại thở ra, nói nho nhỏ:
“Nhưng mà cũng gay đó ông ơi! Tiền dự trữ sắp hết rồi, chắc phải bán bớt đồ đạc”.
Ba nó cũng thở ra:
“Chắc phải vậy, bà tính sao thì tính, ráng tới mùa thu hoạch là khỏe”.
Má và chị Hai khiêng cái rương nói đi Đà Nẵng. Khi về thì không còn cái rương mà thay bằng hai bao gạo lớn, một giỏ đầy đồ ăn, bánh kẹo cho anh em nó rất khoái, nhưng thấy má buồn buồn chớ không vui, nó hỏi:
“Sao thấy má buồn buồn, má giận gì tụi mình…?”.
Anh nó gạt ngang:
“Hổng có đâu, má đâu có giận gì ai, má buồn là tại phải bán đồ quý giá cất bao lâu nay đó mậy”.
Nó hiểu ra là vậy, chút chút buồn buồn theo.
Mấy tháng lặng lẽ trôi qua. Có lúc nó hỏi:
“Ủa, sao mình hổng được đi học vậy?”.
Anh nó ký đầu cái cốc:
“Mày ngu quá, đang nghỉ hè mà, hết hè thì đi học lại”.
Tới gần cuối tháng chín vẫn không thấy được đi học, nó lại hỏi, được anh trả lời:
“Năm nay người ta nói sẽ nhập học trễ, chừng nào có trường lớp, thầy cô thì thông báo nhập học”.
Rồi cả tuần mưa ập đến, mưa có lúc lớn lúc nhỏ nhưng dầm dề mưa suốt không dứt, bầu trời lúc nào cũng xám xịt mây, ba nó thở than:
“Mưa gì mưa dữ thúi đất luôn, chẳng làm ăn được gì”.
Bà cô Tư mặc áo tơi* (*áo mưa chằm bằng lá buông) chạy qua nói giọng hớt hải:
“Ủa, thằng Hai mi* (mày) bỏ bắp bỏ lúa răng, muốn chết đói cả lũ hỉ*?.(*hả)
Ba nó ngạc nhiên:
“Cô Tư nói vậy là răng con chẳng hiểu?”.
Bà Cô Tư giải thích:
“Trời! bây quên hết trơn rồi, thời tiết này là sắp có bão và lụt lớn tới, sao không ra bẻ bắp gặt lúa về, để đó cho nó trôi hết làm răng”.
Ba nó hỏi lại:
“Nhưng mọi năm con thấy tháng mười mới có lụt mà cô”.
Bà cô Tư dậm chưn* (*chân):
“Theo trời thôi mi ơi, mưa ri* (này) là năm ni* (nay) lụt tới sớm, lo mà thu hoạch đi”.
Ba nó hỏi nữa:
“Dạ, bắp thì được rồi nhưng lúa chưa chín hết rồi răng cô?”.
Bà cô Tư phẩy tay:
“Được bao nhiêu hay bấy nhiêu, lúa bây gần chín vậy là được rồi tuy chưa chắc hột lắm còn hơn để nước cuốn trôi hết, bao nhiêu công sức bỏ ra đó, gặt về nhớ trải ra cho ráo đừng để cho lên mộng”.
Ba nó dạ, rồi cùng má và mấy chị mặc áo tơi đi trong mưa bẻ bắp về trước. Bẻ cả ngày cũng xong, bắp đem về treo đầy trên mấy mấy cây tre nhỏ gát ngang mái nhà thành cái giàn. Ngày hôm sao bắt đầu có gió, nhưng cứ mặc, tiếp tục gặt và đập lúa trong mưa lâm thâm. Hôm sau nữa mưa và gió lớn hơn, vừa gặt lúa vừa thu người, co ro hết cỡ để tránh gió, gặt được mớ lúa phải ngưng, để xuống vuốt nước mưa tràn trên mặt, anh em nó cũng chạy ra phụ ôm lúa về, cái bồ đập lúa được chuyển vào nhà để đập, đỡ ướt lúa nhiều lần. Buổi tối lúa chưa đập xong thì lấy chưn cùng xúm lại đạp, nghiến cho rơi hột lúa ra khỏi cành.
Ba ngày gặt lúa đã xong, ngoài trời gió và mưa ngày càng lớn, mưa quất trên mái tôn lộp độp như có ai quăng đá cục lên, gió thì thổi rùng rùng, có những chỗ tôn bung lên kêu bần bật không ngớt. Trong lúc má và mấy chị cho lúa đã ráo vào bao chất lên gát bằng mấy tấm ván và ngồi cào tới cào lui cho lúa ướt khô thì ba nó chạy ra ngoài bãi xúc cát cho vào bao chất đầy lên mái tôn và lấy cây chống xung quanh nhà.
Một ngày vất vả nữa trôi qua. Vừa cơm nước xong nằm ngả lưng cho bớt mệt mỏi thì nghe tiếng kêu lớn của bà cô Tư:
“Thằng Hai có nhà hông hay đi mô rồi?”.
Ba nó bật dậy:
“Dạ, con có ở nhà cô Tư”.
“Có ở nhà răng chừ chưa đưa vợ con vô Gò, muốn chết trôi cả lũ hỉ?”.
“Dạ, con thấy nước chưa lớn con định sáng mai đi”.
Bà cô Tư thở hổn hển, la lớn:
“Đi ngay bây chừ, ở ngoài đường nước lên rồi, nửa đêm ni là nước lên nước tràn xuống đầy, chờ tới sáng có chìm lỉm trong nước, đi mau chớ có nói năng chi nữa”.
Ba nó dạ, chạy ra đường, nước đã tới ống quyển, quay trở vô trong nhà, nói trong lo lắng:
“Chà ngoài bãi chưa thấy nước dâng nhiều sao phía ngoài này lại đầy nước, hổng hiểu được, thôi lấy gạo, đồ ăn và củi cùng mùng mền lên xuồng đi vô Gò nhanh thôi”.
Giữa đêm tối mưa gió ba nó đẩy chiếc xuồng chở đồ và hai anh em nhắm hướng Gò mà đi trong ánh đèn bão má nó cầm lội nước bì bõm cùng mấy chị. Không ai nói tiếng nào, chỉ nghe tiếng mưa và tiếng gió rít hãi hùng trong mịt mùng thăm thẳm.
Đến được Gò, Gò là đồi đất cao trên đó có dãy nhà xây kiên cố. Trong dãy nhà người lớn nhỏ nằm ngồi la liệt, dáng ai nấy bơ phờ mệt mỏi. Cũng không ai nói gì nhiều, chỉ hỏi thăm những người mới tới. Vài người lớn đi lại ngoài hành lang nói vài câu bâng quơ như sao mà mưa bão hoài, chừng nào dứt đây không biết… Bên trong nhà lâu lâu có tiếng con nít khóc thét lên rồi tiếng dỗ dành, hát ru của người mẹ dưới ánh sáng những ngọn đèn dầu leo lét, lúc trồi lúc sụt muốn phụt tắt ngúm liền bởi gió thổi phần phật liên hồi. Mí mắt nó cứ kéo cụp xuống, muốn mở ra cho bớt sợ nhưng không được, nhưng muốn ngủ cũng không xong, bên tai tiếng mưa rào rào, tiếng gió lúc hú ù ù, lúc rít kèn lẹt cứ dội vào, nó thấy như đang đứng trong vòng vây của bầy quỹ dữ, màn đêm lại chắn ngang mắt không biết đường đâu chạy trốn hay tìm cách chống đỡ. Nỗi sợ lại chồng chất nỗi sợ khi nó nghe một người lớn nói:
“Bão lớn sắp đến rồi”.
Có người hỏi:
“Bão lớn lắm hả chú”.
“Tui đoán khá lớn”.
“Lâu hông vậy chú?”.
“Chắc cỡ hơn hai tiếng”.
“Chà, cũng lâu quá, chẳng biết nhà cửa ra răng”.
Nhiều tiếng thở dài.
Nó kêu gọi cơn gió tuổi thơ, dù biết khó hỏi được gì lúc này nhưng chí ít cũng có chút chia sẽ bớt đi sợ hãi. Gọi mấy lần chẳng thấy bóng dáng cơn gió đâu hết, nó thầm nghĩ chắc cơn gió tuổi thơ đã bị chặn mất lối đi rồi.
Chợt căn nhà trở nên im ắng, nó càng thấy lạ, vừa mới nghe bão sắp tới mà, nhưng vừa mở mắt chưa kịp định thần thì tiếng gió ầm ầm dữ dội ập vô rồi tiếp nối tiếp nối không ngớt. Mọi người bắt đầu lục tục ngồi dậy, co ro xúm xít sát vô trong góc, trong bờ tường và sát bên nhau. Tiếng khóc trẻ con ré lên chỉ nghe e é, không còn lớn giữa cơn gió hung hãn quất đùng đùng trên mái nhà, cánh cửa sổ bung đập cái rầm làm ai nấy điếng hồn trước khi có người chạy lại đóng chặt vào. Bây giờ thì nó có cảm giác như đang đứng giữa những bầy quỹ đang quần đang lồng lộn uýnh nhau tơi tả, cuộc chiến bất phân thắng bại cứ kéo dài, kéo dài không thấy hồi kết…
Cuối cùng đúng như đoán của người có giọng lớn tuổi, khoảng hơn hai tiếng đồng hồ sau thì mưa và gió nhỏ dần rồi ngưng hẳn. Bầu trời bớt tối mịt mùng, có ửng sáng nhưng yên ắng đến lạ thường, không nghe dù là tiếng động nhỏ, có lẽ tiếng ầm ầm dữ dội đã lấn át làm lỗ tai đã đặc khàn. Tiếng người lớn tuổi phát ra:
“Bão đã đi qua rồi”.
Có người tiếp theo:
“Ơn trời đất”.
Nó nghe giọng ba nó hỏi:
“Nhưng còn lụt, theo anh thì chừng nào rút hết?”.
“Tối mai mới rút hết”.
Mệt mỏi lắm rồi, không thể chống lại nữa, nó vùi vào giấc ngủ.
Giựt mình tỉnh dậy thì đã gần trưa, trời có nắng hanh, không còn mưa gió, nó uể oải bước ra ngoài. Đập vô mắt là cảnh vật xung quanh xác xơ, vài cây lớn bị trốc gốc nằm chỏng chơ, nghiêng ngã, cỏ nằm rạp xuống đất với xác lá phủ đầy, xa xa phía dưới Gò nước ngập màu đục ngầu, chỉ thấy nước toàn nước, nước đang chảy kéo từng đám cỏ bụi cây trôi theo lừ đừ, trên bầu trời đã có vài con chim bay qua lại, có một đàn sáu con giống như trong câu đố – đi trước là trước hai con, đi sau là sau hai con, đi giữa là giữa hai con, hỏi bầy chim có mấy con, nó nghĩ tới câu đố mẹo nên người thấy vui vui hơn chút đỉnh và chạy ra trước sân hòa vô đám con nít đang chạy nhảy chơi đùa có anh nó nữa. Ở hành lang những người đàn ông ngồi từng cụm bàn tán chuyện trò, mấy bà mấy cô thì nấu cơm, luột khoai lang khoai mì, rang bắp, giã muối đậu muối mè…
Đến chiều thì nước rút mạnh, những bụi cỏ, xác cây lá dính chùm thành từng đống theo nước cuốn chảy ào ào. Có vài người chèo xuồng tới lui, xuồng dập dền lên xuống rất nguy hiểm, nó hỏi ba nó:
“Người ta làm gì ngoài đó vậy ba?”.
Ba nó đáp:
“À, có người chắc về nhà lấy đồ đạc, còn có người thì giăng bắt cá, nước lũ tràn về mang theo nhiều cá lắm”.
Nó hỏi tiếp:
“Dạ, chừng nào mình về nhà vậy ba?”.
“Sáng mai con à”.
“Vậy là ngủ ở đây một đêm nữa?”.
“Ừ, ngủ thêm một đêm nữa”.
Đêm đó nó ngủ một mạch cho tới lúc sáng bạch không biết trời trăng mây gió gì, vừa thức giấc đã thấy đồ đạc được gói ghém xong xuôi và kêu đi về luôn. Ở nhà quanh cảnh còn tệ hơn ở trên Gò, xác củi khô, xác đủ thứ loại, giấy báo, bao bịch, lá cây và cả những con cá, con chuột chết nằm la liệt cho tới tận ngoài bãi sông. Căn nhà nó thì còn nguyên vẹn mà trên đường về thấy rất nhiều nhà tốc mái bay tứ tung. Ba nó biểu:
“Bà với mấy đứa coi lúa má ra sao, đem ra phơi nắng đi, tui đi gom củi trôi về đây, để người ta gom hết, với lại dọn mớ rác, xác chết”.
Má nó ừ. Hai anh em chạy theo ba nó ra gom củi khô ngoài bãi. Ra ngoài thì đã có vài người đang gom, củi khô củi mục rất nhiều, chất thành mấy đống rồi đem từ từ vô nhà, ba nó hỏi tiếp:
“Lúa má ra sao?”.
Má nó đang lấy cào cào cho lớp lúa ở dưới lên trên, quay qua trả lời:
“Cũng chưa đến nỗi nào, chỉ vài bao ướt nhứt nức mộng sơ sơ, nhưng còn ăn được, lúa hườm hườm* (gần chín) thì chín rồi”.
“Hột lép nhiều hông bà?”.
“Cũng hông bao nhiêu”.
“Vậy là đỡ rồi”.
Hết buổi sáng với vụ củi, buổi chiều vác chài lưới ra sông, ba nó vừa đi vừa nói trong khi hai anh em lẽo đẽo theo sau cầm cái thùng gánh nước:
“Sau lũ lụt cá tôm nhiều lắm, ba kiếm mớ tôm kêu má bây nấu mì Quảng bù những ngày cực quá”.
Nó mừng rơn, chưa được ăn mì Quảng nấu tôm lần nào chỉ nghe là ngon. Ngoài sông cũng rất nhiều người chài lưới, người chài gần bờ, người chèo ghe xuồng ra giữ dòng. Và đúng lắm, cá tôm nhiều quá chừng, không lâu sau ba nó kéo được hai thùng gánh nước gần đầy và gần rổ rá tôm. Nó thấy cá rô thì nó biết nhưng nhiều con khác thì không, chỉ con cá hỏi anh nó:
“Con này là con cá gì?”.
Bị anh ký đầu cái cốc:
“Dễ ẹt mà hổng biết, cá gáy còn kêu cá chép đó”.
“Con này?”.
” Cá hanh”.
“Còn mấy con kia?”.
“À, đây là cá diếc, con này cá mòi, còn đây con cá bống…”.
Nó đọc một lèo:
“Bống bống bang bang lên ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta chớ ăn cơm hẩm cháo hoa nhà người”.
Nó vừa đọc xong thì có người reo lên:
“Ý chà, cá bự quá!”.
Anh em nó quay qua nhìn thì giữa dòng, một chú đang ngoắc mấy chú khác lại kéo lưới phụ, con cá lớn vùng vẫy dãy đành đạch liên hồi, cả buổi sau ba người mới kéo lên được chiếc nghe, chèo vô trong bờ, mọi người xúm xít lại coi, con cá bự thiệt, dài cả thước, bề ngang bự còn hơn cái mình của nó, có người nói mấy chục ký luôn. Ai nấy hớn hở vui mừng. Ba nó nói:
“Vậy là mùa cá lũ lụt năm nay trúng rồi”.
Nhiều người đồng tình:
“Ờ, bù bớt mất mát cũng đỡ khổ”.

***

Chiều hôm sau, cả nhà cùng xúm xít phụ với má nấu mì Quảng. Nấu mì Quảng thì từ xay bột bằng cối đá cho tới tráng bánh đều tự tay ở nhà làm, má nó tráng bánh như tráng bánh tráng, nhưng tráng hai lớp nên nó dầy rồi lấy cây tim làm bằng cật tre* (phần vỏ ngoài của cây tre, cứng và dẻo) vót mỏng như cái nan sọt vô lấy bánh ra. Bột xay bằng gạo Nàng Hương nên có màu đo đỏ, chị nó thoa một lớp dầu phụng* (phộng, dầu làm từ hạt đậu phộng) cho khỏi dính rồi xếp cỡ bánh gần gang tay, lấy con dao dài chắn lụp cụp thành những sợi nhỏ. Nước nhưn má nó nấu bay thơm lừng, đặc ngào thịt tôm cá, ba nó thì xắt lõi cây chuối hột trộn với bắp chuối bàu sợi và rau húng lá tròn tròn nho nhỏ, lá tía tô, giá… làm rau sống mà anh em cùng lặt phụ.
Xong xuôi cả nhà cùng ngồi trên cái đi văng cùng ăn và chuyện trò, mì rất ngon, nó càng thấy ngon hơn được ngồi ăn trong cái không khí dịu mát, trước nhà dòng sông êm đềm trôi không dấu hiệu gì cơn lũ lụt vừa đi qua và không ai muốn nhắc lại. Ăn gần xong thì có một người ôm cái cặp táp đi vô nhà, hỏi:
“Chà, cả nhà đang ăn cơm hỉ?”.
Ba má nó dạ, rồi chào lại:
“Chú mới tới, chú ngồi ăn cơm luôn với tụi cháu?”.
Đây là ông chú bà con xa, là chú của ba nó nhưng ổng còn rất trẻ, độ chừng hai mươi mấy thôi. Ba nó thứ hai má nó thứ tư, ở bên nội thì kêu theo ba, bên ngoại kêu theo má. Ba nó là trưởng Tộc nên dù vai vế nhỏ nhưng với nhiều người vai vế lớn hơn lại lớn tuổi hơn rất nhiều. Ông chú phẩy tay:
“Tui mới ăn rồi”.
Ba nó bỏ lở nữa chừng bữa ăn, đi vô nhà rót trà mời chú:
“Chú qua chơi”.
Ông chú gật đầu ra vẻ trịnh trọng:
“À, ghé thăm, sẵn tiện hỏi việc ni”.
“Dạ, việc chi rứa chú?”.
Ông chú mở cái cặp táp lôi ra mớ giấy báo nhào nát, có tờ rách te tua, gương mặt sắt lại, ổng hỏi:
“Cái ni chắc của anh Hai, anh mới ở Sài Gòn về mới có thứ ni chớ ở đây làm chi ai có hỉ?”.
Ba nó cầm mớ giấy báo lật qua lật lại:
“Dạ đúng rồi, đợt lũ lụt vừa rồi chắc nó trôi bay tứ tán”.
Ông chú vẫn với gương mặt đó, lấy lại xấp báo:
“Nhiều người lượm lặt giao cho tui họ nói anh Hai còn tư tưởng chế độ Ngụy nên mới xài mấy thứ này”.
Ba nó ngạc nhiên:
“Nhưng cháu dùng làm mồi lửa đốt củi nấu cơm nước mà chú”.
Ông chú vẻ mặt không thay đổi, còn đanh lại lạnh hơn:
“Người ta đâu có biết anh Hai làm cái gì, họ thấy thì họ nói tàng trữ văn hóa phẩm phản động, đồi trụy thôi, với lại cũng không được xử dụng bất cứ đồ gì của chế độ Ngụy hết, như vậy là phạm pháp”.
Ba nó lo lắng:
“Chà, cháu hông biết, nay chú nói cháu nghe, thôi để cháu đốt hết” – Ba nó với tay qua ông chú: “Cho cháu xin cháu đốt luôn”.
Ông chú cất xấp báo vô trong cặp:
“Răng mà được, người ta nói đây là bằng chứng phải giữ, mai là chủ nhật nghỉ, sáng thứ hai mời anh Hai lên xã làm việc”.
Ba nó càng lo lắng:
“Vậy là răng chú, chú nói đỡ cho…”
Ông chú cắt ngang:
“Đâu có được, nguyên tắc là nguyên tắc, tui làm sai ai chịu cho tui, cứ vậy sáng thứ hai lên, thôi tui về”.
Ông chú đứng dậy cái rẹt bước ra. Ba nó bước theo thẩn thờ như người mất hồn rồi ngồi phịch xuống đi văng. Má nó thấy lạ, hỏi:
“Có chuyện gì vậy ông?”.
Ba nó thở hắt ra. Má nó nói tiếp:
“Thôi ăn tiếp đi, để tui làm tô khác, tô nãy nguội ngắt rồi”.
Ba nó bóp trán, lắc đầu:
“Trời đánh còn tránh bữa ăn, ăn chi nổi nữa mà ăn. Muốn về quê với Tổ Tiên, với bà với con, muốn có cuộc sống yên ổn mà chẳng dễ, sao khó quá ngay trên mảnh đất quê mình”.
Ba nó kể lại chuyện ông chú đem đến vừa rồi. Má nó trấn an:
“Chắc hông sao đâu, ông lên họ nói ba điều bốn chuyện rồi cho về thôi mà”.
Ba nó lắc đầu:
“Biết đâu được, hổng chừng học bắt bỏ tù luôn thì làm sao? mấy bữa đi học tập họ ăn nói hùng hồn lắm”.
Má nó tiếp:
“Trên xã cũng bà con hông mà”.
“Còn gì bà với con, hồi nãy tui nói chưa ráo nước miếng là bị xắn ngang, còn tệ hơn người ngoài, thô dẹp mâm đi, tui suy nghĩ cái đã” – Ba nói với vô trong: “lấy cho ba bình trà ra đây”.
Ba nó nhấm từng ngụm trà ngồi đăm chiêu suy nghĩ lung lắm. Ánh trăng vàng vọt chiếu lên mái tóc ông trong đêm tối mà ngỡ như bạc cả mái đầu. Má và mấy chị ngồi im thin thít kề bên. Hồi lâu sau ba nó quay qua:
“Bà còn nhiều ít tiền”.
“Chẳng bao nhiêu hết, tiền chợ búa chừng một hai tháng, mà ông hỏi lằm chi?”.
Ba nó nhắm thêm ngụm trà:
“Chắc phả bán thêm đồ đạc, mai tui đi Đà Nẵng mà tui đâu biết bán đồ, hay bà đưa tui mấy chỉ vàng”.
“Để làm gì?”.
“Đi thôi, trở lại Sài Gòn thôi, bán mấy chỉ vàng làm lộ phí, chịu hết nổi rồi, nhứt định…”.
Má nó ngắt lời:
“Ông nói thiệt chớ?”.
“Thiệt, nhứt định phải đi”.
Má nó chần chừ:
“Ông nói chắc hả, mới về chưa bao lâu…”
Mấy chị chen vô:
“Thôi má ơi, tụi con thấy ba nói đúng đó, người ta đâu có muốn mình ở”.
“Nhưng…” – Má nó định nói nữa, ba nó cản lại:
“Không nhưng nhị gì nữa, phải đi thôi, sáng mai tui đi Đà Nẵng kiếm xe, ở nhà bà và mấy đứa đóng gói đồ đạc, tối tui đưa xe về âm thầm mà đi trong đêm, cả nhà không được nói gì hết nghe hông, mấy đứa hông được để bất cứ ai biết, họ biết quy tội cho ba bắt là cái chắc”.
Sáng ba nó dậy đi rất sớm, khi trời còn tờ mờ chưa sáng hẳn. Nó cũng không ngủ được, chạy một mạch ra bãi cát ngồi trước bờ sông, nó kêu cơn gió mang hốn tuổi thơ tới, nó nói:
“Tao lại phải sắp đi nữa rồi”.
Cơn gió nói buồn buồn:
“Đi thiệt hả? đi đâu?”.
“À, trở lại nơi tao sanh ra”.
“Ở đó có giống đây hông?”.
“Cũng quê quê như vầy, nhưng gần nhà không có sông”.
Nó hỏi lại cơn gió:
“Sao người ta lại làm khó nhau, tao nghe ba tao nói vậy?”.
Cơn gió rít rít như thể đang nhíu mày:
“Chẳng biết nữa, chắc tại người ta lớn rồi, lớn rồi tánh tình khác chớ hông như trẻ thơ tụi mình”.
Nó à:
“Chắc vậy” – Nó chợt nhớ tới ông trắng bóc ngồi trên xe ríp nói không muốn lớn lên, nó hiểu hiểu ra phần nào, làm nó lừng khừng nửa muốn lớn nửa muốn không, nó hỏi cơn tiếp:
“Mày có muốn lớn lên hông?”.
Cơn gió đáp ngay:
“Hông, mình chẳng muốn lớn lên, mình thích vui chơi như thế này”.
Nó gục gật với cơn gió mang hồn tuổi thơ:
“Chắc vậy là hay nhứt”.
Lăn dài ra bãi cát chơi đùa với cơn gió tuổi thơ, nó sẽ xa nơi này mà không biết bao giờ gặp lại chỉ sau đêm nay thôi…

Lê Đắc Hoàng Hựu

TÍNH CHUYỆN PHẢI QUẤY

thuyvi

11910623_891595764229131_429398460_n (1)
” Em yêu ơi… Bọn cộng sản ác ôn chúng nó bỏ tù, chúng nó giết ông Thủ Tướng Phan Huy Quát của chúng ta ở Nhà Tù Chí Hoà, chúng nó bỏ tù, chúng nó giết ông Phó Thủ Tướng Trần Văn Tuyên của chúng ta ở một trại tù khổ sai miền Bắc. Không phải chúng chỉ bỏ tù, chúng chỉ giết có hai ông ấy, chúng bỏ tù 5,546,834 nhân vật quốc gia của chúng ta, chúng giết 3,765, 832 người trong số đó. Anh không thù, anh không hận chúng nó sao được!
Dzậy mà em thấy đấy, ở Mỹ này có những thằng dám mở mồm bảo, khuyên anh “Quên hận thù bọn cộng sản đi. Ðừng kể chuyện Tù Ðầy nữa!” Những thằng khốn nạn ấy không bằng loài chó!
Anh sẽ còn tính chuyện phải quấy với những thằng khốn kiếp đó dài dài …”

Những dòng chữ của Công tử Hà Đông gửi cho vợ nghe thật cảm khái. Tôi cho đây là một sự tử tế, là sự dõng dạc nói lên trách nhiệm của mình.
Những năm gần đây, trong Cộng đồng, xuất hiện nhiều tên bất lương vô liêm sĩ, những tên thân mật với bọn nhúng máu đồng bào vô tội hiu hiu tự đắc.
Một trong những loại bất lương mà ông Huy Phương đề cập trong bài “Mậu Thân và nỗi đau của Huế”:”Nỗi đau của Huế còn rơi rớt ngày hôm nay, tại hải ngoại, do những hành động vô ý thức của một vài cá nhân người Huế, đã vì sợ hãi hay tâng công, háo danh hay muốn nhờ vả chút quyền lợi trong nước, đã tiếp đón đãi đằng những tên mang món nợ máu với Huế ra hải ngoại. Những tên mang danh trí thức, nhà văn này có ảo tưởng như thế là tiến bộ, hòa giải nhưng sự thật là đã xát muối vào vết thương của bà con, đồng bào Huế đã gánh chịu nỗi tang tóc Mậu Thân vì chúng là khuôn mặt đại diện cho tội ác…”.
Qua đoạn viết trên, người đọc biết tác giả nói ai. Tiếp đó một bài “ Oan Khuất Mậu Thân. Cần Một Lời Xin Lỗi” của Trần Kiêm Đoàn viết trong dịp đón Tết Nhâm Thìn khiến người ta đặt liền câu hỏi: Có phải Trần Kiêm Đoàn áy náy về những việc làm trong quá khứ? Hay vì run sợ thuyết nhân quả của nhà Phật? Hay vì trắng mắt thấy rõ dã tâm của bọn Cộng Sản đã hối hận viết bài này? (http://trankiemdoan.net/butluan/khoahoc-chinhtri/oankhuatmauthan.html )
Tuy nhiên, bài viết của Trần Kiêm Đoàn không thuyết phục được những người chính nghĩa bởi những biện bạch nhập nhằng một cách cố ý nên người ta ngoài sự bất bình, thất vọng còn có sự phẫn nộ.
Sự phẫn nộ vì những tội ác giết hàng ngàn dân Huế của bọn Việt Cộng, và bọn Việt Cộng Nằm Vùng tày trời như thế, tàn ác như thế, rành rành như thế mà Trần Kiêm Đoàn hạ bút: Cần một lời xin lỗi?
Tôi muốn hỏi: Trần Kiêm Đoàn. Ai cần? Ai xin lỗi?
Hẵn nhiều người còn nhớ, sau khi cộng sản Miền Bắc cùng Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và Việt Cộng Nằm Vùng giết hàng ngàn dân vô tội ở Huế, giết một cách tàn ác, thê thảm, khát máu, ghê rợn chưa từng có trên đất Huế (Cuộc thảm sát con dân Việt Nam của thực dân Pháp trong cuộc nổi dậy của triều đình Huế ngày 23 tháng 5, 1885 cũng không thể nào so sánh nỗi với sự tàn ác đẫm máu của cộng sản Việt Nam đối với ngay chính con dân đồng tộc Việt Nam ruột thịt ! )
Sau khi hành quyết hàng ngàn người dân Huế, không những cộng sản lạnh lùng bất nhân phủi tay, mà chúng lại còn ném lên những thân xác đau thuơng tức tưởi của con dân Huế những chửi rủa đốn mạt, tục tĩu, vô luân, láo khoét chưa hề thấy trong đạo đức văn hóa truyền thống Việt Nam: nào là “bọn phản quốc”…”bọn ác ôn, giết người, cướp của”…”bọn liếm giày đế quốc” v.v…để chỉ vào các xác trẻ em, học sinh, sinh viên, bà mẹ, đàn ông, ông già bà cả bị chúng tàn sát tập thể, mà không một ai có được tấc sắt trong tay!
Sau khi kéo lê cái chính sách tuyệt cấm mọi sự thờ phụng công cộng trên khắp Huế cho những nấm mồ hoang tập thể vô thừa nhận-đặc biệt là Nghĩa Trang Ba Tầng hai bên đường Nam Giao đã tàn lạnh khói huơng từ hơn hơn 35 năm nay-(nói để ông Trần Kiêm Đoàn nghiệm sự đời là quân Pháp nó còn tôn trọng văn hóa thờ phụng của Việt Nam ta còn hơn cả nhà nước cọng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vì trong hai giai đoạn đô hộ VN của Pháp, người dân Huế luôn có tự do tổ chức lễ cầu vía Âm Hồn hàng năm vào ngày 23-5 cho các vong hồn tử sĩ trong cuộc nổi dậy của quan quân triều đình Huế năm 1885.)
Thế rồi bỗng một ngày một nhà giáo sư tên Trần Kiêm Đoàn tự dưng xướng lên”Cần một lời xin lỗi !”
Tôi thật sững sờ tự hỏi cái hành động trớ trêu này sao lại có thể có từ một con người có cơ may ăn học như Trần Kiêm Đoàn! Nghĩ vậy tôi càng thấy thương tiếc cho những người dân oan không có được một chữ học ở trường thế mà vẫn biết đứng lên chống bất công. Họ ý thức được thế nào là Công Lý đấy, ông Trần Kiêm Đoàn ạ!
Và thay vì để ông Trần Kiêm Đoàn nói “Cần một lời xin lỗi “, có lẽ đã đến lúc những trí thức mê muội như ông Đoàn và những kẻ đồng loài nên thẹn thùa trước những con dân Việt Nam chất phác, chính trực đó để những oan hồn Mậu Thân Huế nói lên được tiếng Giải Oan cho chính mình: ” Cần Một Lời Công Lý!”.
Một lời công lý cho nỗi đau của Huế trước nhất là hài tội những thằng mang chút chữ nghĩa văn chương, trí thức, những đứa con xứ Huế đem ác quỷ về giết bà con, anh em họ hàng:“lội trong máu mà cứ tưởng lội trong bùn vì không nghe mùi tanh của máu!”* giết hàng ngàn dân Huế vào năm 1968, giờ còn nhởn nhơ nhe răng cười cợt *
Hài tội chúng bằng cách thu thập nhân chứng, tài liệu, viết lại, lưu lại những tội ác để không gì xoá được-Cho dù 10 năm, 20 năm, vài chục năm sau, hay hàng trăm năm sau… khi nhắc “Thảm Sát Mậu Thân” hậu thế sẽ nhớ ngay tên những tay đồ tể giết dân Huế một cách ghê rợn bằng cách đập đầu, xỏ xâu, chôn sống luôn cả những người đàn bà, những trẻ thơ và những người già vô tội. Không những thế, chuyện phải làm tiếp tục là đưa chúng nó, đưa tội ác chúng nó ra toà án Quốc Tế.
“Giết tù binh hay tù nhân chiến tranh và thường dân là phạm vào tội ác chiến tranh”. Không phải Trần Kiêm Đoàn có lần đã nói về điều này sao!?
Tôi sẽ tiếp tục tính chuyện phải quấy với mấy tên Việt Cộng giết người vô tội này dài dài
* Chữ của nhà văn Huy Phương

thuyvi

CHẠNG VẠNG

phuongxichlo

Chạng vạng đất
Chạng vạng trời
Tình tôi chạng vạng trong thời xa em
Mắt nhìn chạng vạng hơi men
Miệng đời chạng vạng chê khen tiếng lời
Tuổi tên chạng vạng
Quên rồi
Đường đi chạng vạng biết nơi mô về?
Tháng ngày chạng vạng cơn mê
Oán ân chạng vạng
Bốn bề đong đưa
Đôi khi chạng vạng vần thơ
Làm sao soi đến bến bờ tương lai
Xin trăng sáng trọn đêm dài
Vén
Màng chạng vạng
Phủ dày hồn tôi.

PHƯƠNG XÍCH LÔ

Mất hay còn, chưa hẳn khác nhau đâu

dutule

Tôi không thể ngăn buổi chiều sắp tối
Như em đi mà tiếng chẳng quay về
Mưa chẳng thể ướt hoài sân trí nhớ
Đôi khi lòng tôi nắng mấy hôm sau.

Tôi không thể xóa biển chiều sóng gội
Dù hôm qua tâm đã tịnh yên rồi
Cây chẳng thể giữ hoài tay lá mới
Đôi khi lòng tôi lại rất khoan thai.

Tôi không thể nói gì khi đã chết
Như chưa ai kể được phút ban đầu
Con đường nhỏ có hai hàng bã đậu
Đôi khi tình tôi lạc tuốt trên cao.

Tôi không thể chẻ đôi hình với bóng
Như em buồn có dễ mấy năm sau
Riêng tôi đã bị tâm tôi phỉnh gạt
Khi hiểu ra thì tóc đã pha màu.

Tôi không thể nghĩ rằng em đã khuất
Mất hay còn chưa hẳn khác nhau đâu
Thân giả tạm nhưng hồn không giả tạm
Em nên tin tình chưa bụi bao giờ

Tôi không thể lột da nhìn máu chảy
Như trên vai mùi tóc vẫn ân cần
Dẫu sông núi nghìn năm không biến hoại
Sao sầu tôi có lúc vẫn rưng rưng.

Tôi không thể xóa đi ngày tái kiếp
Hàng me xanh ngọc dát mấy con đường
Mùa đã khoác áo đi vào bóng tối
Tôi hồ nghi tự hỏi có ai thương?

Lòng rất lạ, có điều gì khó nói
Tỏ cùng ai? trời đất của ta đâu?
Cõi thân cận chỉ có hồn đơn chiếc
Và đêm đêm trăn trở giữa quê người.

Tôi không thể nghĩa là tôi chẳng thể
Xóa bôi đi từng bước tự lưu đầy
Tôi không thể nghĩa là tôi có thể
Nhìn ra em môi, mắt đã hao gầy.

Du Tử Lê

CUNG ĐÌNH NHÀ CHUỘT

khuatdau

Nhà chuột không chỉ một vua mà đến những bốn vua. Bốn con áo mão xênh xang, cùng trị vì cái gọi là XHCN. Sở dĩ, “gọi là” bỡi vì chẳng biết nó là cái gì, xe không ra xe, mà tàu cũng chẳng ra tàu. Một đống thù lù trông rất dị hợm. Mặc dù sơn phết lòe loẹt và quảng cáo ầm ĩ, nhưng suốt 70 năm trôi qua nó vẫn cứ loay hoay một chỗ, chẳng tiến được bước nào nếu không muốn nói là thụt lùi.
Nhưng, như cương lĩnh: không làm cũng có ăn, muốn ăn gì cứ ăn, muốn phá gì cứ phá, gọi tắt là ĂN PHÁ, nên con nào cũng muốn tranh nhau để được làm vua. Dù lọt vào tứ đại thử vương, đã là phủ phê ăn phá một đời rồi, nhưng vẫn chưa hiển hách bằng đệ nhất thử vương, quyền uy một cõi. Vậy nên, bốn con lại gầm ghè, cắn xé nhau chí chóe.
Anh chuột chù, mặc dù được mèo Tom mời qua ăn bíp tết uống rượu sâm banh, rồi lại được mèo Đôrêmôn thết đãi sushi và rượu sa kê, nhưng xem ra cái mạng đế vương của anh không còn dài. Anh chẳng những chẳng có tài cán gì, lại bị nghi ngờ định đem cái gọi là XHCN dâng nộp cho mèo Mao để được tại vì, nên sang năm con khỉ chắc là xin về “hiu”. Mà không muốn về cũng phải về nếu không muốn biến thành nhưn bánh bao.
Anh chuột nhà, từ lâu đã căm ghét chuột đồng, thừa dịp đi đó đi đây, lén đâm sau lưng chiến sĩ mấy nhát, những mong hạ cái uy nó xuống để nâng mình lên mà ngồi vào ngôi đệ nhất. Nhưng, chỉ cái danh hão, dù mới đây có vung vít chém gió ở hội Quốc Liên, mà quyền đã không, tiền cũng không, thì khó mà leo lên được.
Anh chuột nhắt có mang tí chút dòng máu hoàng tộc cũng gùn ghè chì chiết ra cái điều sửa lưng anh chuột đồng, cũng chỉ để cho bá tánh mua vui trong giờ vàng phát sóng chứ xem ra chẳng nước nôi gì.
Chỉ có anh chuột đồng ăn gạo nàng hương, uống nước sông Trèm Trẹm nhiều thóc đến thừa mứa và đương giữ ngôi tướng quốc, là có đủ tiền và quyền để lên ngôi cửu ngũ. Mặc dù trong ngày 30/4 có lớn tiếng chửi mèo Tom, nhưng đó là ngoài miệng, chứ trong bụng thì kết mèo Tom hơn mèo Mao. Mèo Đôrệmôn lại càng khoái anh hơn nữa vì cùng ghét mèo Mao. Rồi mèo đi hia ở tận bên Tây, mèo Ba tư, mèo Ấn Độ, sát bên hông nhà có mèo Xiêm, xem ra đều có vẻ thích anh. Ngay cả chó berger của Đức cũng không đuổi anh chạy trốn vào hang.
Vậy thì, xét về nội lực và ngoại lực, anh lên ngôi đệ nhứt là cái chắc. Nhưng chắc như đinh đóng cột thì chưa. Vì mới đây, anh bị soi về lý lịch. Ấy là vì, cái tội kết thông gia với kẻ thù là một tội không nhỏ, nếu không muốn nói là tày đình. Muốn vào bè đảng chuột phải lý lịch ba đời trong sạch, huống hồ là muốn làm vua.
Nhưng nói là cho có nói vậy thôi, chứ anh chẳng việc gì phải lo ba cái chuyện soi mói vặt vãnh đó. Nếu có ngứa cái lỗ nhĩ, thì lệnh cho tụi đàn em, ném một vài lọ mắm thối là câm họng ngay. Đến như đại tướng chuột cống kia, tuy lon chưa lột nhưng binh quyền đã bị lột sạch, giờ chỉ biết ngậm miệng ăn tiền.
Người ta hy vọng anh lên ngôi, ngó trước trông sau một hồi, liền xô mẹ cái XHCN xuống hố, làm bạn với chuột Mickey, ngon hơn nữa thì chơi với chuột Jerry để vuốt râu mèo Mao. Ấy là nói giả dụ chứ thực ra, bản chất của chuột là ăn phá, nhất là chuột đồng, dân nhà nông ai cũng ghét, thì con nào lên cũng chỉ muốn đập cho một phát chết tươi thôi.
Vua người còn chưa ra gì huống hố là vua chuột.
(Mèo chuột ký sự)

7/9/2015
Khuất Đẩu

Trời Làm Mưa Ướt Áo O Rồi!

muongman

Nì O tê răng mờ đứng đó
Lớp anh tan buổi học trưa về
Sáng vàng thu trời mưa nho nhỏ
Chờ ai răng O nớ, mưa tề!

Đôi mắt nhỏ ngẩn ngơ đến tội
Sợ chi mô lũ bạn anh hiền
Răng O để gío bay tóc rối
Bạn bè mô (mờ) đứng một mình riêng

Cặp của O màu xanh lá mạ
Vở của anh bọc giấy hồng điều
Răng nhìn anh đỏ hồng đôi má
Tên chi nì… nói để anh kêu

Tường trường anh có hàng rêu tím
Đẹp chi mô mờ cứ nhìn hoài
Tà áo O làm chi nên tội
Răng cứ vò nhăn giữa bàn tay

Bạn bè anh về rồi, O nớ!
Còn ai mô mà phải ngại ngùng
Trời mưa lớn ôm giùm sách vở
Anh căng dù hai đứa che chung

O cảm ơn anh làm chi rứa
Răng không về hai đứa có đôi
Mà đi giữa mùa thu tiếc nuối
Trời làm mưa ướt áo O rồi!

Mường Mán