NGÀY DU THỦ…

nguyentancu

1.
Say một ngày chiều qua nghiêng ngã
Vùi trong môi thơm ngát nụ hôn buồn
Đời anh tối trong tóc người đen tuyệt
Điên một ngày đêm trượt cỏ xanh um
2.
Ngồi bó gối thương đời mình đã mục
Buồn như cây đang héo gục xuân thì
Tình cũng mất theo tháng ngày du thủ
Yêu có nhiều thì cũng gặp…hư không.
3.
Anh gai góc trên cành khô mục nát
Tìm hoang vu lăn lóc nẻo đường mòn
Em thơ dại ngâm trên môi cỏ mộng
Tình lang thang quanh quẩn mặt hồ
4.
Có bóng tối sau lưng và trước mặt
Buồn trôi theo những trận mưa vùi
Anh còn biết đi đâu-chiều nước mắt
Trượt trên môi và xanh mướt mi người…

Nguyễn Tấn Cứ

Ðêm trong nỗi nhớ người

maiviet

đêm quờ tay tìm em trong nỗi nhớ
chiếu lạnh trăng tàn gió thắt đêm trinh
bàn tay mồ côi cứ nắm hoài dĩ vãng
tôi với trời khuya buộc mãi bên mình

mùa đi qua, năm đi qua ai còn nghĩ tới
tiếng côn trùng sao gáy mãi tiếc thương
buồn rưng rức đưa người qua viễn phố
có giọt lệ thầm nhỏ xuống tựạ như buông

chiều nay về ngồi lại cao nguyên
bỗng nghe quen trong gió đại ngàn
tiếng nói ngày xưa một thời yêu dấu
có nụ hôn đầu cất giữ với thời gian

và tự nhiên đêm nay tôi muốn khóc
mùa hoa kia cũng đang nhạt hương thừa
tất cả bỏ tôi vào ký ức
nương cũ đổi dời còn nhớ vạt dâu xưa ?

biển có đổi mùa xin đừng dạt sóng
để đêm đêm nơi cát trắng dã tràng
vẫn còn đó một trời thương yêu cũ
dù đã xa người lòng đâu dễ nguôi tan.

MAI VIỆT

Nhìn tấm bia tưởng niệm ở Galang suy nghĩ về hòa giải

trantrungdao
10412024_1051277484896237_4115805635747662257_n

…Mỗi khi nhìn lại Ground Zero trơ trụi, từng là World Trade Center New York sầm uất, tôi lại chạnh lòng nghĩ đến những người dân vô tội đã chết. Tại sao những thành viên của tổ chức Al-Qaeda lại có thể làm công việc giết người tàn nhẫn như thế? Họ nhân danh ai và họ thật sự vì ai?

Dấu tích của con người trên địa cầu không chỉ là Kim Tự Tháp, Angkor Wat, Mona Lisa hay những bản giao hưởng bất tử mà còn là Auschwitz, Armenia, Rwanda và nhiều hành động diệt chủng tàn bạo và bất nhân khác

Thật vậy, bên cạnh những bậc thánh nhân mang lại an lạc và giải thoát cho con người, những nhà khoa học có khả năng sáng chế những cái hay cái đẹp để làm thăng hoa cho cuộc sống, cũng có những ác nhân như Hitler, Pol Pot, Stalin, Bin Laden lại có thể nghĩ ra những cách giết người vô cùng dã man, tàn độc.

Nhắc đến Bin Laden, tôi lại nhớ đến biến cố 11 tháng 9 năm 2001. Tôi làm việc trong ngành tài chánh và nơi tôi làm việc cũng có tên là World Trade Center, mặc dù không phải là World Trade Center New York. Đồng nghiệp của tôi, trong đó nhiều người tôi quen biết, làm trong tòa nhà ngay bên kia đường của World Trade Center, New York. Nơi tôi làm, giống như hầu hết các công ty tài chánh khác, dọc bốn bức tường và các cột chính thường treo nhiều máy truyền hình để nhân viên có thể trực tiếp theo dõi biến động của thị trường đang diễn ra nhiều nơi trên thế giới.

Buổi sáng ngày 11 tháng 9 năm 2001, thay vì nghe tin tức thị trường, tôi bàng hoàng nhìn cảnh khói lửa mịt mù đang trực tiếp chiếu trên hàng chục máy truyền hình. Hình ảnh chiếc máy bay thứ hai cất cánh từ thành phố tôi đang sống, lao vào tòa nhà phía nam của khu thương mại World Trade Center sẽ không bao giờ phai đi trong trí nhớ của tôi. Đứng nhìn cột khói bốc cao, tôi xúc động như đang đứng nhìn chính căn nhà mình đang cháy, và tương tự nhìn cảnh những người nhảy xuống trong tuyệt vọng từ những tầng lầu cao, tôi cảm tưởng những người thân yêu của mình lao vào cõi chết. Mỗi khi nhìn lại Ground Zero trơ trụi, từng là World Trade Center New York sầm uất, tôi lại chạnh lòng nghĩ đến những người dân vô tội đã chết. Tại sao những thành viên của tổ chức Al-Qaeda lại có thể làm công việc giết người tàn nhẫn như thế? Họ nhân danh ai và họ thật sự vì ai?

Thời gian qua đi, cuộc sống đã dần dần trở lại bình thường. Những chuyến bay cất cánh từ phi trường quốc tế Logan bên kia cửa sổ của phòng làm việc không còn làm tôi nghĩ ngợi xa xôi. Thế nhưng, tuần trước, khi nhìn vết tích của tấm bia tưởng niệm thuyền nhân chết trên đường vượt biển ở Galang bị nhà nước Việt Nam yêu cầu chính phủ Nam Dương đập bỏ, cơn xúc động khi nhìn cảnh Ground Zero, tưởng chừng như lắng xuống lại lần nữa nhói lên. Hai sự việc thoạt nhìn không dính líu gì nhau. Hai tòa nhà ở New York không phải là bia tưởng niệm; tổn thất vật chất ở New York lên đến hàng trăm tỉ đô-la trong lúc tấm bia tưởng niệm đồng bào bạc phước ở Galang nhiều lắm là vài ngàn đô-la; số người chết ở hai tòa nhà thương mại New York là 2986 người trong lúc bia tưởng niệm ở Galang chỉ là một tấm đá đơn sơ.

Có liên hệ gì chăng giữa hai di tích? Có chứ. Điều giống nhau không phải ở chỗ người chết mà là người sống, không phải từ phía nạn nhân mà ở kẻ gây ra tội ác, không phải thiệt hại về vật chất mà là những tác hại tinh thần, không phải ở hành động mà là suy nghĩ. Và quan trọng nhất, cả hai sự tàn phá đều phát xuất từ những kẻ có cùng một tâm thức, mang cùng một não trạng, đó là tính cực đoan, hận thù và sợ hãi còn ám ảnh và đè nặng trong tư duy họ.

Tôi nghĩ đến nỗi bất hạnh của nạn nhân bởi vì tôi đã từng ở trại tị nạn và đã một lần phó thác cuộc đời mình cho may rủi trên vùng biển đó. Những ngày ở Palawan, tôi thường ngồi nhìn mặt trời lặn, tự hỏi phải chăng phía sau vầng ráng đỏ cuối chân trời kia là quê hương tôi, là Hội An, là Đà Nẵng thân yêu. Những hình ảnh mẹ lạc cha, vợ xa chồng, anh mất em, đứa bé bị bỏ quên đứng khóc trên đường ra bãi, chuyến hải hành vô định trên biển Đông trùng trùng gió bão, đói khát, lo âu, tuyệt vọng vẫn nhiều đêm trở về trong giấc ngủ tôi.

Tôi vẫn nhớ phía cuối trại Palawan là một căn nhà nhỏ, lúc nào dường như cũng tối. Người đến trước bảo đó là chỗ ở của ba thuyền nhân còn may mắn sống sót từ chuyến ghe của gần một trăm người. Sau hai tháng trời chết máy trôi bềnh bồng trên biển, một trăm người khi ra đi đến nơi chỉ còn lại ba người. Ngoại trừ phái đoàn cao ủy tị nạn, ba người kia không tiếp xúc với ai, không tâm sự với ai, không chia sẻ với ai làm cách nào họ đã không chết đói, chết khát. Họ giữ cho riêng họ nỗi đau thầm kín, và tôi tin có thể sẽ không bao giờ ai biết. Phía sau trại là căn nhà của những người phụ nữ bị hải tặc hiếp dâm. Những phụ nữ bất hạnh kia lẩn tránh trong nhà, ít khi ra ngoài để khỏi nghe những lời hỏi han, dù chỉ để an ủi cho số phận hẩm hiu của họ. Nhiều trong số những người đi cùng ghe với các chị đã gởi thây trên biển, bỏ xác trên các đảo san hô sau những lần bị hiếp dâm tập thể. Trên bờ cát Palawan, có một em bé chừng năm, sáu tuổi, mỗi chiều vẫn ngồi nhìn ra ngoài khơi như thói quen chờ mẹ đi chợ về, khác chăng, mẹ của em sẽ không bao giờ về nữa. Cha, mẹ, chị và em của em đã chết trong chuyến hải hành dài cả tháng trời. Không ai biết rõ em từ đâu ra đi. Nếu có người nào hỏi, em chỉ vỏn vẹn trả lời rằng em đến từ Việt Nam, và đó cũng là tất cả những gì em biết về gia đình bạc phước và đất nước đầy bất hạnh của em.

Hoàn cảnh tương tự như thế cũng đã xảy ra trong các trại tị nạn khác trong vùng Đông Nam Á như Galang, Bidong, Leamsing, Sungei Besi, Bataan, White Head, Panat Nikhom và hàng chục trại tị nạn khác, nơi nhiều trăm ngàn người Việt Nam đã một lần tá túc để chờ ngày định cư. Phần đông đồng bào đến trại sau khi đã trải qua một cuộc hải hành nhuộm đầy máu và nước mắt. Họ cố nuốt đau thương đưa tay cầm chén gạo tình người. Những tiếng thank you, merci, danke, gracias vụng về, ngượng ngập từ cửa miệng của những người ở tuổi ba mươi, và ngay cả năm mươi, bảy mươi nhưng chỉ mới bắt đầu tập nói.

Trong những đợt sóng người vượt biển từ sau mùa bão lửa 1975, bao nhiêu người đã ở lại trong lòng biển? Một trăm ngàn, hai trăm ngàn hay năm trăm ngàn như Liên Hiệp Quốc thống kê? Những con số mà chúng ta thường nghe, thường đọc, thật ra chỉ là những phỏng đoán để điền vào khoảng trống cần thiết cho một bản thống kê. Con số thật đã vĩnh viển nằm yên trong lòng biển. Sáng nay, trên đất nước Việt Nam, có những bà mẹ già ba mươi năm sau vẫn còn nuôi hy vọng người phát thư buổi sáng sẽ trao cho mẹ lá thư đầu của đứa con ra đi từ nhiều năm trước. Đêm nay, có những người vợ nằm nghe tiếng lá rơi bên thềm mà ngỡ tiếng chân chồng mình trở về bên căn nhà cũ. Lịch sử rồi sẽ sang trang nhưng cái chết đau thương của hàng triệu người Việt Nam sẽ còn ở lại rất lâu trong lòng dân tộc như máu người Việt Nam sẽ không bao giờ phai đi trong màu nước Thái Bình Dương.

Ngày trước ở miền Nam, tuy khói lửa chiến tranh đang phủ một màu đen trên đất nước nhưng không một giáo trình tiểu học nào dạy trẻ em để thù ghét nhau, chém giết nhau. Mỗi sáng thứ hai trên tấm bảng đen của lớp học bao giờ cũng có một câu châm ngôn đầu tuần thắm đượm tình dân tộc, lòng kính nhớ tổ tiên, ơn cha mẹ sinh thành dưỡng dục. Câu cách ngôn đầu tiên một học sinh tiểu học miền Nam được dạy nếu không là “một giọt máu đào hơn ao nước lã” thì cũng “nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng.” Giống những người lính ngoài mặt trận đang ráng bảo vệ từng tấc đất, từng con sông, các thầy các cô trong ngành giáo dục cũng đã cố gắng giữ lại những đức tính nhân bản, dân tộc trong tâm hồn các thế hệ măng non miền Nam. Dân tộc Việt Nam là một dân tộc có đạo, có truyền thống kính trọng anh linh những người đã chết. Tình ruột thịt nghĩa đồng bào được hun đúc nhiều năm trong tâm thức đã thôi thúc những người còn sống sót dựng lên những tấm bia tưởng niệm đồng bào ở Galang, Bidong và những nơi có dấu chân của người Việt tị nạn.

Một mặt của tấm bia ở Galang viết: “Tưởng nhớ hàng trăm ngàn người Việt Nam đã thiệt mạng trên đường tìm tự do (1975-1996). Dù họ đã chết vì đói, khát, bị hãm hiếp, bị kiệt sức hoặc vì một nguyên nhân nào khác, chúng ta cầu xin rằng họ bây giờ được hưởng yên bình vĩnh cửu. Sự hy sinh của họ không bao giờ bị quên lãng. Các cộng đồng người Việt hải ngoại, 2005.”

Tại sao những người lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn thích nhân danh những điều tốt đẹp nhất trên đời, những lý tưởng cao thượng và vĩ đại nhất của nhân loại, lại có thể yêu cầu chính phủ Nam Dương, Mã Lai đập phá những tấm bia tưởng nhớ những người đã chết? Có gì trong những dòng chữ đó vi phạm đến an ninh quốc gia của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam?

Có gì trong những dòng chữ đó xúc phạm đến các lãnh tụ cộng sản đã chết hay còn sống? Không. Nếu có chăng, trong tấm bia đá đơn sơ kia có dấu vết của những bào thai bị chết ngộp khi còn trong bụng mẹ, có tiếng khóc của những trẻ thơ đang đói khát, có giọt máu của người phụ nữ Việt Nam đau đớn trong bàn tay hải tặc, có tiếng gào tuyệt vọng của bà mẹ giữa cơn bão lớn ngoài khơi.

Chưa bao giờ trong ba chục năm qua, cụm từ “hòa giải dân tộc, xóa bỏ quá khứ” lại được nhắc đi nhắc lại nhiều như trong những ngày này. Các lãnh đạo Đảng và nhà nước chủ trương hòa giải. Nhiều trí thức, học giả hô hào hòa giải. Nhiều nhà văn, nhà thơ cổ võ cho tinh thần hòa giải. Nhiều vị lãnh đạo tôn giáo kêu gọi lấy tình thương xóa bỏ hận thù.

Thật ra, bản thân của cụm từ hòa giải không có gì sai trái, và tương tự, đem tình thương xóa bỏ hận thù là một tư tưởng vô cùng cao quý. Từ kinh nghiệm sống đầy thăng trầm và trắc trở của mình, tôi tin rằng tình thương là cứu cánh của mọi nỗi khổ đau, và tôi cũng tin rằng nỗi đau trong trái tim dân tộc hơn nửa thế kỷ qua, phải được hóa giải, không phải bằng “ai thắng ai” nhưng bằng tinh thần cảm thông, tình thương, bao dung và hướng thiện. Vâng, nhưng trước khi vượt qua quá khứ, mỗi người Việt Nam, từ cấp lãnh đạo đảng, nhà nước cho đến một người dân thường đang ở trong hay ngoài nước, phải can đảm nhìn vào sự thật, và những ai có trách nhiệm cho những tang thương đổ vỡ của đất nước phải biết thừa nhận những sai lầm và thực hiện các biện pháp căn bản để thay đổi đất nước.

Con đường hòa giải là đại lộ hai chiều và là chiếc cầu nhiều nhịp. Không ai có thể đứng bên này sông ra lệnh người khác bơi qua để hòa giải với mình. Tôi tin rằng khi nhìn vào sự khổ đau phải nhìn vào nguyên nhân của nó hơn là chỉ nhìn vào sự lở lói bên ngoài. Những lở lói hôm nay của đất nước bắt nguồn từ ba mươi năm đầy lầm lỗi của giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nếu thực tâm hòa giải, giới lãnh đạo đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam lẽ ra phải là những người dựng lên tấm bia tưởng niệm đó; lẽ ra họ là người phải lo chăm nom hương khói những phần mộ, hồi hương hài cốt những người đồng bào không may mắn bỏ thây trên xứ lạ quê người. Quá khứ tuy khó có thể quên ngay nhưng tôi tin dù nói gì đi nữa trong lòng con người Việt Nam cũng còn nhiều bao dung, tha thứ. Người dân Việt Nam dù bị lừa gạt năm lần bảy lượt nhưng trong trái tim của họ màu độ lượng vẫn đậm hơn màu thù hận. Chịu đựng trong cơn mưa dài nửa thế kỷ, dân tộc Việt Nam đang quá cần một ngày nắng đẹp. Hòa Thượng Thích Huyền Quang, một trong những nhà lãnh đạo tôn giáo bị tù đày, hành hạ nhiều nhất sau 1975, nhưng trong buổi tiếp xúc với ông Phan Văn Khải tại Hà Nội ngày 2 tháng 4 năm 2003, cũng đã nhấn mạnh đến tinh thần hòa giải và sẵn sàng gác qua quá khứ đầy khắc nghiệt mà bản thân ngài và Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất gánh chịu suốt gần ba mươi năm để cùng góp tay nhau xây dựng đất nước nếu đảng và nhà nước thành thật hối cải những sai lầm. Tiếc thay bao nhiêu cơ hội đã đến và đi trước thái độ thờ ơ của đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam.

Đối với những người lãnh đạo cộng sản, phương pháp truyền thống để gọi là “xóa bỏ quá khứ,” không chỉ ở Việt Nam mà nhiều nơi trên thế giới trước đây, đơn giản là đập bỏ, phá hủy. Những tội ác như Goulag và thanh trừng ở Liên Xô, Cách mạng Văn hóa và Công xã Nhân dân ở Trung Quốc, chính sách Năm Số không (Year Zero) của Pol Pot ở Campuchia, tư tưởng Juche của Kim Nhật Thành ở Bắc Hàn, Cải cách Ruộng đất ở Việt Nam v.v…, tuy khác nhau về hình thức, mức độ nhưng đều bắt nguồn sâu xa từ lý thuyết cộng sản, đúng như Mác khẳng định trong Tuyên ngôn Cộng sản: “Những người vô sản chẳng có gì là của mình để bảo vệ cả, họ phải phá hủy hết thảy những cái gì, từ trước đến nay, vẫn bảo đảm và bảo vệ chế độ tư hữu.”

Tôi biết điều đó và nhiều độc giả biết điều đó, nhưng đồng bào chúng ta với bản chất nhân hậu, thường có thói quen nghĩ rằng, dù sao những người lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam cũng sinh ra từ một đất nước có truyền thống văn hóa bốn ngàn năm. Dân tộc Việt Nam là một trong số rất ít quốc gia, ở đó người dân đã gọi nhau bằng hai tiếng đồng bào thiết tha trìu mến. Tiếc thay, những gì vừa xảy ra ở Galang đã giết đi chút hy vọng cuối cùng ngay cả trong những người ôn hòa và kiên nhẫn nhất. Việc xúc phạm đến anh linh những đồng bào đã qua đời trong hoàn cảnh vô cùng thương tâm trên biển, không những xát muối vào vết thương vẫn còn đang mưng mủ mà còn đào sâu thêm sự rẽ chia, phân hóa hôm nay và nhiều thế hệ Việt Nam mai sau.

Hành động đập bia để phi tang còn là lời tự thú của giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đồng bào Việt Nam nói chung và miền Nam nói riêng. Nói rõ hơn, họ công khai thú nhận rằng nếu không có Kinh tế Mới, không có những trại tập trung, không có kiểm kê tài sản, không có đổi tiền năm lần bảy lượt, không có lý lịch ba đời và hàng chục chính sách bất nhân hà khắc hơn cả thời thực dân thì em Hoàng Thị Thu Cúc đã không treo cổ ở Thái Lan, đồng bào tị nạn đã không tự thiêu, tự sát tập thể ở Sungei Besi, Galang, Bidong mười năm trước, không có thảm cảnh cha bị cọp tha trong rừng già và mẹ xác trôi bồng bềnh trên biển. Các chính sách trả thù tàn nhẫn, tiêu diệt mọi mầm mống chống đối đã đẩy hàng triệu người dân Việt không còn chọn lựa nào khác hơn là ra biển để tìm đường sống trong con đường chết.

Trái với thái độ rụt rè đến mức chỉ dăm câu chào hỏi xã giao tổng thống Bush mà phải cầm giấy đọc như trường hợp ông Phan Văn Khải trong chuyến Mỹ du và sự hạ mình thần phục thiên triều Trung Quốc qua việc ông Lê Khả Phiêu ký hiệp ước biên giới lén lút năm 1999, đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam lại không có một hành động thành thật và cụ thể nào để chứng tỏ tinh thần hòa giải với những người cùng máu mủ với mình.

Tại sao?

Họ lấy lòng các nước lớn vì họ biết rằng các hình thức lật đổ chính quyền, các âm mưu đảo chánh, ám sát, vốn quen thuộc trong thời kỳ chiến tranh lạnh, đã trở thành lỗi thời trong thời đại kinh tế toàn cầu ngày nay. Mối quan tâm hàng đầu của chính quyền Mỹ không phải ai là người lãnh đạo Việt Nam hay đảng nào lãnh đạo Việt Nam nhưng ai đáp ứng nhiều nhất, phục vụ tốt nhất cho chính sách đối ngoại, đem lại nhiều mối lợi và tạo sự ổn định cho thị trường kinh tế thương mại của họ. Chính quyền Mỹ không quan tâm tài sản của ông Lê Khả Khiêu, ông Lê Đức Anh trị giá bao nhiêu, ông Đỗ Mười sở hữu bao nhiêu biệt thự, ông Phan Văn Khải có bao nhiêu triệu đô-la, và họ cũng không cần nghe, cần biết, cần thấy tuyệt đại đa số người dân Việt Nam đang sống những tháng ngày cơ cực ra sao trên vỉa hè góc phố.

Lịch sử bang giao quốc tế cho thấy rằng những khái niệm hận thù, thương ghét chỉ tồn tại trong con người chứ không bao giờ là những phạm trù quốc gia. Quốc gia chỉ có quyền lợi chứ không có bạn hay thù. Cuộc chiến tranh lạnh giữa tư bản và cộng sản đã tàn và các liên minh quân sự đang chuyển sang liên minh kinh tế. Do đó, những ai chỉ nghe câu kết luận của Tổng thống Bush trong diễn văn nhậm chức: “Tất cả những ai đang sống dưới chế độ độc tài bạo ngược và trong sự tuyệt vọng có thể biết là, Hoa Kỳ sẽ không làm ngơ trước tình trạng bị áp bức của các bạn, hoặc tha thứ cho những kẻ áp bức. Khi mà các bạn đứng lên vì tự do của mình, chúng tôi sẽ đứng về phía các bạn” mà vội tin rằng vị tổng thống thứ 43 của Mỹ sẽ công khai và tích cực ủng hộ các phong trào dân chủ Việt Nam, có thể chỉ là một giấc mơ quá sớm. Với tổng sản lượng nội địa (GDP) vỏn vẹn 45 tỉ đô-la, không bằng hai phần ba GDP của thành phố Thượng Hải, Việt Nam còn quá xa, quá nhỏ để trở thành một hấp lực cho đầu tư quốc tế đừng nói chi đến việc cạnh tranh với thị trường Trung Quốc.

Dân chủ là lý tưởng cao đẹp, là nếp sống văn minh nhưng đồng thời cũng là món hàng vô cùng đắt giá. Bằng chứng, Anh, Mỹ, Đức, Pháp, Nga giành nhau để đem lại dân chủ cho Iran, Iraq trong lúc ba phần tư các quốc gia châu Phi hàng trăm năm nay vẫn còn chịu đựng dưới ách độc tài nghèo đói. Tại sao họ không giúp lật đổ các chế độ độc tài tại Congo, Gabon, Chad?

Đơn giản vì các quốc gia đó quá nghèo, không có tài nguyên gì quý giá để đổi lấy món hàng dân chủ. Tháng 6 năm 1989, để bày tỏ thái độ ủng hộ phong trào dân chủ tại Trung Quốc và phản đối việc nhà cầm quyền đàn áp sinh viên một cách đẫm máu trong biến cố Thiên An Môn, các quốc gia Mỹ, Nhật, Pháp, Đức đồng thanh lên án, các công ty lớn đe dọa ngưng đầu tư, hủy bỏ hợp đồng, nhưng không bao lâu, đâu cũng vào đó. Một mặt, các tổng thống Clinton, rồi Bush tiếp tục chỉ trích tình trạng nhân quyền tại Trung Quốc, trong khi một mặt khác, mười hai năm qua các công ty Mỹ đã đầu tư 450 tỉ đô-la vào Trung Quốc. Thị trường Trung Quốc với lao động rẻ mạt và sức mua lớn vẫn là miếng mỡ béo cho các con mèo tư bản. Vận dụng mọi điều kiện chính trị thế giới vào công cuộc phục hưng dân tộc là một điều cần thiết, tuy nhiên, trách nhiệm chính vẫn nằm trên vai của các thế hệ Việt Nam yêu nước chứ không thể trông chờ vào ai khác.

Một lý do khác khiến giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam không thực tâm hòa giải với nhân dân Việt Nam vì họ rất sợ sức mạnh tổng hợp của dân tộc Việt Nam.

Trung Quốc và Mỹ, vì quyền lợi kinh tế, có thể không quan tâm đến chuyện thay đổi lãnh đạo tại Việt Nam, nhưng nhân dân Việt Nam, nếu có cơ hội chắc chắn sẽ làm ngay. Các lãnh đạo Đảng biết rằng ngày nào dân tộc Việt Nam có cơ hội để đoàn kết nhau thành một khối thì đó cũng là ngày đánh dấu sự cáo chung của chế độ độc tài toàn trị tại Việt Nam. Bao nhiêu năm qua, cơ chế độc tài tồn tại nhờ vào sự hoài nghi Nam Bắc, sự phân hóa xã hội, sự chia rẽ trong cộng đồng dân tộc và họ luôn luôn tìm mọi cách để duy trì sự phân hóa, chia rẽ đó.

Hành động yêu cầu đập bỏ những tấm bia tưởng niệm ở Galang là một phản ứng tuyệt vọng trước ánh sáng của sự thật. Sau ba mươi năm, đồng bào Việt Nam đã hiểu ra ai là nạn nhân và ai là những kẻ sống bám vào máu, mồ hôi và nước mắt của bao nhiêu thế hệ Việt Nam đã và đang đổ xuống.

Câu chuyện những sĩ quan và viên chức miền Nam bị tù ra miền Bắc trước đây là một bằng chứng. Khi đi ra họ đã bị dân chúng hai bên đường chửi bới, mắng nhiếc, thậm chí còn có kẻ ném đất, ném bùn vào họ, nhưng mười năm sau trên chuyến tàu vào Nam, chính những người từng tin rằng lính miền Nam thích ăn thịt người, đã nhét vội vào bàn tay tù xanh xao những điếu thuốc lá, những củ khoai mì. Món quà nhỏ nhoi không đáng giá bao nhiêu nhưng mang theo hơi ấm của tình dân tộc. Đồng bào miền Bắc cảm thông, thương xót người tù miền Nam không phải chỉ vì tình đồng bào ruột thịt mà thôi, nhưng quan trọng hơn vì họ đã thấy được sự thật.

Thấy được sự thật, hòa giải sẽ tự nhiên đến mà không cần ai phải hô hào kêu gọi, và có thể lúc đó chuyện hòa giải sẽ không còn cần thiết.

Tôi tin một ngày khi chế độc độc tài tàn lụi, những người lính cũ Nam Bắc gặp nhau, sẽ không ai còn hứng thú nói về những ngày ở Khe Sanh, An Lộc, Bình Long hay trong các trại tù Hàm Tân, Thanh Phong, Thanh Hóa, và cũng không thích nghe những lời xin lỗi nhau đã trở thành thừa thãi, mà sẽ nói nhiều về các con, các cháu của họ. Niềm hãnh diện của họ không phải là những tấm huy chương mà là công trình, dự án mà con cháu đang theo đuổi cho đất nước mình. Ngày đó, nhiều lắm, những ông già còn sống sót sẽ cùng uống với nhau một chén rượu nếp than, và như thơ Tô Thùy Yên, để gọi là “giải oan cho cuộc biển dâu này.”

Phân tích như thế để cùng thấy rằng, khi nhìn lại chặng đường dài đầy bi tráng của dân tộc, tất cả chúng ta, dù Nam hay Bắc, cầm súng hay không cầm súng, dù trực tiếp hay gián tiếp tham dự cuộc chiến, vượt biên ra đi hay ở lại chịu đựng, nói cho cùng, đều là nạn nhân của phong kiến, thực dân và độc tài lạc hậu. Nỗi đau của ngư dân Thanh Hóa bị hải quân Trung Quốc giết mới đây hay thảm cảnh người vượt biển chết chìm trên biển Đông ba mươi năm trước đều là nỗi đau chung của dân tộc.

Trách nhiệm đưa đất nước vượt qua hố thẳm độc tài lạc hậu để vươn lên cùng thời đại là trách nhiệm của mọi người Việt quan tâm đến số phận dân tộc mình. Một dòng sông không ra biển không còn là dòng sông nữa và dù rộng lớn bao nhiêu cũng chỉ là ao tù nước đọng. Dân tộc Việt Nam như một dòng sông lớn, phải vận hành theo luật tuần hoàn, tụ thành mây để làm nên những cơn mưa lớn và bay ra khơi để sớm trở về nguồn. Chúng ta đã từng chịu đựng như một dân tộc, và tôi tin chúng ta sẽ vượt qua như một dân tộc.

Trong ý nghĩa đó, tấm bia tưởng niệm ở đảo Galang không chỉ để tưởng nhớ đồng bào đã hy sinh trên đường tìm tự do, mà quan trọng hơn, đó là một phần của lịch sử Việt Nam. Một trăm năm sau, hai trăm năm sau, các thế hệ Việt Nam sẽ tìm đến Bidong, Galang, Palawan, Sungei Besi, White Head, Panat Nikhom v.v… để dò lại dấu chân của những người đi trước và lắng nghe tiếng biển thì thầm về một chặng đường bi tráng đã qua. Đập đổ tấm bia là một trọng tội với lịch sử, và giống như số phận của tập đoàn Taliban khi bắn sụp các tượng Phật ngàn năm ở Afghanistan, không có đất sống cho những kẻ từ chối, khinh bỉ và hủy diệt các giá trị văn hóa thiêng liêng của dân tộc mình.

Trần Trung Đạo

ĐẦU SÔNG CUỐI BÃI CŨNG ĐÀNH THÔI

linhphuong

Giang hồ từ thuở ta đứng đợi
Lúc mỹ nhơn mắt biếc-mày ngài
Mấy mươi năm bên cầu thương nhớ
Hỏi rằng em :-Nhan sắc có phai ?

Hỏi ly rượu ngày ra mặt trận
Em rót tiễn ta biệt kinh kỳ
Anh hùng thua cuộc anh hùng tận
Đời ta-em mãi mãi phân ly

Đừng khóc thằng du côn lỡ vận
Chuyện mưu sinh vất vả nhường nào
Hãy quên người xưa em lận đận
Cuối đất-cùng trời buồn gì đâu

Đừng khóc khi áo ta chưa ấm
Gió mùa đông bắc thổi lạnh lùng
Phố cũ đà tàn nghiêng vạt nắng
Chiều hôm heo hút buổi hoàng hôn

Đừng khóc mâm cơm ta cô quạnh
Đôi đũa một mình nằm chõng chơ
Ly rượu rót đầy sao sóng sánh
Hình sương bóng khói mỹ nhơn ơi !

Đừng khóc cầm tay ta đừng khóc
Lỡ hết rồi em- lỡ hết rồi
Mấy mươi năm lòng đau như cắt
Đầu sông-cuối bãi cũng đành thôi

LINH PHƯƠNG
05.09.2015

XANH (2)

phuonguy

khi những ngón tay không còn theo đuổi những thanh âm
phím đàn nghẹn ngào góc tối
cây tỳ bà bỏ quên bên vách tường khóc lời trăn trối
hoang vu  trăng xanh

khi những ngón tay không còn cầm níu
phím đàn buông bỏ đợi chờ
tôi về bên dốc gió
trỗi khúc thủy tinh

khi lời không kịp nói đã tắt giữa mong manh
cơn mưa xưa không kịp tối
em không bên tôi giữa đêm sao vời vợi
tôi còn gì trong lòng?

Khi chiếc ly rỗng không còn mang hợp chất nồng say trong suốt
tôi làm sao còn đong đếm tương tư?
chén rượu thề bồi chưa kịp uống
đêm xanh hút ánh trăng thừa

phím tỳ bà lã ngọn dây đàn đứt
con hồ ly xanh khóc suốt mấy mùa bạc mặt
ngón tay rời nhau mùa giông bão sau cùng
điệu kí ức cưu mang lời nguyền cuối
nghe mùa đi giữa lao lung

PHƯƠNG UY

THỦY TINH TAN VỠ (tt)

tonnuthudung

CHƯƠNG 16 :

Nhưng rồi dù có cao ngạo, có tự tin đến đâu đi nữa, tôi vẫn phải khuất phục trước định mệnh của mình…những chờ đợi căng thẳng và những công việc hao tâm tổn trí đã làm tôi suy nhượt từ thể xác đến tâm hồn… Tôi không còn thiết tha gì nữa, mình đầu hàng một cách thê thảm mất thôi… Tấm mặt nạ hóa trang đã rơi xuống thì tôi còn gì ngoài một niềm tuyệt vọng… Tôi chìm vào một căn bệnh trầm uất nào đó, những giấc mơ này tiếp giấc mơ kia, hoảng loạn, những vòng tròn màu đỏ cam nhức mắt, những cầu vồng khuất lấp trong mây chỉ hé chút ánh sáng màu lam lạnh lẽo… Tôi không ý thức được thời gian và không gian, tôi chập chờn giữa những cơn sốt và cơn buồn ngủ… Và Cao, anh đang ở đâu??? Partout… khắp nơi, khắp nơi … Không, anh đã buông tay tôi nửa chừng để tôi rơi vào thinh lặng… Anh không hề biết tôi cô độc thế nào trong những hoài niệm xa xăm … Cao, anh đang ở đâu??? anh đang ở đâu? Anh đây, Diệp. Anh đây… Anh không bao giờ buông tay Diệp…

CHƯƠNG 17 :

Cao gối đầu lên hai tay, đôi mắt anh nhìn chăm chú vào khoảng trời xanh vô tận… Chiếc áo lính mở khuy hở mấy vệt xướt còn đọng máu, anh không nói một lời nào cả, trong đôi mắt anh, hình bóng của quá khứ, của tương lai trôi vụt qua như bóng mây trời…
Khu vườn của tịnh xá Ngọc Diêm rộng thênh thang là nơi chúng tôi đang ẩn náu. Sư bà Tâm Khả là em ruột của bà ngoại tôi. Chúng tôi lại trở về với hai tay không và nỗi thương tổn lẫn xúc phạm nặng nề… Không, tôi cố nghĩ đây chỉ là cơn ác mộng. tôi chấp nhận mình thất bại nhiều lần, chỉ xin thắng một ván cuối cùng, nhưng tại sao lại không thể được? Chúng tôi đã đầu tư hết tất cả vốn liếng, hết tất cả mưu tính, niềm tin(dù cạn kiệt) nhưng sao chúng tôi cứ thất bại nặng nề… Có một sự an bài nào đó từ thượng để ngoài những mưu tính của con người chăng??? Nếu thật vậy thì thượng đế quá ác độc, quá tàn nhẫn khi cứ ra tay đúng lúc.
Chúng tôi hẹn 2 địa điểm bốc dầu và bốc người. Chúng tôi chỉ sử dụng chiếc F10 để đi và chiếc F4 bốc dầu. Chiếc F4 sẽ ra mũi chở dầu, nơi ấy đã có người chờ sẵn chuyển dầu và nhận nửa số vàng còn lại. Tôi và Cao đi kiểm dầu thường xuyên kể từ lúc số dầu được chuyển ra mũi… Dạo sau này tôi cắt tóc ngắn, ngắn hơn các cậu con trai hippy nữa… Tự nhiên tôi muốn biến thành con trai khi nghe các vụ hải tặc Thái Lan, Mã Lai… Với chiếc áo lính bạc phếch và chiếc quần jean rách vá các hình lập thể, tôi trông giống các cậu hippy chính hiệu, gầy và mảnh khản … Khi ngồi quán cà phê với Cao, anh vẫn phàn nàn :
-Chú giống một tên xì ke chính hiệu và chú đẹp trai quá… gặp chú hải tặc nó cũng chẳng tha đâu!
Với chiếc kính cận ngụy trang tôi biết mình khá đẹp trai. Có một lần ngồi ở cà phê Cửu Long với Cao, Cô bé chạy bàn thì thầm với cô ngồi caisse : Đẹp trai quá mày ạ , giống Bảo Duy ghê… chắc em trai Bảo Duy…
Cao liếc nhìn tôi :
-Đi với chú, tôi lép vế quá, các cô chỉ nhìn thấy có chú thôi.
Với cái vỏ bọc con trai tôi tha hồ theo Cao đi tiếp xúc mà không bị chú ý … quán nhậu, cà phê, bãi biển … Cái dè dặt của Cao bổ sung cho cái nóng nảy của tôi… Cái nhạy bén của tôi bổ sung cho cái trầm tĩnh đắn đo của Cao… Nhưng có phải tất cả đã trở thành vô ích hay không khi công lao của chúng tôi đã trở thành dã tràng xe cát… Số dầu 2 ngày trước kiểm còn đầy đủ bây giờ không còn đến 1 phuy. Hai tên giữ dầu đổ lỗi cho nhau… trước sự thể đó, Phi lên F10 yêu cầu chở người về bãi cũ giải tán(cũng may là bãi mua nên việc trở về rất an toàn). Và Cao, anh như người điên lao vào đấm đá hai tên dân biển giữ dầu cao to lực lưỡng… Tôi vẫn đứng đó, lưng tựa vào tảng đá vôi lạnh lẽo, tự hỏi: sao chúng không chống cự lại nhỉ. Cứ như là tôi mất hết cảm giác, đứng vô hồn trong một trận đấu võ đài không cân sức, nhìn chiếc F10 lặng lẽ rời bãi, nhìn Phi loay hoay chuyển một mình số dầu còn lại lên F4… như những thước phim quay rất chậm, Phi nói :
-Thôi được rồi, mình về lại Ngọc Diêm, lên tịnh xá ngủ một đêm lấy sức mai về .
Câu nói thản nhiên như chúng tôi vừa về sau một cuộc du ngoạn nào đó… Phi giữ tay Cao lại:
-Về thôi, còn một ít dầu mai bán lấy tiền nhậu. Không lẽ anh tính giết tụi nó sao. Để mình đốt vài lít dầu cho nó tỉnh lại sợ chơi chứ giết nó thì… mặt mũi nào dám vác về Tịnh Xá ???
Phi dốc can dầu lên đám xương rồng giữa cồn và ném vào một que diêm…
Chúng tôi lên ghe, mở máy chạy về bãi sau Tịnh Xá. Đám cháy sau lưng chúng tôi bùng lên rực rỡ. Cao đứng thẳng, quay mặt nhìn đám cháy… Lửa soi rõ chiếc áo lính đứt khuy và nhiều vết trầy rướm máu. Phi và tôi ngồi trước mũi, Ánh lửa bập bùng trong mắt Phi… chúng tôi không nói lời nào, chúng tôi còn đạt cả mức độ thiền hơn hẵn thiền sư Soyen nữa… Thái độ không sợ hãi của một anh hùng… Không còn gì có thể đe dọa được chúng tôi khi chúng tôi tham dự vào trò chơi sống chết… khi chúng tôi đã bước một chân tới bờ biên giới tử sinh…
Chưa bao giờ tôi chứng kiến một đám cháy đẹp đến thế… những đốm lửa bay như pháo hoa trên nền trời đen thẫm và những vì sao sáng hơn bao giờ hết.
Chiếc F4 cập vào bãi sau của Tịnh Xá, nơi con đường mòn các cô vẫn xuống giặt đồ. Phi neo cho chúng tôi lên, Phi còn bổn phận đi cất thuyền và bán dầu nữa… Mãi đến khi nằm trên giường, mền đắp lên tận cằm với cơn lạnh còn phả khắp người, tôi vẫn thấy một bầu trời hồng bên ngoài cửa sổ…

CHƯƠNG 18 :

Tiếng con chim bay xoãi qua đập cánh mạnh làm những chiếc lá bồ đề rơi xao xác. Cao chống tay ngồi dậy, ngạc nhiên:
-Ra đây hồi nào, sao không gọi anh ?
Tôi im lặng chớp mắt thấy rưng rưng muốn khóc. Cao vẫn không cho tôi chia sẻ những lo âu mà anh giữ kín trong lòng. Cao phủi chiếc lá rơi trên vai tôi :
-Chắc chiều nay Phi có kế hoạch đón mình về, nhớ mẹ rồi hay sao mà buồn thiu vậy ?
Tôi lắc đầu… Cao vẫn đùa:
– Sao im lặng đáng sợ vậy cô nương , nói cái gì đi chứ !
Tôi nhìn những vết xướt rướm máu trên ngực anh, anh vẫn nói chuyện thản nhiên nhưng đôi mắt anh buồn vô kể… Nỗi uất ức nào đè nặng trên tim tôi, sao tôi không thể úp mặt vào ngực anh để khóc cho trôi đi hết những buồn phiền.
-Đốt cho anh điếu thuốc đi Diệp .
Tôi nhặt gói thuốc nằm trên cỏ, lấy một điếu và quẹt que diêm… que diêm tắt… trời không có gió, xanh và cao lồng lộng… tôi quẹt que diêm thứ hai với tất cả sự thận trọng không muốn Cao biết tôi đang run rẩy như thế nào… que diêm lại tắt khi chạm vào điếu thuốc… tôi rút cây thứ ba… Cao giữ tay tôi lại…tôi buông cả điếu thuốc lẫn hộp diêm xuống cỏ và thấy những giọt nước mắt buồn phiền, tức tưởi lăn trên má … Cao cúi xuống mồi điếu thuốc:
– thôi mà, khóc ướt hết cả thuốc lẫn diêm rồi!
Bàn tay anh dịu dàng xoa nhẹ hai dòng nước mắt. Tôi nghe tiếng bầy chim đập cánh trong khu vườn rộng, tôi nghe tiếng lá thì thầm xào xạc và tiếng Cao êm ả dỗ dành như những ngày tôi còn nhỏ dại :
-Thôi mà, thôi mà… Thử quên tất cả đi Diệp ơi !
CHƯƠNG 19 :

Trong giấc ngủ muộn và mệt nhọc , Cao lay tôi vội vã :
– Diệp ơi , Diệp ơi …
Tôi bàng hoàng mở mắt chưa ý thức được mình đang ở đâu , tôi chống tay ngồi dậy Cao nói :
– Bây giờ Diệp ở lại đây với Sư bà , anh về trước , chiều cô Diệu Hải sẽ đưa em về .
-Không , Diệp muốn về với anh.
Cao lắc đầu :
– Không được đâu , sau chừng ấy biến cố ??? Chúng đang truy nã anh dưới kia … Anh phải theo đường núi để về . Ở lại tối nay chúng sẽ lục tung Tịnh xá .
Tôi níu tay Cao, từ bao giờ tôi vẫn có ý nghĩ tôi luôn được một thiên thần che chở , chuyện gì xảy đến cho tôi cũng dễ dàng vượt qua hơn người khác , tôi muốn đi cùng Cao để san sẻ với anh những khổ nạn …
– Anh cứ ở đây , Sư bà sẵn sàng che giấu mình mà .
-không được đâu , rất phiền cho Tịnh xá …Chúng ta đã ở đây ba ngày rồi…Diệp thử tưởng tượng nếu chúng bắt anh tại đây .
tôi nhìn thấy một thứ ánh sáng khác thường trong đôi mắt Cao. Mới ba ngày thôi mà tôi có cảm giác hơn một trăm năm sống…Cao đứng thẳng , chiếc áo lính bạc thếch làm anh cao lớn và phong trần quá…Anh sẽ là người tôi muốn yên ổn tựa vào những lúc yếu đuối lẻ loi. Tôi không muốn nhắc những điều đã trãi qua dù những cơn ác mộng vẫn thường xuyên ám ảnh …
-Ba ngày rồi anh vẫn chưa thay áo .
Anh cười , (để tôi không có cảm giác cái không khí bi thảm của một cuộc chia tay?)
– Cái áo sô xanh của anh khô rồi đó , anh thay đi cho mát . Anh mặc áo sô trông nhẹ nhàng dễ thương lắm
-Dễ thương là nhờ mấy cái hình Diệp vẽ
-Sao anh ít khi mặc nó ?
– Bởi anh lớn rồi , anh đâu muốn Diệp nhìn anh qua hình ảnh trẻ thơ ! Và anh sợ rằng mặc nhiều lần nó sẽ phai cái hình bàn chân người đi qua đời tôi Diệp vẽ !
-không sao đâu , rãnh Diệp sẽ vẽ lại nhiều cái khác đẹp hơn !
Cao gạt những sợi tóc tôi lòa xòa trước trán :
-Thôi , anh phải đi đây Diệp .
Tôi cắn môi , tự nhiên nước mắt tôi ứa ra , mọi người vẫn cứ chọc tôi giòn cười tươi khóc…chẳng ai mau nước mắt bằng tôi.
Cao thay chiếc áo sô màu xanh nhạt …tôi đã vẽ lên đó một bàn chân trong những hình lập thể tím than . Rất ấn tượng ( Cao từng nói )
-Đừng khóc , Diệp , anh về trước , chiều nay cô Diệu Hải về Nhatrang mua thực phẩm cô sẽ chở em về tận nhà
Tôi nức nở :
– Đừng nói với Diệp như dỗ con nít, anh cứ giả vờ thản nhiên hoài, anh đã thấy trước những gì nguy hiểm sao không cho Diệp biết ?
Cao lại ngồi xuống. để tay lên vai tôi, dỗ dành :
-Nghe anh nói đây , không có gì nguy hiểm cả, hay nếu có thì rất ít. Anh điều tra kỹ rồi . Họ đang phong tỏa khu vực dưới quốc lộ chặn xét các xe cộ về Nhatrang vì họ nhận dạng được anh. Nhưng Phi đã có một chỗ quen đưa anh theo đường núi về ga Đại Lãnh … Đi ngược phía Bắc , Diệp yên tâm về trước vài ngày yên yên anh lại về … Mùa này thiên hạ vượt biên ào ào , tụi nó canh me lấy vàng chứ hơi đâu đi tìm anh.
Tôi vẫn linh cảm một điều gì bất ổn…Sẽ có một nguy hiểm nào đó mà không ai lường trước được, mọi việc không thể nào đơn giản như lời anh nói . Cao đứng lên , ngần ngại nhìn tôi:
-Nói cái gì đi Diệp , đừng im lặng như vậy .
Tôi có thể nói được gì ? Ngăn không cho anh đi ? Đòi đi theo anh ? Tôi đứng lên , tôi đi chân không nên chỉ cao ngang vai anh , tôi dúi mặt mình vào ngực anh để lau nước mắt , như úp mặt vào ngực ba tôi ngày nào đi thăm ba giữa những ngày ông đi cãi tạo …Cũng như ba tôi , mùi khói thuốc từ anh bao bọc tôi êm ả … tôi cũng hít hà đánh hơi như con chó con ngày nào…Anh ôm tôi , môi anh ngậm những sợi tóc tôi chắc mặn mùi nước biển. Tôi không khóc được nữa , chỉ muốn nhắm mắt chết thật bình yên trong giây phút này thôi.

Rồi như cơn mơ , khi hơi ấm từ ngực anh trở thành lạnh lẽo , tôi cũng lạnh điếng người dù hơi thở anh vẫn ấm áp trên mặt tôi , nhưng cái lạnh từ đâu sâu thẳm trong tim đang dâng lên …dâng lên…tôi thấy trong phút chốc , hình ảnh tôi trên đồi cát , áo trắng , tóc bay , ôm trong tay xác một con hải âu loang máu … Tôi cũng đang như con chim hải âu đó , run rẩy , thoi thóp những sinh khí cuối .

Rồi như cơn mơ , tôi thấy mình tựa cửa nhìn theo bóng Cao đi men theo con đường mòn dẫn lên đồi …Chiếc quần jean bạc và chiếc áo sô rêu đang xa dần… khuất trong bóng lá . Như lần nào tôi thầm thì : quay lại nhìn Diệp đi , quay lại nhìn Diệp đi…nhưng anh không quay lại , Sư bà đứng bên cạnh tôi cũng nhìn theo hướng Cao đi :
– Chiều nay Diệp về với cô Diệu Hải , xe Tịnh Xá về Nhatrang chở gạo và thực phẩm …Ơ kìa , sao kỳ vậy …
Tôi hốt hoảng nhoài người ra , Cao lăn xuống đồi trước khi tôi nghe tiếng súng hay gần như tôi không hề nghe tiếng súng. Bằng một phản xạ không ngờ được , tôi chạy bay về hướng đó , các cô chạy theo níu lại , thảng thốt :
– Không được , Diệp ơi , nguy hiểm lắm …
Nhưng không còn một nguy hiểm nào đe dọa tôi được nữa…Tôi đã chia chung với anh những giờ hạnh phúc và tôi phải chịu chung cùng anh cả những phút nguy nan…Tôi không để ý đến hai chân không vấp vào những cạnh đá xanh rướm máu, Tôi không còn sức để chạy nên lết đến bên anh, một tên du kích quay lại khóa chặt tay tôi …Tôi ngẩng đầu lên hất những sợi tóc bay phủ mắt , tôi không nghĩ là mình đã bị bắt . Phút này đây , chân trần và tay không tôi đã đến với Cao, tôi khụy xuống cạnh anh nhìn chăm chú vào những hình lập thể tím than trên ngực áo . Sao lại có màu đỏ này nhỉ ? Tôi chúa ghét màu đỏ, và tôi nhớ tôi không pha màu đỏ bao giờ …Vệt đỏ loang rộng từ từ , từ từ , hình như vệt máu , Tôi lại nhớ tới vệt máu trên chiếc khăn quàng cột chặt tay anh ngày nào trên bãi Xuân Ninh…Tôi lại nhớ vệt máu trên đôi cánh con hải âu bị thương tôi nhặt được trên một đồi cát ở Cà Ná.
Khuôn mặt Cao hơi ngước lên , đôi mắt anh mở hé…Mẹ tôi thường nói đó là đôi mắt của những người đang chiêm bao trong giấc ngủ …Tôi cúi xuống , nước mắt tôi nhỏ trên mặt anh…Không có ngón tay anh xoa dịu dàng lên mặt tôi , không có tiếng nói anh dỗ dành tôi quên lãng . Một người nào đó níu tôi đứng lên :
-Chị Diệp về lại Tịnh xá đi , em sẽ đưa anh Cao về NhaTrang
Tôi quay lại , cũng Minh , nó đó sao ? Sao nó lại vừa cứu tôi vừa giết tôi như thế . Nó biết tất cả và nó để chúng tôi loay hoay trong cái vòng tròn nó vẻ . Tôi không còn đủ thì giờ để suy nghĩ, nó giục giã :
– Em sẽ nói hết sau. Chị về ngay đi , tụi nó ào xuống bây giờ thì em chẳng làm gì được nữa …
Sư bà từ sau ôm tôi , mấy cô vừa khóc vừa dìu tôi đi . Thấp thoáng tôi thấy trước mắt dáng Cao in sừng sững lưng đồi. Anh cười với tôi , môi nhếch lên vừa đủ thấy cái răng khóe nhọn , nụ cười nửa miệng đểu giả một cách dễ thương…Nắng sớm rơi trên tóc anh sao vẫn vàng trong buồn bã …tôi nghe tiếng anh dịu dàng hơn bao giờ hết : nói cái gì đi Diệp , đừng im lặng thế !
Tôi vuột khỏi tay Sư bà , chạy vội theo anh , tôi sẽ ngã vào tay anh , tôi sẽ úp mặt vào ngực anh thơm mùi khói thuốc , tôi sẽ nói : Cao ơi , cho Diệp theo anh , cho Diệp đi với mà anh

TÔN NỮ THU DUNG ( NHATRANG 1979)

Cà phê một mình

tranngochuong

Đất trời tơ nhện giăng mưa,
Một mình anh, một quán trưa, chốn này.
Thả hồn theo cánh thơ bay,
Cà phê sóng sánh hao gầy dáng quen.

Thoảng lên từ tách thơm đen,
Tình thơ tóc ngắn bóng em rất gần.
Đâu câu lục bát phù vân,
Trăm năm lối rẽ căn phần là đây.

Hẹn nhau ngồi lại giữa ngày,
Em cho anh trọn vòng tay dịu dàng.
Ru nhau giấc ngủ muộn màng,
Khơi lên đốm lửa bếp tàn cõi thơ

Từ bao giờ đến bao giờ,
Yêu nhau ráo bãi cạn bờ phù sinh.
Nơi kia ngồi quán một mình,
Cà phê em có đọng hình bóng anh?

Ấm miền nhân thế yên bình,
Miên man trăm ý thơ tình về đâu.
Giọt cà phê đắng thơm lâu,
Tình yêu nối kết hai đầu quán trưa

Trần Ngọc Hưởng

hạt lựu chiều hôm

lephuhai

buổi chiều vàng áo mỏng
đuôi mắt giấu nụ cười
hạt lựu cắn trên môi
vỡ ra màu đỏ nhạt

giữa đời ôm đàn hát
nghe sông suối quanh co
một mình nên âu lo
thương ai sầu quá thể

mắt em buồn nhân thế
anh xin làm mi ngoan
bàn chân em gót son
anh sẽ là viên sỏi

người ơi kìa tóc rối
lược- anh cứ chải đầu
anh xin sợi tóc rầu
trên vai em nhỏ nhắn

lỡ thương nên chắc hẵn
nhớ lắm lúc đi xa
trái tim anh bao la
người ơi xin giữ lấy

chẳng có gì nghịch lý
trong chuyện ta yêu nhau
nên người ơi đi mau
chân anh đang vội bước…

LÊ PHÚ HẢI

Tháng bảy tro bụi

tuankhanh

Tháng bảy âm lịch. Ngày gần cạn, ngôi chùa nhỏ gần nhà gửi thư lần chót nhắc các gia đình có hài cốt thân nhân nhớ làm trọn bổn phận làm con.

Thư của chùa nhắc nhở chung, bởi rất nhiều gia đình sau khi gửi hài cốt cha mẹ vào chùa, kể như là trọn bổn phận. Quanh năm có những hương phần bụi bám dầy, không còn thấy rõ mặt người. Thậm chí, có những phần nằm im không ai thăm viếng đến cả chục năm.

Sư ông kể đã có lần, chùa phải kêu gọi bá tánh giúp đỡ, đem hàng trăm hương phần như vậy, chở lên tàu, đưa ra sông làm lễ rãi đi. Những tro bụi còn lại của những người quá cố, quanh năm không còn ai thăm viếng, có cái chuột chạy làm ngã, đổ bể, không có ai dựng lại. Tro rãi trên sông, bay đi theo gió, đôi khi có thể còn tự do và đỡ buồn tủi hơn năm im ở góc nào đó để gánh vác cho vinh danh hiếu tử cho người còn sống.

Tất cả rồi chỉ là tro bụi, thậm chí là tro bụi trong trí nhớ của người đang sống. Phật dạy mọi thứ thật vô thường nhưng có chứng kiến, mới thấy vô thường không chỉ ở nhục thân, mà vô thường đeo dẳng trinh đời người, tạo ra muôn vàn vô nghĩa cho đến khi ta giật mình nhận ra.

Trong những câu chuyện võ hiệp kỳ tình phiêu lưu của nhà văn Kim Dung, thường những cái kết truyện của ông luôn làm người đọc nao nao, vì nhận ra sau những cuộc bể dâu, ngay cả người đạt được tất cả cũng muốn lìa bỏ vì thấy mọi thứ trên cõi nhân gian đều như tro bụi. Vinh quang, tước vị, quyền lợi, tài sản… tất cả như những cái bẫy để con người nhận diện ra mình đê tiện hay hèn hạ mức nào.

Trương Vô Kỵ chỉ mong rõ bỏ mọi thứ, để chỉ được kết thúc cuộc đời vô danh kẻ chân mày cho người đẹp Triệu Minh. Thiên hạ vô địch Dương Quá thì chỉ mong bước ra khỏi nhân gian, mong được sống và chết trong im lặng để không còn nghe tiếng lao xao trần thế. Trong một lần trả lời với báo chí, nhà văn Kim Dung nói rằng trong các mối tình mà ông dựng nên – Dương Quá và Tiểu Long Nữ là đôi danh hiệp mà ông thích thú vì thách thức mọi lề thói và đạo đức giả tạo của nhân gian, vì có sống cho vừa lòng ai, thì cuộc đời cũng như giấc mộng trôi về tro bụi.

Tháng bảy nhắc người ta về hiếu đạo, nhắc người ta rằng mọi thứ về cuộc đời rồi sẽ đến lúc như tro bụi, vô nghĩa. Dẫu vật nài, giành cho được về phần mình, thì rồi cũng về cõi hư vô.

Vua Quang Trung khi lên ngôi Hoàng Đế năm 1788, để thị uy đã quật mộ thân phụ của vua Gia Long rồi vất bỏ xuống sông. Đến năm 1802, Nguyễn Phúc Ánh giành lại vương quyền, đã quật mộ và nghiền nát hài cốt của anh em Nguyễn Huệ để rửa hận. Lịch sử như một bài hát khôn cùng về cõi người và tro bụi.

Tháng bảy liêu xiêu, nghe người ta nói nhiều về được và mất. Có người buồn vì thấy mất tên trong một bản in, có người mất vì thêm những dấu sắc trong một áng văn của mình.

Nhưng khó mà biết, ai là người được, ai là người mất. Có khi tên không còn được khắc bảng, nhưng được nhớ mãi trong lòng người. Có khi mất một chỗ ngồi tiểu lộ, lại thấy đại lộ thênh thang rộng mở trước mắt mình. Trong bài hát Những gì sẽ mang theo vào cõi chết của Phạm Duy, ông cũng để lại những chú giải về cuộc được mất với đời này: “không đem theo với tôi được giới hạn tiếng anh hùng, tôi không đem theo với tôi được tượng đồng bia đá trắng”.

Kẻ ác có làm tất cả để thoả mãn cho mình, tương lai cũng chỉ là tro bụi. Vạn lý trường thành xây nên bằng khôn xiết bao xương máu dân lành, giờ chỉ là chỗ bán vé vào mua vui cho lũ trẻ. Có những triều đại độc tài, giết chết ai đó chỉ bằng một vài con chữ, rồi ngày sau quyền lực đó chỉ còn là tro bụi, bêu danh cho đời sau phỉ nhổ.

Chuyện kể rằng Tào Tháo đi đánh giặc xa, lương thực không đủ, quân lính oán thán và suy sụp tinh thần. Muốn quân không loạn, Tào Tháo thuyết phục quan giữ kho lương rằng hãy nhận giùm tội tham nhũng, nhưng bù lại sẽ được phát thẻ để vợ con được ăn lộc suốt đời. Ngày quan giữ kho bị chém và tin rằng mình là một anh hùng cứu nước, thì cũng là lúc vợ con của ông được phát thẻ hưởng lộc. Thẻ mua tro bụi ấy, thẻ gì?

Tháng bảy dành cho những giờ phút nghĩ lại. Có thể Sư ông không sai khi tiễn những tro cốt vô danh vào thế giới. Có thể đó là sự giải thoát cuối cùng mà những hương phần đó, vốn đã phải chịu đựng bấy lâu nay cho vỏ bọc hiếu nghĩa của con cái, cho phần còn sót lại, cứ phải bấu víu cuộc đời thường. Tiếng đọc kinh đều đều như lời chúc bình an cho lộ trình mây trắng. Thật an nhiên.

Chúng ta có là tro bụi, hay đang mãi miết đuổi theo tro bụi không?

Tuấn Khanh ‘s Blog

KHÚC THÁNG CHÍN

tonnuthudung

Gác kiếm người xưa quy ẩn
Giang hồ chưa chắc lòng nguôi
Chỉ sợ nhớ thời giông bão
Lời thề lại xóa mất thôi

Qua sông, mịt mờ cố xứ
Ngửa tay, hứng giọt sương buồn
Tiếng sóng, tiếng lòng tan vỡ
Cuối trời… mây khói mênh mông…

Cúi xuống, soi mình bóng nước
Một vầng trăng khuyết chông chênh
Dáng mong manh gầy thuở trước
Chớp mắt… đã là lãng quên.

Bắt chước người xưa quy ẩn
Đừng gọi tôi hoài…lênh đênh
Bắt chước người xưa lận đận
Tình tôi,
chao đảo thác ghềnh…

Tôn Nữ Thu Dung