CHÚA, TA VÀ EM

vudinhhuy

Từ em
son phấn lên môi
Ta lê bước Chúa
quanh đồi
nhân gian

Ta về
bại tướng huênh hoang
Câu thơ tiếu ngạo
lan man phận người

Em là ai
nhan sắc ơi
Ta là ai
giữa cõi người
mù câm

Em gieo tình xuống
cõi trần
Ta say
cởi áo thánh thần
khoác lên

Chúa ơi
chuông,
tiếng
nửa đêm
Bàng hoàng Nhật Nguyệt
bên thềm
níu nhau

Mù giăng đến tận
ngàn sau .

VŨ ĐÌNH HUY

KHÔNG ĐỀ

nguyennhumay

Chính ta ,
kẻ đã điêu tàn
Uống xong chén rượu thu vàng
về đây
Ngồi chờ ngày tháng tàn phai
Trốn vào trong núi
đắng cay một mình
…
Chính ta,
kẻ đã lênh đênh
năm mươi năm mãi đi tìm chiêm bao
– có gì ngoài cõi trăng sao
Treo trên trái đất bạc màu thế gian…
…
Chính ta,
kẻ lại lang thang
Mặc cho em rót trăng vàng
đầy ly
Ngày mai ta sẽ ra đi
Với thu vàng
mới vừa về trên vai
…
Chính ta ,
kẻ chẳng còn ai
Để chia hớp rượu
rồi mai
qua đời…

NGUYỄN NHƯ MÂY

TRÊN CHUYẾN TÀU VỀ QUÊ ĂN TẾT

elenapucillo

Elena Pucillo Truong
(Nguyên tác: il mio ritorno in paese)

Bản dịch của Trương Văn Dân

Mệt mỏi! Chiếc xe lửa liên tục dằng xóc tạo nên những va đập trên lưng làm toàn thân tôi ê ẩm. Có lúc cơn mệt nhọc đã làm tôi thiếp đi trong một giấc ngủ ngắn, rồi giật mình thức giấc vì cái đầu lắc lư, đập lên thành toa, đau điếng.
Nhưng không phải cơn mệt mỏi hay sự thiếu tiện nghi đang làm tôi khó chịu mà chính là cảnh hành khách bị nhồi nhét trên toa. Nhiều người bị chèn ép, nửa nằm nửa ngồi giữa những hành lý ngổn ngang: vali, giỏ xách, thùng giấy được bó, cột sơ sài; Ngoài tiếng ồn còn có thêm tiếng khóc inh ỏi của các bé. Đó đây lốn nhốn những thân hình lèn sát vào nhau để chống lạnh hay để làm giảm sự cứng rắn của những thanh gỗ ghép làm lưng dựa và ghế ngồi.
Bao nhiêu nhọc nhằn mà hành khách phải trải để có được vài ngày vui Tết với những người thân! Nhiều người trong số họ đã phải làm việc tất bật suốt một năm dài, chắt chiu để có thể dành dụm được ít tiền trang trải cho chiếc vé về quê ăn Tết; Mà mua được một chiếc vé trong những ngày cuối năm là có thể tự xem mình may mắn, là đạt đến đích sau những vật vã, lăn lộn giữa muôn vàn khó khăn, chen lấn.
Niềm hạnh phúc ấy thật nhỏ nhoi, dù đổi lại là một chỗ ngồi chẳng mấy tiện nghi. Nhưng chắc chắn có người vẫn đang nghĩ là dù có phải bó gối ngồi nép mình trong suốt chuyến đi trên băng gỗ cũng vẫn hơn là phải ép xác trên những chuyến xe đò nguy hiểm, nhồi nhét người lẫn đồ vật, có khi có cả gà vịt, xe máy dưới ánh nắng gay gắt ban ngày và cái lạnh buốt giữa đêm khuya.
Và, trong những ngày này, dù chọn bất kỳ phương tiện nào, giá vé cũng có thể tăng gấp hai, gấp ba… những ngày thường! Thế nhưng các hành khách cũng đành phải chấp nhận vì trong những tình huống dù xấu đến đâu con người vẫn phải bám vào một lý do gì đó để tự cho là mình may mắn.
Đây là tất cả những ý nghĩ đã chồng chất lên nhau trong đầu tôi giữa những cơn ngủ gật. Tôi đã may mắn lắm mới có được một chỗ ngồi trên toa tàu này, ngay lúc cảm thấy mình tuyệt vọng và sắp sửa từ bỏ ý định về quê ăn Tết. Tôi không muốn nhớ đến những tằn tiện của mình để có thể góp nhặt được số tiền, bước đến quầy mua chiếc vé ước ao… rồi bẽn lẽn biết vẫn chưa đủ vì những ngày cận Tết giá vé đã tăng! Hoàn toàn tuyệt vọng! Phải làm gì bây giờ? Làm sao tôi có thể tìm được số tiền còn thiếu trong ngần ấy thời gian?
“Chiều tôi sẽ quay lại!”
Tôi nói thế nhưng không tin là mình có thể quay lại! Rồi, như một phép lạ, cuộc gặp tình cờ với một người bạn cũ… và đây là những tờ bạc còn thiếu để có thể mua được tấm vé tàu mơ ước.
Đã 3 năm rồi tôi không thể về quê và nhiều lúc tôi cảm thấy mình có tội vì không gặp mẹ trong suốt quãng thời gian ấy. Mỗi lần nói chuyện với bà qua điện thoại tôi thường cố kìm lòng không khóc để bà khỏi nhận ra là trong lòng tôi đang đau đớn xiết bao. Chẳng những không khóc tôi còn cố vui cười nhiều hơn bình thường, khen ngợi và chia sẻ về những gì bà kể, dù trong đầu tôi lúc nào cũng chất đầy lo lắng về một tương lai vô định. Qua đường dây điện thoại, nghe giọng nói của mẹ tôi thường hình dung đến đôi mắt trũng sâu của bà, người mẹ chất phát và đơn giản, nhớ đến đôi bàn tay xương xẩu và sần sùi, mỗi ngày mỗi khô khốc từ mưa nắng sau nhiều năm phơi người trên đồng ruộng.
Mẹ tôi thường lạnh lùng và nghiêm khắc nhưng đôi lúc mẹ cũng hết sức ngọt ngào. Cách đây vài tuần, trước khi tôi bước lên toa tàu này, mẹ có gửi cho tôi một bức thư, mà giờ tôi vẫn còn mang theo bên mình. Nó như một hòn than đỏ và nóng bỏng đang âm ỉ trong túi áo của tôi, những lời bà viết giờ tôi đã thuộc lòng, như thể đó là những dấu ấn bằng lửa in hằn lên tâm trí.
“ Con yêu thương! có bao điều mẹ muốn nói với con, vì mẹ hiểu là trong lòng con đang chất chứa rất nhiều nỗi đau… Điều làm mẹ đau lòng nhất là mẹ không thể làm gì được cho con, bởi mẹ ở quá xa và một bà già quê dốt nát như mẹ thì đâu biết có gì về những chuyện trong một thành phố lớn; Thế giới ấy quá xa lạ với trí óc của mẹ… Từ lúc sinh con ra mẹ chẳng cho con được gì… mẹ không biết là mình còn thời gian để có thể cùng đón một cái Tết nữa bên nhau… Nhưng dù sao mẹ cũng cảm ơn con đã hiện diện ở cuộc đời này”
Phải chi đó là một bức thư nguyền rủa và oán trách vì tôi không thường xuyên gọi về thăm mẹ… rồi ý tưởng là sẽ không còn thời gian để cùng mẹ đón ông bà trong những ngày đầu năm làm lòng tôi tơi bời và đau khổ. Bức thư ấy, đọc đi đọc lại nhiều lần rồi bỏ vào túi áo, thực tình là tôi không hề chờ đợi. Và chính vì bức thư đó mà lần này tôi đã cố gắng hết sức để có thể về thăm nhà.
Tôi nghĩ đến tất cả những điều này trong lúc chiếc xe lửa vẫn tiếp tục lao tới. Trong đêm những tiếng ồn trong toa như bị làm nhỏ lại, bị che lấp bởi tiếng bánh xe nghiến trên đường sắt. Tuy nhiên cuộc hành trình cũng có nhiều lần dừng lại, rất lâu, trong bóng tối, để xe lửa có thể tránh những chuyến tàu ưu tiên. Nơi chờ đợi là những bãi đậu có đường ray phụ, nằm giữa vùng quê hay núi rừng hoang vắng. Thỉnh thoảng tôi có nghe tiếng khóc của một vài em bé, tiếng hát ru con của các bà mẹ, vài tiếng nói thì thầm hay tiếng ngáy của vài người khách. Những khoảng không gian ban ngày bỏ trống như lối đi chính giữa, giờ đây đã được lấp đầy bởi những thân người nằm la liệt, họ xem nơi đây là một chỗ ngủ khá tiện lợi, chỉ cần trải lên sàn một vài tờ báo. Ở phía xa hơn tôi còn nhìn thấy mấy anh bộ đội, đang ngồi chơi bài với mấy chàng sinh viên, thỉnh thoảng cười lên vui vẻ. Các anh mặc áo thun ba lỗ màu xanh, chiếc áo đồng phục đã được cởi ra và gấp cẩn thận với chiếc mũ lưỡi trai, đặt trên giá hành lý để khỏi bị nhàu nhò trong cuộc hành trình.
Trước mặt tôi có một cô gái đang nghiêng mình, ngồi áp đầu vào ngực bạn trai bên cạnh. Cô ta đang ngủ, còn anh bạn thì đang ôm cô vào lòng dù thế ngồi không mấy thuận tiện cho lắm. Thỉnh thoảng anh cúi xuống nhìn cô gái hay kéo lọn tóc dài của cô đang rớt xuống phủ mặt. Cảnh âu yếm đó thật dễ thương, và lòng tôi bất chợt dấy lên một chút ganh tị. Trong một thoáng tôi ước muốn là mình cũng được yêu thương và che chở… muốn đổi cuộc đời tôi với cuộc đời cô ấy… nhưng giật mình vì ý nghĩ ích kỷ này thật bất công cho cô gái, có thể tôi sẽ có một cuộc đời tốt đẹp hơn… nhưng tội nghiệp, cô ta sẽ mang lấy tất cả những bất hạnh của đời tôi!
Tôi nhắm mắt cố ru mình vào giấc ngủ cùng với ước mơ là khi mở mắt sẽ bất ngờ nhìn thấy mình ở một nơi khác, trong một thế giới khác, xa thật xa với tất cả những điều đang làm tôi lo nghĩ và khổ đau.
Bao nhiêu lần rồi, mẹ ơi, con vẫn chưa dám kể cho mẹ biết! Con cũng chưa dám kể với mẹ là con đã làm như thế nào để có thể trở về nhà đón tết cùng mẹ. Bao nhiêu đêm rồi, con về nhà rất trễ sau khi làm hàng nghìn công việc, bao nhiêu cánh cửa đã dập trước mắt con, từ những người chỉ cần búng ngón tay là có thể giúp được con. Có một thời gian con tìm được một việc làm mà con tưởng là đã giải quyết được vấn đề của mình. Buổi sáng con có thể đến trường đại học còn buổi chiều và buổi tối phục vụ trong một nhà hàng. Tất cả trôi qua bình yên cho đến một hôm, một thực khách, sau một chầu say xỉn, đã giở trò bông lơn rồi sàm sỡ, sờ soạn lên người con.
Bằng tất cả sự bình tĩnh và dịu dàng con đã yêu cầu ông ta không nên làm thế nhưng chỉ làm ông ta giận dữ thêm lên. Con không biết điều gì đã đến trong đầu ông ta, mà, như trong một cơn điên, ông hất đổ nồi lẫu đang sôi vào người con. Cho đến lúc này con vẫn còn nghe tiếng thét của mình và tiếng còi hụ của chiếc xe mang con đi cấp cứu. Và sau đó, khi trở về nhà, con tháo gỡ tất cả các gương soi và phủ kín các cửa kính trong cái ổ chuột gọi là “nhà” của con. Con không có đủ can đảm để nhìn khuôn mặt mình bị biến dạng, cái đầu không tóc và một cánh tay bị bong da. Sau đó, chừng gần một năm dài tóc mới mọc lại và một chiếc thẹo xấu xí nằm trên khuôn mặt để nhắc con nhớ đến câu chuyện đau lòng đã xảy ra…
Về sau con đã tìm mọi cách để che dấu cái thẹo kinh khủng ấy với những lọn tóc uống quăn và phủ xuống mặt. Con thường chọn chỗ ngồi bên góc, cạnh cửa sổ để không ai nhìn thấy. Tuy vậy, thỉnh thoảng con vẫn nhìn thấy bóng mình hiện trên mặt kính rồi phải giật mình cố nghĩ là mình đang nhìn một ai khác. Một cái “tôi” của con thuộc về quá khứ mà con phải mang theo.
Có một quãng thời gian con gần như không đủ can đảm bước ra khỏi nhà. Nhưng dần dà tóc cũng mọc lại, và con đã có thể đi dạo mà không sợ bị người ta nhìn thấy. Rồi về sau con tìm được một việc làm khác vào buổi sáng sớm hay buổi chiều tàn, những công việc không cần ngoại hình xinh đẹp : quét dọn và lau chùi trong các văn phòng. Bằng cách ấy con đã có thể dành dụm tiền để trang trải cho chuyến về quê và đáp ứng lời kêu gọi của mẹ.
Một cú giật mạnh và chiếc xe lửa bắt đầu chạy lại sau nhiều lần ngừng tương tự. Tôi mở mắt và nhìn thấy ánh nhìn của một trong mấy chàng sinh viên lúc nãy chơi bài với các anh bộ đội. Trước đó tôi cũng đã nhận biết sự chú ý của anh ta, nhất là lúc tôi giả bộ ngủ. Thấy tôi đang ngủ nên có lẽ anh ta mạnh dạn hơn và tôi đã cảm nhận đôi mắt của anh ngừng lại khá lâu trên người … chỉ vài phút và khi tôi bất thần mở mắt làm anh giật mình quay nhìn về hướng khác.
Tôi có thể ngay lập tức tháo gỡ cho anh ta những ảo ảnh bằng cách chìa ra khuôn mặt có chiếc thẹo của mình. Chắc chắn đó sẽ là một cú schock cho anh!!
Nhưng có quan trọng gì đâu!…Tôi cứ để anh ta tự do nhìn ngắm và cũng không muốn phá huỷ cái cảm xúc về một câu chuyện đẹp đang hình thành trong trí tưởng của anh. Và làm thế khác nào tôi cũng từ bỏ cho mình một niềm hạnh phúc trong một cuộc đời khác.
Trời bắt đầu sáng, bình minh đang lên, và toa tàu cũng bắt đầu sinh động. Có tiếng điện thoại reo, tiếng nói chuyện thì thầm trộn lẫn với tiếng khóc của trẻ con… Một vài người khó nhoc, vừa vịn vừa đi, tránh các thân thể nằm trên lối đi để tìm đường ra toilet.
Có lẽ cũng là lúc tôi phải duỗi chân một chút và đi rửa mặt. Anh chàng sinh viên hay e thẹn lúc này đang còn ngủ và trời cũng chưa sáng lắm để anh ta có thể nhìn thấy vết sẹo trên mặt tôi.
Vượt qua bao chướng ngại, tôi đi cẩn thận và cố gắng tránh không dẫm phải ai trên đường đi.
Khi quay lại, tôi đi theo lối cũ nhưng lần này dễ hơn vì đã có vài người thức dậy, lên ngồi trên băng, đỡ em bé đang nằm trên ghế hay xích ra ngồi ở trong góc. Một vài người mở hành lý, tìm vật gì trong túi xách hay trong các thùng, gói đặt dưới ghế rồi lôi ra một chai nước hay vài thứ đồ ăn…
Có lẽ chì vài phút nữa sẽ có người đẩy xe đi bán cà phê và các thức điểm tâm. Ừ, một tách cà phê nóng lúc này có thể giúp tôi sưởi ấm bên ngoài lẫn bên trong. Bao nhiêu lâu rồi tôi không hề biết thế nào là tình yêu, niềm vui hay tình cảm… trong tất cả mọi thứ tôi làm không có tình yêu và trong cuộc đời tôi chưa bao giờ có niềm vui và cũng chẳng hy vọng là sẽ có trong tương lai.
Mà đủ rồi! Chỉ còn vài giờ nữa là tôi sẽ đến nơi. Hai bạn trẻ ngồi trước mặt tôi bây giờ cũng đã thức, cô gái đang soi guơng để chải lại mái tóc trong khi anh bạn đùa giỡn, lấy tay kéo những lọn tóc vừa được chải và bó vào một cái đuôi dài. Có lẽ họ chỉ trẻ hơn tôi chừng vài tuổi mà trông họ hồn nhiên như trẻ thơ trong khi tôi lụ khụ như một mụ già.
Anh chàng sinh viên lúc này cũng đã thức giấc. Anh mở mắt nhìn tôi giống như một em bé vừa thức dậy trong đêm Giáng Sinh và nhìn thấy những món quà của ông già Noel mang lại. Rất tiếc là tôi không thể nói với anh là mình rất muốn được là một món quà cho anh, lời hứa về một tương lai bình an và tươi sáng.
Thế nhưng tôi cũng dịu dàng nhìn lại anh và mỉm cười, như thể cám ơn anh về phút giây lãng mạn và đầy những ảo ảnh mơ mộng này.
Cuối cùng rồi chiếc xe bán cà phê cũng đến. Tôi gần như không nhận biết vì lúc đó cũng đang ngủ gà ngủ gật. Tôi lục túi xách chuẩn bị ít tiền để khỏi mất thời gian khi chiếc xe đẩy đến gần.
Cô gái bán hàng bước đến, nhưng tôi chưa kịp gọi thì cô ta đã mang đến cho tôi ly cà phê bốc khói và trong lúc tôi đưa tiền thì cô mỉm cười nhìn tôi rồi chỉ tay về phía chàng sinh viên:
Đã thanh toán rồi! Anh ta mời chị cà phê. Chúc chị vui vẻ!
Tôi gật đầu cảm ơn. Có lẽ anh ta không đến nỗi nhút nhát như tôi tưởng. Nhưng bây giờ chỉ còn ít phút nữa thôi và tôi cần phải chấm dứt cái trò chơi trốn tìm này trước khi nó trở thành khó xử. Và có lẽ anh chàng sinh viên kia cũng đã hiểu rằng tôi chưa “ngã” nên, hơi thất vọng, anh ta cũng bắt đầu thu xếp hành lý.
Mấy anh bộ đội lúc này cũng đã mặc đồng phục, họ đang vuốt tóc vừa thấm nước khi rửa mặt ngoài bồn và đang ngắm mình vào tấm kính trên thành xe lửa để sửa chiếc mũ. Tôi cũng nhìn ra ngoài, những cánh đồng thẳng tắp, xóm làng và những mái nhà tranh, cảnh thôn quê với những con đường nhỏ có đàn vịt đang lạch bạch ra ao. Lúc còn ở thành phố, tưởng nhớ về màu sắc ở thôn quê, đến những màu xanh lá mạ và màu vàng của mùa lúa chín thường làm lòng tôi dịu lại. Rồi tôi nghĩ đến màu nước lấp lánh trên những dòng sông, đến những đồng ruộng trâu cày trước mùa gieo mạ rồi nhớ đến những phụ nữ chân lấm tay bùn suốt ngày phơi mình trên đồng ruộng… rồi tôi còn nhớ đến những cánh cò trắng bay lượn trên bầu trời xanh lơ trước khi đáp xuống… hay những đám lúa bị gió làm cúi rạp mình trông như biển xanh đang gợn sóng… ôi, thân thiết biết bao bầu trời của tuổi thơ, nó hằn lên tâm trí tôi càng thêm sâu đậm từ ngày tôi phải rời xa để sống trong thành phố.
Và chính vì những hình ảnh thân thiết này mà tôi phải về quê, để tìm lại cảm xúc ngày nào, như có thể uống cạn nó để có thể tiếp tục đi tới.Tôi muốn tìm lại vài phút giây hạnh phúc, bình an và được ngã vào vòng tay của mẹ thêm một lần nữa. Tôi hình dung đến phút giây cảm động này trong khi chiếc xe lửa đang bắt đầu vào sân ga và chợt mỉm cười khi thấy chàng sinh viên đang tiến đến gần, lúc này dường như anh không còn vẻ nhút nhát mà có lẽ đang chuẩn bị tấn công.
– Tôi có thể mang giùm chiếc vali cho cô không? Anh hơi ngập ngừng nói với tôi.
Đột nhiên tôi cảm thấy mình thật lạ và dường như chiếc thẹo trên mặt tôi cũng vừa biến mất, có gì quan trọng đâu… nó chỉ hiện diện trong hồn tôi … nhưng trong thế giới này còn có nhiều chuyện trầm trọng hơn nhiều, còn tôi thì chỉ muốn có được một tẹo hạnh phúc. Tôi chuyển chiếc vali cho anh, hai bàn tay chúng tôi chỉ tình cờ chạm nhau mà tác dụng như một sự chạm điện. Tôi ngước mắt nhìn anh và thấy anh cũng đang nhìn lại tôi. Và dường như anh không có vẻ giật mình:
Đừng bận tâm! Với tôi, cô vẫn còn đẹp lắm!!!

Bản dịch TRƯƠNG VĂN DÂN

TƯƠNG TRI 14

Screen Shot 2014-04-07 at 10.15.55 PM

TƯƠNG TRI SỐ 14
THÁNG 3-2014
KHỔ 5.5 x 8.5
200 TRANG

◎ÂU THỊ PHỤC AN◎BÙI LÊ VI QUYÊN◎BÙI THANH XUÂN◎CHU THUỴ NGUYÊN◎DAO LAM◎ĐẶNG CHÂU LONG◎ĐẶNG TIẾN◎ ĐINH THẬP NHỊ◎HẠC THÀNH HOA◎HỒ VIỆT KHUÊ ◎HOÀNG KIM OANH◎HUỆ NGUYÊN◎HUỲNH VĂN THỐNG◎KHUẤT ĐẨU◎LÊ VĂN HIẾU◎LINH PHƯƠNG◎MAI THANH VINH◎NGÃ DU TỬ◎NGỌC BÚT◎NGUYÊN VI◎NGUYỄN ĐÌNH BỔN◎NGUYỄN HOÀNG QUÝ◎NGUYỄN LÃM THẮNG◎NGUYỄN NGỌC NGHĨA◎NGUYỄN NGỌC THƠ◎NGUYỄN SƯ GIAO◎NGUYỄN TẤN CỨ◎ NGUYỄN TẤN ON◎NGUYỄN TẤN SĨ◎NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH◎NGUYỄN THỊ NGỌC LAN◎NGUYỄN THỴ◎NGUYỄN TRÍ◎NGUYỄN VĂN LÂN◎PHẠM HOÀI NHÂN ◎ PHẠM KHÁNH VŨ◎PHẠM LÊ HUY◎PHẠM NGA◎PHAN ANH DŨNG◎PHÙ DU◎QUỲNH ĐỎ ◎SƯƠNG NGUYỄN◎TÂM NHIÊN◎ TÔN NỮ THU DUNG◎TÔN NỮ THU NGA◎TRẦN DZẠ LỮ◎TRẦN THỊ TRÚC HẠ◎TRẦN THIÊN THỊ ◎TRẦN THOẠI NGUYÊN ◎ TRẦN VĂN NGHĨA◎TRẦN VẤN LỆ◎TRƯƠNG QUANG KHÁNH◎TRƯƠNG VĂN DÂN◎TỪ KẾ TƯỜNG ◎VĨNH HIỀN◎VŨ ĐÌNH HUY◎VŨ NGỌC GIAO◎XUÂN PHONG◎

 

AMAZON.COM

THINH KHÔNG

nguyentancu

Người về như tiếng chuông
Gióng lên ngày trưa muộn
Gióng lên chiều ham muốn
Chuông rung tràn hư không

Người về bùng hoang mộng
Sương sương ngập nụ hồng
Hồ không không thường trú
Xanh xanh ngàn mây …xanh

Người về …quanh dốc quanh
Quanh kiếp người mây trắng
Quanh kiếp người mưa động
Đau thắt hồn …thinh không

Thinh không hề thinh không
Thông thống mộng đại ngàn
Trường giang hồ biếc ..nhạn
Bạch như lòng đang …Sông…

NGUYỄN TẤN CỨ

MƠ TÌM LẠI NƠI XA

tranvannghia

Ngôi biệt thự cuối dốc cầu giữa phố
Mỗi đêm về tôi thơ thẩn tìm qua
Giàn dạ lý rưng rưng mùi hương thở
Gửi tình đưa theo gió nép hiên nhà

Con sông chở bao điều tôi mong ước
Nếu chảy qua xin dừng lại một lần
Để em vớt những dòng thư thấm ướt
Gói bên lòng sưởi ấm chút tình câm

Dẫu có biết em chẳng hề nghĩ đến
Tháng ngày qua đâu đứng lại đợi chờ
Mưa với nắng cuốn trôi về phía biển
Gọi sang bờ thổn thức sóng lô nhô

Nơi xưa đó tôi giờ lênh đênh nhớ
Cả ngôi nhà , cổng , tường trắng và hoa
Bóng ai cứ nhập nhòa trên sông phố
Nước xuôi buồn xóa mất mảnh trởi xa

TRẦN VĂN NGHĨA

MỘT ĐOẠN CHO CÀ RỐT

tonnuthudung

Đuổi bắt trên đồi cao
Trời mưa dầm gió rét
Hai đứa níu kéo nhau
Té lăn cù tưởng chết…
(thơ Trần Dạ Từ)
.
– Cà Rốt với Tina, anh nói cho nghe nè, hai đứa phải cách xa nhau ra mới có bồ, có bịch chớ cứ dính nhau như sam vậy thì cả hai đứa cùng chết già!
Anh Đoàn Dũng nói, Cà Rốt cười khoe hai lúm đồng tiền sâu xoáy, còn Tina khinh khỉnh nhếch môi vừa dấu vừa khoe cái răng khôn nhọn hoắc:
– Anh cứ lo phần anh đi, ông già.
Khi đó Cà Rốt và Tina đều 16 tuổi và anh Đoàn Dũng thì bao nhiêu không biết nhưng với Tina thì anh đã là một ông già lúc nào cũng la rầy mắng mỏ Tina điều này điều nọ. Tina thì hư nhưng Cà Rốt thì dễ thương lắm, với ai Cà Rốt cũng đưa tay ra đón nhận còn Tina khép kín cái thế giới riêng tư cúa mình để rồi lúc nào cũng than van:
– Sao không ai thích Tina hết Cà Rốt ơi !
– Tina phải đưa tay ra người ta mới cầm được chớ. Cứ dấu hai tay vào túi áo ai dám kéo ra?
– Mà thôi, cũng khỏi cần đi, có Cà Rốt là đủ rồi.
Chỉ có mình anh Đoàn Dũng là dám chọc cho Tina tức giận
– Thử nghĩ coi, Cà Rốt cao to đẹp trai, con nhà giàu học giỏi… Chắc chắn nó sẽ quen với mấy cô hoa khôi, hoa hậu. Còn Tina hả? Soi gương đi, mặt mũi lúc nào cũng nghinh nghinh dễ ghét. Sáng sớm ai mà gặp Tina là xui cả ngày…
Tina khóc một trận đã đời còn hơn trời mưa tháng sáu mặc kệ anh Đoàn Dũng xin lỗi xin phải mấy ngày trời. Tina khóc không phải vì anh Đoàn Dũng chê mình xấu xí mà vì cứ nghĩ tới một ngày nào đó Cà Rốt bỏ Tina một mình để đi quen với mấy cô hoa khôi hoa hậu, tự nhiên thấy tủi thân lạ lùng và giận lây cả Cà Rốt.
– Anh Đoàn Dũng chọc thôi mà Tina ơi. Cà Rốt không bao giờ như vậy đâu!
– Thật không?
– Thật mà, Cà Rốt đâu thích hoa khôi, hoa hậu. Cà Rốt thề suốt đời chỉ chơi với Tina…
Nghĩ tội Cà Rốt vì mình mà không thích hoa khôi, hoa hậu. Tina nín khóc và cười với Cà Rốt thật tươi.
Hai đứa cứ theo nhau như hình với bóng, nhà ở đối diện nhau trong khu cư xá, hồi nhỏ tập đứng, tập đi, tập ăn, tập nói cùng nhau. Thường thì khi lớn lên chút xíu bị bạn bè trêu chọc những mối tình thơ đó tan vỡ rất mau, nhưng Cà Rốt và Tina thì khác, càng chọc ghẹo hai đứa càng thân nhau phát ghét… Cà Rốt có một đám bạn cùng trường cứ tưởng Tina là em Cà Rốt nên gọi Cà Rốt bằng anh ngọt xớt và Cà Rốt cứ an nhiên tọa hưởng lộc của đất trời.
Lên đại học, hai đứa học chung trên những ngọn đồi trước đây là căn cứ của Sư đoàn Bạch Mã Đại Hàn, ngọn đồi này có một ngôi chùa, một nhà thờ và một nhà vĩnh biệt để thiêu xác những người lính tử trận đưa về quê hương. Hai đứa học khác ban, khác lớp. Buổi trưa ở lại trường xuống câu lạc bộ ăn bánh mì và uống đá chanh xí muội rồi đi lang thang qua mấy ngọn đồi lên nhà Vĩnh Biệt hái trứng cá, tìm hoa Cườm Thảo, ngắt những lá cỏ Chong Chong thả theo gió bay xuống dọc sườn đồi. Một lần chạy theo lũ cỏ Chong Chong,Tina trượt chân té nhào xuống dốc, xây xát tay chân, mặt mày, đau lắm, mặc dầu muốn khóc to lên cho đỡ đau nhưng thấy Cà Rốt xót xa thương cảm Tina không khóc nữa. Cà Rốt vừa gỡ cỏ may trên người Tina vừa đọc:
Đuổi bắt trên đồi cao
Trời mưa dầm gió rét
Hai đứa níu kéo nhau
Té lăn cù tưởng chết…

(Trần Dạ Từ)
Tina hết đau ngay vì bài thơ hay quá. Cà Rốt đọc cả bài dài lắm nhưng Tina chỉ nhớ 4 câu đó, nhớ hoài hoài cho tới chết.
Tina chỉ muốn viết lại những kỷ niệm thân yêu với Cà Rốt khi mình còn thơ dại vì Tina không muốn mang nặng mãi trong lòng. Nhưng hôm qua anh Thanh từ Santa Ana gọi điện nói chuyện thật lâu… những ngày tháng tư này dù bất cứ ở đâu mọi người thân đều nhớ về Cà Rốt, chỉ có Cà Rốt là mãi mãi tuổi 18 nên Tina viết thêm đoạn này :

Tôi có cảm giác tàn cuộc chiến thành phố của tôi mới thật sự chiến tranh, mới thật sự mất mát, mới thật sự điêu tàn.
Buổi tối hôm đó, khi mọi người đã yên ổn trong căn hầm dã chiến là những bao cát chất đầy trên và chung quanh chiếc bàn ăn lớn như căn nhà chòi  mình thường chơi hồi nhỏ. Tổng thống Nguyễn văn Thiệu đang đọc lời từ chức trên radio thì Cà Rốt chui ra khỏi hầm, nói: “Quên, Cà Rốt về nhà lấy cái này.” Hàng ngàn lần Cà Rốt nói câu đó khi qua chơi bên nhà tôi. Khi thì lấy quyển sách đang đọc nửa chừng, khi thì lấy cây kèn Harmonica qua thổi, khi thì lấy một vài thứ gì đó ngon ngon trong tủ lạnh…Tôi cũng muốn chạy theo Cà Rốt nhưng bị ngồi trong góc không ra được. Cả chục đứa con nít mà tôi và Cà Rốt được giao nhiệm vụ trông coi và phải làm gương cho tụi nó… tôi giục:” Nhanh lên nghen Cà Rốt, một mình Tina không giữ nỗi tụi nó đâu.”
Hàng ngàn lần Cà Rốt nói câu đó, hàng ngàn lần… không bao giờ tôi nghĩ đó là lời nói cuối… Chỉ vài phút sau là khu cư xá bị ném bom dữ dội và Cà Rốt đã ra đi vĩnh viễn…Anh Đoàn Dũng che mắt tôi bằng đôi tay to lớn của anh không cho tôi nhìn vào khuôn mặt của Cà Rốt trong giây phút cuối cùng.
Tôi sẽ không nói đến cái chết của Cà Rốt vì nó vô nghĩa và chẳng nhân danh cho tuyên ngôn nào to tát. Một cái chết sau khi tàn cuộc chiến. Chỉ vì sự uất ức, phẫn nộ của ai đó có vũ khí trong tay muốn thể hiện một điều gì trong cơn tuyệt vọng…
Tôi sẽ không nói đến cái chết của Cà Rốt…
Tôi chỉ muốn biết Cà Rốt đã chạy về để lấy cái gì quan trọng đến nỗi phải đổi bằng mạng sống???

TÔN NỮ THU DUNG

KHU VƯỜN

nguyendangkhoa

Vườn lòng tôi vốn vắng lặng
Quanh năm chỉ mùa đông ngồi
Sớm nay, mùa xuân gõ cửa
Tôi mời ăn trái sầu tôi…

Quả Duyên trổ từ tiền kiếp
Chưa cắn vào đã đắng môi
Quả Địa Đàng đương căng mọng
Người hôm qua đến hái rồi

Sớm nay, mùa xuân gõ cửa
Vườn tôi mọc mặt trời khuya
Lạ lùng sao! Từng gốc rễ
Úa lên màu của tan lìa.

NGUYỄN ĐĂNG KHOA

KHÔNG ĐỀ

letrungtin

Tôi ngồi từ sớm tinh mơ
Đến khi đêm xuống mịt mờ từng không
Tôi ngồi trước khóm hoa hồng
Trước giàn hoa giấy trước bông mai vàng
Tôi ngồi trước mối tình tan
Trước lời ma mị, trước hàng lệ rơi
Tôi ngồi nghe rộ tiếng cười
Của loài ngạ quỷ mượn đời nhân gian
Tôi ngồi – và thấy ngổn ngang
Những hình những bóng loang loang máu đào…

Lê Trung Tín

BIỂN – RỪNG VÀ TÌNH VÙNG CAO

dangchaulong

được làm giọt biển chắc vui
giỡn cùng con sóng
ngàn khơi bồng bềnh
tung hê thế sự chông chênh
mang mang lồng lộng
trùng xanh mặn nồng
(đặng châu long, chút tơ vui)

Đại ngàn và biển cả là hai nơi tôi đặc biệt yêu thích và nhớ về mỗi khi có thời gian. Vẻ mênh mông, u tịch của rừng và biển đã làm choáng ngợp hồn tôi mỗi khi được cùng hòa mình vào. Ngày xưa, khi còn nhỏ, cùng bạn bè Thanh Niên Hồng Thập Tự Khánh Hòa ngồi quanh lửa trại hát những bài ca khoáng đạt ca tụng thiên nhiên: ..Rừng muôn cây xanh cao âm u ngàn gió lá, khuất bóng ánh trăng sao, ngồi chung quanh phiến đá ta khơi lửa hồng bập bùng bập bùng trong đêm thâu…(Hoàng Quý, Đêm trong rừng) hoặc cùng các bạn ca đòan Bá Ninh hát lên bài ca Trùng dương lớp lớp mây trời cuộn bay của Phạm Duy: Triều dâng, triều dâng, ngọn sóng, ngọn sóng theo trăng Theo trăng vào bờ, ôm lớp phù sa, theo trăng vào bờ …nghe thật sảng khoái.
Đại dương đã thật sự quá gần gũi cùng tôi khi tôi chuyển từ Tuy Hòa về học tại Nha trang, Trường Lasan Bá Ninh chỉ nằm cách những cụm dương hình khối trước biển một con đường, đường Duy Tân chạy dài gần bảy cây số đến tận Chutt, Cầu Đá, trên đó, ngôi nhà tôi sống chỉ cách trường khoảng hơn hai trăm mét, cạnh Dòng Chúa Cứu Thế mà bây giờ đã là Khách sạn Hải Yến.
Đêm đầu tiên ngủ trong ngôi biệt thự Hỏa Xa cũ xưa đó, tôi đã ngủ cùng tiếng sóng vỗ ầm ì rền rĩ suốt đêm. Nhiều giấc mơ đã dẫn biển theo vào cơn mê hoặc mộng ảo đó, đôi khi thấy mình như bị khối sóng cao lừng lững vồ dập ngộp chìm trong cơn mê. Buổi tối chạy ra đứng trước biển, cảm nhận giữa đêm đen cái sức mạnh huyền bí biển, thông qua từng đợt sóng âm u đều đặn phả bờ, mang theo những tiếng òa vỡ ầm vang của từng con sóng vô hình. Cảm giác nhỏ nhoi trước mênh mông biển đó khiến ta thu bớt cái cao ngạo của con người, để hòa cùng kỳ ảo biển xanh thâm tạ thiên nhiên đã thể hiện ra hùng lực của mình.
Buổi sáng, chạy dọc dài bờ xanh Nha Trang, con sóng nhỏ lăn tăn dịu nhẹ vỗ về như lời mẹ ru canh giấc ngủ sâu, “Sóng vỗ miên man như câu ru êm của Mẹ dịu dàng Nước biếc mênh mông như đôi tay ôm của Mẹ trùng dương.”(Phạm Duy, Mẹ Trùng Dương). Không gì sảng khoái bằng giấc tinh mơ một mình chạy chầm chậm dọc biển, giữa mênh mông cát vàng chỉ có rải rác từng nhà nhỏ bát giác làm phòng thay đồ cho khách nhàn du. Dừa và dương như cùng ta vẫy gọi lời mừng chút ngọn gió hây hây còn đọng cơn ngáy ngủ giữa bình minh. Đôi khi trong cơn sảng khoái, cùng người bạn thân, chạy tấp vô lò bánh mì nhỏ ở đường song song gần đó mua cái bánh mì nóng hổi, kẹp thêm một que cà rem lạnh buốt vừa chạy vừa ăn để nghe ra cơn lạnh buốt từ tâm hòa quyện cùng cái nóng dòn tan của bánh mì cầm giữa bàn tay mà lòng như rộng mở thênh thang.
Những ngày sân bóng chuyền, bóng rổ, bóng bàn, sân banh trong trường không còn trống chỗ, thày trò lớp tôi lại dắt nhau ra biển, mang theo trái banh basket cùng chơi water-polo trên biển. Những tiếng hò reo, giọng cười giòn giã hòa cùng bọt sóng trắng xóa một vùng.
Những ngày mưa nguồn dầm dề cũng là những ngày biển héo ủ ê. Giòng phù sa vàng đặc màu bùn theo giòng sông Cái đổ hòa vào biển làm giòng xanh trở nên khó ưa, Rác rưởi cuốn theo những uế tạp làm biển xanh không còn dáng vẻ uy nghi thường hằng. Nhưng cũng chưa bằng ngày gió bão. Tiếng gầm gừ biển như rên xiết nỗi lòng. Bao nhiêu thứ trên đời đều hiện diện và phô bày trần trụi theo từng đợt sóng xô bờ. Lang thang trên biển vào ngày này ta sẽ nghe ra nỗi đớn đau biển khi cố gắng đẩy đưa những ô trược trả lại bờ. Biển hung hăng phả lên đường Duy Tân từng đợt cát đọng dài sau cơn sóng. Biển vùi dập lôi xiêu vẹo từng dãy nhà Xóm Cồn vốn dĩ đã quá mỏng manh như kiếp dân chài chỉ cần kiếm đủ cho hôm nay. Không năm nào chúng tôi không đi cứu trợ Xóm Cồn và cũng chưa bao giờ thấy cư dân ở đây làm lại ngôi nhà nào kiên cố khả dĩ chống chỏi cơn giận dữ trùng khơi. Chỉ như một kiếp sống bồng bềnh không cần chống trả lại. Chỉ cần biển rộng lượng cho những ngày rong thuyền tìm chút sản vật đại dương đắp đổi ngày thường.
Và thế đó. Vòng cung đại dương trải bao năm vẫn ấp ủ thành phố Nha Trang mỗi ngày, mỗi tháng, mỗi năm. Có đi xa, có ghé nhiều phố biển mới ngộ ra rằng không đâu sở hữu được một kho báu biển xanh hiền hòa như Nha trang vốn có, để hàng đêm người lữ thứ chạnh lòng quê cồn cào nhớ tiếng sóng ngày thơ.

@

Khi biển đã quá quen thuộc cùng tôi mỗi sáng mỗi chiều thì cánh rừng thâm u vẫn còn là một bí mật chưa từng được khai phá. Ngay cả những chuyến di hành vào Hòn Hèo, Chín Khúc, Đá Hang, Đá Bàn, Núi Chúa cũng chỉ là cỡi ngựa xem hoa dù đôi khi vẫn bị núi rừng mê hoặc lôi níu bước chân, nhiều khi mấy anh lính mang máy theo tôi hỏi: “bộ ông không sợ chết sao?” Tôi chỉ lơ đãng nói tửng tửng: “bị thương là chưa chết, mà chết thì …hết biết, có gì mà sợ” . Cái triết lý “chết nghĩa là hết thở” của tôi vậy mà hiệu nghiệm, chẳng cần giải thích dông dài cho tật ghiền khám phá rừng của mình.
Rồi vận may đã đến cùng tôi, nghe ra lại thấy buồn cười. Tôi được lệnh đưa hai khẩu pháo lên ngọn đồi trên Buôn Ea Thi, nơi giáp ranh đèo Phụng Hoàng và Đèo Dốc Cao, để thay thế cho đơn vị bạn trong ba tháng. Núi rừng, đèo dốc vây quanh, cách Ninh Hòa 35 cây số, cách Khánh Dương 25 cây số. Bạn cùng tôi là một con đường quốc lộ, một cái buôn nhỏ Ea Thi và một con suối ngay dưới chân đồi. Tôi có cảm giác như bay bỗng cùng núi rừng đại ngàn đó.
Một cái tiền đồn hắt hiu nằm giữa rừng núi hiu hắt này nghe ra ngày rất dài và đêm cũng chẳng ngắn. Buổi sáng nghe khỉ hú, chim kêu mãi cũng nhàm. Ngồi gõ domino hoài cũng phát chán. Tôi bắt đầu lang thang cùng vợ và con gái đầu chưa đầy tuổi, còn tay ẳm tay bồng. Mới đầu chỉ là những chuyến ghé thăm buôn Ea Thi cho qua thời gian. Bạn gần gũi nhất cũa chúng tôi là gia đình một già làng, bác Luk. Chúng tôi đem chia sẻ cho bác và cư dân quanh buôn Ea Thi những loại thuốc sốt rét và thuốc thông thường, và đôi khi là mì gói, cá khô. Bác và những con bác hay cùng chúng tôi chuyện trò về tập tục, đời sống trong buôn. Có thể nói gia đình bác Luk rất tiến bộ trong nếp nghĩ và lối sống. Con bác nói về mái nhà sàn của gia đình, nhà duy nhất mái lợp bằng tôle: “Sống phải theo tục lệ, chứ không đã làm nhà theo kiểu miền xuôi cho thoải mái”. Gia đình bác thường mời chúng tôi dự những dịp vui của buôn, có khi là lễ tạ thần rừng sau chuyến đi săn được nai, có khi là dịp cúng giàng khai ché rượu cần. Có cùng sinh hoạt mới thấy hết những nét chơn chất đáng mến của những con người đơn sơ này. Ngày cúng thần rừng, bác Luk lên mời tôi, tôi cứ ngỡ vật hiến cúng là một con ma-nú (gà) mập bự. Tôi bước lên nhà sàn, bước qua tấm phản dọc hông nhà dài cỡ gần 20m mà có lần bác khoe để làm được nó, bác phải cùng dân buôn làng vào trong rừng chặt hạ, đẽo bằng rựa suốt một tháng ròng rã, cuối cùng dùng voi kéo về nhà. Gần bên bếp giữa nhà là một chiếc dừng, trên đó có một cái chén và một ngọn đèn dầu nhỏ, Trong chén có một con bằng cỡ con chim sẻ, hỏi ra mới biết là con ma-nú con, Hóa ra người miền cao thường cúng bằng những phẩm vật nhỏ: gà con, heo con, chứ không như người miền xuôi. Con nào cũng là con, họ không có quan niệm lớn nhỏ, ngay cà khi trao đổi mua bán, một nải chuối lớn hay chuối chót giá cũng như nhau. Chiếc nia lớn cuối cùng được mang ra với khối thịt đã được thái nhỏ bày trên những tàu lá chuối. Chỉ có vậy. Riêng chúng tôi được gia đình bác phát cho mỗi người một cái chén và một đôi đũa. Dân làng lần lượt đến, lần lượt qua nia thịt bốc mỗi người một nhúm. Có người “hiện đại” hơn, móc trong túi ra một túi ni lon bỏ thịt vào. Thời đó chỉ mới dùng túi ni lon nên chưa phổ thông như bây giờ. Hai chiếc ché đã được đổ đầy nước đặt cách nhau không xa, Chúng tôi cùng gia đình bác dùng 1 ché, còn lại là những người tham dự. Bác giải thích cho tôi thủ tục uống rượu này, trước tiên là chủ nhà sẽ uống 3 lon nước châm, nghĩa là mực ché bao giờ cũng đầy ngang. Nguyên do chủ nhà uống trước để khách an lòng về độ an toàn của ché rượu mà thôi. Sau đó là khách, cũng 3 lon nước châm mỗi người, không hơn không kém.
Đôi lúc không quen tập tục vùng cao cũng làm mình ngộ nhận, may là tôi thường dè dặt thăm hỏi mới tránh những ngỡ ngàng. Một buổi sáng, tôi và bà xã mang hai thùng hỏa pháo bằng sắt ra suối múc nước uống mang về, dọc con suối có một cô gái trong buôn đi ngược chiều, tay mang một trái bầu khô dùng đựng nước nhỏ. Khi ngang qua chợt một mùi như mùi tử khí từ mái tóc vừa gội còn sũng nước của họ ập qua mũi, làm tôi và bà xã có cảm giác vô cùng khó chịu. Ngày hôm đó chúng tôi phải lên thật cao múc nước, không dám múc nước chỗ thường ngày, vì biết những cô gái trong buôn khi gội đầu bao giờ cũng gội nơi nguồn cao hơn nơi tắm. Chúng tôi cứ phân vân họ gội đầu bằng gì mà mùi quá khó chịu vậy. Nghe chúng tôi kể lại, con bác Luk bỗng cười và nói đó là nước vo gạo để ủ mấy đêm nên có mùi như vậy, tuy hôi, nhưng rất mượt tóc. À ra là vậy, thảo nào….
Có một tục lệ hơi dị đoan vẫn còn tồn tại ngày ấy là tục dời buôn. Khi trong buôn có vài người chết gần nhau thì họ lục tục bỏ đi kiếm nơi lập buôn mới và không còn bao giờ quay đầu về nơi cũ dù chỉ ghé qua.
Những lúc rỗi rảnh không ghé Buôn Ea Thi, vợ chồng tôi lại dạo rừng. Mấy ngày này con gái đầu đã được đưa về Diên Khánh ở với Ngoại để bỏ bú nên tha hồ đi xa. Chui qua những tán lá um tùm, hòa cùng thiên nhiên hoang dã, hái măng le, rau má, tàu bay. Đi xa hơn nữa, phát giác ra cái buôn cũ đã bị bỏ phế, chúng tôi dè dặt bước vào như ngại động chạm linh hồn những người từng sống nơi đây. Những giàn nhà sàn hoang phế lẫn khuất trong cây cỏ bủa vây, những đường làng chỉ còn đọng chút viền dấu tích. Tịch lặng. Trong chốn này dường như còn sót lại chút hồn thu thảo như Bà Huyện Thanh Quan hoài cảm nhớ về chốn rêu phong thành cổ trong thơ. Dần dần chúng tôi cũng quên đi chuyện lý do người vùng cao bỏ làng, những vạt trầu vẫn đậm nét tốt tươi, những cây rau trộn trong cỏ hoang dại đã khơi dậy lòng ham thích “thu hoạch”. Tôi hái thật nhiều như chưa từng hái, nhất là trầu, dù chưa biết làm gì. Ôi thiên nhiên rừng rú, ta muốn “cắn” vào ngươi.
Vừa lặt lè mang “chiến lợi phẩm” về bỗng thấy dưới hầm ngủ có dáng một cô bé bồng Trân, con gái đầu của vợ chồng tôi. Thì ra là Dung, em Hạnh, năm nay 14 tuổi ở cùng ngoại. Dung kể lại bé Trân lì quá, mấy ngày qua cứ khóc, khóc mãi, bà ngoại ngán quá bào Dung ẳm ra Ninh Hòa giao lại vợ chồng tôi. Bà vẫn chưa biết tôi chuyển lên Phụng Hoàng. Hai dì cháu đi xe đò lên Núi Cấm Ninh Hòa không gặp, Dung òa lên khóc làm anh Tú, người thay thế tôi ở đơn vị đó cứ hỏi mãi lý do. Cuối cùng mới rõ bà ngoại chỉ cho tiền xe vòng đi vì yên trí vòng về có vợ chồng tôi. Tú cười xòa nói “yên trí, tôi cũng như anh Long, không sao anh sẽ đưa hai dì cháu tới nơi an toàn.” Tú gọi máy cho đơn vị tôi để ra đón, lấy xe chở hai dì cháu ra bến xe gởi tiền tài xế và dặn cho xuống đúng chân đèo Dốc Cao-Phụng Hoàng, nơi đã có trạm kiểm soát hổn hợp. Hú vía hai dì cháu, tới nơi bình an. Có lẽ bé Trân chỉ nhớ hơi mẹ, qua một đêm, ngày hôm sau cai hẳn sữa, Cám ơn thần rừng.Tiễn Dung về lại Diên Khánh, gởi thêm hai thùng trầu và trái đỏ, kỷ niệm chiến tích những ngày lê lết núi rừng.
Sáng 30 tết năm ấy tôi tự cấp phép cho mình về Nhatrang một ngày. Hôm sau lên đồi anh em kể lại, bác Luk mang lên một bao bí bầu bắp khoai và một tô gạo lúa rẫy tặng tôi ăn tết, không có tôi bác lại quẩy mang về. Tôi vội vã chạy xuống buôn xin lỗi vì vắng mặt. Bác háy tôi mội cái rõ dài và buông nụ cười đại ngàn tha thứ. Người miền cao ngày ấy đơn giản và đôn hậu như vậy đó. Như rừng già chỉ biết chở che.
Biển còn đôi khi cuồng nộ. Rừng im lặng không nói, như người vùng cao chơn chất, gói những muộn phiền để tung theo cơn gió ngàn bay.
Ngày tôi từ giã núi rừng Phụng Hoàng, gia đình bác Luk dẫn nhau ra tiễn, bác tặng tôi một trái bầu khô cùng lời chúc an bình, Cám ơn đại ngàn, cám ơn tấm lòng người vùng cao đã cùng nhau phơi trải một thời

ĐẶNG CHÂU LONG
21-03-2014