Sao Mai 09

Phạm Tín An Ninh

(tặng bạn tôi, Truờng Sơn Lê Xuân Nhị)


Nghe danh anh đã lâu, cũng đã từng gặp anh một lần ở New Orleans ngay sau khi cơn bão Katrina không thể bứng anh ra khỏi vùng đất cái nôi nhạc Jazz này, nhưng lúc ấy có lẽ vì đang là người nổi tiếng, bạn bè vây quanh, nên anh chẳng nhớ tôi là ai, một gã trời ơi nào từ tận Bắc Âu đến chào, bắt tay và xin chụp với anh một tấm hình.

Quan Dương – PTAN- TS Lê Xuân Nhị (New Orleans 2008)

Bị tù đày khốn khổ hơn tám năm. Ra tù lại càng đau lòng hơn khi thấy vợ con nheo nhóc, và cả miền Nam như trong địa ngục, tôi có cảm giác lạc loài ngay trên chính quê hương mình, nên cùng vợ con và một số bạn tù tổ chức vượt biên, nhờ một chiếc tàu chở dầu của Vương quốc Nauy cứu vớt trên biển Đông, trước khi cơn bão lớn ập xuống. Với ân tình này, chúng tôi chọn đất nước Bắc Âu xa xăm băng giá nhưng đầy ắp tình người này để gởi phần đời còn lại của mình và vun đắp tương lai cho mấy đứa con. Sau khi tạm ổn định đời sống và việc học hành cho các con, tôi da diết nhớ đồng đội, bạn bè xưa, hồi tưởng quá khứ, tìm đọc những tác phẩm, bài viết của những người đi trước, đặc biêt những tác giả gốc lính và tất nhiên viết về lính, đời lính, với những thăng trầm, vinh nhục cùng những hệ lụy đớn đau sau ngày tan đàn xẻ nghé.

Trong một vài tác giả yêu thích, tôi đặc biệt say mê những câu chuyện của một nhà văn có cái bút danh khá dài, luôn đi cùng tên họ trong khai sanh, Trường Sơn Lê Xuân Nhị, bởi phong cách viết rất “lính” của anh. Bộc trực, khí khái, máu lửa, lãng mạn, và phảng phất chất phong trần, ba gai của lính, nhưng lại đầy ắp nhân bản, nghĩa tình. Đọc một bài viết của anh, có khi đang cười khoái chí, nhưng ngay sau đó lại nhạt nhòa nước mắt! Đặc biệt hầu hết trong những câu chuyện đều có bóng dáng của những địa danh quen thuộc một thời mà đơn vị tôi từng có mặt trong nhiều cuộc hành quân, và tất nhiên có những đồng đội, huynh đệ của tôi đã nằm lại vĩnh viện tại các nơi này: Dak Song, Dak Pét, Pleime, Bu Prang, Quảng Đức, An Khê, Chư Pao,, Hàm Rồng, Kontum, Dakto, Tân Cảnh. Vì vậy càng đọc tôi lại càng thấy gần gũi với anh hơn.

Đọc tiểu sử tác giả, biết anh sinh ra và lớn lên ở thành phố Ban Mê Thuột, nơi đại đơn vị của tôi đặt bản doanh, nên khi ấy dù có phải hành quân xa ở đâu, thi thoảng bọn tôi cũng ghé về đây nhìn “Bụi Mù Trời” để thấy đời “Buồn Muôn Thuở”. Anh là phi cộng của Phi đoàn Quan Sát 114, thuộc Sư Đoàn 2 KQ, đồn trú tại phi trường Nha Trang, thành phố an bình thơ mộng nằm ngay bên bờ thùy dương êm đềm gió reo song vỗ, nhưng hằng ngày vẫn bay yểm trợ cho đơn vị tôi trong các cuộc hành quân trên khắp Vùng 2, đặc biệt tại chiến trường khốc liệt Kontum trong những năm 1972-1973 ngập tràn khói lửa. Lúc ấy có lẽ anh cũng vừa mới ra trường Không Quân để bắt đầu cuộc đời bay bổng. Và trong giai đoạn này, chắc chắn mỗi ngày anh đều phải bay trên đầu giặc với cả một rừng hỏa tiễn phòng không tối tân, ác liệt của kẻ thù.

Ngày 24.4.1972, ngay sau khi Bộ Tư Lệnh Hành Quân của Sư Đoàn 22.BB tại Tân Cảnh bị Công quân tràn ngập, Đại Tá Lê Đức Đạt, vị tư lệnh hào hùng đã từ chối lời mời lên trực thăng để vượt thoát cùng với cố vấn Mỹ, ở lại cùng chiến đấu và hy sinh với quân sĩ dưới quyến, Sư Đoàn 23.BB (-) của chúng tôi từ Ban Mê Thuột nhận lệnh di chuyển khẩn cấp lên Kontum để kịp ngăn chặn hơn ba sư đoàn của Mặt Trận B3 do Tướng CS Hoàng Minh Thảo chỉ huy, tràn xuống chiếm Kontum nhằm làm bàn đạp uy hiếp Pleiku, nơi đặt bản doanh của Quân Đoàn II. Riêng đơn vị tôi, Trung Đoàn 44BB, đã có mặt tại An Khê từ đầu năm 1972, đặt dưới quyền điều động trực tiếp của BTL Quân Đoàn, để thay thế một lữ đoàn thuộc SĐ101 Không Kỵ Hoa Kỳ vừa rút quân về nước, đảm trách một vùng hành quân thay cho Sư Đoàn 22BB đã di chuyển lên mặt trận Tân Cảnh, và làm lực lượng trừ bị cho Quân Đoàn. Ngày 14.5,1972 chúng tôi nhận lệnh rời An Khê di chuyển đến phi trường Cù Hanh, Pleiku để được được không vận lên Kontum, tái hợp với Sư Đoàn. Khi các phi cơ C-130 chuyển quân đáp xuống phi trường Kontum lúc nửa đệm, thành phố tối đen và đang bị pháo kích dữ dội, vài phi cơ tại phi trường bị trúng đạn còn đang nghi ngút khói, chúng tôi nhận lệnh tức tốc lên đảm trách tuyến Tây Bắc, cách trung tâm thành phố khoảng 7 cây số, thay cho một Liên Đoàn BĐQ cùng một đơn vị của Tiểu khu Kontum.

Đào hầm hố, củng cố hệ thống thủ chưa xong thì khoảng 5 giờ sáng, Sư Đoàn 320 CS tung hai trung đoàn bộ chiến 48 và 64 được dẫn đầu bởi một tiểu đoàn xe tăng T-54, tấn công vào phòng tuyến. Chúng không ngờ có một đơn vị thiện chiến mới toanh từ vùng Duyên Hải vừa mới đến, đã đánh tan bọn chúng bằng một trận hào hùng. Bắn cháy 7 xe tăng T-54, bắt sống một chiếc, khoảng 100 xác bỏ lại, số còn lại bỏ chạy tháo lui, bị các chiến đấu cơ của Sư Đoàn 6 KQ truy kích, tiêu diệt. Sau đó chỉ 10 ngày. chúng tăng cường thêm Sư Đoàn 2 và một sư đoàn tân lập (sau này có tên là F-10) xâm nhập từ Lào mở cuộc tấn công vào thành phố. Và lần này, chúng cũng lại đụng độ với lực lương Trung Đoàn 44 chúng tôi mới vừa rời tuyến Tây Bắc về phòng thủ vòng đai thành phố, theo kế hoạch hoán đổi dưỡng quân. Cuộc chiến lần này cũng ác liệt không kém, khi đich lợi dụng sự phòng thủ sơ hở của lực lượng Địa Phương Quân Tiểu Khu, đã đưa cả một lực lượng đặc công và xe tăng đánh vào Bênh Viện 2 Dã Chiến, chỉ cách TTHQ của BCH Trung Đoàn 44 một hàng rào phòng thủ. May mắn lá lúc này BV2 DC đã di tản về BV Tỉnh. Quân Đoàn đã điều động tối đa các phi đoàn Quan Sát yểm trợ cho trận chiến này. Chúng tôi lại tao nên chiến thắng vẻ vang, thêm 8 tăng T-54 và T-59 bị bắn cháy kể cả tên chỉ huy, và một số địch buông súng đầu hàng, xin được hồi chánh. Mọi ý đồ của địch đã bị bẻ gãy.

Tôi vẫn còn nhớ, trong một trận chiến khá ác liệt, Cộng quân tung cả một trung đoàn nhằm tiêu diệt một đơn vị của chúng tôi. Trong thời khắc nguy khốn nhất, tôi nghe tiếng gọi trên tần số Không Lục:

– Ninh Kiều, Sao Mai 09 gọi!

– Ninh Kiều nghe bạn 5/5!

– Bạn lệnh cho đứa con của bạn cho tôi xin một nàng Thúy Kiều, màu áo gì cũng được (1)

– Nhận 5! Màu tím!

-Tôi đang ở trên đầu đứa con của bạn. Bọn vịt con rất đông, một số đang bao vây, một số khác đang tiến gần đến vị trí con của bạn. Tôi đã gọi 2 phi tuần yểm trợ cho bạn, đang trên đường đến mục tiêu!(2)

-Đã nhận ra bạn. Một đứa con khác của tôi đang ở hướng 10 giờ của bạn. Phòng không chung quanh rất nhiều, bạn cẩn thận. Tôi sẽ bảo các đứa con liên lạc trực tiếp với bạn để tránh ngộ nhận,

-Yên chí! tôi đ… sợ bọn vịt con này! Tôi sẽ ở chơi với các đứa con của bạn cho tới khi nào hết nước, và sẽ gọi Sao Mai kế tiếp lên vùng ngay. (3)

Hai phi tuần AD-6 đánh theo hướng dẫn của Sao Mai 09, khi người phi công tài hoa này đã bắn hai quả đạn khói chính xác ở hai địa điểm khác nhau, làm địch không kịp trở tay, nên bị thương vong nặng nề, phải bỏ chạy. Anh gọi tiếp 2 phi tuần khác, túc trực tại phi trường Pleiku, bay lên truy kích tiêu diệt cả hai tiểu đoàn địch.

Từ Trung Tâm Không Trợ Sư Đoàn, ông tư lệnh theo dõi và lên tiếng ca ngợi:

-Tuyệt vời lắm Sao Mai 09. Sẽ có thuởng cho bạn!

Tiếng la hét, chửi thề trong nỗi vui mừng của chàng phi công trẻ lại vang lên trên tần số Không Lục, chẳng cần biết người đang đối thoại với mình là ông tướng một sao, tư lệnh chiến trướng! Trong không khí căng thẳng, ngột ngạt chúng tôi cũng phải phì cười!

Phi đoàn trưởng Phi Đoàn 114 khi ấy là Thiếu Tá Nguyễn Xuân Tám, bạn cùng khóa 17 Võ Bị với anh Trung Đoàn Phó nổi tiếng với danh hiệu Bá Hòa (sau đó là Trung Đoàn Trưởng) của tôi. Hỏi ra mới biết Sao Mai 09 hôm ấy là một ông Thiếu úy trẻ măng, gốc Ban Mê Thuộc, nơi đặt bản doanh của đại đơn vị chúng tôi. Chúng tôi còn được biết thêm là ông “quan một” Không Quân này vốn con nhà “quí tộc”, bởi ông cụ từng là dân biều thời Đệ 1 Công Hòa, nhưng vì đã trót sinh ra bất phùng thời, và lớn lên ngay giữa một thành phố lính, ngày nghe tiếng súng, đêm thì cả bầu trời thắp sáng hỏa châu và nhà nào cũng vang vang những khúc ca tình lính, nên chàng trai vừa có tâm hồn nghệ sĩ lại vừa có máu giang hồ tráng sĩ, mới tròn 18 tuổi đã tình nguyện “ vào quân đội mà lòng chưa hề yêu ai”(?)

Chàng là một phi công có tài, ra trường chưa nhuốm mùi sương gió, mà bay bổng thì không hề thua ai. Nhưng có lẽ vì quên mất mấy câu trong truyện Kiều của cụ Nguyễn Du “chữ tài liền với chữ tai một vần”, nên mỗi lần hứng chí là lén xách máy bay ra nhào lộn biều diễn đủ kiểu ngoạn mục, nhưng ngoài sách vở và phi lệnh, khi ngứa mắt bọn VC dưới đất thì nhào xuống trêu chọc rồi bắn quả rocket rất chính xác chỉ điểm cho khu trục oanh kích, mà chẳng cần biết SA-7 hay phòng không bọn nó giấu ở đâu. Vì vậy các đơn vị bộ binh thì “mê” anh ta, nhưng ông Phi Đoàn Trưởng 114 thì rất nhức đầu, nên mấy lần đã phải lái xe gởi anh ta vào đồn Quân Cảnh nghỉ mát, nhưng rồi lại đích thân đón chàng ta ra sớm và xé mấy tờ lệnh phạt đã ký sẵn để trên bàn.

Coi bộ chẳng biết sợ trời đất là gì, nhưng chàng ta có trái tim nhân hậu, hết lòng với Tổ Quốc và chí tình, yêu thương đồng đội chiến đấu dưới cánh máy bay của mình. Một lần bay thám sát, yểm trơ cho một đơn vị Địa phương quân bị Cộng quân tràn ngập tại một tiền đồn trên Cao nguyên, vị đồn trưởng yêu cầu cho đánh bom ngay trên đầu mình để tiêu diệt địch, anh đã bật khóc khi gọi oanh tạc cơ và cúi đầu, nghiêng cánh chào vĩnh biệt những người đồng đội kiêu hùng trong hai hàng nước mắt!

Một lần tăng phái cho Quảng Đức, trong một ngày nghỉ, không tới phiên mình, nhưng anh đã gật đầu nhận lời bay cùng với một sĩ quan Biệt Kích để đi tìm, hướng dẫn, yểm trợ cho một toán Lôi Hổ bị Cộng quân truy đuổi trong rừng. Biết mình có thể bị phạt, nhưng anh lại mãn nguyện khi đã hoàn thành một sứ mạng cần thiết để cứu nguy đồng đội. Và đúng là anh bị ông Phi Đoàn Trưởng gọi về trình diện. Ông bảo “tôi bắt buộc phải phạt anh, nhưng tôi rất phục anh, bởi vì nếu trường hợp là tôi, tôi cũng sẽ làm như thế!”

Một hôm, nghe tin bào đệ của anh tử trận tại phía Bắc Võ Định Kontum. Chúng tôi rất đỗi bất ngờ và đau đớn, vì người em trai của anh lại là một HSQ rất gan dạ thuộc đơn vị chúng tôi: TS1 Lê Xuân Bích. Anh thuộc toán thám báo, đã ngã xuống trong một cuộc đột kích rất hào hùng vào vị trí đóng quân của một đơn vị địch. Sau này tôi trách anh ta, sao không nói trước với chúng tôi một tiếng. Vả lại ông sếp của anh lại là bạn cùng khóa với ông Trung Đoàn Trưởng của tôi. Chuyện dễ thôi mà! Anh buồn lắm, khi bị ông già giận bảo “mày bay bổng cả ngày, chỉ có mỗi thằng em mà không lo cho nó.” Nhưng rồi anh lại hạ giọng “Tính của tớ khó nói lời nhờ vả lắm, hơn nữa trót sinh ra thời chinh chiến thì chuyện sống chết cũng là lẽ thường tinh thôi mà!”

Nói thế, chứ chúng tôi biết là trong lòng anh đang có một vết thương không bao giờ lành được, nhất là đứa em trai có đầy ắp những kỷ niệm tuổi thơ với anh, tuy đã nằm lại đâu đó trong núi rừng xa tít mịt mờ nhưng trong trái tim anh luôn có một nấm mồ đẹp đẽ nhất cho thằng em thương quý của mình.

Mùa Hè 2021, tôi đến tham dự một buổi ra mắt sách của người bạn, Nhà văn/Nhạc sĩ Huỳnh Công Ánh, cũng từng là Đại Đội Trưởng Trinh Sát nổi tiếng của của Sư Đoàn 22 BB, được tổ chức tại Nam California. Khi nghe người MC giới thiệu tên tôi, một vị khách mời từ hàng ghế đầu bước xuống phía dưới bắt tay tôi và giới thiệu mình là Trường Sơn Lê Xuân Nhị. Tôi bất ngờ nhưng nhận ra anh ngay, và ngạc nhiên vì thấy anh khá tiều tụy với cái đầu cạo trọc. Tôi cảm động khi anh tỏ ra rất thân tình và hẹn phải sớm gặp nhau để cùng nhậu một chầu mừng cuộc trùng phùng cho kịp trước khi anh phải bỏ lại bạn bè. Thấy tôi tròn mắt, anh cười, bảo “đang ung thư tới thời kỳ cuối!”

Cũng như ngày xưa, khi bay trên đầu địch, trước họng súng phóng không dày đặc, anh vẫn đùa cợt tỉnh bơ. Chưa kịp hẹn nhau, thì hai ngày sau, bất ngờ có anh Huỳnh Văn Phú, nhà văn rất dễ thương của TQLC ghé Bolsa thăm tôi cùng một số bạn bè. Tôi hú một số anh em thân tình cùng anh Phú và báo cho Trường Sơn Lê Xuân Nhị, hẹn gặp tại một quán ăn ở Fountain Valley. Chưa lái xe được, nên bà xã đưa chàng ta đến, xách theo hai chai Red Wine và một chai XO. Đứng nghiêm.đưa tay lên chào mọi người, tự xưng mình là thằng út. Trong số các ông anh hôm ấy có Trung tá Võ Ý, nhà thơ Bắc Đẩu của Không quân, cựu Phi Đoàn Trưởng Phi Đoàn Quan Sát 118, Pleiku, là là bạn cùng Khóa, thân thiết với anh Phi Đoàn Trưởng 114 Sao Mai của Trường Sơn Lê Xuân Nhị.

Vậy rồi, đột nhiên bạn ta khỏe ra. Lại hú bạn bè đến uống rượu tiêu sầu và bù khú chuyện ngày xưa. Gặp anh, tôi cười bảo, ngày xưa SA-7, 12 ly 7 phòng không dày đặc mà bạn chẳng coi ra chi, huống hồ bây giờ mấy cái con vi khuẩn tí ti, thì có sá gì với bạn phải không? Cứ uống và vui lên đi, chiều hôm tối rồi! Anh ta cười tít cả mắt. Cứ vài hôm là anh hú bạn bè, tụ tập ở nhà anh, một phòng rộng lớn phía sau, trong khu Anaheim. Bà xã anh chiêu đãi nhiều món ăn ngon, còn rượu thì đủ thứ. Anh ôm vai người này, bắt tay người khác, như sợ thời gian với bạn bè chẳng còn lại bao nhiêu. Ai cũng yêu quí, xem anh như anh em, một người bạn dễ thương, khí khái, nghĩa tình.

(Bạn bè khắp nơi đến thăm anh. Trong này có KQ Võ Ý, KQ Phạm Tương Như, ND Út Bạch Lan – BCD Phạm Châu Tài, LLĐB Mai Bá Trác.

Điều làm tôi cảm động nhất, là ngay giữa tư gia, anh trịnh trọng trưng lá hiệu kỳ lớn của Sư Đoàn 23 BB. Đơn vị mà tôi đã hơn 10 năm phục vụ, và có biết bao đồng đội hy sinh, còn anh thì suốt cả một thời làm phi công, đã luôn ở trên vùng trời để yểm trợ chúng tôi. Đặc biệt nhất là bào đệ của anh, TS1 Lê Xuân Bích, người em yêu quý mà anh cùng có nhiều kỷ niệm tuổi thơ, đã hào hùng nằm xuống vào mùa Hè 1972 tại chiến trường Kontum, máu đào tô thắm cho lá hiệu kỳ này.

PTAN- TS LXN bên hiệu kỳ SĐ23BB (2022)

Mới đây, bệnh lại tái phát, anh buồn lắm khi không thể đến chung vui buổi họp mặt “Đời Ghét… Đời Thương” của người bạn làm thơ thân thiết Trạch Gầm. Thiếu anh, rượu XO không còn hương vị nồng nàn, và dư âm của những bản nhạc lính dù hôm nay được hát bởi chính các nàng ca sĩ của lính một thời, Phương Hồng Quế, Trang Thanh Lan cũng chưa đủ để làm ấm lòng bè bạn.

Xin được cám ơn và ca ngợi anh, một người lính, một phi công trẻ hào hùng, một nhà văn, một người cầm bút khí khái, nghĩa tình, bạn bè ai cũng mến mộ. Cầu chúc sức khỏe anh ngày một tốt hơn để chia sẻ kỷ niệm, yêu thương cùng bạn bè và ý nghĩa cuộc đời bay bổng, thăng trầm cùng với tha nhân.

Little Saigon, 20.1.2025

Phạm Tín An Ninh

vỡ từ.

đôi mắt tròn ấy

dù liếc không có đuôi

nhưng xin em hãy một lần liếc dọc

lỡ mai đây mình có gặp nhau

đuôi con mắt sẽ là niềm an ủi

tôi. một đời. mê. ngủ

tình yêu luôn bất cập. xa vời

tay định mệnh với hoài chẳng kịp

chợt già đi. hạnh phúc ở nơi nào?

thôi thì nhận

thoáng bất chợt. lung linh. hư ảo

làm trăm năm thánh địa tình yêu.

hoa mãn khai về đâu cánh mỏng!

em. tôi. cười. yên ắng chiêm bao

cuộc đời sẽ già đi

thế giới vỡ toang

những cổ tự ngoằn ngoèo. lung linh bí mật

tiếp tục đè. nặng. lên những trí óc thông minh

mở một lối thoát

xây một nhịp cầu

cũng không làm ra sự no đủ, ấm áp.

chỉ trái táo, hạt lúa vàng

và một tình yêu

sẽ làm nên tất cả.

đôi mắt tròn ấy

rồi sẽ nhắm lại

bình yên một thuở trong miên viễn

ánh sáng sẽ mang em đi xa

và tôi như vạt nắng vàng yếu ớt

nhập cùng em dù chẳng biết về đâu

về đâu chẳng biết.

vô môn

vô ngôn

chỉ có lúc lên đồng

chỉ có lúc khùng điên

thần kinh ra ngoài trí óc

tiếng nói hữu ngôn

con chữ hữu tự

con mắt tròn. vòng tròn vỡ vụn

lang thang mấy độ ngân hà

tôi vuốt mặt

thế giới thay đổi. chớp lòa

gã homeless lôi thôi. lếch thếch

bỗng sáng chói như thiên thần

tên triệu phú trở thành con chuột chết.

đôi mắt tròn ấy

điểm đồng tâm không trong trí óc

ở nơi con tim đỏ hồng

máu con tim làm nên tất cả

cơn hồng thủy có vẻ đẹp của mênh mông. tĩnh lặng

lửa hỏa diệm sơn rực buổi huy hoàng

con người của Salvador Dali chỉ đẹp khi chảy.

loang. lổ. trên mặt đất. trên ngọn cây

còn bao nhiêu vẻ đẹp lạ. kỳ

đến từ nơi. chốn. tim .óc. và, cả từ những điều trái ngược

máu. mồ hôi. nước mắt

bụi đường . bồ hóng

đẹp như hang đá Bethlehem

vỡ từ

vỡ hoang

tôi vỡ hoang tôi

đêm. nước mắt chảy. dài

bình minh lạc. trong vùng hoang tối

từng bước chân bộ lạc bước. về

khập khễnh mùi loài sói đói

đôi mắt tròn ấy hướng về tôi

sự sống. chết bỗng trở thành xa. lạ

con chim cánh cụt không có sức để bay

nhưng vẫn thấy bầu trời thật thấp

tôi lăn theo dốc đời khốn khổ

mồ hôi lưng con bò khét nắng

bụi phấn trắng thành chất heroin

và cuốc thật sâu với sức của thằng người ốm đói

tôi mọi cho lũ người đi tìm vinh quang trên xác chết của con người.

tôi thương tôi vì tôi biết

tôi thương họ vì họ không biết

cái đẹp của con tim

ôi. cái đẹp của con tim

tôi gửi cho em những nỗi. niềm

tôi gửi cho em

sức vỡ của nước

sức tàn phá của lửa

một ngày ta sẽ đứng bên nhau

sẽ làm lại từ đầu

vỡ hoang một thế giới im. lặng

một cõi đời mênh mông

đôi mắt tròn ấy

long lanh và thật tinh anh

của chị quạ. vút nhanh. một chú gà con chưa biết sợ

và em cũng đã từng. vút nhanh. trái tim tôi. khờ dại

em la đà như con ma cà rồng lơ lửng trái tim tôi

về một nơi không trăng sao

tia chớp đỏ rực bầu trời nhiệt đới

bà cụ già run rầy

thằng bé đen nhẻm. hôi hám

ôm choàng với nhau vì sợ hãi tiếng sét xé trời

em nhìn thấy thật tinh tường

nhưng ai mà biết được

em suy nghĩ gì

bởi đôi mắt ấy chưa một lần liếc dọc.

Đặng Phú Phong

Một ngày bỗng thấy tôi còn

Ngày cô đơn tấu đàn gầy
Đêm cô độc chiếc bóng dài khẳng khiu
Bất ngờ ngã sấp vào rêu
Mùa xuân rớt hột hắt hiu đá mòn
Đường làng mất dấu chân son
Nhà quê cò vạc héo hon từng giờ
Bồng bồng bế bế ngây thơ 
Muối dưa bỏ chợ vu vơ lở bồi
Chiều mù bóng lại đưa nôi
Lửa rơm nướng tiếng à ơi chín dòn
Một ngày bỗng thấy tôi còn
Lá hoàng hôn rụng chưa mòn mắt xanh! 

LƯU XÔNG PHA

mênh mông quê nhà

đã qua biết mấy suối sông
mà đi chưa hết mênh mông quê nhà
chưa tường ngọn núi mờ xa
chưa nghe trọn một tiếng gà gáy trưa
qua bao cơn nắng, cơn mưa
nào hay khúc hát đò đưa đẫm buồn
ai chờ con vạc kêu sương?
ai đi mòn gót trên đường cái quan?
chao ôi, bao độ đông tàn
mà chưa thấu nỗi cơ hàn mẹ cha
gió hoang thổi tạt hiên nhà
chợt cay đôi mắt: chiều tà bến sông

NP PHAN

MẤY MƯƠI NĂM AI DÈ

Tôi gặp người bạn cũ.  Trên bạn, một bầu trời, ở đó mây trắng trôi.  Té ra bạn tóc bạc!

Nhiều năm… đời đổi khác:  nhiều năm, nay là xưa.  Giữa ngày không nằm mơ… hay là mình chưa gặp?

Con đường dài tăm tắp chỉ có mây trắng trôi trong không gian là trời, thấy nụ cười:  tia chớp?

Hai bàn tay vỗ, bợp.  Ờ thì ra âm thanh!  Hai mắt bạn long lanh, hai mắt mình cũng thế?

Nhắc lại câu tình nghĩa mới biết mình vẫn còn tấm lòng thuở thanh xuân vành nón trận che trán…

Chuyện tâm tình chưa cạn, nói gì hơn làm thinh!  Kệ, tất cả xung quanh, chúng mình là thế giới…

Trên bầu trời vời vợi.  Tổ Quốc hình mây bay…

*

Chuyện mở ra giữa ngày, chúng tôi gặp giữa phố, rủ vào cà phê gió tha hồ ngó mặt nhau…

Nói tiếng Mỹ how? How? Nói tiếng Việt sao?  Sao hả?  Lúc đó cây rụng lá, vài chiếc bay phất phơ…

Nhắc thuở mình ấu thơ, thời học trò Đại Học, sách vở bày như thóc, nước mắt, mồ hôi tuôn…

Chuyện cũ có vui, buồn… giống nước nguồn trong, đục chảy vào sông nhiều khúc, ra biển, nhiều cù lao…

Thương quá mùa hoa đào hàng năm đỏ rực nhớ…

Thương qua thời súng nổ, mình chưa chết… còn nghe!

Mấy mươi năm ai dè sau tan bè xẻ ván…Ai nhỉ, hồi mười tám tóc thề bay như sương…

Trần Vấn Lệ

LÀ AI?

1.

… chia nhau chút bể dâu này
bờ xa nước cạn buổi mây hải tần
tàn ngày gác xế phân vân
nghe từ vô thức căn phần ngàn xưa
cầu vồng trả nắng cho mưa
riêng tôi trả mãi những mùa bão giông
đêm tàn bóng gởi hư không
an nhiên cuộc lữ bụi hồng nhẹ thênh…

2.

con thuyền trôi theo dòng sông
chỉ tìm một chiếc lá hồng vừa rơi
mai kia từ chốn xa vời
còn nghe tiếng hạc lưng trời tiễn đưa
tôi là ai
– từ ngàn xưa
em là ai
– giữa lọc lừa trần gian
là ai
– ngọn gió lang thang
đã nghe lạnh thuở vầng trăng bội thề…

TÔN NỮ THU DUNG

NHỮNG MÙA NẮNG NHA TRANG

Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ
Ở một nơi nào đấy xa xôi…
Có thành phố như giấc mơ im ắng…
… Có thành phố ngày xưa, có thành phố…
Nơi rất ấm, tuổi thơ ta ở đó…

(Robert Rozhdestvensky- Thái Bá Tân dịch)

Nếu tôi là họa sĩ, có lẽ những giọt nước mắt xa Nha Trang sẽ được vẽ bằng một mầu sắc nào đó rất lung linh trong một bức tranh nắng, có đôi mắt to của một cô bé 16 tuổi đựng suốt năm tháng ấu thơ dạt dào tiếng sóng, một ngày con sóng bật ra khỏi khóe mắt thành những hạt lệ, nên nó sẽ là một mầu rất mặn biển, để người xem tranh biết được nỗi chia lìa đó đã cứa xót lòng tôi đến thế nào.

Tôi không là họa sĩ, chỉ mong ký ức dẫn lời để có thể phác họa được cùng người một cách diễm lệ hình ảnh 16 mùa nắng Nha Trang, Nha Trang nhi đồng, Nha Trang dậy thì, và, Nha Trang lớn lên xa vợi, giật lùi sau chuyến xe lửa đang chở tia nhìn nuối buồn đau ngày tôi bị gỡ đi cái núm gió nắng mặn mòi ấy. Thế nên tôi cứ khắc khoải khi đêm về thốt nghe như có tiếng tầu lửa vang bên ngoài cửa sổ. Thế nên tôi nghĩ mình nợ Nha Trang một món nợ ân tình. Tôi nghĩ, vâng, nếu cho tôi trở lại mười sáu năm đầu đời để lại dung giăng dung giẻ với Nha Trang, thì có lẽ tôi sẽ biết nạp một cách tận tình hơn hơi thở phập phồng của phố biển, để bây giờ có thể viết về nó một cách sắc nét hơn, tha thiết hơn.

Thật sự lúc này tôi thấy mình đã sẩy đi ít nhiều ký ức về Nha Trang, Người đã cùng tôi một thời bé dại. Tôi đâu biết rằng, mỗi bước nhảy cò cò của tôi là từng bước một ánh nắng buổi mai đi về sau lưng, mỗi mảnh ngói nhỏ ném xuống đánh dấu ô “cái nhà” của mình chỉ là một không gian hư ảo, tan đi khi những đường phấn kẻ ô chơi bị xóa vội vàng dưới cơn mưa … Tôi cũng không hay mỗi trái banh thảy lên, từng thẻ đũa bị tóm, tờ tợ từng mảnh thời gian bị lấy đi, để khi tàn một ván chơi thẻ thì thời gian không còn dấu gì trên vuông gạch…

Chắc không ai lúc bé mà không chơi trò u mọi, tôi nhớ, chỉ với 5 anh em nên chia phe không đều, luật chơi lại ấm ớ, chơi miễn sao mấy anh em thấy ổn là được, chỉ mình tôi là con gái, lại nhỏ bé, hơi thở ngắn nên hình như tôi làm tù binh hơi bị nhiều, chỉ mong phe ta u u tới cứu. Tiếng u u xa vời không đến được để gỡ ra cho tôi nỗi buồn xa quê, nó ở đó mở mắt hoài vọng một bàn tay Nha Trang.

Có nước sông mầu nhiệm nào cho mình trẻ lại, chắc tôi sẽ tham lam như người đàn bà trong cổ tích, uống cho đến khi hóa thành trẻ sơ sinh, để lại được lớn lên từ hạt gạo thơm ruộng đồng nước ngọt Nha Trang, để lại học nói từ hương biển mặn. Để lòng xanh đại dương. Để tóc lại mướt ngọn dương liễu. Để mơ mộng theo ngọn núi trầm tím nơi chân trời trên biển hoàng hôn. Để mắt nhìn háo hức theo đoàn tầu xe lửa nhả khói phía xa bên kia những cánh đồng quê nội. Để lại được lớn lên, lần nữa, Nha Trang…

… Lớn lên da ngào muối biển. Lớn lên cát trắng chân quen. Lớn lên môi cười nắng ấm. Lớn lên mắt xanh trời rộng. Lớn lên sóng vỗ trong lời. Lớn lên tóc rằm dương liễu. Lớn lên biển ở trong tim…

Người đem tôi vào không khí ruột thịt ấy, là bà nội tôi, là vòng tay mẹ tôi. Bà nội từ Thuận Mỹ, đã mua vé máy bay cho mẹ và các anh tôi, từ Hà Nội vào Nha Trang, lúc ấy tôi mới 3 tháng ngủ say trong tay mẹ. Nghĩ lại vẫn thấy lâng lâng vui sướng rằng, bước chân đầu tiên chạm đất của tôi là đất Nha Trang, âm thanh bập bẹ tiếng con người của tôi là âm thổ nhưỡng cát trắng biển xanh. Hình ảnh đất trời đầu tiên mà tôi biết cảm xúc là vòm trời cong giáp biển, là con mương ốm o chảy loanh quanh ở làng nội. Mầu sắc tóm thị giác tôi là mầu cà phê sữa của con mương, đầy mắt tôi là mầu tím rưng rức bụi trâm trâm. Và hương bám hoài trong nhớ, cái hương đồng nội trộn lẫn mùi nắng trưa, đất bùn, phân trâu bò, lá tre xanh. Âm thanh quyến luyến tôi là tiếng xình xịch xe lửa mỗi cuối tuần từ phố về quê, và tiếng sóng mãi là vọng âm quen trong giấc ngủ nhớ nhà.

Tôi nhớ khi mới tới ở Santa Ana, đêm đầu tiên tôi giật mình thức giấc vì nghe như có tiếng rào rào vọng tới, tôi hỏi và được giải thích đó là tiếng xe hơi chạy trên freeway, trời, sao giống âm tiếng sóng xào biển khuya vậy, không biết tôi cảm giác chính xác không hay là vọng ảo, bạn ơi?

Nói nhỏ cùng Hóa Nhi rằng, chân dung người tình Nha Trang của tôi đấy, chỉ cần người “điểm nhãn” nữa là thành duyên nợ. Nhưng mà thôi, chỉ hẹn hò cũng đã ngất ngây một kiếp tôi rồi…

Trên con đường hò hẹn ấy…,

Là những bước theo mẹ tới trường, một con dốc ở Cầu Đá, rồi con đường nhỏ lởm chởm ở phố Sinh Trung, bước ngắn bước nhỏ nên gõ nhịp rất mơ hồ trong nhớ, ở đó những cây muồng bên vệ đường luôn là bóng mát cho những đứa trẻ ngồi chơi đùa, nhà ba mẹ tôi nhỏ lắm, tôi nhớ nền nhà mầu xi măng đen, và ngạch cửa với hai bậc tôi vẫn thường bước lên bằng đôi guốc mộc quai nhựa trong, sao bé thế mà lại đi guốc nhỉ, nhưng đó là hình ảnh tôi rất thích về mình, bé xíu, mặc quần lụa trắng hai ống so le, lại lênh khênh trên đôi guốc, đứng dưới gốc muồng, bên cạnh hai ông anh, cũng bé, đang chơi bắn bi. Đó là thời gian của chồi nắng. Chồi 3, chồi 5 tuổi. Nắng ăn nắng ngủ và nắng khóc nhè.

Trên con đường hò hẹn ấy…,

Là giàn hoa ti-gôn hồng, hoa giấy đỏ, giăng ngang cổng một ngôi nhà trên con đường đất dẫn tới cuối là một ngôi trường tiểu học đứng ở đầu con dốc nhỏ, con dốc mà anh Khoa đã có lần ngã rất đau, đến nỗi cái bánh xe đạp nhỏ bị quẹo thành số tám. Nhà ba mẹ tôi lúc này lớn hơn ở Sinh Trung nhiều lắm, có một cái thềm rộng hình chữ L ngược, được che rợp bởi giàn hoa giấy và thiên lý tây, hương rất thơm vào những đêm khuya, dù chưa đủ lớn để bắt kịp được mùi hương với ý nghĩa tâm linh của nó, nghĩa là, chỉ đơn giản mùi mình thấy thơm, không phải hương làm mình bâng khuâng.

Thềm nhà ấy như biển trên đó có chiếc thuyền bằng gối bông chở ba và anh em tôi -ba luôn được ngồi trên gối và anh em tôi hì hục đẩy- những buổi tối chơi đùa đến khuya, để kết thúc có khi là một bữa phở xe mà đứa nào đứng chờ cũng chảy nước miếng, thề là chưa có bát phở nào trong đời tôi ngon đến thế, mà nghe kể lại giá chỉ có 5 cắc (?) một tô. Thềm nhà ấy cũng là nơi chúng tôi ngủ vào những ngày nóng, thời đó ban đêm nhà không phải đóng cửa, tôi nhớ rõ như thế, đó là vào thời ông Diệm, tôi vẫn nghe nói thế. Những ngày mưa thì thềm nhà lại biến thành một sân trượt nước, có lần anh cả tôi nhảy từ thành cái hồ nước xuống thềm và anh trượt thẳng vào cơn bất tỉnh, làm cả nhà cuống sợ, anh Khôi ơi, anh còn nhớ hương vị thứ thuốc chữa cơn ngất của anh không?(bà ngoại tôi chữa bằng cách cho uống nước tiểu của em trai!) Từ ấy chúng ta không còn được trượt nước dưới mưa nữa.

Thềm nhà ấy, nắng xiên vai 7 tuổi ngồi chơi thẻ một mình, có khi tôi rủ được Khuê, cậu em kế chơi cùng, nhưng nó là con trai, đâu kiên trì với trò chơi lẻ tẻ, các anh tôi vẫn kêu những trò của tôi là thế, phải là chơi bắn súng giàn trận đánh nhau, đúc kiếm trong những khuôn củ khoai, anh Khoa, anh Khải à, còn nhớ cách đúc kiếm này không vậy, em nhớ, những cây kiếm nhỏ rất đẹp, sáng loáng, ngày đó, em rất thích, những muốn xin một cái để dành vào kho đồ chơi lẻ tẻ của mình. Những trò chơi như thế kéo tuổi thơ chúng ta đi qua tháng ngày, em là con gái ở giữa ba ông anh và ba cậu em, không theo nổi những trò chơi lớn, nên ngày đó em hay đứng một mình… em thích chơi năm mười, ẩn núp mà không muốn bị tìm thấy… dường như em đã lớn lên trong cái kén của riêng mình, như thế.

Trong kén ấy, nắng 8, 10 tuổi nhả những sợi tơ…, nắng sắm vai cổ tích, nắng chuyện trò với búp bê. Không hiểu sao, cái ông anh họ bên nội, lớn hơn tôi nhiều lắm, giật lấy con búp bê của tôi và làm hư tóc, rách cả cái áo đầm đỏ của nó, rồi anh ta bỏ đi, tôi đứng ôm con búp bê bị thương trên thềm trưa, ba mẹ lại đi vắng, chả biết mách ai, hình như búp bê cũng khóc. Tôi rất ghét người anh họ này, thậm chí đến lớn tôi cũng không thể nào tha thứ cho anh ta được, vì từ lúc đó tôi không còn chơi búp bê nữa, vì hình ảnh con búp bê áo đầm đỏ thân thiết bị thương luôn làm tôi đau nhói. Đó là con búp bê tôi thích nhất. Lúc này cái buồn đã là một vết sẹo phai, người anh họ kia cũng đã không còn. Sau này tôi có thêm một con búp bê khác, phần thưởng một bài thơ thiếu nhi, nó cũng mặc áo đầm đỏ, nó làm tôi nhớ đến một ông bác nhà văn bạn ba mẹ tôi, ở Sài Gòn ra Nha Trang chơi, hình như bác bị ốm hay sao, tôi thấy khăn tay bác có dính máu, thấy tôi sợ bác nói, bác không chết đâu phải chờ con thành thi sĩ…, bác cao lênh khênh, cúi xoa đầu tôi, không phải thơ búp bê nữa nhé. Thế mà, vào một ngày cuối tháng tư sau đó rất lâu, rất lâu, bác đã tử nạn trên một con tàu, và mộ bác là lòng biển xanh thẳm. Ôi biển, biển rất hiền rất bao la của tôi, bỗng một thời nổi lên những con sóng oan nghiệt. Bác ơi, con xin lỗi bác là con đã yêu biển, không ngờ rằng đó là nơi vĩnh viễn bác ở lại, bác ơi, con sẽ tặng bác bài thơ, mãi là lời của con búp bê…

Nắng thời này đúng là tơ là lụa, nắng nối một đường hoa thơm cỏ lạ từ lòng bố mẹ thị thành đến lòng bà nội quê nhà, nắng mở con mắt ngạc nhiên từ ô cửa sổ toa tầu. Có lẽ thời gian này, thích nhất là những cuối tuần được về quê nội bằng xe lửa, tôi thường xếp con thuyền giấy thả ra ngoài cửa sổ khi tầu đi qua cầu, các anh tôi reo lên khi những chiếc máy bay giấy tung theo gió, rồi, cắn ngón cái, ngoắc ngoắc những ngón còn lại để lêu lêu tôi, thuyền mà lại bay lên trời, hí hí… Tôi cũng khá ngẩn ngơ vì điều ấy, hay vì vậy mà ước mơ của tôi chỉ là chiếc thuyền giấy không bến đỗ…

Nói đến xe lửa, ôi, … khói con tàu theo suốt tuổi thơ ngây… (Lữ Kiều) vì nó gắn với nước mắt trên thềm ga những lần tiễn cha đi Sài Gòn dạy học. Thế là, thấm mùi đưa tiễn, chín mười tuổi đã biết cái mặn của nước mắt khóc vì xa người yêu mến. Ưng ức hình ảnh con tầu khuất dần để lại đường khói đen dài, để lại mẹ và tôi đứng trên thềm ga rộng bên cạnh những đường ray bị bỏ lại im lìm, tôi nắm chặt tay mẹ òa khóc, gió thổi lộng hai tà áo lụa mầu mỡ gà của mẹ, tôi khóc hoài, đến nỗi mẹ phết vào vai tôi, tiên nhân con bé này làm má cũng khóc đây này, có nín đi không.Lúc này nhớ lại lời mẹ, tôi thấy tức cười và thương mẹ quá, giọng nói mẹ ướt nặng như tấm khăn bị nhúng nước. Rồi hai mẹ con líu ríu ra về, thường là ngồi trên một chiếc xe xích lô đạp, ghé vào nhà bạn thân của mẹ, bà giáo Hương, chắc mẹ muốn chia nỗi buồn, tôi thì vẫn rấm rứt cho tới giấc ngủ đêm…

Nắng đẫm trang vở học trò. Ôi nắng 12, 13 tuổi. Tuổi bản lề giữa nụ nhi đồng và hàm tiếu hoa, chẳng phải tuổi 13 mà đã được gọi là nàng của nhà thơ tình yêu Nguyên Sa đâu. Nắng non bình minh mặt trời vừa nhú trọn khỏi mặt nước xanh. Nắng chưa nhấn mạnh hơi thở mặt trời mãn khai, đêm chưa mơ màng trăng liễu vào giấc ngủ say. Biển còn vỗ sóng ngoài tầm mơ mộng.

Hồi này vì nhảy một lớp nên tôi bằng lớp với anh kế, và thế là chơi với toàn bạn của anh, nên cũng khá là được cưng, anh em kết nhau tới tuổi Tú Tài, chắc là có rất nhiều hình ảnh trùng trong ký ức của nhau.

Nhưng đâu có dòng sông nào trở lại, phải không các anh, trôi theo ngàn xanh những hạt biển, bao giờ nữa dòng sông đưa đám lục bình quây quần trở lại với nhau trong ánh tím thơ ngây… Anh Tấn Khải, Toàn, Huy, Được, nhớ không, một góc trời Nha Trang, các anh đã có một người em gái, là tôi? Và các bạn Kim Anh, Hương, Hoàng, Dìn, Tường, Phong, Ngọc, Hiên, Hồng, chị Bích, giờ nhìn lên mảnh trăng thượng tuần có cảm thấy đó là ánh sáng ban sơ của mắt nhìn chúng ta thời thơ ấu? dù cho sợi thời gian dài đã mấy mươi năm, tôi tin thế, nếu có ngày chúng ta gặp lại và nhìn nhau…

Nắng chẻ xanh ngàn tia lá dừa đường vào Vĩnh Điềm, có mắt cười, giọng nói vui của một người anh bên ngoại, anh hiền lắm và tôi rất phục anh vì anh học rất giỏi, nhất là toán, là môn tôi sợ và dốt. Mẹ anh tần tảo nuôi con nên anh mơ ước một chiếc xe gắn máy hoài mà không có, nghĩ thương anh quá, tôi lấy một tờ giấy vẽ thành tờ bạc ghi số tiền đúng giá chiếc xe ấy, bảo anh cầm đi mua xe, anh cười với cái răng khểnh, nói, “đây là số tiền lớn nhất đầu tiên anh có.”

Anh Quế ơi, chưa ai chiều và nhịn em như anh, những buổi anh cặm cụi dạy em học toán, em đổ lười không chịu học, chỉ muốn nghe anh kể Tây Du Ký, vậy mà anh vẫn nhỏ lời dỗ dành, em nhớ con gió thổi heo hút trong cái hẻm nhỏ vào nhà anh, đâu nghĩ gió thời gian, gió cuộc đời thổi anh em mình xa nhau mấy chục năm trời, khi vừa gặp lại mới đây, chúng mình còn khóc được nhiều đến thế, thấy như biển Nha Trang dạt dào bao năm, đang vỡ sóng…
Trên con đường hò hẹn ấy…,

Tôi dừng lại bởi sắc hoa sầu đâu trước ngõ, nó còn có tên là soan, sầu đông. Những cánh tím nhỏ nhỏ ray rắt gió hiu biển Nha Trang. Lại là sắc tím. Ngay trong vườn nhà. Nhà ba mẹ tôi lúc này ở trên một con đường mới mở phía phải cuối đường Phước Hải, tên Lữ Gia, phải đi qua một Quân Lao, và ngôi chùa sư nữ Kiều Đàm, mới đến nhà. Con đường cao như một con đê, nhà cửa còn ít nên tôi nghe được cả luồng gió chạy, có lần tôi đã té xe đạp xuống vệ đường sâu khi những chiếc xe GMC chở lính Mỹ vượt qua, có lẽ tôi giật mình vì tiếng la hét của họ, mỗi lần nhìn vết sẹo té xe trên đầu gối là tôi nhớ đến Thu Hương, cô bạn ngày hai lượt cùng tôi đi học trên con đường thênh thang gió này. Dưới bóng cây sầu đâu thả những cánh hoa tím trắng, các bạn thường họp nhau những tối ăn chè và hát hò.

Vẳng lại rất xa. Đến nỗi như mơ hồ, tiếng đàn guitar của Thi, anh Khải, tiếng hát của Minh Tâm, Thu Hương, Nguyễn Được, tiếng cười nhỏ e ấp của Tuyết Mai, các bạn nhớ coi ngày đó tôi có ngâm thơ không. Tôi đã mê thơ Quang Dũng lắm mà.Âm thanh thời đó của chúng ta bay lên tàng cây sầu đâu rồi theo mỗi đứa một mảnh trời riêng… sầu ơi tan về đâu…

Nắng ấy là nắng tím mơ. Nắng dậy thì. Nắng im lặng bên cửa sổ nhìn hoa bay. Trăng mười sáu tròn con mắt đêm. Biển khẽ đi vào quỹ đạo mộng mơ.

Tôi và Thu Hương mỗi ngày đi bộ đến trường, đã có những bước chân ai theo ở đằng sau, ngày đó chưa có bài thơ Em Tan Trường Về của Phạm Thiên Thư để bạn hát tôi nghe nhỉ. Thế mà cũng nắng mưa một đoạn đường đưa đón, một thoáng con dốc đá lên Nhà Thờ Núi trao vội lá thư nói chuyện nhớ thương, tả tình tả cảnh hoa lá cành, ấy vậy mà gió vướng chút tơ. Nhưng tôi phải kể cho có ngọn ngành.

Một chiều, anh Khải, tôi cùng các bạn, dĩ nhiên là có người bạn đã giăng tơ kia, đi chùa núi leo lên đến Kim Thân Phật Tổ, tượng Phật mầu trắng sừng sững trên đỉnh núi, trời khá tối, chúng tôi gặp một bọn du đãng, chọc ghẹo tôi và Thu Hương, tôi sợ muốn chết, nhất là sợ đám con trai đánh nhau thì thế nào cũng có đổ máu, tôi nói với anh Khải tôi, thôi anh, mình chạy đi tụi nó dữ lắm, em sợ. Và thế là chúng tôi nắm tay nhau chạy, nói thế nào nhỉ, ừ, chạy nhanh hết sức có thể của tuổi 15, 16, chạy băng qua những ngôi mộ ở sườn núi. Có câu tuổi 17 bẻ gãy sừng trâu lận mà. Về đến nhà mới hoàn hồn. Hoàn hồn thì tỉnh người ra, và người bạn kia, chẳng phải là người hùng cứu người đẹp như trong xi-nê gì gì nữa, “mối tình” bốc hơi nhanh hơn hạt nước trên thềm nắng. Hôm nay ngồi nhớ lại tôi không khỏi bật cười cái tuổi mười sáu, dễ thương dễ ghét ấy.

Thu ơi, mi có nhớ không, con đường Phước Hải mòn bao guốc, phai bao nắng những chiếc áo dài trắng nữ sinh, có trưa ngồi lục cơm nguội ăn với sườn ram trong căn bếp nhỏ ở nhà mi, có chiều cùng nhau xách giỏ đi chợ sau ngôi chùa Kiều Đàm, mi bày cách lựa cá nục tươi, lại những buổi tối ngồi học bài cứ canh nhìn qua cửa sổ nhà nhau để xem đứa nào tắt đèn trước, thế là thức học đến khuya… này, Thu, nhớ cả đôi mắt buồn mơ màng của mi khi hát bésame, bésame mucho… cả hai đứa đều 16 tuổi như cô tác giả bài hát ấy, chưa hề tưởng đến một nụ hôn, thế mà cứ du dương hồn nhiên bésame… bésame…

Tuổi mười sáu được Nha Trang mớm cho cái ngát xanh của trời và biển, sóng cứ vỗ đều trên cát, gió cứ lộng những hàng dương…

Trên con đường hò hẹn ấy…,

Một ngày tôi bước lên một toa tầu để lại đôi mắt Nha Trang buồn thẫm trên ga. Trên con đường hò hẹn ấy, đã rêu phong bao cột mốc thời gian?

Nắng bây giờ là nắng ngọ. Nắng biết được chiều kia sẽ phai trên tóc… Nắng trôi theo con sông Cái chảy những dòng hẹn với biển xa. Đã hẹn đã hò, cũng ước cũng thề, thì dẫu con đường có dài, thời gian có mịt mù thế nào đi nữa cũng có lúc gặp nhau, nói cho sâu lắng đá vàng hơn, thì chúng mình sẽ tái ngộ, nối lại một đường tơ lơ lửng…

Nha Trang ơi, Giấc Mơ ơi. Từ lúc cất bước vào kiếp người là tôi đã bước lên một con đường mang tên Hò Hẹn. Và xa nơi tít tắp kia, cuối đường, thời gian sẽ trả lại cho tôi những gì nó đã lấy.

Cách đây một tháng, ngồi trong quán mì Triều Châu ở Santa Ana, anh chị Thành bảo, em viết một cái gì về Nha Trang cho đặc san đi, kỷ niệm một chuyện tình chẳng hạn. Tôi đã cười ú ớ, một chuyện tình ư? Ơ, nhờ vậy mà tôi có bài viết này. Suốt 16 năm đầu đời, tôi chỉ có một người tình duy nhất, Nha Trang, viết hoa một cách nắn nót, gửi trao. Cả hai đều thủy chung gắn bó. Tôi biết, khi tôi trở về, tôi sẽ về bằng nhịp đập trái tim 16 tuổi, và chàng, Nha Trang, vẫn sẽ vòng tay ấm ngày cũ đón tôi. Cả chàng lẫn tôi đều là hòn đá vọng, chờ nhau, trên con đường hò hẹn trẻ trung ấy.

Trên bước chân hôm nay, có bất chợt dừng lại, là lúc nghe được tiếng của biển, chiếc khăn lụa xanh trên con đường người bỏ dấu tôi tìm… Đó có phải là phút giây chạm được khói sương của cõi hẹn hò?


NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH

(Santa Ana, Tặng các anh em, bạn bè của tôi)

BOLERO CHO MÂY

Tôi đã chờ mây lâu lắm em
Mây bay ngang ngược mây im lìm
Mây buồn son phấn mây thiêm thiếp
Mây tít cao chiều mây cuối đêm

.Tôi ngồi đốt thuốc nghe mây hát
Sợ viết thơ tình mây sẽ ghen
Mây vẫn lững lờ trôi tít tắp
Đừng phụ tình mưa mây sẽ đen

.Trời cao xanh kệ mây sà thấp
Một chút mưa thôi ấm lạnh người
Mây trốn vào đâu tôi cũng biết
Vì mây thường dạt bốn phương trời

.Tôi chờ mây đến khi tàn thức
Khi cuồng phong dậy khắp biên cương
Mỗi khi mây trốn trong lồng ngực
Tôi ấp bàn tay lên khói sương

NGUYỄN HÀN CHUNG

ĐIÊU TÀN TÌNH

Củi lam em đốt trên ngàn
Gánh qua Hạ cũ tro tàn còn bay
Vườn xưa úa cuối đuôi mày
Bậu đem lòng bậu
thả bay gió đàng
Đàn bầu tiếng thở, tiếng than
Ai ca vọng cổ, em hàng lệ đau
Hắt hiu lửa bếp rầu rầu
Khói vương mùi tóc. Khói sầu đường ngôi
Áo bâu tà hứng mưa rơi
Vạt che ngực mở. Vạt ngồi quạnh hiu
Than lam se sắt cơm chiều
Em hong tình bậu
trên điêu tàn tình.

HẠ QUỐC HUY

ĐẤT TRỜI VI DIỆU

Mỗi tàn tạ là từng lời chia biệt
Lời tạ ơn trời đất cõi vô cùng
Là ân phúc nở màu hoa bất tuyệt
Là con đường đi thằng tới vô chung

Mỗi tàn tạ là hẹn lời tri ngộ
Là hẹn cùng MIỀN IM LẶNG mênh mông
Là thắp lại muôn vì sao rực nở
Là mở ra mầu nhiệm cõi hư không

Mỗi tàn tạ là mỗi lời nhắn gọi
Úa vàng kia là thắm biếc hoa vàng
Và sự sống ươm mầm từ hạt bụi
Từ nguyên sơ vi diệu buổi hổng hoang

Lê Văn Trung