THƯ CỦA MÙA CHIM BÁO BÃO

nguyentancu

Mùa của những cơn mưa ngậm mưa trên hè phố
Những cơn gió vuốt ngược trong mái hiên sầu thảm
Mùa những bước chân đi nhanh – nhanh lên gió
sẽ không về kịp đâu – nếu bão tràn lên – sông rác
trời sẽ đen trên tường tím rêu buồn

em nói rằng : em sẽ không bao giờ thôi yêu tôi
cho dù đôi môi em sẽ không bao giờ xanh nữa
em nói như một bức thư tình không bao giờ được viết
như một cơn bão ngoài kia – áp thấp
nhiệt đới đang lên – trong một đĩa nhạc buồn

Chúng tôi đang tới đây – hỡi những cư dân thành phố
Chúng tôi báo rằng: sẽ có một cơn giông du đời
một cơn bão đêm đang cuồn cuộn về trong giấc ngủ
sẽ có nhiều giấc mơ – nhiều giấc mơ . . . khủng khiếp
chúng tôi là . . . điềm gỡ của những . . . giấc mơ

Chúng tôi hú lên – giọng hú của màu vàng tang tóc
Chúng tôi thổ huyết tươi từng ngôi sao đỏ chói
Chúng tôi bay lên . . . bay lên
trên những cột cờ gươm giáo
trên những giấc mơ của một thời súng đạn
chiến tranh . . . chiến tranh và cả những nỗi buồn

Trên những tháp ăngten cao cao kia – chúng tôi đến
Chúng tôi bơ vơ – vì biển ở ngoài kia . . . rộng quá
Chúng tôi báo tin rằng: chúng tôi . . . gãy cánh
Chúng tôi báo tin rằng: chúng tôi đang . . . giẫy chết
Chúng tôi là con thú cuối cùng của chủ nghĩa . . . hoang vu

Mùa của nụ cười nở trên những đôi môi . . . héo úa
Em lại nói – em sẽ không còn – yêu tôi- nhiều hơn thế nữa
những con chim báo bão lại bay về
trên những chung cư . . . sắp sập
và em yêu ơi – tôi lại yêu em . . . tràn ngập
mặc những con chim bay kia – đang báo bão tràn về !

NGUYỄN TẤN CỨ

XƯA…

tonnuthudung

Đâu phải là mây,đâu phải sao
Mà xa xa mãi ở phương nào
Đôi rèm mi chớp ngàn sao chớp
Hé chút môi cười nắng đuổi nhau.

Cô bé ngày xưa áo lụa xinh
Hồn nhiên má đỏ , mắt long lanh
Tan trường mây níu đôi tà áo
Có gió đâu mà xao xác xanh.

Con đường lá khuất những bàn chân
Chiều rơi từng hạt thủy tinh trong
( Môi mím nghĩa là chưa kịp nói
Đừng nói những lời chua với anh !)

Cô bé ngày xưa ai giấu đâu ?
Sao nghe vỡ vụn những tinh cầu
Buồn vương từng sợi mây giăng tím
Buồn ngỡ ngàng qua mấy nhịp đau…

tôn nữ thu dung

LÃNG MẠN TÌNH XƯA

tranvannghia

Qua đồi nhớ gió
Thấp thoáng má đào
Bềnh bồng hương tóc
Thả hồn chiêm bao

Mắt xưa đa cảm
Líu ríu tình hồng
Thương sao vạt cỏ
Thì thầm dưới chân

Chiều tương tư nắng
Lạc tiếng vĩ cầm
Chỗ ngồi bỏ trống
Thẫn thờ dư âm

Bóng sương côi cút
Thở lạnh hiên chờ
Thèm tay em nắm
Cho đời trú mưa

Đầy vai lá xước
Ngỡ dấu răng tình
Nỗi đau chết đuối
Trên bờ phù sinh

Trở lại đường xưa
Tìm mây cuối phố
Lãng mạn tình xa
Gọi thiên thu nhớ

TRẦN VĂN NGHĨA ( Phan Rang)

Rằm Tháng Mười Năm Giáp Ngọ

tranvanle

Đêm nay, Rằm tháng Mười, nhìn trăng mà ứa lệ, lính chưa có tuổi xế ,bây giờ nằm ở đâu?

Tôi, người lính bạc đầu, hai hoa mai héo úa, trăng cài kia, ngoài cửa, hai giọt sương đêm qua…

Tôi biết tôi đã già, trăng cũng già, ai khiến? Núi vẫn non, hiển hiện, trong từng bài ca dao! (*)

Những người lính nghiêm chào, truớc mặt tôi một thuở, bây giờ những ngôi mộ…nằm một góc núi non!

Hỏi sao mà không thương, hỏi sao mà không khóc? Danh Dự và Tổ Quốc, Trách Nhiệm, trời ơi trời…

Lính tôi đã ngậm cười, tại sao tôi còn sống? Sống để nuôi hy vọng , một ngày dựng lại cờ?

Các em, ôi sương mờ ,trên đầu non lạnh lẽo, hai đóa mai tôi héo, mưa mấy mùa không tươi!

Đêm nay Rằm tháng Mười, Rằm Hạ Nguyên…là hết, rồi sắp tới ngày Tết, thêm một năm nữa, buồn!

Tôi nhìn lên đỉnh non, con vạc bay lầm lũi, tự hỏi sao tôi cúi / đầu / đi trong trại tù?

Các em ơi Thiên Thu, Rằm không ai cúng giỗ! Các em có không mộ? Hay mộ…thành đất bằng?

Tôi đắm đuối nhìn trăng, nhìn đất bằng dậy sóng…Té ra tôi xúc động, nghe tim mình nao nao…

Bốn mươi năm tôi chào vầng trăng như có máu! Tha huơng đời nương náu…chờ tới ngày bụi tro!

(*) Trăng bao nhiêu tuổi trăng già, núi bao nhiêu tuổi vẫn là núi non!

Trần Vấn Lệ

THĂNG CA

hochibuu

Xa nửa vòng trái đất
Ta yêu nhau điên cuồng
Gã giang hồ- bất sá
Nhìn đời như khói sương

Em phong trần mấy lượt
Vẫn kiêu hãnh làm người
Trên đỉnh cao đẳng cấp
Yêu chỉ mình ta thôi

Tình yêu như mật ngọt
Cho con bướm đa tình
Cho cành hoa hương nhụy
Bay vờn cành nguyên trinh

Tạ ơn em lần nữa
Đã cứu rỗi một người
Vốn chay rồi nỗi nhớ
Đưa hồn buồn xa khơi

Nửa đời qua- chấm hết
Nửa còn lại – rong chơi
Cho nhau tình bất diệt
Ta sẽ hoài sánh đôi..

hồ chí bửu

Cô giáo Sao Mai.

nguyentri

Cơ ngơi của Sao Mai, giáo viên tiếng anh trường trung học X, không một giáo viên nào không ao ước.
Mấy giáo viên tập sự thích nhất cái sân nhà cô tổ trưởng bộ môn. Đủ cho tất cả các loài hoa. Hồng, thược dược, phong lan. Trong năm mươi mét vuông nối sân và nhà ở là hai mươi bộ bàn ghế, gian nầy mới là nơi thật sự làm ra của cải, và lấy đi của cô nhiều nước miếng nhất trong sự nghiệp giáo dục. Mười năm trong nghề, nhưng thực ra cô dậy ở nhà gấp ba thời gian ở trường. Một đến ba giờ một ca, ba đến năm ca nữa, bẩy đến chín là ca cuối trong ngày. Anh văn sáu bảy tám chín cô nhai mười năm nhân ba, nhuyễn như cháo cúng thí.
Sao Mai tinh thông bộ môn lên hàng thượng thượng. Cái chứng nhận giáo viên dạy giỏi cấp huyện là một minh chứng rõ nét. Và để có được nó, cô đã phải tham dự những ba năm. Vô lí mà một lô một lốc giỏi cấp trường mà khuyết cái huyện sao? Tất nhiên rồi, cứ một bài mà hát đi hát lại không ngưng nghỉ buộc phải tinh, mà tinh luôn đi với vinh như ông bà dạy. Đâu khơi khơi mà có, Sao Mai đã phải chiến đấu dữ lắm mới tồn tại, lơ mơ và không thông chữ Biết, theo ý nghĩa khôn chết dại chết biết sống dễ mà ra hôm nay.
Hồi mới vô xứ nầy với tấm bằng cao đẳng khoa tiếng anh. Nó chỉ không ngon lành ở cái hệ. Khi đi xin trường để tham gia giảng dạy, ba từ hệ tại chức nên mấy trường ở thị trấn, hoặc mấy xã trên lộ nhựa, đều khéo léo:
– Cô thông cảm, trường đủ giáo viên bộ môn rồi.
Gần hết hè mà vẫn không tìm đâu ra nơi để không ăn nhờ. Cậu e hèm:
– Mi vào trong sông tau giới thiệu cho, Hiệu Trưởng trong nớ là bạn tau. Xem như dạy tạm niên khóa ni, qua năm rồi tính tiếp.
Sao Mai phải khăn gói vô sâu xa. Đường sá nhìn là khỏi nhớ quê hương xứ sở. Cả thầy bà cũng đen nhẻm đen nhèm, trường lớp thì như câu đối của thầy Cao nhà trống ba gian một thầy, một cô, một chó cái. Học trò dăm đứa, nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi. Muốn qua sông phải đi đò, Sao Mai tưởng vào Nam ngon lắm, ai ngờ vẫn khói lam chiều dàn mướp lá lên xanh, đành ngâm câu một duyên hai nợ âu đành phận. Trước mắt là vậy rồi sau tính tiếp.
Là cái trường nầy đây. Lúc ấy phôi thai lắm, một lớp chín, hai lớp tám, ba lớp bảy, bốn lớp sáu. Sao Mai được nhận vì, một là, mười lớp mà chỉ có hai ông già dạy tiếng anh với tư cách hợp đồng. Hai là, cô có cái bằng còn hai ông kia không một mảnh lận lưng. Tuy bằng cấp, nhưng học kiểu nghe qua phát thanh, tương đối khâu ngữ pháp nhưng phát âm cô chệch choạc, chẩu chàng lắm. Hai tay già hỏi vài câu xã giao, có câu cô không luận nổi để trả lời. Tuy nhiên họ không chấp mà chậc:
– Nay không giỏi, mai giỏi. Nay không hiểu, mai hiểu, nghề dạy nghề lo gì.
Anh văn có ba người nên ra một tổ. Tấn, nguời già nhất được phân làm trưởng nhưng ông lắc đầu, ông trẻ hơn tên Tùng cũng lắc, nói:
– Cứ để cô Sao Mai làm tổ trưởng anh văn, dù gì cô ấy cũng có cái bằng.
Vậy là cô ra tổ trưởng.
Cô đến khổ với hai cha nội già nầy. Vì họ giỏi. Cả hai đàm luận với nhau bằng tiếng anh như hành vân lưu thủy. Sợ nhất tiết dự giờ để đánh giá tiết dạy. Họ thông cảm vì cô chưa qua sư phạm, chưa có kinh nghiệm đứng lớp, nhưng họ chê thẳng cánh khâu phát âm của cô. Không tiết nào cô được đánh giá khá, chỉ trung bình là hết mức. Chán quá, cuối niên khóa cô lại tiếp tục đi ra phố kiếm chỗ dung. Buồn thay. Có lẽ cô có duyên với sâu xa.
Hai tay già thì kiếm thêm tí chút khoản kèm cặp. Sao Mai nẩy ra ý định dậy thêm (vì không ai thuê kèm). Họp giáo viên toàn trường Tùng nói:
– Tôi nghĩ là thầy Hiệu Trưởng nên đình chỉ việc dạy thêm của các thầy cô trong trường vì dạy thêm dứt khoát sẽ phát sinh tiêu cực.
– Thế thầy và thầy Tấn dạy kèm thì sao? – Một giáo viên Toán hỏi.
– Kèm và thêm hoàn toàn khá xa nhau.. Chúng tôi kèm cho những người cần tiếng anh cho một mục đích khác. Thầy dạy thêm là thêm cái gì, xin phân tích cho tôi nghe.
– Thầy không thấy có những học sinh…
– Tôi thấy hết và thấy rõ nữa là khác, nhưng thầy cứ dạy cho hết bài trong tiết, đừng dạy làng nhàng rồi dùng áp lực bắt học trò học thêm chỉ vì tiền.
– Thầy nhầm rồi, tôi dạy thêm cho học trò yếu và không nhận thù lao.
– Đó là thầy nói, còn tôi và cả thiên hạ không ai có công mà không cần lộc. Dạy thêm đã và sẽ bị học trò coi thường. Khi một thầy cô giáo bất kì nào nhận tiền từ tay học trò, đã mặc nhiên xem như bán chữ, trong một chừng mực nào đó, trò đã hóa thành chủ. Và người nhận tiền, tuy không tớ nhưng suy ra cũng bằng. Tôi mong các vị hiểu cho?
Các thầy cô đang cải thiện đời sống bằng cách thêm bực lắm. Nghề giáo biết làm chi với tay trái? Xã hội luôn nhìn với đôi mắt kính nể. Không thể đưa vai và lưng để làm việc bình dân. Đồng ý không có nghề chi xấu, nhưng mà… Hiệu trưởng lên tiếng:
– Lương ngành của chúng ta nói chung là thấp, rất thấp. Trường ngơ cho các thầy cô kiếm thêm. Tôi mong các thầy cô hãy để yên việc nầy, tương lai chắc chắn sẽ có quyết định tối hậu của cấp cao. Theo tôi thì việc dạy thêm cũng không có gì xấu, nó giúp cho học sinh tiến bộ hơn.
Tấn cười nhạt:
– Tôi đồng ý rằng thêm không xấu, nếu thầy cô đó trong sáng, và phải thêm một cách có lương tâm. Tôi chắc thầy Hiệu Trưởng cũng có nghe tới một vài thầy cô dùng thủ đoạn như mắng mỏ, ai không học thêm là sẽ có vấn đề, đến nổi đã có lời ong tiếng ve từ phía phụ huynh và cả học sinh nghe đau lòng lắm. Và đau lòng là chuyện nhỏ, học trò sẽ mất niềm tin vào thầy cô mới là vấn đề lớn.
Cuộc họp có phần căng thẳng. Tất cả yêu cầu Tấn nêu đích danh kẻ tiêu cực, nếu không Tấn là kẻ đầu têu phá hoại tính đoàn kết nội bộ. Tấn cười:
– Tôi có đủ chứng cứ để đích danh những kẻ tiêu cực trong vụ thêm thắt nầy. Nhưng lúc ấy các vị sẽ đòi tôi cung cấp những phụ huynh, học sinh nào đã phản ảnh, và chắc chắn sẽ có hậu quả cho học sinh đó, vì vậy, tôi xin từ chối đích danh ai. Tôi chỉ khuyên các bạn là đừng làm mất niềm tin của học trò bởi ba đồng bạc mọn, phải hiểu rằng, điều đó tai hại lắm. Nhân đây tôi cũng thông báo cho ban giám hiệu là tôi xin ngưng hợp đồng. Bắt đầu từ hôm nay.
Một tháng sau Tấn nghỉ. Niên khóa kế Tùng cũng theo chân. Một bằng C anh văn khác xin hợp đồng, phòng giáo dục điều về hai giáo viên khác. Đương nhiên Sao Mai trở thành lão làng của bộ môn.
Ai cũng biết rõ, rất rõ, năm nầy đến năm khác, cả ty tỷ lời ong tiếng ve cho thêm thắt, có cả cấm luôn. Thoạt tiên Sao Mai cũng sợ. Nghĩ dùm đi, lương hiện tại, sâu xa nên thêm phụ cấp đất đỏ tổng bốn triệu. Trong khi đó, mỗi lớp cô dạy thêm ba mươi em, mỗi em hai trăm nghìn một tháng (tuần hai buổi) là sáu triệu. Cô có sáu lớp thêm như vậy, là bao nhiêu? Không cho dạy, lương có thêm mười triệu một tháng cô cũng không ham. May quá, nói cấm nhưng làm sao cấm. Cấm là giáo viên bỏ lớp liền.
Ủa mà sao cô có nhiều lớp dạy thêm vậy? Thì đó, cô dạy hai lớp sáu và hai lớp chín. Mấy cô giáo kia nếu muốn thêm như cô phải giới thiệu học trò qua, bằng không, dạng mới về trường dù anh chị có tốt nghiệp cỡ nào, muốn biên chế, phải hợp đồng trước đã, và trong thời gian ấy, phải thật sự giỏi mới được tổ trưởng bộ môn đề nghị. Muốn giỏi ư? Phải biết. Khôn cũng chết mà dại thì phải chết.
Thấy Sao Mai không? Chỉ có cái tại chức. Vậy mà cô bình như vại suốt từ bấy nay, vì cô biết. Cô biết vợ thầy Hiệu Trưởng cần chi, nhà cô Hiệu Phó chuyên môn thiếu tiện nghi gì. Trên tất cả cô biết ai cũng thích nghe lời nói nịnh. Quan trọng là phải biết nói làm sao để lọt đến xương cùng.
Vậy mới nên nhà nên cửa, nên nhiều thứ lắm. Thậm chí đến chồng, tuy chỉ bảo vệ trường, nhưng học trò vẫn gọi thầy nầy thầy nọ.
Nhưng Sao Mai không vui. Cô buồn. Rất buồn. Sợ. Rất sợ và hằn học nữa.
********
Nhà cửa, tiền tài, địa vị, thiếu cái chi mà tâm trạng thế?
Sao Mai hối không kịp khi lấy một nát rượu làm chồng. Thực ra thì chồng cô mới bê tha đây thôi. Trước, Minh cũng đàng hoàng lắm. Sao Mai thuận là vợ Minh đồng nghiệp lắm kẻ bỉu môi. Họ chê gì nhỉ? Có gì đâu, cái thói đạo đức giả đâu cũng có, ai cũng cho rằng không nghiệp chi xấu trừ bán trôn nuôi miệng, nhưng chả thần tiên nào thích bằng hữu với ma quỷ. Trí thức ít ai hạ mình chơi với ít chữ. Bảo vệ trường sánh duyên cùng cô giáo ư? Chính Sao Mai còn có cảm giác hạ mình nói chi ai.
Thực ra Sao Mai cũng thích lắm một bờ vai để tựa, khốn nổi, nhan sắc cô dạng tầm tầm, không động đậy một trái tim si nào. Minh thất nghiệp, tán tỉnh trăng gió cho vui. Ngờ đâu duyên bén quá nên đá vàng trọn kiếp. Sao Mai hết cái cô đơn ngồi đếm tiền một mình. Lấy nhau rồi cô xin chân bảo vệ cho chồng. Bảo vệ ư? Nhàn lắm. Đánh trống chào cờ, trống vào lớp, trống tiết, trống ra chơi, đi loanh quanh và đời không mỏi mệt. Nhàn nên Minh lai rai đôi sợi. Chuyện nhỏ thôi mà, đôi khi thầy giáo còn có mùi hèm nói chi bảo vệ. Tuy nhiên người ta rượu lễ rượu nghĩa, còn Minh luôn hò ra tới Huế.
Và nếu chỉ chừng đó thì Sao mai cũng có thể cho qua, vì đời ai chả có một cái gì đó để mê. Nhưng Minh cũng như bao kẻ vì rượu khác trên đời. Tự ái lắm khi bè bạn nói mày được vợ nuôi. Trước, họ xa xôi về những cái không hay không phải của những thầy cô dạy thêm. Sau, chắc là do rượu, họ bảo con vợ mày cũng chẳng tốt lành gì. Nhà tao chạy gạo chết mẹ mà không học thêm con vợ mày, tức cô Sao Mai ghẻ lạnh, thậm chí sỉ nhục con tao trên lớp. Minh nghe mà chả chống chế chi được. Anh ta văng tục, chửi thề. Cô nhịn, Minh lấn tới. Bức bối Sao Mai cự lại, hắn bạt tai vô mặt vợ. Đỉnh điểm, cô vất ra cái giấy li hôn yêu cầu Minh kí. Giáo viên mà đi đến quyết định như thế là cực đoạn lắm, nhưng cả thiên thần cũng bó tay nếu bay trong hỏa ngục.
Nhưng rồi cô phải tự tay xé tờ li hôn dù phải viết lại những ba lần. Lần thứ nhất, Minh xé bỏ kèm ỉ ôi năn nỉ. Lần thứ hai, lần thứ ba. Nhưng đến lần thứ tư Minh kí. Anh ta cười khẩy:
– Mày – Minh gọi vợ bằng mày – tưởng tao hèn lắm sao? Sống với mày vinh lắm chắc?
– Không lẽ nhục?
– Chính xác là rất nhục. Mày tự đóng khung vào trong cái vó trí thức rỡm, đâu có biết bên ngoài kia, thiên hạ nói gì về bản thân mày.
– Anh đi nghe thiên hạ, thì lấy của thiên hạ mà nhậu.
– Tao sẽ nhậu bằng cái của tao làm ra, hơn là ăn cái của mày.
– Của tôi thì sao?
– Của cô ấy à? Cô có nghe thiên hạ nói sao không? Họ bảo cô là con đĩa rút máu học trò. Đứa nào không học thêm cô đì bằng cách mắng mỏ ngay tại lớp vì dốt, cô dạy thêm bằng cách dạy trước cái sẽ học, người ta bảo cô không có lương tâm. Làm giáo viên mà bị đánh giá không có tâm cô nghĩ sao?
– Anh biết gì về Tâm mà lớn giọng? Tâm của anh là ba giọt rựợu và cái vũ phu kìa.
– Tôi không nói tôi mà tôi đang lập lại lời thiên hạ nói về cô và những thầy cô giáo dạy thêm khác. Họ và cô không xứng để học trò noi theo.
– Chúng tôi dạy thêm không bất hợp pháp, thiên hạ ghen ăn tức ở, mặc kệ họ.
– Những ông thầy bà cô dạy thêm kia thì không nói, riêng cô thì khác đấy.
– Tôi thì sao?
– Vì bằng cấp của cô là bằng mua…
– Cái cao đẳng của tôi mà mua à? Anh nghe ai nói thế?
– Tôi không nói cái cao đẳng, tôi nói cái bằng sư phạm của cô, cô qua sư phạm lúc nào mà có để vô biên chế? Bà Vân hiệu trưởng cũ tuy hưu, nhưng chưa chắc đã yên đâu. Cô liệu hồn đấy.
Sao Mai rúng động. Nhưng cô tự trấn an mình, dễ gì người ta biết để truy. Mà nếu có truy thì sẽ bể ra từng cụm dây mơ rễ má, họ sẽ bưng lại cho kín. Không sao, trong ngành dễ gì họ giết nhau, ừ dễ gì…
Cô bâng khuâng nghĩ tiếp. Lỡ bể ra thì sao nhỉ? Rõ cái bằng của cô không biết từ đâu mà hiệu trưởng cũ có để giúp cô. Hiệu trưỏng có thể không sao, vì đã hưu rồi. Nhưng còn cô? Chuyện truy căn đâu có khó. Cô bị đuổi khỏi ngành là cái chắc.
Sao Mai sợ. Ai cấm đựợc gã say bên chén rượu huỵch tẹt chuyện nầy. Nó sẽ lọt tai mấy kẻ đố kị trong trường, một lá đơn có chữ kí của vài giáo viên đề nghị xem lại tất cả các cái về cô là sạch.
Cô xé bỏ tờ đơn li hôn mà khó khăn lắm gã chồng mới kí. Đành thôi vậy. Nhịn một tí cũng chẳng chết. Không lí là chồng mà nó đi khai chuyện không phải để sụp đổ sự nghiệp của vợ sao? Cô giận dữ chửi thầm :
– Đồ súc sinh.
Nhưng súc sinh không chịu, gã viết lại tờ đơn li hôn. Sao Mai thật sự ngạc nhiên. Cô hỏi:
– Anh muốn gì?
– Tôi muốn cô bỏ cái vụ thêm bớt đi, bằng không chúng ta chia tay nhau.

NGUYỄN TRÍ

LỤC BÁT 4 CÂU TRẦN BẢO ĐỊNH

tranbaodinh

gửi Nguyễn Bích Sơn, Houston

1. THĂM EM

tôi về gõ cửa nhà em
nắng xuân nhảy múa trên thềm hoa xưa
trẻ em rượt đuổi vui đùa
khách ơi, cô đã lên chùa nhiều năm!

2.TRỐNG KHÔNG

hạt mưa rơi rổ mặt hồ
lăn tăn sóng vỗ mép bờ thảo hoa
nụ bông súng khép chiều tà
mây vi diệu rớt trăng và trống không

3. THIỀN

bóng trăng qua cửa phù vân
ta về rũ hạt bụi trần nửa đêm
có chi thiên tử gọi thiền
một chân thiên hạ gác nghiêng mái chùa

4.NHẬP THẾ

lửa tàn còn chút khói bay
củi lò đôi lúc mượn vay lửa tàn
im lìm trăng cỏ sương tan
kệ kinh dùi mõ Sư mang vào đời

5. CHIỀU VIỄN XỨ

quảy kinh vô tự sang sông
vô thanh vó ngựa tang bồng hả hê
quê người nhặt lá Bồ đề
quyét mây, gom tuyết, gửi về cố hương!

trần bảo định

MỘ KHÚC

nguyenanbinh

Ơn người
Tôi nợ thu đông
Tiếng chim đêm
Thức
Lời buồn ai nghe.

Đường chiêm bao
Mấy người về
Dù sông biển cạn
Suối khe vẫn tình.

Chờ em
Tôi đứng một mình
Bánh xe thổ mộ
Gập ghềnh đời nhau.

Biển xanh
Sao
Sóng bạc đầu
Để tình tôi phải
Dãi dầu phân ly.

Tìm người
Vạn dặm chim di
Đường tử sinh
Biết
Một đi, biệt mù.

Hành trình tôi
Cuộc viễn du
Về trong một cỏi
Thiên thu nghìn trùng.

Thì thôi huyễn mộng vô thường
Thế gian lạc bước lầm đường tôi qua.

NGUYỄN AN BÌNH
12/11/2014

Không Một Ngọn Nến Nào Cho Ngày Sinh Nhật

NXH BY NGUYEN BA KHANH

Có phải là em đang ngồi nghe tôi nói đây không? Có phải chính là em đã lắp băng nhựa này vào máy? Có phải là em đã hồi hộp ngồi chờ đợi nghe xem nốt nhạc nào sẽ mở đầu cho cuộn băng bởi vì em đã tìm kiếm khắp nơi, lật qua lật lại mặt trước mặt sau chiếc hộp bằng bìa cứng mà không thấy được tờ mục lục ghi những bài hát tựa là gì và sẽ do những ai trình bày.

Dù sao, rốt cuộc em đã nghe xong khúc hát mở đầu. Chẳng có gì lạ. Phải không? Đó chỉ là một bài hát thông thường như mọi bài hát mà ta từng nghe trong thế giới âm nhạc, máy-điện và nhựa hóa học này.

Nhưng cũng như chiếc bông hồng của cậu hoàng tử trong tác phẩm của Antoine de Saint-Exupéry, một bông hồng giữa muôn ngàn bông hồng khác, giống hệt nhau, dễ lẫn vào nhau, vậy mà cậu hoàng tử đã nhìn ra được chiếc bông hồng của chính mình, một bông hồng không giống với bất cứ bông hồng nào, tôi muốn nói bài nhạc mà em vừa nghe xong sẽ không giống với bất cứ một bài nhạc nào mà chúng ta đã từng nghe mặc dù âm điệu của nó hao hao như bất cứ một khúc hát nào mà chúng ta đôi khi bị buộc phải nghe. Là bởi vì, giữa em và tôi, hai ta đã có những ràng buộc vào với bài hát đó. Phải không?

Em thử bấm nút và cho máy chạy ngược cuộn băng coi.
Vy, em có nghe thấy tôi đang nói gì không?

(Im lặng)

Em,
Khi nào em mệt mỏi,
Thì em, hãy cầm lấy tay anh,
Đây con đường, con đường đưa em tới, đưa tới vùng, vùng mây trời biển xanh.
Em ơi,
Khi nào em tội lỗi,
Mời em, hãy giẫm lên đời anh
Đừng quên anh đã có thừa ô nhục
Và nơi đây cũng không còn thần linh

Khi nào, khi nào em tuyệt vọng
Thì xin em hãy cầm dao giết anh
Vì anh như tấm gương soi đối mặt em đó
Vỡ một lần,
Vỡ một lần cho xong.

Ca từ của bài hát đó gợi cho em điều gì? Những âm thanh ấy làm bật ra hình ảnh nào của hai ta?

Có phải đó là một buổi sáng, trên chuyến xe chạy xuyên qua cánh rừng cao su, gió lạnh buốc thổi tung tóc em và làm chúng ta co ro, tím săn da mặt? Có phải khúc hát đó bay ra như một lời thở than và em đã cầm lấy tay tôi?

Có phải đó là một buổi trưa, ngã lưng trên chiếc ghế vải, dưới bóng mát của những chiếc dù và trước mặt biển xanh lơ với bãi cát vàng đầy những hạt to thô kệch và bẩn thỉu, em đã nhìn tôi không nói một lời nào. Cả tôi nữa, tôi che mắt bằng chiếc kính đen to vì lúc đó một phần mặt trời chói nắng dữ quá, nhưng phần khác có thể vì lúc đó tôi đã nhìn thấy sự tuyệt vọng của hai chúng ta.

Tuyệt vọng?

Em không nhận ra được nỗi tuyệt vọng đó sao, Vy? Những cô bạn nhỏ của em, những ông bạn lớn của tôi, và cái thành kiến vững chắc hằng bao nhiêu thế kỷ bồi đắp tô dày thêm mãi, xây cao lên mãi tận trong xương tủy họ, len lỏi trong từng thớ thịt, mạch máu đường gân của cơ thể và ý nghĩ họ… Họ sẽ nghĩ sao về mối tình của hai đứa mình, họ có cái nhìn nào để nhìn hai chúng ta, họ sẽ có lời nói nào để nói về mỗi chúng ta?

Thôi, đừng nói đến những điều tuyệt vọng nữa, anh!

Tôi biết là em đang có câu nói đó trong đầu. Và hơn cả điều này tôi biết là em đang tự hỏi tại sao hôm nay tôi bày đặt chi cái trò quỷ quái này? Phải vậy không?

Chẳng có gì gấp rút, câu trả lời sẽ nằm dài dài trong suốt cuộn băng nhựa này, nếu em còn muốn tiếp tục nghe giọng nói của tôi.

Em có nhớ cái gì đã xảy ra hồi chiều hôm qua không? Không phải là tôi nghi ngờ gì trí nhớ của em đâu. Bởi vì theo tôi hôm qua em là người vắng-mặt-hiện-diện hay cũng có thể nói ngược lại rằng em là người có-mặt-khiếm-diện.

Phải rồi, mới chiều hôm qua đây chứ nào có xa xôi gì đâu.

Em hãy cố nhớ lại coi!

Chiều hôm qua, không, có lẽ nên gọi là tối hôm qua mới đúng. Vì lúc đó bên ngoài trời đã tối từ lâu lắm và chúng ta đang quây quần chung quanh chiếc bàn dài trong phòng khách hẹp đầy những bánh trái thức uống và những gói quà xinh đẹp mà em và các bạn em đã dành cho tôi.

Lúc bấy giờ là mấy giờ?

Tôi không nhớ rõ. Nhưng tôi biết lúc bấy giờ trời đã tối.

Em có biết là sau khi chúng ta đã nói được những câu chuyện có thể nói, sau khi mọi người đã uống xong hết những chai nước ngọt, ăn tận cùng phần ăn dành cho mỗi đứa, sau khi đã nghe Thuý Hồng hát một ca khúc buồn thảm của thời đại, Rita phê bình về cái tính hung dữ của tôi, Mai Ly nói đến sự phù hợp đáng ngờ giữa một nhân vật trong tiểu thuyết của tôi và tác giả của nó, sau khi đã nghe Như Loan bàn về số mệnh của mỗi người trên những đường chỉ tay, nhìn Thục Nghi, cô nhỏ có má lúm đồng tiền nhìn ngắm mọi người như một quan sát viên cần mẫn… sau bao chừng ấy thứ em đã nhìn tôi bằng cái nhìn kỳ lạ, hơi ngơ ngác và đầy thắc mắc, tôi tự hỏi em muốn nói gì trong cái nhìn ấy, khi tôi nhấn mũi dao trên chiếc bông hồng bắt quá khéo ở mặt bánh.

Có phải là khi đó em đã biết sự ngạc nhiên dội lại của tôi. Em đưa mắt nhìn quanh đĩa bánh và em như ngầm nói với tôi đoán coi, đoán thử coi, Vy đang nghĩ gì đây?

Đoán không phải là nghề của tôi nhưng“đoan chắc” thì tôi biết.

Tôi tự hỏi và thường tự trả lời câu hỏi do chính mình đặt ra.

Trả lời một cách đoan chắc và cả quyết nữa.

Em vẫn không ưa cái tính ấy, cái tính xấu mà em đã chẳng nhiều lần nói là hình thức của một thứ kiêu hãnh quá độ cần phải được dẹp bỏ ngay lập tức. Phải vậy không?

Em muốn tôi phải trả lời gấp rút là tôi đoan chắc điều gì chứ gì?

Tôi đoan chắc là em đang hỏi tại sao không có một ngọn nến nào cho cuộc lễ sinh nhật hôm nay.

Vy yêu dấu, em biết rõ là tôi đâu có ưa gì cái trò chơi trẻ con sinh nhật sinh nhiếc, còn nói chi đến đèn nến, hoa giấy với hoa thật, rắc rối đại loại như thế này. Và như vậy em sẽ hỏi thế tại sao không như mọi bận đi: làm thinh và để cho người khác tự hiểu có phải hơn không.

Làm thinh và để cho người khác tự hiểu?

Điều đó tôi đã làm và tôi vẫn tiếp tục muốn như vậy ngay khi em đang nghe giọng nói của tôi phát ra từ cuốn băng nhựa này đây. Nhưng chiều tối hôm qua hình như là ngày sinh nhật của tôi, ngày sinh nhật thứ nhất trong đời một người đàn ông đã quá ba mươi tuổi là tôi. Chắc em sẽ không tin điều này. Cũng chẳng sao. Cơ hội tốt cho tôi biện minh về sự bất thường bữa nay.
Ngày sinh của tôi, em biết đấy, làm sao tôi có thể quên được trong một thế giới đầy rẫy những con số này, nhưng tổ chức cho một lễ sinh nhật, em cũng biết đối với tôi là một việc làm ngoài sức tưởng tượng mà tôi có thể có về tôi, nó mang cái vẻ trưởng giả xu thời tầm thường và ngây ngô không chịu được.

Vậy thì cớ sự nào đã khiến tôi bày đặt ra cái buổi chiều đó?

Trước hết bởi vì tôi quý những người bạn nhỏ kia, những người bạn mà không dễ gì ta có thể tìm kiếm được trong một thế giới như thế giới này. Sau đó là vì tôi thực tình muốn chúc mừng họ đã qua được chiếc cầu gian khổ, chiếc cầu mà tôi đã bước qua một cách lo âu hồi hộp.

“Nhưng…”

Tôi biết chắc rằng em sẽ ngắt lời tôi. Đừng, em. Đừng. Tin tôi đi. Nói lung tung chỉ là cái cớ, cái cớ nhằm giải thích (em sẽ kêu lên lại giải thích nữa rồi, khổ lắm ông ơi) cớ sự nào không có ngọn nến cho ngày sinh nhật chiều bữa qua.

Cái cớ còn nhằm trả lời cho em một điều khác, một câu khác nữa về mối tình đầu tiên của tôi mà không hiểu sao em cứ thiết tha muốn biết, mà tôi cứ lần lữa hẹn hoài.

Vậy thì câu chuyện nó như thế này…

Hồi đó tôi học lớp đệ tam và được mười sáu tuổi. Gia đình sống ngay trong thành phố nhưng tôi không ở nhà (tôi là đứa con bị ghét bỏ trong một căn nhà đầy tình thong yêu), tôi theo sống với Tôn, một người bạn cùng lớp, người bạn tốt nhất mà suốt đời tôi không thể nào quên được, mặc dù chúng tôi đã xa cách nhau quá lâu. Dì củaTôn (chính ra Tôn phải gọi là mẹ mới phải vì bà là người sanh ra Tôn) là một người đàn bà đẹp, quá đẹp để có thể ví bà như một thiên thần trong những chuyện cổ tích Tây Phương tôi nghĩ vậy, và bây giờ khi nhớ đến khuôn mặt bà tôi vẫn còn tiếp tục nghĩ như vậy. Tôi ăn uống tại nhà Tôn, nghỉ ngơi luôn tại đó và được đối xử như một đứa con trong gia đình. Dì của Tôn chính là người mẹ thứ hai của tôi. Bà chia sớt cho tôi những gì bà dành cho Tôn, những đồng bạc quà sáng, ly chè trước phần ăn tối, thuốc men khi bị ốm và hơn tất cả những thứ đó, tình thương của bà mẹ và đứa con hoang đàng phiêu bạt trở về là tôi.

Nhà Tôn ở ngay mặt đường Hoàng Tử Cảnh. Chiếm trọn hai gian. Một gian làm quán ăn và một gian dùng để ở. Những sĩ quan thuộc các binh chủng đang trấn đóng hay thụ huấn tại đây vẫn thường tới lui ăn uống ở quán đó. Có nhiều lý do để tôi nghĩ rằng họ khó lòng rời bỏ được cái quán này. Thứ nhất là vì các thức ăn ở đây, được nấu rất khéo và ngon tuyệt. Thứ hai nữa, mà theo tôi lý do này có lẽ vững chắc hơn là vì quán còn có Vân, một thiếu nữ Bắc, đẹp một cách kỳ lạ, một cái đẹp vừa chín tới làm ngây ngất lòng người (tôi biết em đang cười tôi, phải không?)

Em muốn biết Vân bao nhiêu tuổi hả?

Sau này tôi mới biết là chị hai mươi lăm tuổi, nhưng hồi đó, tôi không làm sao đoán được tuổi Vân. Tôi chỉ biết là chị trẻ lắm, dân phần di cư, sinh trưởng ở Hà Nội, mẹ đã chết.

Vân được một sĩ quan quen với dì của Tôn giới thiệu. Và ngay tuần lễ đầu, qua cách chào hỏi đi đứng của chị, lối nói chuyện lễ phép và duyên dáng của chị biểu lộ rõ rệt cái nền nếp của một gia đình có giáo dục, dì Tôn giao cho Vân công việc thu tiền ở quán rượu. Vân trở thành thỏi nam châm của hàng ăn, nếu không muốn nói là thỏi nam châm của cả thành phố. Các sĩ quan và thanh niên khá giả trong cái thị trấn miền biển này là những mảnh sắt vụn nằm trong từ trường của Vân.

Hình như hồi đó tôi khó chịu vô cùng khi nhìn thấy Vân nói chuyện với bất cứ người đàn ông nào. (Tại sao hả? Thôi đừng ngắt lời tôi nữa bé. Để yên tôi kể tiếp cho mà nghe.)

Những buổi tối, khi khách ăn đã về hết, quán đóng cửa, tôi mang sách vở sang học bài ở một bàn ăn. Vân ngồi bên tôi và kể chuyện Hà Nội của chị cho tôi nghe.

Chị kêu chị nhớ quay quắt Hà Nội, nhớ từng gốc cây phượng vĩ nghiêng đầu xuống mặt đường Quan Thánh, nhớ tiếng chuông tàu điện leng keng qua vườn hoa Hàng Đậu, nhớ cái màn sương trắng đục phủ kín chân cầu Long Biên, nhớ cái mặt đồng hồ lớn trên nóc ga Hàng Cỏ…, nhớ người anh trai đã ở lại ngoài đó, nhớ người cha già mắt yếu hấp háy đọc truyện Tàu mỗi tối, nhớ khuôn mặt của mẹ lần cuối cùng xanh xao, tóc xõa dài mắt nhắm nghiền như ngủ giấc ngủ bình yên ngàn đời khi người ta liệm bà trong quan tài.

Và hơn tất cả những nổi nhớ nhung đó là tình yêu của chị dành cho anh Thạc. Vân nhắc mãi đến Thạc, người tình thất lạc của chị, khi cả hai vừa đặt chân xuống SàiGòn cùng với đoàn người di cư.

Chị nói có lẽ anh ấy đã chết và chị nhắm mắt lại ngả đầu ra thành ghế. Tôi nói chị Vân buồn lắm hả. Chị gật đầu. Hình như lúc đó tôi có được một nỗi thích thú: không ai thấy được nỗi buồn của chị ngoài tôi. Những tối tôi không học bài được (tại sao? Hồi đó tôi không hiểu nổi những buồn bã ma quái cứ ám ảnh mình, nhưng bây giờ thì tôi đã hiểu) tôi muốn an ủi chị và làm cho chị vui. Tôi kể cho chị nghe những câu chuyện cười trong lớp học mà, những trò nghịch ngợm quậy phá mà lũ bạn của tôi đã gây ra cho nhà trường và các giám thị. Nhưng em biết đấy, tôi vụng về và giọng nói cứng nhắc, ngắn ngủn cộc cằn của tôi (có lẽ vì nước biển mặn quá phải không Vy?) đã không làm bay đi được chút bụi phấn buồn bã nào trên mặt Vân.

Dù sao, dạo đó tôi vẫn tin tưởng một cách chắc nịch là chị cần đến tôi cũng như tôi rất cần đến chị. Những buổi học của tôi từ khi có mặt của Vân bỗng trở nên dài ra (trong lớp học tôi cứ mong tiếng chuông reo để có thể chạy bay về nhà) và tôi không làm sao có thể hiểu nổi được những phương trình toán học và những công thức kỳ cục của môn lý hoá nữa (những điều mà trước kia tôi là học sinh xuất sắc). Điểm hàng tháng và thứ hạng trong lớp của tôi bắt đầu rơi xuống một cách thảm hại. Nhà trường gửi giấy báo về cho gia đình và mẹ tôi nhờ người nhắn gửi với tôi là nên lưu ý đến việc học thêm một chút. Tôi điên cuồng trong những ngày lính xả trại, mặc dầu tôi không nhìn thấy một dấu hiệu xấu xí nào nơi chị.

Thế nào là một dấu hiệu xấu xí hả? Dấu hiệu xấu xí nơi Vân chính là sự thân mật suồng sã của chị với một người đàn ông nào không phải là tôi. Không, Vân vẫn nghiêm trang. Chị không phải là loại con gái cười cười nói nói. Chị đứng đó, chôn chân ở quầy hàng, biên giấy tính tiền, hơi nghiêng đầu chào một thực khách quen, và đọc chăm chú một quyển truyện mà tôi ưa thích và cố tình cho chị mượn. Vân nói quyển này tôi đã đọc một lần ở Hà Nội, nhưng tôi vẫn thích đọc một lần nữa. Tôi thấy cần phải cám ơn chị và bỏ cả lớp học ra biển, nằm một mình trên cát dưới gốc dừa, ngửa mặt nhìn trời, cười một mình với hạnh phúc của mình.

Một buổi tối, như thường lệ tôi mang sách sang hàng ăn học bài và tôi chờ mãi không thấy Vân ra. Cửa buồng chị đóng kín nhưng đèn thắp sáng. Tôi mở cửa ra sân ngồi trên bậc cấp buồn bã nhìn những ngôi sao trên trời và nghe thấm lạnh những ngọn gió biển thổi vù qua thành phố. Không biết tôi ngồi đó đã được bao lâu, chỉ biết khi tôi nghe thấy mùi tóc thơm phức của Vân phả xuống và cái mát rượi của bàn tay chị chụp lên mắt tôi, tôi mới sực tỉnh lại. Chị hỏi tại sao Kha buồn? Tôi nói với chị là tôi không buồn, chẳng có gì làm cho tôi buồn được.

“Thật không?”
“Thật”.
“Nhưng tôi biết là Kha buồn!”
“Tại sao?”
“Không nói được. Thôi vào đi.”
“Chị vào trước đi.”
“Vào nhà, tôi cho Kha xem cái này hay lắm.”

Và tôi đứng dậy, cánh tay tôi trong tay chị. Nhưng chúng tôi không ngồi ở bàn học như mọi bữa. Vân đưa thẳng tôi vào buồng riêng của chị, căn buồng tôi hằng mơ ước nhưng chưa bao giờ được được đặt chân đến. Ngọn đèn ở đó đã tắt ngúm. Vân mở cánh cửa và giữ tôi đứng yên ở một chỗ. Tôi nghe hơi thở chị thơm tho ngọt ngào, hai bàn tay chị đặt trên vai tôi. Vân nói, Kha hôn tôi và mừng tôi đi. “Mừng gì?” “Hôm nay là sinh nhật tôi mà.” Và tôi run rẩy đặt môi tôi trên mắt chị. Đôi mắt tôi có thể nhìn thấy một cách rõ ràng trong đêm tối mà không sợ lầm lẫn với bất cứ một đôi mắt nào khác.

Chị bật diêm châm những ngọn nến trên bàn phấn. Những ngọn nến nhỏ hồng (bao nhiêu ngọn, không, tôi không biết, tôi chỉ ngửi thấy cái mùi thơm của gian phòng chị, những chiếc áo dài, mấy cuốn sách truyện, cái kẹp tóc, thỏi son, bức ảnh chụp cảnh Chùa Một Cột…) soi sáng chai rượu, thức ăn, bánh ngọt và những hoa giấy.

“Kha ngồi xuống đi. Đầu tháng tới có lẽ tôi sẽ đi xa.”
“Đi xa?”
“Phải, đi xa.”
“Có ai làm phật lòng chị sao?”
“Không. Chẳng có ai làm phật lòng tôi hết. Tôi rất kính mến Dì, tôi rất quý Kha và Tôn. Tôi yêu hết thảy mọi người trong nhà này.”
“Vậy sao chị lại bỏ đi?”
“Bởi vì chị đã bắt đầu tìm thấy dấu tích nơi ở và sở làm của anh Thạc. Chị cần phải gặp anh ấy.”

Tôi nhìn thấy đôi mắt chị sáng lên khi nhắc đến Thạc. Bỗng nhiên tôi bật cười thành tiếng. Chị ngơ ngác nhìn tôi. Hình như tôi có nụ cười mất dạy. Chị lặng lẽ rót rượu ra cốc, đẩy về phía tôi, cầm dao bổ đôi đóa hoa trên chiếc bánh sinh nhật trước khi cúi xuống thổi tắt những ngọn nến.

Thuở đó, tôi mười sáu tuổi học lớp đệ tam, biết hôn môi lần đầu và yêu một người đàn bà bằng tất cả sức lực của tuổi mới lớn của mình.

Vy yêu dấu,

Những ngọn nến hồng đêm đó đã tắt, làm tắt theo tuổi trẻ mà tôi vừa mới có. Vân bỏ việc sớm hơn dự định của chị. Có lẽ chị đã tìm được Thạc, cũng có lẽ là chị vẫn tiếp tục đi tìm mối tình thất lạc của mình.

Còn tôi em biết đấy, con mắt ngó lên trời, những sợi tóc chĩa trên một đầu xù, (em còn nhớ không khi em nhìn thấy lần đầu tiên mái tóc tôi, em đã kêu lên với tất cả sự kỳ cục đó!), một chút kiêu hãnh trong lòng, và rất nhiều tàn bạo trong trái tim.

Vy, cô bé thần thoại Diane, tôi đã đến Huế, đã tìm vô vọng những trái sầu đông cho em, nhưng làm sao có được những thứ trái đó trong mùa hè này! Ở trước trường Nữ Trung Học Đồng Khánh tôi có hái cho em những lá cây đặc biệt thơm mùi băng phiến, tôi có mang về đây cho em. Hãy đến lấy, nếu em muốn.

Em đừng cười tôi nghe, người cộc cằn hung hãn mà nói chuyện tình cảm như tôi chỉ làm những trái cây xanh đến phải chín vì ngượng thôi.

Tắt máy đi Vy.

(im lặng…) Rồi một tiếng động.

Em có nghe tiếng động vừa rồi không? Đố em biết đó là tiếng gì? Phải, em thừa sức hiểu mà!
Cám ơn em đã chịu khó nghe câu chuyện tình kỳ cục của tôi.

Chào nghe! Diane. Hôn em.

NGUYỄN XUÂN HOÀNG
Tháng Bảy, 1970

MỞ

daolam

Em mở vung bờ ngực
Núi đồi ngẩn ngơ chiều
Trên cành cọng lá thức
Ta hồn lạc chân xiêu

Em mở vung bờ ngực
Đáy mắt chiều nhấp nhô
Ta. Chân trần cõi tục
Đi về phía giấc mơ

Em mở vung bờ ngực
Ốc đảo reo thì thầm
Đất trời nghiêng nhật thực
Ta thả…chiều vào đêm

EM MỞ TOANG BỜ NGỰC
TA. TỘI ĐỒ HIẾN DÂNG

Dao Lam