Năm mười lăm tuổi lần đầu tiên tôi gặp nó. Lúc đó tôi đang là một học sinh xuất sắc, học năm cuối cùng của bậc trung học đệ nhất cấp. Nó chuyển đến trường tôi từ một thành phố lớn. Nó cao ngạo, chỉ nhìn bọn học sinh của một trường tỉnh lẻ bằng nửa con mắt. Nhưng nó lại thích tôi. Ba nó và ba tôi còn là đồng nghiệp và đã biết nhau từ trước. Nhà nó rất giàu. Hồi đó nó đã đeo đồng hồ “automatic” loại xịn và xài bút “pilot”. Một hôm nó hỏi tôi:
– Mày có sợ quỷ không?
– Không… biết!
Nó cười:
– Má tao nói tao là quỷ!
– Vì sao?
– Vì… đúng vậy!
Nó không học giỏi bằng tôi nhưng biết rất nhiều trò. Một hôm sau giờ học nó đưa tôi một cái gì đó được gói rất kỹ và bảo:
– Về coi đi, hay lắm!
– Cái gì vậy?
– Báo của Mỹ đó! Nhưng coi lén thôi nha. Mày mà coi ở đây, mấy cha giám thị thấy là bị đuổi học.
Tôi run lẩy bẩy khi mang cái “của quỷ” ấy về nhà nhưng càng run hơn khi đợi lúc không có ai lén mở nó ra. Trời đất ơi, đó là một tạp chí khỏa thân (sau này tôi mới biết) đăng toàn hình đàn bà con gái lõa lồ. Mặt tôi đỏ bừng, mắt tôi nẩy đom đóm, môi tôi khô nứt, tôi thở dồn dập. Tôi muốn vứt nó đi, bỏ nó vô bếp nhưng rồi tôi lại lén cất nó vào ngăn sâu nhất của tủ sách và cứ bị hút mắt vào đó mỗi khi có thể. Tôi bắt đầu biết thủ dâm từ ảnh những cô đào Mỹ bốc lửa này và do có khi làm nhiều lần trong ngày nên sức khỏe sa sút nhanh chóng. May cho tôi, một lần má tôi nhìn thấy tôi đang lén lút xem nhưng chưa kịp “hành động”. Bà làm cho một trận và đem đốt cuốn sách dơ bẩn (lời má tôi nói) đó đi. Thế nhưng những hình ảnh ấy vẫn cứ ám ảnh tôi dai dẳng và tôi bắt đầu học hành sa sút. Chúng tôi vẫn rất thân nhau. Nghe tôi kể chuyện bị má chửi, nó cười:
– Mày có nói cuốn báo đó của tao không?
– Không!
– Sao vậy?
– Nếu nói ra, má tao sẽ không cho tao chơi với mày nữa.
Cũng trong năm đó nó rủ tôi thử hút thuốc nhưng tôi từ chối dù rằng tôi cảm thấy mùi thuốc Capstan mà nó hút rất thơm. Một ngày chủ nhật chúng tôi lang thang ra bãi biển chơi. Nó bảo:
– “Mày muốn coi người ta … nhau không?” . Tôi im lặng. Miệng tôi lại khô khốc, nhớ tới cuốn báo đã bị đốt. Nó bảo:
– Buổi tối, ở trong những hàng dương kia có nhiều cặp … nhau. Nếu mày muốn coi, tối nay tao dẫn mày đi!
Tôi ậm ừ, tất nhiên là tôi rất muốn coi nhưng tôi vẫn cứ sờ sợ. Ngay lúc đó tôi cảm thấy một cơn đau nhói buốt đột ngột xuất hiện trong dạ dày. Cơn đau tăng nhanh làm tôi cảm thấy như thể mình sắp đứt ruột. Mặt tôi tái xanh. Tôi ôm bụng khụyu xuống cát. Nó nhìn thấy và hốt hoảng:
– Mày sao vậy?
– Tao đau quá. Đau trong bụng!
Tôi cố gắng phều phào rồi gần như gục xuống, lịm đi. Bỗng tai tôi nghe tiếng bật diêm rồi một mùi thơm thoáng qua, nó nhanh chóng mất hút trong gió biển rồi lại nồng lên. Tôi cố gắng mở mắt ra. Nó, thằng bạn tôi đang rít lấy rít để một điếu thuốc. Trời ơi, đến nước này mà nó thản nhiên hút thuốc được sao? Tôi cay đắng nghĩ vậy nhưng một bàn tay mạnh mẽ đã nâng đầu tôi lên. Một cái gì đó chạm vào môi tôi.
– Hút đi! Nó nói như ra lệnh.
– H…ú…t???
– Ừ, hút đi! Hít mạnh lên!
Như bị … quỷ ám, tôi răm rắp nghe lời nó. Tôi bập những hơi thuốc lá đầu đời. Tôi suýt bị sặc nhưng cố gắng hít mạnh. Và tôi nghe có một luồng ấm nóng, thống khoái lan từ cổ họng, từ phổi vào dần đến dạ dày, và cơn đau bỗng nhanh chóng tan biến như nó chưa từng xuất hiện. Tôi ngồi dậy trên cát, cố gắng hít điếu thuốc, nhưng nó bỗng giật lấy một cách phũ phàng và dùng chân dí mạnh xuống cát, chôn điếu thuốc.
– Đủ rồi. Hút nữa mày sẽ… chết!
– Sao vậy? Mày hút hoài có chết đâu?
– Đây không phải… thuốc thường. Vì vậy nó mới làm mày hết đau bụng!
Chúng tôi ra về. Tôi ngầy ngật cả buổi chiều hôm đó dù tôi nhớ mình chỉ hút không hơn nửa điếu thuốc của nó. Tối hôm đó tôi lại lên cơn đau và khi ba tôi đưa tôi đến nhà một vị bác sỹ thì ông bảo tôi bị loét dạ dày. Ông chích cho tôi một liều vào rốn và cho một số thuốc. Cơn đau giảm đi nhưng không nhanh như khi tôi được nó cho hút điếu Capstan cháy dở. Lúc đó tôi hoang mang vô cùng và ba ngày sau tôi đã lén mua hai điếu và vào nhà vệ sinh để hút. Tôi ho sặc sụa khi cố gắng hít mạnh khói thuốc vào phổi mà vẫn không tìm thấy cái cảm giác ấm áp, thống khoái lan tỏa hôm nào. Tôi vứt điếu thuốc hút dở và cả điếu còn lại vào bồn cầu.
***
Năm hai mươi tuổi tôi lại gặp con quỷ. Lúc đó tôi đã nghỉ học được gần hai năm. Hồi đó gần như tất cả mọi người đều đói. Tôi cao 1m72 nhưng chỉ nặng có 45kg. Trong đầu tôi thường trực bị hành hạ bởi hai ý nghĩ: Được ăn no và đàn bà! Tôi đã biết hút thuốc từ hai năm nay khi rời trường trung học. Nhưng thời đó may mắn lắm mới có một vài điếu thuốc “đen” đế hút. Tôi nhớ cái hương vị Capstan da diết và đôi lúc nhớ thằng bạn xưa.
Giờ thì tôi đã hiểu lần đó nó đã bỏ cái gì vào điếu thuốc để cứu tôi khỏi cơn đau. Nhưng sau cái chuyện ấy, chúng tôi chưa kịp rình những cặp sau hàng dương thì một biến cố long trời lở đất xảy ra. Một buổi sáng mùa hè loạn lạc, hoang mang, ba tôi ôm cái radio nghe đài BBC. Bỗng dưng ông vất mạnh cái máy vào tường, ôm lấy đầu. Hôm sau ba nó xuất hiện tại nhà tôi với quân phục sĩ quan hải quân và bảo ba tôi:
– Tôi có tàu, anh thu xếp nhanh chóng cùng gia đình tôi đi ngay!
Nhưng ba tôi lắc đầu:
– Tôi không đi!
Ông nói ngắn gọn như vậy. Vẻ mặt buồn bã nhưng khô cứng. Tôi nghe mẹ tôi và em gái tôi khóc trong phòng. Ba nó lầm bầm gì đó rồi bỏ đi. Tôi không bao giờ nhìn thấy nó lần nữa. Sau này tôi nghe nói con tàu chở nó và gia đình đã đi vào miền vô định.
Gia đình tôi sau đó rời miền biển, trôi dạt dần đến những cửa sông. Miền đồng bằng trù phú nhưng gia đình tôi không có ruộng, lại không có ai biết làm nông nên thu nhập chỉ trông chờ vào đôi gánh bán rau của mẹ và cô em gái. Tôi đã bỏ học, tôi không biết làm gì để kiếm tiền nên lâu lâu tôi xuống bến tàu để có ai nhờ bốc vác hàng hóa thì kiếm một ít tiền lẻ. Và nơi đó tôi đã gặp nó. Nó ngồi ở một cái quầy hàng nhỏ đối diện bến tàu. Quầy hàng của nó bán bánh cam, bánh lá dừa và một cái tủ thuốc lá nhỏ nhưng chỉ bán từ sáu giờ chiều đến tận sáng hôm sau. Nó lớn hơn tôi vài tuổi gì đó và khuôn mặt trông rất già dặn. Da nó không trắng lắm nhưng gò má có lúm đồng tiền và một đôi mắt to. Tìm hiểu một chút tôi biết nó mang trong người hai dòng máu Việt-Miên. Khi có một ít tiền tôi thường ghé mua vài điếu thuốc và lần nào nó cũng cười cười với tôi. Nụ cười không mang một ý nghĩa nào nhưng tôi cứ thấy bồi hồi. Mỗi lần trả tiền tôi thường làm bộ đụng chạm bàn tay nó. Có lần nó chộp tay tôi, cười: “Muốn nắm thì nắm đại đi, làm bộ hoài!”. Tôi đỏ mặt và không dám nói thêm câu gì…
Một buổi tối tôi được kêu đi vác lúa ở Phòng Lương thực. Đang vác lúa từ ghe lên tôi bỗng thấy nó dùng nón lá che mặt, đi tắt vào cửa sau. Lòng tôi như lửa đốt. Tôi bỏ việc nửa chừng chạy về bến tàu vì không tin là nó. Nhưng đúng là nó rồi vì quầy hàng đã đóng cửa. Thì ra nó cũng làm chuyện này với đám cán bộ lương thực, những kẻ no đủ và giàu có nhất khi ấy. Đêm sau có bao nhiêu tiền tôi mua rượu đế và nhậu hết với đám bạn bốc vác. Đêm hôm sau nữa, khoảng mười giờ, không dằn được lòng tôi lại ra bến tàu. Nó có ở đó nhưng đang dọn hàng. Tôi làm bộ đến mua thuốc dù lúc ấy túi tôi chằng có đồng nào. Nó nói:
– Em sắp dẹp rồi. Khóa tủ rồi!
– Sao hôm nay không bán?
– Em phải về coi nhà. Nhà không có ai!
Tôi im, lặng. Nhưng bất ngờ nó nói:
– Anh bưng tủ thuốc về nhà giùm em được không?
Thị trấn vắng ngắt. Tôi ôm tủ thuốc lá nhỏ đi theo nó về nhà. Đó là căn nhà nhỏ trong một hẻm vắng. Dọc đường tôi đã biết ba má nó cùng đứa em đã đi về ngoại tận Trà Vinh để ăn đám giỗ. Nó đẩy cái cửa không khóa, nói:
– Anh đem vô đi, để em thắp đèn.
Hồi đó ở những thị trấn nhỏ không có điện. Một ngọn đèn tù mù được thắp lên. Tôi vừa sung sướng, vừa mơ hồ lo sợ. Nó nhìn tôi, mắt ánh lên như mắt mèo:
– Anh hút thuốc không?
– Ừ…
– Anh khép cửa lại đi! Em lấy cho anh một điếu Samit* nha!
Khi nó mở tủ thuốc lá, tôi lấy hết can đảm bước lại thật gần sau lưng và ôm lấy nó. “Trời ơi, đồ quỷ”, tôi nghe nó cười rúc rích. Đó là lần đầu tiên trong đời tôi ăn nằm với một người phụ nữ bằng da bằng thịt nên tôi rất tò mò. Nhưng tôi thất vọng vì bẹn và nách của nó đen thui, không trắng phau như những cô gái Mỹ đầu đời của tôi năm mười lăm tuổi. Sau này những thằng bạn nhiều kinh nghiệm nói với tôi rằng những cô gái lai Miên- Việt đều đen ở những nơi như vậy?!
Năm đó tôi “trúng tuyển” và lên đường qua xứ Chùa Tháp. Ngày đưa quân mẹ và em gái tôi khóc mướt. Ba tôi không nói gì. Nó cho tôi một cái khăn rằn, một gói Samit, mắt đen láy, nói nhỏ: “Anh sẽ gặp em bên đó!”.
Chiến trường rất khốc liệt. Tôi chỉ có một mong ước là tìm mọi cách để được về nhà và cầu mong mình đừng dính đạn của quân Pôn Pốt. Tiểu đội trưởng của tôi là một anh chàng rất gan lỳ. Một lần hắn hỏI:
– Mày biết mùi đàn bà chưa?
Tôi nói dối:
– Chưa!
Hắn bảo:
– Con gái Miên chỉ mặc xà rông, hôm nào tao vớI mày rình tụI nó tắm, kéo ngược xà rông lên đầu là xong! Hắn cười hi hi, dâm đãng.
Một buổi chiều tiểu đội trưởng bảo tôi đi theo anh ta vào một ngôi làng bỏ hoang để tìm những con gia súc còn sót lại. Chúng tôi vào một vườn mít có trồng xen kẻ những hàng thốt nốt. Tôi đưa khẩu AK đã lên đạn sẵn tính bắn vào cuống một trái mít to thì nghe tiếng súng nổ. Giọng tiểu đội trưởng la thất thanh: “Tao bị thương rồi, bắn cản đường tụi nó!”, nhưng lúc đó tôi đã quá hốt hoảng. Tôi phóng mình bỏ chạy. Tôi chỉ muốn còn sống. Từng tràng AK nổ giòn tan. Bỗng trước mặt tôi có bóng một cô gái phất phơ. Tôi gần như nhắm mắt nhằm mũi chạy theo cái bóng đó và thoát khỏi tử thần một cách lạ lùng…
***
Đã rất nhiều năm trôi qua. Tôi đã bỏ lại sau lưng thành phố biển và cả những cửa sông nhưng vẫn có cảm giác con quỷ vẫn còn đeo bám theo mình. Một hôm nó đến ngồi vào lòng tôi và bảo:
– Ông có muốn là tỉ phú không?
– Ai mà không muốn!
– Em giúp ông nè. Mua hết xấp vé số này, chiều ông thành tỉ phú!
Tôi cốc đầu nó: – Đồ quỷ!
Nó cười, nụ cười đẹp mê hồn vì nó phản chiếu một sức sống đang thì tuổi trẻ, điều mà tôi đã đánh mất từ rất lâu.
“Em không phải là quỷ đâu! Anh biết mà!”
Nó nói vậy vì có lần khi được nó cho hôn vào cái núm vú hồng hồng xinh xinh, tôi đã thì thầm: “Thiên thần của anh! Thiên thần của anh!”.
Nhưng tôi biết nó chính là con quỷ theo đuổi suốt cuộc đời tôi. Trong lòng tôi có một tiếng nói thầm. Và tiếng nói ấy luôn nhắc nhở tôi về những con quỷ (hay chỉ một con quỷ?) luôn xuất hiện trong đời mình dưới những bộ dạng khác nhau? Thế nhưng tôi làm thế nào để thoát khỏi nó nếu không gặp những cơ duyên bất ngờ?
Chiều nay tôi đến tìm nó để nói rằng tôi đã sức cùng lực kiệt. Rằng tôi đã sống gần nửa thế kỷ trong nỗi ám ảnh về một cuộc đời bất định. Thế nhưng tôi biết mình không đủ sức cuỡng lại cái hấp lực ma quỷ đang đeo đẳng mình.
Con quỷ cái không có nhà. Tôi biết nó ở đâu. Nó đang chơi trò hội hè trong một cái tổ quỷ từ những đồng tiền chắt chiu của tôi. Tôi ngồi trong nhà trọ và tôi khóc. Tôi nhớ năm mười lăm tuổi của mình. Tôi nhớ cái hương vị lạ lùng từ điếu thuốc Capstan của nó. Rồi tôi nhớ đến cái nách, cái bẹn đen thui nhưng đầy ma lực quyến rũ và bóng nó chập chờn trong buổi hoàng hôn chập choạng những hàng thốt nốt xiêu vẹo, ngã nghiêng. Nhớ tiếng súng AK rộ lên rồi đột ngột tắt trong một không khí quánh đặc của sự phản bộI h èn nhát.
Nó đẩy cửa bước vào. Nó đã nhìn thấy tôi khóc. Mặc kệ. Những giọt nước mắt vẫn rơi ào ạt trên gò má tôi. Tôi biết mình khóc thật. Tôi không diễn.
Nó nói, giọng lạnh băng: – Ông nín đi!
– Vì sao em không cho tôi khóc? Em đã làm khổ tôi quá nhiều!
Giọng nó càng lạnh:
– Điạ ngục không có nước mắt!
có một thế giới khác với thế giới này
thế giới không có gương soi
không có ảo ảnh
người không có bóng
vật không có bóng
cỏ cây không có bóng
chỉ duy nhất mình đối diện với chính mình
chỉ duy nhất nó đối diện với chính nó
đã đi đến cuối con đường
là đi đến tận cùng của sự vật
sự trơ tráo tận cùng
sự nhố nhăng tận cùng
một biến thể khác
lờ mờ hiện ra
ở cuối con đường
tận cùng của thế giới hân hoan bi lụy
gồng mình một ngã ba
của ý thức thăm thẳm huênh hoang
hoặc không có gì cả
mọi thứ phẳng lỳ không hình thù không đường nét
không nhập nhoạng đi về
một chút hồi quang
Tết đã qua một tháng rồi. Tình hình chiến sự lúc này rất căng thẳng. Quân miền Bắc đang tấn công Buôn Mê Thuột. Đến đầu tháng 3 dương lịch, từng đoàn người dân thường, quân đội lẫn lộn đổ xô chạy. Thị trấn này quá tải, ngột ngat trong lo âu sợ hãi. Nhìn những khuôn mặt người di tản bơ phờ, sợ hãi khiến người dân nơi đây hoảng loạn, lo lắng. Nhiều gia đình tìm đường vào Sài Gòn khi nghe tin Buôn Mê Thuột đã mất.
Hải Đường không còn nhớ gì xảy ra lúc này. Cũng không còn đầu óc nghĩ về anh nữa. Mọi chuyện rối tung lên không riêng gì gia đình cô. Đâu đâu cũng nghe bàn chuyện di tản. Một hôm, đến trường nghe tin thầy Hiệu Trưởng đã cho nghỉ học. Thầy cô và học sinh giải tán trở về gia đình. Đó là những ngày cuối cùng thời áo trắng của Hải Đường. Mãi mãi không bao giờ còn được cắp sách đến trường nữa. Thật ra cô cũng không bận tâm lắm đến chuyện nghỉ học. Chiến tranh khốc liệt đã chiếm hết tâm trí rồi.
Hải Đường mãi mãi vĩnh biệt thời áo trắng một cách lạnh lùng như vậy.
Là sĩ quan quân đội nên Ba cô có phần lo sợ. Nét hoang mang lộ rõ trên khuôn mặt và giọng nói của Ba. Mẹ bàn với Ba nên bỏ nhà thoát theo đoàn người di tản để tìm đường vào Sài gòn. Lúc này đường bộ đã bị tắt nghẽn không dễ gì đi được. Vậy là cả nhà gom hết những vật dụng cần thiết để chuẩn bị ra đi. Phần cô chỉ có những kỷ vật là được gói ghém kỹ nhất.
Trong lúc hỗn loạn căng thẳng thì Hải Đường nhận được lá thư tay nhờ chuyển của ông Giao từ Sài Gòn. Cô không còn nhớ ai đã đem lá thư ấy về cho mình và bằng cách nào. Ông Giao viết: “Hải Đường em! Tình hình này anh không thể nào về với em và gia đình được. Anh nóng lòng quá, không biết em và gia đình thế nào rồi. Em thưa lại với Ba và tìm mọi cách để vào đây với anh, rồi anh sẽ thu xếp. Đừng để chậm trễ, em nhé! Thời gian bây giờ chỉ tính từng giờ thôi. Nhớ là phải nhanh lên, anh nhớ mong em từng phút giây – Anh Giao.”
Cô đọc thư nhưng không nói lại cho Ba Mẹ biết. Lòng bình thản không một chút âu lo, nghĩ ngợi dành cho ông ta. Trong lúc hỗn loạn này đâu có gì chi phối được tâm trí của cô. Sự sợ hãi chiếm hết đầu óc rồi còn đâu. Một gia đình với đứa trẻ nhỏ nhất mới chỉ ba tuổi nên mọi người không thể liều lĩnh băng rừng vượt biển ra đi. Cuối cùng cái thị trấn đáng ghét này vẫn là nơi cư ngụ.
Sau 30/4
Mọi người trong gia đình bắt tay vào dọn dẹp nhà cửa. Công việc thật nặng nề, tâm trạng chán chường. Ai cũng im lặng làm việc. Muốn dọn thế nào cũng được vì bây giờ cũng chẳng cần cho nhà cửa đàng hoàng, miễn sao có chỗ để ăn ngủ.
Hải Đường ngơ ngác mỗi khi chiều về. Có căn nhà bị sụp đổ bên kia đường, cô hay qua ngồi thẫn thờ bên đống gạch vụn vỡ với hai hàng nước mắt. Cảnh vật điêu tàn quá! Người đã buồn nhưng cảnh còn buồn hơn khiến cô như chơi vơi, hụt hẫng trong những tháng ngày tiếp theo sau đó. Khóc cho tuổi trẻ cô trôi qua mau như một giấc mơ. Tiếc thương cho tà áo trắng giờ nằm im lìm, lạnh lẽo trong góc tủ. Khóc cho bút vở tội nghiệp và khóc cho cuộc đời cô.
Hải Đường tiếc thương tuổi trẻ đã mất và những gì cô phải chịu đựng trong quãng thời gian đẹp nhất của một đời người. Từ tuổi mười lăm đã phải trải qua biết bao đau khổ, tâm hồn bị tổn thương mà lẽ ra cô xứng đáng được hưởng những gì tốt đẹp nhất trên đời này như bao cô gái khác. Đánh mất tình yêu của mình để đón nhận cuộc hôn nhân vô nghĩa và cuối cùng mất luôn thời áo trắng cặp vở.
Là một sĩ quan Tâm lý chiến nên ba của Hải Đường phải tập trung để học tập cải tạo. Trước khi đi ông nói với Hải Đường: “Bây giờ điều gì con muốn, con có thể làm được rồi. Nhưng hãy đợi Ba về rồi lấy chồng nghe con!”. Cô nhìn thấy giọt nước mắt của Ba trên bàn tay mình.
Quán cà phê được mở lại nhưng chỉ bán vào buổi tối. Hải Đường tiếp tục trông coi quán vì thời gian này mẹ cũng phải ra bươn chãi ngoài chợ đời để kiếm cái ăn cho gia đình.
Lúc này quán không còn xanh màu áo lính như xưa. Cô nấu chè bán thêm để phục vụ cho nhiều thành phần khách. Công việc rất vất vả vì cô chỉ mới bắt đầu làm quen, tất cả hãy còn mới mẻ và lạ lẫm đối với cô. Quán cũng không còn tiếng nhạc dặt dìu với khung cảnh mờ ảo ánh đèn màu. Tất cả đã tắt lịm. Mọi thứ cứ như chưa hề có. Một sự trống vắng, một nỗi cô quạnh đến rợn người.
Sau một ngày cực nhọc vất vả, hằng đêm trước giấc ngủ cô phải tập đối diện với thực tại, nhưng không dễ dàng chút nào.
.
Tâm trạng Hải Đường dần ổn định sau một thời gian dài. Những chuyện đã xảy ra trước đây bắt đầu trở về lại. Những niềm vui và nỗi buồn xen lẫn với nhau. Nhớ được gì cứ nhớ. Thế nào cũng được. Dù sao thì mọi thứ xảy ra trước đây vẫn còn hơn bây giờ.
Thỉnh thoảng vắng khách, Hải Đường ngồi nhìn gốc cây bông giấy mà thẫn thờ. Cô nhớ anh. Thời tình yêu chớm nở ấy đã trôi qua hơn một năm rồi mà cô cứ ngỡ anh vẫn đang ngồi đó, lưng quay về phía mình. Nhớ những lá thư trao vội qua khung cửa sổ, nhớ nụ cười anh. Nhớ lắm, “Cậu bé” của cô.
Tháng bảy năm bảy lăm, Hải Đường nhận được thư ông Giao “ .. Anh không nhìn thấy trở ngại nào cả và nếu có thì cũng cố vượt qua cho bỏ hết những xui xẻo dĩ vãng. Anh đã chuẩn bị một tổ ấm cho tụi mình và sau ngày cưới em sẽ vào luôn với anh trong này. Anh nôn nóng lắm, cứ sợ tương lai khi đưa em vào thì thành phố này buồn hơn cũ nhiều, bây giờ thì vẫn đẹp?…”
Hải Đường viết thư trả lời mềm mỏng: “… Em xin lỗi, chưa được đâu anh, phải chờ Ba em đi học tập cải tạo về rồi tính…”. Cô khéo léo trả lời như vậy để trì hoãn chuyện cưới xin, hi vọng sẽ tìm được cách thoát khỏi cuộc hôn nhân áp đặt này. Cô nghĩ thời thế đã thay đổi và mọi chuyện cũng sẽ thay đổi theo. Cái cớ hợp lý nhất bây giờ là cô muốn đám cưới phải có sự hiện diện của Ba, cô sẽ vin vào đó để kéo dài thời gian.
Nhưng thật ra Hải Đường đang chờ đợi một điều khác. Cô chờ anh!
Hải Đường không ngờ là ông Giao viết thư cho Mẹ mình : “.Thưa Mẹ, nhà cửa con đã chuẩn bị rồi, mọi thứ cho một tổ ấm con đã lo đầy đủ. Con xin Mẹ thuyết phục em cho con được tổ chức cưới…”.
.
Nhận được thư của ông Giao, mẹ Hải Đường như người giữa giòng nước gặp lại chiếc phao đã trôi đi trước đó. Trong hoàn cảnh bi đát như thế này mà ông ấy vẫn còn chung thuỷ với cô thì còn gì quý hơn, bà nghĩ vậy. Ở Sài gòn dù sao cũng khá hơn đây nhiều. Có sẵn nhà cửa cho cô rồi, vậy thì cần phải tiến hành chuyện cưới xin càng sớm càng tốt. Không cần thiết phải chờ Ba cô trở về. Hơn nữa, làm sao có thể chờ được khi không thể biết ngày về. Năm năm, mười năm.. không lẽ cứ chờ hoài vậy sao? Lại thúc hối, dỗ dành để cho họ cưới. Hải Đường nhất định không bằng lòng, cứ khăng khăng phải chờ Ba về vì chỉ có cái cớ đó thì ông ta mới không cưới được cô.
Hải Đường còn hai lý do để từ chối việc cưới xin vào lúc này. Đó là trước khi đi cải tạo Ba đã dặn dò rằng chờ Ba về. Thứ hai là cô muốn chờ đợi anh.
Mỗi ngày Hải Đường đều mong ngóng thư của bạn bè để được lịm đi trong buồn bã và tiếc nhớ. Đọc những lá thư Hải Đường lại càng tủi thân hơn. Mọi người vẫn còn cắp sách đến trường, riêng cô không được cái diễm phúc đó. Bạn viết: “… Nhớ cái thuở tụi mình xa lắc xa lơ mà buồn chán chê mi nợ! – Đừng có sợ tụi ta quên mi, vào lớp nhắc, đi chơi nhắc luôn, chẳng còn dịp nào để nghe mi hát nữa. Hải Đường ơi! muốn ứa nước mắt khóc thuở tụi mình. Nhớ không cái hôm chàng si tình đến tận nhà tao để tìm mi. Nhìn quanh, không có chỗ nấp mi chui đại dưới bàn học để trốn? Nhìn mi mặt mày tái xanh cả bọn không nhịn được cười. Hình như đó là lần cuối mình cười nhiều nhất Hải Đường hở?…”
Và còn một nơi sâu thẳm trong tim, cô nén chặt nỗi đau khi tự hỏi sao anh không viết cho cô một dòng nào ? Sau cuộc chiến, mọi chuyện đã thay đổi sao anh không trở lại nơi đây một lần? Đâu còn trở ngại gì nữa để được tìm đến nhau. Phải chi có anh bên cạnh cô lúc này thì mọi chuyện đơn giản hơn nhiều. Hải Đường nghĩ như vậy và cảm thấy như bị anh bỏ rơi trong lúc này. Cô vẫn còn yêu anh nhiều lắm. Nhớ anh biết chừng nào!
Một hôm đang ngồi bán hàng trong nhà thì có người đến trao cho Hải Đường một lá thư. Bì thư tự làm thật đơn giản, nhỏ và xinh xắn hơn. Giấy xếp bì thư là loại giấy cứng, lấy ra từ một tập hồ sơ nào đó có in những sọc ngang. Ngoài bì thư ghi người nhận : Hải Đường, quán cà phê Hải Đường. Thị trấn… Cô nhận ra ngay nét chữ của anh. Trời ơi! Hải Đường mừng muốn bật khóc ngay giữa quán.
Từ từ, cô dùng kéo cẩn thận cắt bì thư ra. Bên trong có hai lá thư. Hải Đường mở một lá ra đọc trước.
“ Kim Anh thân mến!
… Có gì vui sau cuộc chiến không..? Vẫn còn đến trường cùng bạn bè hay đã nghỉ học rồi. Ta nhớ những ngày cùng đi học với bạn bè mà buồn quá. Nhớ mọi người..”
…
Hải Đường giận dỗi xé ngay bức thư không thương tiếc. Định không đọc tiếp lá thư thứ hai nữa. Tim cô hồi hộp không biết lá thư này có phải gởi cho mình không hay là cho người bạn nào đó nhờ cô chuyển giúp. Vừa giận dỗi nhưng cũng vì tò mò, Hải Đường mở ra đọc.
“ Hải Đường thân mến!
Những ngày mưa nơi thành phố của ta buồn hiu hắt. Hải Đường bây giờ thế nào rồi. Vẫn còn ngày ngày cắp sách đến trường cùng bạn bè đó chứ? Ta nghĩ Hải Đường bây giờ đang yên vui chuyện chồng con..
Nhờ chuyển thư cho Kim Anh nhé.”
Trời ơi! Hải Đường không thể tin được là anh viết cho cô những giòng chữ quá đơn giản như vậy. Còn tệ hơn viết cho một người bạn. Cô giận anh. Cô ghét anh.
Đêm đó Hải Đường nằm úp mặt vào gối khóc như một đứa trẻ con. Không lẽ anh quên tình yêu của họ rồi sao? Hơn hai năm chờ đợi, trông ngóng để rồi cô nhận được những giòng chữ vô hồn của anh. Anh phải hình dung được cuộc sống của cô bây giờ tệ hại như thế nào chứ. Không biết anh còn một chút tình cảm nào không mà lại gởi cho cô lá thư như vậy. Điều xấu xa nhất của anh là đã đùa cợt cô bằng cách gởi hai lá thư chung với nhau. Lại còn nhờ chuyển lá thư ấy cho cô gái ấy.
Còn gì đau đớn hơn khi đối diện với sự thật là anh đã quên cô và đùa cợt với tình yêu của cô dành cho anh từ hơn hai năm nay. Kim Anh chính là cô nữ sinh học sau Hải Đường hai lớp.
Hải Đường bật hộp quẹt, tần ngần một lúc rồi tắt đi. Định đốt bỏ lá thư anh gởi nhưng rồi cuối cùng cũng không đành. Cô còn giữ mãi cho đến hôm nay.
Cứ ngỡ mọi chuyện qua đi và Hải Đường sẽ quên lá thư ấy. Nhưng không, một tháng sau anh gởi cho cô lần nữa.
“ Hải Đường thân mến ơi!
Mưa rả rich. Có khi mưa cuồng nộ. Trong rừng núi này không có tiếng côn trùng kêu. Chỉ có tiếng mưa trên mái lá và những cây cao vút ầm ào đổ xuống.
Ta không còn ở thành phố nữa rồi. Bây giờ núi rừng là không gian ta phải yêu mến. Cái lạnh cắt da ta chưa bao giờ biết trước đây khiến ta co ro như con mèo ốm. Hải Đường chẳng hiểu vì sao đâu. Không hình dung nỗi ta bây giờ như thế nào đâu.Ta nhớ tất cả mọi thứ trên đời và ta thèm được sống như một con người đàng hoàng.
Ta cũng nhớ Hải Đường và mọi người biết bao!
…
Hãy chuyển dùm ta đến Kim Anh lá thư này nhé”
Lần này thật sự là quá sức chịu đựng của Hải Đường rồi. Tại sao không gởi trực tiếp mà phải bắt cô chuyển lá thư ấy cho người ta. Anh đùa cợt đến vậy sao? Hai năm tính từ ngày anh ra đi cho đến nay cô mong ngóng tin anh, không biết anh lưu lạc về đâu, làm gì, cuộc sống anh có được bình yên hay không? Vậy mà cuối cùng anh lại đối xử như vậy. Thà rằng anh đừng gởi cho cô hai lá thư ấy. Cho cô giữ mãi hình ảnh đẹp đẽ về anh và kỷ niệm một thời yêu nhau có lẽ tốt hơn không?
Đôi mắt Hải Đường ráo hoảnh. Nước mắt không còn để khóc được nữa. Cô cay đắng xếp lại lá thư một cách cẩn thận, cất vào ngăn tủ. Hai lá thư được nhét sâu dưới chồng sách vở. Chất đầy lên trên những gì có thể được.
Hải Đường quyết định quên và chôn sâu mối tình đầu. Đoạn tuyệt mãi mãi tình yêu dại khờ của mình.
Hải Đường làm quen với việc buôn bán. Mẹ cô lúc này tháo vát hơn bằng cách đi buôn chuyến từ SàiGòn về.
Là chị gái lớn trong nhà nên Hải Đường phải chăm sóc, cơm nước cho các em, vừa buôn bán ngoài chợ. Cô bán hàng thực phẩm hải sản khô. Từ sáng sớm chị em cô đẩy chiếc xe cọc cạch chở hàng ra chợ nhưng khi mấy đứa em đi học, cô phải gồng gánh trên đôi vai. Đoạn đường từ nhà đến chợ khoảng vài trăm mét thôi nhưng với cô nó dài thăm thẳm. Đôi chân rã rời và lòng đau lắm khi phải đi qua đoạn đường này. Đoạn đường ngắn thân yêu, quen thuộc từng viên sỏi, hàng cây, vệ cỏ. Từng căn nhà lùi lại đằng sau mỗi bước chân. Đoạn đường trước đây với áo dài, cặp vở Hải Đường đã qua lại nhưng bây giờ là quang gánh trên vai. Đôi vai gầy ngày trước có người ví như cánh vạc trong nhạc Trịnh nay oằn xuống dưới sức nặng của số phận. Cánh vạc ngày đó tả tơi rồi.
Hải Đường hiền lành, nhút nhát, ít nói nên ra chợ một thời gian cô bị người đời đánh bật không thương tiếc. Người ta giành giật từng miếng ăn với nhau, còn cô chỉ biết đứng nhìn.
Mẹ gom góp mua được miếng rẫy. Ngày ngày theo anh trai lội qua con suối nhỏ để trồng khoai, sắn, nuôi heo. Hải Đường trở thành nông dân một cách bất đắc dĩ. Cuốc xẻng gì cũng biết sử dụng sau vài tháng nắng mưa.
Lây lất rồi cũng qua năm. Bạn bè bây giờ đã giã từ áo trắng hết rồi. Bọn con gái có đứa học sư phạm, có đứa về nhà bươn chãi với cuộc sống khó khăn. Hải Đường buộc phải tham gia vào đoàn thể thanh niên. Đêm đêm ra sinh hoạt chung với những thanh niên nam nữ trong xã. Dù không quen với đám đông nhưng không thể trốn tránh được. Thanh niên gồm đủ thành phần nên không phù hợp lắm với cách sống nhẹ nhàng, âm thầm của cô nhưng biết làm sao hơn.
Một thời gian sau Hải Đường được đề nghị tham gia văn nghệ ở xã. Như vậy cũng tốt hơn trước nhiều. Ít ra cũng còn có chút niềm vui.
Người phụ trách Đội trưởng văn nghệ là anh Thọ. Mẹ không muốn con gái mình tham gia nhưng cũng phải miễn cưỡng sau nhiều lần anh đến thuyết phục. Làm sao mẹ có thể chống đối lại chính quyền được.
Anh Thọ là một thanh niên trí thức, học Đại Học Sư Phạm ở Sài Gòn năm cuối cùng. Sau 30/4, vì hoàn cảnh gia đình, Ba anh đau nặng không ai chăm sóc nên phải bỏ học trở về. Trong số thanh niên còn ở lại lúc ấy có lẽ anh là người nổi bật nhất. Anh nói chuyện dí dỏm, thông minh. Ở Sài gòn trọ học nhiều năm nên phong cách của anh rất khác những thanh niên ở đây.
Một hôm, sau buổi tập văn nghệ trở về, anh đi bên Hải Đường nhỏ nhẹ:
– Sáng mai anh sẽ đến nhà tập riêng cho em để chuẩn bị tiết mục đơn ca.
– Dạ…
Không hiểu sao lúc này anh trở nên rụt rè:
– Anh biết Hải Đường từ ngày anh còn học ở Sài gòn. Mỗi lần về nghỉ hè, thỉnh thoảng có lên quán uống cà phê. Lúc ngồi dưới ánh đèn màu em đẹp lắm!
…
– Tối mai anh lại đến đón Hải Đường đi tập văn nghệ nhé!
Cô ngại ngùng:
– Cám ơn anh. Em đi một mình cũng được. Anh đừng đón, không tiện.
Thỉnh thoảng anh tặng cho Hải Đường một vài món quà đầy ý nghĩa. Anh quan tâm đặc biệt đến cô. Về công việc, sức khỏe và cả những buồn vui trong cuộc sống.
Xứ sở này quá điêu tàn. Con người ở đây cũng vậy. Những gia đình khá giả ra đi rất nhiều. Người ở tầng lớp trên trước đó không còn lại bao nhiêu. Họ ra đi để tìm một cuộc sống khá hơn, văn minh hơn nên thời gian này ở đây rất buồn, không còn náo nhiệt như trước nữa.
Anh Thọ thường gần gũi, an ủi những lúc Hải Đường buồn phiền nên cô cũng có chút tình cảm và tôn trọng anh như người anh trai của mình. Cô rất quý mến con người học thức này nhưng vẫn luôn giữ một khoảng cách nhất định.
Trong khi bao nhiêu người tìm cách ra đi thì anh lại từ Sài Gòn ngược về đây. Đôi khi cô nghĩ về anh như một con người kỳ lạ. Một con người có trình độ đại học, ở Sài Gòn nhiều năm sao lại có thể quay về ở nơi hiu hắt này. Anh có thể làm việc trong đó, sẽ có điều kiện để anh tiến thân hơn. Hải Đường khâm phục sự dũng cảm của anh. Dưới suy nghĩ của cô không ai có thể hơn anh lúc này.
…
Sau khi nhận hai lá thư cuối của mối tình đầu, Hải Đường hụt hẫng, buồn tủi thời gian dài nhưng rồi cũng cố quên đi để sống bình thản. Điều đó rất khó nhưng cô quyết tâm sẽ làm được. Cố gắng hòa nhập vào cuộc sống mới, tham gia sinh hoạt thanh niên, văn nghệ để cố tìm quên.
Thời gian dần trôi. Cuối cùng rồi cũng quên được mối tình cổ tích. Hải Đường bắt đầu làm lại cuộc đời mình.
.
.
Qua năm 1976, đội văn nghệ ráo riết luyện tập để đón mừng Xuân Bính Thìn. Mẹ không muốn cho Hải Đường tham gia nữa vì sợ cô thoát khỏi sự kiểm soát của Mẹ. Anh Thọ đã đến nhà thuyết phục cho Mẹ hiểu vai trò của người thanh niên trong chế độ mới, phải có đoàn thể chứ không tách rời ra được. Anh khuyên Mẹ nên để cho cô được tham gia vì điều đó sẽ tác động tốt đến việc học tập cải tạo của Ba cô. Không còn cách nào khác nên bà phải đồng ý. Hải Đường rất mừng vì nếu cứ ở nhà hoài sẽ làm cho con người cô héo khô hơn. Hải Đường muốn quên đi mọi chuyện đã qua, quên thời đi học tung tăng cùng bạn bè, quên đi trường lớp, quên đi tất cả vì nếu càng nhớ càng thêm đau khổ mà thôi. Nhất là mối tình đầu đời chưa chết hẳn, cứ gặm nhấm tâm hồn yếu đuối tội nghiệp của cô. Vì vậy đi tập văn nghệ hằng đêm là sự an ủi cho cô được thanh thản hơn.
Anh Thọ luôn nổi bật giữa đám đông. Mỗi lần sinh hoạt thanh niên, anh thu hút mọi người với lối nói chuyện dí dỏm, lưu loát và hay cười của anh. Mọi người ngưỡng mộ, khâm phục vì anh đàn, hát rất hay. Càng ngày anh càng tỏ ra quan tâm, gần gũi Hải Đường hơn. Anh động viên, an ủi cho cô vơi đi buồn phiền và cô rất cảm động vì những điều đó.
Anh chính là người được Hải Đuòng dành tình cảm nhiều nhất lúc đó. Không phải tổ ấm gia đình mà chính là anh vực cô dậy để hòa nhập với cuộc sống này. Cô biết anh yêu mình rất nhiều và mong được đáp lại.
Anh Thọ hay tìm cách đến gần Hải Đường. Muốn chứng tỏ cho mọi người hiểu rằng anh yêu cô, theo đuổi cô. Thái độ của Hải Đường lúc ấy rất chừng mực trong quan hệ với anh. Những lá thư tỏ tình của anh trao vội vào tay cô khi vắng người thực ra không làm cho Hải Đường xúc động. Lời trong thư không bay bổng, hoa mỹ. Anh nói về tình yêu bằng lời lẽ chân thật nhưng chưa làm trái tim cô rung động được. Chưa trả lời đồng ý yêu anh, không phải vì không có cảm tình với anh nhưng sự thật cô chưa thể đón nhận nó. Hải Đường suy nghĩ rất nhiều về vấn đề này bởi vì sợ những gì sắp đến sẽ xảy ra. Đến với anh, cuộc đời sau này của anh sẽ ra sao? Hải Đường là con của một sĩ quan chế độ cũ, còn anh là một cán bộ làm việc ở xã ( do lý lịch bản thân và gia đình” trong sạch “), liệu điều đó có đem lại một tương lai tốt đẹp cho anh? Cô suy nghĩ rất nhiều vì không có cách lựa chọn hoàn hảo nào.
Còn một rắc rối lớn nữa là làm sao thoát khỏi lễ giáo gia đình khi Hải Đường đã nhận lời hứa hôn với một người khác và Mẹ có đồng ý để cô lấy anh Thọ không? Bao nhiêu câu hỏi cứ xoay trong đầu .
Nhưng sâu thẳm chính là Hải Đường chưa thể quên đi mối tình đầu.
Mẹ không thể cấm Hải Đường đi sinh hoạt văn nghệ dù rất ghét điều ấy. Cô thì ngược lại. Cứ lợi dụng việc sinh hoạt đó để tìm cách thoát ra khỏi nhà, thoát khỏi ánh mắt Mẹ. Cuối cùng rồi Mẹ cũng phát hiện chuyện anh Thọ theo đuổi cô nên giao cho Hồng, cô em gái lúc đó mới mười hai tuổi giám sát chặt chẽ. Đi đâu, làm gì cũng có cặp mắt của Hồng dõi theo. Điều ấy khiến Hải Đường bị ức chế rất nhiều. Sao Mẹ không tha cho cô con gái yếu đuối, tội nghiệp của Mẹ. Sao Mẹ không cho cô được làm một đứa con bình thường như bao người con gái khác để được chút thời gian thanh thản trong tâm hồn? Sao Mẹ nỡ trói buộc cuộc đời cô từ khi chưa kịp lớn cho đến bây giờ? Hải Đường tủi thân cho số kiếp của mình. Cuộc sống đã đổi thay rồi nhưng cô vẫn bị trói chặt.
Tóm tắt bản tham luận của Nhà văn, Họa sĩ Trương Vũ
Tiểu sử:
-Tên thật Trương Hồng Sơn, Tiến Sĩ Khoa Học.
-Tốt nghiệp Đại Học Sài Gòn, University of Pennsylvania, The George Washington University về Toán, Vật Lý Hạt Nhân, và Kỹ Sư Điện trong Kỹ Thuật Không Gian.
-Trưởng Phòng Sinh Viên Vụ và Dạy Toán tại Viện Đại Học Đại Học Cộng Đồng Duyên Hải Nha Trang trước 1975.
-Vượt biển và định cư tại Hoa Kỳ từ 1976.
-Chuyên gia nghiên cứu cho NASA từ 1980 cho đến khi nghỉ hưu, năm 2006.
– Nguyên Đồng Chủ Biên Tập San Việt Học The Vietnam Review, Đồng Chủ Biên Tuyển Tập Văn Chương Chiến Tranh The Other Side of Heaven (do Curbstone Press xuất bản, 1995), và Chủ Bút Tạp Chí Đối Thoại (1994-1995).
-Hiện cư ngụ tại Maryland, USA, chú tâm vào vẽ và viết.
Bài tham luận được trình bày qua những điểm chính sau đây : -Miền Nam trước khi SÁNG TẠO xuất hiện
-Những đóng góp của SÁNG TẠO
-Những chủ trương của SÁNG TẠO
-Vài nhận định của tác giả
Nhà văn Trương Vũ cho rằng những ảnh hưởng của các biến cố chính trị toàn cầu : (Hiệp định Geneve ( tháng7/54, Đại hội Cộng Sản lần thứ 20 của Nga, (2/56),chính phủ Miền Nam tuyên bố ( Hoàng Sa , Trường Sa thuộc chủ quyền VN tháng 6/56) Thợ thuyền Ba lan biểu tình bạo động ( tháng 6) , Quốc hữu hóa kênh đào Suez (tháng 7) cuộc chiến ai cập Do Thái và Anh Pháp xảy ra (tháng 10…) đã ảnh hưởng đến các tâm tư giới trí thức trẻ miền Nam đặc biệt là thành phần mới di cư từ miển Bắc
Về lãnh vực Văn Học Nghệ Thuật Báo Chí, miền Nam có một hụt hẫng rõ rệt: Báo ĐỜI MỚI của nhóm Trần văn Ân , Hồ Hữu Tường, Nguyễn Đức Quỳnh bị đóng cửa ( vì có liên hệ với nhóm Bình Xuyên) , mà thật ra cũng không còn thích hợp với những suy nghĩ mới của quần chúng. Vũ Anh Khanh thì tập kết ra Bắc , Nhất Linh thì hoàn toàn im lặng… Chảng có sinh hoạt hay sáng tác văn học nào đáng kể.
Trong bối cảnh ấy, tạp chí SÁNG TẠO ra đời, khao khát đưa nghệ thuật vươn tới trước.
Những khuôn mặt chính của SÁNG TẠO như Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Duy Thanh, Ngọc Dũng Tô Thùy Yên , Doãn Quốc Sĩ v.v… đã tạo một vị trí khá đặc biệt trong Văn Học và Nghệ Thuật ở Miền Nam.
Duy Thanh , Ngọc Dũng đã tổ chức nhiều cuộc triễn lãm hội họa
Mai Thảo với “Đêm Giã Từ Hà Nội”.
Thanh Tâm Tuyền với “Tôi Không Còn Cô Độc” xuất hiện như là một hiện tượng của thi ca “đột ngột, vừa phũ phàng vừa hấp dẫn.” “…tôi thèm giết tôi
loài sát nhân muôn đời
tôi gào tên tôi thảm thiết
thanh tâm tuyền
bóp cổ tôi chết gục
để tôi được phục sinh…”
(Thanh Tâm Tuyền, Phục sinh)
Doãn Quốc Sĩ vốn là một nhà giáo , nhà văn nên thế giới văn chương của ông đầy nhân hậu , quyết liệt với cái xấu nhưng vô cùng độ lượng
Tô Thùy Yên khác Thanh Tâm Tuyền, thơ tự do của ông không khó hiểu ( hay không cố tình làm ra vẻ khó hiểu) ngang tàng cô đơn và rất dễ len vào hồn người “Tôi mang hình hài những vết bỏng
Đi suốt hoàng hôn không hỏi chào ai”
( Tô Thùy Yên, Tội đồ)
Quách Thoại cũng là một tài hoa trong nhóm, thơ ông rất gần với thơ cổ điển “Ta thức một đêm trắng
Tỏ tình với trăng hoa
Ta chết nằm liêu vắng
Không bóng người đi qua”
(Quach Thoại, Liêu vắng)
Cách xuất hiện của SÁNG TẠO đầy màu sắc sáng tạo. Theo nhà văn Võ Phiến : Cuộc ” cách mạng ” của SÁNG TẠO như vậy động chạm đến sự có mặt đầy uy tín của một dĩ vãng : NHẤT LINH. Sau đó 2 năm , Nhất Linh “xuống núi “. Sáng Tạo được xem là nét đổi hướng của Văn Học Miền Nam. Lúc đó miền Bắc chứng kiến sự bùng nổ của Nhân Văn Giai Phẩm.
Như vậy , từ sự góp mặt của SÁNG TẠO, miền Nam chứng kiến 2 vận động đối nghịch nhau, hai quan điểm , hai tâm tình khác nhau của quần chúng thưởng ngoạn.
Trong suốt 31 số liên tiếp, SÁNG TẠO không ngưng cổ võ cho những thí nghiệm và khám phá trong nghệ thuật.
Sau biến cố 75, SÁNG TẠO có nhiều người ở tù và ở tù rất lâu như Doãn Quốc Sĩ, Tô Thùy Yên , Thanh Tâm Tuyền , đặc biệt họ vẫn tiếp tục sáng tác ở trong tù, và sau đó…Điều đáng ghi nhận là văn chương của họ không mang chút oán hờn nhỏ bé .
Kết thúc cho bài nói chuyện của mình, nhà văn Trương Vũ đã đặt một câu hỏi: “ Đất nước chúng ta trải qua gần 40 năm thanh bình ( ở cái nghĩa không bắn giết nhau bằng súng đạn) Qua thời gian dài đăng đẳng ấy, văn học chúng ta ở trong hay ngoài nước đã vượt đi tới chặng đường nào???”
Bài thuyết trình không nhằm trực tiếp trã lời câu hỏi trên. Chỉ nhắc lại một đoạn trong một bài viết của Mai Thảo tại Sài Gòn 45 năm trước đây. Có những câu như “…Nghệ thuật thì không ngừng đổi thay theo đời sống đi tới, và nhà văn luôn đứng trước những vấn đề mới đặt ra, từng phút từng giờ…”.
Bài tham luận trong buổi “Hội Thảo 20 năm văn học Miền Nam Việt Nam” của TRỊNH THANH THỦY
Gần đây, có lẽ nhiều người trong chúng ta từng nghe nói đến giải Nobel Hoà Bình năm nay được trao cho hai người, một Ấn Độ và một Pakistan. Họ đều là các nhà hoạt động vì quyền lợi của phụ nữ và trẻ em.
Người thứ nhất, Ông Kailash Satyarthi là một kỹ sư điện Ấn Độ, 60 tuổi, từng đấu tranh hỗ trợ cho các trẻ em và phụ nữ, những người làm việc tại các nhà máy Ấn Độ như những kẻ nô lê. Họ bị bóc lột sức lao động và là nạn nhân của bạo lực cũng như tấn công tình dục.
Người thứ hai, Malala Yousafzai là một cô gái người Pakistan, 17 tuổi, người trẻ nhất của lịch sử giải Nobel trong hơn một trăm năm vừa qua. Năm 16 tuổi, cô bị một nhóm người Taliban nả súng vào đầu cũng chỉ vì cô đấu tranh cho 31 triệu bé gái trên thế giới được đi học. Họ tưởng đã làm cô bặt tiếng nhưng họ đã lầm. Cô vẫn sống như một phép lạ. Và từ sự im lặng đó hàng nghìn tiếng nói khác đã cất lên, những sức sống mãnh liệt đầy dũng cảm được ra đời.
Tôi tự hỏi, động cơ nào đã khiến một cô bé gái từ năm 11 tuổi đã tranh đấu cho nữ quyền, đã không sợ bất cứ quyền lực nào, cái chết và sự trả thù. Tại vì người Taliban đã cấm không cho người nữ được cắp sách đến trường. Họ muốn bịt mắt, bịt miệng, che tai, mù loà đầu óc phụ nữ ngay khi họ còn là đứa bé. Chỉ khi bị bịt miệng người ta mới biết mình cần được nói. Bị bịt mắt người ta mới thấy ánh sáng là cần thiết. Bị mù loà tâm trí người ta mới cần cắp sách đến trường để khai thông trí tuệ, học hỏi điều hay lẽ phải. Sức mạnh của giáo dục rất cần thiết cho mọi con người.
Quý vị có bao giờ đặt câu hỏi tại sao Kailash là một người nam, lại đứng ra tranh đấu cho phụ nữ và trẻ em?. Tại họ bị bóc lột sức lao động, bị hãm hiếp không thương tiếc trong khi chính quyền đang tâm làm ngơ và coi thường rẻ rúng người phụ nữ. Phụ nữ là ai, họ là em, là chị, là mẹ, là bà của chúng ta, họ cũng là những bè bạn, người thân ruột thịt chúng ta hằng yêu mến. Tranh đấu và bênh vực cho họ chính là tranh đấu cho nhân quyền, tranh đấu cho quyền làm người của họ và cũng là tranh đấu cho chính chúng ta.
Qua câu chuyện trên chúng ta nhận ra được, ngày nay, ảnh hưởng của ý thức nữ quyền rất sâu rộng. Ở mọi lãnh vực, giới tính, mọi lứa tuổi, màu da, cũng như đẳng cấp xã hội.
Bây giờ, ngược dòng lịch sử, chúng ta thử nhìn xem ý thức nữ quyền ảnh hưởng trong tác phẩm của các nhà văn nữ từ 1954 đến 1975 ở Miền Nam VN như thế nào.
Nhắc đến các nhà văn nữ ở thời điểm đó, cá nhân tôi không khỏi tự hào về họ. Những người nữ đã bắt đầu biết sử dụng ngòi viết của mình để bày tỏ lập trường cá nhân. Họ viết và tư duy như một phụ nữ. Ý thức nữ quyền khiến họ nói lên được những quan điểm riêng, và xác định được vị thế cũng như cung cách sống của mình trong xã hội. Họ bắt đầu nhận thức về vai trò, giới tính cùng những khái niệm nhân bản của mình. Họ viết để giải toả sự lạc lõng và cô đơn. Họ tìm sự cảm thông và chia sẻ nơi độc giả. Họ vươn cao, tìm kiếm tự do, cố gắng thoát khỏi sự bao vây nhận chìm của cấu trúc quyền lực truyền thống có tính cách bộ tộc, và cả văn hoá Khổng-Nho.
Họ, không ít thì nhiều chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh. Đó là một quan niệm nghệ thuật về con người là sinh vật cô đơn trong một thế giới phi lý. Nhà văn Nguyễn thị Hoàng là một thí dụ điển hình. Những nhân vật nữ trong tác phẩm của bà lúc nào cũng ở trong một tình trạng mất định hướng và bối rối khi đứng trước một thế giới hình như là vô nghĩa. Họ lang thang bất định, xa rời với phận sự gia đình, luôn khao khát đi tìm một đời sống thật của mình, nghĩa là tìm kiếm chính mình. Những nhân vật như thế đều được tìm thấy trong các tác phẩm “Tuổi Sài Gòn, Vực Nước Mắt, Tiếng Chuông gọi người tình trở về”.
Vốn dĩ phải chịu nhiều thiệt thòi trong cuộc sống, các nhà văn nữ đề cao quan niệm tự do luyến ái. Họ thừa hưởng ý thức nữ quyền do ảnh hưởng Simone de Beauvoir. Họ mon men đi vào những đề tài cấm kỵ như tình dục. Có người còn nổi loạn bằng cách đề cao tính dục, thân xác, vẻ đẹp của phụ nữ và coi trọng tự do cá nhân, cuộc sống riêng tư. Tác phẩm “Vòng tay học trò” của Nguyễn Thị Hoàng ra đời như một cuộc nổi loạn, đạp đổ hàng rào luân lý, đạo đức truyền thống. Câu chuyện xoay quanh những suy tư dằng xé giữa tình yêu, tình dục và đạo đức của một cô giáo và anh học trò. Tác phẩm trở thành một trong những tác phẩm gây tranh cãi nhất thời ấy.
Vào thập niên 54 tới 75, quyền làm người của phụ nữ vẫn chưa được đánh giá đúng đắn. Trong nhiều quốc gia và xã hội họ vẫn còn được xem như các tài vật được buôn bán và trao đổi. Riêng ở Việt Nam có những người còn bị ngược đãi, bạo hành, cưỡng dâm, vùi dập và chịu mọi phục tùng trước sức mạnh của quyền lực. Quan niêm phụ nữ là một vật dục để thoả mãn nhục dục vẫn được lưu giữ trong đầu óc một số người thời đó. Trong truyện ngắn “Bí mật của rừng già” của Trùng Dương viết năm 1971, bà đã mô tả một nhân vật nam có tiền bạc quyền lực thích chiếm đoạt và làm tình với gái trinh, chỉ một lần rồi bỏ đi và tìm cô gái khác. Ông ta thú nhận cái cảm giác thích thú khi nhìn những giọt máu rỉ ra từ các màng trinh bị rách của các cô gái đáng thương. Sau đó ông ta đã cưỡng dâm một nữ tu từ ái trong một lần cô ta quá giang xe tới Đà Lạt. Số phận hèn mọn của người nữ tu kết thúc bằng một cái chết và đứa con gái gù lưng.
Câu chuyện kể trên, có thể có thật hay đã được Trùng Dương dựng nên từ hư cấu. Tuy nhiên nó là một thí dụ điển hình của những chuyện tương tự như thế ở xã hội VN thời bấy giờ. Nó xảy ra công khai hay được che chắn bằng tiền bạc hoặc những thế lực quyền cao chức trọng.
Thân phận nhỏ bé và mềm yếu của người phụ nữ càng hiển lộ khi họ rơi vào cuộc chiến. Vậy mà sau cuộc chiến họ là người có công trong việc tái lập trật tự gia đình, xã hội. Bàn tay của họ dịu dàng, nhẫn nhục, xoa dịu và chữa lành những vết thương ghẻ lở tàn dư của cuộc chiến. Người phụ nữ viết không phải để kể công trạng của họ thời hậu chiến, mà họ viết để kể lể sự bất hạnh, để tìm sự cảm thông, để bày ra ánh sáng những giọt nước mắt âm thầm đã nhỏ trong góc tối, của một kiếp đàn bà chịu đoạ đày. Họ viết bằng mực máu nhỏ từ tim.
Dưới ngòi viết của Nhã Ca, chiến tranh là những kinh hoàng, khốn khổ, lửa đỏ, nước mắt ngược xuôi. Cuốn, Giải khăn sô cho Huế của bà đã ghi được cơn hấp hối của Huế trong trận thảm sát Mậu Thân với hàng chục ngàn hài cốt dân Huế dưới những mồ chôn tập thể. Đâu cũng có nét hoảng hốt, chỗ nào cũng là người chết, kẻ bị thương. Tiếng vật vã, mẹ khóc con, vợ khóc chồng thê thiết, bi ai trong tiếng đạn phá, đại bác réo tơi bời. Có thể nói khi viết về chiến tranh, ngòi viết nữ bỗng chảy thành thể lỏng rấm rứt, thê lương. Đặc biệt hơn, dưới vai trò nạn nhân, bản năng người mẹ của phụ nữ trỗi dậy, họ như gà mẹ xù lông đối đầu với nanh vuốt diều hâu. Họ sẵn sàng hy sinh, dìu dắt và liều chết để bảo vệ con trẻ trước sự bạo hành của bất cứ bàn tay hung ác, quyền lực nào.
Có một số người viết nữ có khuynh hướng bung thoát khỏi tầm ngắm. Họ muốn bứt phá bức tường thành kiến xã hội, tả và viết về tình dục như một biểu trưng của nữ quyền. Trùng Dương đã tỏ rõ thái độ nữ quyền của mình trong tác phẩm “Miền chân trời”. Bà đã cho Diệu, nhân vật nữ của mình hành động, tư duy như một người nữ và cái tôi của người phụ nữ trong tình dục được thể hiện qua hành động “đòi nằm trên” trong cuộc chăn gối.
Túy Hồng với lối tả chân các cảm nhận đích thực, bà đã soi rọi những bí mật chìm sâu trong thế giới nhạy cảm của người nữ. Ngòi bút của bà đã đi những bước dài trong hành trình đi vào địa ngục hay thiên đường xứ “sex”. Những cuồng nộ và khoái cảm được tả tỉ mỉ trong một cảnh quan ân ái trong tác phẩm “Những sợi sắc không” tỏ lộ được nét nữ tính đặc biệt của người nữ trong lối viết về sex. Chúng ta sẽ không thể tìm được những điều này trong các tác phẩm của những nhà văn nữ sống tại miền Bắc trong thời điểm 54-75.
Lệ Hằng lãng mạn hơn, thần thánh hoá vũ trụ đàn ông bằng những cháy bỏng, khát khao, lúc nào cũng sẵn sàng chảy sáp trong tình dục cũng như tình yêu. Sự trữ tình và nồng nàn trong văn phong của bà khi nhắc tới dục tính khiến người đọc nghĩ tới những nhân vật nữ bị ẩn ức tình dục lâu ngày dồn nén, chỉ chực nổ bung khi có dịp.Tác phẩm “chết cho tình yêu” của bà đã tỏ lộ điều này.
Nguyễn Thị Thụy Vũ, đào sâu hơn vào những phân chia đẳng cấp, những áp bức bất công và số phận bi thương của phụ nữ trong xã hội bùn lầy nước đọng. Bà nói lên tâm sự cô đơn của các cô gái già. Bà viết về xã hội các cô gái buôn hương bán phấn, sinh hoạt của các gia đình với nhiều biến cố có liên quan đến thời cuộc và khúc quanh của lịch sử.Những tác phẩm “Khung rêu, Mèo đêm, Lao vào lửa” là những ray rứt, thèm khát yêu thương, tình dục được tâm sự, kể lể bằng ngòi viết nữ mà không người viết nam nào có thể có được.
Sự có mặt của các nhà văn nữ miền Nam VN từ thập niên 54 tới 75 tựa như sự hiện diện của những bông hoa rực rỡ, toả ra một mùi hương rất nữ tính, trong khu vườn văn học. Ý thức nữ quyền khi tiềm tàng, lúc sáng chói đã khiến người phụ nữ phải cầm viết. Chính vì văn chương cũng là một vũ khí quan trọng trong công cuộc giải phóng chính mình và giải phóng cho nữ giới nói chung.
TIỂU SỬ NGẮN do Chủ Toạ/Nhà văn Bùi Bích Hà giới thiệu:Trangđài Glassey-Trầnguyễn (trangdai.net), một chuyên gia nghiên cứu về Cộng đồng người Việt hải ngoại, là học giả duy nhất trên thế giới đã thực hiện hàng trăm cuộc phỏng vấn lịch sử truyền khẩu với người Việt ở cả bốn châu lục: Á, Âu, Úc, và Mỹ. Một tác giả song ngữ đoạt nhiều giải thưởng, Trangđài tiên phong ghi lại lịch sử của người Việt tại Quận Cam qua Dự án Vietnamese American Project từ thập niên 1990 bằng chính student loans của mình, và đoạt giải quán quân tại cuộc tranh tài nghiên cứu của CSU năm 2004 với bài viết “Quận Cam, Sử Vàng.” Cô là người Việt duy nhất được Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cấp học bổng Fulbright tòan phần, bậc tối ưu, để nghiên cứu về người Việt tại Thụy Điển. Cô tốt nghiệp 4 cử nhân cùng lúc, là thủ khoa 2 ngành và cũng tốt nghiệp cao học Sử Học với hai giải thủ khoa tại CSUF. Trangđài tốt nghiệp Cao học ngành Nhân chủng học tại Đại học Stanford, và hiện đang hoàn tất chương trình tiến sĩ.
Xin cám ơn Nhà văn Bùi Bích Hà,
Xin trân trọng kính chào quý vị,
Trong phần trình bày của mình, tôi xin nhắm tới bốn điểm chính.
• Thứ nhất, 40 năm Văn học miền Nam thất thủ từ cái nhìn của thế hệ hậu chiến;
• Thứ hai, một số hệ quả văn học và ngôn ngữ đối với thế hệ hậu chiến;
• Thứ ba, chúng tôi từng mồ côi, nhưng không chấp nhận mồ côi;
• Và để kết, tôi xin đưa ra một vài gợi ý về căn tính sắc tộc trong sáng tác của những thế hệ ngoại biên, nhất là tương quan của họ với tiếng Mẹ đẻ trong quá trình sáng tạo.
Bài nói này được soạn riêng cho chương trình Hội Thảo Văn Học Miền Nam 1954-1975 cuối tuần này, và là một đề tài liên quan trực tiếp đến những chuyên đề nghiên cứu về người Việt hải ngoại mà tôi thực hiện từ đầu thập niên 90s. Phần trình bày của tôi cũng mang tính bắc cầu, không thuần tuý chỉ nói về giai đoạn văn học hai-mươi-mốt-năm này, mà hướng tới ảnh hưởng của nó đối với những thế hệ sáng tác sau đó tại hải ngoại. Vì giới hạn về thời gian, tôi chọn nói về căn tính di dân và căn tính sắc tộc trong tương quan với đề tài của cuộc Hội Thảo, và do đó, chỉ trích dẫn một số tác giả nhất định trong giai đoạn văn học này. Cánh đồng Văn học Miền Nam mênh mông nhiều màu sắc, và có nhiều tác giả cũng như tác phẩm liên quan đến đề tài này mà tôi chưa có dịp tham khảo vì không có đủ tài liệu. Tôi tin tưởng rằng, khi có một văn khố quy tụ những tác phẩm của Văn Học Miền Nam (và khi tôi dành dụm đủ thời gian để đọc những tác phẩm đó), thì tôi có thể bổ túc thêm cho phần trích dẫn của mình.
• 40 năm Văn học miền Nam thất thủ từ cái nhìn của thế hệ hậu chiến:
Tôi gọi nền văn học miền Nam 1954-1975 là nền văn học thất thủ vì hai lý do. Thứ nhất, cũng như chính thể Việt Nam Cộng Hoà lúc đó, giềng mối của cả một nền văn học đã bị cầm tù, bị đày vào biệt giam, đã đi di tản, đã đi kinh tế mới, đã đi vượt biên, đã chết trong tù, đã bị cấm khẩu, đã bị truy sát. Thứ hai, cũng như cộng đồng di dân Việt hải ngoại đi từ miền Nam, nền văn học thất thủ này cũng đã được tái thiết và chuyển mình, thoát thai thành một nền văn học hải ngoại mạnh mẽ và đa dạng. Thất thủ không có nghĩa là bị huỷ diệt, mà ngược lại, chính trong sự bức chế đó, mà những mầm sống mới vượt lên, một mùa văn học mới đâm chồi, nẩy lộc.
Trong bài nói này, tôi nhìn về văn học miền Nam từ kinh nghiệm của một người thuộc thế hệ hậu chiến, và nhìn về nền văn học đó trong tương quan với cộng đồng Việt hải ngoại trên thế giới. Cho nên hai chữ ‘thất thủ’ chính là tiền đề cho một cuộc đổi đời, một khởi đi tang thương nhưng trên một lộ trình nhiều hy vọng và vận hội. Đâu là những vận hội? Tôi xin nhắc qua khía cạnh văn hóa. Cộng đồng chúng ta may mắn đã đến Mỹ trong một thời điểm thuận lợi cho việc duy trì văn hoá và ngôn ngữ gốc. 50 năm trước đó, người dân thiểu số ở Mỹ, chẳng hạn như người Nhật, không có quyền sở hữu bất động sản và không được nói tiếng mẹ đẻ. Ngay cả trẻ em gốc Mễ Tây Cơ cũng bị phạt khi nói tiếng Tây Ban Nha tại trường. Nhờ phong trào tranh đấu dân quyền của thập niên 50s, 60s, và nhờ vào trào lưu đa văn hoá (dù có những giới hạn của nó), mà khi người Việt tỵ nạn đặt chân đến Mỹ, chúng ta có nhiều ưu đãi so với các sắc dân thiểu số khác khi họ mới định cư tại Hoa Kỳ trước đó. Chẳng hạn như ngay từ những ngày đầu, học sinh Việt Nam được hướng dẫn song ngữ trong các lớp học, vân vân.
Để hiểu cái nhân diện lưu vong của người Việt hải ngoại, thì cần hiểu kinh nghiệm của người Việt trước khi di cư. Vì phần lớn dân số gốc Việt tại hải ngoại ra đi từ miền Nam, kinh nghiệm của họ ở miền Nam trước 1975 là mấu chốt để hiểu về tâm tư và đời sống của họ ở hải ngoại, nhất là của thế hệ thứ nhất. Văn chương là một cửa ngõ lý tưởng để hiểu về kinh nghiệm con người, vì nó giúp chúng ta thấu hiểu những ẩn áo của một xã hội, một thời đại qua những vi tế về tình cảm và tâm lý của con người trong xã hội và thời đại đó.
Khi nhìn về chiều dài lịch sử, thì người Việt đã có kinh nghiệm tỵ nạn từ trong nước, chứ không phải đến khi di cư ra hải ngoại cách ồ ạt từ năm 1975. Tuy kinh nghiệm di dân của người Việt (hay bất cứ dân tộc nào trên thế giới) đã bắt đầu từ hàng trăm năm trước, trong khuôn khổ của bài nói này, tôi chỉ đề cập đến giai đoạn từ thế kỷ hai mươi cho đến hôm nay vì giai đoạn này có ảnh hưởng trực tiếp đến nền văn học mà chúng ta đang bàn đến. Việt Nam ở thập niên 1940-1950 đối diện với sự khánh chung của chế độ đô hộ Pháp, sự hiện diện của quân đội Nhật, và sự can thiệp của Mỹ. Người dân đã phải thường xuyên chạy loạn, tránh bom tránh đạn, và lưu lạc ở các nước lân cận. Hiệp định Geneva được ký kết năm 1954 là một biến cố gây nhiều xáo trộn, và hơn hai triệu người đã rời Bắc đi vào Nam. Sáu mươi năm sau, nhiều gia đình vẫn còn thất lạc nhau hay sống trong ngăn cách cho đến ngày hôm nay. Những biến cố khác cũng đẩy người Việt vào kinh nghiệm tỵ nạn ngay trên quê hương mình, như cuộc thảm sát Tết Mậu Thân 1968 ở Huế. Tác phẩm “Giải Khăn Sô cho Huế” của nhà văn Nhã Ca ghi lại những kinh hoàng và tuyệt vọng của người dân trong biển chết.
Do đó, tôi cho rằng với một lịch sử đầy di tản và lưu lạc như vậy ngay trên quê hương mình, người Việt đã có một căn tính di dân trước khi Sài Gòn thất thủ tháng Tư năm 1975. Tuy nhiên, mức độ và sự đột ngột của biến cố này đưa căn tính di dân lên mức độ quốc tế. Sự ra đi của người dân miền Nam kèm theo một nỗi mất mát to lớn: mất quê hương, mất gia đình, mất đất nước, mất quá khứ cá nhân. Nhiều người ra đi với ý nghĩ là mình sẽ không bao giờ được nhìn thấy quê hương lần nữa. Đây có lẽ là niềm mất mát lớn nhất vì tâm tình gắn bó với quê hương, xứ sở của người Việt. Năm 1975 là một thời điểm mới và một bước ngoặt dứt khoát trong tâm thức di dân của người Việt, khi chúng ta bị đặt ra ngoài đất nước, không như năm 1954 hay 1968. Bên cạnh đó, văn hoá Việt Nam cọ xát với văn hoá phương Tây một cách dữ dội hơn, không chỉ như trong thời Pháp thuộc hay thời chiến tranh Việt Nam, vì khi còn trong nước, môi trường vẫn mang Việt tính, văn hoá chủ lưu tiềm tàng trong đời sống hằng ngày vẫn là văn hoá Việt. Ở hải ngoại, văn hoá Việt trở thành văn hoá di dân, văn hoá sắc tộc, văn hoá thiểu số, phải chịu sự chi phối của văn hoá chính ở đất nước tạm dung.
Vì vậy, ở năm 1975, căn tính di dân của người Việt mang một ý nghĩa mới, vì người Việt đã thực sự lưu vong. Trong bối cảnh lịch sử Việt Nam cận đại, nếu chúng ta nhìn vào năm 1954 và 1968 như là khởi điểm cho cuộc xuất hành năm 1975, thì có một sự tiếp nối của căn tính di dân khởi đi từ giữa thế kỷ hai mươi từ trong nước, và mở rộng ra thế giới năm 1975. Vì sự tiếp nối này, nền văn học miền Nam 1954-1975 là điểm bắt đầu cần thiết cho bất cứ ai muốn tìm hiểu về người Việt hải ngoại. Từ cái đứt đoạn Bắc Nam năm 1954, đến cái vỡ nát của miền Nam 1975, tâm thức của người dân Việt bị phân tán ở hai mức độ: quốc gia, và quốc tế. Nếu nhà văn quá cố Mai Thảo, qua tâm tình của Phượng trong “Đêm Giã Từ Hà Nội,” đã cảm thấy xa Hà Nội dù chưa rời Hà Nội, thì người Việt tỵ nạn sau tháng Tư 1975 đã cảm thấy xa quê hương đến chừng nào khi đã phải lìa bỏ đất nước trong cấp bách và đau đớn.
Chúng ta cùng nghe lại tâm tình của cố nhà văn Mai Thảo trong truyện ngắn Đêm giã từ Hà Nội, do Người Việt xuất bản tại Sài Gòn năm 1955.
“…Phượng nhìn xuống vực thẳm. Hà Nội ở dưới ấy. Từ chỗ anh đứng, Phượng nhìn sang bờ đường bên kia. Những tảng bóng tối đã đặc lại thành khối hình. Từng chiếc một, những hàng mái Hà Nội nhoà dần. Phượng nhìn lên những hàng mái cũ kỹ, đau yếu ấy, giữa một phút giây nhoè nhạt, anh cảm thấy chúng chứa đựng rất nhiều tâm sự, rất nhiều nỗi niềm. Những tâm sự câm lặng. Những nỗi niềm nghẹn uất. Của Hà Nội. Của anh nữa. Dưới những hàng mái cong trũng, ngập đầy lá mùa kia, đang xảy ra những tâm trạng, những biến đổi gì mà ở bên này đường Phượng không đoán hiểu được. Hà Nội đang đổi màu. Đứng bên này bờ đường nhìn sang, Phượng bắt đầu tiếp nhận với một thứ cảm giác ớn lạnh, cách biệt, anh đã đứng trên một bờ vĩ tuyến mà nhìn về một vĩ tuyến bên kia. Bên ấy, có những hình ảnh chia cắt, đứt đoạn. Bên ấy, có những hình chiến luỹ, những hàng rào dây thép gai, những đoạn đường cấm, những vùng không người. Phượng cũng không hiểu tại sao nữa. Giờ này anh còn là người của Hà Nội, thở nhịp thở của Hà Nội, đau niềm đau của Hà Nội, mà Hà Nội hình như đã ở bên kia.”
Nhưng Phượng dù lưu luyến Hà Nội, đã dứt áo ra đi, vì anh đi cùng với trào lưu của thế giới Tự Do. Anh không đi một mình:
“…Đứng một mình trong đêm dài, trước một Hà Nội ngủ thiếp, Phượng nghĩ đến những người bạn đường đã vượt Hồng Hà, đã bỏ Hà Nội, bỏ đất Bắc trước anh, vượt vĩ tuyến về tiếp tục cuộc đấu tranh cho tự do, cho con người, trên phần đất nước còn lại. Anh biết rằng thời đại, trong ngày tới sẽ nối kết con người bằng một ý niệm một hệ thống tự do. Tâm trạng của Phượng đêm nay cũng là tâm trạng của một người thợ máy Đức, một người dân cầy Triều Tiên, đang ngày đêm vượt khỏi những vĩ tuyến tù đày để tìm một hướng đi, một chân trời có không khí và ánh sáng.”
Dù Phượng cảm thấy một tình liên đới với những người đang đi tìm tự do khác trên thế giới, anh vẫn đang ở trên mảnh đất quê hương. Cái ý thức liên quốc gia ấy chỉ làm cho anh thêm mạnh mẽ, vững tin vào chọn lựa của mình và tương lai phía trước. Đó là tâm tình của người Việt rời Bắc vào Nam. Trong khi Phượng đau đớn chia lìa Hà Nội nhưng ra đi với tâm trạng đầy hy vọng, đi về vùng sáng, đi về miền tự do, thì người Việt ly hương năm 1975 đã ra đi – vẫn đi tìm tự do – nhưng với tâm trạng ly hương, mất mát khôn cùng. Khi người Việt rời miền Nam để đi vào thế giới, thì tuy họ cũng đi tìm “một chân trời có không khí và ánh sáng,” nhưng nỗi đau chia lìa quê hương đã phủ lấp bất cứ một vùng sáng nào, để như nhà thơ Du Tử Lê diễn tả trong bài thơ “Thơ Viết từ Camp Pendleton” (tháng 6, 1975), người Việt di tản năm 1975 cảm thấy mình không còn là mình nữa. Thưa quý vị, tôi nói đến bài thơ này dù nó không nằm trong dòng văn học miền Nam 1954-1975, bởi vì nó có liên hệ máu mủ với dòng văn học đó, trong sự nối dài của căn tính di dân của người Việt.
“cám ơn cám ơn Pendleton đã cho ta túp lều chui ra chui vào thập thò và rụt rè như một con chuột con chuột da vàng với một óc rỗng không và đôi tay thừa thãi”
• Một số hệ quả văn học và ngôn ngữ đối với thế hệ hậu chiến:
Tôi chào đời sau chiến tranh, cuối năm 1975, và là ‘ba rọi’ thứ thiệt – hay đối với quý vị nào thích sữa thì có thể nói, tôi là sữa ‘half and half’ – vì đã sống đúng nửa đầu đời ở Việt Nam và nửa sau ở hải ngoại. Với kinh nghiệm sống đó, và với niềm đam mê văn chương Việt Nam cận đại, tôi đã tìm hiểu về giai đoạn văn học này với những thuận lợi từ những phương pháp tra khảo tôi dùng trong học thuật. Tôi lại được ở ngay tại Quận Cam, và với bình nguyên internet rộng lớn, tôi có thể dò dẫm xếp những mẩu puzzle lại với nhau cho bức tranh văn học này, và đây là một công việc gian nan. Tôi nghĩ, với các bạn trẻ khác không có những điều kiện thuận lợi như tôi, thì chắc chắn việc tìm hiểu về giai đoạn văn học này còn khó khăn, mù mịt hơn nhiều.
Lập ra một văn khố về giai đoạn văn học miền Nam 1954-1975 là một công trình to lớn, đòi hỏi một thời gian dài nhiều năm và nhiều công đoạn. Tôi mong rằng công trình này sớm được thực hiện, để những thế hệ như tôi và trẻ hơn có thể tìm được nhịp cầu, đi vào một nền văn chương rực rỡ đã giúp định hình cho văn học hải ngoại, mà nền văn chương ấy, tuy xán lạn, nhưng vẫn còn ẩn mình đối với thế hệ bo bo và thế hệ ngoại biên chúng tôi.
Tuy những người phụ nữ trong gia đình tôi hay kể chuyện ‘đời xưa’ chúng tôi nghe, nhưng mãi đến khi tôi mang thai đến lần thứ ba, thì có những điều Mẹ tôi mới nói cho tôi biết về tuổi thơ của tôi. Có lẽ, tôi cần làm mẹ thì mới biết mà nói về những đề tài này. Mẹ kể, khi Mẹ sanh tôi mới bốn tuần, Mẹ đã bị điều đi về vùng kinh tế mới để dạy học, còn Ba tôi đã đi cải tạo cả mấy tháng trước đó, mà gia đình cũng không biết Ba tôi đang ở đâu. Chuyện tôi chào đời không cha là chuyện tôi biết từ nhỏ, vì tôi cũng lớn lên không cha đến năm 19 tuổi. Nhưng chuyện mà tôi là một đứa trẻ sơ sinh không mẹ là chuyện làm tôi ngạc nhiên và phẫn nộ. Đối với tôi, một đứa trẻ có quyền được ở bên mẹ nó khi mới chào đời. Mẹ tôi phải dứt sữa tôi khi tôi chưa được đầy tháng. Có lẽ đó là một trong những lý do mà trong cả cuộc đời, tôi luôn cảm thấy một lỗ trống trong tâm tư, dù tôi cảm kích tình thương và sự hy sinh mà mẹ tôi dành cho chị em chúng tôi, và cả con cái chúng tôi nữa. Tôi không chỉ bị dứt sữa cách oan ức lúc chưa đầy tháng, mà quan trọng hơn hết, tôi bị tước đoạt cái quyền của một đứa bé được mẹ ôm ẵm, vỗ về, nâng niu, chăm sóc khi còn đỏ hỏn.
Nói về mặt văn chương, thì dòng văn học miền Nam (cả nền văn học Việt Nam trước đó, vì thế hệ cải cách giáo dục chúng tôi phải học nền văn học nhồi sọ) chính là mạch sữa mà thế hệ chúng tôi đã bị tước đi. Khi đọc “Bụi và Rác” của cố nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, tôi mới biết những cái tréo ngoe của ngôn ngữ miền Nam sau khi “bị giải phóng.” Tôi đọc tác phẩm này vào khoảng năm 2005. Nếu ở trong nước, chắc chắn tôi sẽ không được biết tác giả lẫn tác phẩm. Bây giờ, tác phẩm này được phổ biến ở nhiều nơi trên mạng internet, và những rào cản của sự trao đổi thông tin trong nước đã bị giật sập, dù vẫn còn đó những tường lửa và những hàng rào kẽm gai kềm hãm tư tưởng con người. Nếu tôi không sống ở hải ngoại, thì có lẽ tới bây giờ, tôi mới có dịp đọc “Bụi và Rác,” NẾU – và đây là một chữ nếu rất lớn – nếu tôi cố tâm đi tìm hiểu dòng văn học đã bị trù dập 40 năm qua.
Trong một bài nghiên cứu chuyên đề, tôi đã lập luận rằng nền văn học (và nghệ thuật) theo chủ đề tỵ nạn và di dân ở hải ngoại được xây dựng trên bệ phóng vững vàng của nền văn học miền Nam 1954-1975. Khi đọc “Đêm Giã Từ Hà Nội” của nhà văn Mai Thảo, tôi nhận ra rằng, tác giả đã là người tỵ nạn, đã ly hương trước khi ông rời Hà Nội. Cái quyết định ra đi vốn dĩ đã là một sự cách ngăn lớn lao, dù chỉ đi về phương Nam, vẫn còn thuộc về mảnh đất Việt Nam, nhưng là “vùng ánh sáng, miền tự do.” Đọc “Giải Khăn Sô cho Huế” của nhà văn Nhã Ca, thì rõ ràng, sự bất an và bất định trong đời sống của người dân thời loạn đã biến đời sống hằng ngày thành đời sống tỵ nạn với những dời đổi, sống chết, còn mất của nó.
Chính quyền mới sau 1975 đã áp dụng nhiều chương trình cải cách đối với miền Nam và cả nước: cải cách ruộng đất, cải cách kinh tế, cải cách giáo dục. Nhưng có một chương trình cải cách rốt ráo nhưng bán công khai, không có danh xưng, là cải cách ngôn ngữ. Người ta dùng những ngôn từ mới để phân biệt những thành phần phản động, và để loại trừ những cá nhân không được chế độ mới chấp nhận. Như cố nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng đã tỉ mỉ ghi lại, người ta chỉ cần vịn vào một từ để kết án người nói là phản động. Do đó, về mặt ngôn ngữ, thế hệ hậu chiến không chỉ phải ăn bo bo, mà còn phải ăn cả khoai mì độc. Mà vì nền văn học miền Nam đã thất thủ và đã đi lưu vong, nên những thế hệ hậu chiến hoàn toàn mù tịt về nền văn học đó, và không biết rằng, mình đang sử dụng một thứ tiếng Việt đã bị nhiễm độc và nhồi sọ. Cho đến khi chúng tôi đầu thai ra hải ngoại.
• Chúng tôi đã từng mồ côi, nhưng không chấp nhận mồ côi:
Thế hệ chúng tôi sinh ra mồ côi, vì cha thì đi cải tạo, mẹ thì đi kinh tế mới, văn học thì bị chôn sống. Nhưng sau bốn thập niên, chúng tôi đã đoàn tụ với cha mẹ, đã truy ra được những manh mối để đòi lại di sản văn học mà chúng tôi bị tịch thu. Chúng tôi khước từ làm kẻ mồ côi trong gia đình chữ nghĩa của Việt Nam và của thế giới.
Tôi may mắn được sống nửa cuộc đời ở Việt Nam và nửa cuộc đời ở Mỹ. Nhưng tôi không may mắn rơi vào lớp đầu tiên trong chương trình cải cách giáo dục của chính quyền hậu 1975. Như đã nói, điều này cũng có nghĩa là tôi biết rất ít hoặc không biết gì về nền văn học của miền Nam trong giai đoạn trước khi tôi chào đời. Trong bài nói ngắn này, tôi sẽ không nói đến những người trẻ cầm bút viết bằng Tiếng Việt. Tôi nghĩ, ở nhiều cách, cái quan hệ huyết thống giữa những thế hệ sáng tác trước 1975 tại miền Nam và những thế hệ ngoại biên tại hải ngoại sáng tác bằng Việt ngữ đã là điều rõ ràng. Ở đây, tôi xin mạo hiểm và nhìn vào thế hệ gốc Việt sáng tác bằng Anh ngữ là chính, và nhận định rằng, cho dù họ không trực tiếp thừa hưởng nền văn học miền Nam 1954-1975, thì họ vẫn chịu ảnh hưởng của nền văn học này qua chính kinh nghiệm sống và môi trường cộng đồng. Có lẽ nhiều vị sẽ cho rằng tôi hơi lạc quan. Xin trấn an qúy vị ngay, rằng tôi mắc bệnh lạc quan mãn tính, và không có ý định điều trị. Tôi xin phép đưa ra một vài lý do tôi dám lạc quan trong trường hợp này.
Một điều hiển nhiên là nền văn học miền Nam trước 1975 chính là nền tảng vững vàng cho văn học và truyền thông Việt ngữ tại hải ngoại trong suốt 40 năm qua. Đối với tôi, phục hoạt văn học miền Nam trong giai đoạn 1954-1975 tại hải ngoại là một giấc mơ đẹp nhưng bất bất khả thi, vì điều kiện sống và làm việc ở hai thời điểm và địa điểm hoàn toàn khác nhau. Tuy nhiên, từ tâm tư của một thế hệ hậu chiến, tôi thiết tha muốn nhận cái di sản từ giai đoạn văn học này vì nếu không có được di sản này, thế hệ của tôi và các thế hệ sau sẽ là những cái cây không có rễ, với những cái gốc ghép nối từ giống toàn cầu hay địa phương mà thiếu đi cái căn tính Việt. Thêm vào đó, nền văn học miền Nam là nguồn tư tưởng và ngôn ngữ gần nhất đối với thế hệ hậu chiến về mặt thời gian, và có thể trực tiếp khai mở cho chúng tôi về xã hội miền Nam về những thế hệ ngay trước chúng tôi. Đây là nhịp cầu cần thiết để chúng tôi biết về quá khứ của cộng đồng và gia đình mình, giúp chúng tôi hiểu thêm mình đã đến từ đâu và đến như thế nào. Việc hiểu về lịch sử cá nhân và cộng đồng có ảnh hưởng quan trọng đối với nhân diện và tâm lý của một người. Tiến sĩ Eliza Noh, trong luận án từ nhiều năm nghiên cứu của cô tại Đại học Berkeley, đã kết luận rằng một trong những lý do khiến nhiều thiếu nữ Mỹ gốc Á tự vận là vì họ cảm thấy mất liên lạc với quá khứ của gia đình. Nếu những người cầm bút thế hệ hậu chiến không giữ được liên lạc với văn học miền Nam qua những tác phẩm cụ thể, họ có thể lâm vào sự bế tắt tương tự, và bỏ sáng tác.
Khi nền văn học miền Nam bị bức tử, thì những tinh hoa của nó bị dùng để truy sát và cưỡng bức người dân miền Nam, nhất là giới trí thức và sáng tác. Trong tác phẩm kinh điển “Bụi và Rác,” cố nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng đã ghi lại những cái vi tế trong cuộc thảm sát chữ nghĩa, mà tôi cho rằng là một cuộc cải cách không tên được thực hiện rốt ráo ngay từ sau ngày Hồng quân Bắc Việt tiến chiếm miền Nam. Chính quyền mới hô hào và thực hiện nhiều cuộc cải cách một cách công khai và rầm rộ, nhưng cuộc cải cách bỉ cực nhất lại là một hành trình nô lệ vô danh. Tiếng Việt đã bị nô lệ hóa và bần cùng hóa, để những thế hệ hậu chiến như tôi không chỉ còi cọt về thể chất vì ăn độn bo bo, mà còm cõi vật vờ về chữ nghĩa vì bị trúng độc. Khổ nỗi, chính chúng tôi không biết mình trúng độc, cho đến khi không còn sống trong môi trường nhiễm độc nữa. Để giải độc, chính chúng tôi phải ý thức và chấp nhận cắt bỏ những phần cơ thể bị trúng độc của mình, như một người bị ung thư phải giải phẫu để bỏ đi những gì đã bị hư thối.
Một điều đáng mừng là có nhiều gia đình gốc Việt có phụ huynh là người cầm bút đã nuôi dưỡng tình yêu chữ nghĩa trong thế hệ con cháu, và như vậy, ảnh hưởng của nền văn học miền Nam có ảnh hưởng rõ rệt xuyên thế hệ. Thi sứ Đỗ Lệnh Ái Linh, ái nữ của Nhà văn/Luật sư Đinh Từ Bích Thuý và cháu ngoại của Nhà báo/Bình luận gia Đinh Từ Thức, là một trường hợp. Để di sản của nền văn học miền Nam không bị mai một và để ảnh hưởng của nó được rộng khắp, thì cái di sản đó cần được hệ thống hóa và trao lại cho những thế hệ tiếp nối. Tuy vậy, chữ nghĩa là một phạm trù rắc rối và phức tạp. Nó không rõ ràng như bài toán cộng. Tôi không thể nói một cách chắc chắn rằng, vì tác giả X của thế hệ 1 đã ảnh hưởng đến tác giả Y của thế hệ 2, hay tác giả Z của thế hệ 3. Nhưng những sợi tơ vô hình vẫn đan xuyên các thế hệ của người Việt hải ngoại – và cả những người trẻ có quan tâm còn ở trong nước nữa.
• Vài gợi ý về căn tính sắc tộc trong sáng tác của những thế hệ ngoại biên, nhất là tương quan của họ với tiếng Mẹ đẻ trong quá trình sáng tạo:
Văn chương chữ nghĩa là một thế giới mông lung. Không như trong toán học, người ta có thể nói: có hai điểm A và B, và đây là đường thẳng nối hai điểm ấy. Trong văn chương, đôi khi từ điểm A đến điểm B là biết bao vùng mù khơi, biết bao cõi trừu tượng, biết bao miền trí huệ, biết bao trập trùng tâm thức. Ắt nhiều vị từng góp mặt trong giai đoạn văn học miền Nam 1954-1975 cảm thấy rằng thế hệ hậu 1975 – nhất là những thế hệ lớn lên ở hải ngoại – chắc gì đã gắn bó với nền văn học đã thất thủ này. Tôi xin mượn hai câu thơ trong bài “Thôn Vỹ Dạ” của Hàn Mạc Tử để lạm bàn về vùng mù khơi giữa nền văn học miền Nam và giới sáng tác thuộc thế hệ hậu chiến tại hải ngoại. Nếu cõi văn học 1954-1975 là một Thôn Vỹ, thì từ cõi ấy, một số nhà văn của giai đoạn này có lẽ từng cảm thán:
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh Ai biết tình ai có đậm đà
Điều mà những thế hệ di dân luôn lo lắng về các thế hệ sinh ở hải ngoại là: Không biết những thế hệ đi sau có còn đậm đà với những gì ông bà, cha mẹ đã trãi qua, đã gầy dựng? Trong gia đình văn học ắt cũng thế. Những tác gỉa của miền Nam chắc cũng đã từng hỏi: không biết có bao nhiêu người trẻ sinh sau 1975 đọc tác phẩm của mình, và đọc như thế nào? Bỏ quê hương xứ sở ra đi là một sự đứt đoạn, và những đứt đoạn trong đời sống tỵ nạn cũng đưa đến nhiều đứt đoạn khác. Nhưng giữa những đứt đoạn và đổ nát, người Việt hải ngoại đã ươm mầm và vun bồi cho những thôn làng Việt Nam mới, những mùa văn học mới.
Để nền văn học tiếng Việt hải ngoại thực sự thăng hoa, thì các thế hệ cầm bút hậu 1975 cần nhận được di sản từ nền văn học trước 1975 để tiếp tục sáng tạo bằng tiếng mẹ đẻ, để họ nhận chân được nền tảng của những sinh hoạt mà họ vẫn tham gia một cách thấu đáo và có hệ thống. Muốn có một văn khố lưu giữ tinh hoa nền văn học miền Nam trước 1975, thì chỉ những ‘người trong cuộc’ mới làm công việc này đến nơi đến chốn. Giới trẻ cầm bút tại hải ngoại có bắt được nhịp cầu với quá khứ để tiếp tục bồi thố cho văn chương Việt trong thế kỷ 21 trên thế giới hay không, còn tuỳ thuộc vào những thừa kế văn chương cụ thể mà họ nhận được từ thế hệ đi trước. Xin hãy trao Văn Học Miền Nam cho Giới Trẻ Việt Nam toàn cầu.
Thưa quý vị, mặc dù có những rào cản ngôn ngữ và những khoảng cách thế hệ, tôi cho rằng tuy chúng ta chưa có những nghiên cứu để đưa ra mối liên hệ giữa nền văn học miền Nam và giới sáng tác thuộc thế hệ hậu chiến, nhưng chắc chắn có những sợi tơ vô hình nối kết một nền văn học thất thủ đã đặt nền tảng cho đời sống chữ nghĩa của người Việt hải ngoại, với những mùa văn chương mới đang vươn mình ở xứ người. Một trong những điểm giúp chúng ta nhận diện mối liên hệ này, là đề tài và tâm thức di dân mà một số người trẻ chọn cho công việc sáng tạo của mình. Hơn nữa, không chỉ những người cầm bút trẻ mới truy nhận căn tính sắc tộc và di dân/tỵ nạn, mà cả những nghệ sĩ trẻ gốc Việt trong nhiều lãnh vực nghệ thuật khác nhau.
Tôi xin lạm bàn đến những vùng nghệ thuật khác ngoài văn chương, để thấy rằng những thế hệ hậu chiến sinh trưởng hay chào đời tại hải ngoại cũng tìm về với di sản sắc tộc của mình – không chỉ qua những sáng tạo hướng theo các đề tài nổi bật của người Việt hải ngoại, mà còn bằng việc dùng tiếng Việt trong tác phẩm của mình. Từ những hoạ sĩ như Laura Nguyễn với bức tranh chì than “Nấp,” hoạ sĩ Jerry Trương với tác phẩm “Lớp/Vỏ,” hay hoạ sĩ Danh Võ với tác phẩm “Go Mo Ni Ma Da,” thì những hoạ sĩ trẻ này không chỉ sử dụng tiếng Việt cho tựa đề hoạ phẩm, mà còn đưa kinh nghiệm lịch sử của Việt Nam vào những vùng diễn đạt mới.
Đi sâu hơn việc đặt tên cho tác phẩm của mình bằng tiếng Việt là chọn lựa sử dụng tiếng Việt trong sáng tạo. Đây là một thử thách lớn đối với những ai sinh trưởng ở hải ngoại, vì họ vẫn sử dụng ngôn ngữ chính là tiếng Anh hay một ngôn ngữ địa phương khác. Trong một cuộc phỏng vấn bằng tiếng Việt với Tiến sĩ Việt Hồ Lê, vốn là một thi sĩ và hoạ sĩ ở tầm vóc quốc tế, chào đời ở Sài Gòn và cùng gia đình vượt biên năm hai tuổi tôi đã hỏi liệu anh có muốn thay đổi gì trong sự nghiệp của mình, Việt đã trả lời, “Nếu có thể đi ngược thời gian, Việt sẽ cố gắng học tiếng mẹ đẻ chăm chỉ hơn để có thể trả lời phỏng vấn hấp dẫn hơn!” Tôi có vinh hạnh phỏng vấn rất nhiều bạn trẻ sinh tại hải ngoại nhưng nói, viết, đọc tiếng Việt lưu loát.
Ngược lại, cũng có những thi sĩ trẻ khác không dám dùng tiếng Việt, vì sợ xúc phạm đến ngôn ngữ được dùng riêng trong gia đình – một ngôn ngữ mà đối với họ rất thiêng liêng. Nhà thơ Ocean Vương sinh ở Sàigòn, Việt Nam năm 1988, và đến Mỹ khi mới một tuổi rưỡi. Ocean là tác giả của hai tập thơ: “No” (Nxb YesYes Books, 2013) và “Burnings” (Nxb Sibling Rivalry Press, 2010), vốn nằm trong danh sách American Library Association’s Over The Rainbow và được dùng rộng rãi trong các trường đại học tại Mỹ và các nước khác. Ocean nhận giải Pushcart năm 2013, bên cạnh các vinh dự khác. Ocean bắt đầu làm thơ khi Bà Ngoại của anh qua đời. Trong một cuộc phỏng vấn bằng tiếng Anh năm 2013, tôi đã hỏi, nếu có thể viết bằng tiếng Việt, liệu Ocean có cảm thấy có một cách hoàn toàn khác để ở bên Bà Ngoại và tưởng nhớ Bà không? Anh trả lời (tôi dịch sang tiếng Việt), “Không. Tiếng Việt rất quý giá đối với tôi vì nó là ngôn ngữ tôi sử dụng trong bếp, với gia đình. Đó là ngôn ngữ mà tôi học từ những cái chết và sự ra đời của người thân. Qua đó, tiếng Việt hoàn toàn độc lập với nghệ thuật và những gì phức tạp. Khi tôi nói tiếng Việt, tôi nói trong mạch nước trong. Tôi thoải mái nhất. Tôi có thể nói tất cả và không nói gì cùng một lúc. Nên tôi không muốn sáng tác bằng tiếng Việt. Tôi không muốn dùng ngôn ngữ đó cho thơ ca. Tôi không muốn làm hoen ố nó. Hơn nữa, âm nhạc, âm điệu trong tiếng Việt thì đã thơ đủ rồi.”
Bên cạnh lý do tình cảm khiến cho một số người cầm bút trẻ không sử dụng tiếng Việt trong sáng tác, thì cũng có những lý do rất thực tế khiến cho họ chọn viết bằng tiếng Anh. Trong những buổi nói chuyện về kỹ thuật viết và nghiệp viết cho các lớp tiếng Việt tại Westminster High School ở Quận Cam, California, đầu năm 2014, tôi đã đưa ra một cuộc thăm dò ngắn với gần 100 em học sinh trung học. Đa số các học sinh trong những lớp này giỏi tiếng Việt hơn tiếng Anh vì mới định cư ở Mỹ. Các em được yêu cầu tự nhận định về khả năng tiếng Việt của mình, bên cạnh một loạt câu hỏi về chọn lựa viết tiếng Việt hay tiếng Anh. Câu hỏi như thế này: Em sẽ chọn công việc nào? Viết 800 chữ, nhuận bút $500; hay Viết 1,200 chữ, nhuận bút $50? Tiếp theo, cũng câu hỏi đó, nhưng có thêm hai yếu tố khác cho câu trả lời. Chọn lựa thứ nhất: Viết 800 chữ, nhuận bút $500, tiếng Anh, đề tài được định sẵn. Chọn lựa thứ hai: Viết 1,200 chữ, nhuận bút $50, tiếng Việt, đề tài do chính em chọn. Em sẽ chọn công việc nào: thứ nhất, hay là thứ hai? Và đây là câu hỏi sau cùng: Khi biết thêm về chọn lựa và ngôn ngữ cho mỗi công việc, em có thay đổi quyết định của mình không? Tại sao?
Có lẽ quý vị cũng đoán được, tất cả các em đã chọn viết 800 chữ, nhuận bút $500, vì như đa số các em nói, “Nhiều tiền, ít chữ, đỡ cực.” Sau khi biết thêm hai yếu tố về ngôn ngữ và đề tài thì đa số vẫn không thay đổi quyết định. Một em đã viết, “Không, vì bây giờ thứ em cần là tiền, sau này thì có thể suy nghĩ lại!” 14% đổi quyết định và chọn viết tiếng Việt, theo đề tài mình chọn, dù với nhuận bút thấp, vì như một em nói, “Em sẽ biết cái topic em cần viết;” và một em khác, “Tôi muốn được viết cái gì tôi thích;” hoặc vì một lý do rất thực tế, “Em chưa giỏi tiếng Anh;” hay là vì không muốn “Mất công đi lấy thêm lớp tiếng Anh tốn tiền!”
Có một em hỏi ngược lại tôi: “Cô ơi, có việc nào viết 100 chữ được $100,000 không Cô?” Tôi chưa bao giờ thấy nơi nào rao việc như vậy, nên nếu quý vị biết thì xin cho tôi thông tin để chuyển đến em sinh viên này. Thưa quý vị, tôi nhắc đến cuộc thăm dò này, vì nó phản ảnh cái thực tế là nghề cầm bút bằng tiếng Việt ở hải ngoại không phải là một chọn lựa kinh tế khả thi. Trong cuộc phỏng vấn do Lê Quỳnh Mai thực hiện trên Hợp Lưu, Nhà văn Trần Vũ đã nói, “Tôi chỉ mong muốn, các tập san văn chương VN trên giấy cũng như trên mạng, cùng nhà xuất bản ngoài nước trả tác quyền và nhuận bút cho các tác giả, ký kết văn kiện hợp đồng đàng hoàng y như Tây phương… Dương Thu Hương có lần tuyên bố: Cái nhục lạc hậu nghèo đói, cũng nhục như cái nhục mất nước. Tôi muốn thêm: Cái nhục không trả tiền nhuận bút, cũng nhục như cái nhục mất nước. Muốn vậy, nhưng tôi biết rõ các tạp chí không có lợi tức. Không nhuận bút ở ngoài nước đã thành một thông lệ. Một truyền thống. Và hơn một truyền thống, một định mệnh.”
Cho nên, tự bản thân việc sử dụng tiếng Việt trong sáng tác ở hải ngoại đã là một chọn lựa đắt đỏ, chưa kể đến những yếu tố về số lượng độc giả, và những giới hạn ngôn ngữ tất yếu cho các bạn sinh trưởng ở hải ngoại. Đây cũng là một trong những lý do cần phải trao di sản văn học miền Nam 1954-1975 cho những thế hệ hậu chiến, để giúp họ có một nguồn vốn dồi dào cho một con đường khá cam go. Điều đáng quý, là dù những thế hệ sinh ở Mỹ không thông thạo tiếng Việt, họ vẫn cố gắng dùng tiếng Việt như một phần của căn tính văn hoá gốc. Qua nhiều Dự án nghiên cứu khác nhau về người Việt hải ngoại tại Bắc Mỹ, Úc Châu, và Âu Châu trong 21 năm qua, tôi đã gặp nhiều bạn trẻ sinh ở hải ngoại nhưng thông thạo tiếng mẹ đẻ. Họ sử dụng tiếng Việt lưu loát ở cả các mặt: nghe, nói, đọc, viết. Mà không chỉ những người trong giới cầm bút, mà trong nhiều ngành khác như dược, luật, thương mại, vv. Bên cạnh đó, còn có những bạn trẻ không phải người Việt ở khắp nơi trên thế giới chọn theo học những ngành về văn hoá, ngôn ngữ, văn chương Việt Nam. Nếu chúng ta có một văn khố chính thức về văn học miền Nam trong giai đoạn này, thì sẽ giúp tất cả giới trẻ hải ngoại – dù gốc Việt hay không – dễ dàng tìm hiểu về văn học Việt Nam trong giai đoạn cận đại. Nếu không, họ sẽ tìm thấy một ngõ cụt, và có thể chuyển hướng tìm hiểu về những đề tài khác với tài liệu có sẵn.
Kinh nghiệm của người di dân ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng thường bị mai một và lấp đi bởi rào cản ngôn ngữ, vật lộn mưu sinh, và sự nín lặng của quá khứ tang thương. Người Việt ở hải ngoại đã may mắn có điều kiện thuận lợi để mở một bước ngoặc mới. Năm 2004, tôi có thực hiện một dự án về truyền thông Việt ngữ tại Little Saigon, và phỏng vấn một số vị trong báo giới về việc sử dụng tiếng Việt trong cộng đồng Việt Nam trong vài chục năm tới. Đa số đều cho rằng, có lẽ cũng giống như các cộng đồng di dân gốc Á khác, cộng đồng Việt Nam của chúng ta sẽ duy trì được tiếng Việt chỉ trong một hai thế hệ đầu. Những thế hệ sau sẽ đi vào dòng chính, và tiếng Việt không còn quan trọng đối với họ. Ở năm 2014 này, chúng ta có ngót bốn mươi năm duy trì văn hoá, lịch sử, và tiếng Việt qua các sinh hoạt văn học, văn hoá, Việt ngữ, và truyền thông tại hải ngoại. Trong những năm gần đây, với phong trào giáo dục song ngữ Anh Việt nở rộ trong hệ thống giáo dục công lập ở Hoa Kỳ, chúng ta đã có những vận hội mới, từ những chương trình song ngữ Anh Việt từ bậc tiểu học, đến các lớp tiếng Việt ở bậc trung học, chương trình cử nhân hoàn toàn bằng tiếng Việt ở bậc đại học, và nhiều chương trình về văn hoá và ngôn ngữ Việt khác. Chúng ta có thể tin rằng, các thế hệ tương lai sẽ có đủ khả năng ngôn ngữ để lãnh hội những tác phẩm của nền văn học Miền Nam bằng chính tiếng mẹ đẻ của mình, mà không cần đi vòng qua một bản dịch Anh ngữ. Nhưng trước hết, chúng ta cần trao nền văn học đó cho họ.
Những thế hệ hậu chiến phải đối diện với nhiều khoảng cách khi họ tìm về quá khứ của gia đình và cộng đồng: khoảng cách thế hệ, khoảng cách ngôn ngữ, khoảng cách về kinh nghiệm sống, khoảng cách về nhận thức về lịch sử. Trong trường hợp của Ocean Vương, anh chào đời mười ba năm sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, nhưng lịch sử gia đình đã đặt Anh ngay vào giữa cuộc chiến – với công việc mà Bà Ngoại của Anh đã làm để sống còn, với những cái chết của những người nam trong gia đình, và mọi việc khác. Khi được hỏi, lúc nào thì anh bắt đầu ý thức được về chiến tranh Việt Nam, và anh có quan hệ cá nhân như thế nào với cuộc chiến, Ocean đã nói, “Tôi trở nên ý thức về chiến tranh khi tôi cứ thấy người Việt, thường được đóng bởi những diễn viên da trắng với khuôn mặt vàng, bị John Wayne bắn trên màn hình TV. Tôi nghĩ thật là kỳ quặc khi nhiều người Việt bị bắn chết bởi ‘người tốt.’ Tôi nghĩ tôi phải là một ‘người xấu.’ Nên tôi đi thư viện để thử tìm hiểu xem tôi xấu như thế nào. Đó là khi tôi khám phá ra sách và chữ. Và qua sách, tôi biết rằng bạn có thể dùng chữ để biến một người thành người tốt hay người xấu. Như thể ảo thuật (hết trích).” Đó là một trong những khoảng cách có thể được khoả lấp nếu những thế hệ hậu chiến tại hải ngoại có được di sản cần thiết, là những tác phẩm của văn học miền Nam, giúp họ hiểu được mình đến từ đâu, và đã có một quê hương như thế nào.
Để kết, tôi mời quý vị cùng nghe một bài nhạc rap của John Vietnam Nguyễn, một nhạc sĩ trẻ quá cố. Mẹ anh là một phụ nữ Việt tỵ nạn, và cha anh là một cựu quân nhân Mỹ. Anh chào đời tại Chicago năm 1993, và mất cũng tại đây khi cứu một người bạn khỏi chết đuối tháng Chín năm 2012. John Vietnam đã có nhiều đóng góp cho cộng đồng nghệ thuật, sinh viên, và địa phương, và người ta đã vẽ một mural cũng như dành một con đường tại Chicago để vinh danh anh. Anh sáng tác bằng tiếng Anh, nhưng có một bài với nhan đề ‘a hapa rap in Vietnamese’ – tựa thì tiếng Anh, nhưng ca từ hoàn toàn bằng tiếng Việt (https://www.youtube.com/watch?v=V3U-hqQ3kGo). Ở đây, tôi chú trọng vào việc John Vietnam dùng hoàn toàn tiếng Việt trong bài nhạc rap của mình – và đưa cả phụ đề song ngữ, dù phần tiếng Việt có sai chính tả. Tôi xin phép không bàn đến ca từ, vì điều đó liên quan đến việc phân tích nhạc rap, vốn không phải là đề tài của ngày hôm nay. Điều tôi muốn nhấn mạnh là có thể đây là tác phẩm táo bạo nhất của người nhạc sĩ trẻ này, vì chọn lựa ngôn ngữ. Những chữ sai chính tả trong phần phụ đề cho thấy có lẽ John cũng rất vất vả để soạn phần phụ đề. Như chúng ta thấy, Ocean Vương tuy sinh ở Việt Nam, nhưng có một thái độ hoàn toàn khác với John Vietnam về tiếng Việt trong việc sáng tác. Đối với Ocean, tiếng Việt rất thiêng liêng, chỉ để nói với người thân, nên Ocean không dám dùng đến trong sáng tạo. Ngược lại, John Vietnam chọn dùng tiếng Việt, tuy anh nói tiếng Việt với âm hưởng của những người Việt gốc ‘hải ngoại.’
Qua tác phẩm này, John Vietnam đã đưa tiếng Việt ‘hội nhập’ vào dòng chính, qua một bộ môn nghệ thuật trình diễn rất phổ biến đối với người trẻ. Như vậy, anh đã giúp đưa tiếng Việt gần hơn với những thế hệ mới, và với cả những người hâm mộ anh không phải là người Việt hoặc không biết tiếng Việt. Qua đó, anh cũng giúp phản bác một lý thuyết trong khoa học xã hội về kinh nghiệm di dân, đó là những cộng đồng di dân thường bị ‘frozen’ hay đóng băng trong quá khứ, và sống trong quá khứ. Qua những mạng xã hội của mình, John Vietnam mời gọi mọi người tưởng niệm tháng Tư như một cách giữ gìn và công nhận gốc gác của mình. Anh tìm hiểu và gắn bó với lịch sử di dân của mình, nhưng đồng thời, anh cũng dùng chính lịch sử đó để định hướng cho hiện tại và tương lai một cách sống động. Và tác phẩm ‘a hapa rap in Vietnamese’ là một thí dụ cụ thể.
Xin trân trọng cám ơn thời giờ quý báu của quý vị.