MỘT NGÀY NÀO NHƯ THỂ NGÀY XƯA

nguyenngocnghia

Anh chợt ngã vào đêm
Bờ cỏ mượt mênh mang niên thiếu
để vội thấy em tan
tan
tan nhanh
hòa vào chuỗi hoài niệm phục sinh bất tuyệt
dường như
áo trắng em lẩn khuất đâu đây
dường như
đêm hân hoan soi gương thầm thì
sóng sánh chút phiêu bồng lặng lẽ
ngày tháng nào
ngày tháng nào đã nhẹ cánh thiên di?
Tạ ơn
tạ ơn một ngày
em chấp chới giữa vườn quên lãng
cát vàng bỏng rát ngực hoàng hôn
khao khát hồn nhiên
một thời lãng mạn
đôi mắt dõi theo thoáng bụi hồng
Tạ ơn
tạ ơn chút trăm năm quá ngắn
quẩn quanh
cũng chỉ một vòng quay
anh đứng giữa lưng chừng bờ ngạo mạn
lúng túng chân mềm
vướng lọn tóc bay.

NGUYỄN NGỌC NGHĨA
(04.2015)

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, “Chúng chỉ là những thằng bé đó thôi”

nuocmattruocconmua

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before The Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.

BRIAN ELLIS
(Hãng tin CBS)
“Chúng chỉ là những thằng bé đó thôi”

Mùa Xuân 1975 tôi đang điều khiển văn phòng hãng tin CBS tại Saigon, nên đã phải dính líu vào việc di tản nhân viên hãng tin cùng với gia đình quyến thuộc họ. Khi những nhóm đầu tiên bắt đầu ra đi là tin tức lọt ngay ra ngoài. Những tin tức về người ra đi được loan truyền rất nhanh trong cộng đồng người Việt. Chính vì thế, tôi bắt đầu phải tiếp đón những người khách lạ với những cuộc thăm viếng lạ lùng, đến nỗi cuối cùng tôi phải thuê bốn căn phòng trong bốn khách sạn khác nhau. Ban đêm tôi đổi khách sạn, vì người ta săn đuổi, bám theo tôi suốt đêm ngày, mà tôi vẫn phải lo công việc điều khiển hãng tin.

Một đêm kia, Đại úy Anh – người thông dịch của phòng báo chí chính quyền Việt Nam – đến thăm tôi tại khách sạn Continental. Ông ta bảo có nghe nói về kế hoạch này, ông ta biết một số nhân viên người Việt đã ra đi, một số khác nữa cũng sẽ đi. Tôi bảo “Tôi không hiểu ông đang nói chuyện gì”.

Ông ta nói: “Tôi muốn ông thu xếp đưa Trung tá Hiền và tôi ra đi”. Tôi bảo: “Tôi không nghĩ có thể làm như thế. Ông là quân nhân. Tôi không liên hệ chuyện này. Thực ra, nếu tôi biết có ai lo liệu được, họ cũng chỉ đưa các dân sự ra đi thôi”.

Lời nói ấy không hiệu quả. Đêm sau, ông ta trở lại. Lần này ông ta đeo một khẩu súng lục. Ông ta vào phòng tôi, ngồi xuống. Rút khẩu súng để lên lòng. Tay vỗ nhẹ khẩu súng, ông ta bảo việc ông và viên Trung tá của ông ra đi là việc rất khẩn thiết.

Thông điệp đưa ra thực rõ ràng. Nếu khôn hồn phải rán lo cho họ đi.

Bây giờ tôi suy nghĩ: Quả là một vụ phiền phức lớn: Vì nếu giúp họ đi thì làm sao biết họ sẽ mang theo những ai? Tôi sẽ phải di tản toàn bộ quân đội miền Nam Việt Nam hay sao? Tôi bèn tìm đến Đại sứ Martin, yêu cầu một cuộc hội kiến khẩn cấp. Tôi nói: “Tôi đang gặp một vấn đề nghiêm trọng với Đại úy Anh và Trung tá Hiền. Tôi không biết giải quyết ra sao. Bây giờ xin đặt trách nhiệm vào ông Đại sứ. Mấy người này làm cho chính phủ. Tôi nghĩ, nếu họ biến đi, thì đó sẽ là một sự cáo giác sinh tử. Hãy nhớ rằng chưa ai chứng kiến việc di tản. Chưa ai tuyên bố gì về sự cáo chung của miền Nam. Chưa ai nói năng gì về việc ra đi cả”. Bấy giờ chúng tôi đang thực hiện việc di tản một cách bí mật vì lẽ Đại sứ Martin đã khẩn khoản yêu cầu chúng tôi đừng gây ồn ào náo loạn.

Đại sứ Martin nói: “Để tôi lo chuyện ấy”. Tôi không rõ ông đã làm gì, nhưng sau đó, tôi không bị Đại úy Anh và Trung tá Hiền phiền nhiễu nữa. Ngày cuối ở sân tòa Đại sứ, tôi có thấy họ. Tôi biết Graham Martin đã lo liệu cho họ rồi.

Có một số chính khách và quân nhân cũng chạy lòng vòng, đề nghị với tôi đủ thứ, từ vàng cho đến con gái họ. Tôi ở địa vị hết sức khó chịu vì phải quyết định, phải chọn lựa, phải tự hỏi việc mình làm có đúng hay không. Người ta có thể bảo “Chà, thực là một địa vị đáng thèm”, vì lẽ tôi có thể kiếm khối tiền, có thể chơi bời thoả thích, nhưng tôi không dính vào những chuyện này. Tôi nhớ có lần một người mang đến cho tôi một bộ quân cờ bằng ngà tuyệt đẹp. Trời mới biết bộ cờ này trị giá bao nhiêu. Họ đề nghị tặng bộ cờ nếu tôi đưa họ đi. Trước đó, họ đã đề nghị đưa tiền và tôi có nói “Tôi không cần tiền, tôi không ham thứ ấy”, thì họ cho rằng tôi thích thứ gì khác, đồ cổ chẳng hạn, bởi lẽ nhiều người thích sưu tập đồ cổ. Hôm sau, người này đợi tôi ở cửa khách sạn từ sáu giờ rưỡi sáng. Anh ta cặp dưới cánh tay cái hộp bọc giấy. Anh ta đến gần, theo tôi vào phòng đợi khách sạn Caravelle, nói: “Xin cho tôi trình ông cái này”. Anh ta mở hộp. Trời đất, món đồ ngà hết sức đẹp. Tôi không thể đoán trị giá bao nhiêu. Hẳn đây phải là một món đồ cổ của gia đình họ vì họ là một gia đình khá giàu có.

Thế rồi lại những ông nhà báo Mỹ nhờ vả cho các cô bạn gái ra đi. Tôi nhớ một gã điện thoại cho tôi, hắn có cô bồ, muốn nhờ tôi đưa đi. Tôi bảo “Rắc rối quá”, nhưng rồi tôi cũng đã giúp cô ta. Tôi không biết cô ta là ai. Tôi đã mở một cánh cửa mới: nếu tôi bắt đầu đưa các cô bạn gái ra đi là tin tức lộ ra ngoài ngay. Vâng, đôi lúc tôi cũng làm một vài ngoại lệ. Tôi đã bẻ gãy một số quy luật của chính tôi. Tình trạng thực phức tạp. Tất cả đều khó khăn. Trong vài trường hợp, người ta cứ giản dị đến doạ dẫm tôi. Một lần, có một tay – giờ đây đang ở Hoa Kỳ – dọa giết tôi. Anh ta muốn mang đi nào là cha, mẹ, mẹ vợ, đủ thứ thân thuộc khác, một nhân số quá đáng: mười một con người không phải là trực hệ của anh ta (1). Tôi bảo: “Chúng tôi không thể làm thế được. Nhưng cứ cho tôi tên mấy người ấy”. Anh ta là nhân viên của một cơ quan khác. Tôi nói: “Nếu anh quyết định như vậy, tùy ý, nhưng tôi không thể phá lệ. Nếu tôi làm cho anh thì tôi cũng phải làm cho những người khác. Nếu anh mang các thân nhân đi thì tất cả những người khác cũng phải được mang đi. Tôi không làm thế được”. Chuyện xảy ra khá gay go.

Đến đêm, anh ta trở lại. Anh ta bảo nếu anh ta không đưa gia đình đi được thì sẽ không ai đi nổi. Kể cả tôi… Anh ta bảo anh ta sẽ chặn tất cả lại bằng cách chặn tôi. Tôi bảo: “Anh muốn nói cái gì?” Anh ta nói: “Tôi sẽ giết ông”.

Lúc ấy, tôi không xem chuyện ấy quan trọng. Anh chàng này chỉ quá lo lắng cáu giận. Nhưng bây giờ nghĩ lại, tôi e biết đâu lúc ấy hắn dám làm ẩu. Làm sao biết. Tôi không muốn nghĩ đến chuyện ấy nữa.

Cho đến ngày cuối cùng, ông Ba, một trong bốn tài xế của hãng CBS chúng tôi, biết rằng tất cả mọi người đã đi hết, tất cả những nhân viên người Việt đều đã đi cả. Ông Ba bảo: “Ông phải đưa tôi đi”. Ông này có một gia đình mười ba mạng người, mười một đứa con, chẳng rõ còn những ai nữa. Tôi bảo: “Ông Ba ạ, tôi rất muốn giúp ông, nhưng tôi không có quyền. Mang mười ba người trong gia đình ông lên máy bay là một chuyện không thể làm nổi”. Nhưng tôi vẫn cố gắng. Cho đến tận buổi sáng hôm chúng tôi ra đi, tôi hãy còn cố đưa người di tản. Sáng hôm ấy tôi hoàn thành một chuyến nữa là hết sức. Nhưng ông Ba vẫn nhất định đòi tôi phải đưa đi cho được. Tôi không biết ông ấy sẽ phản ứng thế nào.

Tôi làm việc ở văn phòng. Chúng tôi vẫn làm tin. Đêm hôm ấy đối phương pháo vào Tân Sơn Nhất. Khi về phòng ngủ, tôi không vào được. Cửa khoá. Tôi nhớ tôi không hề khóa cửa. Tôi lấy chìa khóa ra, vẫn không mở được. Tôi gọi xuống lầu dưới yêu cầu nhân viên lên mở, họ cũng không mở được. Họ bảo: “Có người trong phòng”. Tôi hỏi: “Ai vậy”? Họ đáp: “Ông Ba và toàn thể gia đình”. Tất cả mọi người đều ngồi trong ấy, họ từ chối mở cửa không cho tôi vào lấy đồ, trừ phi tôi hứa đưa họ đi.

Ông Ba đã nhờ một người bồi đưa vào. Tôi không bao giờ khóa cửa. Không rõ có đủ mười ba người trong ấy không, nhưng chắc chắn ông ta đang có mặt trong phòng với các thân nhân của ông. Sau khi tôi đã ra đi, ông vẫn cứ ở trong căn phòng ấy.

Ông ta tin rằng tôi phải đưa ông đi nếu tôi muốn vào phòng. Vì thế, tôi bỏ quách đồ đạc. Khi tôi rời khỏi Saigon rồi, ông ta vẫn còn ở trong ấy.

Sau này, năm 1985 tôi có trở lại Việt Nam. Tôi cố kiếm ông mà không gặp. Một người đáng thương, tôi cảm thấy tội nghiệp cho ông.

Khoảng 28 tháng Tư, tôi chắc chắn kết cuộc đã đến, vấn đề là chỉ trong vòng vài ngày. Bấy giờ tôi có dịp vào căn cứ David trong phi trường Tân Sơn Nhất, có gặp mấy tay đại diện Chính phủ Cách mạng Lâm thời. Hôm ấy, nhằm phiên họp hàng tuần, trước khi Thiệu từ chức, tôi nghĩ thế. Khi cuộc họp ngắn đã xong, vài người chúng tôi đang đứng nói chuyện thì một tay đại diện chính phủ Cách mạng Lâm Thời đến hỏi tôi rằng tôi đã định chương trình đi nghỉ phép năm nay chưa. Cuộc đàm thoại với anh ta đủ cho tôi hiểu nếu tôi muốn đi, bây giờ đã đến lúc rồi. Chúng tôi cớt nhả chút đỉnh, tôi hỏi: “Chừng nào quân đội miền Bắc kéo tới?” Anh ta nói: “Thưa ông Ellis, ông biết mà. Làm gì có quân đội Bắc Việt tại miền Nam”. Vẫn cái lưỡi không xương lắt léo. Tuy nhiên với những điều anh ta nói, tôi đi đến kết luận là nếu có gì không chắc chắn cần phải kiểm chứng, tôi chỉ việc vào căn cứ David là xong.

Bây giờ tôi quan tâm đến một điều: tôi muốn ở lại đến tận ngày cuối cùng. Tôi nghĩ sẽ còn nhiều chuyện hay, tôi không sợ sệt gì cho tính mạng tôi cả.
Nhưng sau khi nghe chuyện Ed Bradley và Mike Marriott bị cảnh sát xua đuổi, tôi bắt đầu lo lắng. Vài lần ra phi trường tôi đều bị cảnh sát làm khó dễ. Rõ rệt, họ đang phẫn nộ. Mọi người đang ra đi, họ nghĩ họ bị bỏ rơi. Tinh thế bắt đầu bất tiện. Tôi lởn vởn ý định ở lại, nhưng là một người có gia đình, tất nhiên tôi có bổn phận với gia đình tôi. Vì thế tôi gửi một điện văn sang Nữu Ước, lúc ấy điện thoại không sử dụng được nữa, người ta chỉ còn có thể đánh điện. Và Dick Salant, Chủ tịch CBS ra lệnh cho tất cả ra đi: “Tôi không muốn ai làm anh hùng”. Ông đánh thêm một điện văn nữa: “Không cần anh hùng. Đây là quyết định của tất cả các hệ thống thông tấn”.

Rõ rệt đã có một cuộc họp ở Nữu Ước. Họ quyết định không cho ai ở lại, tất cả phải ra đi. Nếu có người nào ở lại thì mọi bài vở của người này sẽ được đem ra “tổ hợp”, và đó là chuyện tôi không khoái chút nào. Nói cách khác, tức là mọi bài vở tin tức của người này sẽ được đem chia cho cả ba hệ thống thông tấn cùng sử dụng. Việc đó đối với tôi là bất công và bất khả thi.

Thế rồi đến lúc di tản. Đại sứ Martin cho biết khi nào nghe bản nhạc “Giáng Sinh Trắng” trên Đài phát thanh là phải hiểu giờ ra đi đã đến. Nhưng làm sao tôi quay về để bảo mọi người: Khi nghe thấy bản “Giáng Sinh Trắng” thì phải biết ấy là lúc đi đến các địa điểm di tản được ấn định?

Bây giờ là tháng Tư, họ lại chơi bản “Giáng Sinh Trắng”. Họ nghĩ họ lừa được ai? Trước tiên, bọn Bắc việt tất chẳng biết gì chuyện này. Thứ đến, việc chọn nhạc xem chừng quái gở, ít ra cũng phải nói như thế. Bấy giờ ở Saigon, còn cái gì bí mật nữa. Đến giây phút này có ai trong thành phố mà không hay biết. Người ta huýt gió bản “Giáng Sinh Trắng”. Chúng tôi đều cười cợt chuyện ấy. Thế rồi, tôi nhớ lúc ngồi trong văn phòng thì chợt người ta phát thanh bản nhạc này. Một người đột ngột nói: “Tốt lắm. Đến lúc phải đi”. Người ta đứng dậy, xuống thang. Tôi nhớ Ed, Mike, Keyes Beech, Bob Shaplen, và một số người nữa cố len vào chiếc xe buýt. Họ chạy ra Tân Sơn Nhất, gặp trở ngại, rồi chạy ra Cảng. Đã có một danh sách liệt kê những địa điểm di tản được ấn định trước. Danh sách này chỉ dành cho người Mỹ.

Tới thời điểm ấy, tôi chẳng rõ sẽ đi đâu. Mặc dầu giữ chức vụ Trưởng phòng, nhưng tôi không phải là công dân Mỹ. Tôi là “Công dân đệ tam quốc gia”, nên không được quyền lên xe buýt. Tôi cũng chẳng có thể ra Tòa Đại sứ Hoa Kỳ. Người Mỹ không có trách nhiệm gì về tôi cả. Thế là tôi cứ ngồi thườn ra nghĩ ngợi: “Ai xui tôi đến chốn này? Hữu thân hữu khổ kêu ai bây giờ! ” Tôi biết người Anh đều đã ra đi từ lâu, và chắc chắn tôi sẽ không đến cầu cạnh nhờ vả bọn Pháp, mặc dầu phải nói là bọn họ cũng khá tử tế với mấy ông ở Nam Vang.

Tôi xuống Tòa Đại sứ Mỹ. Tôi để một ông bạn người Anh ở lại văn phòng CBS, anh ta tên là Eric Cavalero, cảm ơn tấm lòng tốt của anh bạn. Anh đã từng ở Việt Nam rất nhiều năm, là một thứ linh hồn lập dị Ăng Lê, luôn có những câu châm biếm hết sức quái gở. Anh là người trực đêm, thường trông coi văn phòng. Chúng tôi chia tay nhau theo kiểu rất Ăng Lê, tôi chúc anh mọi điều tốt đẹp nhất. Tôi bảo anh là tôi xuống Tòa Đại sứ Mỹ, tôi sẽ cố, nhưng không rõ có vào được hay không. Anh ta nói: “Tốt. Tôi sẽ đợi đây khi anh về lại”. Chả khác như anh muốn bảo: “Cái ấm đun nước vẫn hâm sẳn. Chúng ta sẽ nhấm với nhau một chung trà”. Thế là tôi đến Tòa Đại sứ. Hàng ngàn người vây quanh. Quân cảnh đòi xem thông hành, tôi đưa tấm thông hành Anh quốc. Họ bảo thông hành này không ích gì, họ khuyên tôi nên về tòa Đại sứ Anh Quốc. Đúng lúc ấy, tôi thấy có người vào, không nhớ rõ ai, hình như John Hogan. Tôi gọi anh ta qua cổng, bảo: “Tôi cần nói chuyện với anh”. Anh ta nói: “Được, được, ô kê, ô kê”.

Vì thế họ hé cửa ra. Tôi bảo: “Này, tôi đã quyết định khôn hồn thì tôi phải đi khỏi xứ”. Anh ta nói: “Họ bảo anh không vào đây được, không có chỗ cho anh đâu”. Anh ta giải thích tràng giang đại hải về chuyện không có chỗ dành cho giới báo chí. Thế rồi tôi trông thấy Bob Simon cùng với David Green và toán quay phim đang thu hình những người cuối cùng ra đi, có một người nào khác nữa, đang ở cả trong sân. Vào lúc này trực thăng đã bắt đầu.
Mấy chiếc trực thăng hạ xuống sân tòa Đại sứ, họ đang thu hình người ra đi, trong lúc tôi vẫn còn bị nghe giải thích và khuyên nên sang tòa Đại sứ Anh. Tôi bèn đi quanh, cố ý tìm Đại sứ Graham Martin. Cuối cùng tôi lọt được vào trong tòa Đại sứ bằng cách leo qua tường. Lúc vào được bên trong thì có một túi xách tay đựng đầy phim ảnh do người nào đó ném qua tường. Do linh tính, tôi cố với tay nhặt lấy, đeo lên vai. Cái túi này có lẽ cần phải được đưa đến một nơi nào đó, chỉ phiền là phải vất vả đeo kè kè trên vai. Bên trong, Tòa Đại sứ trở nên náo động khi trực thăng bay đến, người ta chạy, cố trèo qua tường.

Phần tôi cuối cùng lên được tầng sáu để gặp Graham Martin. Tất nhiên ở đây cũng đang náo động, người chạy ra, chạy vào tấp nập.

Tôi gặp Đại sứ Martin. Chúng tôi đưa đẩy vài câu ngắn ngủi, rồi tôi nói: “Ông xem, tôi nghĩ tôi không có phương tiện nào để đi khỏi xứ”. Ông ta bảo: “Cứ ở đây, chúng tôi sẽ đưa ông đi”. Thế là tôi loanh quanh ở đây, rồi đi xuống dưới sân ngắm trực thăng. Bấy giờ bắt đầu sẩm tối. Số người còn lại chẳng bao nhiêu, những chuyến trực thăng bay vào sẽ là những chuyến cuối. Vài tay Thủy quân Lục chiến nói: “Những ai muốn đi, tốt hơn hết nên chạy lên từng thượng trong vòng 15 phút, hoặc kể như hết đi”.

Thế là tôi lại tất tả chạy vào Tòa Đại sứ, leo cầu thang lên mái nhà. Tôi ngồi bệt ở đấy chờ, nhưng không thấy gì. Chỉ vài người im lìm lặng lẽ. Rồi chiếc trực thăng đến. Một chiếc Huey của hãng Air America. Viên phi công vẫy ngón tay làm hiệu. Chúng tôi không rõ anh ta muốn nói gì vì không có vô tuyến truyền thông, chiếc này không thuộc quân đội. Không có một tần số nào để anh ta nói chuyện được với Thủy quân Lục chiến. Chiếc trực thăng đậu xuống nóc thượng tòa Đại sứ. Thủy quân Lục chiến kéo cánh cửa xuống. Bấy giờ tôi là người duy nhất đứng đấy. Những người khác đã kéo nhau xuống đợi dưới sân rồi.
Lính Thủy quân Lục chiến nắm lấy tôi, nói: “Nếu muốn đi thì nhấc đít lên mà vào”, họ ném tôi vào chiếc trực thăng. Vừa lọt, tôi thấy ít nhất đã có ba người Việt ngồi phía sau. Viên phi công cho cất cánh. Ba gã Việt Nam đã cướp chiếc máy bay!

Đây là một chiếc trực thăng của Air America đang sắp rời Tân Sơn Nhất thì ba người lính Việt Nam Cộng Hòa nhảy vào với mấy khẩu súng lục. Tôi nói: “Tôi mày mò mãi mới vào được đây, thế mà bây giờ lại chui phải chiếc trực thăng đang bị không tặc uy hiếp!”

Chúng tôi bay ra. Tôi ngồi giữa viên phi công và mấy cha lính. Viên phi công quay lại bảo: “Chào mừng quý khách đã vào chiếc phản lực 707 đi Havana (Cuba). Tôi không dám cả quyết sẽ đi đâu, nhưng mấy chú này đang đòi ra mấy chiếc tàu của chúng tôi”. Viên phi công la lên. Tôi nghe câu được câu mất, khó khăn lắm mới hiểu mọi chuyện đang xảy ra. Rối cả đầu.

Chúng tôi nhìn thấy những chiếc trực thăng khác đang bay ra, vì chúng tôi phải ngồi ném hỏa châu để tránh hỏa tiễn tầm nhiệt. Chúng tôi qua sông, bắt đầu hạ cao độ. Chúng tôi bay qua một bãi biển nhỏ, dưới ấy có trực thăng đậu, chúng tôi xuống rất thấp, gã Việt Nam đang nói gì đó với viên phi công. Chúng tôi vòng lại bãi biển nơi có mấy chiếc trực thăng đậu, rồi tiếp theo tôi nhìn thấy mấy chiếc trực thăng ấy bốc lên khỏi bãi biển. Mấy cha này đang tìm cách bay theo một người nào đó. Họ không biết tàu Mỹ đậu ở đâu. Tôi đoán họ không phối hợp gì với ai. Sau này mới suy ra được, nhưng lúc ấy tôi không biết điều này.

Ánh sáng bấy giờ còn lờ mờ, vẫn có thể nhìn thấy được. Tôi thấy đằng sau là cả một đoàn lũ trực thăng bay theo. Chúng tôi định điểm một Hàng không Mẫu hạm, đó là chiếc U.S.S. Hancock. Chúng tôi bắt đầu hướng đến, viên phi công liên lạc được với chiếc tàu.

Khi trực thăng hạ xuống vừa chạm sàn tàu thì lính Thủy quân Lục chiến đã đứng ôm súng chờ lăm lăm. Viên phi công đã báo với họ “Chúng tôi có người với vũ khí trên trực thăng”. Nên khi vừa bước ra thì đám lính Mỹ thổ tả ào tới bắt tôi nằm úp xuống đất, hai tay dang thẳng như chim bay cò bay để lục lọi khám xét. Một tên lục cả vào đít tôi, tưởng có giấu giếm gì trong đó. Đây là chuyện lố bịch nhất chưa từng xảy cho tôi. Mọi sự làm tôi vừa giận vừa ngượng. Tôi luôn miệng nói: “Tôi không liên can gì đến chuyện này sất cả”. Vì thế họ mới kéo tôi sang một bên rồi vặn hỏi mấy cha kia. Đến lúc này tất nhiên các trực thăng khác bay đầy tới, không còn chỗ trên sàn nữa, người ta phải xô sang một bên, đẩy xuống biển. Tình trạng hỗn độn như cái sở thú. Một chiếc đậu xuống mũi chiến hạm. Chiếc này quạt bay hết mọi thứ ở mũi tàu, nó đậu nhào xuống một chiếc trực thăng khác.
Một chiếc chở theo xe gắn máy. Nhiều chiếc mang theo cả những đồ lộn xộn đại loại như vậy mà móc trên lưới. Không phải chỉ trên chiến hạm chúng tôi mà cả trên những chiếc khác người ta cũng phải xô trực thăng xuống biển vì không còn chỗ. Sau cùng, chúng tôi xuống từng dưới, nơi đây chật ních người. Tôi vào một phòng riêng, nơi đây có một số thông tín viên. Ken Kashiwahara đang ngồi đấy. Tôi bước vào: Cái túi đựng phim chính là của anh ta.

Tôi chưa hề bao giờ tranh cãi về việc báo chí đã dự phần vào việc làm cho nước Mỹ thất trận. Các cuộc biểu tình đã diễn ra từ lâu, cả trước khi tôi đến Việt Nam. Có rất nhiều cuộc biểu tình phản đối chiến tranh xảy ra và cứ tiếp tục lan rộng. Tôi không rõ chúng tôi có thể hành động gì ngõ hầu làm cho người ta có thể chấp nhận được cuộc chiến ấy. Song le, chiến tranh quả là một chuyện xấu xa bỉ ổi. Và người ta có thể hỏi tại sao chúng tôi không viết về những chuyện chiến thắng? Vâng, chúng tôi không phải luôn luôn chỉ viết về những tin chiến bại, có thời chúng tôi đã làm những bản tin rất tốt về người Mỹ và người Việt, những loại bản tin được gọi là tin tích cực.

Tuy nhiên, nếu quan sát kỹ mọi chuyện ở đây thì người ta không thể nào tích cực nổi. Chúng tôi đã chứng kiến quá nhiều lầm lẫn. Chúng tôi phải làm gì bây giờ, phải nhìn các sự kiện ở một chiều hướng nào khác mà bảo các sự kiện ấy không bao giờ xảy ra hay sao?

Tôi không nói nhiều về chuyện Việt Nam. Đã có quá nhiều quyển sách được viết, trong đó họ nhắc đến tôi, trích dẫn việc tôi đã nói câu này, câu kia. Tôi cảm thấy phiền về những điều ấy, chắc chắn thế. Có nhiều lần tôi đã từng ao ước phải chi tôi có thể làm khác hơn, cả về phương diện cá nhân lẫn phương diện chuyên nghiệp. Đã có thời tôi từng nhìn lại dĩ vãng mà nghĩ tất cả đều chỉ là một sự uổng phí thôi.

Tôi không đến đấy với hành trang dư thừa như những người khác. Tôi không mang súng ống bắn chác ai. Tôi không phải giáp mặt chuyện ấy. Nhưng tôi cũng đã trải qua ba năm ở đất nước này. Tôi đã mất nhiều bạn tốt người Việt, trong đó có một nhân viên quay phim mà tôi rất yêu mến, anh ta đã bị giết. Thực chẳng vui sướng gì khi phải khiêng xác nạn nhân về để thông báo với gia đình anh. Những người ấy bị sát hại vì họ đã làm tin cho truyền hình Mỹ. Họ chết trong các cuộc tấn công. Trong khi ấy gia đình họ nào có ý niệm truyền hình Mỹ là gì, nào biết chồng họ làm gì.

Tôi đã tới viếng Đài Kỷ Niệm Chiến Sĩ Trận Vong Việt Nam lần đầu tiên với một Cựu chiến binh. Mọi người thường tưởng người tù binh chiến tranh bị giam lâu nhất là Edward Alvarez, nhưng thật ra có một người khác bị giam lâu hơn nhiều. Anh này ở dưới vùng Key West. Anh mới bị chứng trúng phong cách đây không lâu. Năm 1985 khi đang làm một chương trình truyền hình, tôi vẫn cố tìm những cựu chiến binh Mỹ trở lại thăm Việt Nam, đến lúc ấy tôi vẫn chưa hề viếng Đài Kỷ Niệm Chiến Sĩ Trận Vong. Anh chàng này tới Hoa Thịnh Đốn, tôi gặp anh trong một tiệm ăn. Hiển nhiên tôi không thể nào phỏng vấn anh: Anh đã bị trở ngại trong việc phát âm. Tôi nói: “Ngày mai có muốn đi thăm Đài Chiến Sĩ Trận Vong không?… Anh đã đến thăm chưa? Anh có muốn đi không?” Anh ta bảo: “Ừa”.

Hôm ấy anh ta thắng bộ quân phục. Tôi không rõ đã bao nhiêu năm anh không mặc quân phục, nhưng hôm đó anh đã cảm thấy phải mặc quân phục để tới thăm Đài Kỷ Niệm. Chúng tôi đi bộ đến. Nó giống như một bức tường với đầy những cái tên. Tôi không lấy gì xúc động lắm với bức tường này. Chúng tôi bước lần qua, anh ta không ngừng nhìn bức tường. Anh không ngừng lắc đầu nói: “Những cái tên này…. Tất cả những cái tên này!” Rồi chúng tôi bước đến chỗ bức tượng, anh ta đứng đấy nhìn. Và anh bắt đầu khóc. Anh nói “Chúng nó toàn là mấy thằng bé, những thằng bé tử tế tốt lành đó thôi…” Đột nhiên điều ấy đập mạnh vào tâm khảm tôi, những gì anh nói, chúng chỉ là những thằng bé. Người ta thường phân biệt một đàng là những người lính, những người được trả lương, được huấn luyện để đi giết chóc, một đàng là những đứa trẻ con. Nhưng những người lính này, họ cũng đều là những đứa trẻ. Vào giây khắc ấy, tôi chợt nhận ra rằng chi chít trên bức tường kia chỉ là một lũ trẻ con. Điều ấy làm tôi choáng váng. Và đây, người lính đứng đây, người đã từng kéo lê gần mười bốn năm trời trong tù ngục, anh đang tiếc thương cho họ. Anh đứng lặng lẽ, nước mắt chảy dài xuống má. Và lúc ấy, tôi cũng đứng nhìn thời gian trở ngược lại bao năm tháng đã trôi qua.

Về nhiều mặt, may mắn cho tôi vì đã không có một cái tên nào trên bức tường ấy là người mà tôi quen biết riêng tư. Nhưng dẫu thế nào, bức tường vẫn có một sự gắn bó với tôi. Vì về một mặt khác, chính nó đã là một mảnh đời của tất cả chúng tôi.

(1) Quan niệm gia đình trực hệ của người Tây phương chỉ là vợ chồng con cái.

đã dần im lặng III

 

phuonguy

Sẽ tháo dỡ những nếp nhăn thời gian quẫy động
âm thầm buông
tiếng thở dài ngắt hụt lòng đêm
nghe rét mướt giữa ngày hè rũ lửa
tha hương với chính mình

Sẽ tháo bỏ ám ảnh tình yêu hoàn tất
vòng tròn li tâm mặt sóng xao đầy
em đã là em không thật
tôi về hư ảo giữa bàn tay

sẽ gỡ những cơn đau khỏi những viên an thần hư đốn
ngày trốn tìm không nhận mặt nhau
buốt vầng đêm không lời hò hẹn
em chỉ là bóng lá lao xao

sẽ tìm nhau nơi mộ phần của gió
ngày tái hồi nội tiếp chân mây
tôi về cuối trời li tán
lặng đau lạnh buốt vân mày

Phương Uy

SẮP HẾT THÁNG TƯ SAO EM ?

macphuongtu 

phải không em nhỉ, tháng tư sắp hết
Sao ta nghe đời mới thoáng đâu đây !
Ký ức hôm nào, gầy guộc dưới trời mây,
chiều hạ trắng, chưa phai màu dâu bể.

Phải không em, tháng tư sắp hết
Bên thềm xưa, chưa nhạt dấu rêu xưa !
Sương khói còn vương bên bờ áo lụy
Nên ta còn phiêu bạt đến bây giờ !

Có phải không em, sắp hết tháng tư
Quay quắt lòng ta chớm mùa lựu đỏ
Khi cánh én giã biệt trời sương gió,
Khuất non ngàn, chiều xuống vết tàn dư.

Thuở ấy gió về kéo nắng qua sông
Gió và nắng ngập chiều hương quê mẹ.
Đời rát mặt, ta rát nỗi niềm thật khẽ,
Đàn xưa nhịp loạn phím tơ chùng.

Có những cung đường hoang vu hồn cát bụi
Có những dòng thơ sủng ướt bến điêu tàn.
Nhưng hoa cỏ vẫn còn thơm tình sông núi
Ta gối lòng đêm lên giấc mộng quan san.

Tháng tư bây giờ,
Hay thuở ấy… tháng tư ?
Lời mộng vỡ
Hay mộng còn dang dỡ… !
Cây trẩy lá cho sắc mùa rực rỡ
Đời trẩy mầm thêm nghĩa sống của con người.

Nước mây hội ngộ niềm vui
Cho trang tình sử ngọt lời quê hương,
Cho nghìn thu bạt khói sương
Cánh chim Hồng-Lạc về phương trời hồng.

Tháng tư sắp hết rồi, phải không em ?
Nhớ thuở lòng ta còn phơi phới gió
Khi ngoài kia mới chớm mùa hoa lựu đỏ
Hắt hiu lòng vườn cũ tiếng ru đêm.

Đời ta nay dẫu bóng xế chiều nghiêng
Nhưng lòng ta phải đâu hoàng hôn định ước
Dấu rêu cũ còn xanh bên thềm mùa xuân truớc,
Phía bình minh hương trời đất trăm miền.
Sắp hết tháng tư sao em !
Nỗi lòng cát bụi lên đêm tạ từ
Bây giờ sắp hết tháng tư
Nghe lời vàng đá mùa dư âm về.

 (Louisiana, New Orleans, tháng 4. 2015.)

MẶC PHƯƠNG TỬ.

BỐN ANH EM TRÊN MỘT CHIẾC CÔNG NÔNG

khuatdau

Xịt khói tùm lum như cháy nhà, nổ cành cạch, cành cạch, ấy là xe công nông.
Cụ thể là: lấy máy nổ của máy cày tay, gắn vào một cái thùng có bánh xe, thêm một cái vô lăng, thế là làm nên một sự cải tiến tuyệt vời hơn cả xe cải tiến.
Công nông là gọi theo ý Đảng, còn nôm na gọi là xe cọc cạch.
Bốn anh em họ nhà Vẹm sau một cuộc họp gia đình, thấy rằng thời đại công nghiệp hóa mà cứ con trâu đi trước cái cày theo sau là tụt hậu, bèn bán trâu cộng thêm tiền bán ruộng, tậu một chiếc công nông.
Chiếc xe được người chủ cũ ưu ái cầm lái đưa bốn anh em về nhà. Cả bọn ngồi xỏm trong thùng xe, nẩy tưng tưng như con lật đật, sau một hồi nghiêng ngã xiên xẹo, cuối cùng cũng dừng lại được trước sân nhà.
Dù ù tai chóng mặt, họ cũng cố bước xuống xe trong sự thán phục đến nghẹn ngào của bốn bà vợ và trong tiếng reo mừng ầm ĩ của lũ con.
Đêm ấy, sau một bữa tiết canh nòng nợn ăn mừng, tục lệ gọi là “rửa xe”, cả bọn lại họp nội bộ để phân công ai là chủ quản, ai cầm lái, ai phụ ếch, ai lo việc giao dịch.
Anh Cả đương nhiên là chủ quản, chẳng những vì được sinh ra trước mà vì cái phong thái nho nhã, dịu dàng ăn nói rất mực. Anh lại có nhiều bằng cấp dù rằng không có bằng lái xe.
Anh Hai, tuy mắt có hơi bị lé, nhưng đã từng vững tay súng chắc tay cày, nên sẽ cầm lái. Dĩ nhiên anh sẽ học lái do người chủ cũ chỉ dạy. Người chủ cũ râu xồm, mắt ốc nhồi, quá mừng vì đã bán tống được cái xe thổ tả cho bốn thằng khùng nên hào hứng nói: “dễ mà, việc đó nhỏ như con thỏ, để ta lo”.
Anh Ba khéo tay nhiều sáng kiến như kỹ sư, lo việc bơm dầu mỡ và siết bù loong.
Anh út Tư, ít nói chăm làm, lo phụ ếch.
Thế là xong cái ban quản trị công ty vận tải một thành viên, tên tiếng Việt gốc Hán là Tứ Trụ, tiếng Anh là Tutrumexco.
Anh Hai sau bảy ngày được kèm cặp cũng đã biết nhấn ga đạp thắng, tuy nhiên vì mắt bị lé nên dễ gây tai nạn, phải có người bên cạnh nhắc nhở. Thế là có thêm anh Cả cùng cầm lái bằng miệng. Hai anh em vì vậy, cứ cãi nhau rậm rịch.
Anh Cả thót cả tim khi thấy chú em lái không như ý mình. Anh bảo, “con trâu thù lù đứng đó sao mày không nhìn nó để tránh mà lại đi nhìn con bò kia”?
“Thì nhìn con bò mới tránh được con trâu chớ, cũng như em nhìn chị Cả, thực ra là em nhìn vợ em. Chị Cả biết thế nên có mắng em hỗn đâu”
Người anh chủ quản thở dài, nói: “mày lái kiểu đó trước sau gì cái cơ nghiệp này cũng tan tành”. Người em cãi: “em nhìn khác anh, nhưng lái đúng đường thì thôi chớ, anh lo làm gì cho mệt”
“Trách nhiệm của tao quá nặng nề, không lo sao được”, người anh lại than thở.
“Chính vì có anh ngồi bên suốt ngày lải nhải mới là đáng lo. Em muốn bể cái đầu luôn”, người em đâm ra cáu.
Tuy rất lo và bực nhưng dẫu sao, sự kết hợp của việc lái bằng tay và bằng miệng vẫn hơn là chỉ lái suông bằng mồm. Người anh đành chịu nhịn một chút để giữ tình đoàn kết.
Và thế là chiếc xe đúng như tên gọi cọc cạch, nổ máy lạch bạch tiến thẳng trên con đường làng XHCN quanh co, quanh co…
Chiếc xe kêu thì to, thở khói hôi rình, nhưng chạy như rùa bò, nhiều khi siết ga tiến lên được vài mét lại kẹt sao đó phải de lại mấy mét. Lắm khi nó đứng ì như con ngựa trở chứng, có đánh mấy cũng không chịu nhúc nhích.
Đến nước này phải huy động sức của bốn bà vợ và đám con, ra đẩy. Chiếc xe kêu lụp cụp, rùng mình tỉnh giấc, rồi bất ngờ lao tới trước khiến bốn bà vợ và lũ con ngã sấp xuống mặt đường. Bốn bà nằm đó la như bị ai cắt cổ, chỉ có lũ con là đứng dậy chạy theo.
Anh Hai chán nản nói, “xe cũ mèm, lái nó còn cực hơn kéo cày”.
Anh Cả, người duy ý chí bảo rằng “đã là xe là phải chạy. Nó không chạy được là do mình”. Anh khích anh Ba: “chú mày từng độ được trực thăng mà, đồ này dễ ợt, sửa được chứ gì”.
Anh Ba nói, “được chớ sao không, chỉ có điều phải tốn thêm tiền để thay đồ phụ tùng”.
Anh Cả bảo, “được, bao nhiêu cũng cứ mua, miễn là nó chạy. Nó mà không chạy, mất mặt bầu cua với xóm làng mình quá”.
Thế là anh Ba trần lưng ra tháo tung các thứ, bảo cái này hư, cái nọ cũ, cái kia không đồng bộ, phải thay tất. Anh Cả bảo: “ừ, thay đi”. Anh Ba cười thầm, một mình xuống phố. Anh chẳng mua gì ráo, hết nhậu tới chơi gái chân dài, xong về lau chùi ráp lại, nổ phầm phập.
Từ đó, chiếc xe hễ có bệnh nằm ì, là anh Ba lại có thêm tiền. Anh nghĩ, ngu sao không ăn. Và anh cũng không ngu gì mà ăn một mình. Anh chi chút ít cho anh Hai, để lâu lâu nói với anh Cả nó không chịu chạy.
Chiếc xe chưa chở thuê được món nào đáng giá đã phải sửa tới sửa lui. Các bà xót cái hầu bao lép xẹp đòi bán, nhưng chẳng còn kiếm đâu ra được một thằng nào khờ nữa để mà dụ nó rước cái của nợ này về. Vì thế nó vẫn cứ cọc cạch, ì ạch, ngày nào cũng chạy mà chẳng đi tới đâu..
Trong một cuộc họp kín của bốn anh em (chứ không phải bè lũ bốn tên), anh Cả mệt mỏi thôi cái chức chủ quản, giao lại cho anh Hai. Thế là cùng với việc cầm lái, anh Hai được toàn quyền chạy tới chạy lui. Anh Ba vay thêm tiền thay con heo dầu, nhờ vậy xe chạy cũng tàm tạm.
Thấy thế, anh Hai va Ba định bỏ con đường XHCN ngoặt sang đại lộ TB. Đây là con đường tráng nhựa rộng thênh thang. Có chạy được trên đường này mới mong làm ăn có lãi. Nhưng anh Cả lấy quyền gia trưởng không cho. Anh bảo: “ngu sao mà chạy ra đó. Trong cái xó làng này thì xe mình là nhứt chứ bẹo ra đó thì ai coi ra gì!”
Mặc kệ, hai anh vẫn cứ muốn ra đại lộ. Anh Cả liền đứng trước đầu xe, dang hai tay ra la làng. Nhưng anh Hai cho máy nổ như đại bác, xịt khói mù mịt khiến anh Cả phải hốt hoảng chạy dạt ra.
Tưởng rằng lên đó sẽ chạy phom phom, nhưng xe quá đông và chạy quá nhanh, anh Hai đâm ra sợ, lúng túng quờ quạng một hồi khiến cái xe lật ngửa.
Nghe tin xe bị lật, chẳng những không buồn mà bốn bà vợ đều mừng.
Mừng vì nó không còn nổ to đến nỗi long đầu mệt óc nữa.
Mừng vì bốn ông chồng, xe ngã mà không ai hề hấn gì.
Và mừng hơn nữa vì lũ con của họ không còn có dịp nào leo lên xe để nó đưa xuống hố.
Tôi cũng mừng vì, ra đường hết sợ công nông/ về nhà chỉ sợ…, mà thôi, nhắc đến mấy bà, tôi cũng phải bớt ngu mà biết sợ vậy. Tức là xin dừng tại đây.

Khuất Đẩu
*Ca dao mới: Ra đường sợ gặp công nông/ về nhà lại sợ vợ không mặc gì

ĐÊM ĐẠI DƯƠNG

truongvu

Cách đây 39 năm, tôi rời Việt Nam trên một chiếc ghe đánh cá nhỏ, cùng với bốn bạn đồng hành khác. Chúng tôi thay phiên nhau lái ghe, từ Nha Trang vượt đại dương nhắm hướng Manila, Phi Luật Tân. Không một ai trong chúng tôi có kinh nghiệm hay hiểu biết về hải hành. Một đêm, không trăng, sóng lớn, tôi chợt nhớ đến một bài thơ của Victor Hugo, bài Oceano Nox (Đêm Dại Dương), mở đầu bằng những câu tạm dịch như thế này: “Có biết bao thủy thủ, có biết bao thuyền trưởng, vui vẻ hăm hở lao mình vào các chuyến viễn du, có biết bao nhiêu người trong số đó, do số phận nghiệt ngã, mất hút theo những chân trời mờ nhạt, tan biến vào lòng đại dương không đáy, trong những đêm không trăng…” Khi còn đi học, nét bi hùng của bài thơ gây cho tôi nhiều xúc động. Vào lúc này, chơi vơi trên biến cả, không là thủy thủ, không là thuyền trưởng, trong lo sợ, trong sự cảm nhận sâu sắc thân phận nhỏ nhoi mong manh của mình giữa đại dương bao la, tôi càng xúc động hơn. May mắn, chúng tôi đến được Manila an toàn. Ghe chúng tôi là một trong những chiếc đầu tiên đến được Manila sau biến cố 1975.

Những ngày kế tiếp, những năm tháng kế tiếp, hơn một triệu đồng bào lần lượt lao mình vào đại dương. Từ hai trăm đến bốn trăm ngàn trong trong số đó không bao giờ đến nơi, không bao giờ trở về. Nhớ lại bài Oceano Nox của Victor Hugo, tôi không còn chút xúc động nào nữa. Cái bi hùng trong Oceano Nox không nghĩa lý gì với những thảm kịch kinh hoàng đồng bào tôi đang trải qua trên đại dương. Đói khát, tuyệt vọng, cướp bóc, hãm hiếp, giết người, bắt cóc, chìm tàu, và trong vài trường hợp, phải ăn cả thịt người để tồn tại. Như đã kể trong một bài viết vài năm trước đây, tôi có một người bạn trẻ, gần hai mươi năm trước đây tình nguyện làm việc trong một bệnh viện tâm thần ở Boston và tại một số tư gia do cơ quan tỵ nạn địa phương bảo trợ. Bệnh nhân của anh thuộc nhiều thành phần người Việt khác nhau, tuổi từ 15 đến 70. Ở đây, có những người đàn bà mắc bệnh tâm thần sau khi trải qua những nỗi đau kinh hoàng trên biển, mất chồng, mất con, bị hãm hiếp,… Ở đây, có những đứa trẻ mới trước đó sống êm ấm với gia đình bỗng chứng kiến những cảnh hãi hùng, rồi vụt cái, mất cha, mất mẹ, mất anh em, rồi ngơ ngơ ngác ngác trong một xã hội hoàn toàn xa lạ. Ở đây, có những người qua tuổi trung niên hoàn toàn mất định hướng, không đương đầu nổi với những đổi thay quá lớn, quá nhanh về hoàn cảnh, văn hóa, ngôn ngữ, xã hội. Ở đây, có những thanh niên mắc các loại bệnh về ảo giác, lúc nào cũng trông thấy những hình ảnh kỳ lạ, nghe những âm thanh ma quái luôn thúc giục mình làm những điều không phải, v.v. Anh cho biết chỉ có khoảng 25 phần trăm trong số bệnh nhân này hồi phục, có thể tiếp tục đời sống tương đối bình thường như nhiều đồng bào khác của họ. Những người còn lại, đa số không chữa trị được. Đời sống của họ như thế nào qua từng tháng ngày trong khu bệnh viện tâm thần, cho đến những giờ cuối cùng của đời họ, ít ai biết. Ngoài ra, còn biết bao thảm kịch khác, mà mỗi người trong chúng ta, hoặc đã chứng kiến, hoặc nghe kế lại. Nhưng cái thảm kịch lớn nhất vẫn là cái thảm kịch của một dân tộc mà những người làm chính trị đã khiến người dân bình thường sợ họ hơn sợ nỗi chết. Đó cũng là thảm kịch của một đất nước mà quân đội luôn luôn vinh danh về sự hùng mạnh, về những chiến thắng trên trận mạc, nhưng hoặc bất lực, hoặc cố tình làm ngơ trước những cướp bóc, hãm hiếp, giết người man rợ của bọn cướp biển ngoại nhân chỉ có vũ khí thô sơ, dù rằng chiến tranh đã chấm dứt, dù rằng nạn nhân là những con người vô tội hầu hết không hề cầm súng, và họ cũng là những người được sinh ra từ trăm trứng của mẹ mình.

Bốn mươi năm đã trôi qua từ ngày chiến tranh chấm dứt trên quê hương. Gần ba mươi năm đã trôi qua từ lúc những chiếc ghe cuối cùng của thuyền nhân Việt Nam chìm sâu trong lòng đại dương. Hồi tưởng lại thảm kịch đó để thắp một nén nhang cho những người đã khuất, để nguyện cầu sự siêu thoát cho những oan hồn trên biển đông. Vã, cũng là lúc để mỗi người Việt Nam tự chiêm nghiệm về chính mình, về những gì đã làm, những gì đã không làm, những gì lẽ ra không nên làm. Quan trọng hơn hết, để thực sự dấn mình vào những nỗ lực của cá nhân và tập thể cần phải có cho thế hệ này, và cho những thế hệ kế tiếp. Để xã hội nhân bản hơn, tôn trọng những quyến căn bản của con người hơn, và để người dân có tự do, có cơ hội sống một đời có phẩm cách, như trong bao nhiêu quốc gia tiến bộ khác. Chỉ có như thế, cái thảm kịch như từng xảy ra trên biến đông sau 1975 sẽ không còn xảy ra cho dân tộc Việt Nam trong tương lai nữa.

Trương Vũ
Tiểu sử:
-Tên thật Trương Hồng Sơn, Tiến Sĩ Khoa Học.
-Tốt nghiệp Đại Học Sài Gòn, University of Pennsylvania, The George Washington University về Toán, Vật Lý Hạt Nhân, và Kỹ Sư Điện trong Kỹ Thuật Không Gian.
-Trưởng Phòng Sinh Viên Vụ và Dạy Toán tại Viện  Đại Học Cộng Đồng Duyên Hải Nha Trang trước 1975.
-Vượt biển và định cư tại Hoa Kỳ từ 1976.
-Chuyên gia nghiên cứu cho NASA từ 1980 cho đến khi nghỉ hưu, năm 2006.
– Nguyên Đồng Chủ Biên Tập San Việt Học The Vietnam Review, Đồng Chủ Biên Tuyển Tập Văn Chương Chiến Tranh The Other Side of Heaven (do Curbstone Press xuất bản, 1995), và Chủ Bút Tạp Chí Đối Thoại (1994-1995).
-Hiện cư ngụ tại Maryland, USA, chú tâm vào vẽ và viết.
Đây là bài nói chuyện rất cảm động của thầy ưu ái dành riêng cho buổi ra mắt 2 đặc san : 40 Năm Thuyền Nhân Viễn Xứ và Galang Một Thuở do  học trò của thầy là Tôn- Nữ Thu- Dung làm chủ bút vào ngày chủ nhật 3/5/2015.
Xin giới thiệu 2 đặc san này cùng các độc giả Tương Tri
Các bạn có thể đặt mua trên /Amazon.com/ toàn thế giới.

11096544_10206009178366276_2310723279733507686_o (1)

CŨNG CHỈ LÀ MỘNG MỊ

vungocgiao
tặng chính tôi

ta trở về nơi đã bỏ mà đi
con đường cũ giờ không còn bóng mát
dãy phố xưa đứng cau mặt lầm lì
sao vườn em hương dạ lan thơm ngát ?

hơn mười năm , ta sống đời khinh bạc
rất ngông nghênh ( dù đói rách kinh niên )
hơn mười năm , ta hóa thân trôi giạt
sáng , ngóng vĩa hè – đêm , trọ mái hiên ..

hơn mười năm , ta thắp sáng muộn phiền
bằng thơ , nhạc ( cũng như bằng chén rượu ..)
hơn mười năm , ta đã sống như điên
và , nhăng nhố nói cười như con khướu

ta trở lại một nơi không chỗ trú
vườn hồn em cửa khép tự lâu rồi
ngồi giữa chợ một mình nghe gió hú
rượu cạn vò sao chưa thấy mềm môi ?

phía cuối trời còn một đám mây trôi
chiều tắt thở níu chân ngày hấp hối
“ thôi , về đi ..! ” – ai hát điệu ngậm ngùi
giữa hiu quạnh ngỡ như lời trăng trối

mai lỡ nhớ , xin em đừng khóc nuối
giữa bụi hồng – lạc một dấu chim di
mai lỡ quên , cũng xin đừng bối rối
đời chỉ là mộng mị – có hề chi !

ta trở về nơi đã bỏ mà đi
con đường cũ giờ không còn bóng mát
dãy phố xưa vẫn cau mặt lầm lì
nhưng , vườn em hương dạ lan thơm ngát !

vũ ngọc giao

ĐẾN. ĐI. HAY Ở ?

 

chuthuynguyen

Đến. Đi. Hay ở ?
Chắc gì đã không nợ nhau
Một lời xin lỗi
Qua các công viên thương khó
Chúng ta những gã gù thắp đèn
Trong cái thành phố cúm gà
Ai xua ?
Bầy chim đen điên cuồng bay tứ tán
Tìm nẻo sống ?
Tìm lấy gia phả ?
Từ cơn lây nhiễm
Hay bay tìm cái chết ?

Đến. Đi. Hay ở ?
Sao bỗng chốc
Chúng ta thành lưu vong ?
Hay thật bất ngờ choàng tỉnh mộng
Từ khi nào ?
Chúng ta hóa thành kẻ hành hương trên xứ người.
Bầy chim đen khát đói tự do
Te tưa cơm áo
Lại là chúng mình hay sao ?
Buồn cười thật.

Đến. Đi. Hay ở ?
Mỗi người hãy cứ xếp hàng ngay ngắn vào
Mỗi người sẽ nhận lãnh một bản án
Từ quê hương cật ruột
Như khẩu phần sau cùng còn lại của sự sống
Buồn cười thật
Sao lại gọi là sự chết ?
Chẳng hóa ra là do mình tự nguyện vô cảm hay sao ?
Đến. Đi. Hay ở ? …

Chu Thụy Nguyên

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, “Chúng ta đã lầm lẫn, lầm lẫn khủng khiếp”

nuocmattruocconmua

 

Ghi-chú của người dịch: Khi bản Việt ngữ cuốn “Nước Mắt Trước Cơn Mưa” vừa được duyệt sửa xong để sẵn sàng ấn hành vào cuối tháng Tư 1995 thì một cuốn sách quan trọng đáng lưu ý cũng được nhà xuất bản “Times Books” thuộc công ty “Random House” sửa soạn công bố tại Hoa Kỳ: Cuốn “In Restropect: The Tragedy and Lessons of Vietnam” (Hồi Tưởng: Bi kịch và những Bài học Việt Nam) của Robert S. McNamara.

Trong “Nước Mắt Trước Cơn Mưa”, tên McNamara chỉ được nhắc đến một lần từ Đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin (Xem chương 4: Tòa Đại sứ Hoa Kỳ), nhưng đây chính là một trong những nhân vật then chốt nhất của giai đoạn Hoa Kỳ tham chiến tại Việt Nam.

Robert S. McNamara là Bộ trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ từ 1961 đến 1968 dưới thời hai Tổng thống John F. Kennedy và Lyndon B. Johnson. Từng là chủ tịch công ty Ford Motor Co. và chủ tịch Ngân hàng Thế giới. Là người “ưu tú sáng chói nhất”, nhận xét của ký giả David Halberstam. “Tên sát nhân”, “Kẻ Tội Phạm Chiến Tranh”, cách gọi của những Bồ Câu, tả phái, phản chiến. “Người bắt quân đội chiến đấu với một cánh tay trói chặt sau lưng”, lời buộc tội của nhiều quân nhân Hoa Kỳ và những Diều hâu, hữu phái.

Cuộc chiến Việt Nam đã có lúc được giới truyền thông Hoa Kỳ mệnh danh là: “Cuộc chiến McNamara.”

Ở tuổi 78, sau hai mươi bẩy năm nín lặng, bây giờ McNamara lên tiếng. Hai mươi năm sau khi miền Nam Việt Nam sụp đổ, bây giờ Robert S. McNamara đã nói gì ?

Để cung cấp tài liệu đọc thêm cho độc giả “Nước Mắt Trước Cơn Mưa”, chúng tôi chuyển dịch nguyên văn bài viết này của McNamara đăng tải trong tạp chí “Newsweek” số ngày 17 tháng Tư,1995 – nhan đề: “Chúng ta đã lầm lẫn, làm lẫn khủng khiếp”, tiểu tựa: “Trong một quyển sách mới, bộc trực, chua xót, người kiến trúc sư của cuộc chiến ghi lại các lỗi lầm căn bản đã dẫn dắt John F. Kennedy và Lyndon B. Johnson bước vào cuộc chiến Việt Nam’’.

Từng được công luận coi như một người chai đá, một bộ máy tính lạnh lùng McNamara đã xúc động bật khóc trong lúc phát biểu với Diane Sawyer của đài ABC trong chương trình truyền hình phát vào thượng tuần tháng Ba, 1995.

Những lời phát biểu của Robert s. McNamara đang gây chú ý, tạo nhiều tranh luận sôi nổi tại Hoa Kỳ với những quan điểm khác nhau, đặc biệt, trong các cộng đồng Việt Nam (Nguyễn Bá Trạc, San Jose, lễ Phục Sinh 1995).

ROBERT S. McNAMARA
(Nguyên Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ)
“Chúng ta đã lầm lẫn, lầm lẫn khủng khiếp”

Đây là một quyển sách mà tôi đã dự định sẽ không bao giờ viết ra.

Trong hơn một phần tư thế kỷ, mặc dù bị thúc bách phải đưa thêm quan điểm của tôi về vấn đề Việt Nam vào các tài liệu cho công chúng, nhưng tôi đã ngại ngần, vì sợ rằng việc ấy có thể bị xem như phục vụ cá nhân tôi, như phân bua bào chữa, oán hờn nhỏ mọn, là những điều mà tôi đã mong tránh khỏi bằng mọi giá. Nhưng nay, có những việc làm tôi thay đổi thái độ, chấp nhận lên tiếng.

Tôi đáp ứng không phải vì tôi mong được trình bầy câu chuyện của cá nhân tôi, nhưng vì ước nguyện đưa ra trước công chúng Hoa Kỳ những lý do giải thích tại sao chính phủ họ, các nhà lãnh đạo của họ đã hành xử như thế, và chúng ta có thể học hỏi được gì trong những kinh nghiệm ấy.

Tại sao sau bao năm im tiếng, bây giờ tôi lại bị thuyết phục rằng tôi nên nói ra? Có nhiều lý do:

Lý do chính là tôi đau lòng khi phải nghe những lời hoài nghi chỉ trích, ngay cả khinh miệt của nhiều người khi nhìn các định chế chính trị và các nhà lãnh đạo của chúng ta.

Có nhiều yếu tố đã đưa đến tình trạng này: vụ Việt Nam, vụ Watergate, những vụ tai tiếng, vụ tham nhũng. Nhưng sau khi cân nhắc kỹ, tôi không tin rằng các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ đã bất tài hay vô tình đối với phúc lợi của những người đã bầu cử họ. Chắc chắn, họ không hoàn hảo, con người mấy ai hoàn hảo? Họ đã phạm nhiều lầm lỗi, nhưng đa số ấy là những lỗi lầm lương thiện.

Chúng tôi, những người trong chính phủ Kennedy và Johnson, những người dự phần quyết định về Việt Nam đã hành xử dựa trên những gì chúng tôi tin rằng đấy là các nguyên tắc và truyền thống của quốc gia này. Chúng tôi đã làm quyết định với sự soi chiếu hướng dẫn của những giá trị ấy. Vâng, chúng tôi đã lầm lẫn, lầm lẫn khủng khiếp. Chúng tôi mắc nợ với các thế hệ tương lai lời giải thích.

Nhưng tôi thành thực tin rằng chúng tôi đã làm những lỗi lầm không thuộc các vấn đề giá trị và chủ định, mà chỉ là vấn đề phán đoán và khả năng. Tôi phát biểu điều này một cách thận trọng, vì tôi biết các lời phát biểu của tôi nếu có mang vẻ hợp lý hóa, biện minh đúng về những gì tôi và những người khác đã làm, thì những lời này sẽ làm mất tín nhiệm, chỉ tăng thêm tinh thần hoài nghi chỉ trích của mọi người.

Tôi muốn được người Mỹ hiểu tại sao chúng tôi đã phạm những lỗi lầm ấy, và có thể học hỏi được gì từ những lỗi lầm này. Tôi hy vọng nói rằng: “Đây là những gì rút ra từ bài học Việt Nam với tính cách xây dựng, và có thể ứng dụng được cho thế giới ngày nay và tương lai.” Đấy là con đường duy nhất mà đất nước chúng ta có thế rũ bỏ được dĩ vãng ra sau. Kịch tác gia cổ Hy Lạp Aeschylus từng viết: “Phần thưởng của niềm đau chính là kinh nghiệm.” Hãy để cho câu nói ấy được xem là một di sản vẫn tồn tại trong vụ Việt Nam.

TERRA INCOGNITA: VÙNG ĐẤT XA LẠ

Người của Kennedy lặn lội vào một vùng không ai biết rõ.

Suốt những năm vào thời Kennedy, chúng ta đã hành động dựa trên hai tiền đề mà cuối cùng đều chứng tỏ là mâu thuẫn. Tiền đề thứ nhất: Sự sụp đổ miền Nam Việt Nam vào tay Cộng Sản sẽ đe dọa an ninh của Hoa Kỳ và thế giới Tây phương. Tiền đề thứ hai: Chỉ người miền Nam Việt Nam mới có thể chống giữ được quốc gia họ và Hoa Kỳ chỉ nên giới hạn trong vai trò huấn luyện và cung cấp tiếp vận thôi. Do quan điểm sau, chúng ta đã thực sự bắt đầu kế hoạch rút dần quân lực Hoa Kỳ từ năm 1963, một bước đi đã bị mãnh liệt phản đối từ những người tin tưởng rằng việc này có thể dắt đến việc mất miền Nam Việt Nam, và chừng như, toàn thể Á châu.

Tôi chưa hề bao giờ đến thăm Đông Dương, cũng không hề hiểu biết gì lịch sử, ngôn ngữ, văn hóa hay các giá trị của vùng Đông Dương. Phải nói việc ấy cũng cùng như thế trên nhiều mức độ khác nhau với Tổng thống Kennedy, Bộ trưởng Ngoại giao Dean Rusk, Cố vấn An ninh Quốc gia Mc George Bundy, Cố vấn Quân sự Maxwell Taylor và nhiều người khác nữa. Khi phải đối mặt với vấn đề Việt Nam, chúng tôi thấy chúng tôi đã đặt định chính sách cho một khu vực – Terra Incognita, một vùng đất xa lạ, không ai hay biết.

Tệ hơn nữa, chính phủ chúng tôi đã thiếu chuyên viên để cho ý kiến, hầu bù đắp sự không thông hiểu của chúng tôi về Đông Nam Á. Sự mỉa mai về lỗ hổng này xảy ra là bởi vì các chuyên viên thượng thặng về Đông Á và Trung Quốc tại bộ Ngoại giao – như John Paton Davies Jr., John Stewart Service, John Carter Vincent – đều đã bị giải nhiệm trong thời rối loạn quá khích Mc Carthy vào những năm 1950. Thiếu các chuyên viên như thế để cung cấp những hiểu biết thấu đáo, sâu sắc, tinh vi, nên chúng tôi – chắc chắn là tôi – đã hiểu sai các mục tiêu của Trung Quốc, đã lầm lẫn khi cho rằng những ngôn từ khoa trương hiếu chiến của Trung Quốc có bao hàm chiều hướng tiến đến việc chiếm lĩnh quyền bá chủ trong vùng. Chúng tôi cũng hoàn toàn đánh giá thấp khía cạnh quốc gia dân tộc của phong trào Hồ Chí Minh. Chúng tôi chỉ xem ông ta trước hết như một người Cộng Sản, rồi thứ đến mới là một người Việt Quốc Gia.

Những phán đoán thiếu căn cứ như thế đã được chính phủ Kennedy chấp nhận mà không bàn thảo tranh luận gì, cũng như những người tiền nhiệm thuộc đảng Dân chủ và đảng Cộng hoà trước đấy. Bấy giờ và cả sau này, chúng tôi đã sai lầm trong việc thiếu phân tích kỹ lưỡng các giả định của chúng tôi. Cơ sở các quyết định của chúng tôi sai sót nghiêm trọng.

Vào mùa thu năm 1961, lực lượng du kích từ Bắc Việt xâm nhập vào Nam đã lên cao, Việt Cộng tăng cường các cuộc tấn công mãnh liệt vào chính phủ của Tổng thống Ngô Đình Diệm. Tổng thống Kennedy quyết định gửi Max Taylor (Cố vấn Quân sự) và Walt Rostow thuộc Hội đồng An ninh Quốc gia sang Nam Việt Nam. Trong báo cáo của họ, Max và Walt thúc giục chúng tôi phải làm rầm rộ việc hỗ trợ miền Nam Việt Nam bằng cách gửi thêm cố vấn, dụng cụ, và ngay cả một số nhỏ các đơn vị chiến đấu. Họ ghi rằng những bước ấy trên căn bản có nghĩa là “chuyển tiếp từ hình thức cố vấn sang hình thức chung phần” trong cuộc chiến.

Ngày mùng 8 tháng Mười Một năm 1961, tôi gửi lên Tổng thống Kennedy một phiếu trình ngắn, ủng hộ khuyến cáo ấy. Song le, ngay sau khi gửi phiếu trình này, tôi đã bắt đầu lo ngại rằng chúng tôi quá hấp tấp. Trong vài ngày kế, tôi tìm hiểu sâu hơn vấn đề Việt Nam. Càng nghiên cứu kỹ, càng thấy rõ sự phức tạp của tình thế, càng thấy sự bất trắc của khả năng chúng ta trong việc đối phó vấn đề ấy bằng các biện pháp quân sự. Tôi nhận ra được việc ủng hộ phiếu trình của Taylor và Rostow là một chuyện không hay. Dean Rusk và các cố vấn của ông cũng đi đến một kết luận như thế. Ngày 11 tháng Mười Một, ông và tôi cùng gửi lên Tổng thống một phiếu trình chung để khuyến cáo đừng gửi quân tham chiến.

Trong buổi họp tại tòa Bạch Cung xế ngày hôm ấy, Tổng thống Kennedy xem xét cả hai phiếu trình. Ông xác nhận minh bạch rằng ông mong không phải làm một cam kết vô điều kiện trong chuyện ngăn ngừa việc mất miền Nam Việt Nam. Ông dứt khoát từ chối tán thành việc bắt đầu gửi quân lực Hoa Kỳ sang tham chiến.

Tình trạng lưỡng lự khó xử mà Dean Rusk và tôi vạch ra sẽ ám ảnh chúng tôi trong rất nhiều năm. Xem lại biên bản các buổi họp này, rõ rệt là phân tích của chúng tôi mơ hồ, không thỏa đáng. Chúng tôi đã thiếu sót trong việc đặt ra năm câu hỏi căn bản nhất: Đúng hay không, việc sụp đổ miền Nam Việt Nam sẽ lôi kéo sự sụp đổ của toàn thể vùng Đông Nam Á? Liệu việc ấy có tạo nên một đe dọa nghiêm trọng nào cho an ninh Tây phương hay không? Loại chiến tranh nào – quy ước hay du kích – sẽ có thể mở ra? Với quân đội Hoa Kỳ chiến đấu bên cạnh người miền Nam Việt Nam, liệu chúng ta có thể thắng hay không? Trước khi gửi quân tham chiến, liệu chúng ta có nên làm ngơ tất cả những câu hỏi này hay không?

Thực có vẻ khó hiểu, không thể tin được rằng chúng tôi đã không tự buộc mình trực diện những đề tài trọng tâm ấy. Nhưng ngày nay, cũng thật khó gợi lại được sự ngây thơ và tin tưởng trong cách chúng tôi tiếp cận vấn đề Việt Nam vào những ngày đầu của chính phủ Kennedy. Chúng tôi biết rất ít về khu vực này. Chúng tôi thiếu kinh nghiệm trong việc đối phó khủng hoảng. Một số vấn đề quốc tế đang thôi thúc ầm ĩ đã cuốn hút sự chú ý của chúng tôi vào năm đầu tiên, tạm kể: Cuba, Bá Linh và Congo. Chưa kể cuộc cách mạng nhân quyền tại quốc nội. Sau hết, có lẽ quan trọng nhất, là bấy giờ chúng tôi chưa sẵn sàng hoặc chưa có những câu giải đáp tốt. Tôi e là, trong những trường hợp ấy, các chính phủ – và trong thực tế, đa số người ta – đều có khuynh hướng vùi đầu vào cát. Việc này có thể giúp giải thích cho thái độ của chúng tôi, nhưng chắc chắn, là không thể bào chữa cho thái độ chúng tôi.

Mặc dù cách tiếp cận vấn đề Việt Nam của chúng tôi có rời rạc vào những năm đầu tiên ấy, nhiều người trong chúng tôi – gồm cả Tổng thống và tôi – đã đi đến tin tưởng rằng: Với vấn đề như thế này, chỉ người miền Nam Việt Nam mới có thể giải quyết được. Tổng thống Kennedy đã tuyên bố điều ấy trong lúc riêng tư, ngay cả trước công chúng vào cuối mùa hè và mùa thu 1963, khi âm mưu đảo chánh Ngô đình Diệm, lãnh tụ miền Nam, đang bắt đầu. Chúng ta có thể giúp huấn luyện, hoặc giúp tiếp vận, nhưng chúng ta không thể chiến đấu cuộc chiến của họ. Đấy là quan điểm của chúng tôi lúc bấy giờ. Nếu chúng tôi cứ giữ vững quan điểm ấy, toàn thể lịch sử giai đoạn này đã khác hẳn.

Càng lúc tôi càng làm cho vấn đề Việt Nam trở thành một trách nhiệm của riêng cá nhân tôi. Điều ấy duy chỉ đúng ở một điểm: Rằng đấy là nơi dẫu chỉ là những người cố vấn, người Mỹ đã lọt vào một cuộc chiến đang nổ súng. Tôi cảm thấy một trách nhiệm nặng về việc ấy. Đấy là những gì sau này sẽ đưa đến chuyện người ta gọi Việt Nam là cuộc chiến của McNamara.

Trước khi cho phép đảo chính Diệm, người đã làm cho các nỗ lực chiến tranh tại nước ông càng lúc càng được nhận thấy là không thỏa đáng, chúng tôi thiếu sót trong việc đối đầu với những vấn đề căn bản tại Việt Nam – những vấn đề đã đưa đến việc hạ bệ ông ta – và rồi chính chúng tôi lại vẫn tiếp tục làm ngơ những vấn đề ấy, sau khi đã hất ông Diệm đi. Nhìn trở lại, tôi tin rằng Kennedy và mỗi cố vấn của ông đều có lỗi:

* Đáng lẽ tôi nên thúc đẩy việc nghiên cứu, bàn thảo, tranh luận kỹ về những câu hỏi căn bản như: Với Diệm, liệu chúng ta có thể thắng hay không? Nếu không, cố thể thay bằng ai khác để với nhân vật này, chúng ta có thể hoạt động tốt hơn không? Nếu không, liệu chúng ta có nên lưu tâm đến việc tiến tới Trung lập chế? Hoặc, giải pháp thay thế, là rút khỏi trận địa Việt nam, nơi mà những bất ổn chính trị làm cho Hoa Kỳ không thể nào ở lại được?

* Cố vấn Quân sự Maxwell Taylor đã không thúc đẩy việc giải quyết những bản báo cáo tiếp tục sai biệt nhau chung quanh các tiến triển quân sự hoặc không có tiến triển gì.

* Bộ trưởng Ngoại giao Dean Rusk – một trong những người quên mình nhất, một cá nhân tận tụy phục vụ Hoa Kỳ – đã hoàn toàn thiếu sót trong việc quản trị bộ Ngoại giao và giám sát Đại sứ Henry Cabot Lodge, Jr. – và cũng đã không tận tình tham dự các buổi họp với Tổng thống.

* Và, Tổng thống Kennedy, người mà tôi quy trách ít nhất, người đã phải lo toan nhiều vấn đề khác nữa – đã thiếu sót trong việc kết hợp một chính phủ Hoa Kỳ chia rẽ. Khi phải chạm trán những lựa chọn khó khăn, ông tỏ ra bất động, không quyết đoán trong một thời gian quá lâu.

SAU NGÔ ĐÌNH DIỆM VÀ KENNEDY

Johnson bắt đầu nghiêng về định mệnh trực tiếp tham chiến

Sau vụ ám sát Kennedy, Lyndon Johnson thừa kế một Việt Nam chưa từng phức tạp, khó khăn và nguy hiểm hơn. Người lãnh tụ duy trì được việc thống hợp các lực lượng ly tâm tại miền Nam Việt Nam trong gần mười năm, đã bị loại bỏ trong một cuộc đảo chánh mà Kennedy hỗ trợ, còn Johnson với tư cách Phó Tổng thống đã phản đối. Miền Nam Việt Nam thiếu một truyền thống đoàn kết quốc gia. Sự kiện này vây quanh bởi những hận thù tôn giáo, chủ nghĩa bè phái, cảnh sát tham nhũng, và một yếu tố khác không kém phần quan trọng, đó là phiến loạn du kích gia tăng với sự yểm trợ của láng giềng phương Bắc. Hơn nữa, Johnson thừa hưởng một nhóm phụ trách an ninh quốc gia, nhóm này đã sâu xa chia rẽ trong vấn đề Việt Nam.

Song le, trái với các huyền thoại phổ thông, khi trở thành Tổng thống, Lyndon Johnson không hề lơ là vấn đề Việt Nam. Mặc dù chỉ thăm viếng Việt Nam có một lần vào tháng Năm 1961, ông đã tham dự các cuộc họp về Việt Nam vào thời Kennedy, ông ý thức được vấn đề một cách sắc bén. Với tư cách Tổng thống, một trong những hành động đầu tiên của ông là ấn định buổi họp với các cố vấn về Việt Nam của ông. Có người bảo ràng ông chỉ triệu tập buổi họp này vì lý do chính trị quốc nội. Với cuộc bầu cử sẽ diễn ra trong thời gian một năm, người ta cho là ông lo sợ, nếu ông không tỏ ra kiên quyết và để tâm vào vấn đề này, có thể ông sẽ phải chạm mặt với những cuộc chống đối ồn ào của những nhóm cứng rắn Cộng hòa Hữu phái.

Tôi không đồng ý. Dĩ nhiên ông có e sợ các hậu quả chính trị quốc nội nếu ông tỏ ra nhu nhược. Ông cũng e sợ ảnh hưởng cho các đồng minh của chúng ta nếu Hoa Kỳ tỏ ra bất lực và miễn cưỡng trong việc thực hiện các trách vụ an ninh. Nhưng trên hết, là ông đã được thuyết phục rằng Liên bang Sô viết và Trung Quốc có khuynh hướng tiến đến việc giành quyền bá chủ. Ông xem hành động đánh chiếm miền Nam Việt Nam như một bước tiến đến chuyện thực hiện mục tiêu này – một hành động bẻ gẫy chính sách ngăn chận của chúng ta – ông quyết tâm phòng ngừa việc ấy. Johnson cảm thấy chắc chắn hơn Tổng thống Kennedy về giả thuyết nếu mất miền Nam Việt Nam thì Hoa Kỳ có thể sẽ phải trả giá đắt hơn là trực tiếp gửi quân tham chiến. Chính quan điểm ấy đã định hướng ông, đã tạo hình cho các quyết định về chính sách của ông trong thời gian năm năm kế tiếp. Ông đã sai sót trong việc nhận thức bản chất chính trị cơ sở của cuộc chiến này.

Đầu tháng chạp, Tổng thống yêu cầu tôi đến gặp. Ông được thuyết phục rằng chính phủ Hoa Kỳ không hành động đầy đủ những gì nên làm. Ông yêu cầu tôi đi Sài Gòn. “Tình hình ở đấy đang rất lôi thôi”. Khi quay về, tôi báo cáo với ông, và tiên đoán rằng: “Trừ phi có thể xoay chuyển ngay được tình thế trong vòng hai, ba tháng tới, còn không, chiều hướng hiện tại giỏi lắm là đưa đến Trung lập, hoặc tệ hơn, chắc sẽ trở thành một nước do Cộng Sản kiểm soát”. Ngay sau đấy không lâu, Tổng thống nhận được một phiếu trình của Thượng nghị sĩ Mike Mansfield, thủ lãnh nhóm đa số (Đảng Dân chủ, đơn vị Montana). Thượng nghị sĩ Mike Mansfield khuyến cáo Hoa Kỳ nên thử giải pháp Đông Nam Á trung lập – một vùng Đông Nam Á không phụ thuộc viện trợ quân sự Hoa Kỳ, cũng không là đối tượng bị Trung Quốc chế ngự – việc ấy có thể thực hiện qua một vài hình thức ngưng bắn và dàn xếp hòa giải. Tổng thống bèn tham khảo vói Bộ trưởng Ngoại giao Dean Rusk, Cố vấn ninh Quốc gia Mac Bundy và tôi, để xem chúng tôi phản ứng như thế nào. Tất cả ba chúng tôi đều cảm thấy con đường của Thượng nghị sĩ Mansfield có thể dẫn đến việc mất miền Nam Việt Nam vào tay Cộng Sản, với những hậu quả cực kỳ nghiêm trọng cho Hoa Kỳ và Tây phương. Chuyện này biểu lộ rằng chúng tôi thực đã thiển cận trong cách phân tích và bàn thảo về biện pháp trung lập hoặc rút quân – là các biện pháp thay thế cho chính sách đương hữu của chúng tôi tại Việt Nam. Sự nông cạn hẹp hòi ấy cũng biểu lộ trong việc chúng tôi trình bầy với Tổng thống Johnson về hậu quả việc mất Đông Á đối với an ninh của Hoa Kỳ và Tây phương – một cách mạnh mẽ hơn, với nhiều chi tiết hơn là trong những dịp trình bầy trước.

Việc này làm cho thái độ Tổng thống trở nên cứng rắn. Cùng với việc nhận ra chiến lược huấn luyện đang rõ rệt trở nên thất bại trong những tháng sắp đến, chúng tôi nghiêng dần về giải pháp trực tiếp tham chiến, chúng tôi đi đến giải pháp ấy một cách tinh tế, hầu như không nhìn ra được. Chúng tôi đã hành động như thế chỉ vì sự sợ hãi của chúng tôi gia tăng, chúng tôi sợ các hậu quả có thể xảy ra nếu chúng tôi không hành động gì. Sau này, khi mọi việc đã xảy ra rồi, chúng tôi mới nhận thức được rằng đấy chỉ là sự sợ hãi thổi phồng quá đáng.

Một phần, sự hỏng hụt của chúng tôi là do kết quả của việc phải đối phó nhiều chuyện khác nữa, không phải chỉ có chuyện Việt Nam. Tinh trạng bất ổn tại Mỹ châu La Tinh, tại Phi châu, Trung Đông, và mối đe dọa của Sô Viết đối với Âu châu đã thu hút hết thì giờ và sự chú ý của chúng tôi. Chúng tôi không có một nhóm chuyên viên cao cấp phụ trách về vấn đề Việt Nam, nên cuộc khủng hoảng này trở thành chỉ là một trong nhiều đề mục khác đã được bỏ lên trên đĩa của mỗi người. Khi gộp lại sự thiếu uyển chuyển trong các mục tiêu của chúng tôi, cùng với sự kiện chúng tôi đã không thực sự nghiên cứu những gì thiết yếu nhất, quan trọng nhất đối với chúng tôi, chúng tôi trở thành rối rắm, ôm đồm quá tải, và rồi chúng tôi cầm một tấm bản đồ, trong ấy chỉ có một con đường độc đạo. Chúng tôi không bao giờ chịu ngừng lại, tìm tòi kỹ lưỡng đầy đủ hơn để xem có những con đường nào khác cho mục đích của chúng ta không.

Vào những tháng cuối năm 1963, tình thế Nam Việt Nam càng trở nên tệ hại một cách chắc chắn. Sau khi loại bỏ Diệm, phe đảo chánh nắm quyền chẳng làm được gì để ngăn chận tình trạng suy thoái. Ngày 29 tháng Giêng 1964, một nhóm sĩ quan trẻ do tướng Nguyễn Khánh cầm đầu đã hạ bệ chính phủ chia rẽ và vô hiệu ấy. Hoa Thịnh Đốn không khuyến khích, cũng không giúp đỡ cuộc đảo chánh này; trong thực tế, tình trạng hỗn loạn thường xuyên càng làm tăng mối lo của Tổng thống Johnson, tăng quan tâm về sự bất ổn chính trị có thể phá vỡ nỗ lực cuộc chiến. Do đấy, ông cảm thấy chúng ta phải làm cho Khánh trở thành “Chú nhỏ của chúng ta.”

Trước khi Cố vấn Quân sự Maxwell Taylor và tôi sang Sài Gòn một lần nữa, Tổng thống yêu cầu chúng tôi đến tòa Bạch Cung. Ông nói: “Bob, tôi muốn thấy có chừng một nghìn tấm ảnh chụp ông cùng tướng Khánh vẫy tay tươi cười và biểu lộ cho mọi người ở đấy biết rằng quốc gia này triệt để đứng sau lưng Khánh”.

Tổng thống đạt ý muốn. Suốt mấy ngày giữa tháng Ba, với sự ngượng nghịu lúng túng vô cùng của tôi, người Mỹ đã cầm những tờ báo, mở truyền hình ra xem hình ảnh tôi lang thang khắp miền Nam Việt Nam từ đồng bằng sông Cửu Long ra Huế, đứng vai sát vai cạnh viên tướng Khánh lùn, béo núng nính, trước mặt những đám đông người Việt, với cố gắng quảng cáo cho ông với dân chúng của ông. Và bởi vì đến bấy giờ chúng tôi vẫn không nhận thức được cuộc chiến đấu của người Bắc Việt và Việt Cộng trong bản chất là người Quốc gia, chúng tôi không nhận thức được việc trình bầy liên hệ giữa Khánh và Hoa Kỳ trước công chúng lại chỉ làm tăng thêm trong tâm trí người Việt rằng chính phủ của họ chỉ đạt được sự hỗ trợ của Hoa Kỳ, chứ không phải là sự hỗ trợ của chính dân tộc họ.

LỪA DỐI QUỐC HỘI?

Trả lời những cáo buộc về Nghị quyết Vịnh Bắc Việt

Gần gũi nhất đến việc tuyên chiến tại Việt Nam là vụ Nghị quyết Vịnh Bắc Việt trong tháng Tám 1964. Các biến cố xung quanh nghị quyết này đã gây nhiều tranh cãi trầm trọng vẫn còn tiếp tục đến nay. Sau đây là những câu hỏi then chốt cùng với các câu trả lời của tôi:

* Những cuộc tấn công khu trục hạm Hoa Kỳ của tầu tuần Bắc Việt được báo cáo xảy ra vào hai thời điểm riêng rẽ – Mùng 2 tháng Tám và mùng 4 tháng Tám, 1964. Những cuộc tấn công ấy có thực hay không? Trả lời: Bằng chứng về cuộc tấn công thứ nhất không thể tranh cãi được. Về cuộc tấn công thứ hai: Có lẽ, nhưng không chắc.

* Lúc ấy, và cả nhiều năm sau này, có người tin rằng chính phủ Johnson đã có chủ tâm khiêu khích các cuộc tấn công ấy nhằm biện minh cho việc leo thang chiến tranh, và che giấu để đạt được thẩm quyền Quốc hội cho phép leo thang. Câu trả lời: Hoàn toàn không.

* Nghị quyết ấy có thể đệ trình cho Quốc hội không, nếu vụ Vịnh Bắc Việt không xảy ra, và nếu không có vụ ấy, nghị quyết ấy có thể được thông qua hay không? Trả lời: Gần như chắc chắn, một nghị quyết sẽ được đệ trình Quốc hội trong vòng vài tuần lễ, và rất có thể nghị quyết sẽ được thông qua. Tuy nhiên trong trường hợp ấy, nghị quyết này sẽ được tranh luận bàn thảo kỹ lưỡng, và có thể Quốc hội sẽ đặt ra những thẩm quyền Tổng thống.

* Chính phủ Johnson có thể bào chữa việc đưa ra những hành động quân sự tại Việt Nam – bao gồm cả việc bành trướng quân lực trên những mức độ khổng lồ – sau vụ nghị quyết vịnh Bắc Việt – hay không? Trả lời: Tuyệt đối không. Mặc dù Nghị quyết ấy đủ cho phép một thẩm quyền rộng rãi để hỗ trợ cuộc leo thang, nhưng Quốc hội không bao giờ có ý định cho phép dùng nghị quyết ấy làm một căn bản cho các hành động như thế, và nước Mỹ cũng không thấy như thế.

KHỦNG HOẢNG VỀ TÍN NHIỆM

Đến khoảng tháng Bẩy 1965: Thêm quân, thêm bom, bớt thẳng thắn thực thà.

Ngày nay nhiều người tin rằng Tổng thống Johnson đã úp mở trong việc đưa ra các quyết định về Việt Nam bởi ông muốn tập trung vào việc thắng cử Tổng thống năm 1964. Nhiều người khẳng định là ông đã che đậy ý muốn bành trướng cuộc chiến vì các lý do chính trị – là ông muốn vẽ ra hình ảnh ứng cử viên Cộng hòa, Nghị sĩ Barry M.Goldwater, như một tay hiếu chiến, phần ông lại là một chính khách biết điều, yêu chuộng hòa bình. Nếu Lyndon Johnson quả có một kế hoạch leo thang chiến tranh trong trí, ông không hề cho tôi biết. Và tôi đã tin rằng ông không có một dự định như thế. Ông không bao giờ chỉ thị gì cho tôi hoặc cho Tham Mưu Trưởng về việc ông muốn chúng tôi phải nén vụ Việt Nam lại vì cuộc bầu cử. Thực ra bấy giờ vẫn chưa có sự đồng thuận giữa các cố vấn của ông về chuyện nên hành động gì.

Đối diện với những khuyến cáo đầy mâu thuẫn sâu xa về cuộc chiến nói chung, việc dội bom miền Bắc nói riêng, ngày mùng 2 tháng Mười Một, Tổng thống cho tổ chức một Nhóm Hoạt Động đặt dưới quyền Phụ tá Bộ trưởng Ngoại giao William Bundy nhằm một lần nữa, tái xét các biện pháp thay thế. Hôm sau, Lyndon B.Johnson thắng cử với số phiếu lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Nhóm Hoạt Động, điều hành một cuộc tái xét toàn diện các giả định, các tiền đề và những biện pháp lựa chọn, rồi cho biết:

Chúng ta không thể bảo đảm duy trì một miền Nam Việt Nam không Cộng Sản mà giảm thiểu được việc liên lụy của chúng ta vào bất cứ hành động quân sự nào cần thiết để đánh bại Bắc Việt, và có thể cả Trung Cộng – về quân sự. Một cam kết như thế sẽ dính líu đến những nguy cơ cao độ trong mối mâu thuẫn lớn lao tại Á châu, và sự cam kết ấy không thể chỉ hạn chế trong các hoạt động hải quân, không quân, sự cam kết ấy sẽ gần như không thể tránh khỏi các hành động với kích thước của trận địa chiến ở Cao Ly, và có thể, ngay cả việc phải sử dụng đến vũ khí hạt nhân tại một số địa điểm.

Tổng thống và tôi sửng sốt trước phong cách ung dung của các viên chỉ huy và những người cộng tác của họ trong việc chấp nhận cả nguy cơ có thể sử dụng vũ khí hạt nhân. Trên tất cả mọi điều, chúng tôi muốn tránh nguy cơ này. Tôi tin rằng dù chỉ là một nguy cơ rất thấp của thảm họa này, chúng ta cũng phải tránh. Bài học ấy đã không được rút ra vào năm 1964. Tôi e cho đến ngày nay, quốc gia chúng ta và cả thế giới vẫn chưa rút ra đầy đủ bài học ấy.

Sau nhiều tháng không chắc chắn, không quyết đoán, chúng tôi chạm mặt ngã ba đường.

Tiếp theo phiếu trình của chúng tôi, sáu tháng đầu năm 1965 đánh dấu một thời kỳ quyết định của ba mươi năm Mỹ can thiệp vào Đông dương. Vào khoảng giữa 28 tháng Giêng đến 28 tháng Bẩy 1965, Tổng thống Johnson đã làm những lựa chọn định mệnh khóa chặt Hoa Kỳ vào con đường can thiệp bằng quân sự ồ ạt ở Việt Nam, một cuộc can thiệp sau này đã tiêu hủy chức vụ Tổng thống của ông và phân cực nước Mỹ trong những đối chọi chưa từng xảy ra kể từ Nội chiến.

Trong thời kỳ định mệnh này, Johnson bắt đầu cho phép dội bom Bắc Việt, đưa sang các lực lượng bộ binh, tăng tổng số binh sĩ Hoa Kỳ từ 23,000 lên 175,000 – có thể đưa thêm 100,000 quân nữa vào năm 1966 và có lẽ còn hơn thế sau này. Tất cả những việc ấy xảy ra mà không mở rộng cho công chúng hay biết, không bàn thảo một cách thích đáng, đấy sẽ là những mầm mống hiển nhiên đưa đến cơn khủng hoảng về tín nhiệm sau này.

Mặc dù giấu giếm việc thay đổi chính sách trước công chúng, Tổng thống đã tìm kiếm sự cố vấn của những người bên ngoài chính phủ, đặc biệt là cựu Tổng thống Eisenhower. Ông tóm tắt cho Ike (Eisenhower) biết, rồi mời Ike họp với ông cùng các cố vấn cao cấp của ông tại tòa Bạch Cung. Ngày 17 tháng Ba, chúng tôi ngồi vây quanh chiếc bàn của phòng họp hội đồng chính phủ trong hai tiếng rưỡi đồng hồ để nghe quan điểm của vị tướng lãnh.

Ike mở đầu bằng cách nói rằng trách nhiệm thứ nhất của Lyndon B. Johnson chính là phải kiềm chế Cộng Sản tại Đông Nam Á. Tiếp theo, ông phát biểu là việc dội bom có thể giúp đạt mục tiêu này. Dội bom không chấm dứt được hành động xâm nhập, nhưng sẽ giúp ích bằng cách làm suy nhược ý chí chiến đấu của Hà Nội. Ông tin sẽ có lúc Tổng thống có thể chuyển từ các cuộc oanh tạc trả đũa sang “chiến dịch áp lực.” Khi có người hiện diện trong buổi họp (Tôi không nhớ là ai) nói rằng việc ấy có thể đòi hỏi một lực lượng rất lớn – tám sư đoàn Hoa Kỳ – để ngăn ngừa Cộng Sản chiếm miền Nam, Eisenhower phát biểu rằng ông hy vọng không cần đến thế, nhưng “nếu cần thì làm”. Nếu người Tàu và Sô Viết đe dọa can thiệp, “Chúng ta nên chuyển lời cho họ phải coi chừng những hậu quả tàn bạo thảm khốc (nghĩa là tấn công nguyên tử) xảy ra cho họ.”

Hai ngày sau, Tổng thống Johnson quyết định bắt đầu cho oanh tạc thường xuyên lên Bắc Việt, nhưng một lần nữa, ông từ chối lời khuyên của Mac, Cố vấn An ninh Quốc gia, về việc tuyên bố quyết định này cho công chúng.

Tại sao Tổng thống Johnson đã từ chối, không tin cậy công chúng Mỹ? Có người cho rằng đấy là do tính nết giấu giếm bẩm sinh của ông, nhưng câu trả lời thực ra phức tạp hơn nhiều. Một yếu tố đó là nỗi ám ảnh của ông trong việc cần bảo đảm Quốc hội chấp thuận và tài trợ chương trình Đại Xã Hội của ông; ông không muốn bất cứ chuyện gì có thể làm sai lệch các kế hoạch cải tổ quốc nội mà ông ấp ủ. Yếu tố khác là mối sợ hãi cũng lớn ngang thế về áp lực của nhóm cứng rắn (từ những người bảo thủ trong cả hai đảng) đối với hành động quân sự lớn lao hơn, liều lĩnh hơn, có thể châm ngòi cho các phản ứng của Trung Quốc, và/ hoặc của Liên Sô, đặc biệt chiến tranh nguyên tử. Tổng thống đã đương đầu tình trạng tiến thối lưỡng nan này bằng cách che giấu đi – một hành động thiếu khôn ngoan đã tự hại ông sau này.

Ngày 21 tháng Tư, trong buổi họp tại phòng họp hội đồng chính phủ, tôi thúc đẩy Tổng thống nhanh chóng chấp thuận khai triển, nghĩa là, đánh dấu việc tăng cường sức mạnh Mỹ tại Việt Nam từ 33,000 quân lên 82,000 quân, nhằm chống đỡ cho Nam Việt Nam một cuộc tấn công của Cộng Sản đã được dự liệu, đồng thời ngăn ngừa “một cuộc thất trận ngoạn mục của chính phủ Nam Việt Nam hoặc của các lực lượng Hoa Kỳ.”

George Ball, cũng tham dự buổi họp ngày 21 tháng Tư, đã phản ứng khuyến cáo ấy bằng lời yêu cầu chúng tôi “không nên nhẩy một bước liều lĩnh như thế mà không thăm dò các khả năng dàn xếp.” Tồng thống trả lời, “Được rồi, George, tôi cho ông thời hạn đến mai để thử cho tôi một kế hoạch dàn xếp. Nếu ông có thể làm trò ảo thuật, moi ra được con thỏ trong cái mũ, tôi sẽ theo ông.” Ngay đêm hôm ấy, George Ball đệ trình Tổng thống một kế hoạch hòa giải. Nhưng tờ trình của George thất bại trong việc mô tả làm thế nào để đạt được những mục tiêu mà chúng ta tìm kiếm.

Những gì George đã có khuyến cáo – nhưng chúng tôi có lẽ đã không thực hiện đúng đắn – đấy là việc yêu cầu các trung gian hòa giải (Thụy Điển, Sô Viết, mười bẩy quốc gia phi liên kết) xác nhận minh bạch với Hà Nội rằng chúng tôi sẽ chấp nhận vị thế mà ông đã phác thảo ra. Trong vòng chỉ vài tuần lễ, chúng tôi có tiếp xúc với một đại diện Bắc Việt tại Ba Lê. Trong ba năm tiếp theo, chúng tôi có thử tiếp xúc nhiều lần khác. Nhưng chúng tôi đã sai sót trong việc không sử dụng tất cả mọi đường dây khả thi, sai sót trong việc không xác nhận minh bạch vị thế của chúng ta. Và trong thời gian tệ hại vào lúc Hoa Kỳ đánh bom, vẫn thường có ẩn chứa những dấu hiệu là Hoa Kỳ mong mỏi hòa bình.

Nhận thức sự vô hiệu của việc thả bom đã tăng cường áp lực mở rộng trận địa chiến. Việc này bùng nổ ngày 7 tháng Sáu. Hôm ấy, Tư lệnh quân lực Hoa Kỳ, tướng William Westmoreland gửi điện văn cho biết: ông cần 41,000 quân chiến đấu ngay bây giờ, 52,000 sau đó nữa. Việc này sẽ làm tăng quân lực Mỹ từ 82,000 lên 175,000. Trong tấm điện văn, câu cuối cùng ông viết là: “Phải tiếp tục nghiên cứu, phải dự liệu khai triển những lực lượng lớn hơn, nếu cần, và khi cần.” Lời yêu cầu của ông có nghĩa rằng đây sẽ là một cuộc bành trướng bi thảm và vô giới hạn của quân lực Mỹ. Trong suốt bẩy năm tại bộ Quốc phòng, với hàng ngàn điện văn nhận được, đây chính là tấm điện văn đã làm tôi phiền muộn nhất.

Tổng thống Johnson đọc một số bản thăm dò ý kiến mà kết quả cho thấy công chúng đã được chuẩn bị chấp nhận những hành động đi xa hơn. Sáu mươi lăm phần trăm chấp nhận cách ông đối phó cuộc chiến. 47 phần trăm có thiện cảm với việc gửi thêm quân. Nhưng Tổng thống biết rất rõ là công chúng có thể thay đổi mau chóng đến đâu. Ngày 21 tháng Sáu, ông bảo tôi:

Tôi nghĩ sẽ có lúc rất khó cho chúng ta đeo đuổi một cách vô hiệu quả một cuộc chiến quá xa quê nhà, với những sư đoàn, đặc biệt những sư đoàn có khả năng mà chúng ta gửi đến đó. Chuyện này làm tôi lo nghĩ cả tháng nay. Tôi rất buồn bực vì không thấy bộ Quốc phòng hay bộ Ngoại giao đưa ra được một chương trình nào khả dĩ hy vọng làm được gì, ngoài việc cầu khẩn khấn vái, thở dốc mà chờ đến mùa mưa để mong chúng bỏ cuộc. Nhưng tôi không tin chúng sẽ bỏ cuộc.

Tổng thống chấp thuận một chương trình tăng quân tham chiến vào ngày 27 tháng Bẩy, ông loan báo quyết định cho công chúng Mỹ trong bài diễn văn đọc vào buổi trưa 28 tháng Bẩy. Nhưng ông không chấp thuận một đường lối hợp lệ để tìm tài trợ cho chương trình. Tôi phỏng định chương trình ấy sẽ đòi hỏi vào khoảng mười tỉ Mỹ kim tăng thêm vào phần chi của tài khóa 1966. Tôi đệ trình chiết tính dự chi của tôi và đề nghị tăng thuế trong bản thảo một phiếu trình rất hạn chế, ít người được biết. Ngay Bộ trưởng Ngân khố và Chủ tịch Hội đồng cố vấn kinh tế cũng không được biết gì.

Sau khi đọc xong bản thảo phiếu trình và phần ước chi do tôi đưa, Tổng thống nói: “Ông tính ông sẽ vận động được bao nhiêu phiếu?” (Tôi hiểu ý Tổng thống muốn nói gì: Ông không tin Quốc hội sẽ chịu thông qua một dự luật tăng thuế).

“Tôi không tính chuyện vận động phiếu” Tôi trả lời. “Tôi biết việc này rất khó, nhưng đấy là trách nhiệm của những người phụ trách liên lạc với lập pháp, đấy là công việc của họ, họ đâu cả rồi?”

“Ông cứ tự nhấc đít mà đi sang Quốc hội, đừng vác mặt về nếu ông không kiếm ra đủ số phiếu.”

Tôi thực hiện việc ấy. Nhưng tất nhiên không đạt đủ số phiếu cho dự luật tăng thuế được thông qua. Tôi cho Tổng thống biết việc này và nói rằng, “Tôi vẫn cố tranh đấu cho những gì ngay thẳng đúng đắn rồi dẫu có thất bại cũng vẫn còn hơn không.”

Ông nhìn tôi, nổi cáu. “Mẹ kiếp, đấy, tôi đã bảo mà, ông là thứ dở người như thế – ông không phải là tay làm chính trị. Đã bao nhiêu lần tôi từng nhắc ông về chuyện Tổng thống Roosevelt cố đưa người vào Tối cao Pháp viện rồi thất bại một lần thì sau đấy chẳng còn làm ăn gì với bọn Quốc hội được nữa.” Tôi biết ông có quá lời, nhưng tôi hiểu trọng điểm của ông: Ông đang cần bảo vệ các chương trình Đại Xã Hội do ông đề ra. Tuy nhiên, nếu bấy giờ ông chưa bị cơn khủng hoảng về tín nhiệm đang lan tràn rộng rãi – nó xói mòn cái khả năng xây đắp Đại Xã Hội của ông – thì có thể tôi đã đồng ý với ông.

Ngay từ khi chúng ta bắt đầu liên hệ vào cuộc chiến Việt Nam, các lực lượng Việt Nam đã thường gửi cho chúng ta những bản tường-trình tình-báo nghèo nàn, không chính xác. Đôi khi những sự bất chính xác này có chủ ý đánh lạc lối; đôi khi là sản phẩm của quá nhiều lạc quan. Và đôi khi chỉ đơn thuần phản ảnh nỗi khó khăn trong việc họ không đánh giá được sự tiến triển một cách chính xác.

Nhưng tôi nhất định rằng chúng ta phải cố gắng đo lường các tiến triển. Ngay những năm học ở Harvard, tôi đã phải áp dụng một điều lệ, đấy là chỉ nhận thức mục tiêu và thiết lập kế hoạch thực hiện thôi, không đủ; Còn phải nghe ngóng giám sát kế hoạch để xác định xem có đạt được mục tiêu hay không. Nếu khám phá là không thể đạt được, thì phải sửa kế hoạch hoặc thay đổi mục tiêu. Tôi được thuyết phục rằng trong khi chúng ta không thể theo sát tiền tuyến, chúng ta có thể tìm những cách khác nhau để xác định thành công hay thất bại. Do đó chúng tôi đã đo đếm các mục tiêu triệt hạ tại miền Bắc, đo đếm số xe di chuyển trên đường mòn Hồ Chí Minh, số vũ khí chiến lợi phẩm thu được, số xác chết địch quân v.v…

Việc đếm xác chết là một phương thức đo lường thiệt hại nhân mạng của địch quân; Chúng tôi thực hiện việc ấy, vì một trong những mục tiêu của (tướng) Wesmoreland là phải đạt đến cái-gọi-là-giao-điểm, ấy là điểm mà các thiệt hại của Việt Cộng và của người Bắc Việt lớn hơn sức họ có thể chịu đựng được. Việc đếm xác chết bị người ta phê bình rằng đây là một ví dụ về nỗi ám ảnh của tôi đối với những con số. “Thằng cha McNamara này,” họ nói “là một thằng cha cố gắng định- lượng-hóa tất cả mọi thứ.” Hiển nhiên, có những thứ người ta không thể định lượng được: Như Danh Dự, như vẻ Đẹp chẳng hạn. Nhưng có những thứ nguời ta có thể đếm, người ta phải đếm. Sự thiệt mạng là một thứ (người ta có thể đếm, phải đếm) khi người ta đang chiến đấu trong một cuộc chiến tiêu hao. Chúng tôi đã cố sử dụng việc đếm xác chết như một phương thức đo lường để giúp chúng tôi tính toán xem chúng tôi nên làm gì ở Việt Nam ngõ hầu thắng cuộc chiến trong khi giữ được cho binh đội chúng ta ít chịu nguy cơ nhất.

PHIỀN LỤY KHOÉT SÂU

Cuộc chiến lan rộng, McNamara và Lyndon B. Johndon càng thêm ghẻ lạnh.

Những áp lực từ phía tả – từ những người thôi thúc chúng tôi phải giảm bớt hành động hoặc rút quân – sẽ lên cao độ vào đầu năm 1968 với sức chống đối thực sự mạnh mẽ, góp phần vào việc Tổng thống Johnson quyết định thôi tìm đường tái cử. Nhưng đấy không phải là những quan tâm lớn của chúng tôi trong những năm 1966 và gần suốt năm 1967. Tổng thống, (Bộ trưởng Ngoại giao) Dean Rusk và tôi bấy giờ lo lắng hơn nhiều với những áp lực từ phía hữu. Nhóm Diều Hâu buộc tội chúng tôi bắt quân đội chiến đấu với một tay trói chặt sau lưng, họ đòi hỏi chúng tôi phải tháo xích mở xổng toàn bộ khả năng và sức mạnh quân đội Hoa Kỳ.

Ngày 19 tháng Năm, 1967, tôi đề nghị một sách lược chính trị quân sự nhằm nâng cao khả năng thương thảo: Giới hạn việc đánh bom vào hệ thống giao thông của những “phễu” xâm nhập nằm dưới vĩ tuyến hai mươi; giới hạn việc thêm quân ở con số 30,000, sau đó sẽ xác định một mức chắc chắn không lên quá; chấp nhận một vị thế thương lượng uyển chuyển hơn, đồng thời năng động tìm kiếm một cuộc dàn xếp chính trị. Sau khi đã trải qua nhiều suy nghĩ, phấn đấu, tìm kiếm, tôi phải kết thúc – và tôi thẳng thừng nói với Tổng thống Johnson – rằng “cuộc chiến tại Việt Nam đang giành lấy một động lượng của chính nó, cuộc chiến như thế phải chấm dứt”, rằng phương thức tiếp cận của tướng Westmoreland “có thể dắt đến một hiểm họa nghiêm trọng cho quốc gia”.

Phiếu trình của tôi gửi Tổng thống vào tháng Năm mở tung một cơn bão tranh luận. Nó tăng sức dữ dội cho cuộc tranh cãi trong chính phủ vốn đã cam go. Nó đưa đến những buổi điều trần căng thẳng chua cay, nó đặt tôi vào việc đối chọi gay gắt với Tham Mưu trưởng Liên Quân, bật lên những dư luận cho rằng họ sẽ đồng loạt từ nhiệm. Nó đẩy mau cái tiến trình sau này sẽ tách Tổng thống Johnson và tôi rời xa đôi ngả. Và nó cũng đưa tôi đi nhanh khỏi Ngũ Giác Đài.

Khi đọc trước bản thảo bài viết này của tôi, một trong những vị cố vấn thân tín nhất của Tổng thống Johnson đã bình phẩm, viết cho tôi rằng tôi đã thiếu sót trong việc nhấn mạnh một cách thích đáng cái nhược điểm trong cách làm quyết định của Lyndon B. Johnson: “Khi làm việc để đi đến một quyết định, ông ta không thích có nhiều người – ông ta chỉ muốn làm việc với từng người một. Trong bất cứ phạm vi nào, không bao giờ ông ta cho người ta biết lá bài tẩy. Chẳng hạn việc ông không thích tìm hiểu thêm những ‘điều kiện hoà bình’ khả chấp, khiến cho các giai đoạn ngừng bỏ bom tất nhiên là thất bại.”

Như mọi chúng ta, Lyndon B. Johnson đôi lúc cũng tạo nên những rắc rối. Việc giao phó cho một cố vấn cao cấp soạn thảo tờ trình nhằm xét lại tiền đề cơ bản chủ yếu của quan hệ chúng ta trong cuộc chiến, nhưng lại không cho phép người ấy bàn thảo với các đồng nghiệp, thì chắc chắn không thể nào điều hành một chính phủ được. Tuy nhiên tôi nghĩ nếu chỉ quy thất bại của một Tổng thống vào những yếu tố như thế, thì cũng đơn giản. Những người thuộc quyền vẫn phải tìm cho ra các phương thức bổ khuyết cho những cá tính của người lãnh đạo họ. Đấy vẫn là trách nhiệm chúng tôi trong việc phải nhận định ra những nghịch lý của chính sách, buộc phải đưa ra ánh sáng bàn thảo. Phải chi chúng tôi đã làm như vậy, chúng tôi đã thay đổi được chính sách rồi.

Một bản mật văn của Richard Helms bên Trung ương Tình báo cho thấy vào mùa thu năm 1967, đa số phân tích viên cao cấp của Trung ương Tình báo đều tin rằng chúng ta có thể rút quân từ lúc bấy giờ mà không bị một thiệt hại thường trực nào cho an ninh Hoa Kỳ hay Tây phương. Cùng thời gian ấy, tôi cũng phát biểu sự đánh giá trước một ủy ban Thượng viện – sự đánh giá này được hỗ trợ bằng những bản phân tích của Trung ương Tình báo và Tình báo Quốc phòng – rằng chúng ta không thể thắng được cuộc chiến này bằng cách đánh bom miền Bắc. Và, trong phiếu trình đề ngày 19 tháng Năm, tôi cũng đã báo cáo là chúng ta sẽ tiếp tục chịu đựng những tổn thất nặng nề tại miền Nam Việt Nam mà không có đảm bảo nào về việc thắng trận cả.

Người ta có thể giải thích thế nào về sự sai sót của chính phủ trong việc không thúc đẩy mạnh mẽ hơn những cuộc hòa đàm và dự liệu rút quân? Câu trả lời là Tham mưu trưởng cùng nhiều người khác trong chính phủ đã có cái nhìn hoàn toàn khác hẳn về diễn biến thật của cuộc chiến, rồi những thành viên có ảnh hưởng bên Quốc hội cùng công chúng đã chia sẻ quan điểm ấy, và rồi chính Tổng thống cũng bị lung lay nặng nề vì quan điểm họ.

Một phiếu trình bi quan khác mà tôi viết vào tháng Chín đã tăng thêm mối căng thẳng giữa hai người từng yêu mến quý trọng lẫn nhau – Lyndon Johnson và tôi – rồi đi đến gẫy đổ. Bốn tuần sau, Tổng thống Johnson loan báo việc đề cử tôi làm Chủ tịch Ngân hàng Thế giới.

Cho đến hôm nay tôi vẫn không biết là tôi đã tự ý từ nhiệm, hay đã bị sa thải. Có thể cả hai.

Đã từ lâu tôi vẫn thích quan tâm đến các quốc gia đang phát triển. Vào mùa xuân năm 1967, tôi từng có dịp thảo luận với George Woods trong một buổi ăn trưa, lúc ấy ông cho tôi biết thời hạn năm năm chức vụ Chủ tịch Ngân hàng Thế giới của ông sắp mãn, ông mong ước tôi sẽ là người kế nhiệm.

Bấy giờ tôi có cho Tổng thống biết chuyện này, nhưng mãi đến tháng Chín hoặc tháng Mười, trong một cơn buồn bực, Tổng thống mới hỏi tôi có tính gì khác chưa. Tôi bảo ông rằng tôi vẫn thích Ngân Hàng Thế giới, nhưng nếu chừng nào Tổng thống còn muốn tôi ở bộ Quốc phòng, tôi vẫn ở lại.

Một năm sau, George Woods cho tôi biết Bộ trưởng Ngân khố Joe Fowler có nói với Lyndon B. Johnson rằng theo thủ tục, phải đề cử ba tên người, Tổng thống bèn đáp, “Được, thế thì ba cái tên ấy là: McNamara, McNamara, McNamara.”

Vậy thì, tại sao tôi đã ra đi? Không phải vì tôi ốm đau bệnh hoạn như những chuyện báo chí nói đến, và rồi Tổng thống có bảo một tùy viên rằng ông lo cho tôi có thể tự tử như trường hợp James V. Forrestal, Bộ trưởng Quốc phòng đầu tiên của Tổng thống Truman. Rất nhiều người đã tin rằng tôi bị suy sụp tâm thần lẫn thể xác. Tôi không bị như thế. Tôi có bị căng thẳng. Tôi có bất hòa với Tổng thống; Tôi đã không tìm thấy những câu trả lời cho các câu hỏi của tôi; tôi đã bị căng thẳng kinh khủng. Nhưng tôi không đi chữa bệnh, không uống thuốc, ngoại trừ thỉnh thoảng uống vài viên thuốc ngủ, và chưa hề bao giờ tôi có ý định tự tử.

Sự thực, đó là tôi cần phải đi đến một kết thúc, tôi đã phải nói thẳng thừng với Tổng thống rằng chúng ta không thể nào đạt được các mục tiêu của chúng ta tại Việt Nam qua những phương tiện quân sự hợp lý, do đó chúng ta phải kiếm một mục tiêu ít chính trị hơn qua các cuộc hòa đàm thương thảo. Tổng thống Johnson chưa sẵn sàng để chấp nhận điều ấy. Giữa hai chúng tôi, rõ rệt là tôi không thay đổi sự phán đoán của tôi, ông không thay đổi sự phán đoán của ông. Một trong hai đã phải nhượng bộ./.

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, “Tôi mơ một lễ Giáng Sinh màu trắng”

nuocmattruocconmua

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before The Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.

CHUCK NEIL
(Đài phát thanh quân đội Hoa Kỳ)
“Tôi mơ một lễ Giáng Sinh màu trắng”

Tôi ở Việt Nam từ 1967, làm việc cho nhiều công ty khác nhau. Đến năm 1973 lúc đang làm cho FEC-TTT (Công Ty Điện Lực) thì một tên bạn bảo: “Này bọn quân đội sắp đi. Họ đang kiếm nhân viên dân sự vào thay thế trong đài phát thanh. Sao không đưa đơn? Tôi xem hồ sơ, thấy bạn có nhiều kinh nghiệm về phát thanh và truyền hình lắm”.

Tôi đáp: “Được, nhưng tôi chỉ đứng chạy máy thu hình TV thôi. Còn phát thanh thì cũng có làm xướng ngôn, nhưng lâu quá rồi”.

Tên bạn nói: “Cần quái gì, thử đi. Điện thoại cho Đại tá Hutchinson ở đài phát thanh xem”. Ông là quản đốc đài phát thanh quân đội.

Tôi gọi điện thoại Đại tá Hutchinson. Ông ta cho một cái hẹn. Đúng ngày giờ, vác mặt đến phỏng vấn. Ở đấy có một Trung sĩ nhất, một trong những Giám đốc chương trình. Một cha dễ thương hết sức. Hắn ngồi vào bàn máy. Tôi ngồi vào bàn xướng ngôn đối diện. Hắn đưa cho tôi một tập tài liệu đọc thử, trong đó có một trang đầy tên người, địa danh, có cả tên Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, tên mấy nơi như thủ đô Cairo ở Ai Cập và tỉnh Cairo ở Tiểu bang Illinois. Hắn muốn xem tôi có biết cách phát âm khác nhau không. Rồi hắn đưa tôi đọc một bản văn, loại thông báo. Hắn yêu cầu đọc thử vài đoạn tin. Bây giờ có ba nguồn tin viễn ký: của hãng AP, hãng UPI, và của AFRTS (Truyền hình và phát thanh quân đội tại Hoa Thịnh Đốn).

Tôi quên bẵng vụ phỏng vấn này, cho đến suốt mười ngày sau. Điện thoại reng. Họ bảo “Anh được nhận vào làm”. Thế là tôi đến Đài phát thanh. Ở đấy, tôi gặp E.M. Turvett, từng làm việc ở FEC. Tôi nhận ra anh vì có quen với anh ta. Rồi lại có một tay trẻ, trước là Thiếu úy quân đội, tên là Mike Monderer. Anh ta cũng được nhận với tư cách xướng ngôn viên như tôi. Tay này khá sắc bén, xuất thân Đại học Colorado, từng làm việc bán thời gian cho đài phát thanh bên ấy. Truyền thông là môn học chính của anh ta.

Rồi có một kỹ sư trưởng. Như thế tất cả là bốn nhân viên dân sự Mỹ. Kỹ sư dự khuyết thì có Ed Powers. Trường hợp kỹ sư chính vắng mặt trong giờ phát tuyến, Ed là người thay thế để lo liệu những trục trặc xảy ra.

Tất nhiên khi chúng tôi mới đến, các nhân viên quân đội hãy còn. Họ làm cặp để hướng dẫn chúng tôi trong thời gian vài tuần. Khi các nhân viên này đi vào tháng Ba, họ giữ lại một binh nhì Mỹ, người này làm cho đài đã mấy năm rồi. Họ giữ anh lại giúp việc trong thời gian chuyển tiếp. Anh được xem là nhân viên vô hình, vì trên nguyên tắc lính Mỹ đều đã phải ra đi cả. Nhưng anh ta, cùng một vài nguời nữa, đã được giữ lại một hay vài tháng gì đó sau ngày ra đi chính thức. Họ trở thành những bộ mặt trong bóng tối. Vài người vẫn mặc quân phục, bởi lẽ có thể nại cớ họ thuộc Văn phòng Tùy viên Quân sự, mà trong thực tế thì không.

Thế là bốn dân sự Mỹ chúng tôi vào chiếm lấy Đài phát thanh Quân đội. Đúng ra chúng tôi đã đổi danh xưng đài này. Ian và tôi bàn nhau xem nên gọi tên đài này là gì? Chúng tôi không thể để tên là Đài Phát thanh Quân đội Hoa Kỳ, hoặc Đài phát thanh Quân đội. Sau cùng, chúng tôi giản dị đặt tên là: Đài Phát Thanh Hoa Kỳ tại Việt Nam

Chúng tôi lập một chương trình thường lệ gồm tin tức, âm nhạc, thể thao, phát thanh 24 giờ mỗi ngày trên băng tần FM, vói công suất một trăm ngàn watts.

Chức vụ của tôi là: “Xướng ngôn viên tin tức”. Nhưng khi mới đến thì thượng vàng hạ cám, cái gì cần là làm. Trong mấy tuần đầu chúng tôi cho phát khá nhiều chương trình trực tiếp truyền thanh. Tin tức, chương trình sống: phát ngôn thẳng vân vân. Những nhân viên người Việt thông thạo Anh ngữ đã làm cho đài Quân đội, chúng tôi đều cho lưu dụng. Về chương trình, có nhiều mục đã được thu sẵn vào băng gửi đến. Chúng tôi gọi là những băng “Thời sự”, những băng thu âm các lời tuyên bố của dân biểu nghị sĩ vân vân.

Nhưng ưu tiên là nguồn tin chuyển qua hệ thống vệ tinh đến Phi Luật Tân, từ đó chuyển vào Việt Nam mỗi ngày 24 giờ. Đài chúng tôi có làn sóng ngắn, cũng có một trữ iượng băng phát thanh do Hoa Thịnh Đốn cung cấp, chỉ việc lấy ra sử dụng.

Địa chỉ Đài Phát Thanh là số 9 đường Hồng thập Tự. Ngay trung tâm thành phố, cách Tòa Đại sứ có sáu khu nhà, nằm trong một khu vực riêng biệt, rộng chừng một phần tư hoặc nửa mẫu Anh.

Rồi khoảng năm 1974, chúng tôi bắt đầu cảm thấy Quốc Hội muốn buông tay khỏi Việt Nam. Sau đó họ làm thật. Tôi không rõ chuyện này có tác dụng nghiêm trọng mãi cho đến vài tháng trước khi miền Nam sụp đổ. Lúc ấy chúng tôi lúc ấy không ngừng hy vọng Quốc Hội sẽ tháo khoán một số tiền để giúp miền Nam tồn tại. Nhưng họ từ chối. Đó chính là lý do đã gây nên sụp đổ miền Nam Việt Nam.

Vài tháng cuối, chúng tôi đều biết tình hình khốn nạn đến nơi, nhưng không rõ miền Nam có thể sụp đổ nhanh như thế. Chúng tôi cũng nghĩ Vùng I sẽ mất trước, sau đó có lẽ sẽ là Vùng cuối phiá Nam châu thổ, còn phạm vi vài trăm dặm bao quanh Saigon chắc sẽ giữ lại được một thời gian. Nhưng mọi việc không xảy ra như vậy.

Qua Văn phòng Tùy viên Quân sự, chúng tôi biết một nguồn tin riêng là người ta sẽ bỏ cao nguyên. Chúng tôi sửng sốt lặng người. Chúng tôi nghĩ thôi thế là xong. Hồi kết cuộc bắt đầu đây. Tôi bảo: “Không chừng họ sẽ tái hợp ở phía Nam mà lập hàng rào phòng thủ”. Nhưng đó chỉ là mong ước. Chuyện ấy không xảy ra. Nên sau đó chúng tôi biết mọi chuyện chỉ còn là vấn đề thời gian.

Tôi không phải là người có sáng kiến đưa các tín hiệu thông báo di tản qua Đài phát thanh. Đó là ý kiến của Ann Bottorf, nhân viên ngoại vụ thuộc văn phòng Tùy viên Quân sự. Ann Bottorf đã là người quá cố. Cô ta đi chuyến máy bay C-5 A chở cô nhi, khi cánh cửa bật mở, cô đã bị sức hút kéo tung ra ngoài.

Tôi không nhớ chính xác các tín hiệu báo động lúc đầu được đặt ra thế nào, nhưng rõ rệt cần phải thông báo cho các người Mỹ ở Việt Nam. Tại đó, lúc ấy có rất nhiều kiều dân Mỹ liên hệ đến chính phủ Hoa Kỳ. Họ làm việc cho các hãng tư, các nhà thầu do chính phủ Hoa Kỳ đưa sang. Họ không có phương tiện để biết lúc nào ra đi. Bấy giờ gần như một trăm phần trăm người Mỹ đều nghe đài phát thanh Mỹ, bởi đó là đài duy nhất. Cũng có một vài đài Việt Nam nhưng phần lớn đều chơi nhạc Việt hay Tàu. Thực tế, rất đông thính giả Việt cũng nghe đài Mỹ, vì chương trình nhạc rất hay. Mỗi khi tản bộ trên đường qua các biệt thự hay các chung cư Việt Nam, tôi vẫn thường nghe người ta mở đài chúng tôi và nghe tiếng nói của chính tôi xướng ngôn.

Lúc ấy Ann và một số nhân viên an ninh họp lại, bàn rằng chúng tôi cần phải có tín hiệu báo động. Vì vậy Turvett và tôi điện thoại đến phòng an ninh tòa Đại sứ để xem chúng tôi có thể làm gì qua làn sóng phát thanh, ngõ hầu báo động cho mọi người đến các địa diểm di tản? Tôi bảo: “Tại sao mình không chơi một bản nhạc mà mọi người Mỹ đều có thể tức khắc nhận ra?” Thêm vào đó, phải kiếm một bản nhạc nào không thích hợp, nó trái khoáy giữa mùa hè nóng nực để báo cho người ta biết là phải ra đi. Vậy tại sao không chơi bản “Tôi đang mơ một lễ Giáng Sinh màu trắng?”. Tất nhiên khi đề nghị như thế, tôi nghĩ ngay tới cái điã hát nổi tiếng của ca sĩ Bing Crosby. Nhưng đến lúc sục sạo cái kho chứa cả ngàn dĩa hát và băng nhạc của đài, thì không tìm đâu ra được cái đĩa của Bing Crosby. Tôi đành tạm lấy cái dĩa của Tennessee Ernie Ford, cũng hát bài này. Chả hệ trọng gì, vì sau đó đọc sách của Frank Snepp và những người khác, ai nấy đều nói là đĩa hát của Bing Crosby cả.

Thế rồi sau khi chơi đĩa hát, tôi loan báo: “Nhiệt độ Saigon hiện giờ 105 độ, đang tiếp tục lên cao”. Đó, tín hiệu di tản bắt đầu – chúng tôi thâu âm vào một cuốn băng để sẵn.

Kế hoạch như thế, nhưng rồi người Việt nào cũng biết. Thiếu gì các cậu trẻ Việt Nam nói được tiếng Anh, và những người làm cho Mỹ đều thông thạo tiếng Anh. Tuy nhiên, tín hiệu loan báo này không dành cho người Việt, mà dành cho Mỹ.

Thật khó tả mấy ngày cuối cùng. Chả khác một buổi hội hóa trang, không ai biết chuyện gì sẽ xảy ra. Người ta di tản mỗi ngày, xe buýt chở đầy Mỹ chạy ra phi trường Tân Sơn Nhất. Người ta chứng kiến mấy cha Mỹ đã Đông phương hóa, lấy vợ Việt, đẻ ba bốn đứa con, đèo bồng cả gia đình Việt Nam ra đi trên những xe buýt Mỹ với tay nải hành lý ngổn ngang.

Đêm 28 tháng Tư, ngay hôm 27 cũng vậy, chỉ toàn tin xấu xảy ra. Những vụ nổ đã gây chấn động. Chừng ngày 28, một số nhân viên Đài phát thanh, đa số là nữ nhân viên cùng với gia đình đã được di tản. Họ phải chầu chực ở Tân Sơn Nhất từ ba, bốn ngày trước. Chỉ còn một số người tận tụy được chọn ở lại giúp chúng tôi trong những ngày cuối. Khoảng ba hoặc bốn người Việt. Vào hai ngày chót những người ấy đều đưa toàn thể gia đình vào trong Đài Phát thanh bởi vì ai cũng biết có lệnh ra đi, nhưng không biết chắc lúc nào. Họ lo bị bỏ, nên cứ chắc ăn là đưa cả gia đình vào ngủ trong đài.

Nhưng một gia đình Việt Nam không phải là nhỏ. Họ mang theo cha mẹ, bà nội, bà ngoại, cô dì chú bác, chỉ bốn, năm người ấy đã lôi kéo theo hàng trăm thân nhân, chưa kể bạn bè thân hữu và những người khác chả biết cách nào cũng lọt qua cổng mà vào.

Thế là khoảng hai trăm người đã kéo vào đài phát thanh. Các tiện nghi vệ sinh của đài chỉ được xây cho vài chục người. Họ kéo nước tràn lan bừa bãi. Cả khu vực nồng nực, khủng khiếp, nhưng chúng tôi làm gì được?

Sáng 29 tháng Tư, khoảng 11 giờ 40, một Đại tá gọi đến từ văn phòng Tùy viên Quân sự. Tôi trả lời điện thoại: “Tôi là Chuck, nghe đây”. Ông ta bảo: “Chuck, ở đấy có bao nhiêu người Mỹ?” Tôi đáp: “Bốn”. Ông ta bảo: “Tốt, bạn được lệnh di tản tức khắc. Hãy xuống Tòa Đại sứ bay đi ngay”. Tôi nói: “Lạy Chúa!” Tôi biết quân đội Bắc Việt đã tới Tân Cảng rồi, nghiã là chỉ còn cách vài dặm đường. Ô kê, xong, như thế đấy.

Tôi bỏ điện thoại, đến nói vói Turvett: “Này lan. Xong. Di tản ngay bây giờ”. Lúc đầu, quả chúng tôi đã có một kế hoạch đưa mấy người Việt ra đi, vì chúng tôi đã hứa với họ khi chọn họ ở lại làm việc. Nhưng chúng tôi đành phải chuồn êm không muốn làm cho những người Việt ở đấy náo động vì chúng tôi chẳng cách gì đưa đi được cả hai trăm con người. Chúng tôi có một chiếc xe thùng và một chiếc vận tải nhỏ. Chúng tôi đưa xe vòng sang bên cạnh rồi báo cho mấy kỹ sư Việt Nam biết: “Đừng nói gì với ai. Sang bên cạnh, vào trong xe”. Chúng tôi nói, họ làm theo. Chúng tôi cũng báo cho những người Mỹ, và một thủy thủ thương thuyền chẳng hiểu sao cũng lờ ngờ có mặt ở đấy. Hắn sợ són trong quần vì không biết đi đâu, nên chúng tôi đưa đi theo.

Trong đài có một hệ thống phát thanh tự động. Tôi trở vào, lấy cuốn băng “nóng 105 độ, đang tiếp tục lên cao” và “Tôi đang mơ một lễ Giáng Sinh màu trắng”, tôi bỏ vào máy rồi bấm nút. Đó là động tác cuối cùng của tôi tại đài phát thanh. Nhưng chúng tôi cũng không vội Tôi bảo: ”Ê, có lẽ bọn mình cũng cần có ít vũ khí thổ tả chớ. Tối thiểu cũng phải lấy một khẩu đạn ria”. Mấy hôm trước tôi đã phải mặc áo giáp, giữ một khẩu đạn ria Winchester nòng 12 khi xảy ra mấy vụ nổ mà tôi tưởng là đối phương tiến vào. Mấy thứ đó vẫn còn, tôi chạy vào lấy. Nhưng rồi tôi nhận ra chẳng ích gì. Với một khẩu súng trường đạn ria, làm sao chống nổi cả đạo quân Bắc Việt?

Tôi ném cái áo giáp, nhưng cảm ơn Chúa, vẫn giữ khẩu súng. Trên đường đến Tòa đại sứ chúng tôi phải chấp nhận nhiều thách đố. Lúc này lính Việt Nam Cộng Hòa đã trở nên cáu kỉnh, tỵ hiềm và điên cuồng vì việc chúng tôi ra đi. Người Mỹ đang “de de mau” và bỏ họ lại. “De de mau”, tiếng người Việt Nam nói. Nó có nghiã là: “Biến đi cho lẹ lên!”. Đi đi mau.

Thế đấy, chúng tôi giữ khẩu súng trường đạn ria. Tôi có một khẩu súng lục .38 Colt Cobra. Ian Turvett có một khẩu Walter 380 tự động. Một tay nữa có khẩu colt 45. Chúng tôi trang bị đầy đủ vũ khí từ đầu đến chân. Tôi chui vào cái xe thùng. Bấy giờ đã có hàng trăm người khác đến bám chung quanh đài phát thanh. May nhờ có một thứ giữ cho họ đừng lọt vào, đó là cái hàng rào xích sắt to tổ bố. Chúng tôi hãy còn một vài vệ sĩ người Việt vẫn thi hành nhiệm vụ. Chúng tôi đặt vệ sĩ ở đấy để ngăn người bên ngoài trèo vào. Vậy mà vẫn có người thành công.

Chúng tôi cho xe ra. Trước hết, phải bấm còi để người ta tránh chỗ mới lọt ra được. Họ không thể nhìn sâu vào để thấy có mấy kỹ sư Việt Nam và mấy người Mỹ ngồi bên trong. Phần tôi, ngồi im với khẩu súng dắt cạp quần. Chúng tôi không sợ lính Bắc Việt, nhưng ớn lính Việt Nam Cộng Hòa. Thật trái ngược. Nhưng mấy hôm cuối cùng ấy, đôi khi họ đã chặn người Mỹ để làm khó dễ tại những trạm kiểm soát.

Chúng tôi cho xe ra đường – chỉ cách tòa Đại sứ sáu khu nhà, nhưng ngay ngã tư là một trạm kiểm soát. Họ soát xét, họ không muốn thấy ai đưa người Việt nào đi cả. Mấy cha lính đều có súng M16 cầm lăm lăm, đạn lên nòng sẵn sàng. Không hiểu quý vị có nghe nói chăng, chứ lính Việt Nam Cộng Hòa bóp cò rất lẹ. Mặc dù chỉ bắn lên trời, cũng lẹ lắm. Bọn họ mặt mày rất dữ dằn.

Lúc ấy Turvett lái xe. Tôi ngồi bên ghế hành khách, phía tay phải anh ta. Thế là chúng tôi dừng lại, nói dăm ba câu. Tôi thò tay vào hộc xe, lôi ra một cây thuốc lá Salems. Tôi thảy cây Salems xuống, bọn lính nói “Cám ơn” rồi vẫy chúng tôi.

Tiến thẳng trên đường, dần dà chúng tôi thấy có hàng ngàn người đang vây quanh tòa Đại sứ. Chúng tôi đều nghĩ: “Lạy Chúa, làm thế nào chui lọt đây?” Vâng, thế mà chúng tôi vẫn lọt. Chúng tôi quẹo trái sang con đường nhánh bên cạnh Bộ Tổng Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia, và cánh cổng tới là Tòa Đại sứ. Có một lối vào bên hông, chúng tôi đã vào bằng ngả này. Tại đây tua tủa những nhân viên bảo vệ Tòa Đại sứ với đủ mọi thứ súng ống: Súng máy, súng đạn ria, kể không hết.

Tôi nghĩ xe chúng tôi là chuyến chót được phép vào tòa Đại sứ. Xe chúng tôi có máy phát tuyến làn sóng ngắn, với cây ăng ten to bự sự.

Đầu tiên lính gác chặn lại, không cho vào. Họ bảo: “Vứt cái xe thùng này bên ngoài mà vào”. Xe cộ bấy giờ bỏ ngổn ngang khắp nơi. Chúng tôi bảo: “Không được. Chúng tôi có điện đài khẩn cấp mang theo đây”. Họ nói: “Ô kê, thế thì được. Xem có lọt không”. Bên trong cũng đã chật đầy xe cộ vì người ta phải chừa sân trống cho trực thăng đáp xuống.

Khi chúng tôi vào được thì người ta đang chặt mấy cái cây mọc giữa sân. Chúng tôi vừa đậu xe thì một cha lồm cồm ôm khẩu súng trường, vung vẩy nhảy ra. Tôi kêu lên: “Giải giới đi cha nội!” Tôi nâng khẩu súng dộng cho đạn rơi ra. Thằng chả lờ quờ ôm khẩu súng, chỉ e nó nổ bậy. Trong khu vực này chúng tôi không được giữ vũ khí, nhưng nhiều người vẫn khư khư giữ lấy. Một cha bên hãng Air America phân bua: “Trời đất, khẩu tự động 45 này ăn ở với tui đã sáu năm trường. Tui hổng thể bỏ nó đâu”. Phần tôi, tôi mang khẩu Cobra .38 bé bỏng của tôi đưa ra cho một cậu phòng vệ Thủy quân Lục chiến. “Này, một món quà tặng cho anh bạn”. Cậu lính rối rít: “Giêsu Ma lạy Chúa tôi, cảm ơn đàng ấy nhé”.

Thủy quân Lục chiến và vệ binh tòa Đại sứ đã bố trí một số súng máy nòng 30. Một khẩu đặt ở khu giải trí, nơi có cái hồ bơi. Khẩu này chĩa họng ra cổng đường Hồng Thập Tự. Từ một tuần lễ trước ngày di tản cuối cùng, họ đã hàn những tấm thép che các song sắt. Bên trong, lại dựng thêm sườn sắt cứng. Thế mà, tin tôi đi, cánh cổng vẫn cong vèo vì hàng ngàn con người đè lên nó. Tuy nhiên, bên trong, họng súng máy đã chiã thẳng vào cánh cổng. Chưa hết, người ta còn lăn những thùng dầu rỗng 100 ga lông chận dọc theo cổng và bờ tường, đứng trên ấy trông chừng ra và cũng để nếu cần thì đỡ tay kéo phe ta – những công dân Mỹ – vào trong Tòa Đại sứ. Biết bao cánh tay người Việt cũng dơ lên van nài xin kéo vào. Nhưng người ta không thể làm được. Lạy Chúa, bên trong sân đã đầy nhóc. Chúng tôi đã có đến 3,000 người tỵ nạn, không phải chỉ người Việt mà còn những người đệ tam quốc tịch như Phi Luật Tân, Đại Hàn và tất nhiên, người Mỹ. Khi chúng tôi đến nơi, chừng 12 giờ 15 trưa hôm đó, chỗ này đã chật ních người.

Trong khu giải trí, mặc dầu đông, nhưng người ta vẫn còn tỏ ra khá trật tự. Một vài vệ binh đứng ở hồ tắm. Họ đang thu lượm vũ khí. Họ cầm mấy khẩu tự động, mở cơ bẩm ném xuống hồ. Còn súng lục họ cầm lộn ngược, dốc đạn xuống ngay hồ tắm, súng thì ném vào mấy cái thùng đã đầy nhóc đủ thứ vũ khí. Lúc này người đã tràn vào nhà hàng thuộc khu giải trí. Nhân viên chả có ai. Quản lý có đấy, nhưng anh ta chỉ đứng lơ mơ bên mấy cái tủ lạnh. Vài người lấy thịt bò bít tết ra nướng trên lò, cái kho rượu mở trống hoác. Hàng trăm chai không vứt ngổn ngang, người ta đã mở uống phè phỡn cho đến lúc chả còn gì sót lại. Khoảng ba cho tới bốn giờ trưa hôm đó, bọn Việt Nam ở bên ngoài đã khoá hết nước trong khu vực Tòa Đại sứ. Chúng tôi không còn nước. Ai nấy khát bỏng họng. Tôi kiếm được một chai nước khoáng Vichy, vừa mở xong thì một bé gái Việt nam chừng mười bốn tuổi ngỏ lời xin uống. Tôi trao cái chai, lập tức nó chuyển ngay cho em trai, em gái, tía, má, một lúc quay lại chỉ còn cái chai không. Giê Su Ma, khát chết luôn. Tôi không được nhắp một giọt nước nào cho mãi tới khi Thủy quân Lục chiến kéo đến. Cái trực thăng đầu tiên đến lúc bốn giờ, tôi nhớ chừng như thế. Nó hạ xuống ngay trong bãi đậu xe.

Người Mỹ là ưu tiên một. Bấy giờ họ đang ngồi, bèn đứng cả dậy sắp hàng dài quanh hồ bơi. Những người Mỹ này là những người Mỹ cuối cùng rời Việt Nam, ngoại trừ dăm anh lạc lõng đâu không kể. Tôi không nhớ tất cả bao nhiêu. Không nhiều. Chừng vài trăm người Mỹ. Số còn lại là người Việt, người đệ tam quốc tịch. Giêsu Ma, bây giờ tôi vẫn thấy cảnh này hiện rõ trước mắt. Dĩ nhiên, lúc ấy thời tiết nóng bỏng còn hơn địa ngục.

Chỉ một lúc sau đó, trước khi trời đổ tối, những tiếng nổ chợt vang động. Vài Thủy quân Lục chiến thét lên. Đây là lần đầu tiên tôi nghe Thủy quân Lục chiến thét: “Bỏ mẹ, chúng nó tấn công”. Lúc ấy tôi đang ở bên trong Tòa Đại sứ. Tôi vào trong tòa nhà được vì tôi có thẻ thông hành. Giữa khu giải trí và tòa nhà Đại sứ có một cái cổng và một hàng rào ngăn. Tại đây tôi thấy Đại sứ Martin đang ở trong hành lang. Tôi thấy ông bước ra từ văn phòng của một thuộc hạ. Đúng như người ta có thể hình dung, ông có vẻ khá sợ hãi. Vì một vài lý do, tôi cần lên phòng truyền tin của tòa Đại sứ, đâu đó trên từng ba hoặc từng bốn. Tất nhiên mọi thứ thực lộn xộn. Một số lớn nhân viên Tòa Đại sứ đã ra đi, bỏ vũ khí lại bừa bãi. Những khẩu súng lục đẹp đẽ vứt khắp nơi. Có lẽ Thủy quân Lục chiến sau đó sẽ thu nhặt trước khi rời khỏi xứ.

Trời đổ tối. Không biết đại liên hoặc rốc kết, nhưng có những tiếng nổ rầm rì. Tôi không biết địch quân có định sáp tới Tòa Đại sứ không, tôi thì tôi tin họ sẽ để yên cho chúng tôi đi. Nhưng đôi lúc, có những loạt súng nhỏ bắn vào. Tôi nghĩ là của đám lính Việt Nam Cộng Hòa rã ngũ, nhưng tôi không thể xác định. Cũng có một tiếng nổ lớn bên bờ tường. Lúc đầu tôi nghĩ địch quân sắp đến. Ngay cả khi đi rồi tôi cũng nghĩ vậy.

Mãi một giờ sáng, tôi mới ra khỏi xứ. Tôi là một trong vài người Mỹ cuối cùng di tản.

Chúng tôi leo cái cầu thang khốn khổ ấy lên nóc thượng, từ đó nhìn xuống thấy toàn khu giải trí chật ních người Việt và những người đệ tam quốc tịch. Chiếc trực thăng đang đợi. Có khoảng bốn mươi kỹ sư Việt Nam cùng đi chuyến này với chúng tôi.

Tôi biết chuyến này là ra đi mãi mãi, hoặc ít ra cũng là cho một tương lai rất xa. Thành thực mà nói, tôi cảm thấy ghê tởm mọi thứ. Tôi cảm thấy chúng ta đã bỏ rơi rất nhiều người.

Sau hết, tôi ở nơi này đã nhiều năm, đất nước này đã trở nên gần như quê hương tôi. Và tôi cũng nghĩ đến nhiều thanh niên thiếu nữ tôi quen biết. Vài cô bán ba. Vài cô chiêu đãi viên. Một vài người trong đám là những người tử tế. Tôi không nói về các cô điếm. Tôi biết một cô đã thành hôn với một người bạn tôi. Tôi không ngừng tự hỏi chẳng biết họ ra sao, liệu họ sống sót nổi hay không? Tôi gần như muốn quyết định ra khỏi Tòa Đại sứ mà ở lại.

Chiếc trực thăng trở chúng tôi bay đi không trở ngại nhưng có nhiều chiếc phía dưới sân gặp khó khăn mới lọt qua tường. Mấy chiếc ấy chở nặng quá. Họ phải ném bớt hành lý. Nhiều người phải nhảy ra bớt mới bốc nổi.

Tất cả có chừng bốn mươi ba hoặc bốn mươi tư người trên chiếc trực thăng chúng tôi. Trong lúc bay, chúng tôi thấy Long Bình bốc cháy. Lửa khói khắp nơi.

Nhiều người ngồi trong trực thăng xao xuyến lo âu. Nhưng lên đủ độ cao, chúng tôi chỉ bay có khoảng trăm dặm là đến hạm đội. Chỉ bốn, năm mươi dặm là đến Vũng Tàu, và chừng sáu mươi dặm từ đấy đến tầu Hancock. Như vậy tôi nghĩ chuyến bay khoảng một giờ rưỡi đồng hồ. Trong lúc bay ra, tôi có thể nhìn thấy ánh đèn ở Vũng Tàu.

Tôi thấy biển, thấy những cuộn sóng bạc đầu. Và tôi nghĩ Chúa ơi, tôi vẫn chưa sẵn sàng rời khỏi nơi này. Tôi cảm thấy còn bỏ lại nhiều người quá.

Vào giây phút rối rắm ấy, tôi có đầy cảm xúc lẫn lộn. Một mặt, tôi sung sướng đã an toàn đi thoát, không sứt mẻ gì. Một mặt, lại luyến tiếc phải ra đi vội vã như thế.

Ngày hôm sau, lúc mười một giờ sáng tôi hãy còn nghe tiếng chính tôi trên máy phát thanh đang loan: “Bây giờ là mười hai giờ đêm ở Saigon, tại đài phát thanh Hoa Kỳ,” Giêsu Ma, tôi nghĩ. Ở đó có cái máy phát điện chạy dầu cặn. Cái máy vẫn tiếp tục chạy, nên phát thanh vẫn tiếp tục. Tôi tự bảo: “Tức cười là đối phương vẫn chưa chịu đến mà tắt hoặc cho nổ phứt cái đài này đi”. Nhưng họ đâu có muốn nổ đài. Họ muốn giữ nguyên các khí cụ còn để lại.

Khi trực thăng vừa chạm xuống, bọn hải quân kéo ngay chúng tôi sang một bên tàu. Tôi đang đứng đó với mấy cha kỹ sư Việt Nam thì chợt họ hô: “Ô kê, tụt quần xuống”. Tôi bảo: “Ơ kìa, không được”. Nhưng mấy cha Việt Nam đã tuân lệnh tụt hết quần xuống, lại còn ngúc ngoắc ngón tay vẫy vẫy. Họ muốn khám vũ khí. Tôi nghĩ, mẹ kiếp, chả biết người ta giấu được vũ khí gì trong hậu môn? Chả lẽ giấu dao? Tôi bảo lan: “Giêsu Ma, mấy cha nội Việt Nam chắc hẳn phải nghĩ rằng đây là một… phong tục rất lạ của người Tây phương!”

Sáng hôm sau, các máy bay trực thăng của Không quân Việt Nam bay đến hạm đội, chừng nửa tá Thủy quân Lục chiến ôm súng M16 lăm lăm quỳ xuống chĩa vào trực thăng. Một Thủy quân Lục chiến tiến lên, kéo khẩu súng máy nòng 30 từ trên giá vứt qua thành tàu, rơi tõm xuống biển. Rồi họ ra lệnh cho nguời ta đứng dang chân tựa người vào trực thăng để soát vũ khí. Đó là những phi công Việt Nam. Nếu thấy được võ khí, người ta ném qua thành tàu. Người ta cũng kéo mấy chiếc xe Honda, vứt xuống biển. Bọn Việt Nam nhìn với cặp mắt khiếp hãi. Bởi lẽ thay vì chở người tỵ nạn, họ đã cố dành chỗ trên trực thăng mà nhồi nhét mấy chiếc Honda này, nhưng bây giờ mấy cái xe gắn máy lại bị Thủy quân Lục chiến kéo ra, ném xuống biển. Âu thế cũng phải. Và rồi người ta cũng xô cả những chiếc trực thăng, họ đẩy luôn xuống biển khơi. Đám sĩ quan Việt Nam lúc ở trong nước vẫn có bộ dạng dương dương tự đắc, cáu kỉnh gắt gỏng. Nhưng thái độ của họ thay đổi rất nhanh sau khi bước chân lên tàu Hancock.

Và người ta lùa họ xuống phía dưới, hệt như mọi người khác. Nhiều người trong bọn họ bèn tháo bỏ phù hiệu, lon lá ra.

Cho đến hôm nay, tôi vẫn nghĩ về Việt Nam. Tôi luôn luôn nghĩ đến Việt Nam. Dầu sao chăng nữa, tôi cảm thấy hình như đó vẫn còn là một vấn đề chưa hoàn tất. Việt Nam là một công chuyện dở dang.