TỤC DU

 

trantrungdao

Ðời ta cắn cỏ trăm đường
Khai sinh kết nghĩa với phường tục du
Lá buồn từ độ sang thu
Ta buồn từ độ sương mù mới sa
Lang thang trong buổi chiều tà
Tìm trăng trăng khuyết tìm hoa hoa tàn
Từ ta tan giấc mộng vàng
Quê hương nghìn dặm ngỡ ngàng bước chân
Hỏi đời ai kẻ tri âm
Về cho ta gởi tấm lòng viễn phương
Hồn ta là một con đường
Mà ai qua đó còn vương phấn hồng
Hồn ta là một giòng sông
Chở bao nhiêu nước về lòng biển sâu
Hồn ta là một nhịp cầu
Mà ai qua đó để sầu lại đây
Hồn ta là một cành cây
Ai về ngủ đậu chờ ngày mưa qua
Hương tàn phấn đã bay xa
Thôi về mộng với màu hoa năm nào.

Trần Trung Đạo

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, “Này, ông bạn, tôi sẽ kể ông nghe cho hết đầu đuôi công việc.”

nuocmattruocconmua

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before The Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.
PETE Mc CLOSKEY
(Dân Biểu Hoa Kỳ)
“Này, ông bạn, tôi sẽ kể ông nghe cho hết đầu đuôi công việc.”

Chuyến đi Đông dương của phái đoàn quốc hội vào tháng 3/75 là nhằm cứu xét tình hình Việt Nam và Cam Bốt, vì lẽ Tổng thống Gerald Ford bấy giờ đang yêu cầu Quốc hội chi 222 triệu Mỹ kim cho Cam Bốt, 300 triệu cho Việt Nam. Tổng thống Ford khuyến khích chuyến đi. Ông nói: “Chúng tôi biết rõ công việc ở đấy, nhưng quốc hội không biết gì.” Tôi bèn đi trước với Thượng nghị sĩ Dewey Barlett. Vài ngày sau, sáu dân biểu khác đến nhập chung. Đó là Bill Chappell thuộc ủy ban quân vụ, rồi Bella Abzug, và John Flynt, Don Fraser, John Murtha, Millicent Fenwick. Phil Habib cũng đến với tư cách phụ tá ngoại trưởng đặc trách Á Đông, Thái Bình Dương sự vụ. Như vậy, chuyến đi gồm tám người thuộc quốc hội, và tôi nhớ trong chuyến về, khi tổng kết các ấn tượng và quan điểm, chúng tôi đã chia ra bốn với bốn, bốn diều hâu bốn bồ câu. Có một vài điều tôi muốn làm trong chuyến đi. Điều thứ nhất, tôi muốn so sánh tình trạng năm 75 với tình trạng tôi đã chứng kiến vào năm 1970 tại quân đoàn IV, vùng châu thổ, quân đoàn III, vùng ngoại vi Sàigòn, quân đoàn II ở Pleiku, Kontum, quân đoàn I ở Đà Nẵng. Tôi muốn biết vị thế chiến trường, so sánh giữa hàng ngũ phía chúng ta và đối phương, giữa miền Nam và miền Bắc. Tôi cũng muốn kiểm điểm tinh thần của người miền Nam, lượng giá ý chí chiến đấu của người miền Bắc.

Ngân khoản mà tổng thống yêu cầu bấy giờ là một ngân khoản viện trợ quân sự phụ thêm cho Việt Nam. Quân đội miền Nam Việt Nam, theo tôi nhớ, vượt trội hẳn quân số Bắc Việt. Miền Nam có chừng 740,000 binh sĩ. Miền Bắc không bao giờ có hơn 450,000 quân. Miền Nam phải phòng thủ một diện tích khá dài, nhưng họ có những tuyến truyền thông nội bộ. Tôi nhớ, mặc dầu vậy, thống kê cho thấy miền Nam đã sử dụng pháo binh gấp mười ba lần miền Bắc, điều ấy có nghĩa phần lớn số tiền này sẽ đổ vào vỏ đạn pháo binh.Tôi từng là Trung úy Thủy quân lục chiến tại mặt trận Triều Tiên. Sau đó ở lại lực lượng Thủy quân lục chiến trừ bị, đặc trách phản du kích. Tôi là dân biểu quốc hội duy nhất đã bốn lần đến Việt nam. Năm 1967, tôi là dân biểu Cộng Hoà đầu tiên đắc cử với lập trường chống chiến tranh Việt Nam.

Khi tranh cử lần đầu, người ta hỏi quan điểm của tôi về Việt Nam. Tôi đáp: Chúng ta không nên có mặt ở đấy. Chiến đấu ở chỗ ấy là sai lầm, sai địa thế, sai kẻ thù. Chúng ta đã phung phí tài nguyên nước Mỹ khi cố đánh một trận chiến như vậy.

Tôi nghĩ đương nhiên Nam Việt Nam sẽ sụp đổ sau khi Hoa Kỳ triệt thoái. Cái ý tưởng của tôi chủ yếu thế này: Sự chia cắt Việt Nam vào năm 1954 là một sự chia cắt giả tạo. Tất cả mọi người đều nghĩ Việt Nam phải thống nhất. Khi đến Việt Nam lần đầu, vào năm 1967, một điều đập ngay vào ấn tượng của tôi là: Khắp nơi, từ những làng mạc thôn ấp nhỏ bé, đến các trụ sở quận, trụ sở vùng, nơi nào cũng treo những bản đồ của một nước Việt Nam duy nhất. Ngay người miền Nam cũng không bao giờ thừa nhận là chỉ có miền Nam Việt Nam. Bất cứ lúc nào nhìn tấm bản đồ Việt Nam, ngay tại miền Nam Việt Nam cũng vậy, quý vị luôn luôn thấy đó là tấm bản đồ cả nước, không phải là tấm bản đồ dựa trên sự chia cắt giả tạo này.

Hiển nhiên, mỗi người Việt Nam đều nghĩ đất nước của họ là một đất nước thống nhất, vậy câu hỏi được đặt ra là liệu Hoa Kỳ có thể hỗ trợ cho sự chia cắt giả tạo ấy chăng? Và dựng nên một xứ sở mới hay chăng? Chúng ta đã làm như thế. Chúng ta gọi đó là “Xây dựng quốc gia.”

Khi sang đấy, tôi vẫn sẵn sàng chấp nhận cái sự kiện là chúng ta có thể tạo ra một quốc gia mới ở Nam Việt Nam như vậy, nếu họ có ý chí chiến đấu. Họ đông quân hơn lực lượng miền Bắc. Họ có phòng tuyến nội bộ. Nhìn chiến trường người ta thấy miền Bắc có 13 sư đoàn, miền Nam có 16 sư đoàn. Miền Nam có đủ thủy, lục, không quân. Miền Bắc thì không. Chúng ta đã cho họ tiền bạc, viện trợ, giúp đỡ. Chúng ta đã huấn luyện họ sử dụng vũ khí và phương pháp chúng ta. Vậy toàn thể câu hỏi cần được đặt ra là: Liệu ý chí chiến đấu của người miền Nam Việt Nam có thắng ý chí chiến đấu của người miền Bắc Việt Nam hay không?

Chúng ta gặp các phản ảnh trái ngược. Nói về phẩm chất quân đội miền Nam – các tướng lãnh nói một khác, các sĩ quan cấp úy và các cố vấn làm việc tại địa phương lại nói với chúng ta những chuyện hoàn toàn khác hẳn.

Đúng, quả miền Nam có những đơn vị chiến đấu tinh nhuệ: Thủy quân lục chiến, nhảy dù rất dũng mãnh, đầy khả năng. Nhưng quân đội thông thường là Bộ binh thì không. Họ không muốn đánh. Không có động lực đánh. Lực lượng thông thường này gồm đa số những người bị bó buộc nhập ngũ, thực sự, họ không có gì căm ghét Việt Cộng nhiều.

Và rất rõ ràng ngay từ lâu người ta đã biết có kẽ hở trong khắp các cơ cấu. Việt Cộng lọt vào các lực lượng chính phủ. Không một Tư lệnh Thủy quân lục chiến nào tôi biết – kể từ lần đầu tôi sang bên ấy cho đến lần cuối – lại thông báo các kế hoạch hành quân cho phía đồng minh Việt Nam, họ đều biết làm như thế là sẽ lọt ra ngoài.

Tôi xin trình bày với quý vị thật ra Kissinger và tất cả mọi người khác đều đã biết từ năm 1971 là sớm hay muộn Nam Việt Nam cũng sẽ sụp đổ.

Nhưng bây giờ không phải vô căn cứ khi nghe các người lãnh đạo Nam Việt Nam tuyên bố: “Nếu bọn Mỹ khốn nạn các ông đánh trận này như các ông đã đánh ở Âu Châu thì chúng tôi đã thắng. Phải chi các ông đánh miền Bắc, phải chi các ông chiếm một số thành thị, phải chi các ông đuổi chúng vào bụi rậm.” Lập luận của tôi về điều này là: Đúng, chúng ta đã có thể làm như thế. Chúng ta có thể phá hủy đê điều trên đồng bằng sông Hồng. Chúng ta có thể triệt hạ Hà Nội. Chúng ta có thể trải thảm bom, quét sạch từng thị xã nào có từ 100 dân trở lên. Nhưng một khi hành động như vậy rồi chiến thắng, và một khi chúng ta rời khỏi đất nước này, điều gì sẽ xảy ra? Những lực lượng cai trị đất nước này sẽ có lòng tin của dân chúng, hay sẽ chỉ có các phương tiện để bắt dân chúng hỗ trợ mà thôi? Kỳ, Thiệu và cả đám ấy kể từ Diệm trở đi chỉ dấy lên được nhờ sự giúp đỡ của Mỹ. Ở miền Nam, không có một khuôn mặt quần chúng nào như Hồ Chí Minh ở miền Bắc cả.

Trước khi đi chuyến này, tôi nhận được tin có một số tù nhân chính trị, một số nhà báo bị bắt giữ, bị tra tấn. Tôi muốn tới nhà giam gặp để nói chuyện với họ. Vì thế, khi đến Việt Nam tôi nghĩ đại sứ Graham Martin đã cảm thấy cá nhân tôi là một sự thách thức. Cho nên ông đã có những bài thuyết trình soạn sẵn cho tôi.

Một trong những bài thuyết trình ấy phụ trách bởi Trưởng cơ sở Trung ương Tình báo Tom Polgar. Về bài thuyết trình này thì, trời đất! Điều mà người ta trông đợi ở một sĩ quan tình báo bất cứ ngành nào là sự lượng giá vô tư về năng lực kẻ thù – Không thấy – chỉ thấy nói về các ý định của kẻ thù. Chúng ta cần biết khả năng của họ thế nào. Họ có thể làm được gì. Ta có thể đoán được các ý định của họ, nhưng còn năng lực họ thế nào? Đó mới là vấn đề then chốt. Nhưng Tom Polgar toàn thuyết trình cho chúng tôi những thứ rác rưởi vớ vẩn: Nào kẻ thù chẳng có gì, nào là người của chúng ta mạnh mẽ xiết bao!

Vì vậy tôi rời buổi thuyết trình đi ra Quân đoàn I. Tôi gặp Tư lệnh ở đấy là tướng Ngô Quang Trưởng. Chính buổi nói chuyện của ông ta đã đưa tôi trở về mà nói lại với cả Ford lẫn Kissinger rằng: “Quí ông không cách gì thắng nổi. Địch có thể phá thủng bất cứ chỗ nào.” Chuyện này có thể ông Trưởng còn nhớ. Tôi đã đi thăm ông Trưởng với tư cách cá nhân vì một người bạn có nói với tôi rằng ông ấy là vị tướng khá nhất của quân đội Việt Nam và đúng như thế.

Ông Trưởng trấn thủ Vùng I. Xin nhớ vùng I gồm năm tỉnh dọc duyên hải, bao gồm khu Phi quân sự. Trước, có lúc chúng ta phải dùng đến cả năm sư đoàn Mỹ để chiến đấu ở trong và chung quanh vùng này. Nào đệ nhất sư đoàn không kỵ… và Trời biết còn gì nữa. Hồi tưởng lại, tôi nhớ tổng cộng miền Nam có 13 sư đoàn thì tướng Trưởng có ba sư đoàn để đương đầu với chừng ba sư đoàn Bắc Việt, và trấn ngay tại địa đầu biên giới. Ông Trưởng đã mất bộ quân phục thiện chiến của ông chỉ vì Thiệu đã hoảng hốt rút quân về Nam để phòng thủ Sàigòn.

Là một Đại tá thủy quân lục chiến, biết khá rõ về trận địa, nói chuyện với một tướng lãnh Việt Nam, tôi nghe Tướng Trưởng bảo “Không có cách gì.” Ông ta chỉ tấm bản đồ mà nói: “Nếu họ muốn đưa một sư đoàn vào chỗ này, hay chỗ này thì chịu, không thể phòng vệ được. Tôi phải có một sư đoàn đặt dưới này, tại Quảng Ngãi. Phải có một sư đoàn nữa trên này, ở Đà Nẵng. Phải có một sư đoàn khác tại vùng Phi quân sự – Họ có đủ khả năng: nếu họ muốn chuyển quân, họ có thể phá thủng bất cứ điểm nào trong vùng.”

Phải, đối phương đã chọn ưu tiên chọc thủng Vùng II. Nhưng như ông ta đã nói, đối phương có thể phá thủng bất cứ điểm nào trong vùng của ông mà không có cách gì ông phòng vệ được. Bởi vì, đối phương có thể chọn lựa. Mà đây là một trong những nguyên tắc của chiến tranh: Tập trung toàn thể sức mạnh vào chỗ nào địch quân yếu kém.

Điều khác nữa, nếu quan sát các đơn vị của Nam Việt Nam quý vị sẽ thấy: Sĩ quan luôn luôn ở đàng sau. Quý vị sẽ thấy sự lệ thuộc vào pháo binh. Thấy họ từ chối không tỏ ra hăng hái trong các cuộc tuần tiễu năng nổ. Tất cả những điều ấy chúng ta đã cố dạy họ. Nhưng khi người của chúng ta vừa rời đi, họ quay lưng lại đục lỗ mà ẩn núp và thương lượng với nhau. Tôi nghĩ đã có nhiều cuộc ngưng bắn riêng tư như thế xảy ra giữa các đơn vị Việt Nam cả đôi bên.

Còn một ông nữa gây chú ý cho tôi là ông chỉ huy Vùng III, tướng Toàn. Tôi đã xem con số thương vong, nhìn tỷ lệ đạn dược pháo binh ông ta sử dụng so với số đạn pháo binh địch sử dụng. Graham Martin bảo tôi không có pháo binh, chúng ta không thể thắng được. Và ông Tướng này cho tôi thấy ông đã bắn 9,600 trận pháo. Quý vị đã rõ các trận pháo kích của đối phương bắn đến cũng đều được đếm. So hai con số chênh lệch, hiển nhiên người ta thấy miền Nam không còn hăng hái đánh bộ binh nữa.

Với những gì ông Vùng III đã nói, với những gì ông Vùng I đã nói: Không có cách gì cả. Nhìn vị thế trận địa Vùng III: họ không phòng thủ được nữa. Cảm tưởng của tôi là nếu thêm 300 triệu Mỹ kim cũng không thay đổi gì, không còn chạy chữa được những gì đã xảy ra trên trận địa.

Martin có nhiều cố gắng với tôi. Ông đưa tôi đi khắp nơi, kể cả dẫn tôi vào phòng riêng của ông mà nói “Này, ông bạn. Tôi sẽ kể ông nghe cho hết đầu đuôi công việc.” Ông ta là một đại tá bộ binh về hưu đang hồi xuân. Nếu Polgar đã cho chúng tôi nghe những chuyện rác rưởi lăng nhăng, thì Graham Martin lại là một người mất trí. Tôi thực tình nghĩ ông ta đã mất trí.

Tôi không rõ có ai tiên đoán sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam ra sao, nhưng người ta có thể đoán được dựa trên sự biện giải tâm lý các sự việc. Sự việc làm tôi ngạc nhiên là người miền Bắc đã đổ vào các sư đoàn trừ bị của họ. Thông thường, họ không bao giờ tấn công cho đến khi đã thực tập nhuần nhuyễn trên sa bàn. Họ hết sức – hết sức là thận trọng. Nhưng hiển nhiên, họ biết họ đã có đủ sức mạnh che giấu ở miền Nam, họ có đủ kỷ luật, bởi vậy vào năm 1975 họ đã đổ vào tất cả những gì họ có.

Sau, tôi yêu cầu gặp mặt một số nhà báo bị bắt ở Sàigòn. Tổng thống Thiệu rất ưu ái đã ban cho tôi cái đặc ân vào lao xá gặp gỡ những người Việt Nam trẻ tuổi này.

Lao xá gồm những xà lim nhỏ bé chật hẹp mà chúng ta đã xây cho họ. Có hai mươi nhà báo bị bắt, tôi nghĩ là gồm có một người đàn bà, tất cả bị nhốt trong dãy xà lim liên tiếp kế cận nhau. Tôi nói “Này nhé, chúng tôi được nghe nhiều dư luận rồi, tôi muốn đánh tan các dư luận đấy nhé.” Nhưng trong mọi trường hợp, mỗi khi chúng tôi nói chuyện với tù nhân, các lính gác người Việt cứ lăm lăm súng ống đứng đấy lắng nghe.

Tôi nói chuyện với một cô gái. Có hai hay ba người trong phái đoàn chúng tôi vào phòng giam cô này. Khi rời phòng giam, anh Việt Nam ra trước, một người nào đó đi giữa tôi và anh ta, vì vậy có một khoảng thời gian ngắn anh ta không nhìn thấy tôi và cuộc phỏng vấn đã xong. Cô gái nắm cơ hội, nói thầm với tôi. Cô ta bảo: “Sự thực không đúng thế. Họ đánh đập chúng tôi mỗi ngày. Họ đánh tôi rất nhiều.” Cô ta kể một câu chuyện hoàn toàn khác hẳn câu chuyện kể qua người thông dịch khi họ ở đấy.

Cảm giác của tôi vì vậy là: Tất cả mọi sự đều bị rình rập, tất cả những người tù khác mà chúng tôi phỏng vấn chắc đều đã được dặn dò tương tự: “Khi các dân biểu tới thì phải nói với họ như thế này, như thế kia.”

Cô gái mệt mỏi, khóc lóc nhưng không thấy có một dấu hiệu bên ngoài nào để tôi có thể bảo cô ta đã bị đánh đập. Nhưng như tôi đã nói, cô ta thầm thì mà bảo “Họ đánh đập chúng tôi.”

Tôi nhớ phái đoàn chúng tôi đã chia ra năm chống ba, hoặc bốn chống bốn nếu chúng tôi bỏ phiếu về việc cấp thêm viện trợ. Quan điểm của tôi là không cho miền Nam Việt Nam gì nữa hết vì họ sẽ sụp đổ. Còn về Cam Bốt, phải cho họ một chút gì, lý do là nếu Cam Bốt sụp đổ tất sẽ có tàn sát.

Chúng tôi đi Cam Bốt, ở đấy một ngày. Tôi hoảng kinh. Những gì xảy ra ở đây hoàn toàn khác hẳn Việt Nam.

Phil Habib tháp tùng chúng tôi. Hạ cánh xuống phi trường Nam Vang, chúng tôi biết thỉnh thoảng phi trường vẫn bị pháo. Không nhớ bao nhiêu quả đã rơi khi chúng tôi đến, nhưng có vài quả nổ trước đó và vài quả sau đó. Ngay Bella Abzug cũng chấn động khi hạ cánh ở phi trường với những xác máy bay cháy nằm ngổn ngang ven biên. Họ đưa chúng tôi ra, ấn vào xe, chạy vội qua các đường phố Nam Vang đến toà Đại sứ, ở đấy sẽ có buổi thuyết trình đầu tiên. Chúng tôi biết chúng tôi sẽ phải rời ngay đêm ấy. Trừ một số ít, tất cả nhân viên sứ quán đều đã di tản rồi.

Có hai bài thuyết trình chính thức dành cho chúng tôi. Một bài do Lon Nol phụ trách. Nhân vật hí họa nhỏ thó buồn cười này bước vào phòng, ngồi xuống. Ông ta kêu gọi chúng tôi giúp đỡ. Nhưng họ bảo họ có 40,000 binh sĩ Cam Bốt đóng ở phạm vi chung quanh Nam Vang. Họ ước lượng sức mạnh Khờ Me Đỏ ngoài phạm vi này là 60,000. Đây là một quốc gia có dân số 6 triệu. Quý vị tự hỏi nếu chỉ có bấy nhiêu và họ đã có tất cả những binh sĩ Cam Bốt được huấn luyện siêu việt, trang bị đủ thứ khí cụ, thì tại sao chúng ta đã không thể giữ đừng cho đối phương đến gần?

Nên tôi nói với ông Đại sứ: tôi được thuyết trình đủ rồi, tôi hỏi tôi có thể ra ngoài làm một vòng quan sát tiền tuyến chăng. Tôi có một Đại úy là tùy viên quân sự và một xe jeep, chúng tôi rồ máy ra tiền phương. Chúng tôi đến tư lệnh sư đoàn trước, rồi đến bộ chỉ huy Trung đoàn, tôi đòi nói chuyện với các tiểu đoàn trưởng hoặc vài ngưòi trong đại đội. Tại trụ sở bộ tư lệnh, tôi yêu cầu: “Tôi muốn nói chuyện với một vài tù binh Khờ Me Đỏ của quý vị,” thì họ đều bảo: “Chúng tôi không có tù binh nào.”

Sau xuống tiểu đoàn, ở đây gặp các ông mặc quân phục ngụy trang mầu đen trong một ngôi chùa nhỏ. Họ là một đại đội đang chuyển về hậu cứ, sau khi lãnh lương, họ sẽ quay lại đơn vị. Tôi hỏi một thiếu tá về tù binh, ông ta nói: “Chúng tôi không giữ tù binh. Bắt được là ăn.”

Viên Đại úy giải thích cho tôi rõ khi giết một người lính, mọi người mang dao ra xẻo một miếng thịt rồi ăn, họ tin rằng họ tăng sức mạnh khi ăn thịt địch quân. Tôi nghĩ: “Lạy Chúa! Việc gì sẽ xảy ra khi vùng này thất thủ? Có cả hai triệu con người đang ở nơi đây!”

Trở về tôi nói: “Nhân danh Chúa, hãy cấp cho những người này đủ ngân khoản đến mùa mưa để họ có thể phân tán mà ra khỏi Nam Vang,” bởi lẽ khi Nam Vang thất thủ, sau những vụ tù binh Khờ Me Đỏ bị ăn thịt, tôi nghĩ địch quân sẽ tàn sát thẳng tay tất cả mọi người trong thành phố.

Đó là lý do tại sao khi về tôi đã diễn thuyết, nói chuyện ở các Đại học Stanford, San Francisco. Tại sao tôi chống chiến tranh mà lại muốn cấp tiền cho Cam Bốt? “Vì nếu chúng ta không chịu cấp ngân khoản cho Cam Bốt là chắc chắn sẽ có một cuộc tàn sát tập thể.” Tôi đã tiên đoán thế. Lúc ấy tháng Ba. Cam Bốt thất thủ giữa tháng Tư, theo tôi nhớ. Và nơi đó đã xảy ra cuộc tàn sát.

Trở về Mỹ tôi cùng với Phil Habib mở họp báo nói phải cho Cam Bốt tiền để sống sót qua mùa mưa. Nhưng Việt Nam, tôi không thể chấp thuận việc cho tiền. Habib tranh luận với tôi, một ông bên bộ Quốc phòng thì nài nỉ yêu cầu hỗ trợ việc cấp tiền, tuy nhiên tôi không thể làm việc ấy. Đối với Việt Nam, đây chỉ là vấn đề thời gian. Đây là một lý do đã mất.

Nhưng khi trở về tôi có viết một báo cáo trao cho Gerald Ford. Báo cáo này được ít nhất ba hay bốn thành viên của phái đoàn tán thành. Trong báo cáo, chúng tôi kết luận chúng ta cần phải có tình báo chính xác. Tôi tin rằng bộ máy tình báo ở Việt Nam đã trở nên thiên vị và đã trở thành một kẻ biện hộ. Sĩ quan tình báo đáng ra phải cung cấp các tin xấu, không phải các tin tốt. Với ông Polgar, thứ gì cũng là tin tốt: “Chúng ta đang thắng, chúng ta sẽ thắng.”

Sau tôi gặp riêng Kissinger và Ford tại phòng Bầu Dục. Tôi nhớ Ford quay sang hỏi Kissinger là không biết chừng tôi đã nói đúng. Kissinger bảo: “Không cách gì. Việt Nam còn có thể đứng vững hàng năm.” Ông ta nói họ có tinh thần cao, họ có khả năng chiến đấu tốt, họ được huấn luyện kỹ, tất cả những gì họ cần chỉ là tiền mua tiếp liệu, mua khí cụ, mua các bộ phận thay thế mà thôi vân vân.

Cảm tưởng của tôi bấy giờ là Tổng thống Ford tin ông ta và không chấp nhận những gì tôi nói.

Tôi trao báo cáo của tôi cho tổng thống vào đầu tháng Ba. Bắc Việt tấn công cao nguyên Trung phần trong vòng tuần lễ sau. Rồi miền Nam tan rã. Tôi đã nói những điều như thế sẽ xảy đến và chỉ là vấn đề thời gian. Rồi họ tấn công. Rồi báo chí suốt sáu tuần lễ kế tiếp đã tràn ngập tin tức về Cam Bốt và Việt Nam.

Tôi không có gì để cãi cọ với những người miền Nam Việt Nam cả. Nếu đặt tôi vào địa vị họ, tôi cũng sẽ cảm thấy chua chát với tất cả mọi người, nhất là đối với những người đã đến đấy để phán đoán xem họ có đáng được nhận thêm hai mưoi, hay năm mươi triệu đô la nữa hay không. Nhưng câu hỏi đặt cho họ là: Làm thế nào có thể tự lừa dối mình mãi về phẩm chất chiến đấu của những người của họ? Làm thế nào có thể để sụp đổ ngoại vi Sàigòn!

Tôi nghĩ những gì chúng ta đã làm ở Việt Nam là một tai họa và một thảm kịch. Và tôi nghĩ khi chúng ta đã đi tới cái điểm rút quân ra, chúng ta không còn muốn chết ở đất nước ấy nữa, nhưng chúng ta cứ tiếp tục dội bom xuống – thì điều ấy thực quá đáng. Nếu người miền Nam Việt Nam có khả năng tự lo liệu, hãy tăng sức mạnh cho họ. Còn thực tế họ đã không thể tự lo liệu được thì điều ấy không nhất thiết là lỗi của ai khác hơn là của chính các tướng tá của họ.

Sắp Tới Ngày Của Mẹ

trantrungta

Tôi có không nhiều bạn,
đúng hơn mươi người thôi,
lang bạt mười phương trời;
tôi trong mười phương đó…

Chúng tôi, mây gặp gió…
thì tan như khói sương;
nếu có còn nhớ thương…
thì hẹn nhau kiếp khác!

Cùng nòi giống Âu Lạc,
đành đau nỗi lạc đàn.
Cùng là người Việt Nam…
vượt xuống Nam kiếm sống!

Chúng tôi không hy vọng
có ngày đứng dưới cờ
như xưa trong nắng mưa,
như xưa trên chiến địa…

Nhiều khi cắn lóng mía
nghĩ tới lóng xương người,
không thể khóc thì cười:
cuộc biển dâu, đành vậy!

Lòng ai cũng nát bấy,
gặp thì trút vào bia,
nâng cốc lên cùng chia…
tiếng thở dài thậm thượt!

Ôi chao người một nước
chừ hóa kẻ-đồng-hương!
Nam Bắc dãi giang sơn…
chừ là làng xóm nhỏ!

Phan Bội Châu thương chó,
lập mộ cho chó già.
Ai thương nhỉ chúng ta:
cái bình tro lạnh ngắt?

“Đảng Phái còn, nước mất,
Đảng Phái mất, nước còn”.
Một Đảng đã quá buồn,
thêm Đảng buồn thêm nữa?

Phan Bội Châu nói, chớ /
không phải tôi, đâu, nha!
Tan nát cuộc nước nhà…
tiếc chi tình bạn hữu?

Dù sao…tay cứ níu
khói sương xứ người ta…
Dù sao còn thấy hoa,
nhớ lại thời trai trẻ!

Sắp tới ngày-của-Mẹ,
thương lắm Mẹ Âu Cơ,
nhớ lắm cái bóng cờ
phất phơ chiều biên ải…

Trần Trung Tá

Những Bình Minh

aminh

Ngày xửa ngày xưa…

Mọi câu chuyện đều sinh ra từ dòng chữ này.

Ngày xửa ngày xưa…Làng tôi thờ Phượng Hoàng. Ngày nay, làng tôi thờ Phượng Hoàng. Làng tôi là làng Phượng Hoàng.

Chuyện kể rằng, làng tôi từ xưa bị bao phủ bởi đám mây nghìn năm tuổi. Ngày cũng như đêm, đều một màu om om. Một ngày, Phượng Hoàng từ phương xa bay tới, kịch chiến và xé tan đám mây ma. Một số người kể rằng nguyên hình của đám mây là một con rắn khổng lồ. Phượng Hoàng đã bắt rắn. Rồi thì, Phượng Hoàng nhổ lông để hóa phép xây nhà, Phượng Hoàng đuổi thổ phỉ hay Phượng Hoàng…Đại loại là làng tôi từng chịu ơn Phượng Hoàng nhiều năm về trước.

Tượng Phượng Hoàng dựng chính giữa làng. Nơi đây là đường đất, cũng là con đường lớn của làng. Không ai biết người đã tạc ra tượng Phượng Hoàng. Tảng đá dùng để tạc hình Phượng, là nơi Phượng Hoàng đã bay đến. Quanh con đường có nhiều cây dại. Những cây cao quá, cỡ đại thụ đều bị chặt. Những cây tầm vóc vừa vừa, cỡ cây khế ba năm tuổi cũng đều bị đốn. Ngay đến những cây cao quá một mét cũng không được giữ. Nhờ thế đường cái rộng hơn. Dù còn lầy lội, nhiều lúc bị vấp, chảy máu chân vì những hòn đá cạnh sắc.

Tượng Phượng Hoàng cao hơn một mét. Phượng Hoàng đứng khép cánh, dân làng kể nếu cánh Phượng mở ra, ngài sẽ bay mất. Cổ cao, giống với loài Hạc, mỏ Phượng Hoàng khép và cái đầu nghếch lên trời. Phượng Hoàng đứng trên một bệ đá. Cái bệ chẳng cao lắm nhưng khiến Phượng Hoàng cao hơn. Đôi chân Phượng Hoàng duỗi thẳng, theo thế đứng. Tôi đếm được năm móng chân vuốt sắc. Bốn hướng ra ngoài, ngón cuối cùng, to nhất thì quặp ở sau. Đuôi Phượng trải xuống, quét đất. Bức tượng được tạc đã lâu nên nhiều lớp đã bị nứt, bị rêu phủ và xạm đen. Nếu ai túc trực ở đường cái, sẽ còn có thể nhìn thấy mặt trời mọc và lặn theo hướng nhìn của Phượng Hoàng. Chính Ngọ, lúc mặt trời đã ngự trên ghế vua và nắm mọi quyền bính. Lửa nắng phả xuống và dát lên tượng Phượng Hoàng. Đầu Phượng Hoàng chỉ lên mặt trời, cái mỏ được tạc nhọn như mũi tên Hậu Nghệ. Nếu là mùa hè, những ngày trưa bốn mươi độ sờ vào mặt tượng còn thấy bỏng tay. Mẹ tôi kể, vào một mùa hè, có người đã bốc cháy trước tượng. Người đấy không cứu được, vì vừa bị cháy, lại thiếu nước trong hàng tiếng đồng hồ nằm ngất ngoài đường cái. Những lúc Phượng Hoàng tắm gội trong nắng mặt trời thì chẳng ai đến gần được. Lúc nắng dịu và tan chảy vào lòng đỏ mặt trời thì Phượng Hoàng cũng trở nên hiền hòa. Dân làng có thể đến gần tượng, khấn vái, thắp hương, khách thập phương có thể chụp ảnh hay vẽ truyền thần.

Như mọi đứa trẻ con trong làng, em trai tôi mỗi lúc đi ngủ đều được nghe kể chuyện. Mẹ tôi kể. Mẹ đi vắng, thì tôi kể. Luôn là chuyện về Phượng Hoàng. Câu chuyện truyền thống mà mỗi người dân trong làng đều phải nằm lòng là về Phượng Hoàng đuổi mây đen. Tôi thắc mắc rằng liệu em tôi có nằm mơ thấy Phượng Hoàng không. Tôi không hỏi. Em tôi cũng chẳng kể. Tôi vẫn nằm mơ thấy được Phượng Hoàng chở trên lưng. Một Phượng Hoàng thứ thiệt, có thể vỗ cánh bay. Đấy là giấc mơ thời trẻ con. Giờ, tôi lớn hơn và chẳng bao giờ mơ thấy Phượng Hoàng. Vài người đã ước được một lần nhìn thấy Phượng Hoàng. Một số đã rời làng để tìm kiếm Phượng Hoàng. Số khác thì vẫn ở lại làng, ngày ngày qua lại chỗ bức tượng để cầu khấn mong một ngày được mãn nhãn. Mẹ tôi cũng mong được nhìn thấy Phượng Hoàng. Tôi không mong lắm, nhưng nếu ngày nào đấy Phượng Hoàng có bay qua làng, tôi sẽ là người đầu tiên nhìn lên trời.

Người làng vẽ hình Phượng Hoàng vào mỗi dịp tết, lễ hội để treo bán. Quanh làng không thiếu những chỗ bày bán tượng phượng Hoàng đẽo bằng gỗ, rèn bằng sắt, tạc trên bình gốm, mặt dây chuyền, vòng, nhẫn. Mọi hình ảnh đều trong một khuôn đúc. Phượng Hoàng khép cánh và ngẩng cao đầu. Mỗi người trong làng đều có một bức tranh Phượng Hoàng trong nhà. Ai sùng tín sẽ nhờ thợ đúc tượng để thờ. Nhà tôi cũng có tranh Phượng Hoàng. Bức vẽ đã gần trăm năm, tính từ đời ông đến đời cha và tôi. Bởi đã lâu, nên tranh nhiều chỗ rách, mờ màu. Nhà tôi không thay tranh mới. Phần vì đây là bức tranh có tuổi. Phần khác do bức tranh treo trong phòng thờ, ít nhiều có linh khí. Nghe mẹ kể thì sau khi mua tranh, ông tôi đã đến tượng Phượng Hoàng để khấn vái.

“Tại sao Phượng Hoàng không tung cánh.”

“Phượng Hoàng sẽ bay đi.”

“Phượng Hoàng vốn bay đi rồi.”

“Ngài sẽ quay lại làng.”

Vài người trong làng nói rằng mình đã thấy Phượng Hoàng. Đều là nói phét và chẳng ai tin. Cũng chẳng biết ai trong số những người đã bỏ làng đi đã thấy Phượng Hoàng. Chắc là không. Các câu chuyện cổ ghi rằng Phượng Hoàng bay về phương Bắc, bay thẳng lên trời, biến mất trên trời hoặc bay vòng vèo rồi biến mất, cũng trên trời. Khó để biết phương trời Phượng Hoàng đã bay đến. Ngày, tháng, năm cứ thế trôi và đóng dày thành nhiều mộ bia. Lúc các chứng tích bị thời gian phủ bụi, cạy xóa thì cũng là lúc các dị bản ra đời. Càng về sau, tôi càng được nghe nhiều chuyện về Phượng Hoàng. Trong câu chuyện Phượng Hoàng đuổi mây đen, ngoài việc đám mấy phát tích ra con rắn lớn tôi còn được nghe về một trận đại dịch màu đen, bầy quỷ từ địa ngục…Còn có người nói Phượng Hoàng đã chết trong trận đánh với đám mây đen. Nơi dựng tượng là nơi Phượng Hoàng ngã xuống. Cái dị bản này đã được kéo dài thêm bằng một dị bản khác rằng “Phượng Hoàng bị thương, máu ngài đổ xuống bãi đá găm, tạo thành đường cái. Sau đấy Phượng Hoàng bay về trời. Nơi ngài bay lên, người dân tạc tượng để nhớ ơn…”
Nếu nhìn thấy Phượng Hoàng, chết không đọa Địa Ngục. Máu Phượng Hoàng mang đến bất tử- Tôi nghe kể lại thế. Từng có vua chúa muốn săn lấy Phượng Hoàng. Những đế vương muốn hóa rồng bằng máu Phượng. Rồi, từng người một già nua và chết trong bệnh tật. Làng tôi từng có người mong được nếm thử máu Phượng Hoàng. Gã nói “Chỉ cần nửa giọt dính vào lưỡi, thế thôi.” Chẳng ai tán đồng và đã đấm vào mặt, đá đít gã khỏi làng. Tôi chẳng chắc còn có thêm ai nghĩ như gã hồ đồ đấy không. Nhưng Phượng Hoàng. Đấy vẫn là nguồn sống của làng tôi. Một ông cụ làng tôi, lúc chết đã không nhắm được mắt vì vẫn chưa được thấy Phượng Hoàng. Nhiều người, vẫn trằn trọc ngày đêm mong được thấy Phượng Hoàng. Cuối làng, có một thầy giáo dạy vẽ. Ông ấy cũng là người mê mẩn Phượng Hoàng. Vẽ rất nhiều tranh Phượng Hoàng. Vẽ trên giấy, trên vải, lên tường, mặt bàn, tủ gụ, cánh cửa, tự xăm vẽ lên thân mình…Người ta kháo rằng ông ấy có hơn một nghìn bức tranh vẽ Phượng. Bức vẽ Phượng Hoàng khép cánh như bức tượng ở đường cái, hay một hình xòe cánh, cưỡi mây, bay trong cơn gió. Người thầy giáo đấy đã hóa điên. Bởi ông ta đã canh ở đường cái một tháng trời. Không ăn không ngủ, và chỉ có cây bút và xấp giấy mang theo. Hồ như, ông ấy muốn bắt bằng được thời khắc tượng chuyển mình. Chẳng nghe ai khuyên bảo, người thầy cứ ngồi trước tượng. Không ăn, không uống. Sáng sớm, người làng thấy ông liếm sương trên mỗi chiếc lá. Có người bảo ông còn hớp nắng sớm, nuốt gió để lấy sức. Sau một đêm dông, chẳng ai nhận ra ông ấy. Tóc ông xổ dài chạm đất, những sợi mỏng, xám bệch. Mặt người thầy teo tóp và khô khốc như vỏ cây. Hai hàm răng người thầy đánh vào nhau và ăn nghiến như cánh cổng chốt nhiều lớp. Chỉ hai bờ môi bập ra bập vào. Trong đêm tối, người làng thấy ông thầy ôm đầu, chạy tứ tung. “…À…” – Chỉ một tiếng đấy. Tiếng khá to, như hơi nén trong chai đột ngột mở nút. Người làng vốn đang tản mác liền được đánh động. Tất cả đi về nơi vang ra tiếng người. Người thầy biến mất. Tôi hỏi mấy người già và gom về một mớ các câu trả lời. Bị mây đen bắt, thấy tiếng không thấy người, rơi xuống vực, ngã xuống giếng, ngã xuống sông, chạy sang làng bên, Phượng Hoàng đã chở đi…Nhiều người bảo tôi rằng họ không biết. Mẹ tôi không có mặt trong đội tìm kiếm. Có người bảo đã thấy bà. Mẹ nói, chỉ đi ngó qua vì hiếu kì, và tôi tin.

Mẹ luôn kể cho tôi về Phượng Hoàng. Ngày bé, Phượng Hoàng dỗ tôi ngủ đêm. Lúc lớn hơn, tôi vẫn được nghe chuyện. Tôi thuộc làu rồi. Nhiều năm sau mỗi buổi tối tôi kể chuyện Phượng Hoàng cho mẹ nhưng không hẳn chỉ cho mẹ. Ngày ấy, mẹ mang bầu. Cha tôi đã bỏ nhà đi khi tôi mười tháng tuổi. Ông đi tìm Phượng Hoàng. Vậy là ông đã về. Rồi lại đi ngay. Những dèm pha chẳng nghĩa lý gì khi ngày ngày mẹ vẫn đến đường cái. Cúng vái Phượng Hoàng thật lâu, và từng ngày một. Ngày mẹ trở dạ, bà đã trốn khỏi viện xá và hạ sinh em tôi ở đường cái. Tượng Phượng Hoàng thành bà đỡ. Em tôi chào đời dưới chân tượng và được tắm nắng mặt trời. Mẹ tôi bồng em. Người làng tôi đã đưa mẹ và em về nhà, và chăm sóc, cho sữa, cho đường. Không còn ai độc miệng với đứa em đã chào đời của tôi. Họ bảo mẹ đẻ được Phượng con.

Em tôi chẳng phải truyền nhân của Phượng Hoàng.

“Phượng Hoàng không có mắt.”

“Có chứ!”

“Không thấy tròng mắt.”

“Một mắt mặt trời, một mắt mặt trăng.”

“Mắt nào là trời? Mắt nào là trăng?”

“Một mắt mặt trời, một mắt mặt trăng.”

“Mặt trăng bên nào? Mặt trời bên nào?”

“Một mắt mặt trời, một mắt mặt trăng.”

“Mặt trăng màu gì? Mặt trời màu chi?”

Đường cái. Tượng Phượng Hoàng khép cánh.

Những tháng hè nắng đổ lửa, tượng luôn nóng hôi hổi. Đông đến, đường cái hun hút gió, Phượng Hoàng vẫn ngạo nghễ đứng. Bốn bề tượng lúc đấy lạnh băng. Người làng bảo rằng “Ban ngày Phượng Hoàng sưởi nắng mặt trời, đêm hong mình dưới trăng.” Mỏ Phượng luôn nghếch lên, chỉ trời và chỉ trăng. Người dân xếp hàng khấn vái. Lúc đông, lúc vắng, khi chen chúc, lúc xô đẩy, ngã lăn lộn, rồi về cả. Chỉ mình tôi đứng lại. Ngửa cổ nhìn lên. Đã bao năm trôi qua rồi. Tượng Phượng Hoàng đứng khép cánh nghểnh cổ. Nhiều lớp tượng đã phủ rêu xanh. Đôi chỗ đen nhọ vì bụi bặm và khói hương. Những cơn mưa dềnh mặt ruộng, ngập đến cổ chân không rửa trôi hết được những uế tạp trên mình Phượng Hoàng. Bởi thời gian, dù là đá hoa cương cũng sẽ bị bào hóa. Đi vòng quanh tượng, thấy nhiều mẩu lông đã ram ráp, mòn đi hoặc rụng, vỡ. Mắt Phượng Hoàng chẳng có tròng. Chỉ một màu tượng đá, do người tạc. Màu mắt nào thì hợp với Phượng Hoàng đây. Tranh về Phượng Hoàng, đều bỏ trống màu mắt. Chẳng màu, cũng chẳng tròng. Người thầy giáo điên, trước đó vẽ nhiều về Phượng Hoàng, hẳn từng điểm mắt.

Ngoài số tranh vẽ biếu, bán hay treo trong trường thì chẳng còn bức nào. Một trận hỏa hoạn cuối năm nọ đã thiêu trụi cái nhà cấp bốn của ông thầy. Tranh trong nhà thành tro. Số tranh khác thì Phượng Hoàng chưa được chấm màu mắt. Mắt để trống, như bức tranh truyền thống về Phượng Hoàng được vẽ lại từ bức tượng tạc lại trong huyền thoại xửa xưa.

Tôi mở sách. Kể cho em tôi về chuyện Phượng Hoàng.

Hết chuyện. Em tôi ngủ, nhưng vẫn chưa ngủ.

“Ngày mai lớp em có tiết kiểm tra họa. Vẽ tại lớp. Vẽ gì hả anh? Đề tự do.” – Em tôi nói.

“Thích gì vẽ nấy.” – Tôi bảo.

“Nhưng vẽ gì bây giờ.”

“Vẽ Phượng Hoàng.” – Tôi bảo. Buột miệng.

Tôi vờ ngáy. Em tôi hỏi thêm một hai câu. Rồi cũng ngủ. Chẳng biết nó có thật sự ngủ chưa vì chốc lát lại trở mình. Chăn của tôi bị nó kéo hết.

Đường cái. Tượng Phượng Hoàng khép cánh. Mặt trời từ từ ngoi lên. Mỏ Phượng Hoàng khép nhọn như kim chỉ Nam nhích lên mặt trời.

Người làng ra đồng. Họ đi qua tượng. Ai cũng khấn, mong đến một mùa bội thu.

Cũng ở đường cái. Một người lạ mặt đi lòng vòng nửa ngày trời. Ông ta trạc ngũ tuần. Râu ria xồm xoàm. Ăn mặc theo kiểu thầy cúng. Vai khoác theo một cái túi vải thổ cẩm. Một khách thập phương. Làng tôi nào có cấm khách thăm thú.

“Sẽ được thấy Phượng Hoàng.” – Đó là lời kháo nhau. Tin lan khắp làng chưa đến nửa ngày. Dân làng tôi. Từ trưởng làng, các trưởng họ, người làm ruộng, kẻ mở cửa hàng, ông chủ cho thuê đất, thợ làm thuê, người làm cán bộ trên xã, thầy giáo, bọn học sinh, các cụ ông cụ bà tuổi thượng tuế…Đều nhao nhác. Nghe đâu đến bọn trẻ con mới sinh hoặc còn trong bụng mẹ, thành hình hoặc chưa thành hình đều biết chuyện. Họ nói với nhau. Dò hỏi. Rồi tìm đến vị pháp sư.

Nghe kể xong về giai thoại Phượng Hoàng. Ông thầy xem tượng, nói “Tượng bao nhiêu năm tuổi.”

“Lâu rồi.”

“Cụ thể?”

“Chẳng biết. Lúc đẻ ra là thấy rồi.”

“Được trăm năm không?”

“Hay vài trăm năm?”

“Chả rõ, từ ngày xửa ngày xưa.”

“Chắc chẳng đến một nghìn năm. Trăm tuổi là có linh khí rồi.”

Dân làng tôi nhao nhao. Ai cũng rạng rỡ. Người đến ngày một đông. Đường cái chật cứng người.

Trưởng làng phải cho người dàn xếp hàng lối. Bảo rằng bà con không được làm loạn. Mấy cụ già ốm yếu chẳng ngại trời trở gió vì rằng chỉ cần nhìn thấy Phượng Hoàng thì chết ngay cũng được. Ông thầy cần lộ phí. Dân làng chấp thuận. Ông thầy lại nói, tay bấm bấm “Bắc phương vị…”

Đánh chén xong, ông thầy làm lễ. Ngay ở đường cái. Chính nơi đặt tượng.

Dân làng đứng đông, tạo thành nhiều hàng dài. Ai cũng háo hức. Chẳng ai chịu im lặng. Người nào người nấy nói lớn tướng. Có người cười. Tôi đứng cùng em mình. Mẹ tôi ở hàng sau. Có người mang giấy bút để phác lại cảnh có một không hai. Lúc đấy đã chiều muộn. Mặt trời nhạt màu, chầm chậm trượt xuống. Một giấc băng hà ngắn sẽ bắt đầu và trăng lên thiết triều.

Tượng Phượng Hoàng vẫn khép cánh. Đầu nhướn cao. Chốc nữa, Phượng Hoàng thật sự sẽ bay đến và đứng trên tượng? Hay bay quanh làng? Không khéo đến ngày hôm sau dân làng tôi có thể nhìn xa ngàn dặm.

Ông thầy đóng năm cọc tre quanh tượng Phượng Hoàng. Những cánh sao thành hình và đổ ngược hằn trên mặt đất. Ông thầy vẽ bằng ngón út để móng dài. Một số cốc, bình, mấy nén hương được lấy từ cái túi thổ cẩm. Cốc, bình úp hết xuống đất. Đáy các cốc, bình được đục các lỗ nhỏ. Ông thầy cắm ngược các que hương và đốt từ chân. Lửa nhai chân hương, lớn phổng một chốc rồi lịm tắt và hóa khói. Luồng khói nghi ngút, uống cả cơn gió và bay quanh nghi lễ như bầy rắn trắng. Ông thầy niệm tiếng chú. Vừa niệm, vừa đi quanh. Một cán gậy được buộc hàng mớ quả chuông vang inh ỏi. Cán gậy chúc lên trời. Niệm, đi quanh, rồi lại niệm. Vẩy nước lên tượng. Chẳng biết bao lâu. Lúc đầu còn có người coi. Sau, số thì buồn ngủ, số thì lẩm bẩm.

Ông thầy vã cả mồ hôi. Ông ta vẫn niệm. Vẩy nước. Lắc gậy chuông. Đốt thêm cả hương. Chẳng có gì.

“Đồ bố láo.”

“Có chó gì, thằng lừa đảo.”

“Về thôi. Mệt cả người.”

“Xéo khỏi làng tao.”

Người này người kia hùng hổ. Ông thầy vẫn tiếp tục nghi lễ dù không gian đã xáo trộn. Mấy hàng người vỡ thành nhiều hàng. Sóng người chen chúc. Chân nọ đạp vào chân kia. Đầu va vào nhau. Tiếng trẻ con khóc. Một cái cùi chỏ va vào mắt làm tôi nổ đom đóm. Một vài người nhặt đá ném ông thầy. Có người ném cả dép, cành cây, cả lõi ngô, củ khoai ăn dở. Trưởng làng hô hoán gì đấy. Không ai ngăn nổi dân làng đang giận đùng đùng. Trận phép của pháp sư bị đạp đổ. Tay tôi vẫn nắm vào tay em mình. Đám đông tràn như vỡ trận nên tôi chẳng thấy ông thầy đâu nữa. Không rõ ông ta còn kẹt trong đám người hay lẩn mất rồi. Vì đường đã chật bởi nhiều người chen chúc nhau để lách vào chỗ rộng, mong về nhà nên tôi và em tôi đứng lại. Ngồi nghỉ dưới một tảng đá. Em tôi rúc vào người, có lẽ vì chưa bao giờ thấy dân làng chen lấn như hôm nay. Trời còn chưa đen hoàn toàn. Mặt trời còn lưng chừng núi. Hẳn phải bảy giờ chiều. Mặt trời vẫn bập bềnh thế, cứ như bị neo lại.

Một tiếng gì đấy bổ xuống làng tôi. Dân làng đang nhốn nháo bỗng im phăng phắc. Có người kêu lên, chỉ tượng. Lại một người nữa. Dân làng đứng lại. Ai đang đi về cũng quay trở lại. Những nhóm lẻ nối thành hàng, dồn thành biển người rồi nhìn tượng.

Tượng Phượng Hoàng đang nhúc nhích. Đôi cánh vốn khép lay lay như cánh hoa gặp gió. Dân làng nín lặng. Đôi cánh chưa xòe lên. Tượng lay mình. Em tôi đòi nhìn. Tôi cõng em lên cổ. Một số người lẩm bẩm cầu khấn. Ai quỳ thì níu người bên cạnh quỳ theo. Các cụ già mắt sáng quắc. Có người vái lên vái xuống, vì vung tay cao nên đập vào người phía sau.

Tượng lay mình vài cái. Đôi cánh khép xòe chầm chậm.

Chẳng phải tượng đá. Là Phượng Hoàng. Phượng Hoàng hiển linh. Phượng Hoàng thức giấc. Và Phượng Hoàng, đang ngày một to lớn.

Cái đầu vốn nghếch lên trời hàng trăm năm, giờ nhìn xuống. Tôi nhìn lên. Không hề thấy màu mắt Phượng Hoàng. Hẳn ngài có mắt. Đôi mắt rất to, thậm chí to hơn cái đầu tôi. Nhưng chẳng thấy màu gì. Cặp mắt đấy, như hai cái hốc đen. Chỉ một màu đen, dày và hoăm hoắm như miệng giếng. Bộ lông Phượng Hoàng mọc dày thêm. Những sợi lông mới mọc chổng ra, đâm tứ phía. Bộ vuốt chân Phượng Hoàng ngày một dài, nhọn và khum cong. Cái mỏ vốn khép cứng giờ tách đôi ra, nhìn sắc như cây kéo. Lúc đôi cánh Phượng Hoàng giương lên, chẳng ai còn thấy gì nữa. Sau tiếng vỗ cánh, một cơn gió mạnh xốc đến, buốt lạnh đến tận chân răng. Không ai thấy gì nữa. Phượng Hoàng cất cánh và đổ bóng đen xuống đường cái. Một tiếng rú rồi chìm mất. Lại một tiếng rú khác. Tiếng vỗ cánh vẫn phần phật. Có tiếng kêu cứu. Tiếng từ dưới vọng cao lên. Một số người loay hoay. Rồi bị trượt ngã vì giẫm vào vật lạ. Bị ai đấy va vào, tôi ngã văng. Không thấy đau, cũng không chạm đất vì tôi nằm ngã lên một vật mềm mềm. Sờ soạng trên vật đấy tôi nắn thấy những đốt ngón tay lạnh. Mùi tanh sôi sục khắp nơi. Rồi tôi nắm thấy một vật dài như sợi dây nhưng trơn trượt. Nắn tay quanh vật dài, thấy nó lòng thòng, mềm nhũn và ươn ướt. Tôi kéo mạnh, vật đấy đứt tung ra cùng một tiếng rên khẽ. Tiếng hô hoán không thoát khỏi màn đêm quá bao la như sa mạc. Tiếng kêu đổ lên nhau. Người người chạy đi nhưng chỉ va vào nhau. Rồi từng người một bị một vật sắc, với đầy sức mạnh nâng lên cao để lúc sau bị quẳng xuống khi đã nát bét.

Tôi không tìm được em mình. Tôi ôm đầu chạy. Dân làng tôi cũng ôm đầu chạy. Chẳng ai thấy nhau. Thân người cứ va nhau bôm bốp rồi văng lăn lóc.

“Đám mây ma.”

“Phượng Hoàng, cứu chúng con.”

“Con ơi…”

“Mẹ ơi…”

“Phượng Hoàng…”

Chúng tôi kêu mãi Phượng Hoàng. Định quỳ gối cầu khấn nhưng chẳng ai còn nhớ tượng Phượng Hoàng đặt ở đâu, phương nào, Nam hay Bắc…Bị trượt ngã, tôi cảm thấy như có một vật khổng lồ đang lơ lửng trên đầu. Tiếng quạt gió. Thân người tôi bị bóp chặt, xương bị vò nát bét. Tôi hộc máu. Cả người tôi phóng vọt lên cao. Không phải tôi bay. Người tôi nát nhừ rồi. Tôi bị cắp.

“…À” – Tiếng bên cạnh tôi. Lúc quờ tay, tôi nắm được một bàn tay bé xíu, hệt như tay em tôi. “…À” – Tiếng của tôi. Và tiếng bên dưới cũng vang như thế. Những chữ “…À” vọt từ từng cái miệng dân làng tôi. Từng chữ nối nhau vang. Từng người nối nhau, để cái tiếng đấy chạy ra ngoài. Tiếng đổ ào ạt như con sóng bộc vỡ sâu lòng đất.

Bất chợt, tôi giật bắn người và tỉnh giấc. Thân mình ướt nhẹp, lạnh buốt như băng đá. Ngoài trời thui đen. Dường như đêm vẫn còn. Nhoài khỏi giường. Tôi bật hết đèn, thắp đủ loại nến. Cái gì đốt được cứ đốt, miễn là đánh thành ánh sáng.

Mẹ tôi dậy rồi. Em tôi cũng thế. Nhìn họ trắng bệch, run rẩy như vừa chui ra từ băng tuyết.

“Mẹ ơi…”

“Con ơi…”

“Anh ơi..”

Không ai nói thêm gì. Tiếng ai cũng khàn đi. Một lần lặp lại như thế, rồi dừng lại và tiếp tục lặp lại.
Sau đấy, từng nhà trong làng sáng đèn. Bật điện, đốt đuốc, soi đèn pin. Làng tôi như chẩy hội. Người làng đổ ra đường. Mẹ tôi cũng cầm đèn pin rồi ra ngoài.

Ngày hôm sau. Làng tôi tìm thấy một xác chết dưới ruộng. Không nhận diện được vì cái xác đã biến dạng. Thối hoắc và nhão nhoét. Cứ như bị ném vào cối giã. Cạnh xác chết, có một cái túi thổ cẩm. Trong túi rỗng tuyếch. Dân làng điểm mặt chẳng thiếu ai. Hẳn đây là một khách vãng lai. Đêm hôm qua làng tôi có sét đánh. Dân làng kháo nhau. Có khi nào người này bị sét đánh.

Thiên Lôi không chỉ phóng một lần sét. Tượng Phượng Hoàng bị sét cắt trúng. Dân làng kháo nhau thế. Ra đường cái. Tượng Phượng Hoàng vẫn còn, nhưng đen nhẻm. Không phải kẻ ngỗ ngược nào đã hất bùn, trát nhọ nồi hay đổ sơn đen lên tượng. Dân làng đã lau rửa bằng nước giếng, cả nước pha vỏ bưởi nhưng màu đen vẫn dày như bóng tối. Sấm sét không làm vỡ hay làm tượng sứt mẻ mà chỉ khiến bức tượng đen sì như nhuộm mực tầu. Nắng mặt trời Chính Ngọ cũng không làm mờ màu đen trên tượng. Tượng đen đổ bóng đen.

Chuyện tối qua không ai nhắc. Không ai gợi chuyện. Hoặc gợi rồi lờ đi.

Cái xác lạ được dân làng mai táng. Vì không rõ danh tính nên không lập bia. Chỉ đào một cái hố thật sâu, quấn chiếu xác rồi chôn. Trên mộ phần có gieo ít hạt giống. Mấy năm nữa là cây sẽ xanh tươi.

Người làng tôi, bị khàn giọng. Kể sau một đêm. Tiếng nói ra đặc sệt, ngắt quãng như hụt hơi. Một tiếng “À.” thốt ra rồi đứt phựt. Chữ À không ai nói nữa và dần lãng quên từ một buổi sáng. Có gì đâu mà phải à lên…

Tượng Phượng Hoàng vẫn ngạo nghễ ở đường cái. Dù tượng giờ đây đã đen tới mức chỉ như một cái bóng chim Phượng Hoàng. Dân làng đi qua đường cái rụt rè hơn. Không ai trò chuyện to cả. Đi xe qua phải dắt. Trâu, bò đều phải rọ mõm. Lúc đi qua tượng ai nấy đều lúi húi, chân tay bủn rủn như sốt rét. Có người đánh rơi cả cuốc. Nhắc đến Phượng Hoàng, người già đến trẻ em đều ngắt ngứ. Trẻ con im lặng, còn người lớn kể về giai thoại Phượng Hoàng đuổi mây đen. Kể nhát gừng từng câu từng câu. Người ta thờ Phượng Hoàng tại nhà, và nhà nào cũng thế. Nhang khói thường xuyên. Nhà tôi cũng thờ. Ảnh thờ là bức tranh cổ từ thời ông tôi. Mẹ thờ Phượng Hoàng trên ban thờ tổ, xếp gian giữa. Lúc qua đường cái, nếu đứng quá gần tượng Phượng Hoàng ai cũng mường tượng đầu Phượng Hoàng không ngẩng cao, mỏ chỉ trời chỉ trăng nữa mà cúi xuống. Đôi cánh tượng xòe rộng, Phượng Hoàng vỗ cánh…Nghĩ đến đấy, và ai nấy đều té ngửa.

Tiết kiểm tra vẽ tại lớp, em tôi ăn trứng ngỗng. Lớp em tôi đều vẽ Phượng Hoàng. Em tôi cũng vẽ Phượng Hoàng. Cô giáo lớp em đã gọi điện và mời họp phụ huynh. Mẹ bảo đáng lẽ tranh em đẹp nhất nhưng cuối tiết em đã tô đen hình Phượng Hoàng. Em tô mạnh tay, màu in thấu cả trang giấy và dính nhớp mặt bàn. Phượng Hoàng mà em vẽ xòe cánh. Em tôi không vẽ lại, cô giáo nhắc nhở gia đình bảo ban về ý thức học của em.

Dân làng gần đây mắc chứng khó ngủ vào buổi đêm. Ai cũng lăm lăm quyển sách để đọc cho dễ ngủ. Sách viết về giai thoại làng này : Phượng Hoàng. Người làng tôi đã tập hợp mọi chuyện về Phượng Hoàng và đóng quyển. Nhà nào cũng có. Đọc rồi ngủ. Hàng sáng, mắt ai cũng thâm quầng.
Mẹ tôi ngủ sớm. Trước lúc ngủ, mẹ căn dặn tôi kể chuyện dỗ em tôi ngủ. Tôi cầm sách, trang về Phượng Hoàng được đánh dấu bằng nếp gấp. Em tôi lắc. Tôi chưa kể. Em tôi chui vào chăn, chùm kín người và nằm vo tròn trong lớp chăn.

“Ngày xửa ngày xưa…”

Đọc đến đấy. Tôi chợt nghĩ đến người thầy giáo vẽ Phượng Hoàng. Nơi ông ta biến mất, là ở đường cái, tượng Phượng Hoàng khép cánh.

Vì tay tôi lơi ra, nên quyển sách trượt rơi xuống. Trang sách về Phượng Hoàng mở toang dưới nền nhà. Mồ hôi tay tôi in dấu trên mặt giấy.

Ngày xửa ngày xưa. Chuyện bắt đầu…

Á Minh

Bức tranh.

trachantranhuuhoi

 

-Hình như cậu thích tranh ?
Luận nhìn quanh xem câu hỏi ấy phát ra từ đâu, khi biết chắc là từ ông già bất động trên chiếc xe lăn, Luận cúi đầu chào kính rồi nói:
-Vâng, cháu có thích thật, nhưng chỉ ngắm thôi chứ chưa hề mua một bức nào !
-Tại sao?
-Tranh giống như phụ nữ đẹp nhưng kiêu kỳ, muốn đến với họ thì phải có tiền, mà cháu thì nghèo!
Một tràng cười phát ra từ chiếc xe lăn. Âm thanh dòn dội vào các ngóc ngách của quán vắng, làm Luận thấy rờn rợn.
-Sao hả Bác?
-Hai mươi hai năm trước tôi cũng nói câu này, nhưng là nói với một người phụ nữ.
Luận rụt rè:
-Dạ…
Lại im lặng, im lặng như mọi khi. Chỉ còn tiếng nhạc nhè nhẹ.
Hơn sáu tháng nay, Kể từ ngày ra tòa chia tay với người vợ gần mười lăm năm chung sống không lấy gì làm hòa thuận, điều đau nhất của anh trong cuộc ly hôn này là không dành được quyền nuôi đứa con ! Anh trở thành một kẻ độc thân ở tuổi bốn mươi ba ! Luận chọn quán cà phê này trú thân, ngoài căn nhà trọ chật hẹp, cũng ấm cúng vì nó thích hợp với mẫu người cô độc như anh. Quán này cũng thế, sâu, hẹp nhưng ấm áp, vắng và nhiều tranh…Chủ quán, một thiếu phụ, chỉ xuất hiện khi có khách vào, pha cà phê xong là biến mất, còn lại ông già bất động trên chiếc xe lăn, ngồi trầm tư như thế suốt ngày, hiếm khi nghe ông nói gì, ông ở đó như một pho tượng, khách vào, ra không hề nghĩ đến sự hiện hữu của ông !
Luận cũng quen dần và cảm thấy những bức tranh trên tường ý nghĩa hơn cả sự tồn tại im lìm đó !
Hôm nay, pho tượng ấy đột ngột mở lời khi anh đang lơ đãng ngắm bức tranh chép lại của Levitan, “ Ngày nắng”. Treo gần cửa ra vào.
-Cậu biết gì về hội họa?
-Dạ hầu như không biết chút gì !
Lại một tràng cười….
Luận bối rối không vì kiến thức ít ỏi của minh mà vì câu hỏi đến từ một người mà anh vừa mới đây thôi, cảm thấy thú vị, tò mò…
-Tôi cũng đã nói như cậu !
-Với ai ạ?
-Bà ấy! Chủ nhật này cậu có đến đây không ?
-Thưa.. ngày mai ?
-Ngày mai là chủ nhật rồi à? Tôi quên mất ngày tháng ! Ừ, ngày mai cậu đến chứ?
-Dạ vâng, cháu đến, buổi chiều được không Bác?
-Được.
Lại im lặng, một khoảng lặng mênh mông….
oOo
Người đàn bà rời mắt khỏi giá vẽ, ngước mắt nhìn người khách vừa vào phòng :
-Ông muốn mua tranh ?
Người khách trung niên bối rối :
-Tôi muốn một bức sơn dầu, khoảng 0m70 – 0m90.
-Vậy là ông cần kích cỡ hơn tác giả và trường phái?!
Người đàn ông bối rối chưa biết nói gì thì một câu hỏi tiếp, lạnh lùng:
-Ông không thích hội họa?
-Thời trẻ tôi có thích, nhưng chưa bao giờ có đủ tiền để mua một bức tranh nào!
Một nụ cười thoảng nhẹ trên đôi môi người phụ nữ:
-Thế sao?!
-Bà hỏi gì ạ?
-Như vậy rồi ông không tìm hiểu gì về tranh, về hội họa nữa ư?
-Vâng, hoàn toàn không biết gì!
-Tôi không nghĩ thế, ít ra thì ông biết thích tranh sơn dầu…
Câu nói như khuyến khích người đàn ông mạnh dạn thêm một chút:
-Tôi thích tranh sơn dầu về tĩnh vật hoặc chân dung. Với tôi, màu sắc vẫn là chính.
Người phụ nữ cười thành tiếng:
-Khó cho ông rồi, những phòng chép tranh chỉ chép toàn tranh phong cảnh để dễ bán. Ông có muốn đặt một bức theo ý mình không? Khá lâu mới lấy và giá tiền cũng cao hơn.
-Vâng thế cũng được, tôi không vội, miễn là đẹp.
Người phụ nữ nhìn vào mắt ông. Đôi mắt buồn của người đàn ông góa vợ mười sáu năm nay bỗng xuyến xao pha chút trìu mến, khiến người đàn bà bối rối, lãng tránh bằng cách lật những bức tranh mẫu trong cuốn album dày cộm…
oOo
-Bức tranh đầu tiên tôi đặt là một giỏ hoa, chép theo mẫu của Rachel Ruysch. Treo đối diện cửa sổ thứ nhất đó.
Luận nhìn theo hướng ông già vừa nói. Bức tranh vẽ giỏ hoa với màu nền tối, nhưng những đóa hoa thì rực rỡ, trắng nhạt và hồng. Mặc dù treo đối diện, ngang với cửa sổ, vẫn không sáng lên được bao nhiêu!
-Rồi những bức kế tiếp…Tôi đến phòng tranh thường hơn.
-Những bức tranh trong quán này đều do bà ấy vẽ, thưa bác?
-Ừ, trong hơn một năm, bà ấy chỉ vẽ cho tôi. Bà ấy tự chọn mẫu, còn tôi, tôi thì chỉ cần được đến đó, ngồi xem bà ấy vẽ.
-Bác đã trở thành…người giàu ?
-Tiền bán căn nhà của tôi ở Đà Nẵng, mua lại căn nhà này, mở cái quán cho con gái, tôi vẫn còn tiền để sống. Những bức tranh chép bây giờ không còn là một cái gì quá cao để tôi không thể mua nổi ! Nhưng cái chính là do… bà ấy vẽ. Ông già khoa tay quanh tường… Được mười một bức thì bà ấy không vẽ nữa !
Luận nhìn ông già định hỏi, nhưng gương mặt của ông già đã chìm trong một nỗi buồn vừa ập đến sau câu nói. Quán như trống trải hơn, tối hơn và im lặng hơn…
Bên ngoài cửa sổ, chiều xuống trên dàn hoa pháo, nơi cánh cổng nhà bên cạnh.
Im lặng, Luận nhìn vu vơ những bức tranh…
-Tôi có chuyện phải về Đà Nẵng, mười hai ngày sau trở lại thì bà ấy đã chết, bà ấy bị Ung thư đại tràng giai đoạn cuối trước khi tôi đến đó. Một căn nhà nhỏ trong hẻm sâu, nơi đứa con trai đã có gia đình ở cùng bà ấy. Cậu ta trao cho tôi một bức tranh :
-Mẹ tôi bảo trao lại cho ông và dặn ông thay khung cho bức tranh.
Luận bật hỏi và lập tức đưa mắt nhìn bức “Người đàn bà xa lạ“ của Kramskoi treo đối diện:
-Bức tranh nào ạ?
-Không có ở đây, “Bà ấy” ở trong phòng của tôi. Khi thay khung, tôi thấy bức thư của bà ấy.
Im lặng lại bao trùm căn phòng, Luận nhìn những bức tranh giờ như những mảng màu loang lỗ quanh tường, mắt anh không tập trung được vào một chỗ nào. Khi quay lại nhìn ông già, anh có cảm giác như ông đã ngủ, đầu gục xuống lọt vào đôi vai gầy…Luận rụt rè đến bên tấm thân bất động:
-Bác có …khỏe …không ạ ?
Ông già ngẩng đầu nhìn Luận, gương mặt ông như nhão ra với những giọt nước mắt. Tiếng nói của ông bất ngờ vang lên, rõ ràng, tương phản với vẻ yếu ớt của cơ thể:
-Nếu tôi trao toàn bộ tranh cho cậu, cậu có đồng ý không?
-Sao, Bác không thích nữa à?
-Tôi vẫn quý chúng như những đứa con, nhưng tôi phải vào Viện Dưỡng Lão !
-Ở đâu ạ?
-Ở Long Thành. Tôi có cô em tu ở một ngôi chùa dưới ấy. “Viện mồ côi” thì đúng hơn.
-Thế con gái bác, chị ấy?
-Tôi làm khổ nó đủ rồi. Từ ngày bị tai biến, mười sáu năm nó phải chăm sóc tôi, không nghĩ chi đến chuyện chồng con, nó trở thành gái già khi nào không hay! Giờ nó gặp một Việt kiều góa vợ, tôi muốn nó xuất cảnh theo chồng.
oOo

Cuối cùng thì chiếc xe chở hàng thuê cũng vào được con hẻm chật chội nơi căn phòng trọ. Hai ngày bận rộn với việc tháo gỡ, đóng gói cẩn thận những bức tranh, Luận ở trong tâm trạng ray rứt, mâu thuẫn. Phần thì xót xa với hoàn cảnh của ông già, đàng khác, anh mừng vì bỗng dung lại có được những bức tranh….Nghĩ đến chuyện phải treo những bức tranh này lên bức tường nham nhở của phòng trọ mà não lòng.
Không nôn nóng với những bức đã thấy hàng ngày trong quán, anh hồi hộp đặt bức tranh “Người phụ nữ đợi chết” lên bàn. Báu vật của ông già là bức chân dung một người phụ nữ trạc ngoại tứ tuần, chính là người đã chép lại những bức tranh. Bức tranh thật đẹp, trong không gian dịu dịu của buổi xế chiều, một gương mặt phụ nữ trong chiếc mũ len màu nâu trùm kín đầu, bên khung cửa sổ, đôi tay khoanh hờ hững, ánh sáng chếch tôn lên chiếc mũi thanh tú. ” Bà ấy đây sao !” Luận buột miệng không hoàn toàn là bởi nét đẹp của người thiếu phụ mà do đôi mắt buồn, đăm chiêu của người phụ nữ vẫn hài hòa được với đôi môi mỏng, mĩm cười như khinh bạc thách thức.
Một linh cảm mơ hồ đều gì đó thật buồn, thật xót xa ập đến trong tâm hồn Luận làm anh xao xuyến lo âu khi chợt nhớ lại lời ông già:
-Tôi đã “sống” với bà ấy hơn hai mươi năm. Giờ thì tôi không cần gì nữa, Tôi vào viện mồ côi nhưng rồi cũng sẽ không phiền ai… Bức thư vẫn ở đằng sau bức tranh. Cậu cứ giữ lấy tất cả, tôi không nỡ đốt nó !
Luận run run lật úp bức tranh, mở lưng tìm lá thư. Một tờ giấy gấp tư, như được dán vào khung vải:
oOo

Ngày … tháng … năm 1993.

Này, người đàn ông vô duyên !
Tôi đã nghĩ như thế từ khi gặp ông, cho đến lúc này, hơn một năm và trong những ngày cuối cùng của đời mình, khi những tế bào ung thư đã di căn và hủy hoại hầu hết các bộ phận trong cơ thể, gây nên những cơn đau thật khủng khiếp! Tôi vẫn gọi ông như thế.”người đàn ông vô duyên”.
Trước hết, tôi cảm ơn ông đã đi xa đúng lúc để tôi không ray rứt vì sao không có ông bên cạnh, không ngóng đợi trông mong như những ngày ông thỉnh thoảng bận việc, không đến phòng vẽ .
Tôi gọi ông là người đàn ông vô duyên bởi: Ông đến và làm tôi xao lòng khi vừa phát hiên ra căn bệnh chết người một tuần lễ. Tôi quyết định không phẫu thuật hay đều trị vì nó đã ở giai đoạn cuối. có nghĩa là tôi không còn sống được bao lâu!
Trong đôi mắt ông từ lần gặp đầu tiên ấy, tôi đọc được một điều là Tôi sẽ yêu ông, và ngược lại.
Nhưng ông có thấy vô duyên không khi không hề có đoạn kết trọn vẹn cho cuộc tình này. Ông vẫn không biết gì, nhưng tôi, tôi biết sẽ phải xa ông khi tình yêu vừa đến! lẽ ra lúc này chính tôi phải nhận lấy hai chữ “vô duyên” nhưng tôi vẫn gọi như vậy, bởi nó mang nghĩa định mệnh cho cả hai chúng ta. Vâng, đó là một định mệnh!
Bức tranh này tôi vẽ cho người đàn ông vô duyên của tôi, một bức tranh duy nhất tôi vẽ chứ không chép. Hai tháng sau khi đã trải qua lo âu, sợ hãi tột cùng…, thật lạ, tôi lại trở nên bình thản, chấp nhận ngày nó đến. Tôi đặt tên cho bức tranh là ”Người thiếu phụ đợi chết”. Hãy nhìn màu xám nhạt của bầu trời, ông sẽ thấy…Ông cũng cứ gọi như thế nhé.
Thông thường, người bị ung thư, đều trị bằng phương pháp hóa trị đều rụng hết tóc, tôi không hóa trị, nhưng tôi muốn ở trong tâm trạng thường trực đối mặt với căn bệnh khi vẽ, chiếc mũ len trùm kín đầu có làm ông hình dung được điều đó không?!
Không biết lúc nào thì cái chết đến để giải thoát cho tôi khỏi những cơn đau! Ôi, tôi tiếc biết mấy những phút giây gần gũi bên ông, êm đềm quá, yên bình quá… sẽ không bao giờ có được nữa!
Đau quá! Tôi… tôi… vĩnh biệt ông thôi…! Người đàn ông vô duyên.

Luận vẫn cầm là thư trong tay, với lòng dạ bần thần. Anh muốn nhanh chóng tìm đến ngôi chùa nào đó ở Long Thành, nói với ông già rằng anh sẽ thay con gái ông chăm sóc ông, cùng ông sống với những tháng ngày còn lại với các bức tranh. Nhưng anh vẫn ngồi bất động. Hình ảnh ông già ở nơi nào đó gục đầu thì thào “Tôi…tôi đến với bà đây, chờ nhé” như rõ mồn một trong đầu anh!

Trạch An -Trần Hữu Hội

(Sài Gòn , ngày 20 tháng 3 năm 2014)

Phố núi của em

npphan

Nhớ VHĐ

Phố núi của em không còn mù sương
Em bây giờ có còn môi hồng má đỏ ?
Giữa mênh mông cao nguyên nắng gió
Mãi âm vang tiếng cồng nghìn năm

Đôi mắt của già làng cứ dõi về phía xa xăm
Những cánh rừng cứ lùi dần, dần xa, xa mãi
Những buôn làng cứ buồn tê tái
Khi không còn lời vỗ về của những điệu khan

Cả màu xanh ngút ngàn của rừng núi mênh mang
Rồi sẽ thay bằng một màu đỏ rực
Màu bùn đỏ kinh hoàng chết chóc
Mùi bùn đỏ tanh nồng sẽ thành nỗi ám ảnh khôn nguôi

Một giấc mơ Chapi * vĩnh viễn xa rời
Mà cứ vẫn rung lên theo nhịp trái tim của Tây nguyên đẫm lệ
Cả màu trời cũng rồi sẽ không còn xanh như thế
Cứ khóc đi, trái tim của núi rừng yêu thương

Phố núi của em đã không còn mù sương
Thì làm sao em môi hồng má đỏ ?
Nếu một mai anh quay về chốn cũ
Liệu có còn không, một chốn cũ để quay về ?

NP phan

* Tên bài hát của nhạc sĩ Trần Tiến gắn với tên tuổi Y Moan

Buồn chi ga núi

 

truongdinhtuan

về đâu hai đường thẳng song song
đừng, ảo ảnh đùn mây nghi ngút
đừng, nhớ thêm khói chiều ga núi
{bay lên từ đâu mấy ngón tay}

ta ngồi tựa vào vách dĩ vãng
đá nghìn năm dựng cuối chân trời
em có còn thương thân ngựa ngã
ở bên rừng gọi nắng mai ơi

toa tàu rỗng cũng không chứa hết
những hoàng hôn tím lịm hoàng hôn
gùi sao hết nỗi ngày mường mán
chờ mưa rừng đếm giọt mưa xa

chẳng còn hành trang mà chất chứa
hồn như bộ lạc nằm chiêm bao
chảy về đâu cũng khe với suối
em có còn thương cỏ lao đao

trương đình tuấn

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, “Kệ các ông nói gì thì nói, chúng tôi cứ đến”

nuocmattruocconmua

JOHN DEGLER,
(Nhiếp ảnh viên tàu U.S.S. Midway)
“Kệ các ông nói gì thì nói, chúng tôi cứ đến”

Khi chiến dịch di tản “Frequent Wind” bắt đầu ngày 29 tháng Tư, chúng tôi đều ở trong một trạng thái kích xúc tinh thần. Mặc dầu cảm giác kích xúc ấy được kiểm soát, chúng tôi vẫn thấy căng thẳng, vì chắc chắn chiến dịch này là một chiến dịch hết sức đặc biệt, nó ở ngoài mức độ bình thường. Chúng tôi đều là thành viên của một lực lượng đặc nhiệm khổng lồ. Suốt đời, tôi chưa hề có dịp chứng kiến cảnh tượng có nhiều chiến hạm đến như thế và đều tập trung vào cùng một chỗ như trong những ngày cuối tháng Tư năm ấy tại biển Nam Hải.

Nhiệm vụ của tôi bấy giờ là thu hình chiến dịch để lưu trữ trong hồ sơ của tàu. Sau ngày đầu tiên, mệt nhoài, nhưng tôi nghĩ tôi đã làm một công việc tốt đẹp.

Vào sáng sớm ngày 30 tháng Tư, tôi đứng trên từng năm để thu hình tàu (từng năm là boong thứ năm kể từ boong chính). Người sĩ quan phụ tá đứng cạnh trong lúc tôi quay phim. Tôi đưa máy lướt qua chân trời bỗng thấy một cái gì như bụi lốm đốm trên ống kính. Tôi quay máy lại, lau bụi bám trên mặt kính rồi hướng máy về lại chân trời. Đầu tiên, tôi thấy một cái gì như đàn ong khổng lồ đang vượt qua mặt nước, hướng về phía chúng tôi. Nhưng khi đến gần, hoá ra là chi chít những chiếc trực thăng Hueys. Tôi bước lui, đụng phải người sĩ quan phụ tá. Anh cũng đang chăm chăm nhìn những chiếc Hueys mà nói: “Cái quỷ quái gì thế?” Rồi anh ta bảo: “Ôi, Chúa ơi” và rời khỏi từng thứ năm.

Cảnh tượng thực phi thường, bởi lẽ đột nhiên cùng một lúc tất cả những chiếc trực thăng kia bay tụ về hạm đội. Họ không liên lạc vô tuyến, không hề báo trước. Trong khoảnh khắc chúng tôi lo ngại không rõ đây là bạn hay địch. Thế rồi những chiếc Hueys rà rà bay đến, mọi người trên boong la ó, vẫy tay ra hiệu đuổi họ đi. Nhưng rồi mọi người chạy tứ tán: trực thăng bắt đầu hạ xuống. Bất cứ chỗ nào trống, họ hạ cánh. Sự rối loạn tập thể diễn ra. Mọi việc xảy ra gần như người ta muốn bảo: “Kệ các ông nói gì thì nói, chúng tôi cứ đến.”

Tất cả đều đã được theo đúng kế hoạch – cho đến giây phút ấy. Tôi bắt đầu cho chạy máy quay phim để thu hình những chiếc Hueys đang tiến đến gần. Rồi đột nhiên, tôi cảm thấy một luồng gió nóng ngay sau lưng, và tiếng “hụp, hụp” của cánh quạt trực thăng Hueys. Tôi quay lại, thì ngay sau lưng, những lưỡi cánh quạt đang quay tít, chỉ cách tôi từ sáu đến mười bộ Anh. Tôi có thể thấy rõ cả mắt viên phi công. Anh chàng này đang cố hạ xuống giữa một chiếc cần trục khổng lồ và mé thành tàu. Bấy giờ vì chiếc tàu lắc lư và những cơn gió mạnh cuốn đến, chiếc trực thăng chao đảo trong không trung hệt như một chú ong ngớ ngẩn. Tôi gần va phải sàn tàu, tôi biết không cách gì người phi công này có thể hạ xuống một khoảng hẹp như thế trong cơn gió. Thế mà anh ta vẫn cố hạ xuống.

Sau cùng, anh ta cho trực thăng lui ra. Bên dưới, người ta hoảng hốt vẫy tay làm hiệu cho anh tránh đi, vì nếu chiếc máy bay rớt xuống thì tất cả công tác di tản sẽ rối rắm, chiếc máy bay sẽ sát hại không ít nhân mạng trên tàu. Anh ta vừa lùi sang hướng khác, lập tức người ta dùng một chiếc trực thăng trên tàu để trấn ngay khoảng trống ấy hầu cho những chiếc khác đừng cố hạ xuống chỗ này.

Cảnh những chiếc Hueys hạ cánh thực không tin nổi. Những chiếc trực thăng nhồi nhét chật ních đàn bà, trẻ con. Có một chiếc, tôi sẽ không bao giờ quên, đã chất đến 53 người, chưa kể viên phi công chính và phi công phụ.

Tôi thu hình một trong những chiếc Hueys đầu tiên hạ xuống tàu. Cảnh tượng này có chút khôi hài: Viên phi công nhảy ra, đến nói chuyện với thủy thủ đoàn. Tất cả đều chăm chú nhìn vào một chiếc bản đồ. Chỉ có trời biết họ nhìn bản đồ làm gì. Trông cảnh này, có vẻ như các thủy thủ đang cố giải thích cho viên phi công hiểu là anh ta đã đi lạc, cần phải quay trở lại. Thật tức cười!

Sau khi những chiếc Hueys đáp xuống, lập tức Thủy quân Lục chiến tiến đến khoá trục quay cánh quạt, tước khí giới hành khách. Chúng tôi lúc ấy rất sợ xảy ra chuyện có kẻ phá hoại chiến dịch di tản, và nếu xảy ra thì chả cách nào chặn lại. Với quá nhiều trực thăng Hueys đổ xuống như vậy, giả thử chỉ một chiếc chở chất nổ bay đến, sức phá hoại sẽ gây thiệt hại khôn lường.

Để săn sóc cho những người tỵ nạn, chúng tôi vội vã tổ chức mọi thứ. Chúng tôi cố sắp đặt trật tự trên sàn trực thăng hạ cánh. Nhất thời, chúng tôi gặp nhiều trở ngại không lường. Các cánh quạt trực thăng quá mạnh, những người Việt lại nhỏ con, một vài người đầu tiên bị thổi trượt ngã, bay sang phía bên kia boong tàu. Do đó để giữ an toàn, chúng tôi sử dụng giây thừng để hướng dẫn, lúc họ rời trực thăng thì nắm lấy băng qua boong tàu, xuống dưới cầu thang đến trung tâm làm thủ tục. Phương pháp này giúp họ an toàn qua boong, giữ cho họ khỏi bị những chiếc trực thăng khác đụng, đồng thời ngăn ngừa việc đám đông tụ lại ở một điểm trên boong. Khi người ta dắt họ đi băng qua boong bằng sợi giây thừng, họ giống như một đàn sâu tiến ra khỏi những chiếc Hueys mà đến phía thành tàu.

Suốt hai ngày trong chiến dịch “Frequent Wind” tôi hoàn toàn đắm vùi vào công tác di tản. Tôi biết đây chính là lịch sử. Tôi biết giá trị cao độ của công tác thu hình tôi đang phụ trách, nó chẳng khác công cuộc quay cuốn phim vĩ đại “Chiến thắng ngoài biển cả.” Tôi hy vọng một ngày kia những tài liệu tôi thu được có thể đem sử dụng cho một cuốn phim tương tự. Vì vậy tôi làm công tác một cách hăng say, thâu tất cả mọi thứ vào phim. Nhưng tất cả mọi thứ chỉ đều được tôi nhìn qua ống kính, qua các góc độ và ánh sáng. Cho đến khi có một chi tiết đặc biệt xảy ra. Ấy là lúc tôi quyết định theo một nhóm người để thu hình, từ lúc trực thăng hạ cánh xuống, lúc người ta ra khỏi boong tàu, lúc làm thủ tục, khám xét, ăn uống, rồi theo một trực thăng khác để đưa sang một chiếc tàu khác nữa trong hạm đội.

Lúc ấy tôi chọn một chiếc trực thăng vừa bay tới. Chỉ một giây sau khi chiếc này hạ cánh, tôi tiến ngay đến thu hình những người vừa xuống tàu. Tôi thu hình họ bước ra, trao vũ khí mang theo, rồi được hướng dẫn băng ngang sàn bay. Tôi tiến theo họ đi dọc con tàu, lùi lại đầu kia sàn bay, nơi có một chiếc trực thăng đưa họ sang tàu khác. Tôi hạ mình thấp xuống để bắt hình ảnh họ bước lên trực thăng, cái cầu kéo lên, chiếc trực thăng cất cánh. Khi chiếc trực thăng cất lên, tôi vẫn nằm dài trên sàn bay tiếp tục thu hình, tôi cảm thấy bị sức quạt đẩy tuột về cuối sàn bay. Tôi bị đẩy suốt sàn tàu, mắc lại phía cuối, một chân thòng qua mé tàu. Tôi vẫn tiếp tục quay. Cho đến khi chiếc trực thăng đi khỏi, hạ máy xuống, mới bắt đầu nghĩ: “Chết chửa làm gì thế.” Tôi hoàn toàn quên bẵng mối an nguy của tôi, tôi đã thu hình với tất cả cảm giác về những người tỵ nạn kia. Đúng lúc ấy tôi mới chợt nhận thức tất cả ý nghĩa việc ấy, cái ý nghĩa thực sự của nó. Ngay lúc ấy, tôi đã ở trong trạng thái bàng hoàng về những hoạt động liên tục, những kích thích, vội vã, tiếng rú động cơ, sức đẩy của cánh quạt, tiếng quay của cánh trực thăng bay vào, bay ra. Nhưng đột nhiên tất cả chợt đập mạnh vào nhận thức tôi, tôi hiểu ý nghĩa của nó là gì. Chúng tôi đương cứu người. Tất cả những con người này đang tơi tả vì đất nước họ. Tất cả những nỗi thống khổ đang hiện rõ trên mặt họ. Rất nhiều người trong bọn họ đã rời quê cha đất tổ chỉ giây phút trước khi cái chết chụp lấy. Khi tất cả các công tác này xong xuôi, chúng tôi sẽ có một mái nhà để trở về, nhưng họ thì không. Vào lúc ấy, tôi hiểu tôi đang thâu hình những giây phút đầu tiên của một cuộc đời hoàn toàn xa lạ sẽ dành cho những con người khốn khổ này đây.

Tôi rất hãnh diện về công việc mà tôi đã phụ trách. Tất cả những người làm việc trên tàu Midway đều tràn ngập niềm hãnh diện sau khi công tác hoàn tất. Chúng tôi nhận ra chúng tôi đã cứu được một số không ít những người đang lâm tình trạng hiểm nghèo. Chúng tôi đã làm được một điều chưa từng làm trước đây. Mỗi nhân viên trên tàu, từ sàn bay đến hầm máy, chúng tôi đều hãnh diện đã làm việc chung trong cùng một tập thể, chúng tôi đã thành công. Sự nhận thức đó giúp chúng tôi gắn bó nhau. Có lẽ người ta khó cảm thấu được điều ấy trừ khi người ta thực sự trải qua.

Chỉ trong vài giờ đồng hồ, con tàu đã trở nên một thành phố chứa hàng ngàn người tỵ nạn. Chúng tôi săn sóc giúp đỡ họ, cung cấp cho họ đồ ăn thức uống, thuốc men và tiện ích vệ sinh. Các thủy thủ đã nhường chính giường mình cho người tỵ nạn nằm nghỉ khi họ có mặt trên tàu chúng tôi. Chúng tôi dành cho họ những sự đối xử vương giả. Tôi tìm cách nói chuyện với vài người, hỏi họ từ đâu đến. Họ hết sức khiêm tốn, biết ơn và sợ sệt. Họ luôn luôn nhắc đi nhắc lại nhiều lần những lời “Cảm ơn. Cảm ơn.” Mỗi khi chúng tôi biếu một thứ gì, hoặc đối xử lịch thiệp, họ lại tràn ngập chúng tôi với những lời cảm ơn.

Tôi cũng chứng kiến rất nhiều nước mắt ràn rụa trên mặt người tỵ nạn. Nhiều người ôm ghì lấy nhau khi tìm ra bạn hữu đến được tàu Midway. Ngày hôm đó, biết bao xúc động biểu lộ trên con tàu.

Vào giờ phút cuối của chiến dịch di tản, chúng tôi gói ghém mọi thứ, sẵn sàng rời khu vực. Tất cả đều đã được sắp xếp ngăn nắp. Trực thăng đều đã đặt vào hàng lối trên tàu. Thế rồi, đúng giây phút cuối cùng ấy, một chiếc máy bay nhỏ bé đơn độc hiện ra trên bầu trời.

Khi chúng tôi đang ngồi trên con tàu ở vùng biển Nam Hải, anh chàng này bất ngờ chẳng rõ từ đâu bay tới. Anh ta cho chiếc máy bay lượn vài vòng chung quanh con tàu. Chúng tôi không rõ anh là ai, muốn gì, vì lẽ không có máy vô tuyến để liên lạc với anh ta. Cứ mỗi lần lượn qua, anh ta lại ném một vật xuống. Ba lần hụt sàn. Đến lần thứ tư, anh ta ném một cái mỏ lết vặn đinh ốc, cái mỏ lết rơi trên sàn tàu. Buộc quanh mỏ lết là một tấm giấy viết ghi chú. Tấm giấy nói rằng anh ta là Thiếu tá Bường, anh ta có vợ năm con trong chiếc máy bay nhỏ này, anh ta muốn hạ cánh xuống sàn bay chúng tôi. Cái máy bay của anh giống như một chiếc Cessna nhỏ, loại O-1.

Ngay khi được tin, Thuyền trưởng lập tức huy động chúng tôi bắt tay vào việc. Trong vòng ba mươi phút, chúng tôi dồn tất cả trực thăng và máy bay lên mũi tàu để trống sàn bay cho Thiếu tá Bường hạ cánh. Tất cả mọi người trên tàu đều hiểu việc hạ cánh này nguy hiểm thế nào. Đó là một chiếc máy bay quá nhỏ, chở quá nặng, con tàu lại đang chòng chành giữa đại dương. Tất cả mọi người hăng hái dọn dẹp để giúp anh hạ cánh dễ dàng hơn, nhưng cuối cùng, chính anh mới là người phải tự đương đầu việc hạ cánh máy bay.

Tôi mở máy chuẩn bị thâu hình lúc anh ta bay xuống, chắc chắn chờ đợi một vụ rớt máy bay xảy ra. Nhưng rồi anh ta trôi lượn đến như một cánh chim. Máy bay nẩy lên hai lần, lăn chậm và dừng lại. Lúc ấy tất cả mọi người trên tàu ùa lên hò reo hoan hô. Chúng tôi vỗ tay, nhảy cỡn, chúng tôi quá vui mừng cho anh. Cả một đám người ào đến vây lấy chiếc máy bay, vừa vỗ tay vừa cười vang. Đám người kéo đến mỗi lúc một đông. Tôi vác máy quay phim chạy đến thu hình anh bước ra khỏi chiếc máy bay. Trong lúc anh ta đang giúp vợ và mấy đứa con bước ra, một người la lên: “Ê! Cậu học lái máy bay ở đâu vậy?” Anh chàng quay mình lại, đáp: “Texas!” Thế là cả đám đông ồ lên la ó. Chúng tôi mừng vui điên lên về anh chàng ấy.

Đấy là kết thúc chiến dịch di tản – cuộc hạ cánh của Thiếu tá Bường. Đấy là một kết thúc vui vẻ. Chúng tôi không thể nào trù liệu được cách gì tốt hơn nữa. Đấy là một chiến thắng nho nhỏ khá tốt đẹp vào giây phút cuối cùng.

Ngày ấy, tôi mới hai mươi bốn tuổi đầu. Kinh nghiệm này làm tôi thay đổi sâu đậm hơn. Trước kia tôi đã từng trải qua nhiều việc, nhưng chỉ những ngày ở ngoài khơi nước Việt mới thực sự mở mắt cho tôi. Tôi đã chứng kiến cuộc đời của những con người khác, nó đánh thức tôi dậy, nó làm tôi hiểu trên thế giới này có nhiều nơi có nhiều việc đáng khiếp sợ xảy ra. Là một người Mỹ, tôi chưa từng bao giờ có thể tưởng được những việc như thế xảy cho con người.

Sau chuyến đi, tôi có một sức mạnh mới. Tôi nghĩ tất cả những người làm việc trên tàu Midway chúng tôi đều có một sức mạnh mới. Chúng tôi khám phá rằng chúng tôi có đủ khả năng hoàn tất công việc nếu chúng tôi được giao phó. Sau những ngày ấy, chúng tôi đều trở nên trưởng thành. Tốt đẹp hơn hết thảy, là khi công tác hoàn tất, chúng tôi biết chúng tôi là những người thiện hảo, chúng tôi đến để cứu nguy. Chúng tôi đã làm những gì đúng đắn.

Khi trở về, chẳng ai nghênh đón. Nhưng bây giờ nghĩ lại, tôi ước chi người ta đã ra nghênh đón chúng tôi. Bởi vì, ước chi có được nhiều người hơn có thể biết đến những gì chúng tôi đã làm ở ngoài khơi nước Việt vào những ngày cuối cùng của tháng Tư năm ấy.

Một Ngày Của Đồng Chí Chủ Tịch

 

thegiang

Hội Đồng Nhà Nước Việt Nam
Văn Phòng Trung Ương
Thông tri số:…

Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

V/v: Đôn đốc các địa phương thi hành triệt để các chính sách:
-Cắt giảm tiêu chuẩn lương thực.
-Phân phối điện cho mỗi hộ gia đình.
-Qui định lại mức tiêu thụ nước tính theo đầu người.
-Kiểm tra chặt chẽ việc cấp giấy phép đi lại cho nhân dân (Giao riêng cho ban thanh tra chống tiêu cực Bộ Nội Vụ)
-Sinh đẻ có kế hoạch phải được thực hiện trong cả nước.
-…?

—Còn việc gì nữa nhỉ?

Người đàn ông thấp lùn tuổi trạc bát tuần, cái đầu tròn vo như cái mâm oản hai tay chắp sau lưng đi đi lại lại trong phòng suy nghĩ.

—Sắc luật mới về việc thu thuế nông công thương nghiệp thì mình đã ký rồi… Tăng giá cước phí bưu điện cũng đã… à còn việc qui định giới hạn tiêu chuẩn được phép nhận quà từ nước ngoài.

Ông ta thở phào bước thoăn thoắt lại bàn làm việc và lật trang sau của tờ thông tri.

—Đây rồi… thế thế… thằng này làm ăn cũng cẩn thận, không đến nỗi nào… Ờ, sao nó kê bao nhiêu điều linh tinh nữa thế này? Những việc nhỏ không cần để ý… đâu rồi, phần ký tên và đóng dấu đâu…?

Ông nắn nót đặt ngòi bút vào khoảng giữa hai hàng chữ ký tên và đã ký, rồi một con giun đen chậm rãi ngoằn ngoèo bò ra. Đến phần cuối của tên ký, ông phất mạnh bút cho nó bay thoắt lên.

—Cách ký tên liên hệ rất quan trọng tới vận mệnh mỗi con người. Từ ngày vẫy được đuôi của chữ “H” lên là quyền uy thay đổi, gần 60 triệu mạng người đã nằm dưới chữ ký của mình rồi.

Người đàn ông nở nụ cười mãn nguyện, dí cái kính viễn thị cho sát vào sống mũi hơn, ông từ từ ngước mắt lên đọc lại phía trên tờ thông tri.

—Gì thế này…? Cái gì thế này? “…đó là chính sách áp dụng tương tự hình thức thăm nuôi đối với tù nhân…” Sao lại dính dáng gì với tù nhân trong việc này?

Liếc xuống phía dưới, mắt ông lại đụng phải hàng chữ “Bộ trưởng Nội vụ” nằm phía trên chữ ký của mình.

—Thư ký đâu!

Người đàn ông giận dữ quát vọng về phía cửa. Ngay lập tức như đã chờ sẵn, một khuôn mặt hồ hởi bước vào:

—Có tôi! thưa đồng chí chủ tịch!

—Lại đây, lại ngay đây và đọc lên cho ta nghe anh đã viết những cái gì. Người thư ký biến sắc mặt bước gần như chạy lại phía bàn.

—Đừng có lục lọi lung tung lên như vậy, đọc ngay thứ tự của trang anh đã xếp sẵn cho tôi… Sao? Sắc lệnh qui định quyền nhận quà và tiền của thân nhân từ nước ngoài gửi về, ai cho anh ví như một hình thức thăm nuôi đối với tù nhân? Và tại sao anh lại đưa cái chức vị bẩn thỉu của thằng Bộ trưởng Nội vụ cho ta ký? Tại sao?
Người đàn ông nhảy bật người trên ghế lấy sức đập tay xuống bàn đánh rầm một cái.

—Tại sao?

Người thư ký càng lính quýnh thêm sau mỗi tiếng thét, tay run rẩy lật vội hết trang nọ đến trang kia, hai chân chộn rộn đổi chỗ cho nhau như muốn té ra quần.

—Xin thủ trưởng bình tĩnh.

—Chủ tịch Hội đồng nhà nước!

Người đàn ông gằn giọng sửa lại.

—Xin… xin đồng chí chủ tịch Hội đồng nhà nước Việt Nam bình tĩnh cho một chút, tôi sắp xếp trang có hơi lầm lẫn một tị… đây rồi… Thưa đồng chí, số là hôm qua đồng chí Phạm Hùng có nhờ tôi soạn lại qui chế đối với tù cải tạo, tới khuya mới làm xong, mệt quá nên tôi xếp lẫn sang tập thông tri của đồng chí. Còn trang tiếp của đồng chí đây.

Người đàn ông già chợt yên lặng. Xoáy cái nhìn tận đáy mắt người thư ký, ông hỏi nhỏ như tỏa hơi lạnh tử thần vào cái mặt trắng bệch:

—Anh bắt đầu làm việc cho Phạm Hùng từ bao giờ?

Người thư ký chết điếng người nói không ra hơi:

—Việc gì… việc gì, ý đồng chí muốn nói việc gì?

—Cái việc bẩn thỉu đó, việc nhòm lỗ khóa ấy.

—Không không, tôi chỉ giúp đỡ ông ấy những việc thuần túy theo chức nghiệp của mình thôi.

-Ờ… ờ, cái nghiệp cũ ấy hả… ta đã lôi anh ra khỏi cái nghề sát sinh, tắm rửa thay quần áo và mở cho một con đường thênh thang về chính trị, thế mà vẫn chứng nào tật nấy, ăn cháo đái bát, cái máu rình mò bẩm báo công an chưa nhạt được hả?

—Trời đất… thật là kinh khủng, thưa vâng đồng chí vừa có những ý nghĩ thật khủng khiếp cho tôi…
Không đợi người thư ký thanh minh ông già cắt băng vấn đề.

—Đi học thêm ba năm ở trường Nguyễn Ái Quốc nhé? Hay qua Mặt trận Tổ quốc, hoặc Quốc hội? Một trong ba nơi đó tùy anh chọn.

—Trời đất ơi… mong đồng chí bình tĩnh trở lại để cho tôi được biện bạch…

—Chọn chỗ nào?

—Chỗ nào cũng khổ cả, tôi đã từng bị ba năm giam lỏng trong trường đảng rồi, đường lối chính trị, sách lược… thuộc hết cả rồi, mới được ra ngoài thở một chút thì đồng chí lại tống vào…

—Thế thì sang quốc hội vậy?

—Tôi biết làm gì ở cái Viện dưỡng lão ấy?…

—Ý anh thích Mặt trận Tổ quốc hơn cả?

—Để rồi suốt đời tôi như thằng mõ đi cổ động đồng bào mua công trái, phát kẹo cho thiếu nhi, sửa sang nghĩa trang liệt sĩ, vận động sinh đẻ có kế hoạch?

—Anh cũng biết việc lắm nhỉ?

Ông già cười mát châm biếm, còn người thư ký vò đầu bứt tai cố moi đống giấy tờ trong cặp táp của mình.

—Đây rồi thưa đồng chí Chủ tịch Hội đồng nhà nước Việt Nam, nó đây, mớ tài liệu suýt nữa hại đời tôi đây… đồng chí đọc từ đầu đến cuối và sẽ hiểu những việc đồng chí Phạm Hùng nhờ tôi không dính dáng gì đến mục “bảo vệ lãnh đạo hết”.

Cầm mớ giấy tờ trên tay, ông già chiếu cái nhìn trắc nghiệm vào người cộng sự của mình.

—Được, ta sẽ đưa thư ký đọc kỹ lại rồi báo cáo; ấy, không được, việc này liên quan đến tư cách của anh, phải giao cho thư ký Hai. Mà anh đã kịp liên minh ma quỉ gì với nó chưa, hay lại móc ngoặc với nhau rồi báo cáo láo. Thật không còn tin ai được nữa.

—Tốt hơn hết xin đồng chí đọc ngay tại đây để có gì thắc mắc tôi còn được giải bày…

Người thư ký vật vã van xin, và ông già đành chấp thuận.

—Ừ… ừ, cũng chưa có gì tệ hại đến phẩm chất đạo đức của anh. Thôi được, một sự hiểu lầm, anh có thể quên nó đi được ròi… người già tính hay xúc động, anh hiểu đấy.

Thoát khỏi cơn hiểm nghèo, mặt người thư ký tươi rói như củ sâm sống. Xoa hai tay vào nhau, anh lấy lại vẻ hồ hởi:

—Còn công việc ngày mai tôi đã sắp xếp xong, xin đồng chí xem qua rồi tự quyết định cho.

—Ta đã ký rồi, anh đóng dấu rồi trao cho các cấp hộ. À này, vụ quà cáp ấy ta nghe nói trong Nam có người được bốn năm lần nhận là sao vậy?

—Thưa đồng chí tôi đã liên lạc với thành ủy thành phố Hồ Chí Minh, họ giải thích sở dĩ có lần thứ năm là nếu các hộ gia đình nghiêm chỉnh chấp hành luật nhận quà thì được hưởng thêm một lần nữa.

—Á à, bậy thật; thằng Mai Chí Thọ lại định qua háng trung ương đây, cái mầm cục bộ địa phương ấy đánh chết vẫn không chừa. Nói cho biết là đồng bào miền Bắc cả đời không có một thùng quà nào mà họ vẫn sống, vẫn xây dựng chủ nghĩa xã hội nghe chưa!

Thấy cơn lôi đình có cơ tái phát, người thư ký vội dạ vâng cho xong chuyện.

—Còn bài viết “Chống tệ nạn quan liêu trong đảng” của ta anh gọi điện cho thằng Hồng Hà biết tự nó phải lên trang lấy, xếp trọn bài ở trang một chứ đừng ngắt ra trang hai, ba như tuần trước là biết tay ta đấy.

—Thưa đồng chí, anh Hồng Hà mới đi Praha dự hội nghị Tổng biên tập các báo đảng anh em ngày hôm qua

Ông già lại bực bội hừ trong họng.

-Ta lại phải thân chinh xuống báo Nhân Dân tối nay rồi. Không thể nhờ cậy thằng nào được. Việc thì bù đầu.

-Nếu đồng chí cho phép, chiều nay tôi sẽ xuống báo chỉ đạo số ra ngày mai.

Người thư ký ngước mắt thăm dò.

-Không được, anh phải giúp ta chuẩn bị bài nói ngày mai trong cuộc họp chống “Mao ít” trung ương.

—Thưa đồng chí, nếu tôi không nhầm thì tuần trước đã họp rồi, mai lại họp nữa?

-Họp, họp nữa, họp mãi! Chủ nghĩa Mao nó ngấm vào tận xương tủy các anh rồi, ta phải quằn cho tróc da trầy vảy may ra mới nhả hết độc được.

-Nếu vậy thì tôi xin phép được đi gọi điện thoại một chút.

—Để làm gì?

Ông già cau mày hỏi.

-Tôi dục thợ may sửa nhanh bộ complet cho đồng chí kịp mai đi hội nghị.

-Sao? Lại dở cái trò ma quỉ gì ra nữa đây? Ta hết không còn quần áo gì hay sao mà phải may vội như chạy tang thế?

—Thưa không phải vậy đâu ạ, số là quần áo của đồng chí toàn loại “đại cán”…

—Lại dùng Hán văn rồi!

Ông già bực bội ngắt lời.

—Thưa toàn loại áo Tôn Trung Sơn…

-Tôn Trung Sơn người Việt Nam hả?

-Dạ dạ,… áo “cán bộ” ạ, thưa đồng chí, chả là dạo này một số đảng viên thoái hóa xì xào loan truyền rằng đảng ta có ông “Mao nhiều” lại làm trưởng ban chống “Mao ít” cho nên đồng chí tạm không mặc cái áo Mao trong cuộc họp chống Mao ngày mai thì có lợi hơn không ạ…?

-Láo! Cái bọn phong kiến quân phiệt này ăn phải bã hình thức chủ nghĩa rồi; “nội dung quyết định hình thức”, anh ghi ngay vào, ngày mai ta sẽ cho thảo luận lại đề tài này trong cuộc họp cho đến khi nào thông mới thôi.

Hai tay chắp sau lưng, ông già giận dữ nện gót giày quanh phòng. Thấy nguời thư ký đang há hốc mồm vì kinh ngạc, ông gầm lên:

—Còn cười hả? Cút ngay khỏi mắt ta cái thằng phù thủy này!

Người thư ký cuốn nhẹ ra ngoài như chiếc lá bay, song vẫn không quên đóng cửa lại.

Thế là hết một ngày làm việc.

THẾ GIANG

TƠ VẪN CÒN VƯƠNG.

tranvannghia

Tôi về nhặt dưới sân rêu
Mảnh đời du thủ với nhiều ăn năn
Nhớ đêm , nhớ chỗ ai nằm
Gió tưng tửng ghẹo vầng trăng dại khờ

Dỗ dành tìm đến giấc mơ
Có em mềm mại cánh cò trú đông
Có hương ruồng rẩy nội đồng
Lang thang mây khói qua sông chẳng về

Nhớ tình giũ áo phu thê
Mênh mang sương phố nhập nhoè đường xưa

Tôi về nhặt dưới sân mưa
Bóng nghiêng lầm lũi theo mùa đang qua

TRẦN VĂN NGHĨA