Những hành trình đơn độc

nguyentri

 

Đường. Hai mươi sáu tuổi. Đẹp trai. Luôn gọn gàng lịch sự kể cả khi ngồi trên dàn giáo để xây tô dán gạch chạy chỉ. Làm cái nghề tiếp xúc với vôi vữa mà Đường sạch bong. Đi làm cũng mặc áo trắng. Đường cũng trắng mới là kỳ. Đó là khi đi làm. Còn chiều về, Đường trên Honda ung dung ra quán ăn. Độc thân phải công nhận là sướng thiệt.
Chiếc 67 của Đường phải nói là dân chơi toàn quốc phải trầm trồ. Nó đẹp, bóng loáng và êm như mơ. Đang chạy bóp côn tay rồi nẹt, tiếng của nó nghe như tay ca sĩ nào đó đang nổi hét rằng xin lỗi em ngàn lần xin lỗi em. Dân chơi so sánh vậy chứ Đường thì không hề khoe xe ngon đâu nghe. Có dân chơi con nhà giàu xin mua lại chiếc xe những bốn cây vàng nhưng chỉ nhận được cái ánh mắt hững hờ của thợ hồ Đường. Nhiều em xinh xinh phụ hồ thích anh chở em đi chơi lắm, đi nhà nghỉ không chừng các em chịu luôn. Đường có lắm cái để các nàng xin kết trăm năm. Ngon lành nhất là công thợ, người ta ngày hai trăm rưởi Đường những ba trăm, chả ai dám so bì vì Đường quá giỏi trong lĩnh vực xây dựng. Người vậy không mê thì mê ai? Nhưng Đường vẫn lạnh như tiền.
Đường lại không bù khú nhậu nhẹt. Mười giờ đêm đã pho pho trên võng. Bốn giờ sáng ghé cà phê cóc làm li đen không đường đấu láo cùng chủ quán là Tư Thâu. Tư Thâu cũng độc thân. Nhưng độc của Tư khác với độc của Đường. Thâu vui tính, cười cười nói nói suốt, bà con gọi Tư Ba Lơn. Đường, ngược lại cả ngày không ra được mươi câu. Lại không rượu nên phục cho vô vài ly mà moi bí mật là dân chơi bó tay. Đường là dân tha phương theo công ty xây dựng đi từ Lạng Sơn đến Cà Mau. Rày đây mai đó nên ở xứ này mày muốn hay không nói cũng mặc kệ mày đi con. Uống cà phê quán tao là được rồi:
– Phẻ mậy? – Tư Thâu hỏi.
– Dạ phẻ chú.
– Đen hả?
– Dà… cho cái đen.
– Bữa nay chủ nhật không làm hả?
– Dà…
– Tao thấy tụi nó tăng ca cho kịp tiến độ. Mày chủ chốt lương cao không làm Thầu nó không cự à?
– Con xưa nay không làm ngày chủ nhật.
– Ngày của Chúa hả?
– Con đạo Phật.
– Tao hơi nhiều chuyện tí. Nói mày đừng buồn nghe.
– Chú nói đi. Con không dám buồn đâu.
Tư Thâu không cà phê. Rót cho mình một ly xây chừng rượu đế dầm chuối hột đen thui trước khi hỏi:
– Khààà…. quá đã rồi quy ơi… Tao nghe bọn thợ nói mày đêm nào cũng đi cà phê đèn mờ. Chủ nhật nào cũng ghé quán ôm. Tuần mày thu triệu tám xài vậy sao đủ con trai?
– Bọn nó biết gì chú Tư ơi. Con có chừng có mực lắm.
– Đêm nào cũng đi sức đâu chịu cho xiết mậy?
– Uống có chai nước thì mất mát chi chú?
– Mày làm như tao không biết ôm iếc với mát xa mát xiếc là chi. Chú mày đây rành lắm a con.
– Chú khác con khác. Con vô quán kêu chai c2, cho đào chai nữa ba chục ngàn là hết phép
– Mày tới ôm iếc mà vậy ai tiếp mầy lần hai?
– Ai biểu đến lần hai.
– Vậy mày đến chỉ để uống xê 2 thôi hả? Vậy uống ở đây cho tao nhờ. Mày nói tao nghe không lọt tai. Nói lại đi con.
– Chú không tin thì thôi.
Thôi thì thôi. Vậy rồi mạnh ai nấy uống cái mình thích. Nhưng Tư Thâu đã nói là ba lơn lắm. Yên lặng là không chịu được lại hỏi tiếp:
– Mày tính chừng nào lấy vợ?
– Chưa biết. Chừng nào xong việc rồi tính.
– Làm hồ biết chừng nào mới xong. Mà theo tao khỏi lấy vợ chi cho mệt mày ơi. Gái gú khối cha gì. Thích thì ăn bánh trả tiền cho nó phẻ.
– Cho hỏi chú một câu được không?
– Cứ tự nhiên.
– Sao ông không vợ con chi hết vậy?
– Làm nửa ly rồi tao kể chuyện vợ tao cho nghe. Chuyện tao không có tí men nghe không bốc đâu. Rượu của tao là nếp cái dầm chuối hột uống bổ lắm đa con.
Đường nâng cái xây chừng làm nửa ly. Cũng sành điệu lắm chứ không phải lơ mơ, chứng tỏ rằng với rượu ta đây không hề lạ, chẳng qua không uống mà thôi. Nhận cái ly Tư Thâu bước lại bên bình rượu múc đầy, nốc sạch rồi múc thêm ly khác đặt trước mặt bạn trẻ:
– Tao tù về ghé vô một rượu đế ôm, gặp một em ba mấy xuân. Em khóc lóc thở than về đời đen bạc. Nào yêu bị bồ đá. Bị cù rủ đi bán cà phê. Bị bán vô nhà chứa vân vân. Hết duyên ghé xứ ruộng bán cà phê ôm. Già quá bọn trẻ chê đành phải vô đế ôm bán cái xuân tình cho bọn già goá vợ… Thấy nàng khóc tao cám cảnh nên lôi về đây làm vợ. Tao phụ hồ nàng bán cà phê cóc. Chắc là nàng thấy tao hẻo quá nên lại bỏ ra đi. Buồn tình tao ở vậy nuôi thân. Mà mụ nội cha nó cái cuộc đời, tao vầy ai muốn bá vô mà trăm năm hả mày? Thôi thì rượu chuối hột muôn năm. Còn mày? Làm thêm ly nữa đi. Mày theo công ty nầy qua mấy tỉnh rồi?
– Chừng chục tỉnh chú ơi. Nhưng nước mình là tui có mặt khắp rồi đó nghe. Chiếc 67 nầy theo tui đi cùng hết. Tui đang kiếm mớ tiền phi qua Thái lan cho biết. Ba cái đèn mờ bên biên giới Trung tui cũng đến rồi nghe.
– Mày qua mấy xứ đó để tế ông tế bà tao à?
Đường làm cạn ly rồi thở dài:
– Tui đi kiếm người chú Tư ơi.
– Kiếm ai? Vợ bỏ theo trai hả?
– Tui kiếm con em gái.
***
Em gái Đường tên Đi. Người quê họ đặt tên con vậy cho dễ nuôi. Nhà có hai anh em nên cha má yêu lắm, nhất là cô con gái. Đường vẻ ngoài trông hiền nhưng quậy lắm. Lợi dụng gia đình nghèo khó, lớp năm tự nghỉ học. Mười tuổi phụ cha mẹ trong tất cả mọi việc kiếm tiền cho Đi học hành. Mười lăm tuổi Đi vào lớp mười. Năm đó Đường hai mươi tuổi và có một bề dày trong nghiệp làm hồ những bảy năm. Sỡ dĩ cho đến hôm nay Đường là thợ chiến đấu là nhờ biết cầm cái bay xây tô từ năm mười bốn tuổi. Một mình Đường đủ nuôi cả nhà ăn ngon mặc đẹp. Ông cha bà má lại chịu thương chịu khó nên tuy không ruộng đất nhưng vẫn cấy hái thuê. Đi đến trường chả thua chị kém em một lai nào. Cô lại có cái nhan sắc hơn tất cả.
Một hôm kia Đi không về.
Đường đang trên dàn giáo phải tuột xuống và suốt cả tuần sau đó là một cuộc truy tìm cô gái nhỏ. Đường và cha má đích thân lên tận huyện báo về vụ mất tích nầy. Nhà trường cũng báo rằng hôm ấy Đi có đến lớp và cùng bè bạn ra về sau tiết cuối. Đi đâu? Làm chi ngoài cổng trường làm sao nhà trường quản lý được? Công an bảo gia đình bình tĩnh, yên tâm. Tất cả đang làm hết chức năng của họ để truy cho ra cô gái. Nhưng. Cô bé vẫn bặt tăm.
Đúng một tháng bà má tội nghiệp đổ bệnh. Và rồi buồn quá. Làm sao mà không buồn, không âu lo, không cháy bỏng ruột gan khi đứa con gái bé bỏng mẹ yêu như trái tim mẹ nay không thấy bóng hình. Bà má kêu gào thảm thiết Đi ơi con đâu? Con đâu rồi? Làm sao má sống được con ơi. Bà cứ kêu suốt và chẳng ăn uống chi. Một tháng như vậy và bà chết. Kế tiếp là ông cha. Con gái mất. Vợ chết tức tưởi. Buồn quá ông nâng chai thuốc trừ sâu và đi luôn. Đường về nghe mùi thuốc nồng nặc khắp nhà. Cái nhà đang hạnh phúc đề huề bổng tan tành theo kiểu thê lương nhất:
– Trời ơi – Tư Thâu kêu lên – Bi thiết vậy sao? Không ai biết con nhỏ đi đâu à?
Đường lau nước mắt:
– Con đau khổ suốt sáu năm nay rồi chú. Con phải tìm cho ra con nhỏ. Truy cho ra căn nguyên con mới chịu. Một con bé mười lăm tuổi cả đời ở quê, lại ngoan hiền, học giỏi. Nếu có chết thì phải có xác chớ. Đúng không? Vậy là con tìm đến nhà thằng Bảy Tài.
– Bảy Tài là thằng nào?
– Thằng nầy kiếm tiền bằng cách mối giới gái quê lấy chồng ngoại.
– Nó bảo sao?
– Nó nói tao môi giới chứ bắt cóc thì cả tấn vàng cũng không dám. Vậy là con tìm đến nhà bà Chín Bông…
Chín Bông là em gái Tư Lài. Tư Lài là vợ của cựu phó chủ tịch huyện về vườn vì tiêu cực chi đó. Chín Bông bốn mươi tuy không chồng con nhưng bồ bịch qua cũng dăm bảy xác đàn ông. Lúc nào cũng là lượt thơm phức mùi nước hoa và móng tay mỗi ngày một màu sơn. Chín Bông sống bằng cho vay và cũng có môi giới hôn nhân như Bảy Tài:
– Em mày hả? – Chín Bông cong môi – làm sao tao biết? Mày hỏi tao là ý gì vậy?
Bực quá Đường gằn giọng:
– Em tôi mất tích, ba má tôi chết. Hỏi vậy có sao không?
Vậy là mồm loa mép giải Bông lô loa lên kiểu cả vú lấp miệng em. Nào ý mày là tao bắt cóc chớ gì? Ê nói phải có bằng chứng à. Không là tao xé mặt à. Đừng có ghẹo tao nghe con vân vân… Đang lúc đủ thứ bực Đường điểm mặt cái loa phóng thanh:
– Nếu em tao không chết sẽ có ngày tao truy ra nó. Đến lúc đó bây đừng trách tao.
– Tao thách mày đó. Cứ truy đi. Có chị mới sợ em ơi.
Vậy rồi gom góp hết tất cả có trong nhà Đường mua chiếc Honda 67. Anh bắt đầu một cuộc rong ruỗi đầy bắt trắc và hiểm nguy để truy tìm cô gái tên Đi. Đường xin vô công ty xây dựng nầy để nhờ vào tính luôn luôn di chuyển của nó. Ở bất cứ nơi nào Đường cũng tìm đến những quán đèn mờ, những khu vực mát xa thư giản. Đó là lý do đến xứ nầy đêm nào, chủ nhật nào Đường cũng đi như một thằng biến thái. Anh kêu chai nước, cho một cô bất kỳ chai nữa. Đến mát xa anh chung tiền vé phòng. Cho phục vụ tiền xoa bóp thông thường còn đặc biệt thì không. Có hao tốn một tí nhưng Đường chịu được nếu tính toán kỹ. Chỉ duy một mục đích tìm em gái:
– Sáu năm rồi chú Tư. Con đi từ Bắc vô Trung vô Nam qua cả K cả Lào mà đến nay vẫn bóng chim tăm cá chú ơi.
– Hay là nó chết đâu đó rồi?
– Nếu là vậy con đỡ đau khổ hơn. Tưởng tượng một con bé mười lăm tuổi bị bắt làm nô lệ tình dục là con đứt từng đoạn ruột chú ơi.
– Mày cứ xem như nó đã chết cho lòng yên ổn hơn.
– Nhưng con biết em con chưa chết.
– Sao mày biết?
– Con linh cảm vậy. Và linh cảm em con đang bị đày đoạ.
Tư Thâu chép miệng:
– Mày cứ tưởng tượng cho cố vô rồi tự khổ với cái tưởng của mình. Chú Tư của mày đây rành đời lắm con. Chú mày biết rất nhiều nhỏ cũng bị sa vô bùn nhưng rồi bình thường hết con ơi. Mày qua nhiều xứ có thể rành hơn tao. Cái gì rồi cũng quen hết con à… Tao hỏi nè. Nếu gặp lại em gái mày sẽ làm sao?
– Chắc chắc con sẽ đem nó về để làm lại cuộc đời.
– Tao mong mày gặp lại em gái. Thành thật mong… Mà thôi… làm ly nữa đi con.
Hai tháng sau Đường từ giã Tư Thâu dù công trình chưa hoàn tất. Anh đi vì tất cả những quán đèn mờ và mát xa ở khu vực lân cận đã sành. Đường dễ thương và sành điệu nên khi đi cũng có vài tiếng thở dài của đủ thứ tình đưa tiễn. Tiếng thở của Tư Thâu dài nhất.
***
Và sáng hôm nay cả quán cà phê cóc Tư Thâu dậy sóng ba đào. Nguyên nhân của cơn sóng bắt đầu từ bản tin của một tờ báo. Mà không. Cái hình in báo mới làm cư dân trố mắt ngạc nhiên. Cái mặt của kẻ thủ ác Nguyễn Văn Đường chình ình trên trang nhất. Nếu không có cái hình nầy chắc dân đây cũng chẳng biết chi. Xưa nay báo chí xứ ruộng nầy người ta mua ký về làm công chuyện chứ ai hơi sức đâu mà đọc. Tờ báo được chuyền tay. Mẹ ơi – ai cũng chép miệng – cái thằng ngó hiền hiền vậy mà giết một lúc cả hai mạng người. Ghê quá trời đất ơi. Dã man nhất là kẻ thủ ác đã dùng dao Thái đâm người đàn bà tên Bông nhũng mười một nhát. Bài báo không nói chi tiết. Nhưng kẻ thủ ác bị bắt tại trận. Con em gái nó khóc như mưa.
Tư Thâu rúng động toàn thân. Già tội nghiệp vội đóng của quán gom ba đồng bạc vụn leo lên xe buýt. Qua xe đò, qua phà, qua luôn cầu dây văng mò đến cái tỉnh nơi có cái ấp kẻ thủ ác sinh sống để tìm hiểu ngọn ngành. Nhưng mà tội trạng lớn quá người thân còn không được thăm gặp nói chi người dưng nước lã. May quá. Người ta chỉ cho Tư Thâu cô gái tên Đi em ruột của Đường. Cô gái ngụ trong ngôi nhà te tua xơ mướp. Ngoài nhìn thấu trong và cả nghìn bóng nắng hình hột vịt lỗ chổ khắp nhà. Tuy nhiên nó được quét dọn rất sạch:
– Con là Đi đây hả? – Tư Thâu hỏi.
– Dạ. Chú ngồi chơi.
– Chú thân với anh con lắm. Anh con có tâm sự với chú về con, về ba má con cho chú nghe. Anh con nói đi tìm con cả bảy năm rồi. Thằng Đường gặp con ở đâu?
Cô gái nói cô được giải thoát khỏi bàn tay bọn buôn người xuyên biên giới. Cô được đưa về nhà và gặp anh trai và hay rằng cha mẹ đã mất. Cô dại dột tâm sự với anh trai rằng cô bị Chín Bông cù rủ ra thị xã rửa chén cho quán ăn kiếm tiền cho niên học mới. Ai ngờ cô bị đưa đến nhà anh rể của mụ. Thằng già dịch biến thái đã phá hoại đời con gáí của cô. Cô bị làm nô lệ tình cho hắn suốt một tháng. Sau đó mụ Bông đẩy cô ra biên giới và từ đây cô bắt đầu đời lưu lạc.
Đường nghe xong và chuyện đã xẩy ra. Cô gái thút thít:
– Con muốn chết quá chú ơi. Sao mà con dại dột quá. Anh con liệu có bị tử hình không chú?
– Chú không biết.
Và trong căn nhà vắng lặng một già một trẻ cùng nhau khóc. Trời ơi – Tư Thâu rấm rứt – Có ai ngờ sáu năm vất vả ngược xuôi để có được một phút gặp gỡ rồi lại phải thế này sao hỡi trời cao?
Nhưng trời cao ngất.
Nguyễn Trí

Lò bát quái

nguyenhoanganhthu

Hắn đang ở trong một cái lò nung, hắn tha hồ nuốt lửa. Hắn phải cố nuốt thật nhiều mới hết lửa được trong cái lò nung này. Hắn sợ từ đây đến chiều người ta sẽ không cho củi vào nữa.
Những chiếc đồi trọc ở ngoài kia rồi cũng được người ta cho vào nấu quặng. Có hôm hắn nhìn người ta đúc thành những chiếc Lexus. Hắn thấy người ta lái chiếc xe màu đất đỏ ấy ngoằn ngoèo qua các rảnh phố. Bụi mù, phủ đỏ không biết bao nhiêu khuôn mặt người, những khuôn mặt tượng bên cạnh những khẩu súng hiên ngang, cả những hài nhi còn trong bụng mẹ chúng cũng đang liếm láp bụi đỏ dính quanh cuống rau. Người ta trố thật to những đôi mắt nhìn.
Những nhà máy đồng loạt hì hục nung. Người ta cũng sợ hết than như hắn. Người ta nung đủ thứ: những núi xe nôi chất cao, những núi tả lót, những bình sữa lềnh bềnh trong cái bể nước to, những núi vật dụng ( tivi, tủ lạnh, giày dép… gì cũng có). Người ta nung như hắn đang bị nung. Hắn thèm lửa.
Hắn thấy những chiếc ô tô màu đỏ ấy có lần lên miền cao, họ chở vài thứ ấy lên ban phát cho những bà mẹ trẻ em trên ấy. Họ đứng bu quanh, miệng liếm láp, thưởng thức mùi vị màu đỏ hiện đại. Đúng thật, nó có mùi vị thật khác, mùi của khói đỏ cay xè.
Hắn đang ở trong ấy, lửa phần phật cuộn vào người hắn, kích thích hắn, hơn tất cả các cảm giác của rượu mạnh hay chất kích thích nào mà hắn đã trải qua. Hắn đê mê. Đôi mắt ngây ngây dại dại thưởng thức. Thỉnh thoảng hắn lại giật mình. Không lẽ đến chiều người ta sẽ không có củi cho vào.
– Đây là lò bát quái của Thái Thượng đấy, mày đừng lo, nó sẽ đỏ mấy tỉ năm nữa, không hết lửa đâu – tiếng từ trên cái miệng lò vọng xuống.
Hắn cảm thấy yên tâm. Hắn ôm lửa và mặc sức nghiền nó thành những thứ bột li ti siêu nhỏ, đến nỗi hắn không thể nhìn bằng mắt được. Hắn nằm thẳng tay thẳng chân khoan khoái hít cái mùi bột ấy. Hắn định sẽ ở yên vị trong cái lò này khoảng mấy trăm năm nữa.
– Linh đan đâu, đã có chưa?- có tiếng người nói ở ngoài.
Hắn mơ màng chực tỉnh. Người ta đang luyện cao người. Người ta định đúc cao người với những khoái vị của lửa để làm thuốc trường sinh bất lão. Hắn ngờ ngợ.
Dãy phía trước mắt hắn là một loạt những lò bát quái. Người ta đang nung những kẻ khoái nuốt lửa như hắn, có cả trẻ con. Hắn thấy những đôi mắt lim dim, ngây ngây thưởng thức. Lửa cuộn vào người họ, cảm giác mê hoặc như bị lửa thôi miên. Họ cười, họ hả hê, họ bơi trong lửa. Như hắn.
Cái lò nung của hắn đã lạnh, người ta không cho thêm lửa. Hắn rùng mình. Từng đốt xương vụn vỡ rơi xuống cho đến khi lần cuối hắn nhìn thấy mình là một đống bột trắng khô.

NGUYỄN HOÀNG ANH THƯ

NHỮNG CON SÂU ĐO

linhphuong

Tưởng chừng có tiếng gió vọng mây ngàn
Cuốn chìm em vào cơn khát
Ngày gặp nhau mặt trời nghiêng treo bờ ngực
Trần trụi giọt mồ hôi
Những con sâu đo cuộn mình bò qua giấc mơ
Bò qua cánh đồng em bất tận
Cánh đồng bạt ngàn màu sen nõn
Hơn hớn dưới đáy chân không

Êm ái bằng nhung
Những con sâu đo cuộn mình lên ngọn đồi cao
Tìm viên đá tênh hênh mang hình hạt đậu
Giấu vào khoang sinh mùi sữa dậy thì
Đôi môi anh dày – đôi môi người đàn ông tình si
Hôn hết cánh đồng em ngủ đông bất tận
Hôn hết khu rừng sinh thái ngập mặn
Và đọc câu thần chú : – Vừng ơi !

Vừng ơi !
Hôn ba lần vùng hương đàn bà mở ngõ
Vị giác chạm đáy càn khôn bùa ngải
Con bướm lạ xập xòe hồn nhiên mơ mộng
Ngần đó bao nhiêu năm ?
Em đánh mất quãng đời trinh trắng
Thời nhu nhú cau non
Mơn mởn bầu nhũ hoa con gái

Tưởng chừng ngày gặp nhau hôm ấy
Anh ngã sấp lên em
Rồi giấu mặt vào chỗ dịu êm
Tự phạt mình nghìn lần hít đất
Cơ thể em nóng hâm hấp
Nhấp nhô đôi bờ lá ngọc
Mưa cam lồ tưới mát
Thung lũng ruộng bậc thang mỹ miều

Những con sâu đo cuộn mình phách lạc hồn xiêu
Trên vùng bình nguyên bất động
Trắng ngần
Mùa tình khai hoa nở nhụy
Anh và em trở về nguyên thủy
Khi chúng mình yêu nhau
Yêu nhau
Yệu nhau…

LINH PHƯƠNG

GỐI ĐẦU VÀO ĐÂY MÀ NGỦ

tranthienthi

gối đầu vào đây mà ngủ
đường xa non nước Cao Bằng
gối đầu vào đây mà ngủ
đời còn nhiều chặng ăn năn

giang hồ ta chỉ thằng hóng hớt
chẳng thiết núi sông chỉ mê người
ngàn dăm biên cương
ngàn dặm máu
rượu xoay chừng
đổi lấy em thôi

con ngựa trắng hôm nào ven suối
vẫn nhẫn nha gặm cỏ đợi người
em đứng làm gì ven núi biếc
đau lòng tìm dấu cánh đào phai

ngô đã sắp mùa thơm rượu mới
ta về náo nức buổi non xanh
nâng chén với ta nào đá núi
đêm dọn giấc khuya ở chân ghềnh

đêm nay ngủ tạm ở Pác Ngoài
ngày mai ta cõng em đi thôi
Đèo Giàng
Đèo Gió
trời đông bắc
đất nước là em thơm hơi ngừoi

giặc dữ có tràn qua Bản Giốc
này em cầm lấy bàn tay tôi
mất là đánh mất làn hơi ấm
mẹ gởi em về giao cho tôi

ngàn dặn biên cương ngàn thước máu
buổi em về
bé mọn một bàn tay
em có trái tim hòng ngọn lữa
gươm liễu liêu xiêu cặp chân mày

ta nợ Cao Bằng một bài thơ
nợ người ngã xuống buổi hôm nao
rượu giữa chừng khuya mà tỉnh giấc
giang hồ ta
mà đất nước nào

trần thiên thị

AI LÀ “BÊN THẮNG CUỘC”?

vulinhchau

Tuy đã được nghe biết rất nhiều ý kiến về nội dung cuốn sách “Bên Thắng Cuộc” này, nhưng vì chưa từng đọc qua, nên xin được miễn bàn về nội dung cuốn sách.
Không biết nội dung cuốn sách chứa đựng những gì, trúng trật ra sao.
Nhưng tôi biết chắc chắn rằng cái đầu đề của cuốn sách, cái tên của cuốn sách “ BÊN THẮNG CUỘC” là sai, HOÀN TOÀN SAI, nếu cụm từ “bên thắng cuộc” này là để dành cho Miền Bắc VN và phe Cộng Sản quốc tế.
Trong cuộc chiến tranh Việt Nam, BẮC VIỆT VÀ KHỐI CỘNG SẢN QUỐC TẾ KHÔNG PHẢI LÀ BÊN THẮNG CUỘC”.

Kính thưa qúi vị,Theo định nghĩa thông thường:
– Kẻ thắng trận là kẻ đạt được mục tiêu của cuộc chiến.

– Kẻ bại trận là kẻ không đạt được mục tiêu của cuộc chiến.

Từ định nghĩa đó, mọi người có thể dễ dàng đi tới kết luận là Cộng Sản Miền Bắc và CS quốc tế không phải là “Bên Thắng Cuộc” vì họ đã không đạt được mục tiêu của cuộc chiến tranh Việt Nam do họ gây ra.

Như vậy, muốn phân thắng bại, muốn biết ai là “Bên Thắng Cuộc” trong cuộc chiến VN, chúng ta cần phải biết rõ ràng về mục tiêu của cuộc chiến tranh này là gì.

Hai phe đối nghịch trong Chiến tranh Việt Nam là:

– Một bên là Hoa Kỳ, Thế Giới Tự Do và Việt Nam
Cộng Hoà.
– Chiến tuyến bên kia là Nga ,Tầu, Thế Giới Cộng Sản
và Miền Bắc Việt Nam.

Như mọi người đã biết, đất nước Việt Nam chúng ta có một vị trí chiến lược vô cùng quan trọng trên bản
đồ thế giới. Chúng ta vừa là “Bàn đạp để tiến vào Châu Á, vừa là bao lơn trông ra Thái Bình Dương”.
Riêng vào thời gian đó, Việt Nam, không những là nơi chế ngự con đường hàng hải huyết mạch của thế
giới tại Biển Đông mà còn là một địa điểm chiến lược để án ngữ làn sóng đỏ của cộng sản, nhất là CS Trung Hoa tràn xuống miền Đông Nam và Nam Châu Á. Cho nên Việt Nam mới được gọi là Tiền Đồn Chống Cộng của Thế giới Tự Do.

Tuy những điều nói trên đã được nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần, hầu hết mọi người ai ai cũng đều đã biết, nhưng vẫn xin được đi vào chi tiết hơn một chút nữa. Như chúng ta đã biết, dẫy núi Hi Mã Lạp Sơn là một trong các dẫy núi cao và hiểm trở nhất trên thế giới. Đặc biệt, dẫy núi này lại có chiều cao gần như liên tục, chạy dài suốt từ Tân Cương, Tây Tạng tới biên giới Lào-Việt, gần như không hề có một ngọn đèo thấp nào để dễ dàng băng qua. Ngày nay, với các phương tiện kỹ thuật tối tân, Trung Quốc vẫn còn gặp phải rất nhiều khó khăn trong việc thiết lập được những đường giao thông từ Trung hoa băng ngang qua dẫy núi cao chót vót này để tới các nước Án Độ, Miến Điện, Thái Lan, Ai Lao… cũng như để thóat ra Ấn Độ Dương. Huống chi là vào thời gian của thế kỷ trước. Vào lúc đó, con đường thuận lợi và dễ dàng duy nhất để đi tới các quốc gia tại Nam và Đông Nam Châu Á là con đường băng ngang qua lãnh thổ Việt Nam. Tại vì khi tiếp giáp với biên giới Hoa – Việt thì dẫy núi Hy Mã Lạp Sơn này đã không còn hiểm trở nữa. Chính vì vậy mà một đường hỏa xa đã được thiết lập để vận chuyển hàng hóa từ cảng Hải Phòng vào các vùng đất Miền Nam Trung Hoa.

Tóm lại vì đất nước chúng ta có một vị trí chiến lược vô cùng quan trọng như vậy, cho nên:
– Khối Cộng Sản quốc tế, nhất là Trung Cộng và Nga Sô, đã quyết chiếm cho bằng đựợc .
– Hoa kỳ và Thế giới Tự Do cũng phải cương quyết bảo vệ bằng mọi giá.
Như vậy, mục tiêu của cuộc chiến tranh Việt Nam là:
– Mục tiêu của Khối Cộng Sản quốc tế và Cộng Sản VN là chiếm Miền Nam Việt Nam để tràn xuống Đông
và Nam Châu Á.
– Mục tiêu của Hoa kỳ, Thế Giới Tự Do và Miền Nam VN là ngăn chặn Làn Sóng Đỏ nói trên.
Cuộc chiến VN đã kết thúc vào ngày 30/4/1975 và như đã thưa với qúi vị ở trên, nếu phân biệt thắng
bại dựa trên mục tiêu của cuộc chiến , thì chúng ta đã thấy rõ ràng:
– Trung cộng, Nga sô, khối CS quốc tế và CS Việt Nam là “Bên Thua Trận”, vì họ đã không đạt được mục tiêu củả cuộc chiến là nhuộm đỏ Miền Đông Nam và Nam Châu Á.

– Hoa Kỳ, Thế Giới Tự Do và Việt Nam Cộng Hoà là “BÊN THẮNG TRẬN” vì đã đạt được mục tiêu của cuộc chiến là đã ngăn chặn được Làn Sóng Đỏ.

Mọi người ai ai cũng đều đã biết, với sự dàn xếp của Kissinger, Mỹ đã bắt tay được với Trung Quốc cho nên vai trò “Tiền Đồn ngăn làn sóng đỏ tại Đông Nam Á” không còn cần thiết nữa. Và Hoa Kỳ đã không còn gắn bó với chuộc chiến Việt Nam nữa.
Tuy nhiên, đó là nói một cách tổng quát trên bình diện quốc tế. Riêng với Việt Nam CH và CS Bắc Việt, chúng ta thấy việc phân biệt thắng bại lại được nhìn theo một khiá cạnh hơi phức tạp hơn. Với vai trò là Tiền Đồn Chống Cộng,
VNCH đã ngăn chặn được Làn Sóng Đỏ tràn xuống Miền Nam Châu Á, nhưng VNCH đã không bảo vệ được nền Tự Do của chính mình. CS miền Bắc VN đã không gíup chủ nghĩa CS tràn xuống được Miền Nam Châu Á, nhưng họ đã chiếm được Miền Nam VN, đã thống nhất được đất nước.
Tuy nhiên đấy chỉ là mặt nổi, trong thực tế CS Miền Bắc đã thất bại hoàn toàn, họ đã không hề chiếm
được cảm tình, không hề chiến được trái tim của nhân dân Miền Nam VN. Phong trào vượt biên, với cả triệu người lao ra biển cả, lao vào chỗ chết để tìm kiếm hai chữ Tự Do, để thoát khỏi ách cai trị của
những “kẻ thắng cuộc”. Mọi người sẽ không bao giờ quên được câu nói của nghệ sĩ Trần văn Trạch
“Nếu cái cột đèn biết đi, thì nó cũng đã đi khỏi VN rồi”.Hơn nữa, mục tiêu của những người CS Miền Bắc là áp đặt chủ nghĩa CS lên cả nước VN, nhưng ai cũng biết, về điều này, là họ cũng đã và đang thất bại hoàn toàn. Vào những năm cuối của thập niên 1980, Võ văn Kiệt đã phải hô hào “đổi mới hay là chết”, nhưng trong thực tế, đổi mới nghĩa là “bỏ đi những cái sai, những cái dở của Miền Bắc để thay vào bằng những cái hay cái đúng của Miền Nam”.
Điều này thì từ năm 1980 đến nay, càng ngày mọi người càng nhận thấy rõ ràng hơn. Không có ngày 30/4/75 thì Miền Bắc VN vẫn còn đói khổ lạc hậu như người dân Bắc Hàn hiện nay.Không phải VNCH đã chỉ chiến thắng CS Bắc Việt về phương diện kinh tế và chính trị như trên, mà ngay cả về nếp sống, về văn chương, về nghệ thuật, về văn thơ, và ngay cả về… NhạcVàng nữa. “Ai thắng ai” thì mọi người đều đã và đang quá rõ. Chính vì vậy mà nhà văn Lê Hiếu Đẳng, một trong các nhà bất đồng chính kiến tại quốc nội, trong cuốn “Viết trong những ngày nằm bệnh” đã công khai minh định như sau: “Sự thật là Miền Nam đã giải phóng Miền Bắc trên tất cả các lãnh vực, nhất là kinh tế, văn hóa, tư tưởng…”
Tóm lại, Cộng Sản Miền Bắc và Cộng Sản quốc tế đã không đạt được mục tiêu của cuộc chiến tranh
VN do họ phát động là nhuộm đỏ toàn miền Nam và Đông Nam Châu Á nên họ không phải là
“Bên Thắng Cuộc”. Thế giới tự do, Hoa kỳ và VNCH đã đạt được mục tiêu “Ngăn chặn làn sóng đỏ” nên chúng ta là
“Bên Thắng Cuộc”.
Xin được mượn câu chuyện thắng bại trong chiến tranh Việt Nam của danh tướng độc nhãn Moshe Dayan sau đây để kết thúc ý kiến “Ai Thắng Ai” như sau:
Cuối tháng 7 năm 1966, danh tướng độc nhãn Do Thái là Moshe Dayan được Hoa Kỳ mời đến Miền Nam VN. Sau khi thăm viếng khắp các chiến trường, trong một cuộc họp với các cấp lãnh đạo Miền Nam VN, khi được hỏi rằng làm thế nào để chiến thắng Cộng Sản VN. Tướng Moshe Dayan đã trả lời như sau:
QUÂN ĐỘI BẮC VIỆT SẼ THẤT TRẬN KHI HỌ CHIẾM ĐƯỢC SAIGON.
(“North Vietnam will lose the war when it takes over Saigon.”) (TS Nguyển tiến Hưng trong The Palace File).

Vũ Linh Châu.
Ngày Quốc Hận 2015.

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, “Lạy Chúa, tôi đã trở về cõi sống”

nuocmattruocconmua

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before The Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.

JOHN WALBURG
“Lạy Chúa, tôi đã trở về cõi sống”

Khi Đà Nẵng mất, tôi nhẩm tính có lẽ chỉ còn ba đến bốn tháng nữa thôi, Bắc Việt sẽ chiếm trọn miền Nam. Tôi biết chúng sẽ đến, nhưng vợ tôi bảo: “Lo con bò trắng răng”. Bả đinh ninh thế nào phút chót Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ cũng xuất hiện – y như hiệp sĩ màn bạc – đến cứu độ chúng sinh. Tất nhiên tôi biết nhiều hơn bả.

Tôi đã ở Việt Nam từ năm 1969, lấy vợ địa phương, sinh được ba con. Chúng tôi cư ngụ giữa vùng Biên Hòa – Saigon. Tôi dự định sẽ sống vĩnh viễn ở đấy, nhưng chiến cuộc mỗi lúc một bất lợi cho miền Nam. Mọi sự thay đổi cả.

Ngoại ô Saigon có một bãi xếp đầy đồ tiếp liệu Mỹ viện trợ cho Việt Nam, chung quanh có hàng rào bao bọc. Mỗi ngày đi Saigon tôi đều lái xe ngang qua bãi hàng. Tôi để ý hàng hóa mỗi tuần một ít đi. Cho đến giữa tháng Tư, chẳng khác một bãi đậu xe trống rỗng. Nhìn hàng hóa vơi dần, tôi biết chuyện xảy ra. Ngày cuối đã gần kề.

Phải mất hết hai hôm tôi mới hoàn tất đủ giấy tờ rời khỏi Việt Nam. Hai ngày ròng rã đứng xếp hàng điền đủ thứ đơn. Đáng lẽ chúng tôi đi chuyến bay tại Saigon ngày 28 tháng Tư, nhưng địch dội bom, bắn hỏa tiễn trước khi chuyến bay cất cánh. Do đó, chúng tôi đã phải thay đổi chương trình.

Cuối cùng, chúng tôi xoay sở vào được phi trường Tân Sơn Nhất buổi sáng ngày 28, lính gác chặn lại. Chúng tôi chi cho họ ít tiền, họ mới để chúng tôi vào.

Vào được bên trong, người ta chỉ chúng tôi đến căn nhà phụ của Văn phòng Tùy viên Quân sự. Đó là địa điểm làm thủ tục ra đi. Đến đấy họ đưa thêm một cọc giấy tờ nữa. Rồi lại sắp hàng chờ. Cuối cùng, giấy tờ còn nhớ, vì đó là số chuyến bay của chúng tôi. Lúc ấy họ đang gọi đến số 17. Ai nấy nhao nhao hỏi chuyến bay. Mọi người đều lộ vẻ lo lắng vì chuyện ra đi. Nhiều người lâm râm cầu nguyện.

Sau khi lĩnh được số chuyến bay, chúng tôi ngồi xuống đất chờ. Bên trên, người ta căng một cái dù nhà binh che nắng. Sau cùng họ bảo chúng tôi lên xe buýt. Chiếc xe này sẽ chở chúng tôi ra máy bay.

Khi tất cả mọi người vừa lục tục vào được xe buýt thì đột nhiên một trái rốc kết bay đến đánh trúng căn cao ốc kế cận. Trái rốc kết thổi bay tầng thượng. Mái nhà rơi sập xuống hồ tắm căn cứ. Khi trái rốc kết bay đến, chúng tôi nghe rõ tiếng rít. Tôi chắc mẩm đã trúng xe buýt rồi. Cửa xe đóng. Tôi xốc đứa con trai chạy về phía trước, đẩy cửa, đạp người tài xế ra ngoài. Ai nấy hoảng hốt. Mọi người la thét ùa nhau về phía cửa. Vợ tôi lôi hai đứa con gái kế sau lưng, cả ba băng qua đường, lăn xuống rãnh. Tôi ôm đứa con trai úp xuống mặt đuờng. Tôi lấy thân mình che lên nó. Rồi tôi mới nghĩ: “Thực ngu ngốc quá” vì chỗ tôi đang nằm là chỗ mặt đường trống trải. Tôi xốc thằng con, bồng nó chạy sang bên vệ đường. Suốt đêm chúng tôi nằm đấy. Rốc kết, đại liên bắn không ngừng. Mọi người chung quanh la thét. Khóc lóc. Cầu nguyện. Ai nấy cứ thế nằm bấu chặt mặt đất.

Khi ánh sáng hửng lên, người ta vẫn tưởng đạn còn bắn vào. Giữa ánh sáng ban ngày, chẳng ai biết phải làm gì. Người tài xế biến mất rồi. Tôi bảo tất cả mọi người vào lại xe buýt. Tôi đã trông thấy mấy chiếc trực thăng hạ cánh, cất cánh trong Bộ Tư lệnh Văn phòng Tùy Viên Quân Sự, ngay góc đường.

Tôi lái chiếc xe buýt đầy người tiến đến cổng Bộ Chỉ Huy. Lính Thủy quân Lục chiến đứng canh không chịu mở. Họ bảo: “Đây là địa điểm phòng thủ an ninh. Không ai có quyền vào”. Tôi giải thích tất cả chúng tôi đã có tên trong danh sách chuyến bay, nhưng nay không còn máy bay nữa. Chúng tôi cần ra đi. Họ đáp: “Vậy ông có thể vào, ông là công dân Mỹ. Nhưng chúng tôi không cho các người khác vào được”. Khốn nạn, làm sao tôi có thể bỏ rơi vợ con tôi, cùng những người trên xe buýt? Tôi bèn ngồi xuống ngay trước cổng, bảo: “Tốt thôi, các bạn ơi. Chúng tôi còn biết đi đâu bâu giờ? Chúng tôi cứ ngồi ở đây thôi”.

Cuối cùng, một sĩ quan tiến ra cổng. Tôi đưa hết giấy tờ cho ông ta xem. Ông ta cho tất cả chúng tôi vào.

Họ đưa chúng tôi đến một cao ốc ở góc đường. Lúc này mọi người đi với tôi đã hơn một ngày không ăn uống. Tôi bước qua khu hợp tác xã quân đội. Không một người nào phụ trách ở đây. Tôi quơ một bọc bánh táo, bánh mì thịt, khệ nệ mang về chia cho mọi người. Tôi quay trở lại, lấy thêm kẹo, bánh mì kẹp. Tổng cộng cả nhóm bảy mươi người, tôi đã săn sóc cho tất cả.

Họ bỏ chúng tôi trong căn cao ốc mà không để lại một người nào bảo vệ. Tôi mò mẫm tìm quanh các phòng. Thấy cái mũ sắt quân đội lăn lóc trên sàn, tôi nhặt lấy đội lên đầu. Mở ngăn kéo, tìm được khẩu súng lục .38. Tôi nhét thắt lưng. Từ giờ phút này, người hữu trách chính là tôi. Sau một khoảng thời gian khá lâu, tôi cảm thấy như họ đã quên bẵng chúng tôi có mặt ở đấy. Tôi đi đến căn cao ốc chính. Tại đây chật ních người. Tôi tìm được một gã có vẻ thông thạo công việc. Gã ngồi trong thư viện Văn phòng Tùy viên. Gã nắm trong tay một sấp thẻ mà mỗi người sẽ phải cầm theo. Đây là những thẻ hành lý của Hãng máy bay TWA. Gã bảo tôi viết con số lên mấy cái thẻ, bắt đầu là 1-1 rồi 1- 2, cứ thế cho đến số 16 thì trở lại, bắt đầu 2-1 rồi 2-2 lại cho đến hết số 16, tiếp tục như thế. Tất cả mọi người trong nhóm tôi cũng sẽ phải cần có thẻ. Cứ 16 người vào một trực thăng. Con số đầu tiên là số của chiếc máy bay trực thăng mà người ta sẽ ra đi.

Tôi quay về lại nhóm tôi, cầm trong tay nắm thẻ. Thế là người ta nhao nhao la ó: “Cho tôi trước! Cho tôi trước!” Một gã dân biểu người Việt chạy lại. Hắn đề nghị đưa tôi 400 đô la để lấy tấm thẻ đầu tiên cho hắn và gia đình hắn đi trước. Tôi biết sớm muộn tất cả chúng tôi cũng đi cả, nên tôi lấy tiền hắn đưa. Rồi cho hắn mấy tấm thẻ. Sau đó lần lượt tôi phát cho những người khác. Có một linh mục và vài bà bụng chửa, tôi đưa thẻ cho họ lên chuyến đầu tiên. Mọi sự hệt cảnh tượng chia ghế trên các tàu cấp cứu trong vụ đắm tàu Titanic. Mọi người đứng im phăng phắc, hết sức lễ độ vây quanh tôi. Một lão già và bà vợ sợ run như cầy sấy. Lão ta đến gần đưa tôi năm đô la để xin vào chuyến đầu. Tôi bảo lão già: “Cất tiền đi.” Tôi vẫn cho họ vào chuyến đầu. Còn vợ con tôi và tôi giữ mấy tấm thẻ của chuyến trực thăng chót trong nhóm. Xong xuôi, tôi yêu cầu mọi người sắp hàng. Tôi dắt tất cả lũ lượt xuống tòa nhà chính.

Trong toà nhà đã có một hàng dài. Chúng tôi đứng trong hàng với mấy tấm thẻ hành lý. Khi chuyển dần lên gần hàng đầu, bất chợt họ bảo: “Không được mang va li”. Chúng tôi chỉ được phép mỗi người một túi xách nhỏ thôi. Tôi giữ cái cặp, vợ tôi mang cái túi du lịch đựng quần áo. Đấy tất cả những gì chúng tôi mang đi.

Đứng tại đây, hầu như một cuộc xếp hàng vô tận. Nói cho đúng, chúng tôi đã đứng suốt một ngày dài. Cuối cùng, mãi xế chiều mới lên được hàng đầu, rồi chúng tôi được dẫn tới trực thăng – một chiếc Chinook lớn.

Chúng tôi bước vào, nhưng họ chặn nhóm tôi lại ngay sau khi vợ tôi lên. Kế sau vợ tôi là hai cô gái người Việt. Người ta ra hiệu yêu cầu tất cả quay vào, chờ chiếc trực thăng kế tiếp.

Hai cô gái sợ xanh mặt. Rõ rệt các cô không thể tin là sẽ có chiếc trực thăng kế. Các cô nắm lấy vợ tôi, chu chéo khóc, nhất định không buông tay. Cửa đã đóng, họ vẫn bíu lấy vợ tôi. Tôi đẩy họ lùi lại, nhưng họ vẫn bám chặt. Họ thét lên: “Cứu tôi với! Cứu tôi với!” Hai cô đều là y tá Việt Nam, làm việc cho Mỹ. Cuối cùng người ta đành mở cửa kéo hai cô vào. Rồi cất cánh.

Tôi đứng cạnh người xạ thủ khi máy bay bốc lên. Tôi thầm bảo: “Chà cuối cùng rồi cũng thoát”. Tôi rất khoái chí khi bước vào trực thăng. Từ khi rời quân ngũ đến nay mới lại được đi trực thăng. Họ nhờ tôi mang hộp bông gòn đi phân phối cho các hành khách nhét lỗ tai. Tiếng động cơ rất lớn. Chúng tôi bay qua Vũng Tàu, thấy rõ cái bãi biển đẹp đẽ bên dưới. Đấy là hình ảnh cuối cùng của Việt Nam.

Tôi nhoài người nhìn ra phiá trước xem chúng tôi đi đâu. Rồi tôi thấy những hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ. Cả một hạm đội dưới biển Nam Hải. Thực là một quang cảnh tuyệt vời.

Chúng tôi hạ xuống mẫu hạm – tôi nhảy ra trước, dìu vợ con bước xuống. Các bác phó nhòm Mỹ, các thủy thủ và lính Thủy quân Lục chiến nói tíu tít. Trên tàu mọi người đều nói tiếng Anh. Mọi sự đều đã trong vòng yên ổn. Tôi nhìn quanh, thầm nhủ: “Lạy Chúa nhân từ, tôi đã trở về cõi sống”.

ĐỪNG HỎI NỮA CON ƠI !!!

dungkqd

Sợ mai này các con hỏi cha ơi
Đi tắm biển sao phải mang hộ chiếu ?
Biển quê mình… cha nói đi… con không hiểu
Khi nhìn tấm bản đồ chó chết của Trung Hoa.

Con thả diều ở Vũng Tàu, Mũi Né, Lý sơn, Hoàng Sa, Trường Sa…
Người lớn đến cắt dây khi diều bay xa mém nước
Biển của mình trong xanh con muốn vẫy vùng mà chẳng được
Vì ra khơi là đi du lịch nước ngoài.

Đời thật buồn khi ra biển ngắm ban mai
Chỉ thấy sóng giăng giăng hình băng đạn
Đám mây hiền lành cũng bốc mùi đại Hán
Đường lưỡi bò liếm láp biển bao la

Một ngày kia đọc “Nam Quốc Sơn Hà”
Chữ “Định phận” bị thay bằng “Cam phận”
Hình đất nước gầy nhom vì oán giận
Gánh mấy chữ vàng méo mó đứng chơi vơi
Muộn mất rồi
Đừng hỏi nữa
Con ơi.

DŨNG KQĐ

ĐÀ LẠT VÀ…KHÔNG EM

nguyenvi

May mà Đà Lạt ta còn bạn
Vẫn đó đồi thông cháy cúc quỳ
Sim cười rạng rỡ triền dốc vắng
Hà cớ gì nuối khúc tình si.

Lãng đãng hương bồng bềnh sương khói
Ru người quên mộng thuở hai mươi
Vi vút gió như chưa hề mỏi
Hát mãi lời thơ tuổi dậy thì.

Đà Lạt nghiêng giữa trăng hạ huyền
Ta mờ một nét thủy mặc đêm
Nằm ngồi nhấm nháp chùm bóng đổ
Nghe mình chếnh choáng quá chừng quen.

Đà Lạt lạnh chỉ là chuyện nhỏ
Men đời men rượu đầy đó thôi
Men tình mùa ủ mềm môi đỏ
Xâu thành dòng lạ chảy về xuôi.

NGUYÊN VI

mưa, mưa, mưa…

nguyenmonggiac

Chàng vừa đến ngã tư Nguyễn Thái Học-Hồ Văn Ngà thì trời đổ mưa. Mưa dữ dội, như tất cả nước mắt của chúng sinh tích luỹ từ nghìn vạn kiếp đột ngột rời bể khổ, bốc lên thành mây, gặp khí lạnh thành mưa, trút gọn vào góc phố nhớp núa này. Trong quán cơm bình dân, đủ mọi gương mặt, đủ kiểu mẫu của kiếp sống cùng nhau đứng sợ hãi. thực khách vội vã kéo chiếc bàn thiếc vào sâu bên trong, tránh những giọt mưa lém lỉnh len qua mái tôn, chui vào tấm ván nghiêng của chiếc xe bán nước sinh tố, chảy thành dòng vào tô canh của người công chức già ngồi sát quầy. Bà chủ cửa hàng rối rít hối thúc hai con thả các tấm sáo xuống. Nhưng mưa lớn quá, giữ cách nào cũng không khỏi ướt. Cuối cùng, người ta đề nghị cứ kéo tấm sáo lên cho thoáng khí. Bên cạnh chàng, anh phế binh mặc cái quần cụt đen và chiếc áo trận rách cũ ngồi chồm hổm bên lò lửa, mắt nhìn sang ngôi trường đối diện, không nói năng.

Mọi người đã tìm được chỗ an toàn của mình, hết rối rít lăng xăng nên đột ngột cảm thấy cái buồn xa vắng lặng lẽ của buổi tối, trời mưa, phố lam lũ. Không ai nói gì cả trong cái quá hẹp. Và không ai không thấy cần phải nói điều gì đó, để quên cảm giác bàng hoàng vu vơ chợt hiện, còn lởn vởn quanh quất đâu đây. Chính chàng cũng muốn nói vài lời với người phế binh nhưng anh ta quay lưng về phía chàng, bất động như một pho tượng.

Người đàn bà mặc chiếc áo tơi mầu trắng đứng gần xe sinh tố chợt nói:

-Ơ, kìa, sao mưa dữ mà lửa không tắt?

Mọi người cùng quay ra đường. Bên kia dưới chân cột đèn bập bùng một ánh lửa nhỏ.

-Thứ gì vậy?

-Vậy mà cũng hỏi, lãng xẹt. Đồ nghề vá ép lốp xe, phải không chú Tư?

Anh phế binh quay lại yta3 lời bà chủ quán:

-Ừa. mà sao?

-Bà kia hỏi sao lửa không tắt.

Anh phế binh ngợ một lúc, chưa hiểu rõ người ta muốn anh làm điều gì. Tóc dài và bẩn, vì ướt nên càng xơ xác. Chiếc áo trận che không nổi thân hình ốm o. Gương mặt phờ phạc, thất thần. Rồi phải đến lúc anh ta hiểu người ta hỏi mình điều gì. Anh trả lời nhát gừng:

-Thì tại vậy!

Nhóm người tránh mưa được nghe một câu ngớ ngẩn, cười hô hố.

Tiếng huyên náo lấp cả tiếng mưa rơi trên mái. Khí nóng ở các thân thể ẩm ướt bắt đầu toả ra nhiều hơn, đủ làm quên cái lạnh lẽo của khí trời.

-Nói như chú thì ai hỏi làm gì. Nước xối lên như vậy, sao lửa của chú không tắt?

-Dầu nó nổi lên trên, tắt sao được.

Vài tiếng à, vài cái đầu gật gù. Chân lý đơn giản còn hơn cả cuộc mưu sinh, trong góc phố buồn này. Rồi im lặng trở lại. Anh phế binh bắt đầu húng hắng ho. Cơn mưa có vẻ muốn ngớt, nên vài thực khách đứng lên, hết lo ngồi ì để giữ cho được chiếc ghế. Vài tiếng va chạm bàn ghế loảng xoảng. Tiếng sột soạt của những chiếc áo mưa ni lông cũ bị khô dòn. Chuẩn bị đâu đó xong, mọi người thất vọng vì mưa trút xuống trở lại, có lẽ còn dữ hơn trước. Vài lời lao xao bất bình. Lại im lặng. Ánh lửa bên kia đường vẫn bập bùng, nhưng không ai còn tâm trí đâu chú ý đến nữa. Nó hết trở thành một bí nhiệm. Nó đã có chân lý, nên ánh lửa bập bùng giữa mưa dữ và giữa lòng ơ hờ.

Một chiếc xe Honda phóng nhanh về phía quán. Thiếu nữ ngồi yên vội vã chạy vào chỗ xe sinh tố, trong khi chàng thanh niên lái xe lật bật dựng cái chân chống mà không được. thiếu nữ vừa cười vừa giục:

-Mau lên. Ướt hết.

Cuối cùng, thanh niên dựng xong chiếc Honda bên lề đường, chạy vô chỗ thiếu nữ. Quần áo họ ướt nhem, như vừa mới tắm cả quần áo cho đỡ thẹn với nhau. Thiếu nữ nhìn quanh quất. Nhìn về phía người phế binh. Nhìn về người công chức già. Nhìn đám dân lao động lam lũ đang e dè quan sát đôi tình nhân trẻ. Nhìn chàng. Ánh mắt của thiếu nữ hơi dịu lại, ngại ngùng. Nàng cầm vạt áo kéo ra, giật nhè nhẹ cho mau khô và cho làn vải ướt mỏng khỏi dán vào da thịt. Thanh niên dùng năm ngón tay vuốt lại mái tóc, cười hỏi:

-Em lạnh không?

-Lạnh thấy mồ. Ướt hết trơn không thấy sao?

-Tại em hết! Anh bảo chưa dứt đâu. Mây còn giăng giăng.

-Em sợ về trễ, má la chết. Quá giờ cơm rồi.

-Thì nói tại trời mưa.

-Nhưng má biết thời khoá biểu. Tan học hồi trời còn nắng.

Thanh niên bí không tìm được lời an ủi nào nữa, lí nhí:

-Thì nói… Thì nói…

Rồi cả hai cười xoà. Người phế binh ho dữ hơn. Bà chủ quán thương hại khuyên:

-Chú Tư ngồi gần lửa cho ấm. Cảm hàn đó nghe.

Anh phế binh vâng lời bà chủ, đi vào phía bếp lửa. Đôi tình nhân được dịp may đến chiế chỗ anh phế binh. Thanh niên nói nhỏ vào tai thiếu nữ câu gì đó, khiến thiếu nữ cười lớn:

-Anh xạo hoài. Phim dở ẹt.

-Phim vậy còn chê.

-Tại trong phim họ đi chơi dưới tuyết, thơ mộng lắm. Mình thì ướt như chuột. Anh, coi kìa!

Giọng reo vui đột ngột của thiếu nữ khiến mọi người trong quán nhìn cả ra đường phố. Một cậu con trai mặc quần ống rộng, áo vàng phanh ngực điềm nhiên đạp xe Mini chậm chạp đi dưới mưa.

Người nào đó chộp lấy dịp nói hả hơi:

-Trẻ tuổi có phải. Mạnh khoẻ, coi mưa như không.

Thiếu nữ âu yếm tình nhân:

-Có đâu như anh. Ướt một chút, đã run.

Thanh niên bực bội:

-Nó làm bộ cho oai. Tối nay về không nhức đầu cũng sổ mũi. Làm như bác này, là chắc ăn.

Mọi người lại ngửng lên nhìn ra đường. Một ông già trùm kín thân thể bằng cái poncho nhà binh, đầu đội thêm cái nón lá, chậm rãi đi theo lề đường bên kia. Đến chỗ có ánh lửa bập bùng dùng vá ép lốp xe của người phế binh, hình như ông già có đôi chút ngạc nhiên nên dừng lại nhìn. Sau đó, ông tiếp tục men theo lề đường, tiến về phía đường Hồ Văn Ngà.

Nước trên mái chảy xuống nền xi măng. Nước trên nền xi măng chảy xuống mặt đường nhựa. Nước trên mặt nhựa xuôi theo chiều nghiêng của mặt lộ, chảy vào các ống cống. Ra sông. ra bể. Ở cửa khẩu, chỗ ống cống trổ ra bờ sông, chàng nghĩ, có lẽ nước reo vui. Xi măng, hắc ín quấy rầy, ngăn chặn không cho nước thấm ngay vào lòng đất. Trời mưa cho đất ướt. Nếu không có lớp xi măng và hắc ín? Ừ, nếu vậy thì mọi sự đơn giản quá. Nước thấm ngay vào lòng đất, không phải quanh co len lỏi gì hết. Rồi từ mặt đất ẩm, hạt giống sẽ nẩy mầm. Cây cỏ sẽ vươn lên; mạnh bạo, lẫm liệt, cũng không phải quanh co len lỏi gì hết. Chàng lẩn thẩn nhìn mặt hắc ín trên đường phố, nhìn mặt xi măng trên nền quán hẹp. Cứ xem đây là một tầng gác đi. Chàng nhớ, có lần kịch tác gia nổi tiếng người Mỹ là Arthur Miller có dựng một vở kịch hai tầng. Sân khấu là một ngôi nhà có gác cắt dọc. Khán giả nhìn được cả tầng trên lẫn tầng dưới. Trong khi ở tầng trên, mấy cậu em đang nói chuyện với nhau, thì ở tầng dưới, lại có những diễn viên khác đối thoại những vấn đề khác. Khán giả được dịp thưởng ngoạn một vở kịch kép. Chàng đã nhìn được cái hoạt cảnh buồn thảm nơi góc phố nghèo. Chàng đã trông được cơn mưa dữ, đã nghe những mẩu chuyện tầm phào, đã thấy những khuôn mặt của đời sống. Chàng đã nhìn, trong lặng lẽ trầm ngâm, ánh lửa bập bùng, yei61 ớt mà dai dẳng bên kia đường phố, trong trí lan man chưa hiểu ánh lửa ấy có mãnh lực bí nhiệm nào thu hút được chàng mạnh mẽ đến như thế.

Còn ở tầng dưới của vở kịch kép? Ở dưới lớp xi măng lớp hắc ín này? Chàng đã đi nhiều, thấy nhiều. Đi đến khắp các mặt trận, các trại định cư, các xóm làng xơ xác trơ trụi những cột cháy, tường đổ nền trống. Đã thấy hắc ín xi măng được xe xúc loại lớn trút xuống từng đống, xe hủ lô xe bang cán lên, sức mạnh cơ khí đè bẹp sức mạnh hồn nhiên của thảo mộc. Doanh trại mọc lên. Các phi trường, các đồn luỹ. Sắt thép, xi măng, dầu, chất nổ… và dĩ nhiên có rất nhiều ánh lửa. Và chàng cũng đã thấy sau đó những lớp rêu xanh bám vào vách lô cốt, những ngọn cỏ dại len qua các vết nứt của một doanh trại hoang vu, những hàng mì luống bắp xanh tươi trên chỗ ngày xưa là phi đạo. Ở tầng dưới vở kịch kép? Ở tầng dưới lớp hắc ín này đã có gì? Buổi sáng, đến nhà một người bạn, chàng vô tình lật lơ đãng một quyển sử địa, mới biết con đường Nguyễn Huệ ngày nay trước kia là một con kinh. Vậy thì góc phố Nguyễn Thái Học-Hồ Văn Ngà này, trước kia là thứ gì?

Với một chút tưởng tượng, đứng bên lề thời gian để xem vở kịch kép, chàng có thể thấy được nhiều thứ. Trong tiếng mưa rơi, trong lối nước chảy, chàng có thể thấy được hồn của những ngọn cỏ hoang, nghe tiếng khóc của những cây cao bị chặt oan ức, tiếng thì thào của các đoá hoa bị vùi dập. Đất thì lầy. Mưa trút xuống, làm hớn hở loài ếch nhái. Một chú ễnh ương nổi hứng cất tiếng, tưởng có thể át được giông tố và tiếng nước rơi. Chú đã phạm một lỗi lầm không thể cứu gỡ. Con rắn nước ở vũng lầy bên kia nhẹ nhàng trườn mình, lặng lẽ uốn thân dưới các gốc cỏ. Mưa. Vẫn mưa. Tiếng nước rơi lấp được tiếng lá va chạm, tiếng sột soạt. Và cuối cùng, là tiếng kêu cứu tuyệt vọng chát chúa đến nỗi có thể lay động được trăng sao của chú ễnh ương ngây thơ. Con rắn nằm yên một lúc, thoả mãn. Yên lặng. Nhưng trong cơn mưa, cỏ xanh cây cối nẩy lộc đâm chồi, côn trùng và thảo mộc vẫn tồn sinh. Có chú ễnh ương thơ ngây, nhưng cũng có những chú ễnh ương già dặn. Sau cuộc huỷ diệt, luôn luôn có cuộc phục sinh. Một cơn gió mạnh thổi hắt mưa vào mặt chàng. Nghe trong hơi gió, chàng cảm thấy, thoang thoáng, mùi bùn, mùi cỏ ướt, mùi lá mục. Và dưới chân chàng, chỗ nền xi măng nhớp nhúa, như có thứ gì cựa quậy, lay động.

Một cơn gió nữa, lần này nước mưa làm ướt cả đôi kính cận của chàng. Chàng định đưa tay vào túi tìm cái khăn, nhưng chợt nhớ trước khi đi ăn, chàng đã đem cái khăn bẩn đó giặt sạch rồi. Chàng nhìn qua bên kia đường. Ánh lửa vẫn bập bùng dưới chân cột đèn. Đôi kính ướt, hình ảnh bây giờ nhập nhoè. Mưa đã bớt, giọt rơi nhỏ và nhẹ. Bây giờ chàng mới cảm thấy lạnh. Người phế binh có lẽ nóng ruột mặc dù trời còn mưa, vẫn chạy qua bên kia đường xếp dọn đồ nghề để ra về. Anh ta đến gần ngọn lửa, ngồi xuống hơ tay lên trên. Một giọt nước quái ác không biết len lỏi chờ đợi từ đâu trên mái quán lúa ấy, rơi ngay vào đúng gọng kính của chàng. Chàng nhắm mắt lại. Lúc mở ra, hình ảnh càng nhập nhoè hơn. Hướng về phía bên kia đường, chàng giật mình, người phế binh còn ngồi đó, nhưng ánh lửa bây giờ bập bùng loang ra, y như ánh lửa bập bùng liếm quanh nồi cháo lú.

Nguyễn Mộng Giác

Đêm 10-11-1974

(Nguồn Tập san Nhà Văn, tháng Giêng năm 1975, theo bản chụp của Nguyễn Trường Trung Huy)

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, “Lạy Chúa toàn năng, tại sao họ có thể làm như thế?”

nuocmattruocconmua

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before The Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.

KEYES BEECH
(Nhật báo Chicago Daily News)
“Lạy Chúa toàn năng, tại sao họ có thể làm như thế?”

Trước khi nói về Á Châu và Việt Nam, tôi cần mở lời mào đầu rằng tất cả chúng ta đều là sản phẩm của thời đại và môi trường chúng ta. Tôi thuộc thế hệ Đệ nhị thế chiến. Tôi vẫn thích chiến thắng hơn chiến bại. Kể cả chiến tranh Việt Nam cũng vậy. Cho nên, có lẽ dù tôi là một kẻ thua cuộc tệ hại, nhưng tôi vẫn không thích cái lối mà mọi sự đã diễn ra ở đấy.

Tôi không thích cái lối mà mọi sự đã xoay chuyển ở đấy, và tôi cho rằng không cần phải để xảy ra cách thức ấy. Nhưng đây là một câu chuyện thật dài, tôi không muốn phải… đánh một trận chiến Việt Nam từ đầu trở lại một lần nữa.

Tôi là một loại già nua lỗi thời và đã biết quá nhiều về cuộc chiến ấy, ngay cả từ trước khi đến Việt Nam. Đối với đa số thông tín viên có mặt ở đấy, họ đều là những người trẻ dễ thương, chịu khó, đôi khi rất gan dạ, xông xáo tìm tin, đủ mọi thứ, tuy nhiên đây vẫn là cuộc chiến đầu tiên họ tham dự. Phần tôi, tôi chẳng lấy gì hứng thú lắm về cuộc chiến này. Tôi cũng gần như chẳng bị xáo trộn gì về ý niệm đạo đức, như phần lớn các thông tín viên khác đã bị. Đối với tôi, mọi cuộc chiến đều vô-đạo- đức, và một vài cuộc chiến này có thể ít vô-đạo-đức hơn một vài cuộc chiến khác, có lẽ. Tôi đã là Thủy quân Lục chiến tại Thái Bình Dương thời Đệ nhị thế chiến. Là thông tín viên chiến trường của Thủy quân Lục chiến trong trận Triều Tiên. Rồi từng làm tin ở rất nhiều nơi khác, từ các cuộc cách mạng nho nhỏ đến các cuộc chiến be bé khắp Á Châu, phần lớn tại Đông Á, tại các cuộc chiến Ấn Hồi. Và chót hết, là trận chiến Pháp tại Đông Dương. Cho nên tôi không phải là kẻ lạ mặt trong bối cảnh này.

Tôi cư ngụ tại Sàigòn từ năm 1965. Bấy giờ tôi đang viết cho tờ Chicago Daily News và cho Dịch vụ hải ngoại của Chicago Daily News. Cùng thời ấy, cũng có các tay ký giả khác đến Việt Nam với tôi như David Halberstam, Mai Browne và Neil Sheehan. Trước đó tôi vẫn phải di chuyển giữa Tokyo, nơi tôi cư ngụ, và Sàigòn, cho mãi đến năm 1965. Bấy giờ vì chúng ta đã gởi quân chiến đấu sang và phải viết thường trực, nên tôi đến ở luôn đấy. Tôi ở đây mãi cho đến 1971, trừ một thời gian ngắn rời khỏi xứ. Rồi tôi đi Hồng Kông. Nhưng không bao giờ tôi thực sự rời xứ này. Người ta không bao giờ thực sự rời Việt Nam, và tôi vẫn cứ đi đi, lại lại như thế.

Khi bản hiệp định Ba Lê được công bố, ngay đám phóng viên phản chiến – Đám phóng viên trẻ – cũng phải thốt lên rằng: “Đây quả là chuyện bán đứng.” Tất nhiên, đó là việc bán đứng. Cho đến thời điểm này, chúng ta chỉ quan tâm có một việc duy nhất thôi: Làm sao lấy được tù binh về. Chúng ta cóc cần chuyện gì khác. Đúng vậy. Và để đổi lại việc lấy tù binh về, chúng ta hợp thức hoá cho sự hiện diện của quân Bắc Việt tại miền Nam, dàn xếp cho Bắc Việt có thể tùy thích đánh thắng người miền Nam. Đó chính thực là khởi đầu của một sự kết liễu. Tôi không hề thấy Hoa Kỳ đặt cho miền Bắc một mối đe dọa nào sau đó. Tôi cho rằng chẳng một ai bị bịp gì về việc này. Thực quá rõ rệt chúng ta đã rút ra, cuộc chiến đã kéo dài hơn chúng ta mong muốn. Tôi nghĩ làm ăn như thế là không tử tế. Tôi cảm thấy việc chúng ta đối xử với chính phủ Nam Việt Nam, một chính phủ hoàn toàn tùy thuộc vào chúng ta, như thế là đê tiện. Thiệu không đích thực là người thuộc cỡ chính trị gia uy tín, nhưng trong quan điểm của tôi, ông không tệ hại như cách chúng ta tạo ra. Tôi nghĩ ông đã cố gắng hành động tốt nhất với tất cả khả năng của ông, trong điều kiện và hoàn cảnh ấy. Tôi nghĩ chính chúng ta mới là bọn đê tiện trong sự đối xử với ông Thiệu.

Xin quý vị nhìn xem cách chúng ta áp đặt các tiêu chuẩn luân lý của chúng ta, những thứ quy tắc dân chủ của chúng ta lên một quốc gia chưa hẳn là một quốc gia, Lạy Chúa tôi! Đây chỉ là một nửa miền Nam của cái bán đảo chưa được thống nhất và đã có hai ngàn năm lịch sử. Vậy mà chúng ta đã đòi hỏi, đã yêu cầu họ phải sắp xếp, phải bầu cử, phải làm đủ mọi trò tử tế với cái lối chúng ta vẫn muốn những chú đồng minh bé nhỏ của chúng ta phải làm, phải tôn trọng nhân quyền, Lạy Chúa, chúng ta giờ đây vẫn đang tiếp diễn những trò ấy dưới miền Nam Mỹ.

Tôi sẽ không đi quá xa để nói rằng chính là giới báo chí đã làm chúng ta thất trận, nhưng quả họ đã phụ giúp sự thất trận. Họ không cố ý như thế, nhưng những bài viết, những bản tin tiêu cực một cách tàn nhẫn, không xót thương, không đếm xỉa đến viễn tượng, thì trong quan điểm của tôi, đã là những gì xói mòn sự yểm trợ cuộc chiến. Tất nhiên, cũng còn nhiều dữ kiện quan hệ hơn thế. Ví dụ như việc Lyndon Johnson không bao giờ cố gắng giải thích cho dân chúng Hoa Kỳ hiểu ý nghĩa cuộc chiến này là gì. Ông e sợ dân chúng nổi nóng và sẽ thiệt hại phần nào đến chương trình “Đại Xã Hội” của ông ta.

Tôi cũng cho rằng các ký giả truyền thanh truyền hình đã tạo nhiều tác động mãnh liệt hơn giới ký giả làm báo. Một thông tín viên làm báo không có danh dự gì lắm trong xứ anh ta đến làm tin bởi lẽ ít khi người ta nhìn thấy được đồng nghiệp của họ làm gì. Còn đối với tôi, mặt khác trong ngành truyền hình, dẫu các thông tín viên có giỏi đến đâu, bản chất truyền hình vẫn là việc làm ăn kiểu sân khấu điện ảnh. Tôi xin cho quý vị một ví dụ. Tôi quen một phóng viên làm việc cho hãng thông tấn AP (Associated Press). Một tay sáng sủa, nhiều khả năng mà tôi sẽ không nêu tên. Anh ta đã chán hãng tin AP.

Thông tấn truyền hình ABC đề nghị việc làm. Anh ta nhận làm cho họ. Tôi bảo “Thế là cậu vào kỹ nghệ sân khấu điện ảnh rồi phải không?” Anh trả lời: “Không. Tôi sẽ làm việc cách khác. Tôi sẽ làm một cách thẳng thắn. Tôi chắc chắn sẽ thực hiện được. Tôi tin như thế.”

Thế rồi có một vụ biểu tình của một vài nhà sư Phật giáo. Một tên nào đó ném chai bom xăng làm bắt lửa, cảnh sát chạy đến, đuổi theo hắn. Họ chẳng đánh đập ai, chính tôi đi ngang qua, đã đứng lại chứng kiến mọi việc, ở Sàigòn, chuyện này chẳng đáng gì. Việc xảy ra chỉ có mặt chừng hơn chục người tham dự. Tuy nhiên, trong mọi biến cố, người của chúng ta đều có mặt. Anh cựu phóng viên AP đang thu hình, quay phim. Anh ta thâu cảnh ấy, cẩn thận đưa máy lướt qua khắp đường phố để chứng tỏ khách quan rằng mọi người vẫn đi lại bình thường, vẫn làm ăn buôn bán trong đời sống hàng ngày, như thường lệ, trên đường phố Sàigòn.

Tất nhiên phim của anh ta đã làm thành đoạn tin buổi tối. Bản tin truyền hình có lửa khói bốc lên! (Lửa của chai bom xăng trở thành lửa nhà sư tự thiêu!) – Đấy, mọi việc bây giờ trở thành như vậy. Điều ấy cũng hoàn toàn dễ hiểu thôi. Ai mà muốn xem hình ảnh một đống xe cộ chạy qua, chạy lại trên đường? Người ta chỉ muốn xem bóp cò bắn súng “pàng, pàng,” thế thôi.

Anh bạn quả có kèm lời dẫn giải, quả có nói mọi việc làm ăn buôn bán ở Sàigòn vẫn bình thường. Nhưng trong những vụ xáo trộn ở Sàigòn trở lại từ thời 1960, người ta vẫn cứ tưởng cả Sàigòn chìm trong biển lửa. Còn vụ biểu tình này chỉ có mặt vài người. Nhưng người ta đã chiếu ra thế, với đầy đủ màu sắc sống động, lại đặt ngay vào bản tin quan hệ của chương trình truyền hình buổi tối.

Tôi biết, Morley Safer là một phóng viên truyền hình, một người rất đáng tự hào về các công việc của ông ta tại Việt Nam. Dĩ nhiên ông có quyền đưa ra các quan niệm riêng của ông. Bản tin mà Morley làm ở Cảm Nê năm 1965 (thu hình lính Thủy quân Lục chiến Mỹ dùng hộp quẹt Zippo châm lửa đốt nhà dân làng), bây giờ đã trở thành cổ điển, nhưng tôi vẫn nghĩ loại ấy chỉ là loại giật gân gây xúc động. Khi nói thế, người ta có thể bảo tôi sai lệch, vì chính tôi từng là cựu Thủy quân Lục chiến. Tôi có thể bị người ta cáo buộc có thành kiến, nhưng tôi không nghĩ rằng tôi là người có thành kiến. Sự thật xảy ra thế này: Đây là một ngôi làng rất ương ngạnh. Lính Thủy quân Lục chiến đã nhiều lần cảnh cáo. Họ lập đi lập lại nhiều lần rằng nếu có ai tiếp tục bị bắn mỗi khi qua làng, họ sẽ đốt làng. Và tôi nhớ viên Tiểu đoàn Trưởng Thủy quân Lục chiến – người mà tôi quen biết từ nhiều năm tại cuộc chiến Triều Tiên, lúc ấy hãy còn đeo lon thiếu úy – sau khi xem câu chuyện Safer chiếu trên truyền hình, anh ta buột miệng nói: “Vâng, một xạ thủ Thủy quân Lục chiến dưới lằn lửa đạn tất nhiên không thể hành xử như một viên Đại sứ thiện chí được.” Nhưng câu chuyện của Morley Safer trên truyền hình đã không nói gì về những điều như thế.

Một thời gian ngắn sau đó, Safer ra Đà Nẵng bị Thủy quân Lục chiến chơi một vố. Ông ta tìm tôi yêu cầu giúp đỡ. Tôi hỏi: “Ông muốn tôi làm cái gì?” Tôi không phải là loại người hay giúp đỡ đâu. Chưa kể, Morley là một người Gia Nã Đại. Tất nhiên chẳng phải vì ông ta là người Gia Nã Đại mà tôi chống báng, nhưng có lẽ tôi không khoái chuyện người Gia Nã Đại nhảy xổ vào dạy dỗ chúng ta phải vận hành cuộc chiến khốn kiếp ấy thế nào. Tôi nghĩ trong thời gian ấy mọi chuyện đều có vẻ như vậy.

Tôi không tin người ta có thể thực sự đưa ra được sự thật trên vô tuyến truyền hình. Không bao giờ có sự thông hiểu toàn diện giữa một phóng viên tại chỗ và các nhân viên mãi tận New York, nơi người ta phát hình. Tôi cho có lẽ như vậy. Tôi đoán việc ấy dĩ nhiên cũng có thể thực hiện được, nhưng tôi biết đã không xảy ra trong thực tế như thế.

Về mặt khác, tôi nghĩ: Thực cũng rất khó biện hộ cho một số viên chức Việt Nam (miền Nam). Việc người ta cố ý làm cho hình ảnh của họ trở thành xấu xa tệ hại, việc này không khó, vì chính họ cũng đã tự làm cho hình ảnh của họ xấu xa tệ hại rồi.

Nhưng tôi cũng nghĩ sự thiếu hiểu biết của các thông tín viên đã rất lớn lao. Nhiều điều người ta thường mãnh liệt kết án người Việt Nam (miền Nam), nhưng trong quan điểm chính họ, những điều ấy không nhất thiết xấu xa. Lấy thí dụ: Chức vụ Tỉnh Trưởng, một chức vụ được rất nhiều người mong muốn. Đối với Mỹ, tất cả các Tỉnh Trưởng Nam Việt Nam tự trong định nghĩa, đều là những kẻ tham nhũng. Theo tiêu chuẩn chúng ta, họ tham nhũng, vì lẽ họ đã nhận tiền, họ thâu góp mua bán chức vụ: Chủ tịch Xã trả bao nhiêu, Trưởng ấp trả bao nhiêu, người ta đều phải trả tiền cho ông ta. Tuy nhiên trong cặp mắt người Việt, những việc ấy không chướng tai gai mắt đến độ khủng khiếp, vì viên Tỉnh Trưởng cũng sẽ bị xem là xao lãng bổn phận đối với gia đình, nếu ông ta không lo săn sóc cho gia đình, cho bà con ông ta trước. Chúng ta gọi việc này là chế độ gia tộc (nepotism), thói bao che dung túng người nhà, nhưng người ta vẫn thường dễ dãi chấp nhận trong truyền thống. Việc ấy, bấy giờ đã xảy ra như thế này: Thoạt đầu, có lẽ người Việt cũng chẳng nhũng lạm gì hơn mọi xã hội cổ truyền khác. Nhưng rồi chúng ta đã đến với đầy rẫy tiền bạc, mọi thứ đều cùng đến với sự hiện diện của người Mỹ, và người ta trở nên nhũng lạm hơn bao giờ hết, vì đã có quá nhiều thứ để mà nhũng lạm. Với một đề tài như thế, làm sao người ta có thể giản dị diễn tả ra trong một bản tin chỉ có ba phút vào phần tin tức truyền hình buổi tối?

Nội việc nhắc đến những đề tài ấy trong hình thức bản tin cũng đã là một hành vi lăng nhục thái quá. Làm sao có thể diễn tả đầu đuôi, có thể nói hết trong truyền hình, trừ khi làm hẳn một phim tài liệu để diễn tả hoàn cảnh, phong tục, tập quán, tinh thần của người miền Nam Việt Nam. Nhưng không ai chú trọng việc này. Lúc ấy tôi có viết chuyện ấy, thỉnh thoảng nhiều bài được đăng lên báo, nhưng tôi không rõ có ai để ý đến không.

Tham nhũng trở thành một vấn đề khủng khiếp tại Việt Nam khi nó lan tràn xuống các cấp dưới. Nguyên thủy, đời xưa vấn đề tham nhũng trong xã hội Việt Nam chỉ xảy ra ở giới cao cấp thôi. Một phú thương muốn hưởng vài đặc ân, anh ta có thể đến xin yết kiến quan thượng, ông quan này có thể phán: Nhà ngươi đang làm xáo trộn cái dòng yên tĩnh ở đây! Câu đó có thể được hiểu: anh ta cần phải đền bù lại việc đã làm gợn sóng trên mặt nước yên tĩnh của dòng lịch sử đang chảy trôi. Và việc này không ảnh hưởng gì đến nhiều người khác.

Tôi nhớ người đầu bếp của tôi, tên Nguyễn Văn Minh, có lần đến tìm tôi. Anh ta rất xúc động, giận dữ. Anh ta nói Cảnh sát gọi anh, họ chẳng kể gì đến việc anh đã có tám đứa con và đã trên bốn mươi tuổi, nay họ tống giấy bắt anh nhập ngũ. Anh ta không có khai sinh của mấy đứa con để chứng minh. Tuy nhiên Cảnh sát cho biết có thể tìm ra những giấy khai sinh này nếu anh chịu mười lăm ngàn đồng bạc. Vâng, anh Minh nổi giận không phải về việc Cảnh sát đòi ăn hối lộ. Anh Minh nổi giận vì Cảnh sát đòi nhiều quá. Anh Minh cho rằng tổng số mười lăm ngàn là quá nhiều, anh phải thương lượng để hạ bớt, nhưng họ vẫn không chịu – Vâng, chính tôi là người đã trả cho anh ta số tiền hối lộ đó. Anh đã được tha, không phải nhập ngũ nữa.

Tôi ở vị thế khó biện hộ cho người miền Nam Việt Nam, vì chính tôi cũng đã từng chỉ trích họ. Tuy vậy, tôi vẫn không cho rằng họ quá xấu như người ta sơn phết ra. Mặt khác, hãy thử nhìn xem họ có đặc điểm nào đáng đề cao để bù đắp lại hay không? Vâng, nhiều người đã tận tình chiến đấu. Trong hầu hết các cuốn sách viết về những ngày cuối cùng của cuộc chiến Việt Nam, đều thấy bằng cớ nói về các đơn vị đã chiến đấu cực giỏi. Một số sĩ quan, thay vì đầu hàng, đã tự sát.

Cũng đừng nên quên khi Quốc hội cắt viện trợ, sự kiện này có một ảnh hưởng tiêu cực cao độ giáng lên tinh thần binh sĩ miền Nam. Bấy giờ chúng ta đang có mặt trong một xứ sở mà trên nguyên tắc đáng lẽ phải có đầy đủ phương tiện để chiến đấu, và khi rút đi, tối thiểu chúng ta cũng phải cung cấp phương tiện cho họ. Nhưng rồi kết cuộc, chúng ta cắt cổ họng họ bằng việc cắt viện trợ. Tôi không cho hành vi này là một hành vi tử tế.

Khi Ban Mê Thuột mất vào tháng ba, 1975, tôi cảm thấy đây chính là màn khởi đầu của sự kết liễu. Bấy giờ tôi đang ở Tokyo, trên đường về Hoa Kỳ nghỉ phép. Tôi vừa rời Hồng Kông, nhưng vẫn theo dõi mọi sự, tôi bèn vài lần đề nghị văn phòng cho tôi trở lại Việt Nam, vì e một người làm việc không đủ. (Lúc ấy chúng tôi đã có một người tại Việt Nam). Thế là tôi quay lại và đã chứng kiến tình trạng hiển nhiên đang xảy ra. Quả thực Ban Mê Thuộc chính là điểm khởi đầu của kết cuộc.

Trong những ngày cuối cùng ấy, biết bao phái đoàn đã lui tới Việt Nam. Tôi không buồn để ý đến việc lấy tin viết về họ vì lẽ tôi nghĩ các phái đoàn ấy toàn là những tên độc ác ghê tởm. Thực sự mà nói: Không phải tất cả đều xấu. Ngay cả Bella Abzug cũng trở nên mủi lòng khi bà ta chứng kiến những chuyện ở Cam Bốt. Họ không phải là người xấu, nhưng tôi không tin những bọn du khách lượn lờ đến thăm viếng chiến tranh. Về một mặt, chính họ là những kẻ khai thác chiến tranh. Tôi còn nhớ khi Nghị sĩ Ted Kennedy, người mà tôi xem thường – thực vậy, tôi vẫn xem thường ông ta – một lần có đến Việt Nam, rồi đi ra thăm Bình Định, một tỉnh tình hình khá dữ dội. Bấy giờ ông ta đang nói chuyện với một số nhân viên AID (cơ quan phát triển quốc tế) và một vài thường dân Mỹ ở đó. Ông ta bảo: “Thưa quý ông, có điều gì quý ông cần tôi giúp đỡ chăng?” Một anh tên là Krieger bèn bảo “Vâng, có chớ. Ông có thể nằm nhà để yên cho chúng tôi làm việc ở đây.” Kiểu nói chuyện này có lẽ không nên dùng để đối xử với một quan khách thăm viếng, nhưng đấy chính là điều mà anh ta thực sự cảm thấy như thế vậy.

Tôi không bao giờ tiên đoán được cái chung cuộc xảy ra thê thảm như cách chúng ta phải tuôn chạy từ trên nóc nhà toà Đại sứ. Tôi thực sự không muốn nghĩ đến chuyện chúng ta thất trận. Có lẽ, với lý trí, tôi biết chúng ta sẽ thua, nhưng trong tình cảm, tôi khó chấp nhận việc này vì lẽ chúng ta đã đầu tư vào đấy quá nhiều, và theo quan niệm của tôi, chúng ta không cần phải thua cuộc. Tuy thế, lúc ấy, hiển nhiên chúng ta đã bại trận rồi. Trong mắt tôi, chúng ta đã thua cuộc chiến ngay tại Hoa Kỳ, chớ không phải ở Việt Nam. Tôi biết, đó là một bản đúc rập khuôn, chúng ta không bao giờ thua ở các trận đánh, nhưng chúng ta đã thua một cuộc chiến tranh. Và tôi không thể mường tượng giờ chót đã xảy ra như thế. Tôi chẳng bao giờ nghĩ chính tôi cũng phải leo tường chui vào toà Đại sứ tuôn chạy khỏi Sàigòn ngày 29 tháng Tư năm 1975 ấy.

Giữa tháng tư, tôi có ra Xuân Lộc. Tôi không bao giờ nghĩ họ có thể giữ được nơi này. Tôi nghĩ họ sẽ cố đánh một trận ngoạn mục, nhưng tôi không nghĩ nơi này có thể tồn tại lâu được.

Ngày 14 tháng Tư, tôi viết một bài dựa trên các dữ kiện của Trung ương Tình báo mà chúng tôi có, trong bài này tôi nói Hà Nội sẽ tiến chiếm, họ sẽ không buồn chú trọng gì đến các giải pháp tô điểm để giữ thể diện cho miền Nam Việt Nam. Sẽ không có một giải pháp chính trị nào. Họ sẽ vào thẳng mà chiếm đất thôi. Tất nhiên, đấy quả là những gì họ đã làm.

Có một số thông tín viên ở lại, tổng cộng khoảng đâu chừng tám mươi người. Tôi không ở lại, vì hai lý do. Lý do thứ nhất: Tôi biết câu chuyện lớn sẽ là sự sụp đổ Sàigòn. Tôi muốn mang câu chuyện này ra. Tôi không dám chắc tôi có thể gửi bài viết về câu chuyện này ra nếu tôi ở lại. Đó là vấn đề có tính thực dụng. Thứ hai, và cũng quan trọng như lý do thứ nhất, tôi không muốn ở lại. Không, cảm ơn quý vị. Về phương diện tình cảm, tôi không thích chứng kiến bọn Cộng sản kéo vào. Điều ấy không có nghĩa là tôi sợ khi bọn chúng vào, chúng sẽ bắn giết người Mỹ hay đại loại những gì như thế. Và đây là sự thật, sau khi rời Sàigòn, đang ở trên một chiến hạm ngoài biển Nam Hải, người ta loan báo trên máy phát thanh rằng tất cả các thông tín viên ở lại Sàigòn đã bị Cộng sản hành quyết. Tất cả thông tín viên trên tàu cười ồ, bảo “Cứt khô!” Không ai tin chuyện ấy. Không đúng như thế. Tôi không rõ mẩu tin này từ đâu ra, có lẽ chỉ là cái sản phẩm từ lòng mong muốn của bọn quân đội thôi.

Tôi mong được đi Sàigòn sau khi chiến tranh đã chấm dứt. Nhưng người ta trả lời tôi: “Ô, thưa ông Beech, nếu ông trở về Sàigòn, e chừng ông sẽ đụng phải một vài phần tử xấu trong đám bạn bè cũ của ông ở nơi đây.” Tôi bèn bảo: “Tôi không biết vì sao, nhưng tất cả các phần tử xấu mà tôi quen biết tại Sàigòn, bây giờ đều ở Mỹ cả rồi. Tôi nghĩ họ đều đã ra đi cả. Họ được an toàn, chứ không như bọn khốn khổ đáng thương các anh lúc nào cũng phải tự hỏi bữa cơm sắp tới đây, lấy cái gì bỏ vào mồm!”

Đứng về phương diện nghề nghiệp mà nói, tôi rất thích trở lại Sàigòn.

Nhưng tôi sẽ không van nài họ để xin phép trở lại. Tôi là một thông tín viên hải ngoại chuyên nghiệp. Tôi có một tiểu sử ba mươi ba năm làm việc ở Á Châu. Tôi không thuộc loại những cậu phóng viên đặt bản doanh ở Hoa Thịnh Đốn hay ở Los Angeles hoặc nơi nào khác.

Tôi quen (Tướng) John Murray, Tùy viên Quân sự đầu tiên, từ lúc ông hãy còn là một Đại úy ở mặt trận Triều Tiên. Ông là một người rất tử tế. Trước khi rời Việt Nam, ông thường nhiều lần giãi bầy tâm sự với tôi bởi chúng tôi đã có nhiều năm quen biết. Một hôm, ông đầy xúc động. Ông ngồi, nước mắt chảy dài trên hai má. Và ông bảo “Lạy Chúa toàn năng, tại sao họ có thể làm như thế?” Ông biết rằng nhiều đơn vị quân đội miền Nam không còn đủ đạn dược nữa.

Người ta có thể bảo: Ừ, trước sau người miền Nam cũng vẫn bị đánh bại, có cho thêm quân dụng thì chỉ giản dị là kéo dài nỗi thống khổ của cơn hấp hối trước cái chết vậy thôi.

Nhưng nếu người ta có mặt ở Việt Nam lúc ấy, người ta sẽ không có cái nhìn như thế.