ĐÀ LẠT…

vudinhhuy

theo bước Chúa
anh lên đồi
dấu xưa nằng nặng
rã rời đôi vai

cafe quán vắng
dốc dài
lắng mưa tí tách
thiên tài tủi thân

đà lạt
vắng bóng thánh thần
vì em
và những nợ nần ngày xưa

đà lạt
không thiếu không thừa
vì anh thiêm thiếp
rất vừa
chiêm bao.

VŨ ĐÌNH HUY

EM NÓI…THUỞ XƯA

nguyennhumay

1.
Anh không vội tin Em
lời Em như sóng biển

mới đó mà tan biến
để quay về đại dương …

nhưng rồi vì yêu thương
anh vẫn chờ Em nói …

2.
Thủa xưa Em là gió
thổi nắng vào tay anh
làm phai nét mực xanh
tuổi học trò giây trắng

bây giờ Em ra nắng
anh sợ gió đẩy đưa
cho mắt Em tình cờ
quên nhìn anh đứng đợi

những gì ta muốn nói
gió giữ lại làm tin
để anh mãi ngóng Em
tà-áo-xanh bạc nắng …

Nguyễn Như Mây

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, “Chúng tôi bật khóc khi nhận ra rằng: Thôi thế là xong”

nuocmattruocconmua

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before The Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.

VŨ THỊ KIM VINH
“Chúng tôi bật khóc khi nhận ra rằng: Thôi thế là xong”

Năm 1961, mẹ tôi sinh tôi ở Tây Ninh rồi đưa tôi về Saigon. Chúng tôi là người Công giáo. Cha mẹ tôi có mười người con, tôi là con giữa. Tôi có sáu chị lớn, hai anh trai và một em gái. Bây giờ tôi chỉ còn lại một anh trai. Một người đã mất vì chứng sưng ruột mà anh bị từ lúc còn ở trong trại tỵ nạn Mã Lai. Vượt biên đến Trại, anh đã mổ một lần tại đây. Sang Mỹ, mổ thêm năm lần nữa, chết lúc hai mươi bảy tuổi.

Tôi vẫn còn nhớ chiến tranh diễn ra từ khi tôi còn bé, vì tôi thường được mẹ tôi đưa đi thăm ba tôi, lúc ấy ở trong quân đội, đóng tại tỉnh Bình Dương. Lúc còn bé, có lần đau nặng, tôi đã xuống ở với ba tôi vài tháng để nhờ các Bác sĩ Quân Y săn sóc cho tôi. Những gì làm tôi nhớ nhiều đến cuộc chiến và những hiểm nguy của cuộc chiến là vào năm 1968, khi Cộng sản tấn công trong dịp Tết. Lúc ấy gia đình tôi đang ăn trưa, cha tôi nhận điện thoại của ông Tướng bảo phải trở về đơn vị ngay lập tức. Mọi người trong gia đình đều lo lắng vì đang dịp Tết, ai nấy đang vui Xuân. Chỉ còn mẹ tôi bên cạnh, chúng tôi đều lo sợ cầu cho cha tôi được tai qua nạn khỏi. Mẹ tôi hết lòng khấn nguyện. Cha tôi lúc ấy là Trung tá trong quân đội.

Tôi rất hãnh diện về cha tôi. Ông hồi hưu từ trước 1975. Sau những trận đánh 1968, ông đã nhận được nhiều bằng tuyên dương công trạng của Tổng thống Nixon và của tướng Westmoreland, bởi chính ông là người đã lấy lại tỉnh Bình Dương, mở đường cho các đơn vị khác, do đó Cộng sản bị đánh bại. Ông là người rất can đảm. Sau đó xin về hưu, ông nghĩ mọi chuyện dây dưa quá nhiều đến chính trị. Cha tôi đã du lịch nhiều nơi. Ông nói được tiếng Anh, tiếng Pháp. Ông không xa lạ gì với đất Mỹ vì ông đã từng được đi huấn luyện ở Mỹ.

Khi dư luận xôn xao về những chiến thắng của Cộng sản vào năm 1974 và 1975, chúng tôi không lo lắng vì lẽ cha tôi tỏ vẻ không quan tâm. Cả đến khi họ tiến tới gần Saigon, chúng tôi vẫn không lo, cha tôi tin Cộng sản sẽ chẳng bao giờ thắng nổi.

Chị tôi lấy một người chồng, anh này có một người cha giàu có. Cha anh quen biết nhiều sĩ quan cao cấp trong chính quyền ông Thiệu, biết rõ tình hình xảy ra. Anh rể tôi khuyên cha tôi nên thu xếp tiền nong, gói ghém quần áo ra khỏi Việt Nam vì lẽ đã tuyệt vọng rồi, đồng minh không giúp chúng tôi nữa. Lúc ấy khoảng đầu tháng Tư.

Cho đến 21 tháng Tư chúng tôi vẫn tin là với một quân đội và binh lính mạnh mẽ, không cách gì thua được. Mặc dầu chúng tôi không ưa chính quyền ông Thiệu, nhưng chúng tôi cũng chẳng thích gì Cộng sản. Chúng tôi đâm ra bối rối. Nghe dư luận bảo Cộng sản sẽ tiến đến thiết lập một chính quyền mới, nhưng chúng tôi chẳng còn gì khác để tin, chẳng có một đường lối nào ở giữa để chiến đấu. Mặc dầu chúng tôi đã chiến đấu, nhưng đó chỉ vì bó buộc mà phải chiến đấu thôi.

Chúng tôi đều đã chán ngán chiến tranh. Chúng tôi sợ cho gia đình và tính mạng lâm nguy nếu Cộng sản chiếm đóng. Và vấn đề là, đến giữa tháng Tư, thì những người quan trọng trong chính quyền bắt đầu di tản cả. Điều ấy làm cho mọi việc náo loạn, kinh hãi. Sau đợt di tản đầu tiên, nhiều người đã trở nên hoảng hốt.

Chú tôi làm việc cho ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến. Ông xếp đặt cho những người rời khỏi nước, đưa họ ra phi trường lên máy bay. Khi mất Ban Mê Thuột, rồi mất đến Nha Trang thì mọi người thất kinh. Gia đình tôi bắt đầu kiếm đường đi, chỉ vì thấy ai cũng đi cả. Quan niệm gia đình Việt Nam là quan niệm gia đình mở rộng, họ hàng gần gũi thân thiết nhau. Nếu gia đình này đi mà gia đình khác không đi, người ta thấy vắng vẻ buồn bã vì không có thân nhân bên cạnh, cho nên người này đi, người khác cũng đi. Nhưng gia đình tôi bị kẹt, chính vì có quá nhiều lựa chọn. Một người chị tôi làm cho ngân hàng Mỹ. Chị cho biết ngân hàng của chị sẽ di tản nhân viên, họ sẽ cho chị mang theo một người nữa. Gia đình tôi quyết định cho một chị nữa đi cùng. Và rồi một người chị khác, là người lấy chồng con nhà giàu, cũng muốn mang con đi. Bà chị này đi sớm hơn, ra đến Tân Sơn Nhất mới biết hễ ai lọt qua cổng phi trường là đi được, không hạn chế gì. Chị ấy cố tìm cách điện thoại kêu chúng tôi đi, nhưng điện thoại tại phi trường kẹt. Cả một hàng dài người đứng chờ nên không thể nào gọi được. Nếu chị ấy gọi được, có lẽ chúng tôi đã cùng đi được với chị ấy rồi. Chị có đứa con tám tháng, lại thêm đứa nhỏ của người chị khác nữa, cứ phải lu bu cho bú. Đêm hôm ấy, chị bay được sang Guam. Sau đó gia đình tôi bắt đầu gặp hết chuyện này đến chuyện khác. Người anh rể tôi trở về nhà thì cha mẹ anh ấy đã đi cả mà không hay. Anh hoảng hồn tìm đến chúng tôi. Bấy giờ anh đang ở trong Không quân, lại về Saigon không giấy phép. Chúng tôi phải đưa anh trốn rồi tìm đường cho anh đi trước.

Người chú làm ở ủy Hội Kiểm Soát Đình Chiến cố giúp đưa tên anh vào danh sách. Nhưng nhiều người biết anh là con triệu phú, người ta nghĩ anh phải mang nhiều vàng và đô la lắm nên có người báo cảnh sát. Anh ấy là phi công. Bấy giờ luật không cho quân nhân được rời Việt Nam không giấy phép, nên nếu anh bị bắt thì có thể bị bắn không cần xét xử gì. Anh bị bắt ngày 27 tháng Tư, vì thế chúng tôi kẹt lại. Mẹ tôi là người rất tử tế. Một người đàn bà can đảm với trái tim vàng. Đôi khi bà lo lắng cho người khác còn hơn cả cho con đẻ của mình. Thấy anh rể tôi bị bắt, mẹ tôi bảo bà chỉ chịu đi khi nào thấy tận mắt anh rể tôi lên được máy bay.

Hôm 28, chị tôi – vợ của anh phi công , ra đi. Chị có thai nên đi trước. Mẹ tôi hỏi tôi có muốn đi theo săn sóc cho chị không. Tôi trả lòi tôi muốn, nhưng em tôi lại thân với chị tôi hơn. Nó khóc khi thấy chị tôi đi. Vì thế tôi đã rất ngu mà bảo nó thay chỗ tôi mà đi. Quyết định này làm tôi phải trả giá năm năm dưới chế độ Cộng sản.

Tất cả những vấn đề lôi thôi gây ra là do chú tôi. Đáng lẽ phải lo cho bà con đi trước, ông lại lo cho những người giàu có hơn, họ trả ông vàng và đô la, vì thế ông đã trì hoãn những chuyến đi của chúng tôi để sắp đạt cho các người lạ đi thế vào. Tôi không trách chú tôi vì ông cần tiền, ông phải lo cho gia đình, và chẳng biết ngày sau sẽ ra sao. Phần ông cũng định sẽ đi sau chót. Một hôm về nhà ông nói: “Trời ơi! Hôm nay có tới ba chỗ trống người ta bỏ chuyến đi. Đáng lẽ em có thể xếp cho chị đi được”. Mẹ tôi rất giận, hỏi sao chú lại đối xử với chúng tôi như thế. Chú tôi chỉ bảo chú không có thì giờ.

Chính chú tôi cũng bị kẹt. Hôm 29 là ngày cuối cùng, chú về nhà khóc mà nói: “Tuyệt vọng rồi”. Mẹ tôi kinh hoàng hỏi chú tại sao. Chú tôi đáp các nhân viên ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến đã đi hết, chú tôi không đi được. Ở Tân Sơn Nhất người đông quá, chú không lọt qua nổi. Các nhân viên khác không đợi, họ đã đi cả.

Chị tôi bèn gọi cho người bạn làm ở Tòa Đại sứ Mỹ, nhưng điện thoại đã cắt, nên chúng tôi tới thẳng Tòa Đại sứ. Hôm ấy là 28, một đám đông đang vây quanh khu này. Người ta la thét, khóc lóc, xô lấn nhau tìm cách vào cổng. Bấy giờ lại có những người biết gia đình nào đã đi thì họ tràn vào nhà hôi của: lấy tủ lạnh, bàn ghế V..V… Bọn hôi của có thể là bất cứ người nào trên đường phố.

Đến Tòa Đại sứ, chúng tôi biết chẳng cách nào vào được. Bây giờ tôi không thấy sợ hãi, chỉ bực bội giận dữ, và tê hết cảm giác. Tôi cứ nghĩ “Thế này thực không công bằng”. Tôi không thể hiểu vì sao mọi chuyện đã xảy ra với dân tộc tôi như thế. Nhưng ai có thể nói là có công bằng trong cuộc đời này?

Tôi còn nhớ lúc ấy trời mưa, cha mẹ tôi bảo không thể nào đứng đợi mãi, nên chúng tôi quay về kiếm đường khác. Chúng tôi cần về nhà cũng vì cũng lo bọn hôi của có thể đến nếu họ thấy chúng tôi đi lâu quá. Nhưng khi về nhà rồi, cha tôi không muốn đi nữa. Bà nội tôi vẫn còn ở ngoài Bắc, tôi biết cha tôi muốn gặp lại bà. Ông bảo thôi bất kể chuyện gì xảy ra, ít nhất cũng được gặp lại mẹ và các chị em của ông. Nhưng mỉa mai thay, cha tôi sẽ không bao giờ có dịp gặp lại bà tôi. Ông bị đi “cải tạo”, và bà nội tôi mất trong khi ông hãy còn đang cải tạo.

Ngày 29 chúng tôi mở truyền hình xem chương trình cuối cùng của chính phủ tự do. Chúng tôi nghe ông Vũ Văn Mẫu lên án người Mỹ, yêu cầu người Mỹ ra khỏi xứ. Chúng tôi thấy một người trong đám sinh viên cấp tiến từng bí mật hoạt động cho Cộng sản nay mới ra tù, lên tuyên bố rằng: “Bây giờ là lúc thanh niên sinh viên học sinh hãy sửa soạn đón chào niềm vui mới. Niềm vui thống nhất đất nước Việt Nam”.

Lúc ấy tôi ngây thơ hy vọng người ta sẽ không phản bội lời nói mình. Tôi nghĩ những người bên kia cũng yêu nước, như thế có lẽ mọi sự cũng ổn thoả thôi.

Sáng sớm 30 tháng Tư, tôi không thấy có quân đội nào trên đường phố. Chừng chín giờ sáng mở máy phát thanh thì nghe tướng Minh kêu gọi quân đội ngừng chiến đấu. Ông tuyên bố cuộc chiến chấm dứt.

Chừng buổi trưa chúng tôi thấy bộ đội Cộng sản đi xe Jeep có cắm cờ chạy qua nhà tôi. Điều đầu tiên sau khi thấy họ là chúng tôi đi thay quần áo. Chúng tôi đều đổi sang mặc quần áo đen. Dư luận nói họ không thích thấy ai ăn mặc tử tế vì lẽ như thế chứng tỏ có tiền, sẽ bị họ giết. Tướng Minh tuyên bố ông không còn là Tổng Thống nữa. Chúng tôi bật khóc khi nhận ra rằng thế là xong. Cha tôi cũng khóc.

Tôi là người đem đốt tất cả giấy tờ văn bằng mà cha tôi đã nhận được do người Mỹ và do chính phủ cấp, các giấy tờ do ông Thiệu, do Nixon và tướng Westmoreland đã gửi cha tôi để cám ơn về các công tác ông đã thực hiện. Tôi cũng đốt hết các hình ảnh cha tôi vẫn giữ làm kỷ niệm. Tôi bật khóc. Tôi lên sân thượng, thấy chiếc máy bay cuối cùng rời khỏi nước, một chiếc DC-3. Tôi thấy cái máy bay cố cất cánh, rồi bùng nổ trong không trung. Tôi thấy rõ một cái hỏa tiễn bắn trúng, cái máy bay bùng nổ. Tôi thấy những mảnh vụn và những thây người rơi ra ngoài trời rồi rơi xuống đất. Đó là buổi sáng ngày ba mươi.

Chúng tôi cũng thấy một chiếc trực thăng quần trên ngôi nhà một Bác sĩ quân y, cũng là Giám đốc quân y viện. Chiếc trực thăng cố bốc ông Bác sĩ ra đi, nhưng cái dây hơi ngắn, thả xuống không đủ, ông không sao lên được. Chiếc trực thăng quần trên ngôi nhà một lúc, nhưng ông Bác sĩ không vào nổi, chiếc trực thăng bay đi, bỏ ông lại. Bao nhiêu người đang cố tìm đường đi, đây là người có phương tiện ra đi, nhưng không vào trực thăng được.

Sau ngày 30, người ta vẫn có thể rời khỏi Việt Nam khá dễ dàng. Nhưng kẻ chiến thắng vẫn còn bận ăn mừng nên đã không kiểm soát mặt biển kỹ càng. Cha mẹ tôi cố tìm cách trả tiền kiếm tàu đi. Nhưng trên đường, cha mẹ tôi gặp mấy người lính Cộng sản đi nhờ xe. Cha mẹ tôi nói chuyện với họ, họ nói mọi sự yên ổn, sẽ không có chuyện tắm máu đâu. Cha mẹ tôi hỏi thăm về việc nghe nói những người ở trong quân đội sẽ phải vào trại tập trung, họ bảo: “Không! Không có đâu! Mọi sự sẽ yên ổn thôi”.

Rồi họ kể cho chúng tôi nghe con gái ở ngoài Bắc ăn mặc đẹp còn hơn con gái trong Nam như thế nào. Họ bảo chẳng có chuyện trả thù: “Đừng biến chúng tôi thành những con quỷ, chúng tôi không phải thế đâu”.

Nhưng rồi ngày mùng Một tháng Năm là một ngày rất buồn. Một ngày nặng nề u ám. Điện tắt nhưng Cộng sản không sửa được. Chúng tôi nghe trên đài phát thanh một giọng nói miền Bắc to và sắc buốt của người xướng ngôn viên lên án Mỹ và những người cộng tác với Mỹ.

Anh ta hạ nhục chúng tôi bằng cách nói chúng tôi là lũ đầy tớ, lũ chó săn của chính phủ Mỹ, bởi chúng tôi đã hoạt động với họ trong công tác chống Cộng. Chúng tôi hết sức tổn thương khi nghe như thế.

Việc đi ra phố hãy còn nguy hiểm vì người ta vẫn thường đột nhập vào nhà, nếu họ tưởng người nhà đã di tản cả. Tình trạng hết sức rối loạn. Nhiều người có súng đã cướp ngay trên đường phố, gây một bầu không khí cực kỳ kinh sợ.

Tôi đạp xe đạp ra đường thấy vài người lính miền Nam. Họ vừa lột bỏ đồng phục vừa khóc. Người ta thấy họ và trong lúc giao thời mới cũ này, có người đã xua đuổi lính miền Nam để lấy điểm với chính quyền mới. Bấy giờ tôi là một đứa bé, nhìn thấy thế tôi thật ngượng ngùng. Tôi phát tởm khi chứng kiến cảnh tượng ấy. Rồi cũng chính những người này đã đi hoan hô lính Cộng sản. Họ ôm lấy lính Cộng sản như những người anh em thất lạc lâu ngày. Tôi thật ngạc nhiên khi nhìn thấy thế, và cảm thấy không vui vẻ gì.

Vào thời gian này nếu gia đình nào có bà con làm cho chính quyền miền Bắc, dù chỉ một tên lính quèn, người ta cũng cảm thấy ít nhất là được an toàn. “Đấy, gia đình chúng tôi cũng có người chiến đấu chống miền Nam”. Tâm lý ấy làm chúng tôi rối rắm, bởi vì trước đó chẳng ai dám nói có quen người miền Bắc hoặc có thân nhân trong quân đội bên kia. Chẳng ai bảo ai nhưng rồi tức khắc người ta đã biết phải làm gì: Chợt một cái, nhà nào cũng treo cờ Việt Cộng. Cờ Việt cộng trở thành một cái thẻ an ninh hoặc một tín chỉ có thể cứu mạng người ta. Nhà nào cũng phải có một lá cờ. Tôi trở nên sợ hãi bởi vì mọi người quá sợ hãi gần như mất lý trí. Người ta không còn nghĩ được nữa. Tôi có một cái áo xanh mà tôi rất thích, nhưng chúng tôi đã phải xé ra làm cờ. Tôi khóc khi làm như thế, tôi nhớ lại mình thật kỳ khôi. Anh tôi là tay thể thao, ảnh có một cái quần đùi màu vàng. Chúng tôi xé ra để cất một ngôi sao may lên cái cờ treo trước nhà. Khi lá cờ treo lên rồi, gia đình tôi mới cảm thấy yên. Người nào cũng phải làm thế, bầu không khí sinh hoạt đã khác lạ lắm. Chợt một cái, mọi người đều nhìn ngoại giới với một nhãn quan khác hẳn.

Những người giải phóng sử dụng một ngôn ngữ lạ lùng – mặc dầu vẫn là tiếng Việt. Nhiều người bắt đầu bắt chước giọng ấy. Thật lạ lùng. Sau một tuần lễ, họ chia chúng tôi thành khu vực, mỗi khu vực có một ủy viên Chính Trị. Họ giảng về chủ nghiã Mác Xít, Lê Nin nít và chúng tôi phải thảo luận trong các buổi họp. Thật nhục nhã. Trong các buổi họp này họ bắt chúng tôi phải phê bình kiểm thảo lẫn nhau. Ngay cha tôi cũng phải kiểm thảo trong buổi họp này. Ông nói ông đã giết người vô tội, nhưng tôi biết ông chẳng giết ai vô tội cả. Nếu ông không giết chúng, chúng sẽ giết ông. Thế mà ông đã phải nói rằng ông là người có tội, ông xin khoan hồng về việc “giết người vô tội”. Tôi chứng kiến cảnh cha tôi khóc trước mặt mọi người. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi thấy cha tôi khóc. Chính tôi cũng phải làm như thế. Tôi cũng đã phải nói rằng tôi không đồng ý cách sống của cha mẹ tôi. Việc này xảy ra sau khi nghe cán bộ nói về chủ nghiã Mác, Lê, nói về sự nghiệp hy sinh của miền Bắc giải phóng miền Nam. Cho nên tôi đã buộc phải nói rằng tôi rất thù ghét những người như cha mẹ tôi về những gì họ đã làm. Tôi đã nói như thế, chỉ để mong được sống còn.

NHỮNG ĐÊM TRẮNG

tonnuthudung

Thất nghiệp. Ở nhà chơi một tháng tôi thấy nhục, bèn lân la tìm chỗ đi làm. Mấy tờ báo, truyền thông, truyền hình Free quen rồi bây giờ đòi tiền ( dù để cứu đói) cũng thấy khó coi. Tôi tự trách mình ngu , ai biểu hồi đó trong các thông báo công khai ( và bí mật)đã viết ( và nói rõ ) :” Nếu muốn nhận nhuận bút xin báo trước với Ban Biên Tập “. ( thông báo vậy có khác nào ngầm nói :” Nếu ho he , hó hé đòi nhuận bút , bài của bạn sẽ đi thẳng vào sọt rác !”) Bởi vậy , tôi (có thể hiểu lầm ) đã không báo trước nên những đứa con tinh thần( xinh đẹp ) của tôi  lần lượt xuất hiện nơi này nơi kia mà không ai chịu có động thái nào hoặc nói gì với tác giả…một tiếng cảm ơn cũng không luôn ! Trừ một tờ…tôi không muốn nêu tên vì nó không được…nhiều người đọc lắm! “ Em cho chị gởi chút xíu cho vui !” Cái …chút xíu đó đủ để tôi uống cà phê Starbucks mười ngày… cho đến cái ngày chị tuyên bố đóng cửa tờ báo… Có lẽ vì chị cứ …chút xíu cho vui với người này người nọ theo  lẽ công bằng !

Mấy cái bằng cấp bèo nhèo  của tôi gởi đi đâu cũng bặt vô âm tín dù tôi đã khá kiêu căng photo thêm mấy bằng khen , giấy chứng nhận…của thị trưởng thành phố , dân biểu tiểu bang, nghị viên địa hạt v.v…công nhận tôi là một công dân gương mẫu, từng nhận các giải thưởng này kia khác nọ…ký tên đóng dấu (như giải nhất chạy marathon dành cho người …khuyết tật !)Những đơn xin việc cứ như Kinh Kha qua sông Dịch Thủy ,cứ như Hoàng Hạc nhất khứ bất phục phản không bằng! (tạm dịch: ra đi biền biệt không về !)

Ông xã tôi, phải công nhận , là một người luôn có những sáng kiến tuyệt hảo cho tôi. Nếu có một người nào đó tôi biết ơn nhất trên cõi đời này ( sau Ba Mẹ) thì đó chính là ổng. Luôn luôn ổng đứng xa xa nhìn và dẫn tôi về đường ngay lối thẳng. Chắc nhiều khi ổng cũng bực mình tức giận vì tôi  nhưng không muốn nói ra, và lúc nào cũng chỉ mỉm cười độ lượng. Ông bà mình nói không sai “ Bút sa thì gà chết “ hay hình tượng hơn , quyết liệt hơn là : “ Một lời nói, một đọi máu “. Hồi tôi còn nhỏ dại , lơ ngơ đi dạy xa nhà…ổng dỗ ngon dỗ ngọt :” Em hãy tựa vào anh, tin tưởng anh, và coi anh như …ba em vậy !”. Hồi… còn nhỏ đó, tôi có cỡ một chục người mà tôi cứ ngỡ ( hoặc tưởng bở ) là yêu…nhưng không hề có ai nói câu nào làm tôi xiêu lòng cái rụp như vậy…và lấy nhau , để suốt đời ổng luôn coi tôi như …con ổng !

Bởi , tôi nói ( ủa quên , ông bà mình nói chớ) : Phải uốn lưỡi  BẢY lần trước khi muốn tuyên bố điều gì ! Câu nói ( có thể là trót lỡ lời) mang đầy tính …anh hùng ca của ổng được tôi mở nhật ký ghi ngay tức khắc.
Thứ sáu ngày 13 tháng 3 năm 1983 anh có nói…( này nọ kia khác)
Để bây giờ , mỗi lần ổng muốn hất tôi ra, tôi chỉ cần (giả bộ) rơi vài giọt nước mắt rồi thút tha thút thít : hồi đó , thứ sáu , ngày 13 , tháng 3… anh đã nói… Vậylà ổng giơ tay đầu hàng bởi mang quá nặng chất… sĩ phu Bắc Hà trong máu…quân tử nhất ngôn …chỉ dám than thầm trách trộm : cái ngày thứ sáu , mười ba chết tiệt ! ( ấy là tôi suy diễn vậy !)

Không ai hiểu tánh tôi bằng ổng…tôi càn quấy ngang ngược gần bằng con cua…nếu đường đường chính chính bắt tôi làm điều gì đó, tôi lập tức lắc đầu quầy quậy dù sau đó sẽ làm …len lén với tâm thức : ta MUỐN chứ không hề là ta BỊ ! Ổngbuộc phải chơi trò ném đá giấu tay, vòng vo tam quốc… chí :
-Không cần đi làm đâu em , ở nhà anh nuôi, em không xài phấn sáp nước hoa, không quần áo thời trang, không đua đòi kim cương vàng bạc. Nuôi em đâu tốn kém gì mấy ?
-Nghĩ sao mà dám biểu em ở nhà nấu cơm , rửa chén , quét nhà , giặt ủi ?
-Em không cần làm những việc đó nếu không thích. Sẽ có người thấy chướng tai gai mắt rồi …làm cho em !
( Nói là nói vậy thôi, chứ thật ra nếu ở nhà chơi không hay đi làm 2 jobs tối tăm mặt mũi tôi vẫn chu toàn việc nhà còn hơn một Osin chính thống !)
– Nghĩ sao mà để anh nuôi, Anh nuôi hoài em thấy …nhục!
– Trời ơi là trời , sao em không nói sớm câu này cho anh đỡ khổ ?
-Anh không nhớ đó thôi…câu này em lặp đi lặp lại cả chục lần mỗi khi em thất nghiệp
( mà em thì thất nghiệp hầu như thường xuyên…tôi nghĩ thêm trong đầu chớ không nói )
– Em có muốn lấy tờ báo của chị Hannah không ? Hôm trước chị nói em làm được đó !
-Không đâu anh ơi,nếu còn kiếm ăn được chỉ đã không bỏ nó.Mỗi lần phát hành nội cái chuyện đem giao cho khách hàng là em ớn lạnh.Rồi lại phải đi kiếm quảng cáo , có đứa đăng quảng cáo cả năm mà chưa muốn đưa tiền , lại có đứa đưa tiền như trả nợ quỷ thần kèm lời chì chiết . Mấy lần em ném lại vô mặt nó bị chị Hannah la quá chừng.
– Hèn chi em thất nghiệp hoài cũng phải. Cái kiểu em hay NÉM VÔ MẶT những đứa em không ưa !!!Nhưng với  TÀI NĂNG THIÊN PHÚ của em , biết đâu em làm tờ báo đó sống lại một cách vẻ vang !
Câu nói đượm đầy mùi xách mé xỏ xiên , nhưng đôi khi tôi thử sức chịu đựng của mình nên vẫn rất nhỏ nhẹ hiền lành :
– Đừng đánh giá em cao quá vậy !
– Không , anh nhận xét khách quan khi nghe em tuyên bố đầy hãnh diện trên Face Book : Trang T2 của em  có nhiều triệu độc giả , khán giả , thính giả lẫn… hành giả quan tâm , yêu mến!
Lạy Chúa, tôi chết đứng trước “ nhận xét khách quan “này . Chắc chắn ổng len lén chơi Face Book nên mới đọc được những lời cảm tạ độc giả yêu quý và cập nhật lượng người đọc hàng tuần của tôi.Nhanh như chớp , ý nghĩ tôi chạy lướt qua  như nhìn trên camera chống trộm mờ mờ nhân ảnh của cái máy dỏm made in China.Tôi hơi choáng váng một chút và tự kiểm điểm kiểm thảo …Không biết mình có làm cái gì quá đà quá đỗi , có đong đưa điệu đàng gì với ai trên Face Book không nữa !!!
Nhưng hơn tất cả , tôi không biết ổng soi mình từ bao giờ ? Nick của ổng là gì nhỉ? Mỗi khi add friend ai , tôi đều tìm hiểu cặn kẽ ngọn nguồn. còn độ 800 người tôi chưa có thời gian và không cần cảm thấy thêm bạn bớt thù nên chưa add. Nghĩ nhanh lên tôi ơi !!! Cuối cùng tôi có danh sách 2 nhân vật đáng để nghi ngờ :
1. Mohamed Ali : Anh chàng này rất đáng ngờ khi gởi tặng tôi một chục bài thơ bằng tiếng Ả Rập mà Dũng Kqđ (một nhà thơ nổi tiếng khắp thế giới với kiến thức uyên thâm hiếm có trên đời) đã dịch là :
Trẫm , Mohamed Ali
Thấy cô Tôn Nữ , tức thì… yêu luôn!
!!”
Trên đời này chỉ có ổng là biết hơn ai hết tôi yêu cô bé Tiểu Siêu, Thánh sứ Bái Hỏa Giáo đến chừng nào, bởi những lúc buồn tôi cứ đọc nghêu ngao:
Lai như lưu thủy hề, thệ như phong
Bất tri hà xứ lai hề, hà sở chung…

( dịch đại :
Chợt đến như dòng nước chảy
Rồi tàn như gió thoảng mau
Không biết từ đâu em đến
Rồi em sẽ về phương nao
…)
Và cảm thán : Tình yêu sao buồn đến vậy !
Từ đó suy ra , Nick name của ổng  chắc là Mohamed Ali. Tôi gọi nhỏ :
-Mohamed.
Ổng không giật mình, cũng không có phản ứng gì thái quá, chỉ thản nhiên :
-Đang nói chuyện , tự nhiên thì thào Mohamed. Em có bị gì không đó ?
Vậy là không phải rồi.
Ai ?
Lạy Chúa, tôi sực nhớ ra một cái nick name khác :
2.Bin Laden: ( Tôi không add nick này vì sặc mùi khủng bố , tôi ghét tội ác , tôi căm thù những kẻ  nhân danh lý tưởng cao cả, thánh chiến hay đấng Ala vĩ đại gì đi nữa để giết người ! Giết, làm bị thương hay làm tổn thương bất cứ sinh linh nào cũng đều man rợ !)
Tôi cũng sực nhớ , trước khi Bin Laden chết , chính phủ Hoa Kỳ hứa sẽ trao 5 triệu tiền thưởng cho người bắt được Bin Laden , bạn bè Nhatrang cứ xúi giục tôi đem nộp ổng lãnh thưởng vì ổng giống Bin Laden quá cỡ !
Tôi khẳng định :
-Nick của anh là Bin Laden !
Ổng cười :
-Em là người cuối cùng biết điều đó , vì như lệ thường , em chẳng quan tâm tới ai !
– Em không đời nào add friend với ai dính dáng đến bọn khủng bố .Vì sao anh đọc được Face Book của em ?
– Nhóc ngu ngốc , anh soi em từ Face BooK Phù Du , Lê Vũ , Dũng Nobita, Quang Nam Nguyễn… những bạn yêu quý của em và của anh.
Tôi thấy mình đúng là ngu ngốc thật, không hề đề cao cảnh giác gì cả…đôi lúc lại còn làm ra vẻ độc thân , vui tính , xấu đẹp tùy người đối diện nữa mới ghê !
Tôi rụt rè thăm dò :
-Em hỏi thật , anh thấy Face Book em ra sao ?
Tôi hỏi vì biết ổng là người trung thực , không bao giờ biết sợ khi nói ra sự thật mất lòng.
– Face Book em rất tuyệt , hình ảnh rõ ràng minh bạch, khoe chồng ,khoe con, khoe nhà. khoe cửa.Tâm tình chân thật thương ai cứ bảo là thương ! Bài vở luôn mang giá trị nhân văn đích thực và đôi khi cũng mang hoài bão anh thư liệt nữ !!! Nhưng…
Tôi ghét chữ NHƯNG
Nhưng tôi vẫn lắng nghe vì những điều ổng nói luôn là sự thật.
– Nhưng em nên nhớ em còn phải về VN bán nhà bán đất. Phải thận trọng .
– Dạ em hiểu. ( Đôi khi tôi rất phục thiện , biết điều , dịu dàng ,dễ thương…các thứ )
– Và , thỉnh thoảng em cũng còn thiếu một chút khiêm cung.
Tôi hơi giận , há miệng ra định cãi , ổng vội vàng trút vào miệng tôi một muỗng cà phê sữa ngọt ngào :
-Anh biết em không cố ý, Nhưng ( lại NHƯNG) khi em hùng hồn kết tội người khác : Đã là nhà giáo, nhà văn …thì phải nhớ nằm lòng hai chữ khiêm cung…là ngay lúc ấy em đã đánh mất hai chữ đó rồi…Em là cái gì mà dám nói người khác như vậy ?
Tôi ngần ngừ trầm ngâm suy nghĩ, rồi gật gù tâm đắc ( dù có hơi hờn giận chút ít trong lòng):
– Dạ , em hiểu.
Ổng lấy tay xoắn  tóc tôi từng lọn (như Ba tôi thường làm vậy hồi tôi còn nhỏ )
– Nhưng ( lại NHƯNG) dù em có thế nào đi nữa anh cũng thương em nhiều nhất sau Tu Hú Chích Chòe.
Bày đặt màu mè riêu cua , cứ nói đại là thương chót trong nhà cho rồi. Tôi không muốn gây chiến trong buổi sáng thứ Bảy trời đẹp như thế này,mưa lất phất trên vườn cỏ , một vùng Quỳnh Sa Mạc , Loa Kèn Trắng, Hồng Vàng lóng lánh dưới mưa, ngôi nhà ấm áp , mùi cà phê thơm ngát…Tôi nói , rất dịu dàng :
-Anh che dù để em ra vườn cắt Lili vào cắm , mưa, Lili nở trắng cả vườn.
Ổng nhìn tôi , thương xót như nhìn một chiếc bong bóng ai lỡ tay làm bay vút lên trời :
-Em thật lạ , em đi từ chuyện này qua chuyện khác còn nhanh hơn tốc độ của âm thanh và ánh sáng.
Tôi chợt nhớ :
-Ồ , thứ hai em lại đi gởi đơn xin việc nữa đó nhen . Em không muốn ở nhà đâu.
– Vâng , thưa cô. Tôi sẽ tư vấn cho cô một công việc cô vô cùng thích thú.
( Cái giọng Bắc Kỳ di cư đểu giả một cách dễ thương)
Bạn có muốn biết tôi sẽ làm công việc gì mà theo ổng là tôi sẽ vô cùng thích thú không ?  Vâng , tôi đã … và Bạn cũng sẽ…Tại sao không ? ( còn tiếp)

TÔN NỮ THU DUNG

 

VÂN HƯƠNG, HOÀNG HÔN L’ADIEU

nguyenlienchau

Gởi Lê Công Lộc
1.
Chiều đi về phía sương mù
Ở mọi nơi nắng vừa tắt trên những cành chim
Tôi gọi hoàng hôn
hoàng hôn tướm máu
Huyết lệ
huyết lệ
kìa những hoa huyết lệ
Rực đỏ đợi chờ
Ngợp ngụa niềm trông
Nương theo tàn hơi vội vã
Sương mù côi
Lạnh lẻ hư không
U u những hạt mưa hồng lặng lẽ
Giữa vô cảm muôn trùng
Tình cất tiếng gào to
Âm loãng tan giữa hai triền dốc gió
2.
Mù sương theo chiều đi
Đi đi đi
Lãng mạn đi
vinh diệu đi
chói màu hoa vĩnh quyết
Tôi chận máu ngồi đợi hoàng hôn
Chờ tao phùng màu áo em rợn rợn mây trời của ngày ly biệt
Bàn tay vụng về nắm chặt chia tan
Đá xanh
đá xanh lệ tôi mang
ôi những lời thơ cũ
Dịu dàng đau
kiêu bạc đau
âm thầm đau
Ôi những lời thơ cũ của chàng thi-sĩ-lệ-đá-xanh
Viên thành ngọc long lanh thẩm đỏ
Ngạo nghễ chia buồn nấm mộ thơ đơn
Sương mù tan
hoàng hôn bối rối
Tôi đã chờ đợi cuồng điên
Cuồng điên chờ đợi
Sự chờ đợi nào cũng hèn nhát như nhau
3.
Je ferais n’ importe quoi pour toi
Em hãy vui lòng với những vòng hoa
An nhiên hoàng hôn
những cành chim tắt tiếng
An nhiên sương
thấu những giọt mưa hồng
Sự chia xa nào cũng để lại những đám bụi đen
Đây nỗi tôi
Làm Vui Lòng Em Những Gì Làm Được
làm vui lòng em những gì làm được
4.
Hoàng hôn tới
Chiều đi
Ngày vĩnh biệt
Lệ đã già như đá hết màu xanh
Đi..
Chiều đi
Chiều đi…
Chiều không trở lại
Xa…
Hương xa…
Hương biền biệt khuất trăng xa
Hắt hiu hoa
Hoàng hôn già
Đêm non
Sương đùn ùn hai triền dốc gió
Vĩnh biệt
Rực rỡ tê người màu áo từ ly
Tất cả hãy đi
Tôi hãy đi
Em hãy đi
Chiều ơi chiều hãy đi
Sự trở lại nào cũng hèn nhát như nhau
5.
Vĩnh biệt…
Tôi trở lại tôi
Lệ đá xanh lỗi nhịp
Lệ Đá Xanh
Ngày tàn theo
Làm vui lòng em những gì làm được
Je ferais n’ importe quoi pour toi
Huyết lệ…
Hoàng hôn…
L’ adieu…
Đêm Vân Hương trùng trùng phản trắc
6.
Tôi về ngược phía chiều đi
Đêm rỉ máu
Sự cô đơn nào cũng khủng khiếp như nhau.

NGUYỄN LIÊN CHÂU

niên

10735644_826194720769236_378143114_n (1)

ta ở lại và mùa xuân đi trước
sờ vết nhăn và áp má lên đường
tiếng chân ngựa thồ trăng khuya vác bóng
và tiếng em đổ lụa nhánh sông hương

ngày sắp tận trên nóc nhà mái ngói
tiếng kêu đêm tiếng mèo gọi trên rêu
tiếng chân ngã tiếng than dài im lặng
tiếng thiếu gia quanh hơi thở nàng kiều

tiếng câm nín tiếng nghiến răng , tiếng nói
tiếng con nguòi lạc mất tuổi thanh xuân
tiếng bé thơ sợ ngày mai vác gạch
tiếng mẹ cha nhớ lúa thóc ngoài sân

tiếng sóng biển tiếng máy thuyền tầu lạ
tiếng xác nguòi đập ghềnh đá bơ vơ
tiếng lụa xé tiếng tụng kinh ,tiếng khóc
tiếng cười đêm tiếng đôi mắt trơ trơ

tiếng em gọi đã quên mầu lịch sử
tiếng phu xe di tản phế hoang buồn
ô tiếng khóc thấy nơi hồn di cảo
tiếng của ta tiền kiếp đã bi thương

ta ở lại em đợi mai về nhé
này vết nhăn đã lấm tấm trổ hoa
ừ kiếp trước đã muôn trùng nghiệp tội
nên mất em như lạc suối quên nhà

NGÔ YÊN THÁI

VỀ LẠI SORRENTO

truongvu

“… anh vẫn nhìn thấy đôi mắt em trong những đêm mơ… đừng nói lời vĩnh biệt… hãy về lại Sorrento…” Đây là những lời tôi dịch vội từ bản tiếng Anh, Back to Sorrento, của bản tình ca bất hủ Torna a Surriento của Ernesto DeCurtis. Tôi mê bản nhạc này từ những ngày mới bước chân vào trung học, qua lời ca tiếng Việt của Phạm Duy, Trở về mái nhà xưa. Lúc đó, tôi chưa hề thật sự sống xa nhà, chưa thật sự có những mất mát lớn nào, nhưng mỗi lần nghe vẫn thấy thắt ruột, cảm giác như mình đang trong tâm trạng một kẻ tha phương trở về ngôi nhà cũ. Cho đến một ngày, tôi vĩnh biệt tuổi thơ, rồi sống biền biệt xa nhà, sống xa bao người thân, trải qua bao mất mát kinh hoàng. Lúc đó, đêm nào nghe Luciano Pavarotti hát Torna a Surriento, tôi không ngủ được. Tôi không hiểu tiếng Ý, không hiểu ý nghĩa lời ca tiếng Ý, nên nghe nhạc tôi liên tưởng đến lời ca của Phạm Duy. Tôi mơ thời gian đi ngược, tôi mơ tôi thấy lại, tôi có lại… Tôi tưởng chừng đang nghe tiếng chân những hồn ma từ quá khứ trở về.
Tôi vào Võ Tánh năm 1952, cùng lúc với các bạn Ðặng Như Ðức, Nguyễn Công Thuần, Nguyễn Ðình Vinh, Tôn Thất Chuyết, Từ Văn Minh, Nguyễn Văn Tài, Trương Túy Trúc, Hoàng Thị Ngọc Táo, Trần Thị Hảo, v.v… Lúc đó trường chưa có cơ sở riêng, phải mượn một số lớp của trường Nam Tiểu Học, trên đường Hàn Thuyên. Ðến giữa năm, trường dời về trụ sở mới trên đường Bá Đa Lộc. Cũng trong năm đó, trường không còn mang tên Collège de Nhatrang, hay trường Trung Học Công Lập Nha Trang do anh cả tôi, Trương Văn Như, làm hiệu trưởng mà mang tên mới, Võ Tánh, với thầy hiệu trưởng mới, Lê Tá. Bây giờ trường mang tên Lý Tự Trọng. Ðã bao nhiêu biển dâu kể từ những ngày xa xưa đó. Nhưng mỗi khi hồi tưởng, hình ảnh nổi bật vẫn thường là hình ảnh những thằng bé sau giờ học chạy ra biển, chạy theo những con dã tràng, rong chơi, rượt bắt với bạn bè trên cát, hay hái trộm trái tra của Sở Thuốc dọc bờ biển Nha trang. Biển gắn liền với tuổi trẻ chúng tôi.

Năm mươi ba năm sau, do lời mời của Tôn Thất Chuyết, chúng tôi, một số bạn bè từ năm xưa, những thằng nhóc con của trường Võ Tánh ngày nào, lại gặp nhau, sống chung với nhau một tuần lễ trong cùng một ngôi nhà trên bãi biển. Không phải biển Nha trang mà biển Puerto Vallarta của Mễ Tây Cơ. Bãi biển chúng tôi đến còn khá hoang sơ, không giống với Nha trang bây giờ nhưng khá giống với Nha trang của 53 năm trước. Với mái tóc đã bạc hay ít nhất cũng đã muối tiêu, Nguyễn Xuân Ngật, Nguyễn Công Thuần, Từ Văn Minh, Nguyễn Lưu Phương, và tôi đều mang bà xã theo. Đến đây để thăm Chuyết, đang làm đồn điền ở đó, và để được sống trong một không gian ít nhiều giống cái không gian những ngày cũ. Trong số này, có vài người hơn 40 năm chưa gặp lại. Khi gặp, tất cả đều đã qua những chuỗi dài ngày tháng khác hẳn nhau.
Những ngày ở Puerto Vallarta, mỗi sáng chúng tôi đều xuống ngâm mình dưới biển, không bơi nhưng tụm lại nói chuyện xưa. Đứa nào còn, đứa nào mất. Đứa này bây giờ ra sao, đứa kia bây giờ ra sao. Tôi muốn nói ra đây vài lời về hai người bạn được nhắc đến trong những câu chuyện đó: chị Trần thị Hảo và Đồng Sĩ Thạnh. Các bạn tôi không biết hiện giờ chị Hảo ra sao nhưng tôi biết. Tôi không biết những gì đã xảy ra cho Đồng Sĩ Thạnh nhưng các bạn tôi biết rõ. Nghĩ đến họ, tôi không thể không hồi tưởng đến căn nhà cũ của tôi trên đường Hàn Thuyên. Từ trong nhà ngó ra, tôi có thể theo dõi bước chân biết bao bạn bè đi học phải đi ngang qua đó. Có nhiều người tôi không bao giờ gặp lại, trong đó có chị Hảo. Tôi không bao giờ quên được nét mặt phúc hậu của chị. Chị lớn lên trong một gia đình có đức tin tôn giáo mạnh. Anh ruột chị, anh Trần Bá Lộc có thời gian làm quận trưởng Diên Khánh và từng là một giáo viên giỏi ở Nha Trang. Một người anh khác, Trần Bá Khương, là con rể của thầy Cung Giũ Nguyên. Sau 75, chị Hảo dắt đứa con gái duy nhất vượt biển nhưng cả hai không bao giờ tới nơi, không bao giờ trở về. Số phận đó cũng đến với một số người thân của anh Lộc. Về Đồng Sĩ Thạnh, đến lúc đó tôi mới biết là Thạnh đã tử trận từ trước 75. Một năm sau lần hội ngộ ở Puerto Vallarta, tôi có về thăm Việt nam. Tình cờ, khi đến một nghĩa trang tư ở ngoại ô Nha Trang viếng mộ ông bà nhạc, tôi chợt thấy ngôi mộ của Thạnh, không biết mộ xây từ lâu hay mới dời về đó. Trên mộ, có hình của Thạnh, còn rất rõ, trong áo nhà binh, tóc ngắn, khoảng tuổi 25 đến 30, đẹp trai, trong sáng. Tôi cắm trên mộ Thạnh một nén nhang.
Một buổi tối ở Puerto Vallarta, chúng tôi được mời đến dùng cơm tại nhà một gia đình người Ý, bạn của Chuyết. Gia đình này sang Mễ Tây Cơ lập nghiệp khá lâu. Họ có một phòng tranh gần chỗ chúng tôi ở. Tranh chưng bày ở đó không có gì đặc sắc, nhưng ngôi biệt thự của họ thật xinh xắn. Từ sân thượng nhìn ra xa, qua những mái nhà ngói đỏ san sát là biển Puerto Vallarta. Hôm đó họ có mời vài người bạn Ý và một người Ðức mới đến làm ăn ở đây từ Canada. Sau bữa cơm tối kiểu Ý, tất cả lên sân thượng ngồi uống cà phê, nói chuyện và ca hát. Người bạn Ðức phụ họa bằng accordéon. Tôi yêu cầu họ hát Torna a Surriento. Bài ca bất hủ này người Ý nào cũng biết. Những người Ý và Ðức đều xa quê hương nên họ hát và đờn Torna a Surriento một cách say sưa. Hát rất to. Ðang nửa chừng bỗng chúng tôi nghe một giọng nữ cao vút… Về đây nghe tiếng hú hồn mê oan… Giọng hát của chị Oanh, bà xã của Thuần, trong sáng, tha thiết. Nhóm bạn Ý vội ngưng để lắng nghe, để chị hát tiếp một mình. Những người bạn Ý chắc không biết rằng Torna a Surriento với lời Việt của Phạm Duy đã gắn liền với tuổi trẻ chúng tôi như thế nào, đặc biệt vào những tháng ngày chúng tôi sống xa quê. Lời của Phạm Duy trong Trở Về Mái Nhà Xưa không hẳn là bản phỏng dịch của Torna a Surriento. Trong bản tiếng Việt, về lại Sorrento không phải chỉ để mong gặp đôi mắt ngày cũ, mà để nghe tiếng hú hồn mê oan, để đốt ánh đèn im bóng vào rêu xanh, để thấy kiếp xưa bước nhẹ về, để ngồi im bóng lắng nghe tháng ngày qua... Và, dù lời hát có khác nhau, tiếng nhạc của Torna a Surriento lúc nào nghe cũng tha thiết, thắt ruột.
Tháng 8 năm đó, nhân một chuyến du lịch vùng Địa Trung Hải, vợ chồng tôi cùng với hai người bạn quyết định đi thăm Sorrento. Từ Naples về Sorrento, xe bus chạy dọc theo bờ biển khoảng bốn tiếng đồng hồ. Tuyệt đẹp. Khi gần đến, một thiếu phụ Mỹ ngồi cạnh hát khe khẽ bản Back to Sorrento, … when I pass a garden air and the scent is in the air in my mind a dream awakes and my heart begins to break… Back to Sorrento không còn là của riêng của Ernesto DeCurtis, cũng không còn là của riêng người Ý. Nó trở thành một bài hát của bao nhiêu người đã từng có một tình yêu sâu đậm cho một người, một mái nhà, một vùng đất đã rời bỏ đi mà nếu có trở về cũng chỉ còn cảm nhận được những hồn ma ngày cũ. Sorrento cũng là một thành phố biển, không có những bãi cát thoai thoải như Nha Trang mà từ biển nhìn lên chỉ thấy những vách đá thẳng đứng. Trong tác phẩm của thi hào Homer, Sorrento là nơi trú ngụ của những mỹ nhân ngư, chuyên dùng tiếng hát mê hoặc mấy tay thủy thủ lỡ dại đi ngang vùng biển này, để rồi từ từ ru họ vào cõi chết. Ngày nay, Sorrento là một thành phố du lịch khá nổi tiếng của Ý. Tuy nhiên, rất nhiều du khách đến đây không phải vì thành phố biển đó đẹp, mặc dầu nó đẹp thật, mà chỉ vì bản Torna a Surriento mà trong tuổi trẻ của họ, họ đã từng nghe, đã từng hát và đã giao cảm với tâm trạng của tác giả.
Mỗi người trong chúng ta đều có một Sorrento cho riêng mình. Với nhiều người trong chúng tôi, Nha Trang có thể cũng là một Sorrento, nhưng Nha Trang trong nghĩa này chắc không phải chỉ là biển, chỉ là thành phố. Biển thì ở đâu lại không có, và có rất nhiều bãi biển đẹp hơn. Thành phố cũng thế. Nhưng cái gì khiến mỗi lần nghe Back to Sorrento tôi thắt ruột và nhớ đến Nha Trang? Hay, có nhiều đêm, chỉ nghe tiếng sóng biển cũng nhớ đến Nha Trang, ngửi hơi gió biển cũng khiến nhớ đến Nha Trang? Có lẽ vì Nha Trang liên hệ chặt chẽ đến một thế giới của tuổi trẻ, trong đó có biển, có phố, có những hàng cây, những con đường… Và, trên hết, ở đó, không phải chỉ có hạnh phúc mà còn có đau buồn, mất mát. Không phải chỉ có niềm vui mà còn có luyến tiếc, ray rức, nợ nần. Không phải chỉ có thành công mà còn có thất bại. Không phải chỉ có điều tốt mà còn biết bao lỗi lầm… Nhưng đặc biệt, đó là một thế giới mang đầy dấu vết sâu đậm từ những liên hệ con người. Rất đặc thù. Một thế giới riêng cho mỗi người trong chúng ta.
Thời gian ở Puerto Vallarta, chúng tôi thường nhắc đến những hình ảnh từ thời còn đi học ở Nha Trang mà mỗi đứa đều nhớ rõ. Những hình ảnh đó không hoàn toàn giống nhau với mỗi đứa. Chẳng hạn, với tôi, hình ảnh còn in sâu đậm là cảnh sau đêm bão Nhâm Thìn, đèn điện đều tắt, nước biển tràn lên đến tận nhà Bưu Ðiện. Lúc đó, tôi khoảng hơn 10 tuổi, kéo vài bạn bè chạy xuống xem sóng lớn trong đêm, vừa vui vừa sợ vừa lạnh. Trước đó vài tháng, cũng ở khoảng biển đó, khi nghe tin một thiếu nữ tự tử, tôi chạy xuống xem vừa kịp nhìn thấy cảnh một số thanh niên đang đưa xác cô gái lên bờ. Hôm đó biển động. Ðó là lần đầu tiên tôi chứng kiến một xác chết trên biển. Tôi bắt đầu thấy rằng biển cũng khá tàn bạo, không phải lúc nào cũng êm đềm như lúc biển lặng nhào xuống tung tăng bơi lội hay kéo nhau rượt đuổi trên cát.
Một hình ảnh chúng tôi nhớ khá nhiều là hình ảnh những người đàn bà điên trong thành phố. Khi nhắc đến họ tôi có một ray rứt. Trong đời sống, những ray rứt hay những luyến tiếc nhiều biết chừng nào. Nhưng có những cái thoạt nghĩ không có gì quan trọng mà lại luôn luôn còn đó, để trở thành một phần bất khả ly của một thế giới trong hồi tưởng. Một người đàn bà điên tôi nhớ đến nhiều nhất là Bà Hai, ở trước ngôi nhà cũ của tôi trên đường Hàn Thuyên. Bạn bè hầu hết đều nhớ đến hình ảnh một người đàn bà thường ngồi vắt vẻo trên bức tường trước nhà, la hét, chỉ chỏ, cười nói, chửi rủa. Năm tôi khoảng mười tuổi, bà chưa điên. Một buổi chiều gần tối, khi đang chia phe đánh lộn với lũ bạn trong xóm thì có một đứa bé khoảng năm tuổi đến nói với tôi là bà Hai gọi tôi. Tôi theo nó vào nhà, một căn nhà tăm tối nhỏ như một cái am, ở sau những căn nhà cất cho nhân viên quan thuế. Bà Hai muốn tôi viết giùm một bức thư cho mạ và những bà con của bà ở Huế. Bà đọc cho tôi viết và hứa sau khi viết xong sẽ cho tôi hai đồng. Ðang viết nửa chừng, tôi nhớ đến “trận đánh” ngoài kia nên nói với bà tôi phải chạy ra chơi sau đó sẽ trở lại viết tiếp. Tôi đã không trở lại viết tiếp. Rồi quên bẵng đi cho đến khi tôi đã trở thành người “lớn”, đã lập gia đình, có con, và bà Hai đã trở thành bà Hai “điên”. Các con tôi mỗi khi gặp bà đều trốn chạy. Những lúc bà tỉnh táo tôi có hỏi thăm gia đình bà nhưng không dám nhắc lại chuyện bức thư viết dở. Cách đây tám năm, tôi có về lại Nha Trang, có đến những căn nhà đó. Mọi thứ hoàn toàn thay đổi. Bà Hai điên không còn nửa. Lúc đó, tôi thật sự có một mơ ước, là ngày xưa, tôi đã viết xong bức thư cho bà, bức thư để bà gửi cho mạ. Bức thư tôi viết dở dang chẳng dùng được gì cả, chẳng có nghĩa gì cả. Một ước mơ nhỏ nhưng sẽ không bao giờ thực hiện được. Mà trong đời tôi, có rất nhiều ước mơ rất nhỏ, có từ thời còn đi học ở Nha Trang, ấp ủ rất lâu nhưng đến khi có cơ hội thực hiện thì lại coi thường rồi để vuột mất. Không nói chi đến những ước mơ lớn.
Tôi bắt đầu tập chơi guitare cổ điển khi lên trung học, nhưng chỉ học lóm với bạn bè và thường thì tự học. Dĩ nhiên không thế nào đờn hay được bằng một cách học như vậy. Dầu sao, tôi cũng mê đờn một thời gian khá lâu, và đặc biệt nhờ đó tôi làm quen và ham thích nhạc cổ điển tây phương. Lúc đó Nha Trang không có trường hay lớp dạy nhạc cổ điển. Qua một số đĩa nhạc do một người du học ở Mỹ mang về, tôi nghe được tiếng đàn guitare của Andres Segovia và một số bài giao hưởng trình tấu bởi dàn nhạc nổi tiếng của thành phố Philadelphia dưới sự điều khiển của nhạc trưởng thời danh Eugene Ormandy. Ðĩa cũ, máy cũ, tiếng nhạc rè rè khiến tôi mơ một ngày nào đó được tận mắt nhìn và nghe Segovia hay dàn nhạc Philadelphia với Ormandy trình tấu. Những giấc mơ đó tuy tầm thường nhưng lại rất xa vời với một học trò tỉnh lẻ ở Việt Nam vào lúc đó. Quá xa vời để không dám ấp ủ, và rồi lần lần quên đi. Guitare thì thỉnh thoảng vẫn cầm lên chơi cho đỡ buồn và càng lúc càng biết mình chơi sai.
Ðầu tháng tư 1975, Nha Trang đổi chủ. Bao nhiêu ước mơ lớn ấp ủ đến lúc đó bay biến hết, nói chi đến chuyện đờn địch. Một buổi sáng, tôi còn nhớ rõ, Nguyễn Văn Tài đến chơi. Thấy cây đờn tôi treo trên tường, Tài lấy xuống và bắt đầu đánh một số đoãn khúc của Francisco Tarrega. Tôi rất ngạc nhiên. Tôi chơi với Tài từ lâu lắm, nhưng không hề biết là Tài chơi guitare classique và chơi rất hay, rất đúng sách vở. Khi Tài sắp về, tôi bảo Tài lấy cây đàn của tôi về đi, cây đàn tương đối tốt cho guitare classique. Tài lắc đầu. Sau đó không lâu, tôi từ biệt Nha Trang. Sang Mỹ, tôi có mua một cây đàn rẻ tiền và thỉnh thoảng cầm lên chơi dù vẫn chơi dở như ngày nào. Thành phố tôi ở là Philadelphia. Dàn nhạc giao hưởng của thành phố này vẫn đang nổi tiếng và nhạc trưởng Ormandy vẫn còn đó. Rất nhiều lần tôi đi qua lại trên đường Broad nơi trình diễn của dàn giao hưởng và định mua vé vào xem. Nhưng tiền học bổng ít, những thứ cần chi lại nhiều, tôi không dám mua vé, và luôn tự hứa là để khi nào có tiền sẽ trở lại xem. Sau này khi về vùng DC làm việc, đã có điều kiện tương đối về tài chánh, định trở lại Philadelphia thực hiện giấc mơ nhỏ ngày nào. Lúc đó mới biết Ormandy đã nghỉ hưu và dàn nhạc Philadelphia không còn phong độ như trước nữa. Eugene Ormandy là một thiên tài âm nhạc. Ông sinh ở Hung Gia Lơị, mới 7 tuổi đã trình tấu vĩ cầm, và tốt nghiệp thạc sĩ về âm nhạc năm 14 tuổi. Ông di cư sang Hoa Kỳ năm 1921, điều khiển dàn giao hưởng Philadelphia từ 1936 đến 1980 và mất ở đó năm 1985. Cũng trong khoảng đầu thập niên 1980 đó, tôi được tin Andres Segovia đến vùng Washington DC để trình diễn guitare cổ điển tại trung tâm Kennedy, không xa nơi tôi ở. Không nhớ vì lý do gì tôi không đến xem, để rồi sau đó mới biết đây là lần trình diễn cuối cùng của Segovia ở vùng này. Segovia, người Tây Ban Nha, là một bậc thầy vĩ đại của guitare cổ điển, người đã đưa cây đàn guitare lên hàng nhạc cụ hòa tấu. Ông mất ở Madrid năm 1987, lúc 94 tuổi.
Trở lại câu chuyện với Nguyễn Văn Tài. Tài là bạn thân của tôi từ thời trung học. Khi về thăm Việt Nam, chúng tôi thường đi chơi với nhau, nhắc lại những chuyện tình xưa cũ như kể chuyện trong mơ. Tài vẫn còn độc thân, đã về hưu, và được giữ lại dạy toán cho một ít học trò theo chương trình Pháp. Tôi tỏ ý tiếc là Tài không tiếp tục chơi đàn nữa. Tài không nói gì. Trong một buổi họp mặt với một vài thầy giáo và nhiều đồng nghiệp, bạn bè cũ, tôi có mời thầy Ngân lên hát lại cho chúng tôi nghe bản One Day của Johann Strauss. Thầy Ngân với thầy Ðào là hai thầy dạy Anh văn của chúng tôi thời trung học, cả hai đều rất tài hoa, và đều có mặt trong buổi tối hôm đó. Lần đầu tiên trong đời tôi nghe được bản One Day là do thầy Ngân hát trong lớp khoảng năm tôi 14 hay 15 tuổi. Tôi không bao giờ quên được hình ảnh của thầy khi hát bản này. Khi tôi yêu cầu thầy lên hát, thầy cười nhưng từ chối, có lẽ thầy nghĩ là mình đã già rồi. Nhưng một đồng nghiệp cũ của tôi, cô Lộc, dạy Pháp văn, và trước 1975 có thời gian là bí thư của Viện trưởng Ðại học, lên hát bản đó. Cô Lộc hát rất hay, rất có hồn, nhưng lại không thuộc hết bản, vì chắc cũng đã lâu lắm rồi không hát. Bất ngờ, Tài bước lên lấy micro từ tay cô Lộc, hát tiếp. Tài hát một cách say mê. One day when we were young, one wonderful morning in May, you told me you loved me
Trong những lúc ngâm mình ở biển Puerto Vallarta, chúng tôi nhắc nhiều đến những bạn từ nhỏ đã đi vào con đường văn chương. Không kể lớp đàn anh như Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyễn Hữu Trí, hay lớp sau như Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Tôn Nữ Nha Trang, đồng lớp với chúng tôi cũng có khá nhiều, như Nguyễn Mộng Giác, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Ðức Sơn, Nguyễn Văn Liễu (tức Trịnh Cung, họa sĩ và cũng là nhà thơ), Trần Văn Nam, Bùi Cao Hoành (Cao Hoành Nhân), Lê Hữu Phước (Hải Phương), v.v…
Tôi và Nguyễn Ðức Sơn có những liên hệ đặc biệt. Chúng tôi học chung với nhau từ tiểu học. Ba Sơn, thầy Nguyễn Đức Nhơn, là thầy dạy Pháp văn của tôi ở trung học. Má Sơn là bạn của má tôi. Thầy Nhơn đi kháng chiến từ 1945 hay 1946. Cô ở lại Nha Trang, tần tảo nuôi con. Thời gian chúng tôi sinh hoạt Hướng Ðạo, hầu hết những cái lều bị rách đều được cô vá lại. Năm 1954, sau hiệp định Genève, thầy Nhơn không đi tập kết, trở về lại Nha Trang. Không hiểu vì sao sau đó hai người ly dị nhau, các con chia đôi. Chúng tôi đều để ý là từ lúc đó Sơn là một đứa học trò đầy phẫn nộ. Mọi người đều thấy rõ là Sơn luôn tỏ ý bất mãn với thầy. Tuy nhiên, mãi sau này, khi Sơn đã là một nhà thơ nổi tiếng, Sơn có viết một bức thư cho cha, rất cảm động, đăng trong một cuốn thơ xuất bản trước 1975. Trong chuyến về thăm Việt Nam cách đây tám năm, tôi có gặp Sơn nhiều lần, và có lúc tôi định hỏi vài vấn đề riêng tư liên quan đến gia đình, đặc biệt, liên quan đến thầy cô Nhơn, nhưng rồi không có dịp thuận tiện nên thôi. Sơn có một cá tính đặc biệt, một cá tính mạnh, điều đó bạn bè và những người đọc sách của Sơn đều biết. Sơn có một thế giới riêng, có vẻ như cố làm cho quái dị. Thật sự, dưới lớp ngoài trông rất phức tạp, Sơn là một người chơn chất. Sơn là một tài năng của văn học Việt Nam. Nhưng vượt lên cả tài năng, Sơn là một mẫu nhà văn và trí thức rất hiếm hoi, dám sống và nói thật về điều mình tin, nhất là trong hoàn cảnh xã hội Việt Nam của vài chục năm qua. Có thể những điều Sơn tin và sống hết lòng với nó không hẳn được mọi người chia sẻ, nhưng cách sống đó đáng được kính phục. Thơ của Sơn phản ảnh hoàn toàn con người Sơn. Mỗi lần chạy lòng vòng với cuộc sống ở Mỹ và cả lòng vòng với trí óc của chính mình, tôi thường nghĩ đến một bài thơ của Sơn, và thường đọc cho bạn bè nghe:
Khi thấm mệt tôi đi luồn ra núi
Cuối chiều tà chỉ gặp bãi hoang sơ
Bước lủi thủi tôi đi luồn vô núi
Nghe nắng tàn run rẩy bóng cây khô
Chân rục rã tôi đi luồn ra núi
Hồn rụng rời trước mặt bãi hư vô.

Ðầu năm ngoái, khi xem một phim vidéo quay lại buổi họp mặt bạn bè Võ Tánh 1952-1958, tôi rất vui khi thấy Sơn trong đó. Khá bất ngờ, vì tôi biết Sơn rất kỵ những họp mặt như vậy. Tôi chờ đợi Sơn lên nói điều gì nhưng không thấy. Sau đó, tôi biết sở dĩ không ai dám mời Sơn lên nói vì sợ những điều Sơn nói… gây rắc rối. Tôi thông cảm với bạn bè nhưng tôi không vui. Chúng ta thường chỉ thích nghe hay nói những lời “phải đạo” và do đó những gì được nói ra trong những họp mặt của trường này trường nọ, ở nơi này nơi nọ, thường rất giống nhau. Mà nếu cuộc đời chỉ được tạo nên bằng những gì “chung chung”, những gì “phải đạo” thì làm sao có được một “Sorrento” riêng cho mỗi người, để phải thắt ruột mỗi khi muốn về lại.
Nói đến Sơn tôi không thể không nhớ đến những bài học với thầy Nhơn. Bài học khó quên nhất là bài giảng về truyện ngắn La Chèvre de monsieur Seguin (Con dê cái của ông Seguin) của Alphonse Daudet. Con dê con của ông Seguin rất dễ thương, ngoan ngoãn, được nuôi tử tế trong vườn sau của ông. Nhưng rồi, một ngày kia, cũng như những con dê trước đó, nó phá rào, chạy lên núi, nơi đó những con sói hung tợn đang chờ. Dê con đã dùng chiếc sừng nhỏ bé tử chiến với sói suốt đêm. Đến hừng đông, nó gục ngã. Thầy Nhơn giảng bài đó rất hay. Khi giảng, thầy như sống với tâm trạng của dê con. Tôi nhớ mãi bài học đó, thích thú với câu chuyện của Alphonse Daudet nhưng càng lớn tôi càng không đồng ý với cái kết thúc của truyện. Tôi biết, từ đời sống thật, có rất nhiều, rất nhiều dê con đã vượt khỏi nanh vuốt của sói để tự do tung tăng trên đỉnh non cao. Một bài khác cũng rất khó quên, được học từ khoảng thời gian này, là bài J’accuse (Tôi tố cáo) của Émile Zola. Nhà văn Émile Zola viết J’accuse để tố cáo chính phủ Pháp, quân đội Pháp, giáo hội Công giáo Pháp vả cả nhân dân Pháp vì tất cả đã sai lầm trầm trọng khi kết tội đại úy Alfred Dreyfus làm gián điệp cho Đức. Cả nước Pháp nổi giận, kết tội Émile Zola. Rất ít người đồng ý với ông. Émile Zola phải trốn sang Anh và chết năm 1902. Bốn năm sau, nước Pháp chính thức công nhận Émile Zola đúng, đại úy Dreyfus vô tội. Cho mãi đến hôm nay, hơn một trăm năm sau, hầu như các trường học nào trên thế giới cũng đều có giảng dạy về vụ án Dreyfus và bài J’accuse của Émile Zola. Với tôi, hai bài học này lúc nào cũng được tiếp tục học và không phải lúc nào cũng thuộc.
Bài J’accuse tôi không học từ thầy Nhơn mà học từ thầy Nguyễn Suyên, một thầy dạy văn rất giỏi về Đường thi. Thầy dạy bài này vào một thời gian ngắn thầy tạm phụ trách môn Lịch sử Thế giới thay người khác. Trong một chuyến về Houston cách đây hai năm, tôi đi ăn tối với vợ chồng Nguyễn Tấn Hường, một bạn thân, cùng với một số bạn khác. Trong buổi tối đó chúng tôi có nhắc đến thầy Suyên. Hường là học trò giỏi của thầy, có kể lại một kỷ niệm. Khi chúng tôi còn học ở Sài gòn, thầy Suyên mất. Hè năm đó, khi về lại Nha trang, tôi và các bạn Hường, Phê, Thái có đến thăm mộ thầy, ở bên kia cầu Hà Ra. Đứng trước mộ, Hường bắt chước giọng ngâm của thầy, ngâm bốn câu đầu trong Binh Xa Hành của Đỗ Phủ. Xa lâng lâng mã tiêu tiêu, hành nhân cung tiễn các tại yêu, gia nương thê tử tẩu tương tống, trần ai bất kiến Hàm dương kiều. Nghe Hường kể lại kỷ niệm này, tôi giật mình. Tôi nhớ, thầy Suyên thường ngâm bốn câu này trong lớp, bằng cách ngâm theo giọng Bình Định rất đặc biệt của thầy. Về văn, tôi là một học trò loại trung bình và khá lười biếng nên ít khi thuộc thơ. Tuy nhiên, bốn câu đó tôi thuộc và thỉnh thoảng đọc lên mà thật sự không nhớ mình học được từ đâu. Bây giờ thì tôi nhớ. Ngày nay, cái nghĩa trang nơi chôn thầy Suyên đã bị san bằng, nhà cửa xây san sát trên đó. Trong chúng tôi, không ai biết nắm xương tàn của thầy hiện nằm đâu. Cũng như, chắc không mấy ai biết ngôi mộ của thầy Nhơn nằm đâu. Nhưng tôi tin rằng những bài học của các thầy vẫn còn nằm đâu đó trong tiềm thức rất nhiều học trò cũ.

***
Trong chuyến về Việt nam đầu tiên, năm 2001, tôi thường đến thăm thầy Cung Giũ Nguyên. Lúc đó, thầy còn rất khỏe và hai thầy trò đi ăn tối với nhau nhiều lần. Năm 2006, tôi có về lại. Lần này, thầy đã yếu lắm, không đi đâu. Buổi chiều trước khi rời Nha trang, tôi đến từ giã và ngồi nói chuyện với thầy khá lâu. Thầy nói nhiều. Nói chuyện cũ, nói chuyện mới, nói cả suy nghĩ của thầy về những gì đang xẩy ra nơi tôi sống, bên này bờ đại dương. Đôi lúc, theo phản ứng tự nhiên của một anh học trò ưa cãi, tôi định ngắt lời thầy nhưng kịp dừng lại. Tôi ngồi im lắng nghe từng lời nói của thầy và bắt đầu cảm nhận mình đang hưởng những giây phút có thể không bao giờ có lại. Tối hôm đó, tôi đi bộ xuống biển, nhìn từng đợt sóng vỗ nhẹ vào bờ, rồi nhớ lại, như mới ngày nào, những dấu chân thon trên cát, những đêm dìu nhau dưới mưa, những nụ hôn bất chợt,…
Về lại Mỹ, tôi bắt đầu viết bài này. Sau đó bỏ ngang vì thấy chứa quá nhiều cái riêng tư, lỉnh kỉnh. Không lâu sau, tôi được tin vài học trò cũ, rất gần gũi, mới gặp lại sau hai mươi lăm năm xa cách, đột ngột ra đi. Nguyễn Lương Thuật, tôi mới biết là có một thời cùng sinh hoạt Hướng đạo với nhau, định khi gặp lại sẽ hỏi han thêm những kỷ niệm thời đó, cũng đột ngột ra đi. Vài bạn bè khác cũng thế. Rồi, một hôm, đến thăm bà xã anh Nguyễn Nho nằm trên giường bệnh. Mới ngày nào, anh chị đến nhà tôi chơi, bây giờ chị nằm đó, ngó thẳng vào tôi, không chớp mắt, không nhận ra ai. Qua anh Nho, tôi thấm thía với bài học về tình yêu, lòng tận tụy và tính tự tại. Rồi, hè năm ngoái, má tôi mất. Cuối năm, thầy Nguyên mất. Đầu năm nay, một bạn thân từ những năm đầu đại học, Trần Duy Nhiên, đột ngột qua đời. Tôi ngồi vào bàn computer, sửa lại chút đỉnh rồi tiếp tục bài viết này. Tôi tin rằng, nếu bây giờ tôi có nói lan man chuyện cũ chắc bạn bè không mấy ai trách.
Mỗi người trong chúng ta đều có một Sorrento, để về lại trong hồi tưởng. Dù có lẫn lộn với bao cảm xúc trái nghịch nhau, khi về lại, ít nhiều chúng ta cũng tìm được ở đó một gốc để nghỉ ngơi. Tôi xin kết thúc bài viết bằng một câu chuyện phỏng dịch từ cuốn sách nhỏ, The Giving Tree, của Shel Silverstein. Ông viết và minh họa cho trẻ con lẫn người lớn. Những minh họa của Silverstein độc đáo, tôi đề nghị các bạn tìm xem cuốn sách, do HarperCollins Publishers xuất bản. Câu chuyện như thế này:
Ngày xưa có một cây táo… nó yêu một thằng bé
Mỗi ngày thằng bé đến chơi với cây
Kết lá làm vương miện, đội lên đầu như chúa tể rừng xanh.
Thằng bé trèo lên thân cây, đu cành cây, ăn trái
Rồi chơi trò cút bắt với cây.
Khi mệt nó nằm ngủ dưới bóng mát.
Nó yêu cây táo vô cùng
Cây thấy mình hạnh phúc.
Thời gian qua…
Thằng bé lớn lên và không còn đến chơi với cây như ngày nào.
Cây thấy cô đơn.
Một ngày kia, thằng bé trở lại, cây bảo:
“Này thằng bé, hãy đến đây, trèo lên thân ta, đu cành ta, ăn trái cây của ta, và vui đùa dưới bóng mát của ta.”
Thằng bé trả lời:
“Ta lớn rồi, đâu còn leo trèo và chơi đùa như thế nữa.
Ta cần tiền để mua sắm và vui chơi như người lớn.
Ngươi có tiền cho ta không?”
Cây bảo:
“Ta không có tiền. Ta chỉ có lá và trái cây.
Này thằng bé, hãy hái táo của ta đem ra chợ bán.
Mi sẽ có tiền và mi sẽ sung sướng.”
Thằng bé liền trèo lên cây, hái thật nhiều táo rồi mang đi.
Cây thấy mình hạnh phúc.
Nhưng rồi, lâu lắm không thấy thằng bé
Cây táo buồn.
Bỗng, một ngày kia thằng bé trở lại, cây rung cành lên hớn hở:
“Lại đây, thằng bé, hãy trèo lên thân ta, đu những cành ta, và hãy vui đùa thỏa thích.”
Thằng bé bèn nói:
“Ta đâu có thì giờ để leo trèo
Ta lạnh lẽo và cần một mái ấm
Ta muốn có vợ, có con, nên cần một mái nhà.
Ngươi có nhà cho ta không?”
Cây trả lời:
“Ta không có nhà, cả khu rừng này xem như nhà của ta.
Nhưng, mi có thể chặt những cành cây của ta để cất nhà.
Mi sẽ sung sướng.”
Và như thế, thằng bé chặt hết những cành cây, rồi mang đi cất nhà.
Cây táo thấy mình hạnh phúc.
Nhưng rồi… lâu lắm, thằng bé không trở lại.
Khi nó trở lại, cây vui mừng khôn xiết, nhưng chỉ thều thào:
“Này thằng bé, hãy lại đây nô đùa với ta.”
Thằng bé bảo:
“Ta già rồi, và buồn nữa, làm sao vui đùa được.
Ta muốn có một chiếc thuyền để đi thật xa khỏi nơi này.
Ngươi có thuyền cho ta không?”
Cây trả lời:
“Hãy chặt thân ta để làm thuyền
Rồi giăng buồm đi xa… và sống hạnh phúc.”
Thằng bé bèn chặt thân cây, làm thuyền rồi giăng buồm đi xa.
Cây táo thấy mình hạnh phúc…
Thật ra… không hẳn như thế.
Sau đó rất lâu, thằng bé trở lại.
Cây bảo:
“Thằng bé ơi, ta xin lỗi. Bây giờ, ta chẳng còn gì cho mi nữa.
Ta chẳng còn trái táo nào cả.”
Thằng bé trả lời:
“Răng ta yếu lắm rồi, đâu còn ăn táo được nữa.”
Cây lại bảo:
“Ta cũng chẳng còn cành cây nào để mi đánh đu trên đó.”
Thằng bé trả lời:
“Ta già lắm rồi, còn sức nào mà đánh đu trên cành nữa.”
Cây lại bảo:
“Ta cũng chẳng còn thân cây nào để mi trèo lên chơi.”
Thằng bé trả lời:
“Ta yếu lắm rồi, đâu còn leo trèo gì được nữa.”
Cây thở dài:
“Ước chi ta còn chút gì cho mi.
Giờ đây, ta chỉ là một gốc cây già cỗi. Thế thôi…”
Thằng bé liền nói:
“Ta có thiết tha gì nữa đâu.
Ta chỉ cần một chỗ vắng vẻ ngồi xuống nghỉ ngơi.
Ta mệt mỏi lắm rồi.”
Cây táo chợt như vùng dậy, bảo:
“Tốt lắm. Cái gốc cây già cỗi này rất tiện để ngồi nghỉ.
Lại đây, thằng bé.
Hãy ngồi xuống và nghỉ mệt đi.”
Thằng bé bèn đi đến gốc cây, ngồi xuống.
Và…
Cây táo thấy mình hạnh phúc.

Trương Vũ
Maryland, tháng 3 năm 2009
(Bản rút ngắn)

Cảm thông đến trước, lòng từ theo sau

nguyetthuho

( Tặng bạn tôi, Tôn Nữ Thu Dung- bạn sẽ là người chiến thắng-) 

Như thường lệ , phòng đợi đông nghẹt bệnh nhân – phần lớn đều già hơn tôi –tóc bạc hơn  ,  có vẻ buồn bã hơn , vài người chống gậy, vài người ngồi xe lăn nhưng hầu hết đều có người thân bên cạnh . Từ đợt hóa trị cuối cùng cách đây mười năm , mỗi  khi trở lại phòng này  tôi cố ra  vẻ  mình chỉ là một người khách đến thăm một thế giới xa lạ chứ không phải là một bệnh nhân quen thuộc  . Tôi bước vào một cách lẹ làng . Một mình. Tôi mỉm cười chào cô tiếp tân . Rồi buông mình xuống chiếc ghế dài , lật qua lật lại mấy quyển tạp chí với một sự chăm chú nửa vời . Chỉ những ai đã  từng bị trọc đầu cả nửa năm  sẽ thấu hiểu được tại sao tôi không muốn dính líu gì  với đám bệnh nhân . Bởi vì tôi đang có chút tự hào của kẻ đã chiến thắng , đánh gục căn bệnh quái ác này

Người tiếp tân đưa cho tôi tờ giấy ” Kiểm lại triệu chứng ” ( review of symtoms). Mảnh giấy này đã từng khiến tôi rất hồi hộp, tim đánh lô tô biết bao lần.   Chỉ cần  trả lời CÓ  một lần duy nhất- trong số 50 câu hỏi về những triệu chứng đáng nghi- cũng có nghĩa là  sự chấm dứt cuộc đời sắp bắt đầu . Hôm nay tôi chỉ lướt sơ qua danh sách này mà chẳng cần suy nghĩ . Tôi vội vã viết  chữ  KHÔNG cho những  triệu chứng đại loại như  chảy máu trực tràng , mắt mờ , run lẩy bẩy  , nổi  nhọt,  đi cầu ra phân đen , khát nước thường xuyên , cơ thể giữ nước tiểu, thở khò khè , bị kinh phong và ngứa thường xuyên .

Sống qua mười năm liên tục  không có  triệu chứng  xấu là  một tờ giấy phép xả trại cho phép tôi thoát khỏi căn phòng này .  Vì vậy hôm nay,   đợt tái khám cuối cùng, lẻ ra nên  là một ngày của hân hoan phấn khởi hoặc ít ra , tôi sẽ thở phào nhẹ nhõm vì đã thoát nạn. Thay vào đó tôi cảm thấy lãnh đạm,  bình thuờng  như  mỗi lần đến tiệm giăt ủi . Trước đó tôi dự định sẽ tự chụp cho mình một tấm hình (selfie) ngay cửa trước phòng đợi để ăn mừng. Một selfie với ngón tay trỏ chỉa thẳng về huớng Trung tâm điều trị Ung thư  Hoa Hồng (Rose Cancer Center)   . Nhưng trong ánh nắng chói chan những ý tưởng về trả đũa hay mừng vui thắng trận chợt tan biến .Tôi chỉ cảm thấy hối hả  muốn rời xa chốn này. Càng sớm càng tốt.

Tôi bước  qua phòng thử máu lanh tanh. Tôi tin rằng nhân viên phòng xét nghiệm được tuyển vào làm dựa trên khả năng trò chuyện vui vẻ  trong lúc đang chỉa mũi kim nhọn hoắt vào da thịt của bệnh nhân. Mặc dù tôi rất khó chịu khi mũi kim đâm thẳng vào lớp da mỏng trên mu bàn tay nhưng tôi cũng thấy vui vui .  Và khi cô gái liếng thoắng huyên thiên kể luôn miệng về những sửa soạn cần thiết cho bữa cơm tối của cô nàng tôi đã bị chia trí và quên hẳn sự hiện diện của mũi kim.

 

Cuộc tái khám với Cindy, người  phụ tá bác sĩ mà tôi  ưa  thích nhất, cũng rất lẹ làng và vui vẻ.  Tựa như những câu chuyện vãn khi chúng tôi tình cờ gặp nhau tại cửa hàng tạp hóa. Trong suốt mười  năm qua Cindy  đã phát triển một thái độ thân thiện gần gũi với tôi. Thật ra , với tôi , sự thân thiện này  cũng  cần thiết và hũu dụng như  chính cái ống nghe cô hay choàng quanh cổ . Thân thiện cũng có nghĩa là mọi việc đều bình thường . Tôi không còn là bệnh nhân nữa.

 

Cô nàng vừa lắng nghe tôi thở, vừa hỏi tôi về chuyện con cái. Tôi  cũng hỏi về con cái của cô ấy trong khi mấy ngón tay  của cô  đang đè lên bụng tôi để tìm kiếm các khối u . Cô khám cả hai  nách của tôi,  lần này ít mồ hôi hơn những lần trước , và kể cho tôi nghe các nghiên cứu mới nhất về ung thư vú. Tôi không chú tâm lắng nghe. Trong năm năm qua , hầu hết các nghiên cứu đã không còn hay ho với tôi . Thậm chí tôi không còn gì để thắc mắc, ngoại trừ câu hỏi hàng năm _ tôi được phép uống mấy ly rượu . Tùy thuộc vào cách đặt câu hỏi , thông thường  tôi nhận được câu trả lời mình đang mong chờ. Hôm nay cũng y như vậy .

Sau đó, cô giúp tôi leo xuống khỏi giường khám bệnh, một  sự giúp đỡ không cần thiết . Tất nhiên , vì tôi vẫn đang mặc áo choàng bệnh viện , loại y phục dành riêng  cho bệnh nhân ở khắp nơi . Thôi kệ,cứ cho rằng việc đỡ tôi xuống giường chỉ là một thông lệ..

 

Sau đó là lúc chia tay  với Cindy. Cô nàng quàng tay ôm tôi . Đó là một cái ôm nồng ấm đầy tình cảm , không phải là một cái ôm lẹ làng giả tạo . Bổng dưng, ngực chúng tôi ép sát vào nhau  , hai  bàn tay cô nàng vỗ nhẹ trên lưng tôi .Khi đó tôi  chợt nhận ra cả ngày hôm nay tôi đã né tránh không muốn suy nghĩ tới chuyện này. Qua thật rồi . Xong  rồi . Tôi được giải tỏa , tốt nghiệp , xuất viện , xá tội .

 

Cindy  thì thầm bên tai tôi “Có những điều cần phải cảm nhận , cần phải nói . Nhất là với  những người như bạn…” nhưng tôi không còn nghe tiếng cô nàng nữa . Hình như lúc đó  tai tôi cũng đang bị tắc nghẽn vì nước mắt

 

Tôi đã không tiên liệu việc rơi lệ này . Lần chót khi bệnh ung thư làm tôi bật khóc là khi   tôi phải kể cho ông xã nghe về cú điện thoại từ bác sĩ quang tuyến.

Thật ra không phải là hết chuyện. Lòng biết ơn đang tràn ngập trong tôi, biết ơn về sự tử tế và chăm sóc tận tình của Cindy trong suốt mười năm qua , về những lời giải thích rõ ràng của những rủi ro trong mọi liệu pháp chữa trị cùng sự trấn an đối với những âu lo của tôi . Nhiều bác sĩ đã chữa trị cho tôi. Họ ra đi khi xong phận sự .Nhưng Cindy luôn có mặt với tôi kể  từ ngày đầu tôi đặt chân đến văn phòng này , một sự hiện diện ổn định  và đều đặn . Cô biết trọn vẹn  bịnh tình của tôi . Cô biết rõ cơ thể cũ, và ngay cả cơ thể  mới của tôi. Từ nay trở đi sẽ không còn  người nào biết rõ về tôi như vậy nữa .

 

Tôi cảm ơn Cindy thật nhiều . tôi đã nương tựa vào bờ vai của cô ta không biết bao nhiêu lần..  Giọng nói của tôi run rẩy một cách phát ghét và bắt đầu đứt quảng như khi một cô phù dâu rưng rưng nước mắt chúc mừng cô dâu . Tôi không bộc lộ hết những cảm xúc  đang dâng trào trong lòng mình.

 

Cả hai chúng tôi đều nói ” tụi mình sẽ gặp lại  nhau ở cửa hàng tạp hóa.” Thôi chào từ giã.  Từ giã.

 

Tôi cởi áo choàng ra và mặc lại quần áo của mình. Giã từ sầu não.. Giã từ căn lab lạnh lẽo .. Giã từ ống chích, Giã từ mũi kim.  Giã từ băng tay cao su xanh lá cây. Giã từ bức tường tím nhạt. Giã từ hành lang dẫn đến phòng hóa trị. Giã từ những bức ảnh hoa tươi vui . Giã từ phòng kế toán. Giã từ thẻ hẹn.

Người thư ký tóc xoăn hỏi khi nào tôi phải gặp bác sĩ nữa  . Tôi cười hì hì rồi trả lời : “Không bao giờ ! “ . Tôi nói thêm: “ dự định là vậy đó, vì không muốn trù ẻo chính mình. Tôi chờ cô ấy chúc mừng cho tôi . Thay vào đó , cô lại thở dài . Cô nói :” hy vọng một ngày nào đó tôi sẽ được như bạn. Mới dứt ung thư có một năm mà thôi . “

Chiếc bàn giấy nơi cô ấy làm việc tựa như một hàng rào ngăn cản.Cô ấy ở phía bên lành mạnh   và tôi là ở phía bên bệnh hoạn. Nhưng cô ấy đang tiến gần đến bệnh ung thư hơn tôi. Tôi biết rất rõ những điều đang chờ đợi cô ta ở phía trước  – những cơn nhức đầu mà  thực sự là khối u trong não, những lần đau lưng  là do những tế bào ung thư đang hiện diện tại cột sống , ho có đờm  là dấu hiệu của ung thư phổi đã di căn , và một lần bệnh  trĩ có thể khơi mào cho  chín năm sầu lo

Ước gì cô ấy không phải trải qua những chuyện này .  Uớc gì tôi được quen biêt cô ấy  tới mức độ  mạnh dạn ôm chầm lấy cái đầu  với mái tóc xoắn và nói rằng cô ấy  xinh xắn biết bao, cô ấy mạnh mẽ hơn nhiều và  cô ấy vừa đi xong một chặng  đường dài . Thay vào đó tôi chỉ lầm bầm một vài lời trấn an rổng tuếch và cảm thấy mắc cỡ về sức khỏe tốt lành của mình.

Khi bước vào thang máy tôi thấy hai người đàn ông ngồi xe lăn- một người da trắng, lớn tuổi và ốm yếu, người kia là một người da đen trẻ hơn nhưng mâp mạp. Họ đang cười đùa với nhau. Thì ra họ đã ngồi kế nhau trong phòng hóa trị . Tiếng cười của họ nghe rất tự nhiên và chân thật. Trong một phút giây ngắn ngủi, hay chỉ là một sát na , tôi ước rằng tôi được ngồi chung với họ trong căn phòng hóa trị   để cùng chia sẻ niềm vui này  . Tôi muốn nói rằng tôi cũng như họ, cũng từng trải qua những gì họ đang đối diện . Tôi mỉm cười với cả hai , nhưng họ không hề ngó ngàng đến tôi.

Ra khỏi cửa,  bước vào ánh sáng chói chang của mặt trời ,  trái tim tôi bắt đầu căng phồng cho đến khi tôi cảm thấy lâng lâng bay bổng . Tôi chợt thấy mềm lòng  đối với cô  y tá đang uống nước nghỉ trưa , mềm lòng  đối với một bà cụ đang được dìu ra khỏi xe,mềm lòng  với người đàn ông hấp tấp băng qua đường  Tôi muốn nhẹ nhàng  ôm hết  cả  trong vòng tay  và nói:  Chính những người như quí vị đã giúp tôi .

Tôi để mặc tâm trạng ấm áp này tuôn tràn trên người như khi đang tắm nắng. Cảm giác này rất quen thuộc.Ồ, đúng rồi.  Năm đầu tiên sau khi chữa trị  tôi cũng trải qua những cãm giác này . Tôi được hội nhập trở lại thế giới của  những điều lành mạnh , bình thuờng  và nghiệm ra rằng thế giới bình thuờng này tuyệt vời biết bao.   Tôi vẫn còn sống. Tóc của tôi đã mọc xoăn trở lại.Tuyết vẫn rơi đầy  trong mùa đông. Mùa xuân vẫn tươi đẹp rực rỡ . Những người từng đối xử tử tế trong lúc tôi đau bệnh đều rất tốt đẹp. Ngay cả những người xấu bụng, tôi cũng thấy họ tốt đẹp luôn . Mọi đau khổ tôi từng trải qua chẳng sá gì so với những đau khổ của người khác.Té ra  những tháng đau bệnh  là một trong những năm hạnh phúc nhất của  đời tôi.

Thì ra mọi người đều đau khổ.  Như nhau.  Kiểu này hay cách khác . Trong âm thầm hay bộc lộ . Một khi  nhìn thấy được sợi dây nối kết này lòng từ trong tôi chợt tràn dâng.

Cuối cùng  tôi cũng chụp “selfie” voi miệng cười rạng rỡ. Giã từ ung thư. Vâng  cứ cho là như vậy.

Maggie Lane
Bản Dịch của Hồ Nguyệt Thu

(Maggie Lane is a freelance writer and mother of four from Beverly Hills, Michigan. She blogs at Poemelf.com)

 

 

 

TẠP GHI

caovantam

Ngồi một nơi mà nhớ một nơi :
Núi hiu quạnh, mù sương sà ngọn cỏ.
Rừng mơ hồ …
nghe cổ tháp chơi vơi…

( có một dạo, cứ nhìn mà không nói
Bước ra về, ta chợt thấy sao rơi…)

Ta thức từng đêm…,
đêm dài khánh tận.
Gió lạ mùa,
em trên ấy có gì vui?

Đêm nay nữa, có khác gì đâu nhỉ ?
Rừng mù sương, đêm hò hẹn lên men ?
Nhỏ bây giờ, chắc uống mừng song hỷ.?
Nhớ vô cùng, nên nỗi nhớ thành quen…

Cao Văn Tam

PHƯỢNG ƠI

nguyenngocnghia

cháy đi phượng ơi
chút lòng hực lửa
chiều nghiêng phố nhỏ
chùn chân
bước rời…

phượng ơi phượng ơi
chút hương mùa cũ
còn rơi…còn rơi
nao lòng mấy thuở

cơn mê mùa hạ
nỗi nhớ đông về
mùa xưa nghiêng ngả
dưới cành phượng kia

đốt giữa ngực thầm
dấu môi phượng vỹ
trò chơi dâu bể
trĩu cành trăm năm

phượng đợi chờ ai?
bên đường du tử
mê hoặc mây trôi
dừng chân
bỗng nhớ

chiều giữa phố người
nắng vàng run rẩy
phượng ơi phượng ơi
còn đây
ngày ấy…

NGUYỄN NGỌC NGHĨA
(Long Xuyên 02.5.2015)