Thành nội mây thêu lạnh long bào

Ta lấy trộm một câu thơ anh gửi
Là Huế. Đêm trường cổ vọng thâu
Mừng Huế chừ vẫn còn nghe tha thiết
Dưới mái đình vọng đến tận Ô Lâu

Huế vẫn hiền như Huế xưa rứa đó
Chỉ già nua thêm vài nhánh sông xa
Rụng mỗi chiều, cụ già ngồi trước ngõ
Thi thoảng nhớ con đứng nhổm dậy ngóng ai

Huế bi chừ vẫn rong chơi đểnh đoảng
Bến sông xưa An Cựu chở em về
Chợt thấy người như đám mây mỏng mảnh
Khua giữa sông tránh vội mấy nhánh mưa

Mưa An Cựu một đêm em thức trắng
Nghe Thanh Thuý, gạt từng mảnh cô liêu
Đời nhi nữ nghe ra sầu dễ khóc
Ta chạnh lòng, nhớ em, và rất muốn phân ưu

Anh khách lữ, em cố đô xa lạ
Lén nhìn đêm, Huế nở mùi ngọc lan
Ta nghe Huế mưa suốt đêm không ngớt
Em dầm mưa để thấm Huế suốt đêm

Huế bi chừ trong em như cung nữ
Thành nội mây thêu lạnh cả long bào*
Ta diện kiến tìm người em bé nhỏ
Hứng bụi mưa trôi dạt dưới chân cầu.

Nguyễn Hoàng Anh Thư

Advertisements

Tháng sáu,

nguyenhoanganhthu

Tháng sáu em đánh cược tiếng cười
Em đánh rơi mất tiếng cười
trong khu vườn già rụng nắng
chẳng phải tháng ba để em chờ hoa gạo trổ chói chang
em đánh rơi mất tiếng cười chìm lắng
trên vạt sông vàng võ chảy trôi

tháng sáu em đánh rơi tiếng cười
và ăn gian câu chuyện cổ tích
để anh quay quắt tìm bóng nước lặng im

Tháng sáu cơn mưa luống cuống đổ rất nhanh
em sợ điều nhớ quên rỗng mọt
sợ bong bóng phập phồng mà khóc
em bận gánh gồng chi già cỗi nỗi buồn
tiếng em cười xám ngọn tóc mây nguồn
nhánh cỏ
thì thôi em, đành mồ côi tiếng gió
em đánh cược điều gì để xa lạ trong nhau

Tháng sáu, em bỏ rơi tiếng cười khanh khách
trong khu vườn già rụng nắng
và cơn mưa luống cuống
đổ rất nhanh

nguyễn hoàng anh thư
( Huế, 6. 2015)

Đọc bài thơ của tác giả Du Tử Lê – “Ở chỗ nhân gian không thể hiểu”

nguyenhoanganhthu

BÀI NHÂN GIAN THỨ NHẤT

Ở chỗ nhân gian không thể hiểu
đôi mắt người hồ như biển đông
có mưa-tôi-cũ về ngang đó
tự buổi thiên đàng chưa lập xong

Ở chỗ nhân gian không thể hiểu
mái tóc người hồ như rừng cây
có mây che lối về cho lá
và những con đường thật riêng tây

Ở chỗ nhân gian không thể hiểu
tôi có người hồ như vết thương
có đêm ngó xuống bàn tay lạnh
và chỗ em ngồi đã bỏ không

Ở chỗ nhân gian không thể hiểu
tôi có người hồ như tấm gương
thấy tôi thắt cổ trên cành tuyết,
và bóng đo dài nỗi tủi thân

Ở chỗ nhân gian không thể hiểu
tôi có người hồ như hạt sương
có bông hoa đỏ chiều tâm khúc
tôi thấy từ em một quê hương

Ở chỗ nhân gian không thể hiểu
tôi có người hồ như tiếng chim
theo cơn bão rớt về ngang phố
tôi học từ em: niềm lãng quên

Ở chỗ nhân gian không thể hiểu
tôi có người hồ như ấu thơ
đêm đêm khóc vụng cùng chăn gối
và thấy buồn như mẹ ở xa

Ở chỗ nhân gian không thể hiểu
tôi biết người mang một nỗi buồn
biết ta cuối kiếp tim còn lạnh
cùng nỗi sầu bay đầy hư không

Ở chỗ nhân gian không thể hiểu
tôi xin người sớm phục sinh tôi

Bài thơ đầu tiên tôi đọc được là “Bài nhân gian thứ nhất”. Một cảm giác “hồ như” có và không, đan xen điều nghĩ ngợi, nhưng tôi cũng không định hình mình đang nghĩ về điều gì, chỉ cảm nhận một điều là: rất thơ, rất tình!

“…Ở chỗ nhân gian không thể hiểu
tôi có người hồ như hạt sương
có bông hoa đỏ chiều tâm khúc
tôi thấy từ em một quê hương ”

Và từ đó, tôi cảm thấy hứng thú về việc khám phá ngôn ngữ, hình ảnh thơ của tác giả Du Tử Lê.

Rất nhẹ nhàng trong lắng, một lời thơ gọt nhẹ nhàng từng cánh mỏng ngôn từ. ” Bài nhân gian thứ nhất” là một bài thơ như thế, nỗi đau đã giấu trong tầng thẳm cảm xúc giữa một vùng hoài niệm mênh mang. Một thể thơ bảy chữ với rất nhiều ngôn ngữ niệm hoài.

“Ở chỗ nhân gian không thể hiểu
đôi mắt người hồ như biển đông
có mưa-tôi-cũ về ngang đó
tự buổi thiên đàng chưa lập xong”

Hình như chỉ là mộng, mộng mới là “hồ như”, “ đôi mắt hồ như biển đông” và “cơn mưa- tôi- cũ về ngang đó/ tự buổi thiên đàng chưa lập xong”. Với tôi thì lại cảm nhận nó rất thực, thực như đang cảm nhận nỗi buồn đang ướt đẫm trước mắt. Hình như nhà thơ rất thích mưa, thích trầm mình với mưa, mưa ký ức, mưa trên “những con đường thật riêng tây” , mưa “đêm ngó xuống bàn tay lạnh/ và chỗ em ngồi đã bỏ không”. Nghe có vẻ nhẹ nhàng và mơ hồ thật nhưng lời trách cứ dùng dằng đau buốt. Ý thơ cứ tăng cấp, càng nhẹ càng sâu, mơn man lại thấy lòng bải hoải. Chỉ có thể dùng một từ diễn đạt một cảm giác: Rỗng!. Đúng như vậy, rỗng bởi chỉ còn lại thơ, còn lại “người”, còn lại nỗi mong cầu: xin hiểu cho…

Và tất cả chỉ còn lại một cái bóng cô độc, một hình nhân mang linh hồn thật buồn, một bài thơ thủ thỉ ngọt ngào mà lại có cảm giác đau buốt:

Ở chỗ nhân gian không thể hiểu
tôi có người hồ như tiếng chim
theo cơn bão rớt về ngang phố
tôi học từ em: niềm lãng quên

Làm sao quên được đây người ơi? Có lẽ tôi đã quá cảm câu thơ này của tác giả: “tôi học từ em: niềm lãng quên”. Cảm chừng như người đang học lãng quên: từ phố, từ tiếng chim, từ rừng cây, từ cớ mượn mây che lá, về từ ấu thơ nhìn thấy mẹ ở xa…Lời thơ cứ thì thầm thì thầm, cơ chừng mãi mãi đến cạn khô kiếp người. Lãng quên hay nỗi khát khao từ trong tiềm thức – mà hình như Người cũng chẳng hiểu chính bản thân mình.

Ở chỗ nhân gian không thể hiểu
tôi biết người mang một nỗi buồn
biết ta cuối kiếp tim còn lạnh
cùng nỗi sầu bay đầy hư không”

Bài thơ kết thúc trên vết rạn của niềm khát khao cháy bỏng, một tâm trạng nhớ nhung đã phó thác vào cảm giác “hồ như” tất cả như nhòa đi, nhòa đi với dòng lệ chảy (tôi đang tưởng tượng ra như vậy)

“Bài nhân gian thứ nhất” trải rộng nỗi niềm sâu đến tận địa đàng, trải tình tôi lên tận mấy ngàn. Nhân gian rộng lớn quá, cụ thể quá, mà lại mơ hồ quá. Cái hữu hạn của đời người đang nghẹn ngào trước cái vô cùng của nhân gian. Bài thơ kết thúc trên vết rạn của niềm khát khao cháy bỏng, một tâm trạng buồn phó thác cho một điều kỳ diệu từ “người”:

Ở chỗ nhân gian không thể hiểu
tôi xin người sớm phục sinh tôi

Từng câu, từng chữ đang bay, tất cả đều “hồ như ” – đang nhòa, nhòa…bởi “Ở chỗ nhân gian không thể hiểu”. Cầu mong Người sẽ phục sinh

Nguyễn Hoàng Anh Thư

Lò bát quái

nguyenhoanganhthu

Hắn đang ở trong một cái lò nung, hắn tha hồ nuốt lửa. Hắn phải cố nuốt thật nhiều mới hết lửa được trong cái lò nung này. Hắn sợ từ đây đến chiều người ta sẽ không cho củi vào nữa.
Những chiếc đồi trọc ở ngoài kia rồi cũng được người ta cho vào nấu quặng. Có hôm hắn nhìn người ta đúc thành những chiếc Lexus. Hắn thấy người ta lái chiếc xe màu đất đỏ ấy ngoằn ngoèo qua các rảnh phố. Bụi mù, phủ đỏ không biết bao nhiêu khuôn mặt người, những khuôn mặt tượng bên cạnh những khẩu súng hiên ngang, cả những hài nhi còn trong bụng mẹ chúng cũng đang liếm láp bụi đỏ dính quanh cuống rau. Người ta trố thật to những đôi mắt nhìn.
Những nhà máy đồng loạt hì hục nung. Người ta cũng sợ hết than như hắn. Người ta nung đủ thứ: những núi xe nôi chất cao, những núi tả lót, những bình sữa lềnh bềnh trong cái bể nước to, những núi vật dụng ( tivi, tủ lạnh, giày dép… gì cũng có). Người ta nung như hắn đang bị nung. Hắn thèm lửa.
Hắn thấy những chiếc ô tô màu đỏ ấy có lần lên miền cao, họ chở vài thứ ấy lên ban phát cho những bà mẹ trẻ em trên ấy. Họ đứng bu quanh, miệng liếm láp, thưởng thức mùi vị màu đỏ hiện đại. Đúng thật, nó có mùi vị thật khác, mùi của khói đỏ cay xè.
Hắn đang ở trong ấy, lửa phần phật cuộn vào người hắn, kích thích hắn, hơn tất cả các cảm giác của rượu mạnh hay chất kích thích nào mà hắn đã trải qua. Hắn đê mê. Đôi mắt ngây ngây dại dại thưởng thức. Thỉnh thoảng hắn lại giật mình. Không lẽ đến chiều người ta sẽ không có củi cho vào.
– Đây là lò bát quái của Thái Thượng đấy, mày đừng lo, nó sẽ đỏ mấy tỉ năm nữa, không hết lửa đâu – tiếng từ trên cái miệng lò vọng xuống.
Hắn cảm thấy yên tâm. Hắn ôm lửa và mặc sức nghiền nó thành những thứ bột li ti siêu nhỏ, đến nỗi hắn không thể nhìn bằng mắt được. Hắn nằm thẳng tay thẳng chân khoan khoái hít cái mùi bột ấy. Hắn định sẽ ở yên vị trong cái lò này khoảng mấy trăm năm nữa.
– Linh đan đâu, đã có chưa?- có tiếng người nói ở ngoài.
Hắn mơ màng chực tỉnh. Người ta đang luyện cao người. Người ta định đúc cao người với những khoái vị của lửa để làm thuốc trường sinh bất lão. Hắn ngờ ngợ.
Dãy phía trước mắt hắn là một loạt những lò bát quái. Người ta đang nung những kẻ khoái nuốt lửa như hắn, có cả trẻ con. Hắn thấy những đôi mắt lim dim, ngây ngây thưởng thức. Lửa cuộn vào người họ, cảm giác mê hoặc như bị lửa thôi miên. Họ cười, họ hả hê, họ bơi trong lửa. Như hắn.
Cái lò nung của hắn đã lạnh, người ta không cho thêm lửa. Hắn rùng mình. Từng đốt xương vụn vỡ rơi xuống cho đến khi lần cuối hắn nhìn thấy mình là một đống bột trắng khô.

NGUYỄN HOÀNG ANH THƯ