CƠN GIÓ MANG HỒN LỮNG THỮNG (tt)

ledachoanghuu

…Buồn bực, chán nản, vô vọng, nó như một cái xác lê lết. Trong giấc ngủ chập chờn thậm chí chẳng có giấc ngủ nào người vẫn cứ ẩn hiện mình ở Dốc Lết, bị ngập ngụa trong bùn lầy, bơi như những con bò kéo xe, không có những cú nện đùng đùng nhưng có một tấm lưới vô hình trùm kín mít người, ngột ngạt bí thở và không lối thoát còn hơn cả cực hình đòn roi.
Mấy tháng bị đè nặng như vậy nó không còn chiu đựng nổi, cuối cùng vùng dậy và quyết ra đi.
Một buổi chiều trời có chút mây lưa thưa, nó bước xuống xe, một cảnh tượng bát nháo, xô bồ hiện ra, người chạy tới chạy lui, xe cút kít đẩy chạy rần rần, người dỡ hàng, người bốc xếp, người bán hàng rong, bánh mì bán báo… Bao quanh chiếc xe nó vừa ngừng là đám người không đếm nổi, không nhìn rõ mặt được, chỉ vài người bặm trợn nổi bật lên, người níu người kéo, hỏi mà như ăn tươi nuốt sống khách vừa đặt chân xuống. Nó cố len lỏi lách ra khỏi đám đông, nó dễ hơn người khác, trên người độc một cái túi với vài bộ quần áo. Nó chui ra được bước nhanh ra khỏi cổng vẫn còn ba bốn cánh tay giựt ngược đi theo, léo nhéo bên tai, đi đâu, về đâu, tao chở rẻ cho, đ.m mày câm hả, hỏi hông nói mậy, khi dễ tụi tao hả mậy, nó cứ lắc đầu và lầm lũi bước gần cả nửa cây số. Chợt một cơn mưa đổ ào, vội nhảy vào hàng hiên trú mưa, một chiếc xe buýt chạy ngang, che khuất tầm nhìn của đám người bám theo, nó chạy mấy bước thấy cài hẻm nhỏ, quẹo vào ngay núp sát trong gốc cây còn nghe mấy tiếng vọng theo, đ.m nó đâu rồi, mới thất thì đây mà, đ.m. nó nhảy xe buýt rồi, đ.m mất công đi theo cả buổi, đ.m thằng láo cá… Cơn mưa cái ào cứu khỏi đám lùng bùng, nó cười thầm cảm ơn cơn mưa, thầm nghĩ vậy là đã biết thế nào là bất chợt mưa Sài Gòn, Sài Gòn chợt mưa chợt nắng mà ngày nhỏ nó không nhớ nổi hay cảm nhận hết.
Mưa dứt. Dòm trước ngó sau nó bước ra đường chính. Đi chừng dăm bước một người đàn ông ngồi trên chiếc xe Suzuki, người ta đặt cho nó cái tên quay ngược thời gian, Su trăm năm, một trăm năm về trước, người ngồi đong đưa cẳng ngoắc hỏi:
“Xe ôm hông cháu?”.
Nó nhìn người đàn ông chạy xe ôm, dáng vẻ thấy hiền lành nhưng vẫn lưỡng lự, lắc đầu bước qua, chừng như hiểu được, chú này bước xuống đi theo:
“Về đâu chú chở cho, chú lấy đúng giá, nói nghe được thì đi, hông thì thôi, chú chạy xe ở ngoài chớ hông phải trong bến hay gần bến”.
Vẫn còn lưỡng lự, mà có biết về đâu, nó cứ đi đại mà, lại không muốn phiền hà bà con ai cả, nó ậm ừ, người đàn ông nói tiếp:
“Chú nói thiệt đó, giúp giùm chú một cuốc”.
Nó buột miệng:
“Con chẳng biết đi đâu?”.
Chú chạy xe ôm trợn mắt:
“Cái thằng giỡn chơi hả, hay bỏ nhà đi bụi, đi bụi thì vô bến xe làm bụi đời, lang thang đây chi, vô đó rồi biết nghe con, thôi về nhà đi, nhà đâu chú chở về”.
Nó bật cười:
“Con hông có ý đi bụi”.
Chú chạy xe chưa hết tròn mắt:
“Là sao? Hông đi bụi mà hông biết đi đâu?’.
Nó thật thà:
“Con thấy chú hông giống mấy người trong bến, chú đừng gạt con nghe, chú chở con tới chỗ nào rai rai đi con hỏi chút chuyện”.
Chú chạy xe thấy lạ:
“Cháu cũng đừng có gạt chú à”.
Nó cười tiếp:
“Con gạt chú cái gì, chú kiếm quán quen của chú đi”.
Chú lấy xe đạp năm sáu cái nó mới nổ, nổ phù ra một làn khói đen sì, nó leo lên, chú chạy vèo lại con hẻm nhỏ có quán gỏi vịt, chú dựng xe:
“Quán nhỏ quen quen, rẻ rẻ, bữa nào dư chút đỉnh chú lại đây làm một xị với cặp cẳng, cái đầu. Nó kêu nột đĩa gỏi, dĩa lòng và hai tô cháu, chú nhìn nó:
“Chi dữ vậy, chút chút thôi”.
Nó mời chú ăn, nó vừa múc cháu húp rột rột vừa nói:
“Con đói quá húp miếng đã, chú cũng ăn đi”.
Chú gật đầu từ từ múc cháo:
“Chú thứ năm người ta kêu Năm su trăm năm, kêu gọn là Năm su, nghe giống năm xu ba cắc quá hen, thiệt đúng nghèo rớt mồng tơi”.
Nó gắp miếng thịt bỏ cho chú, nói y như người lớn:
“Nghèo giàu gì chú ơi, con cũng mạt nè – Nó kêu chị trong quán: quán có rượu gì vậy chị?”.
Chị cười:
“Dạ, đầy đủ hết anh, chuối hột, tắc kè, rượu gạo, Nàng hương, mà chú Năm hay uống chuối hột”.
Nó nghe tiếng dạ rồi đầy đủ hết anh, chợt giựt mình ngó chị chừng hai mươi mấy trân trân, hai mươi lăm hai mươi sáu tuổi chớ đâu ít lại kêu nó bằng anh, hổng lẽ… Chị đang đứng chờ hỏi lại:
“Uống gì, làm gì mà dòm dữ vậy, lạ lắm sao?”.
Nó bị cắt dòng suy nghĩ sực nhớ lại:
“Vậy cho chuối hột đi – tự nhiên bật ra: tại chị đẹp quá!”.
Chị cười hà hà:
“Xạo quá cha nội, cha này tán gái chắc dẻo miệng lắm”.
Nó cười:
“Chưa một mảnh tình vắt vai”.
Rót rượu đầy nó mời:
“Dạ, con mời chú”.
Uống cạn chú Năm hỏi:
“Cháu ở đâu lang thang đây?”.
Nó đã húp sạch tô cháo:
“Con ở quê, à mà con trở lại Sài Gòn, nơi sanh của con mà”.
“Còn nhà cửa, còn ai trong này hông?”.
“Hông còn gì hết chú ơi”.
“Vậy giờ tính ở đâu?”.
“Dạ chưa biết, vậy con mới định hỏi chú, chú chắc rành biết có chỗ nào cho mướn rẻ rẻ, có chỗ nào kiếm gì làm chú chỉ cho con với”.
“Biết thì chú biết, nhưng rẻ thì phức tạp lắm, có chịu nổi hông?”.
Nó lắc lắc đầu, nhấm thêm ly rượu:
“Dạ, con bây giờ chuyện gì mà hông chịu được, quá nhiều chuyện trải qua rồi chú à”.
Chú Năm có vẻ không tin:
“Cháu trẻ vậy mà nói trải đời à”.
“Dạ, trải đời thì con hông dám nói, chỉ trải qua nhiều chuyện thôi”.
Chú Năm gật đầu:
“Thôi được, uống xong đi chú chở lại chỗ này, nói rồi đó nghe phức tạp lắm, còn việc thì… cháu có tiền hông, mua chiếc xe như chú mà chạy”.
Nó suy nghĩ một hồi:
“Dạ, chạy xe con chạy hông được đâu, con bon chen hông được với lại chưa rành đường xá”.
“Làm nặng được hông, việc nặng thì có, đẩy xe cừ tràm, đạp xe ba bánh giao hàng than củi…”.
Mấy việc này thì ăn thua gì với nó, nó dạ:
“Việc gì con làm cũng được hết”.
Tính tiền, nó dúi vô tay chú Năm ít tiền, chú Năm cản lại:
“Thôi thôi, cho chú nhậu vầy được rồi”.
Nó dúi vô túi bằn được:
“Chú giúp giùm con, giữa trời đất minh mông lạ lẫm này con chẳng biết dựa vào ai”.
Chú Năm chở nó vô hai ba cái hẻm ngoằn nghèo, dừng lại trước căn nhà tường nhưng cũng lụp xụp, lờ mờ với anh đèn hiu hắc trong nhà hửng ra, chú Năm kêu:
“Chị Tư ơi chị Tư, có nhà hông?”.
Một người đàn bà mở cửa cót két:
“Ai vậy, giờ khuya lắc còn kêu um sùm vậy?”.
Chú Năm đáp:
“Tui nè, Năm su nè, ghé hỏi chị còn căn nào cho mướn hông, có người hỏi – Chú Năm chỉ người đàn bà: Dì Tư, chủ mấy căn nhà trọ”.
Nó gật đầu chào, dì Tư nói giọng còn uể oải:
“Còn, còn căn trong cùng, ở mấy người?”.
Chú Năm trả lời luôn:
“Mình thằng nhỏ này thôi”.
Dì Tư ngó nó từ đầu tới cuối:
“Kham đủ tiền hôn, ở bao lâu, đừng nói ở vài bữa?”.
Nó dạ:
“Dạ, con có tiền, với lại con đi làm nữa mà”.
Dì Tư nói giá, bao điện nước, điện chỉ thắp sáng không nấu ăn, nấu uống, chú Năm nài giảm thêm chút ít, dì Tư gật đầu đồng ý kêu:
“Đi theo tui, coi được thì ở”.
Dì Tư dẫn vòng ra phía sau nhà, vô con hẻm nữa rồi bước lên cái cầu ván nhỏ xíu, chừng vừa đủ hai người qua lại không đụng, hai bên là hai dãy nhà lợp lá, vách cũng che bằng lá, đã chuyển màu bạc xỉn, qua khe ván hở thấy nhiều cây cọc cắm xuống, nó nghĩ vậy đây là dãy nhà sàn làm trên sông trên rạch gì đây. Ánh sáng cũng vàng vọt, hắc ra từ khe hở của vách lá, ngang qua một căn thì vọng ra tiếng chủi rủa: “Đ.m mày, mày là thằng đàn ông khốn nạn, đ.m mày đ. xứng làm chồng tao, đ.m. tao mong xe cán chết mẹ mày đi”, có tiếng phản pháo lè nhè: “Con đĩ, đ.m. im đi hông tao oánh chết mẹ bây giờ, đ.m giờ giấc người ta ngủ, đ.m. phá đám hoài”. Dì Tư lắc đầu:
“Tối ngày chửi lộn riết, thằng chồng lè nhè, con vợ bài bạc vậy mà đều đều lọt ra năm đứa”.
Dì Năm mở cửa căn nhà cuối, bước vô, căn nhà chừng chín mét vuông, gọi là nhà chớ khác gì căn chòi ở rẫy, còn tệ hơn đó chớ, dì Tư bật điện, ngọn đèn tròn chẳng sáng là bao, dì Tư hỏi:
“Đó, vậy đó, vừa ý thì ở, đặt cọc hai tháng, ở tháng nào trả tháng đó”.
Nó nhìn quanh có phần lưỡng lự, nhưng nghĩ lại giờ biết đi đâu, biết chỗ nào rẻ hơn nữa, nó gật đầu:
“Dạ được”.
Dì Tư tiếp:
“Chừng nào ở, có giấy tạm vắng hôn?”.
Nó móc bóp:
“Dạ, ở bây giờ luôn, con gởi tiền còn con chỉ có giấy chứng minh”.
“Vậy cũng được, ở đây nó hơi phức tạp, đừng có xét nét, có chuyện gì báo với dì”.
Nó dạ, chợt nó nhớ ra bởi nó đang mắc:
“Cầu tiêu ở đâu dì?:
Dì Tư mở cánh cửa sau:
“Đái thì đi xuống đây, đi cầu thì ra phía trước quẹo trái có cái cầu cá”.
Dì Tư bước ra, chú Năm cũng lui ra:
“Mai chú qua chở cháu đi”.
Nó dạ, chạy ào ra mở cửa sau.

***

Nó ngã người cái phịch xuống sàn gỗ oánh một giấc tới tờ mờ sáng. Bụng đòi phải cho ra ngoài, lò dò ra phía trước quẹo trái thấy được hai cái cầu phía trước sáu bảy người xếp hàng chờ, bụng chột quá khó chịu, nó ôm mà muốn nhảy dựng. Một người đứng gần lên tiếng:
“Qua bên kia đi, xa chút mà ít người”.
Người này quay đi, nó mon men đi theo. Băng qua con hẻm, quẹo vào bờ đất phía dưới còn mọc dừa nước, chừng gần nửa cây số xuất hiện một cái ao lớn với ba cây cầu, không có người, người đi trước bước vô một cái, nó nhảy vô cái bên kia. Vừa ngồi xuống cái cầu tạm bợ còn rung rinh bao quanh cũng bằng những tàu lá dừa nước thưa thớt, có chỗ mục rớt mất, thiệt là “thoáng”, từ bụng nó ào ào rớt tọt tọt, tủm tủm, nó chợt nghĩ, người ta nói cầu tủm cầu tọt quả chẳng sai. Cái độc đáo nữa vừa rớt xuống tới nơi thì đàn cá tra ùa lại đớp ùm ùm, có con còn bay lên cao dành mồi, quẫy nước bắn lên ầm ầm… Nó phì cười, chà nghe đâu những con cá mập ú đầy mỡ này cũng vô nhà hàng sang trọng chớ đâu giỡn.
Chú Năm su chở nó lại vựa cừ tràm, bà chủ vựa nhận ngay. Việc chỉ cực lúc cừ tràm về, ghe chở đầy cập bến, chuyển cừ suốt đêm còn bình thường chẳng có gì ghê gớm, có khách mua, hai người chất đầy xe ba gác đẩy tới rồi đạp về, chẳng thấm thía gì với ở rừng rú, không có khách thì ngồi chơi, cà phê cà pháo, oánh cờ.
Nó bước ra khỏi nhà trọ rất sớm, trở về ngả lưng thì rất trễ, và thường thì đã khật khà khật khưởng lúc với anh làm cùng lúc với chú Năm su, khi chỉ một mình. Cần trốn những cảnh ngao ngán mà thấy ngày này qua ngày nọ ngay xóm nhà trọ, nghĩ người ta nói tới xóm nhà lá là những xóm tồi tệ, tồi tàn chẳng có sai. Có đủ hết mọi thành phần bất hảo, già trẻ lớn bé, trai gái hay đàn bà, mới bảnh mắt là đã tụ tập phì phèo cầm bộ bài mà xòe, mà bốp chát ăn thua đủ, chiều chiều xoay qua đề đóm nằm mơ cầu thần, lần sổ ghi chi chít những con số, vài tay dựa cột ngồi thừ, lim dim thả làn khói hút chích như đang ngồi mơ mộng trên xứ sở thiên đường trong bộ da bọc xương, tiếng chửi rủa phát ra liên tù tì, cha mẹ chửi con cái, con cái cũng chẳng tha cha mẹ, trả treo như mèo và chó, vợ chồng chửi nhau, hàng xóm chửi nhau, thêm tiếng chửi của những người thu tiền góp, tiếng chửi thì không còn gì xấu xa hơn nữa, trần trụi hơn nữa, những bộ phận cần dấu nhứt trên cơ thể đều được phơi bày. Có một câu hỏi mà nó không có câu trả lời là họ lấy tiền ở đâu ra, họ làm cách nào và vài ba hôm thì nghe nói thằng này bị hốt, thằng kia bị bắt, con nọ bị tóm, nói xong là xong chẳng có cảm xúc biểu hiện buồn vui. Một vài cái áo trắng ôm tập vở xuất hiện hiếm hoi rồi lận trốn mất tăm giống nó âm thầm trầm lặng…
Một cơn mưa lớn đổ xuống khi đang đầy xe cừ, cơn mưa thấm làm nó ớn lạnh, muốn cảm, chiều tối đó nó về sớm, không ngồi quán, về nằm vật ra nhà trọ, miệng đắng chát, móc gói thuốc, thuốc sạch bách không còn một điếu, lê tấm thân cũng tồi tàn như xóm nhà lá ra đầu hẻm, tới xe thuốc bán đêm:
“Chị cho nửa gói con mèo”.
Chị bán hàng đon đả lấy thuốc:
“Dạ, thuốc đây anh”.
Nó quay trở về, tếp tục thả người xuống sàn, rít một hơi nhả làn khói lờ mờ bay lên mái nhà, thầm nghĩ, chà bây giờ đi đâu cũng nghe kêu anh hết rồi, nhiều người nhìn lớn chớ đâu nhỏ, mình lại chẳng bao giờ soi gương để nhìn rõ mặt như thế nào, chẳng thèm để ý, cứ cho mình còn nhỏ lắm, nó đưa tay lên xoa xoa cầm, xoa xoa quanh miệng, râu đã lởm chởm và cứng rồi chớ không còn lông măng… Một cơn gió thổi qua khe lá nó sực nhớ tới cơn gió mang hồn lững thững, đã lâu rồi từ ngày gặp cơn gió tới giờ chưa gặp lại, nó gọi một lúc sau cơn gió mang hồn lững thững bay tới. Cơn gió chào:
“Chào anh, lâu quá hông gặp, chà anh lớn và chững chạc hơn trước nhiều”.
Nó ngạc nhiên nên ngồi bật dậy:
“Sao khi không gọi mình là anh?”.
Cơn gió cười:
“Thì anh bây giờ lớn rồi, ra dáng thanh niên trai tráng. em đâu dám vô lễ”.
“Vậy mình hông còn lững thững nửa hả?”.
“Đúng rồi, em cũng hông còn theo anh nữa, em đã xong xứ mệnh của mình, chỉ còn chờ lần chia tay thôi nhưng đâu nghe anh gọi nên em lững thững sau lưng anh”.
Nó khoát khoát tay:
“Cho mình xin lỗi, mình hông nhớ”.
Cơn gió cười:
“Đâu có gì, vậy bây giờ em bàn giao lại được rồi”.
“Tiếp theo sẽ là gì, cơn gió mang hồn đàn ông à?”.
Cơn gió lắc đầu:
“Bây giờ thì hông chỉ một mà nhiều cơn gió, những cơn gió và những linh hồn đi bên anh”.
“Những cơn gió và những linh hồn mà hông phải là một?”.
“Phải, rất nhiều cơn gió, có cơn gió mang linh hồn tội lỗi, có cơn gió mang linh hồn thánh thiện, cơn gió mang hồn phiêu lãng, có cơn gió mang linh hồn chẳng thánh thiện cũng chẳng tội lỗi…”.
Nó lấy tay bóp trán:
“Ví như cơn gió xoáy, gió nghịch mùa, gió lãng đãng mộng mơ, gió đìu hiu, gió vấn vương…”
Cơn gió tiếp gật đầu:
“Ví như vậy”.
Nó gục gật:
“Sẽ có cuộc chiến giữa những cơn gió này, cơn gió nào thắng nó sẽ ngự trị linh hồn ta”.
Cơn gió đứng dậy vẫy tay:
“Anh nói chẳng sai, cuốc chiến tiếp nối cuộc chiến, khó bao giờ ngừng, thôi tới giờ em phải tạm biệt, chào anh, chúc anh may mắn”.
Nó chào cơn gió mang hồn lững thững rồi lại ngã vật ra, nhớ lại lời của cơn gió mà mường tượng tới tương lai. Rồi đây sẽ là cuộc chiến, cuộc chiến nào không khốc liệt, nó thở dài thanh vãn, chưa có cuộc chiến mà đã mệt mỏi, chán chường, đã nhận những thê lương, cuộc chiến thì sẽ ra sao nữa… Nó rút thêm điếu thuốc, rít liên tục, nhả khói bay không kịp tan, khói xám lờ mờ in cái mặt xám xịt nó phía trên, khói thuốc cuộn cuộn, một cơn gió thổi làm khói thuốc vần vũ, gương mặt nó như vùng vẫy, méo mó, nhìn hoài nó đâm chán, lắc đầu, thôi bỏ đi không nghĩ nữa, nghĩ chỉ thêm nát óc, chấp nhận đi, đương đầu tiếp thôi, đã sanh ra là một kiếp người…
Cơn gió lững thững một xưng anh hai xưng em, mọi người cùng lứa đã kêu bằng anh, nó khẳng định được một điều rằng mình đã lớn, cũng cần phải gọi là anh ta, không còn là nó nữa.

LÊ ĐẮC HOÀNG HỰU

Một Mình

maithao

Ngồi tượng hình riêng một góc quầy
Tiếng người: kia, uống cái chi đây?
Uống ư? một ngụm chiều rơi lệ
Và một bình đêm rót rất đầy…

MAI THẢO

Sợi Tóc Đứt

quanduong

Có một lần xưa vuốt tóc ai
Tay tôi luồn giữa suối trang đài
Một sợi tơ trời vương khẽ đứt
Buộc rất vô tình kẽ ngón tay

Tôi cũng vô tình đem cất giữ
tóc ai một nửa sợi bên mình
Đâu nghĩ cuộc đời là dâu bể
Để có một ngày em lãng quên

Để có một ngày ta xa nhau
vuốt lại trên tay sợi tóc nhàu
Định mệnh hôm nào em đã buộc
qua từng năm kẽ ngón tay đau

Gió lọt qua từng năm kẽ ngón
Giật mình tôi ngỡ tóc ai xưa
Mơn man nửa sợi tơ dư ảnh
Tội nghiệp tay gầy
Năm ngón trơ

Quan Dương

Memorial Day ( tác giả: Phu Tho Nguyen)

11351124_783694588412356_4637500700545705783_n (1)

Cuối tuần này ở Mỹ là ngày lễ , một ngày lễ lớn, cả nước chính thức được nghỉ. Ý nghĩa chính của ngày lễ Memorial là tưởng niệm những người đã ngã xuống cho đất nước. Khái niệm anh hùng của người Mỹ đơn giản và vị tha. Những người hy sinh để bảo vệ đất nước, bảo vệ chính nghĩa, bảo vệ người khác, hoặc vì mệnh lệnh tổ quốc mà hy sinh, đều được coi là anh hùng.
Nước Mỹ trải qua nhiều đời tổng thống, nhiều cuộc chiến, dân chúng đồng tình cũng có, phản đối cũng có, nhưng người ngã xuống đều được trân trọng, vì họ đã hy sinh cho đất nước.
Người Mỹ có Civil War, cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn. Họ vẫn nhắc nhở về cuộc chiến này, tri ân những người đã hy sinh, giảng dạy kinh nghiệm, nhưng họ không tự hào về cuộc chiến Bắc Nam đó. Ngược lại, họ dùng cuộc nội chiến để nhắc nhở những kinh nghiệm qúy giá, và kêu gọi sự đoàn kết đất nước để tránh chia rẽ .
United We Stand – Đoàn kết chúng ta tồn tại ! Một đất nước non trẻ như Mỹ, không hề có bề dày lịch sử ngàn năm văn hiến như các nước phương Đông hoặc châu Âu, lại hiểu ra và thực hiện cái nguyên tắc bó đũa hay như vậy. Do vậy, đất nước họ mạnh.
Nghĩ lại, đất nước Việt Nam có bốn ngàn năm văn hiến nhưng chưa có một ngày Memorial Day chung cho cả dân tộc. Bao nhiêu anh hùng liệt sĩ Việt nam đã ngã xuống, anh dũng hy sinh vì quê hương đất nước. Nhưng cái nhìn của người VN có khác, mỗi chế độ có ngày liệt sĩ riêng để tưởng niệm cho chính thể của mình.
Đất nước thì trường tồn, còn chế độ thay đổi theo thời gian . Tính ra, từ thời các vua Hùng dựng nước, trãi qua bao giai đọan lịch sử … chống Tàu, chống Pháp, chống Mỹ … từ Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê … rồi Quốc gia, Cộng sản… Đất nước Việt Nam thì vẫn còn đó, nhưng bao nhiêu triều đại đã đổi thay.
Bao nhiêu cuôc nội chiến đã xảy ra … triều Trịnh thì xử Lê, Nguyễn thì xử Trịnh, Gia Long thì xử Nguyễn Huệ ….cứ chế độ sau thì phải xử chế độ trước, thậm chí còn không đội trời chung !!!
Có lẽ vì sự thù hận và những ngộ nhận giữa thể chế chính trị và quốc gia, mà người ta không chấp nhận sự hy sinh của người khác cũng là vì tổ quốc chăng? Có nhiều quan niệm cho rằng yêu chế độ, yêu đảng cầm quyền, mới là điều kiện cần và đủ để yêu nước.
Thậm chí nhiều người còn đồng hoá giữa việc yêu tổ quốc và đồng quan điểm chính trị. Ví dụ như chỉ có ông Nguyễn Huệ yêu nước thôi, còn ông Hàm Nghi thì không, vì ông Hàm Nghi là con cháu ông Gia Long? Đại loại như thế rồi cùng nhau cãi cho qua ngày tháng !
Thiết nghĩ, tất cả những người con của đất nước Việt Nam đã hy sinh cho tổ quốc từ thời dựng nước đến nay đều xứng đáng được chúng ta tri ân.
Nhiều nước trên thế giới, các đảng phái có quan niệm chính trị khác nhau, tranh cãi rất mãnh liệt, nhưng khi đụng đến quyền lợi tổ quốc họ lại chung tay nhau. (Đảng cọng hoà & dân chủ của Mỹ là một ví dụ, và cũng có hàng triệu người đã hy sinh đóng góp cho đất nước Mỹ mà chẳng theo đảng phái nào cả.)
Thời đại ngày nay, thế giới văn minh và dân trí cao. Hầu hết, ai cũng phân biệt được đâu là cái chung, đâu là cái riêng. Nước mất thì nhà tan ! Một quốc gia mạnh là quốc gia luôn đặt quyền lợi của tổ quốc và nguyện vọng người dân trên cao nhất. Có vậy mới tạo được sức mạnh đại cuộc. Mình nghĩ vậy.

PHU THO NGUYEN

10981511_783777455070736_1503159941267841214_n

Một cựu chiến binh trong chiến tranh Iraq, (người đã yêu cầu giấu tên) ngồi và uống một ly bia bên cạnh các ngôi mộ của những người bạn đơn vị cũ của mình. Trung sĩ Eric Snell và Pfc Michael Pittman, cả hai đều là sư đoàn 1 bộ binh, tại nghĩa trangArlington West Memorial vào ngày Memorial Day tại Santa Monica, California vào ngày 30 tháng 5 năm 2011. ( Hình ảnh của Getty Images)

Đánh đổi

nguyenminhphuc

…Xin đánh đổi cuộc đời nầy lận đận
Bằng phút giây cầm được tay người…
(NTN)

Ừ thì tôi đánh đổi tôi
Vào trong mắt biếc một trời thơ ngây
Hay là tôi đổi vạn ngày
Có em trong giấc mơ đầy trăm năm

Tôi xin đổi hết trăng rằm
Vào đôi tay nhỏ xa xăm ngại ngần
Và dành cả một trời xuân
Đổi cho nhan sắc tôi từng tương tư

Hay là tôi gói lời ru
Đổi đôi môi của mùa thu mang về
Tình còn mộng kín sơn khê
Chỉ xin đánh đổi môi kề bên môi

Cho tôi dành cả cuộc đời
Chỉ xin tôi đổi một thời yêu em
Còn trong tôi một trái tim
Thôi tôi xin lấy nổi chìm đời nhau

Mốt mai em bước qua cầu
Còn đâu tôi đổi chiều sầu bóng tôi…

Nguyễn Minh Phúc

… TRÊN ĐƯỜNG CÔNG LÝ

buichivinh

Chào đón Obama đến Sài Gòn
Trẻ con trong xóm vui như Tết
Nghe tiếng còi hụ ngoài đường là đám nhóc thay phiên nhau hò hét
Obama, hoan hô Tổng thống Obama !

Ôi những đứa trẻ con không hề phân biệt quốc tịch với màu da
Chào đón Obama như đón người thân thuộc
Rừng cờ Mỹ 41 năm không bay ở Việt Nam, bây giờ bay như đám rước
Suốt con đường Công Lý ngày xưa giờ rợp một màu cờ

41 năm đồng minh Hoa Kỳ tự chối bỏ đồng minh một cách ngây thơ
Bây giờ mở mắt thì bao nhiêu người đã chết
Người chết lềnh bềnh trên đại dương, người chết trong ngục tù bao la, người sức mòn lực kiệt
Cái giá phải trả của thời gian tàn bạo đến chừng nào

Dân miền Nam bụng không chứa gươm đao
Ghét thì quay lưng, không ưa thì nói thẳng
Không ưa cộng sản Tàu nhưng với nước Mỹ văn minh nhân quyền thì gừng cay muối mặn
41 năm đói tự do nên biết quý yêu phẩm giá con người

Chào đón Obama đến Sài Gòn, cả nước rộn niềm vui
Bọn bán nước tay sai, bọn liếm gót Bắc Kinh tái mặt ư ? Thây kệ
Những đứa trẻ hồn nhiên đang dạy chúng bài học vỡ lòng về tử tế
Chọn đúng bạn mà chơi, chớ chọn giặc mà thờ !

4g chiều ngày 24/5/2016
BÙI CHÍ VINH

VIẾT VỀ TÂN ĐỊNH.

thuyvi

( sẽ in trong VI, VIẾT VỤN )
Chúng ta, ai cũng có vùng ký ức thời tuổi nhỏ rất riêng của mình. Hôm qua, đọc một bài viết về khu Tân Định của ông Trần Đình Phước, tôi như được gặp lại người bạn thân thiết lâu ngày. Giống như mọi tình cảm chìm trong quá khứ lâu nay, bây giờ, được vỡ trào tung toé.
Những dòng chữ của ông Phước còn dẫn tôi lội sâu vào vùng trẻ thơ – tuy có lúc rõ nét, có khi mơ hồ, và, xúi tôi ngồi lại ghi xuống những kỷ niệm trong trí nhớ thật mỏng manh nhỏ nhoi của mình.
Lúc đó tôi còn bé lắm, học ở nội trú và mỗi cuối tuần được đón về nhà ngoại. Nhà của ngoại là một nếp nhà cũ kỹ, mái ngói, bệ vệ, nằm ngay chính giữa một con ngõ cụt rộng rãi trên đường Nguyễn Đình Chiểu như lọt thỏm trong những ngôi nhà cao tầng hiện đại chung quanh.
Ngay đầu đường trong này đi ra là nhà của ông Họa sĩ Đinh Cường. Lúc đó ông chưa nổi tiếng và có chút liên hệ họ hàng gì đó, vì ông gọi ngoại tôi là Chú. Tôi còn nhớ cách nhà ông Cường vài căn là một tiệm phở, tuy hoàn toàn không nhớ tên, nhưng tôi lại nhớ nơi đó trang trí nhiều chậu dừa kiểng – họ đặt tràn ra ngoài hành lang sát mí với Sài Gòn Ấn Quán.
Đứng trước nhà ông Đinh Cường, ngó xéo về hướng chợ Tân Định, bên kia đường là trường Tiểu học Đồ Chiểu với cánh cổng nặng nề thường xuyên đóng kín mít. Tôi chỉ học ở nơi này vài năm, lại nữa trí nhớ một đứa con nít thường là chắp vá, nhưng không hiểu sao tôi lại đặc biệt nhớ ngôi trường này, cho nên mỗi lần nhớ lại, tôi dường như vẫn còn ngửi được mùi lá nồng nàn của hàng Điệp già cỗi phủ um bóng mát dọc theo lối đi trong khoảng sân rộng trước những cửa lớp. Và, hình như mười đầu ngón tay tôi có được cảm giác như đang sờ vết nham nhám của những băng ghế bằng xi măng đặt rải rác trước hành lang.
Cổng phụ của trường nằm ngay góc, chỗ đó là con ngõ nhỏ rải rác những ngôi nhà còn nguyên khoảng sân yên tĩnh với vòm cây bông giấy dầy đặc những chùm hoa bung ra những cánh nhỏ lá thuôn màu hồng ngát.
Tan học, nếu đi con đường Hai Bà Trưng để về nhà, tôi sẽ đi ngang rạp chiếu bóng thường trực Kinh Thành giăng đầy những áp phích film ca múa Ấn Độ với đầu mấy con rắn đang phùng mang bên các cô đẹp mê hồn giông giống như khuôn mặt Phật bà Quan Âm. Nếu dừng lại, nhìn vào, sẽ thấy hai bên cửa rạp là dãy vách dán đầy quảng cáo, nơi đó có hàng song sắt láng bóng thấp lè tè là chỗ tôi đu tòn ten trong lúc chờ ông cậu mua vé hay đang quẩn quanh tán gẫu với bạn bè.
Từ rạp Kinh Thanh đi bộ thêm một đổi, gần đến chỗ ngã ba bị uốn cong góc nhà đèn, đường Bà Lê Chân cắt ngang Hai Bà Trưng đổ vào Nguyễn Đình Chiểu, nơi đó ngày xưa có trạm xe ô-tô-buýt cắm trước mặt vài tiệm trồng răng của người Hoa có trưng mấy tấm hình hàm răng to ưỡn. Kế đó, tôi còn nhớ một tiệm bán cơm thố với món thịt ba rọi kho mắm ruốc ( ? ) sóng sánh màu tím. Vừa băng qua đường, cũng dọc theo đường Hai Bà Trưng là dãy tiệm bán cà phê như nhà văn Trương Đạm Thủy tả : ” Mặc dù sách phong thủy Tàu thường khuyên không nên cất nhà ở ngã ba, ngã tư đường vì dễ bị nạn xui xẻo nhưng các chú Xường, chú Hía, A Hoành, A Koón… thì đều chọn các nơi nầy làm chỗ kinh doanh. Tuy Sàigòn, Chợlớn, Gia Định, Phú Nhuận, Đa Kao có hàng trăm tiệm cà phê, hủ tíu Tàu nhưng nhìn chung chúng đều có một “mô – típ – made in China” khá giống nhau, tức là quán nào ở phía trước cửa cũng có một xe nấu hủ tíu được làm bằng gỗ thiết kế một cách cầu kỳ. Phần trên của xe được trang trí bằng những tấm kính tráng thủy vẽ những nhân vật Quan Công, Lưu Bị, Triệu Tử Long, Trương Phi trong truyện Tam Quốc Chí khá vui mắt.
Bên trong quán hoặc xếp bàn tròn hoặc vuông. Khách vừa vào trong gọi “cá phé”, song mấy tay phổ ky vẫn bưng ra một mâm nào bánh bao, xíu mại, há cảo, dà chá quải đặt trên bàn. Khách dùng hay không cũng chẳng sao “pà – con – mà!”
Hồi đó không có nhiều tiệm cà phê fin kiểu “cái nồi ngồi trên cái cốc” như bây giờ mà chỉ có cà phê Tàu. Vì thế uống cà phê Tàu phải có một phong cách riêng
Cà phê được mang ra dân ‘sành điệu” hồi đó ngồi chân dưới chân trên, sau khi khuấy nhẹ cho tan đường bèn đổ ly cà phê ra cái đĩa đặt phía dưới. Chưa uống vội, khách chậm rãi mồi điếu thuốc rít vài hơi để chờ cà phê nguội xong rồi nhón lấy cái dĩa đưa lên miệng vừa thổi vừa húp…”…..(ngưng trích).
Sáng nào được ông ngoại dẫn ra quán café, dù chỉ là con nhóc, tôi cũng bày đặt giống ông ngoại, đòi, đổ café sữa ra dĩa cũng húp xì xụp bắt chước y chang.
Đi lang thang lên một chút là gặp tiệm thuốc bắc Kim Tân (hình như có trưng hình ông lực sĩ thật lớn giơ bắp tay cuồn cuộn?) Tiếp đó là những tiệm tạp hoá, tiệm thuốc bán na ná nhau… Dọc lên một đỗi sẽ gặp nhà thờ Tân Định với kiến trúc cầu kỳ đầy nghệ thuật như những mũi tên bay vút lên bầu trời.
Một trong những bài viết về Tân Định, ông Trần Đình Phước có nhắc đến tiệm chụp hình Luyến khiến tôi nhớ lúc còn ở nhà ngoại, có lần cậu đưa tôi ra Luyến chụp hình, tấm con bé làm duyên chống tay nơi cằm được chủ tiệm dành làm hình mẫu. Sau này khi tôi lớn hơn một chút, trở về thăm lại Tân Định, ghé vào đây chụp thêm tấm nữa, cũng không ngờ tấm hình đó lại may mắn được chủ tiệm đặt tại một chỗ, mà bất cứ khách bộ hành nào nhìn vào cũng thấy con bé mặc áo sơ mi sọc, tay ôm cây vợt đánh vũ cầu cười duyên suốt nhiều năm dài. Kế bên Luyến là phòng làm răng, mà, chị Liên con cô Năm tôi có thời làm đây – Chị thấy tôi có cái răng lòi sỉ mà cứ bị chọc quê, nên hào hứng áp giải tôi đến đây để nhờ ông Nha sĩ bứng gốc.
Ngay góc chợ Tân Định, đầu đường Trần văn Thạch, buổi chiều là khu bán nước Sâm Bổ Lượng, đối diện có mấy gian hàng chả quế thơm nứt mũi, đi một khoảng còn gặp thêm một rạp chiếu bóng Mô Đẹc chuyên chiếu những phim Âu Mỹ. Sẵn đà, nếu sử dụng xe gắn máy, phóng tay ga là ra tới ngã ba, quẹo tay mặt trên đường Trần Quang Khải, phóng vút một hồi, đụng Đa Kao, quẹo mặt cái, là gặp ngay tiệm bán chè đậu xanh, thạch Hiển Khánh cũng nằm phía tay mặt.
Tắp vô Hiển Khánh, dắt xe lên lề, ngó mắt qua tiệm kế bên là thấy ngay hình cô ca sĩ Thanh Thúy có mái tóc dài và bàn tay đẹp đậm đuột. Ngoáy cổ qua bên kia đường là tiệm guốc cao gót Đa Kao. Và nếu nhón lên một chút là vào con đường Nguyễn Phi Khanh hẹp té, hầu như toàn dân Bắc Kỳ di cư chuyên làm ô mai bán cho lũ học trò con gái.
Viết bài này không nhắc tới những buổi tối được ở nhà, sau khi học bài xong, thế nào ông cậu cũng chở tôi trên chiếc xe đạp đua bằng nhôm thật hách vừa huýt gió điệu nhạc Cerisier Rose Et Pommier Blanc réo rắc vui nhộn, vừa đạp chiếc xe phóng vun vút một vòng từ nhà ra Hai Bà Trưng, rẽ qua Đinh Tiên Hoàng ghé tiệm bánh mua Paté Chaud (lúc đó góc bưu điện SàiGòn chưa bán loại bánh này) rồi trực chỉ bến tàu vừa hóng gió vừa nhâm nhi tận tình cho hết mấy cái bánh rồi tà tà đạp về.
Khi Cậu có chút tiền còm, hào sảng hơn thì chở con bé ra Chợ Cũ ăn cháo cá, uống Bireleys rồi đạp chậm một vòng chợ Bến Thành để con bé nhìn nghiêng nhìn ngữa, chỉ trỏ cười nói lung tung một hồi rồi chiếc xe vun vút về với điệu nhạc trong miệng cùng màn đêm mát rượi êm ả của một thuở thanh bình.
Bây giờ, cậu tôi – mất rồi. Ông ngoại dĩ nhiên không còn. Tôi cũng đang rơi vào tuổi đủ già. Ngẫm lại, một vòng cuộc đời, như chớp mắt, có khi còn nhanh hơn chớp mắt. Nhiều lúc một mình, lòng ngổn ngang xúc cảm với những kỷ niệm đứt đoạn, lan man…
…Tuy còn nhỏ, nhưng lúc đó tôi còn nhớ vào khoảng năm 1963-64, gì đó, trong nhà tôi đột nhiên u ám, khi ông Ngoại buồn hẳn đi. Sau ít tháng, một quyết định của ông Ngoại làm cả nhà rụng rời khi dời bỏ chổ yên ấm, chuyển luôn cái sạp bán vải Đức Lộc đông khách trong chợ Tân Định danh giá xuống Mộc Hoá – một tỉnh lỵ heo hút buồn ngắt ven biên giới!
Để rồi cho đến hôm nay, khi tôi đã trải nghiệm qua bao thăng trầm. Chứng kiến bao cảnh bể dâu. Là nhân chứng của bao nhiêu trò đen trắng. Cũng không ít lần phẫn uất trước những kẻ muối mặt, thời cơ, biển lận, láo khoét. Tôi mới hiểu sự lựa chọn của ông Ngoại, khi Ngoại thể hiện lẫm liệt một nhân cách can đảm quay lưng, giả ngơ, làm điếc trước những kẻ theo đóm ăn tàn, trước những trò xâu xé bẩn thỉu của các đồng sự của mình!!…
Có người nói, kỷ niệm như những bọt sà bông tuy đầy màu sắc lóng lánh nhưng dễ vỡ. Và, tất cả rồi sẽ xoá nhoà đi không còn lưu lại một dấu vết nào.
Tôi đang cố không tin điều này.

thụyvi

( * ) Người viết lúc đó còn bé quá, trong trí nhớ chắc chắn có lẫn lộn vài chi tiết. Mong thứ lỗi.
( * ) vùng Tân Định xưa.( thấy khu nhà của Ngoại và trường Đồ Chiểu )
( * ) trong tấm hình số 3, chợ Tân Định có thấy bảng hiệu vải của bà Ngoại.

Một Bài Thơ Nhức Lòng

tranvanle

Bốn mươi năm hơn rồi Đất Nước đi về đâu?
– Đi về Thời Khai Sinh hộ lại là những Sử Gia không biết?
– Đi về những bãi bờ người ta nói Biển Dâu?

Những con cá chết nằm phơi thây trắng phếu
Giống như những người Lính một thời rã rệu
Nằm dưới chân đồi, trên đồng lúa,
trên những bãi chiến trường xưa…

Đất nước đi về đâu? Một câu hỏi của triệu triệu kẻ dại khờ
Trong tay có một hộp diêm mà chưa ai muốn bật!
Dân thì ngu mà luôn luôn vỗ ngực cho ta là nhất
Nhất cái gì? Vẫn nhất sự ngu si!
Anh đã làm chi? Tôi đã làm chi?
Bác đưa một nước qua nô lệ
Tôi dẫn năm châu tới đại đồng
Con còng không cần biết, chạy trốn trong biển lớn
Dân tộc An Nam, Tản Đà nói ngu-như-con-lợn
Nước bốn ngàn năm toàn con nít giung giăng…

Đến nổi Trần Thị Lam, cô giáo Trần Thị Lam
Ném viên phấn đứng ngẩn người bật khóc
Làm một bài thơ ngay trong lớp học:
“Mình làm cô giáo mà dạy ai đây?
Những đứa trẻ thơ ngây?
Hay những con người đần độn?
Những đứa học trò “chuyên” mãi mãi không là người lớn
Bởi trong đầu có câu hỏi long lanh
“Đất nước mình ngộ quá phải không anh?”

Thương quá tuổi xanh! Ai ai cũng tuổi còn xanh
…mà mắt trắng, trắng như trời mây trắng
Nhớ câu thơ Thôi Hiệu và cầm khăn lên thấm:
“Bạch Vân Thiên Tải Không Du Du!”

Trần Vấn Lệ

PHONG LINH TRẮNG

phuonguy

tìm về phía bờ tuyệt vọng
để thấy thân còn là mình
em bên kia màu áo mỏng
lẻ loi một tiếng phong linh

Tìm về phía là ảo ảnh
loạn ngôn trong những lần điên
người đi là đi biền biệt
chờ chi giọt nắng rơi thềm?

tìm những hoạ hình bóng nước
nghe lộng về những u buồn
trở trăn chi tàu lá lật
để đêm ngằn ngặt đêm tuôn

tìm về môi hôn đã cũ
có còn dội những cơn đau?
dấu thánh của ngày chúa nhật
vẽ được không, những nhiệm màu?

PHƯƠNG UY

MÙA TAM DIỆP THẢO

tonnuthudung

Tặng Lưu thị Hồng Loan, cô bạn bé nhỏ ngày nào nay đã là một Mẹ Bề Trên đáng kính.

Cả ngày hôm ấy, Hoài không chịu ăn bất cứ một thứ gì Melisa đút cho cô. Cô ngậm và phun ra hoặc cô mím môi câm lặng. Melisa tìm tôi than thở: Em chán lắm, thương thì thương nhưng đành chịu.Tôi đang vội dọn dẹp để về, xe hư, tôi sợ nhất bị chờ ở trạm xe bus ban đêm, lạnh, buồn và nguy hiểm. Tôi nói: để mai đi.
Vậy mà về nhà vẫn nghĩ hoài để thao thức cả đêm. Tôi có cái tật cứ ôm tất cả những bất hạnh của người khác để đầu độc tâm hồn mình khi thấy mình không làm gì được trước các nỗi đau. Cả nhà không ai muốn cho tôi làm việc trong nursing home, nhưng hơn ai hết, tôi biết rất rõ Chúa đã cho tôi đôi tay biết cách xoa dịu vết thương, vì thế tôi chọn công việc này giữa vài công việc khác mà tôi có thể. Tôi không muốn nói với ai về những điều mình nghĩ, sẽ gây nhiều hiểu lầm, tôi biết, tôi đang ở trong vài tầm ngắm… khi lỡ lời nói một điều gì đó, sẽ có những viên đá ném tới không chút đắn đo và không cần suy nghĩ từ vài người tôi đã từng cho rằng họ là bạn… bởi thế tôi lặng lẽ làm trước khi có ai lên tiếng hỏi.
Công việc hơi nhọc nhằn, đôi khi dơ bẩn nhưng đem lại cho tôi số tiền (đủ sống) và niềm vui (to lớn) lẫn nhiều nỗi buồn (khó cưỡng). Tôi luôn nhớ lời Soeur Hiệu Trưởng: Làm được điều gì cho ai là phải làm ngay đừng chần chừ ngần ngại…
Giờ ăn trưa tôi tới cạnh bàn ăn của Hoài, cô vẫn ngậm miệng và phun cho kỳ hết khi Melisa lừa lừa đút được chút gì . Melisa chán nản lau miệng cho cô và dọa: Nếu cô không chịu ăn, bác sĩ sẽ chuyền thức ăn bằng ống, rất đau! Hoài òa lên khóc, tôi biết, Hoài không hiểu, không nhớ gì cả nhưng cái giọng dọa nạt của Melisa làm cô tủi thân. Không trách được Melisa, cô còn quá trẻ và thiếu kiên nhẫn để làm những công việc như thế này… Cô có quá nhiều nỗi lo khi phải một thân một mình trên đất Mỹ… Cô đang lo sợ đủ thứ: Sợ chiều nay kẹt xe lại đi học trễ, sợ thẻ xanh hết hạn trước khi tốt nghiệp nếu không qua nỗi các đợt thực tập, kể cả cô cần phải về để tắm táp trước khi đến lớp chiều nay để tránh cái ý nghĩ bọn bạn học con nhà giàu khịt khịt mũi khi cô đi ngang, cô đã làm thêm việc vào ban đêm và tới giờ này thì cô vô cùng mỏi mệt, nhiều lần tôi nghe cô khóc nức nở trong phòng tắm… Bởi thế , tôi vừa dỗ Hoài vừa phải trấn an cô… tôi vỗ nhè nhẹ lên tay Hoài và nói với Melisa : Thôi về đi, để đó! Hoài nhìn tôi bằng đôi mắt bé thơ buồn rầu, sao lòng tôi cứ đau đớn bởi những điều người khác rất thản nhiên?

Nếu Hoài là một bệnh nhân không chịu ăn thì Thomas là một bệnh nhân không chịu ngủ. Thomas là một họa sĩ. Cậu ấy bị một tai nạn xe hơi nghiêm trọng khi: Em đang nhìn những đốm nắng chấp chới trên cánh một con bướm xanh khi nó bay rất chậm qua một thung lũng vàng rợp Tam Diệp Thảo… và cậu đã bị tổn thương cột sống, từ đó cậu vẽ tranh bằng cách ngậm chiếc cọ trong miệng… Không biết cậu ấy có thi vị hóa nguyên nhân tai nạn của mình hay không, nhưng nếu thật vậy thì quả là hạnh phúc. Trong những câu chuyện cổ tích tôi đọc hồi nhỏ có một truyền thuyết như sau : Ai được nhìn thấy một cánh bướm xanh chập chờn lượn qua một cánh đồng Tam Diệp Thảo thì linh hồn người đó sẽ trở thành bất tử… Nhưng tôi vẫn luôn tự hỏi trong những lúc chăm sóc cậu: Linh hồn bất tử để làm gì khi thân xác em bị giam cầm trên một chiếc xe lăn?
Màu Tam Diệp Thảo cứ rực rỡ và nao nức đến đau lòng khi tôi nhìn thấy nó rợp trong vườn xanh cỏ. Tôi hái một bó và cặm vào chiếc ly thủy tinh bé nhỏ cho Thomas vào mỗi sáng… nó rực rỡ lung linh trong vài giờ rồi rũ xuống héo tàn buồn thảm…Tôi vỗ nhẹ vào vai Thomas khi thấy đôi mắt cậu cứ đọng hoài trên bàn ngủ : sáng mai chị sẽ hái nữa cho em. Thomas cười, nụ cười của một bé thơ vừa nghe lời hứa về một món quà yêu thích. Tôi nói : Giờ thì em ngủ đi, chị sẽ kể cho em nghe câu chuyện về Tam Diệp Thảo…

cỏ ba lá chính là cây me đất, thỉnh thoảng có người vẫn tìm được trong đám cỏ ba lá đó, có một cây bốn lá. Vì nó rất hiếm nên người ta thường quan niệm rằng ai tìm được cây cỏ bốn lá đó là sẽ có được Hạnh Phúc hoặc May Mắn.

Câu chuyện kể rằng nếu đứa bé trên thế gian can đảm bước vào rừng sâu, đi mãi đi mãi qua bao thác ghềnh với một trái tim dũng cảm sẽ tìm được loại cỏ bốn lá (four-leaf clover) – loại cỏ sẽ mang lại nụ cười hạnh phúc mãi mãi – nụ cười hạnh phúc của trẻ thơ. Khi tìm được ngọn cỏ bốn lá, đứa trẻ sẽ đứng trong gió, đặt ngọn cỏ vào trái tim nồng ấm và hát khúc ca đồng dao. Mỗi lá trên ngọn cỏ tượng trưng cho một thứ quý giá nhất của cuộc sống.
Lá thứ nhất đứa bé thì thầm: đó là hy vọng
Lá thứ hai đứa bé mỉm cười: là niềm tin
Lá thứ ba: là tình yêu
Và lá cuối cùng: là sự may mắn
Bốn món quà thượng đế ban tặng cho mỗi đứa trẻ khi chúng mới ra đời nhưng để tìm được chúng đứa trẻ ấy phải mãi đi tìm, tìm trong rừng sâu của cuộc đời với trái tim dũng cảm… Truyền thuyết vẫn tiếp tục đến ngày hôm nay, và truyền thuyết mãi là truyền thuyết vì mỗi đứa trẻ sinh ra lớn lên mãi đi tìm công danh và sự nghiệp nên chúng lãng quên con đường tìm đến với ngọn cỏ bốn lá mà thượng đế trao cho. Đến khi chúng vấp ngã, chúng mới nhớ đến khúc đồng dao của ngày xưa. Chúng thẫn thờ và than thở.
Nhưng đứa trẻ đâu biết thượng đế trên cao đang mỉm cười:
Khi đứa trẻ đau vì vấp ngã, đó là tình yêu
Khi đứa trẻ tin rằng mình không cô độc khi vấp ngã, đó là niềm tin
Khi đứa trẻ nhìn thấy những đứa trẻ khác còn đau khổ hơn mình, đó là sự may mắn
Và khi đứa trẻ nghĩ rằng mình phải đứng dậy là đi tiếp, đó là niềm hi vọng..
Câu chuyện tưởng chừng như vô nghĩa nhưng lại giúp ta hiểu được một chân lí:
Có những điều thật giản đơn nhưng đủ làm ta mỉm cười và có những con người dù lặng lẽ – nhưng lại khiến trái tim ta bừng lên hạnh phúc…

Chiếc giường ngủ đầy những thiết bị y khoa của Thomas như cầm tù thân xác cậu mà linh hồn cậu thì đang lững thững ở một chốn hoang vu nào đó, giấc ngủ đến với cậu thật thanh thản bình yên… Và tôi đau đáu với nỗi niềm: đêm mai, tôi sẽ có câu chuyện nào tuyệt vời hơn truyền thuyết Tam Diệp Thảo để dỗ cậu vào giấc ngủ?

Nếu với Thomas, tôi chỉ biết về cậu qua những câu chuyện kể thì với Hoài, cô là một phần tuổi trẻ của tôi. Khi tôi nhận việc, anh Lâm, người hướng dẫn đã nói: Dân NhaTrang ha? Bàn giao cho cô case này… đồng hương!
Tôi không còn nhận ra Hoài nữa… Đầu tháng 3/75. Hoài 16 tuổi, thị trấn thất thủ,Hoài theo các chị chạy loạn… Từ trại mồ côi, Soeur Bernard cho mỗi đứa một tay nãi gồm gạo sấy, mì gói, đường, kim chỉ may, vài bộ áo quần và một ít tiền. Soeur căn dặn không được rời nhau và làm dấu thánh cho từng đứa. Soeur ở lại vì còn một số bé bại liệt không di chuyển được. Cả bọn vừa đi vừa lần chuỗi đọc kinh.Hoài được gởi vào trường mồ côi của các Soeurs từ năm 3 tuổi, mẹ cô không một lần trở lại thăm chắc vì áp lực gia đình hoặc xã hội khi sinh một đứa con khuyết tật… Cô lớn lên nơi đây, đơn giản, xinh đẹp, thánh thiện như một thiên thần câm lặng, chỉ có nụ cười sáng rực là làm ấm áp hồn người.Trên con đường chạy loạn dần dần thất lạc lẫn nhau, chỉ có bé Lim là Hoài khư khư ôm chặt, cô cột nó bằng chiếc võng mây riết sát quanh mình, con bé độ chừng vài tuổi… Về tới Suối Dầu, Soeur Bề Trên bật khóc khi thấy hai chị em tơi tả và những vòng dây siết bầm tím quanh thân… Hoài sợ con bé rơi mất trong biển người hỗn loạn. Không còn nỗi sợ hãi nào nữa khi được về cạnh các Soeurs, nép mình vào những đôi tay từ ái…Tình yêu thương của các soeurs xóa dần những nỗi đau thương ám ảnh… chỉ có Lim, nó cứ hét gào khi không thấy mặt Hoài và quanh quẩn theo cô như một chiếc đuôi!

Hoài trở lại với công việc của mình, chăm sóc các bé mồ côi và khuyết tật cùng các soeurs,cô không biết hát, không biết kể chuyện, không biết vỗ về… nhưng cô biết nựng ru bằng những tiếng âm ư và đôi tay ấm áp… khi cô ôm một bé thơ đang la khóc, đôi mắt và vòng tay cô làm bé dịu đi và lim dim ngủ… Những ngày ấy , tôi vẫn thường mang đến Dòng những thuốc men, quần áo mà bạn bè và người thân ở nước ngoài gởi về tiếp tế để Soeur lo cho các bé. Tôi gặp Hoài thường xuyên , cô bày tôi nói chuyện bằng ngôn ngữ thể hình, cô luôn dễ thương, duyên dáng, nhẹ nhàng, thanh khiết như một thiên thần… chỉ có bọn chúng tôi lăn sớm ra đời kiếm sống là bị nhiễm độc trần gian để tập khôn ngoan, tập lọc lừa, tập gian trá, thật sự chúng tôi tập hoài không được vì lúc nào cũng sợ những cái nhìn nghiêm khắc của các soeurs. Mỗi lần đến gặp Hoài , ngồi nói chuyện vớ vẩn với cô hay cả khi chẳng nói gì chỉ gặp nhau cười và ra dấu từ xa…lúc ra về tôi như có thêm chút năng lượng sống và cảm thấy mình được rửa sạch chút bụi bặm phố phường.
Thuở ấy, thỉnh thoảng các tổ chức từ thiện quốc tế đến thăm Dòng, phát thuốc, khám bệnh, nhổ răng, tặng quà… những em bé cứ khóc thét lên nếu không có Hoài bên cạnh mặc cho tôi có mỏi miệng ru hời ru hỡi… Vẻ xinh đẹp đằm thắm dịu dàng của Hoài đã lọt vào mắt xanh một chàng bác sĩ. Tình yêu không biết có tác động thế nào đến Hoài không, chúng tôi , bọn nhóc tuổi tác tương đương đương nhau, chưa đứa nào biết tình yêu là gì có hơi ganh tị dù rất mừng cho Hoài.
Tôi hỏi soeur: Hoài có yêu Mike không?
Soeur nghiêm trang: Hoài ngoan, con bé làm mọi điều theo ý Chúa!
Tôi vờ than vãn: Sao Soeur không giới thiệu Mike cho con. Con cũng rất ngoan mà. Mike vừa đẹp trai, vừa giàu có, vừa mang quốc tịch Mỹ, đỡ tốn công tốn của con đi vượt biển hoài không lọt.
Soeur cốc đâu tôi bằng chiếc nhẫn sắt như ngày tôi còn nhỏ: Hòai được yêu vì nó mang cái đẹp của sự yên lặng, tĩnh tại. Con không có được điều đó, con lách chách cả ngày như một con khướu… làm người ta vừa yêu vừa ái ngại…Con thông minh nhưng thiếu sự khôn ngoan!
Chưa có nhận định nào chính xác làm tôi vui dường ấy…Tôi tò mò lắm…vẫn là những buổi trưa trong giờ các bé ngủ, Hoài ngồi yên lặng trên hiên nhà nhìn ra những vạt Tam Diệp Thảo đong đưa hoa vàng, nhiều khi tôi và nó cùng ngớ ngẩn đi tìm cho bằng được những cọng cỏ bốn lá dù biết rằng hiếm hoi không tưởng. Tôi hỏi nó: Nếu tìm thấy một ngọn cỏ bốn lá Hoài sẽ mơ được điều gì?
Mẹ , nó trả lời bằng hai bàn tay chéo nhau trên ngực. Tôi lặng người đau nhói. hỏi tiếp: Yêu Mike không? Hoài cười, mắt nó hiền như mắt bò với hai hàng mi rợp bóng, dịu dàng xinh đẹp. Bằng cách nào đó, họ cưới nhau và đem cả Lim ra đi. Lim vẫn luôn là một cái đuôi quấn quýt với Hoài từ nhỏ. Nghe Soeur nói họ làm việc ở Ethyopie, ở Sudan …những nước Châu Phi nghèo khổ… Hoài vẫn luôn là một cô bé ngoan, tìm cách giúp đỡ cho nhà Dòng bằng mọi cách.
Rồi Soeur Bề Trên mất, rồi tôi đi xa, rồi Dòng bị giải tán dời đi nơi khác. Thỉnh thoảng mới có một vài Email liên lạc rủ nhau quyên góp cho Dòng.Rồi thất lạc nhau trong đời, dù vẫn biết khi cần, chỉ lên tiếng thôi thì cạnh mình sẽ vẫn đông đủ bạn bè.
Tôi không biết gì về cuộc sống tiếp theo của Hoài… chắc rằng nó luôn vui vẻ, an phận, hạnh phúc vì được dấn thân và cống hiến như lời răn dạy của Soeur bên cạnh những người mình yêu thương. Tôi luôn nghĩ vậy về nó khi nhớ lại một cô thiên thần bé nhỏ của ngày nào xa xưa…
Cho đến khi tôi nhận việc nơi này – FOREST PARK CARE CENTER- thì Hoài đã ở đây 14 năm , trước đó nó ở đâu đó mà trong hồ sơ không ghi nhận…Thời gian làm tôi bật khóc, Hoài đã cô đơn bất hạnh trong bao nhiêu năm kể từ khi nó lên đường??? Nó nhảy lầu tự tử vì trầm cảm. Trong hồ sơ là địa chỉ liên lạc và số điện thoại của vợ chồng người em gái: Mike và Lim! Tôi mương tượng điều đã xảy ra, anh Lâm nói : Lâu lắm rồi Mike và Lim không tới, mỗi lần họ tới Hoài lại bị những cơn động kinh khủng khiếp!
Tôi không nói với anh Lâm những gì mình biết. những trưa ngồi im lặng bên nhau…không biết Hoài nghĩ gì mà cứ chảy nước mắt, tôi ôm đầu nó tựa vào vai mình, đong đưa đong đưa…ngoài cửa sổ cũng là một vườn Tam Diệp Thảo xanh mượt mà với những hoa vàng lay lay trong gió…Tôi ước gì được trở lại những ngày cũ của ký ức êm ả xưa kia…
Tôi không giận Mike và Lim… Tôi nhắn tụi nó số điện thoại mình. Qua thời gian, tôi hiểu Tình Yêu đôi khi còn là khổ nạn! Một đêm, tôi nghe giọng Mike nghẹn ngào gọi đến từ một vùng băng giá xa xôi : Dee, tôi không phải là một người độc ác… nhưng Tình Yêu đâu phải đơn thuần là một lễ vật chỉ để hiến dâng! Tình Yêu là một sự tương tác, Bạn có hiểu…
Tôi hiểu, dù đã quá muộn màng.
Sống, phải luôn mở lòng yêu thương khi có thể… và cũng không nên oán trách cuộc đời khi bất hạnh như một chiếc thánh giá mà ta phải tự mang vác đến hết phận người!

Tôn Nữ Thu Dung