Ngồi tượng hình riêng một góc quầy
Tiếng người: kia, uống cái chi đây?
Uống ư? một ngụm chiều rơi lệ
Và một bình đêm rót rất đầy…
MAI THẢO
Có một lần xưa vuốt tóc ai
Tay tôi luồn giữa suối trang đài
Một sợi tơ trời vương khẽ đứt
Buộc rất vô tình kẽ ngón tay
Tôi cũng vô tình đem cất giữ
tóc ai một nửa sợi bên mình
Đâu nghĩ cuộc đời là dâu bể
Để có một ngày em lãng quên
Để có một ngày ta xa nhau
vuốt lại trên tay sợi tóc nhàu
Định mệnh hôm nào em đã buộc
qua từng năm kẽ ngón tay đau
Gió lọt qua từng năm kẽ ngón
Giật mình tôi ngỡ tóc ai xưa
Mơn man nửa sợi tơ dư ảnh
Tội nghiệp tay gầy
Năm ngón trơ
Quan Dương
Cuối tuần này ở Mỹ là ngày lễ , một ngày lễ lớn, cả nước chính thức được nghỉ. Ý nghĩa chính của ngày lễ Memorial là tưởng niệm những người đã ngã xuống cho đất nước. Khái niệm anh hùng của người Mỹ đơn giản và vị tha. Những người hy sinh để bảo vệ đất nước, bảo vệ chính nghĩa, bảo vệ người khác, hoặc vì mệnh lệnh tổ quốc mà hy sinh, đều được coi là anh hùng.
Nước Mỹ trải qua nhiều đời tổng thống, nhiều cuộc chiến, dân chúng đồng tình cũng có, phản đối cũng có, nhưng người ngã xuống đều được trân trọng, vì họ đã hy sinh cho đất nước.
Người Mỹ có Civil War, cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn. Họ vẫn nhắc nhở về cuộc chiến này, tri ân những người đã hy sinh, giảng dạy kinh nghiệm, nhưng họ không tự hào về cuộc chiến Bắc Nam đó. Ngược lại, họ dùng cuộc nội chiến để nhắc nhở những kinh nghiệm qúy giá, và kêu gọi sự đoàn kết đất nước để tránh chia rẽ .
United We Stand – Đoàn kết chúng ta tồn tại ! Một đất nước non trẻ như Mỹ, không hề có bề dày lịch sử ngàn năm văn hiến như các nước phương Đông hoặc châu Âu, lại hiểu ra và thực hiện cái nguyên tắc bó đũa hay như vậy. Do vậy, đất nước họ mạnh.
Nghĩ lại, đất nước Việt Nam có bốn ngàn năm văn hiến nhưng chưa có một ngày Memorial Day chung cho cả dân tộc. Bao nhiêu anh hùng liệt sĩ Việt nam đã ngã xuống, anh dũng hy sinh vì quê hương đất nước. Nhưng cái nhìn của người VN có khác, mỗi chế độ có ngày liệt sĩ riêng để tưởng niệm cho chính thể của mình.
Đất nước thì trường tồn, còn chế độ thay đổi theo thời gian . Tính ra, từ thời các vua Hùng dựng nước, trãi qua bao giai đọan lịch sử … chống Tàu, chống Pháp, chống Mỹ … từ Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê … rồi Quốc gia, Cộng sản… Đất nước Việt Nam thì vẫn còn đó, nhưng bao nhiêu triều đại đã đổi thay.
Bao nhiêu cuôc nội chiến đã xảy ra … triều Trịnh thì xử Lê, Nguyễn thì xử Trịnh, Gia Long thì xử Nguyễn Huệ ….cứ chế độ sau thì phải xử chế độ trước, thậm chí còn không đội trời chung !!!
Có lẽ vì sự thù hận và những ngộ nhận giữa thể chế chính trị và quốc gia, mà người ta không chấp nhận sự hy sinh của người khác cũng là vì tổ quốc chăng? Có nhiều quan niệm cho rằng yêu chế độ, yêu đảng cầm quyền, mới là điều kiện cần và đủ để yêu nước.
Thậm chí nhiều người còn đồng hoá giữa việc yêu tổ quốc và đồng quan điểm chính trị. Ví dụ như chỉ có ông Nguyễn Huệ yêu nước thôi, còn ông Hàm Nghi thì không, vì ông Hàm Nghi là con cháu ông Gia Long? Đại loại như thế rồi cùng nhau cãi cho qua ngày tháng !
Thiết nghĩ, tất cả những người con của đất nước Việt Nam đã hy sinh cho tổ quốc từ thời dựng nước đến nay đều xứng đáng được chúng ta tri ân.
Nhiều nước trên thế giới, các đảng phái có quan niệm chính trị khác nhau, tranh cãi rất mãnh liệt, nhưng khi đụng đến quyền lợi tổ quốc họ lại chung tay nhau. (Đảng cọng hoà & dân chủ của Mỹ là một ví dụ, và cũng có hàng triệu người đã hy sinh đóng góp cho đất nước Mỹ mà chẳng theo đảng phái nào cả.)
Thời đại ngày nay, thế giới văn minh và dân trí cao. Hầu hết, ai cũng phân biệt được đâu là cái chung, đâu là cái riêng. Nước mất thì nhà tan ! Một quốc gia mạnh là quốc gia luôn đặt quyền lợi của tổ quốc và nguyện vọng người dân trên cao nhất. Có vậy mới tạo được sức mạnh đại cuộc. Mình nghĩ vậy.
PHU THO NGUYEN
Một cựu chiến binh trong chiến tranh Iraq, (người đã yêu cầu giấu tên) ngồi và uống một ly bia bên cạnh các ngôi mộ của những người bạn đơn vị cũ của mình. Trung sĩ Eric Snell và Pfc Michael Pittman, cả hai đều là sư đoàn 1 bộ binh, tại nghĩa trangArlington West Memorial vào ngày Memorial Day tại Santa Monica, California vào ngày 30 tháng 5 năm 2011. ( Hình ảnh của Getty Images)
…Xin đánh đổi cuộc đời nầy lận đận
Bằng phút giây cầm được tay người… (NTN)
Ừ thì tôi đánh đổi tôi
Vào trong mắt biếc một trời thơ ngây
Hay là tôi đổi vạn ngày
Có em trong giấc mơ đầy trăm năm
Tôi xin đổi hết trăng rằm
Vào đôi tay nhỏ xa xăm ngại ngần
Và dành cả một trời xuân
Đổi cho nhan sắc tôi từng tương tư
Hay là tôi gói lời ru
Đổi đôi môi của mùa thu mang về
Tình còn mộng kín sơn khê
Chỉ xin đánh đổi môi kề bên môi
Cho tôi dành cả cuộc đời
Chỉ xin tôi đổi một thời yêu em
Còn trong tôi một trái tim
Thôi tôi xin lấy nổi chìm đời nhau
Mốt mai em bước qua cầu
Còn đâu tôi đổi chiều sầu bóng tôi…
Nguyễn Minh Phúc
Chào đón Obama đến Sài Gòn
Trẻ con trong xóm vui như Tết
Nghe tiếng còi hụ ngoài đường là đám nhóc thay phiên nhau hò hét
Obama, hoan hô Tổng thống Obama !
Ôi những đứa trẻ con không hề phân biệt quốc tịch với màu da
Chào đón Obama như đón người thân thuộc
Rừng cờ Mỹ 41 năm không bay ở Việt Nam, bây giờ bay như đám rước
Suốt con đường Công Lý ngày xưa giờ rợp một màu cờ
41 năm đồng minh Hoa Kỳ tự chối bỏ đồng minh một cách ngây thơ
Bây giờ mở mắt thì bao nhiêu người đã chết
Người chết lềnh bềnh trên đại dương, người chết trong ngục tù bao la, người sức mòn lực kiệt
Cái giá phải trả của thời gian tàn bạo đến chừng nào
Dân miền Nam bụng không chứa gươm đao
Ghét thì quay lưng, không ưa thì nói thẳng
Không ưa cộng sản Tàu nhưng với nước Mỹ văn minh nhân quyền thì gừng cay muối mặn
41 năm đói tự do nên biết quý yêu phẩm giá con người
Chào đón Obama đến Sài Gòn, cả nước rộn niềm vui
Bọn bán nước tay sai, bọn liếm gót Bắc Kinh tái mặt ư ? Thây kệ
Những đứa trẻ hồn nhiên đang dạy chúng bài học vỡ lòng về tử tế
Chọn đúng bạn mà chơi, chớ chọn giặc mà thờ !
4g chiều ngày 24/5/2016
BÙI CHÍ VINH
( sẽ in trong VI, VIẾT VỤN )
Chúng ta, ai cũng có vùng ký ức thời tuổi nhỏ rất riêng của mình. Hôm qua, đọc một bài viết về khu Tân Định của ông Trần Đình Phước, tôi như được gặp lại người bạn thân thiết lâu ngày. Giống như mọi tình cảm chìm trong quá khứ lâu nay, bây giờ, được vỡ trào tung toé.
Những dòng chữ của ông Phước còn dẫn tôi lội sâu vào vùng trẻ thơ – tuy có lúc rõ nét, có khi mơ hồ, và, xúi tôi ngồi lại ghi xuống những kỷ niệm trong trí nhớ thật mỏng manh nhỏ nhoi của mình.
Lúc đó tôi còn bé lắm, học ở nội trú và mỗi cuối tuần được đón về nhà ngoại. Nhà của ngoại là một nếp nhà cũ kỹ, mái ngói, bệ vệ, nằm ngay chính giữa một con ngõ cụt rộng rãi trên đường Nguyễn Đình Chiểu như lọt thỏm trong những ngôi nhà cao tầng hiện đại chung quanh.
Ngay đầu đường trong này đi ra là nhà của ông Họa sĩ Đinh Cường. Lúc đó ông chưa nổi tiếng và có chút liên hệ họ hàng gì đó, vì ông gọi ngoại tôi là Chú. Tôi còn nhớ cách nhà ông Cường vài căn là một tiệm phở, tuy hoàn toàn không nhớ tên, nhưng tôi lại nhớ nơi đó trang trí nhiều chậu dừa kiểng – họ đặt tràn ra ngoài hành lang sát mí với Sài Gòn Ấn Quán.
Đứng trước nhà ông Đinh Cường, ngó xéo về hướng chợ Tân Định, bên kia đường là trường Tiểu học Đồ Chiểu với cánh cổng nặng nề thường xuyên đóng kín mít. Tôi chỉ học ở nơi này vài năm, lại nữa trí nhớ một đứa con nít thường là chắp vá, nhưng không hiểu sao tôi lại đặc biệt nhớ ngôi trường này, cho nên mỗi lần nhớ lại, tôi dường như vẫn còn ngửi được mùi lá nồng nàn của hàng Điệp già cỗi phủ um bóng mát dọc theo lối đi trong khoảng sân rộng trước những cửa lớp. Và, hình như mười đầu ngón tay tôi có được cảm giác như đang sờ vết nham nhám của những băng ghế bằng xi măng đặt rải rác trước hành lang.
Cổng phụ của trường nằm ngay góc, chỗ đó là con ngõ nhỏ rải rác những ngôi nhà còn nguyên khoảng sân yên tĩnh với vòm cây bông giấy dầy đặc những chùm hoa bung ra những cánh nhỏ lá thuôn màu hồng ngát.
Tan học, nếu đi con đường Hai Bà Trưng để về nhà, tôi sẽ đi ngang rạp chiếu bóng thường trực Kinh Thành giăng đầy những áp phích film ca múa Ấn Độ với đầu mấy con rắn đang phùng mang bên các cô đẹp mê hồn giông giống như khuôn mặt Phật bà Quan Âm. Nếu dừng lại, nhìn vào, sẽ thấy hai bên cửa rạp là dãy vách dán đầy quảng cáo, nơi đó có hàng song sắt láng bóng thấp lè tè là chỗ tôi đu tòn ten trong lúc chờ ông cậu mua vé hay đang quẩn quanh tán gẫu với bạn bè.
Từ rạp Kinh Thanh đi bộ thêm một đổi, gần đến chỗ ngã ba bị uốn cong góc nhà đèn, đường Bà Lê Chân cắt ngang Hai Bà Trưng đổ vào Nguyễn Đình Chiểu, nơi đó ngày xưa có trạm xe ô-tô-buýt cắm trước mặt vài tiệm trồng răng của người Hoa có trưng mấy tấm hình hàm răng to ưỡn. Kế đó, tôi còn nhớ một tiệm bán cơm thố với món thịt ba rọi kho mắm ruốc ( ? ) sóng sánh màu tím. Vừa băng qua đường, cũng dọc theo đường Hai Bà Trưng là dãy tiệm bán cà phê như nhà văn Trương Đạm Thủy tả : ” Mặc dù sách phong thủy Tàu thường khuyên không nên cất nhà ở ngã ba, ngã tư đường vì dễ bị nạn xui xẻo nhưng các chú Xường, chú Hía, A Hoành, A Koón… thì đều chọn các nơi nầy làm chỗ kinh doanh. Tuy Sàigòn, Chợlớn, Gia Định, Phú Nhuận, Đa Kao có hàng trăm tiệm cà phê, hủ tíu Tàu nhưng nhìn chung chúng đều có một “mô – típ – made in China” khá giống nhau, tức là quán nào ở phía trước cửa cũng có một xe nấu hủ tíu được làm bằng gỗ thiết kế một cách cầu kỳ. Phần trên của xe được trang trí bằng những tấm kính tráng thủy vẽ những nhân vật Quan Công, Lưu Bị, Triệu Tử Long, Trương Phi trong truyện Tam Quốc Chí khá vui mắt.
Bên trong quán hoặc xếp bàn tròn hoặc vuông. Khách vừa vào trong gọi “cá phé”, song mấy tay phổ ky vẫn bưng ra một mâm nào bánh bao, xíu mại, há cảo, dà chá quải đặt trên bàn. Khách dùng hay không cũng chẳng sao “pà – con – mà!”
Hồi đó không có nhiều tiệm cà phê fin kiểu “cái nồi ngồi trên cái cốc” như bây giờ mà chỉ có cà phê Tàu. Vì thế uống cà phê Tàu phải có một phong cách riêng
Cà phê được mang ra dân ‘sành điệu” hồi đó ngồi chân dưới chân trên, sau khi khuấy nhẹ cho tan đường bèn đổ ly cà phê ra cái đĩa đặt phía dưới. Chưa uống vội, khách chậm rãi mồi điếu thuốc rít vài hơi để chờ cà phê nguội xong rồi nhón lấy cái dĩa đưa lên miệng vừa thổi vừa húp…”…..(ngưng trích).
Sáng nào được ông ngoại dẫn ra quán café, dù chỉ là con nhóc, tôi cũng bày đặt giống ông ngoại, đòi, đổ café sữa ra dĩa cũng húp xì xụp bắt chước y chang.
Đi lang thang lên một chút là gặp tiệm thuốc bắc Kim Tân (hình như có trưng hình ông lực sĩ thật lớn giơ bắp tay cuồn cuộn?) Tiếp đó là những tiệm tạp hoá, tiệm thuốc bán na ná nhau… Dọc lên một đỗi sẽ gặp nhà thờ Tân Định với kiến trúc cầu kỳ đầy nghệ thuật như những mũi tên bay vút lên bầu trời.
Một trong những bài viết về Tân Định, ông Trần Đình Phước có nhắc đến tiệm chụp hình Luyến khiến tôi nhớ lúc còn ở nhà ngoại, có lần cậu đưa tôi ra Luyến chụp hình, tấm con bé làm duyên chống tay nơi cằm được chủ tiệm dành làm hình mẫu. Sau này khi tôi lớn hơn một chút, trở về thăm lại Tân Định, ghé vào đây chụp thêm tấm nữa, cũng không ngờ tấm hình đó lại may mắn được chủ tiệm đặt tại một chỗ, mà bất cứ khách bộ hành nào nhìn vào cũng thấy con bé mặc áo sơ mi sọc, tay ôm cây vợt đánh vũ cầu cười duyên suốt nhiều năm dài. Kế bên Luyến là phòng làm răng, mà, chị Liên con cô Năm tôi có thời làm đây – Chị thấy tôi có cái răng lòi sỉ mà cứ bị chọc quê, nên hào hứng áp giải tôi đến đây để nhờ ông Nha sĩ bứng gốc.
Ngay góc chợ Tân Định, đầu đường Trần văn Thạch, buổi chiều là khu bán nước Sâm Bổ Lượng, đối diện có mấy gian hàng chả quế thơm nứt mũi, đi một khoảng còn gặp thêm một rạp chiếu bóng Mô Đẹc chuyên chiếu những phim Âu Mỹ. Sẵn đà, nếu sử dụng xe gắn máy, phóng tay ga là ra tới ngã ba, quẹo tay mặt trên đường Trần Quang Khải, phóng vút một hồi, đụng Đa Kao, quẹo mặt cái, là gặp ngay tiệm bán chè đậu xanh, thạch Hiển Khánh cũng nằm phía tay mặt.
Tắp vô Hiển Khánh, dắt xe lên lề, ngó mắt qua tiệm kế bên là thấy ngay hình cô ca sĩ Thanh Thúy có mái tóc dài và bàn tay đẹp đậm đuột. Ngoáy cổ qua bên kia đường là tiệm guốc cao gót Đa Kao. Và nếu nhón lên một chút là vào con đường Nguyễn Phi Khanh hẹp té, hầu như toàn dân Bắc Kỳ di cư chuyên làm ô mai bán cho lũ học trò con gái.
Viết bài này không nhắc tới những buổi tối được ở nhà, sau khi học bài xong, thế nào ông cậu cũng chở tôi trên chiếc xe đạp đua bằng nhôm thật hách vừa huýt gió điệu nhạc Cerisier Rose Et Pommier Blanc réo rắc vui nhộn, vừa đạp chiếc xe phóng vun vút một vòng từ nhà ra Hai Bà Trưng, rẽ qua Đinh Tiên Hoàng ghé tiệm bánh mua Paté Chaud (lúc đó góc bưu điện SàiGòn chưa bán loại bánh này) rồi trực chỉ bến tàu vừa hóng gió vừa nhâm nhi tận tình cho hết mấy cái bánh rồi tà tà đạp về.
Khi Cậu có chút tiền còm, hào sảng hơn thì chở con bé ra Chợ Cũ ăn cháo cá, uống Bireleys rồi đạp chậm một vòng chợ Bến Thành để con bé nhìn nghiêng nhìn ngữa, chỉ trỏ cười nói lung tung một hồi rồi chiếc xe vun vút về với điệu nhạc trong miệng cùng màn đêm mát rượi êm ả của một thuở thanh bình.
Bây giờ, cậu tôi – mất rồi. Ông ngoại dĩ nhiên không còn. Tôi cũng đang rơi vào tuổi đủ già. Ngẫm lại, một vòng cuộc đời, như chớp mắt, có khi còn nhanh hơn chớp mắt. Nhiều lúc một mình, lòng ngổn ngang xúc cảm với những kỷ niệm đứt đoạn, lan man…
…Tuy còn nhỏ, nhưng lúc đó tôi còn nhớ vào khoảng năm 1963-64, gì đó, trong nhà tôi đột nhiên u ám, khi ông Ngoại buồn hẳn đi. Sau ít tháng, một quyết định của ông Ngoại làm cả nhà rụng rời khi dời bỏ chổ yên ấm, chuyển luôn cái sạp bán vải Đức Lộc đông khách trong chợ Tân Định danh giá xuống Mộc Hoá – một tỉnh lỵ heo hút buồn ngắt ven biên giới!
Để rồi cho đến hôm nay, khi tôi đã trải nghiệm qua bao thăng trầm. Chứng kiến bao cảnh bể dâu. Là nhân chứng của bao nhiêu trò đen trắng. Cũng không ít lần phẫn uất trước những kẻ muối mặt, thời cơ, biển lận, láo khoét. Tôi mới hiểu sự lựa chọn của ông Ngoại, khi Ngoại thể hiện lẫm liệt một nhân cách can đảm quay lưng, giả ngơ, làm điếc trước những kẻ theo đóm ăn tàn, trước những trò xâu xé bẩn thỉu của các đồng sự của mình!!…
Có người nói, kỷ niệm như những bọt sà bông tuy đầy màu sắc lóng lánh nhưng dễ vỡ. Và, tất cả rồi sẽ xoá nhoà đi không còn lưu lại một dấu vết nào.
Tôi đang cố không tin điều này.
thụyvi
( * ) Người viết lúc đó còn bé quá, trong trí nhớ chắc chắn có lẫn lộn vài chi tiết. Mong thứ lỗi.
( * ) vùng Tân Định xưa.( thấy khu nhà của Ngoại và trường Đồ Chiểu )
( * ) trong tấm hình số 3, chợ Tân Định có thấy bảng hiệu vải của bà Ngoại.
Bốn mươi năm hơn rồi Đất Nước đi về đâu?
– Đi về Thời Khai Sinh hộ lại là những Sử Gia không biết?
– Đi về những bãi bờ người ta nói Biển Dâu?
Những con cá chết nằm phơi thây trắng phếu
Giống như những người Lính một thời rã rệu
Nằm dưới chân đồi, trên đồng lúa,
trên những bãi chiến trường xưa…
Đất nước đi về đâu? Một câu hỏi của triệu triệu kẻ dại khờ
Trong tay có một hộp diêm mà chưa ai muốn bật!
Dân thì ngu mà luôn luôn vỗ ngực cho ta là nhất
Nhất cái gì? Vẫn nhất sự ngu si!
Anh đã làm chi? Tôi đã làm chi?
Bác đưa một nước qua nô lệ
Tôi dẫn năm châu tới đại đồng
Con còng không cần biết, chạy trốn trong biển lớn
Dân tộc An Nam, Tản Đà nói ngu-như-con-lợn
Nước bốn ngàn năm toàn con nít giung giăng…
Đến nổi Trần Thị Lam, cô giáo Trần Thị Lam
Ném viên phấn đứng ngẩn người bật khóc
Làm một bài thơ ngay trong lớp học:
“Mình làm cô giáo mà dạy ai đây?
Những đứa trẻ thơ ngây?
Hay những con người đần độn?
Những đứa học trò “chuyên” mãi mãi không là người lớn
Bởi trong đầu có câu hỏi long lanh
“Đất nước mình ngộ quá phải không anh?”
Thương quá tuổi xanh! Ai ai cũng tuổi còn xanh
…mà mắt trắng, trắng như trời mây trắng
Nhớ câu thơ Thôi Hiệu và cầm khăn lên thấm:
“Bạch Vân Thiên Tải Không Du Du!”
Trần Vấn Lệ
tìm về phía bờ tuyệt vọng
để thấy thân còn là mình
em bên kia màu áo mỏng
lẻ loi một tiếng phong linh
Tìm về phía là ảo ảnh
loạn ngôn trong những lần điên
người đi là đi biền biệt
chờ chi giọt nắng rơi thềm?
tìm những hoạ hình bóng nước
nghe lộng về những u buồn
trở trăn chi tàu lá lật
để đêm ngằn ngặt đêm tuôn
tìm về môi hôn đã cũ
có còn dội những cơn đau?
dấu thánh của ngày chúa nhật
vẽ được không, những nhiệm màu?
PHƯƠNG UY
Tặng Lưu thị Hồng Loan, cô bạn bé nhỏ ngày nào nay đã là một Mẹ Bề Trên đáng kính.
Cả ngày hôm ấy, Hoài không chịu ăn bất cứ một thứ gì Melisa đút cho cô. Cô ngậm và phun ra hoặc cô mím môi câm lặng. Melisa tìm tôi than thở: Em chán lắm, thương thì thương nhưng đành chịu.Tôi đang vội dọn dẹp để về, xe hư, tôi sợ nhất bị chờ ở trạm xe bus ban đêm, lạnh, buồn và nguy hiểm. Tôi nói: để mai đi.
Vậy mà về nhà vẫn nghĩ hoài để thao thức cả đêm. Tôi có cái tật cứ ôm tất cả những bất hạnh của người khác để đầu độc tâm hồn mình khi thấy mình không làm gì được trước các nỗi đau. Cả nhà không ai muốn cho tôi làm việc trong nursing home, nhưng hơn ai hết, tôi biết rất rõ Chúa đã cho tôi đôi tay biết cách xoa dịu vết thương, vì thế tôi chọn công việc này giữa vài công việc khác mà tôi có thể. Tôi không muốn nói với ai về những điều mình nghĩ, sẽ gây nhiều hiểu lầm, tôi biết, tôi đang ở trong vài tầm ngắm… khi lỡ lời nói một điều gì đó, sẽ có những viên đá ném tới không chút đắn đo và không cần suy nghĩ từ vài người tôi đã từng cho rằng họ là bạn… bởi thế tôi lặng lẽ làm trước khi có ai lên tiếng hỏi.
Công việc hơi nhọc nhằn, đôi khi dơ bẩn nhưng đem lại cho tôi số tiền (đủ sống) và niềm vui (to lớn) lẫn nhiều nỗi buồn (khó cưỡng). Tôi luôn nhớ lời Soeur Hiệu Trưởng: Làm được điều gì cho ai là phải làm ngay đừng chần chừ ngần ngại…
Giờ ăn trưa tôi tới cạnh bàn ăn của Hoài, cô vẫn ngậm miệng và phun cho kỳ hết khi Melisa lừa lừa đút được chút gì . Melisa chán nản lau miệng cho cô và dọa: Nếu cô không chịu ăn, bác sĩ sẽ chuyền thức ăn bằng ống, rất đau! Hoài òa lên khóc, tôi biết, Hoài không hiểu, không nhớ gì cả nhưng cái giọng dọa nạt của Melisa làm cô tủi thân. Không trách được Melisa, cô còn quá trẻ và thiếu kiên nhẫn để làm những công việc như thế này… Cô có quá nhiều nỗi lo khi phải một thân một mình trên đất Mỹ… Cô đang lo sợ đủ thứ: Sợ chiều nay kẹt xe lại đi học trễ, sợ thẻ xanh hết hạn trước khi tốt nghiệp nếu không qua nỗi các đợt thực tập, kể cả cô cần phải về để tắm táp trước khi đến lớp chiều nay để tránh cái ý nghĩ bọn bạn học con nhà giàu khịt khịt mũi khi cô đi ngang, cô đã làm thêm việc vào ban đêm và tới giờ này thì cô vô cùng mỏi mệt, nhiều lần tôi nghe cô khóc nức nở trong phòng tắm… Bởi thế , tôi vừa dỗ Hoài vừa phải trấn an cô… tôi vỗ nhè nhẹ lên tay Hoài và nói với Melisa : Thôi về đi, để đó! Hoài nhìn tôi bằng đôi mắt bé thơ buồn rầu, sao lòng tôi cứ đau đớn bởi những điều người khác rất thản nhiên?
Nếu Hoài là một bệnh nhân không chịu ăn thì Thomas là một bệnh nhân không chịu ngủ. Thomas là một họa sĩ. Cậu ấy bị một tai nạn xe hơi nghiêm trọng khi: Em đang nhìn những đốm nắng chấp chới trên cánh một con bướm xanh khi nó bay rất chậm qua một thung lũng vàng rợp Tam Diệp Thảo… và cậu đã bị tổn thương cột sống, từ đó cậu vẽ tranh bằng cách ngậm chiếc cọ trong miệng… Không biết cậu ấy có thi vị hóa nguyên nhân tai nạn của mình hay không, nhưng nếu thật vậy thì quả là hạnh phúc. Trong những câu chuyện cổ tích tôi đọc hồi nhỏ có một truyền thuyết như sau : Ai được nhìn thấy một cánh bướm xanh chập chờn lượn qua một cánh đồng Tam Diệp Thảo thì linh hồn người đó sẽ trở thành bất tử… Nhưng tôi vẫn luôn tự hỏi trong những lúc chăm sóc cậu: Linh hồn bất tử để làm gì khi thân xác em bị giam cầm trên một chiếc xe lăn?
Màu Tam Diệp Thảo cứ rực rỡ và nao nức đến đau lòng khi tôi nhìn thấy nó rợp trong vườn xanh cỏ. Tôi hái một bó và cặm vào chiếc ly thủy tinh bé nhỏ cho Thomas vào mỗi sáng… nó rực rỡ lung linh trong vài giờ rồi rũ xuống héo tàn buồn thảm…Tôi vỗ nhẹ vào vai Thomas khi thấy đôi mắt cậu cứ đọng hoài trên bàn ngủ : sáng mai chị sẽ hái nữa cho em. Thomas cười, nụ cười của một bé thơ vừa nghe lời hứa về một món quà yêu thích. Tôi nói : Giờ thì em ngủ đi, chị sẽ kể cho em nghe câu chuyện về Tam Diệp Thảo…
…cỏ ba lá chính là cây me đất, thỉnh thoảng có người vẫn tìm được trong đám cỏ ba lá đó, có một cây bốn lá. Vì nó rất hiếm nên người ta thường quan niệm rằng ai tìm được cây cỏ bốn lá đó là sẽ có được Hạnh Phúc hoặc May Mắn.
Câu chuyện kể rằng nếu đứa bé trên thế gian can đảm bước vào rừng sâu, đi mãi đi mãi qua bao thác ghềnh với một trái tim dũng cảm sẽ tìm được loại cỏ bốn lá (four-leaf clover) – loại cỏ sẽ mang lại nụ cười hạnh phúc mãi mãi – nụ cười hạnh phúc của trẻ thơ. Khi tìm được ngọn cỏ bốn lá, đứa trẻ sẽ đứng trong gió, đặt ngọn cỏ vào trái tim nồng ấm và hát khúc ca đồng dao. Mỗi lá trên ngọn cỏ tượng trưng cho một thứ quý giá nhất của cuộc sống.
Lá thứ nhất đứa bé thì thầm: đó là hy vọng
Lá thứ hai đứa bé mỉm cười: là niềm tin
Lá thứ ba: là tình yêu
Và lá cuối cùng: là sự may mắn
Bốn món quà thượng đế ban tặng cho mỗi đứa trẻ khi chúng mới ra đời nhưng để tìm được chúng đứa trẻ ấy phải mãi đi tìm, tìm trong rừng sâu của cuộc đời với trái tim dũng cảm… Truyền thuyết vẫn tiếp tục đến ngày hôm nay, và truyền thuyết mãi là truyền thuyết vì mỗi đứa trẻ sinh ra lớn lên mãi đi tìm công danh và sự nghiệp nên chúng lãng quên con đường tìm đến với ngọn cỏ bốn lá mà thượng đế trao cho. Đến khi chúng vấp ngã, chúng mới nhớ đến khúc đồng dao của ngày xưa. Chúng thẫn thờ và than thở.
Nhưng đứa trẻ đâu biết thượng đế trên cao đang mỉm cười:
Khi đứa trẻ đau vì vấp ngã, đó là tình yêu
Khi đứa trẻ tin rằng mình không cô độc khi vấp ngã, đó là niềm tin
Khi đứa trẻ nhìn thấy những đứa trẻ khác còn đau khổ hơn mình, đó là sự may mắn
Và khi đứa trẻ nghĩ rằng mình phải đứng dậy là đi tiếp, đó là niềm hi vọng..
Câu chuyện tưởng chừng như vô nghĩa nhưng lại giúp ta hiểu được một chân lí:
Có những điều thật giản đơn nhưng đủ làm ta mỉm cười và có những con người dù lặng lẽ – nhưng lại khiến trái tim ta bừng lên hạnh phúc…
Chiếc giường ngủ đầy những thiết bị y khoa của Thomas như cầm tù thân xác cậu mà linh hồn cậu thì đang lững thững ở một chốn hoang vu nào đó, giấc ngủ đến với cậu thật thanh thản bình yên… Và tôi đau đáu với nỗi niềm: đêm mai, tôi sẽ có câu chuyện nào tuyệt vời hơn truyền thuyết Tam Diệp Thảo để dỗ cậu vào giấc ngủ?
Nếu với Thomas, tôi chỉ biết về cậu qua những câu chuyện kể thì với Hoài, cô là một phần tuổi trẻ của tôi. Khi tôi nhận việc, anh Lâm, người hướng dẫn đã nói: Dân NhaTrang ha? Bàn giao cho cô case này… đồng hương!
Tôi không còn nhận ra Hoài nữa… Đầu tháng 3/75. Hoài 16 tuổi, thị trấn thất thủ,Hoài theo các chị chạy loạn… Từ trại mồ côi, Soeur Bernard cho mỗi đứa một tay nãi gồm gạo sấy, mì gói, đường, kim chỉ may, vài bộ áo quần và một ít tiền. Soeur căn dặn không được rời nhau và làm dấu thánh cho từng đứa. Soeur ở lại vì còn một số bé bại liệt không di chuyển được. Cả bọn vừa đi vừa lần chuỗi đọc kinh.Hoài được gởi vào trường mồ côi của các Soeurs từ năm 3 tuổi, mẹ cô không một lần trở lại thăm chắc vì áp lực gia đình hoặc xã hội khi sinh một đứa con khuyết tật… Cô lớn lên nơi đây, đơn giản, xinh đẹp, thánh thiện như một thiên thần câm lặng, chỉ có nụ cười sáng rực là làm ấm áp hồn người.Trên con đường chạy loạn dần dần thất lạc lẫn nhau, chỉ có bé Lim là Hoài khư khư ôm chặt, cô cột nó bằng chiếc võng mây riết sát quanh mình, con bé độ chừng vài tuổi… Về tới Suối Dầu, Soeur Bề Trên bật khóc khi thấy hai chị em tơi tả và những vòng dây siết bầm tím quanh thân… Hoài sợ con bé rơi mất trong biển người hỗn loạn. Không còn nỗi sợ hãi nào nữa khi được về cạnh các Soeurs, nép mình vào những đôi tay từ ái…Tình yêu thương của các soeurs xóa dần những nỗi đau thương ám ảnh… chỉ có Lim, nó cứ hét gào khi không thấy mặt Hoài và quanh quẩn theo cô như một chiếc đuôi!
Hoài trở lại với công việc của mình, chăm sóc các bé mồ côi và khuyết tật cùng các soeurs,cô không biết hát, không biết kể chuyện, không biết vỗ về… nhưng cô biết nựng ru bằng những tiếng âm ư và đôi tay ấm áp… khi cô ôm một bé thơ đang la khóc, đôi mắt và vòng tay cô làm bé dịu đi và lim dim ngủ… Những ngày ấy , tôi vẫn thường mang đến Dòng những thuốc men, quần áo mà bạn bè và người thân ở nước ngoài gởi về tiếp tế để Soeur lo cho các bé. Tôi gặp Hoài thường xuyên , cô bày tôi nói chuyện bằng ngôn ngữ thể hình, cô luôn dễ thương, duyên dáng, nhẹ nhàng, thanh khiết như một thiên thần… chỉ có bọn chúng tôi lăn sớm ra đời kiếm sống là bị nhiễm độc trần gian để tập khôn ngoan, tập lọc lừa, tập gian trá, thật sự chúng tôi tập hoài không được vì lúc nào cũng sợ những cái nhìn nghiêm khắc của các soeurs. Mỗi lần đến gặp Hoài , ngồi nói chuyện vớ vẩn với cô hay cả khi chẳng nói gì chỉ gặp nhau cười và ra dấu từ xa…lúc ra về tôi như có thêm chút năng lượng sống và cảm thấy mình được rửa sạch chút bụi bặm phố phường.
Thuở ấy, thỉnh thoảng các tổ chức từ thiện quốc tế đến thăm Dòng, phát thuốc, khám bệnh, nhổ răng, tặng quà… những em bé cứ khóc thét lên nếu không có Hoài bên cạnh mặc cho tôi có mỏi miệng ru hời ru hỡi… Vẻ xinh đẹp đằm thắm dịu dàng của Hoài đã lọt vào mắt xanh một chàng bác sĩ. Tình yêu không biết có tác động thế nào đến Hoài không, chúng tôi , bọn nhóc tuổi tác tương đương đương nhau, chưa đứa nào biết tình yêu là gì có hơi ganh tị dù rất mừng cho Hoài.
Tôi hỏi soeur: Hoài có yêu Mike không?
Soeur nghiêm trang: Hoài ngoan, con bé làm mọi điều theo ý Chúa!
Tôi vờ than vãn: Sao Soeur không giới thiệu Mike cho con. Con cũng rất ngoan mà. Mike vừa đẹp trai, vừa giàu có, vừa mang quốc tịch Mỹ, đỡ tốn công tốn của con đi vượt biển hoài không lọt.
Soeur cốc đâu tôi bằng chiếc nhẫn sắt như ngày tôi còn nhỏ: Hòai được yêu vì nó mang cái đẹp của sự yên lặng, tĩnh tại. Con không có được điều đó, con lách chách cả ngày như một con khướu… làm người ta vừa yêu vừa ái ngại…Con thông minh nhưng thiếu sự khôn ngoan!
Chưa có nhận định nào chính xác làm tôi vui dường ấy…Tôi tò mò lắm…vẫn là những buổi trưa trong giờ các bé ngủ, Hoài ngồi yên lặng trên hiên nhà nhìn ra những vạt Tam Diệp Thảo đong đưa hoa vàng, nhiều khi tôi và nó cùng ngớ ngẩn đi tìm cho bằng được những cọng cỏ bốn lá dù biết rằng hiếm hoi không tưởng. Tôi hỏi nó: Nếu tìm thấy một ngọn cỏ bốn lá Hoài sẽ mơ được điều gì?
Mẹ , nó trả lời bằng hai bàn tay chéo nhau trên ngực. Tôi lặng người đau nhói. hỏi tiếp: Yêu Mike không? Hoài cười, mắt nó hiền như mắt bò với hai hàng mi rợp bóng, dịu dàng xinh đẹp. Bằng cách nào đó, họ cưới nhau và đem cả Lim ra đi. Lim vẫn luôn là một cái đuôi quấn quýt với Hoài từ nhỏ. Nghe Soeur nói họ làm việc ở Ethyopie, ở Sudan …những nước Châu Phi nghèo khổ… Hoài vẫn luôn là một cô bé ngoan, tìm cách giúp đỡ cho nhà Dòng bằng mọi cách.
Rồi Soeur Bề Trên mất, rồi tôi đi xa, rồi Dòng bị giải tán dời đi nơi khác. Thỉnh thoảng mới có một vài Email liên lạc rủ nhau quyên góp cho Dòng.Rồi thất lạc nhau trong đời, dù vẫn biết khi cần, chỉ lên tiếng thôi thì cạnh mình sẽ vẫn đông đủ bạn bè.
Tôi không biết gì về cuộc sống tiếp theo của Hoài… chắc rằng nó luôn vui vẻ, an phận, hạnh phúc vì được dấn thân và cống hiến như lời răn dạy của Soeur bên cạnh những người mình yêu thương. Tôi luôn nghĩ vậy về nó khi nhớ lại một cô thiên thần bé nhỏ của ngày nào xa xưa…
Cho đến khi tôi nhận việc nơi này – FOREST PARK CARE CENTER- thì Hoài đã ở đây 14 năm , trước đó nó ở đâu đó mà trong hồ sơ không ghi nhận…Thời gian làm tôi bật khóc, Hoài đã cô đơn bất hạnh trong bao nhiêu năm kể từ khi nó lên đường??? Nó nhảy lầu tự tử vì trầm cảm. Trong hồ sơ là địa chỉ liên lạc và số điện thoại của vợ chồng người em gái: Mike và Lim! Tôi mương tượng điều đã xảy ra, anh Lâm nói : Lâu lắm rồi Mike và Lim không tới, mỗi lần họ tới Hoài lại bị những cơn động kinh khủng khiếp!
Tôi không nói với anh Lâm những gì mình biết. những trưa ngồi im lặng bên nhau…không biết Hoài nghĩ gì mà cứ chảy nước mắt, tôi ôm đầu nó tựa vào vai mình, đong đưa đong đưa…ngoài cửa sổ cũng là một vườn Tam Diệp Thảo xanh mượt mà với những hoa vàng lay lay trong gió…Tôi ước gì được trở lại những ngày cũ của ký ức êm ả xưa kia…
Tôi không giận Mike và Lim… Tôi nhắn tụi nó số điện thoại mình. Qua thời gian, tôi hiểu Tình Yêu đôi khi còn là khổ nạn! Một đêm, tôi nghe giọng Mike nghẹn ngào gọi đến từ một vùng băng giá xa xôi : Dee, tôi không phải là một người độc ác… nhưng Tình Yêu đâu phải đơn thuần là một lễ vật chỉ để hiến dâng! Tình Yêu là một sự tương tác, Bạn có hiểu…
Tôi hiểu, dù đã quá muộn màng.
Sống, phải luôn mở lòng yêu thương khi có thể… và cũng không nên oán trách cuộc đời khi bất hạnh như một chiếc thánh giá mà ta phải tự mang vác đến hết phận người!
Tôn Nữ Thu Dung
Em chuyền nỗi nhớ từ mùa xuân qua mùa hạ
Cánh phượng hồng mấy bận níu vội giấc mơ
Nghiêng với phố xa hẹn lòng chân mau bước
Em lại về bên sông chiều thôi chơ vơ.
Thấu suốt lòng em giữ nguyên ngày cũ
Tóc gió thoáng xưa như còn đó ban sơ
Hương đồng nội bay về thơm bờ mắt
Mềm chút môi cay chia hết đường tơ….
Em chuyền nỗi nhớ từ ngút xa tít tắp
Đếm thời gian đem lòng nhớ khuất xa
Mùa hạ trắng gọi nỗi buồn như xuống thấp
Vô tình như thuyền trôi em mặc vội áo hoa.
Ta chuyền nỗi nhớ từ ngọt bùi hương cũ
Bể dâu làm tình đau vùi lấp ngọn ngành
Nặng vai trần gian em quên đời gió cuốn
Xô nhau đường về tiếc chi giữa mong manh.!!!
HOÀNG CHẨM