Nam mô một bồ dao găm

nguyentri

Ngày xưa cách đây chừng khoảng 25 năm. Thằng khùng tôi có thân với hai anh em nhà Đạt Duy. Đạt là anh có vợ trước nhưng không ở riêng vì không vốn liếng ra riêng cho chết à? Cả hai vợ chồng và thằng em tên Duy cùng nương nhờ dưới bóng bà mẹ làm nghề bói toán. Phải công nhận càng nghèo người ta càng tin vô bá láp. Cỡ Trí tôi mà đôi khi còn xoè tay nhờ con mụ ba trợn coi cho một quẻ nói chi dân ngu khu đen.
Đùng một cái thằng Duy quy y của phật. Chả là gần nơi tôi tạm ngụ có một cái chùa, tuy nhỏ nhưng linh lắm, bá tánh vẫn thường đến ngôi tự nầy để xin ơn trên phù hộ cho… trúng số. Ở chùa được ba tháng Duy về thăm mẹ già với cái đầu trọc và mặc một bộ áo nâu. Anh em gặp lại mừng thôi thì hết lớn. Trí tôi mới hỏi bạn rằng:
– Mày có bị khùng không mà xuống tóc đi tu? Bộ có ông Phật nào độ mày hả?
Duy lắc cái đầu trọc lóc:
– Ở nhà khổ quá tao vô chùa cho phẻ. Nói vậy chớ vô chùa có đồng ra đồng vô hơn ở nhà.
Tôi kinh ngạc;
– Làm đếch gì mà ở trỏng có tiền.
Thông cảm cho. Trí tôi vốn bụi đời nên ăn nói có hơi báng bổ.
Duy kể rằng trong chùa bá tánh công quả nhiều lắm, lâu lâu Duy chôm trong thùng công đức nên có chút đỉnh. Sau đó Duy đưa tiền cho anh là Đạt đi mua bia lên cơn về uống. Hồi đó có bia Vitamen là quý hoá lắm. Tôi hỏi:
– Làm sao chôm?
Duy trả lời:
– Tao vót một thanh tre mõng thiệt mõng rồi bôi mủ mít lên đầu thanh tre, thọc vô kẻ hở rồi lôi lên. Nhưng phải chôm lúc hai giờ sáng chứ ban ngày sư ông biết là chết mồ tổ liền.
Có bia lên cơn nên Duy khai tiếp:
– Trong chùa có ni Tâm là ngon cơm nhứt.
– Ngon làm sao?
– Cứ lễ lớn là sư trụ trì làm một cây lộc. Trên đó gắn cả ngàn cái phong bì đựng câu sấm. Ai hái lộc xong là nhờ ni Tâm giải . Giải là cho tiền. Hiểu không?
Nghe qua thằng khùng tôi buồn cười tợn. Nhưng tợn nhất là Duy nhờ tôi dẫn đi khu bả đậu. Khu bả đậu là khu để đàn ông mua còn đàn bà bán tình. Chỉ có thứ đồi truỵ mới đến khu nầy. Tôi nói:
– Tu hành kiểu mày chắc xuống địa ngục a tỳ sớm quá Duy ơi.
Duy nói:
– Kệ mẹ tao. Mày không biết ông trụ trì của chùa tao ở đâu. Ổng còn quá cha ông nội tao nữa.
– Sao?
– Ổng ba đứa con hai bà vợ luôn đó mày.
– Trời đất ơi…
Có vitamen bia lên cơn nên Duy cười khùng khục:
– Mày nghĩ coi. Thầy chùa không có vợ thì làm sao có phật con? Mà thôi. Có đi khu bả đậu không?
Trí tôi phải dẫn ông con đi chớ biết sao giờ? Lâu lâu bạn bè nhờ không giúp đâu có được. Với lại bia bọt uống rồi. Xôi chùa ăn là ngọng miệng. Đúng không?
Tất nhiên là Duy phải thay nâu sồng bằng một bộ xi vin. Ai lại mặc đồ tu vào khu bả đậu? Hai mươi lăm năm trước, tức là sau thống nhất mười lăm năm, chả hiểu làm sao tàn dư của chế độ cũ – báo chí gọi vậy – vẫn không chịu già. Họ vẫn trẻ như tuổi đời họ khai: “Em mới mười tám hai mươi hà…” e là chế độ cũ đã bào chế thành công thuốc trường sinh bất lão rồi quá. Và. Chắc ai cũng biết, vào lúc mà chúng ta đang sống đây, một cô gái chạy hoả hoạn từ một karaôkê che mồm bằng áo chip đã bị chửi cho tắt bếp nói gì đến mua bán tình. Nhất là hai mươi lăm năm về trước thì chết chứ chẳng chơi.
Trong phim “ tôi vào đời” diễn viên Y Phụng đóng vai bán hoa và bán ở bờ sông Sài gòn. Truy quét đến là chạy như ngựa tế. Xã hội ta. Đất nước ta luôn tôn vinh phụ nữ. Chỉ có bọn tư bản phương tây mới đồi truỵ còn ta thì không. Mua bán tình là phạm tội. Kẻ mua người bán nhỡ bị hốt cốt thì vong mạng. Nên chi muốn mua phải tinh thông ngõ ngách chợ tình. Sỡ dĩ Duy nhờ tôi mà không nhờ ai khác là vì tôi – trí khùng – vốn là thằng ăn nhờ ở đậu ở bến tắm ngựa đến tinh như quỷ sứ. Nhưng quỷ cỡ nào rồi cũng bị phản đòn. Vụ phản nầy do Duy mà ra.
Duy cho tôi một suất mua tình – tất nhiên rồi – đời ai chả cho không ai cái gì cả đúng không? Nhưng tôi thề tôi không mua. Nói láo cho bà bắn chết không kịp ngáp. Có hai lý do. Một là tôi sợ. Sợ cái gì xin nói sau. Hai là lúc ấy Trí tôi vợ con rồi. Nhà đói lắm. Thèm cơm nhiều hơn thèm đường phèn. Trí nhét túi đồng bạc của mình để mua gạo cho vợ con. Thiệt là vậy. Xin thề lần nữa. Biết rằng có thề nghìn lần cũng chả ai tin. Vì suy cho cùng đàn ông ai thấy lạ và nõn nường lại không ham?
Một thằng dẫn mối đưa Duy vào một khu hoang hoá và đen hơn bóng tối. Nơi sinh sống của muỗi mòng và bẩn thỉu. Tôi ngồi ngoài quán cóc uống ly trà đá chờ bạn. Mụ nội cha ơi. Đùng một phát – trong bóng tối của khu hành sự đèn pin của truy quét tệ nạn loang loáng trong tiếng chửi thề hậm hực. Đứng lại. Đứng lại… tôi đứng lên nhìn từng cặp nam nữ bị điệu ra. Thằng Duy – trời ạ – một tay bị cột chung với một nữ lưu. Chuyến nầy có mà chết cả nút. Tại Duy mà ra. Nó đòi tôi đi xa xa chứ gần nhà sợ thiên hạ biết. Tôi phải dùng xe đạp thồ đưa ông con ra tận nơi nầy. Vậy mà vẫn bị dính chấu, biết làm sao đây trời hỡi?
Ngộ biến phải tùng quyền. Mọi cách phải giải cứu thằng nầy ra khỏi chốn a tỳ, bằng không chuyến nầy nó chết. Tôi lân la đến bên một anh có súng, móc trong túi ra điếu thuốc mời anh. Dăm câu ba chuyện một hồi tôi trổ giọng hối lộ như thời kỳ đi rừng mua bảo vệ. May quá anh chịu ăn. Ở đời cái gì ăn được ta cứ ăn phải không? Anh đòi tôi chung bằng bốn lần Trí tôi có trong túi. Và vậy là thằng khùng tôi hoàn toàn thua cuộc. Móc hết ra trí năn nĩ:
– Em còn có nhiêu đây. Anh tha cho thằng bạn em một lần.
– Nó làm gì mà cạo trọc? Chống chế độ hả?
– Dạ đâu có. Nó mới sốt dậy nên trọc đầu.
– Sốt mà còn gái gú.
Anh nhìn mớ tiền trên tay Trí rồi nói:
– Nhiêu đây thì thua đi đại k.
– Em năn nĩ anh giúp cho một lần. Em cũng biết sống biết chơi. Thề là không quên ơn anh.
Anh ngẩm nghĩ một hồi rồi gọi:
– Ê… Dũng… lại nói nghe nè…
Người tên Dũng bước tới. Anh ta ngó tôi một hồi rồi reo lên:
– Trời đất… Minh Tàn… mày làm cái đếch gì ở đây?
Đúng là trời cao bất phụ hảo nhân tâm. Để kể cho quý bạn nghe về tay Dũng này. Nhân đây nói luôn chuyện sợ. Chính tay Dũng nầy khiến Trí tôi sợ chuyện mua tình. Trước đây Dũng là bảo vệ rừng. Suốt kiếp trong rừng nên lâu lâu về phố gã ngu lắm. Lèo quèo sao đó để bị nổ ống khói nên hắn gặp tôi nhờ cứu độ. Tình thiệt mà nói tôi vốn rất bố láo. Có ba giọt rượu cũng hay pháo rằng ba cái giang mai mồng gà hoa khế hột xoài với tao là chuyện nhỏ. Nổ rằng:
– Tụi mày biết không? Giang mai hay sùi mào gà ngó vậy nhưng không nguy bằng hột xoài. Không biết cách trị cho dứt điểm thì vi khuẩn sẽ nằm yên trong dương vật chờ ngày bột phát. Lúc nầy thuật ngữ y học gọi là KIS. Đến khi ta già trên bảo dưới không nghe thì vi khuẩn sẽ sống lại làm bộ phận sinh dục cứng như đá và đau đớn kinh khủng. Lúc ấy phải cắt bỏ và lúc nầy thuật ngữ gọi là KOS. Thằng nào lỡ bị cái nầy thì gặp tao.
Dũng bị ngay bon và gặp tôi. Tôi bảo nó sử dụng trụ sinh từ Pini đến Lincocin đều không thuyên giảm. Thì ra ông con bị lây cấp tá trở lên chứ không là cấp uý. Vậy là phải sử dụng Plageltin mới dứt điểm. Đây là loại trụ sinh thế hệ thứ ba, một hộp bốn viên đắt bằng ba tháng lương của Dũng. Nhìn Dũng đau khổ vì hoa liễu tôi sợ lắm. Dũng thề rằng có dịp sẽ trả ơn tôi. Nên đây cũng là dịp. May cho tôi là không móc tí tiền còm để chung chi cho giải cứu. Duy thì sao các bạn biết không? Trái đất tròn và hẹp té. Bảy năm trước đây tôi gặp lại Duy.
Tôi vốn là một tín đồ phật giáo bán chính thống. Cần phải nói cho rõ vụ chính và bán nầy để khỏi gây hiểu lầm cho quý chư liệt vị. Để hiểu biết về Phật giáo cho cặn kẽ thì Trí tôi không có cửa. Ít học thì đừng có mơ mà hiểu được nền triết lý cao thâm của tôn giáo này. Những có không không có. Có đó mà không đó hoặc hãy buông bỏ anh sẽ ngộ ra đời không là gì cả, hoặc là tỉnh động động tỉnh khó hiểu chết bà. Đọc trong một cuốn sách nào đó kể rằng: Có hai sãi áo nâu đang quét dọn sân chùa. Một cơn gió đi qua làm lay một cánh hoa trong chậu. Một sãi nói: – Hoa động. Sãi kia cãi: – Hoa không động, gió động. Inh củ tỏi một hồi sư ông đi đến khỏ đầu hai sãi mà rằng: – Hoa không động. Gió không động tâm hai ngươi động. Nghe xong hai sãi liền đốn ngộ. Là sao? Hiểu thằng khùng tôi chết liền.
Là tín đồ bán chính thống sức hiểu về phật giáo của tôi là niệm phật. Nghe rằng niệm phật một lần là phúc đẳng hà sa. Trí tôi cũng thuộc được vài thời kinh nữa đó. Những Chú Đại Bi. Liên Hoa. Bát Nhã tôi nằm lòng. Đêm đêm thắp hương lên bàn thờ phật và gia tiên Trí tôi thường tụng lắm. Tụng xong là cầu xin ơn trên phù hộ cho cả nhà bình an may mắn. Mấy đứa con đi làm công ty đừng bị chủ quản nó đì là con cảm tạ vân vân… vậy gọi bán chính thống là quá xá đúng. Và cái không hiểu, cái bán chính thống thường đưa con người ta tin vào hảo huyền. Tức là tin vào cái tượng đất thó chứ không tin vào chính mình. Thậm chí tin đến cuồng. Tục gọi cuồng tín.
Tám năm trước Trí tôi ngoại trừ bần cùng còn bị tai hoạ bủa vây. Con trai lớn lâm vô sa đoạ và bị bắt đi cai nghiện cưỡng bức. Tâm tư người cha có đứa con lâm cảnh tội tù xa xót lắm tha nhân hỡi. Được vài tháng đến đứa con gái bị giết. Chao ôi là đau đớn. Đoạn trường ai có qua cầu mới hay. Trí tôi ôm niềm đau nằm trên võng tì tì nốc rượu cho quên sầu nhân thế. Nói thiệt nghe. Về rượu dám nói một câu chỉ Kiều Phong trong Thiên long bát bộ và Lệnh Hồ Xung trong Tiếu ngạo giang hồ mới dám ngồi chung bàn với thằng khùng tôi. Đứa con gái chết vào tháng tám trời mưa trời mưa không dứt. Xe đưa áo quan ra huyệt phải có năm thằng thanh niên vai u thịt bắp luân phiên cật lực tát nước mới đưa được áo quan về đất mẹ. Tôi ngồi giữa nghĩa địa nốc bao nhiêu rượu cũng không say. Chợt nghĩ đến những bà mẹ của hai miền nam bắc trong chiến tranh có người mất cả chục đứa con. Mình thằng đàn ông buồn đã có rượu chia lửa còn họ thì sao?
Đêm nào Trí tôi cũng bên bàn thờ tụng cầu siêu cho con gái. Hết siêu đến an cho thằng con trong trại. Cuồng đến độ tin rằng tụng càng nhiều thì con gái sẽ sớm đầu thai, con trai sẽ mau chóng bị con ma tên tuý từ bỏ. Con gái chả biết có siêu không chứ thằng con thì chịu. Bằng chứng là sau hai mươi bốn tháng cai nghiện về được bốn tháng mười hai ngày nó bị hốt đi lần thứ hai. Trí tôi lòng lòng những Đại Bi, Bát Nhã, Liên Hoa là vì vậy. Cả văn tế thập loại chúng sinh cũng làu luôn mới là hay ác.
Có ông bạn người công giáo trùm một họ đạo lại là tổ trưởng an ninh nhân dân kề bên nhà vẫn tạc thù với Trí khuyên rằng:
– Anh phật giáo thì nên lên chùa nhờ trụ trì đích thân cầu siêu cho cháu mau siêu thoát.
Nhìn cái nhà của Trí như cái chuồng heo anh cám cảnh:
– Tôi quen thân với sư trụ trì. Ổng có cái nhà bỏ không. Mai anh đi với tôi lên nói với ổng một tiếng xin ở nhờ, luôn tiện coi ngó dùm ổng luôn.
Còn gì quý hoá hơn. Hôm sau tôi lê thân tàn đi theo cán bộ. Anh dẫn tôi vô chùa. Vô hẳn phòng riêng của sư trụ trì và trình bày vấn đề. Nghe xong sư nói:
– Chuyện cầu siêu của thí chủ thì để thầy nói với các sư đến tụng nhân 49 ngày của cháu. Còn cái nhà thì không được…
Trầm ngâm một hồi sư tiếp:
– Thí chủ đừng nghĩ thầy ích kỹ mà tội lắm. Chẳng là cái nhà nầy một người bà con của thầy nhờ mua hộ. Nhưng có đơn tố lên trên thầy dùng tiền công quả để mua nhà riêng… mô phật… vậy nên xã đang quản lý. Căn nhà nầy không được cho ai ở trong khi chờ giải quyết.
Nghe xong anh bạn cán bộ gật gù rồi cáo biệt thầy ra về. Tôi nấn ná:
– Anh về trước nhé, tôi về sau.
– Tôi nhìn sư thầy một hồi. Thực mà nói. Khi nhìn một sư ông áo vàng chả biết chư liệt vị ra sao chứ tôi ít để ý lắm. Cứ như cái áo nó ám đến mụ mị con mắt mình vậy. Nhất là quý sư thường như nhau. Mặt thịt hay xương chi đầu trọc tếu bằng nhau khiến cho ai cũng như ai. Vị trụ trì nầy tôi ngờ ngợ. Chừng như tôi đã gặp đâu đó trên đời. Nhìn một chặp tôi thốt lên:
– Trời ơi… Duy. Nhớ tao không?
– Cái mặt tôi – nói thiệt – bạn bè cách xa nhau nhưng bốn chục năm gặp là họ nhận ra tôi liền. Bơi tôi có gương mặt rất là du côn. Vậy mà sư ông không nhận ra mới lạ chứ. Sư nói:
– Mô phật… thì chủ nhầm tôi với ai rồi.
Tôi suýt cái chửi thề:
– Cái sẹo trên màng tang của mày tao quên sao được. Mày nhớ vụ bị bắt ở xóm bả đậu không?
Thầy nhìn tôi rồi hấp háy mắt:
– Ủa… Minh Tàn hả… lâu quá mình nhận không ra…
Trên đường về, thoạt tiên tôi có trách. Nhưng ngẫm một hồi và tự đặt mình vào hoàn cảnh của Duy nếu là tôi liệu dám nhận lại bạn cũ không? Rất biết sống biết chơi từ đó tôi cạch luôn cái chùa – nơi mà – thàng bả đậu đang trụ trì. Việc gì tha nhân không muốn ta chớ có nên làm. Có ngày ăn mã tấu vong mạng. Hồi mới bước chân ra đời kiếm sống tôi bị nắng gió miền trung thiêu cho đen như cột nhà cháy. Một hôm có thằng bạn gọi: Ê Minh Hắc. Cái giọng của nó vừa kỳ thị vừa bỉ khinh làm tôi nóng mủi. Tôi không ư hử. Nói gọi tiếp lần nữa. Tôi nói hắc một tiếng nữa là tao đập đó. Nó nói:
– Mày đen tao nói hắc chứ có nói bạch đâu mà tự ái.
Vậy là một cú đấm vô mặt nó liền. Ừ. Cái gì xấu hoặc không hay không phải của tha nhân chớ dại mà lôi ra làm trò. Tôi không chùa nhưng bà xã thì thường xuyên, thậm chí ngày sinh nhựt của thầy trụ trì cô vẫn lên bếp chùa làm công quả, gọi là xin chút ít phúc đức cho con cháu về sau. Cũng đúng thôi. Ngày công phụ hồ bét dem cũng hai trăm nghìn nay phụ không công cũng có cái ân điễn trị giá chừng đó chứ. Đúng không? Tôi bán chính thống phật giáo thì nghĩ vậy. Có hôm chùa về vợ tôi khoe:
– Ông Năm nè…. Hôm nay sinh nhựt thấy ông biết riêng cái khoản tiền nếp nấu xôi hết bao nhiêu không?
– Nhiêu?
– Bảy triệu.
– Mấy? Trăm hay triệu?
– Triệu.
– Bà nội cha ơi…
Tôi suýt thốt lên với vợ là bà biết tay trụ trì là ai không? Làm sao bà xã tôi biết được Duy đang là chưởng môn nhân cái chùa nầy? Thì ngay tôi còn không nhận ra nói gì cô ấy. Ngày xưa mười bốn ký nay tạ tư là hiểu rồi. May mà tôi kìm được.
Nhưng đời không bao giờ đơn giản. Có những cái ta không muốn nhưng sự đời cứ mặc nhiên đưa lại buộc phải nghe phải thấy phải biết. Ông bạn an ninh nhân dân trùm một họ đạo bò lên được cái trưởng ấp giới thiệu tôi với một lão gia kính cận tám độ. Ông này là nhân vật còn sót lại từ thời di cư ‘54. Bẩy mươi ba tuổi tên Tám Ẩn. Ông có một chiếc rim tàu mua được từ tiền trúng số đề. Già, mắt kém nên không dám chạy. Cần một người có tuổi, chạy xe cẩn thận để đưa ông đi chơi. Ngày năm chục ngàn xăng ông ta chịu. Lúc ấy công thợ hồ là năm chục. Chạy xe chở đi chơi cơm chủ bao thì hết sức là vô mánh. Tám Ẩn tuy già nhưng sành sỏi chiêu thức Trâu già khoái gặm cỏ non. Tôi có bổn phận dọc theo lộ mà rề rề. Nơi tốp lại là những quán cà phê mái lá. Ở đó rất nhiều nữ tú đang chơi tiến lên hoặc tứ sắc. Có khách là một cô chạy ra hỏi uống gì anh. Đem thức uống ra cô hỏi tiếp mát xa không anh? Các cô không gọi Ẩn mà gọi Ẩu. Bữa nay Tám Ẩu đến kìa. Hỏi sao gọi vậy các cô nói:
– Thì đụng đâu bốc hốt đó nên gọi Ẩu.
Kể ra vậy cũng vui.
– Hôm đó chạy đâu chừng năm mươi cây số Tám Ẩu ra hiệu cho tôi ngừng lại một quán lá. Quán nầy mới nên chả em nào biết Ẩu là ai. Một cô ngồi chung võng với tôi thăn thỉ thư giản đi cưng, từ sáng giờ ế quá không có đồng nào hết cưng ơi. Tôi nói chú chỉ là thằng tài chạy thuê cho ông già đó thôi cháu ơi. Nghe vậy cô dợm chân đứng lên thì tôi vội ôm cô ta lại và vùi mặt vào tóc cô. Cô ta tưởng tôi muốn mát xa nhưng làm bộ.
Từ trong cánh cửa một hộ pháp bước ra.
Tôi phải vùi mặt để tránh vì đó là Duy.
– Thực ra đời sống nầy chả có gì đáng phải buồn hết. Suy cho cùng bản năng sống của chúng ta là gì? Ông Bùi Hữu Nghĩa đã diễn tả tứ khoái của loài người qua bốn câu: Cơm phiếu mẫu, chiếu bồ đoàn, ngữa nghiêng loan phụng, nhẹ nhàng nương long. Ăn, ngủ, làm tình, đi ngoài là bốn cái không thể thiếu của loài người. Nén lại một cái dứt khoát nó nổ cái ầm. Cái buồn nhất đây là nam mô một bồ dao găm. Anh lợi dụng niềm tin bá tánh để mưu lợi riêng cho mình là nguy hại lắm. Giá trả không ít đâu.
Tôi ở Thanh Sơn Định Quán Đồng nai từ khi chưa thành lập xã. Khi tôi bỏ xứ này ra đi chưa có cái chùa nào hết. Vừa qua đọc trên báo nghe có một trụ trì của chùa chi đó mơi xây dựng bị bắt về tội quan hệ với một vị thành niên. Tôi hỏi. Một vài học trò của tôi nói ông sư này bị gài thầy ơi. Nhỏ nầy mới mười bốn nhưng cà phê ôm bia ôm hơn năm rồi. Chuyện bị gài thế để kiếm tiền của một số kẻ táng tận lương tâm là có. Nhưng anh là ai, là gì mà để bị gài? Thầy tu cả trăm ông đang khất thực trên đường chả ông nào không có cái ai phôn tàu đẻ xem phim… đồi truỵ? Đừng nói quý vị ngây thơ. Ông sư ở Thanh sơn khi bị bắt mới thòi ra ông bị giáo hội trục xuất vì rất nhiều bá láp từ khuya rồi. Vậy, nhưng anh vẫn qua mặt được chính quyền sở tại để trụ trì mà ngây thơ sao?
Làm sao nói bị gài? Tôi không tin. Chuyện của Duy đến đây tôi dừng, kể nhiều e mệt trí bạn đọc. Ngày mai tôi sẽ kể cho quý chư liệt vị chuyện bị gài đến thân bại danh liệt, vợ con không ngó của bạn tôi. Tay tổ trưởng an ninh nhân dân, tay trưởng ấp, trùm một họ đạo…
Tát nhiên là nếu các bạn còn muốn đọc.

NGUYỄN TRÍ

MẮT MIỆT BIỂN

nguyenvi

Đăm chiêu đôi mắt miền Trung
Dõi về phía biển mịt mùng trời mây
Hải âu chẳng buồn lượn bay
Nước mù tăm cá bờ đầy thuyền phơi
Tiếng thở dài nao lòng người
Mây đen vần vũ trùng khơi sóng gào
Tự lừa hẹn đến mùa sau
Mắt miệt biển cứ nhuộm màu đăm chiêu.

NGUYÊN VI

THỨC DẬY ĐI

trantrungdao

Mặt trời mới mọc bên kia biển
Hay lửa phương đông báo hiệu mùa
Thức dậy đi em giờ đã điểm
Mẹ khóc lâu rồi em biết chưa?

Thức dậy đi hỡi rừng núi cũ
Nghe tiếng nghìn xưa vọng trở về
Ai đứng trông ai mùa lá đổ
Mà lòng thao thức mấy đêm khuya

Ai khóc đêm nay ngoài ải Bắc
Phải hồn sương phụ ngóng phương xa
Hay tiếng Phi Khanh trào nước mắt
Về đi, lấy máu trả thù cha

Thức dậy đi hồn thiêng sông núi
Gió Nam Quan xô sóng Bạch Đằng
Nửa đêm không bóng người bên suối
Sao tiếng gươm mài vang dưới trăng

Thức dậy đi hỡi lòng vô lượng
Ngại ngùng chi đau khổ điêu linh
Dù cho nước vẫn còn nhơ đục
Nhớ giữ cho nhau một chút tình

Thức dậy đi đồi cao dốc sỏi
Đất đá mòn theo mỗi vết chân
Gã tù lặng đứng nhìn mưa đổ
Đâu biết xuân qua chỉ một lần

Thức dậy đi màu nâu của đất
Màu xanh trong ánh mắt của em
Bao nhiêu năm ngồi nghe nhau khóc
Đã đủ chưa máu chảy ruột mềm?

Thức dậy đi từng trang lịch sử
Những chuyện buồn vui lẫn tủi hờn
Như mắt mẹ nghìn đêm không ngủ
Thương đám con khờ chưa lớn khôn.

Trần Trung Đạo

Tôi biết ơn Việt Nam Cộng Hòa

nguyenngocgia

Một số người trong nước cũng như người Việt hải ngoại cho rằng không nên vực dậy “xác chết” có tên Việt Nam Cộng Hòa.

Tuy nhiên, lịch sử là nguồn cội của bất kỳ dân tộc nào. Lịch sử là khoa học và tính Người được thể hiện cao nhất từ đó. Bất kỳ một giai tầng nào hay một bậc vua chúa hoặc một nhà độc tài nào đi nữa, cũng không thể nào trốn được lịch sử. Lịch sử là Con Người.

Lịch sử dù đau thương như VNCH đã để mất Hoàng Sa, hay đáng tủi hổ như công hàm 1958 của VNDCCH và hội nghị Thành Đô của CHXHCNVN cùng nhiều biến cố sự kiện quan trọng khác không thể không nhắc lại.

Nhắc lại để hiểu rõ hơn và để cho thế hệ con cháu hôm nay, ngày mai nghiền ngẫm, dọn mình cho một thời đại mới – đang bắt đầu ló dạng. Tôi không biết mình có mơ mộng hão huyền trong tình thế của nước CHXHCNVN hôm nay không, nhưng trong tâm hồn tôi, từ lâu, tôi muốn nói: Cám ơn Việt Nam Cộng Hòa – Nhà Nước mà ở đó, làm cho tôi “Trích Lục Bộ Khai Sanh” [*].

Sài Gòn – nơi tôi được sinh ra, lớn lên, chứng kiến một góc nhỏ nhoi những trầm luân của số phận dân tộc Việt Nam.

Dù VNCH tồn tại ngắn ngủi, nhưng tôi không sao quên được cuộc sống chan hòa nhân ái của tuổi hoa niên, dù ngay trong những ngày chiến tranh lửa khói.

Hôm nay, bỗng nhiên trong tôi bật ra lời thành tâm này. Tôi viết với nỗi xúc động rưng rưng trên khóe mắt, khi xem lại hình ảnh những tử sĩ đã ngã xuống tại Hoàng Sa – Trường Sa ngày xưa.

Thay mặt gia đình,

Như đã viết rải rác trong nhiều bài trước đây, tôi sinh ra và lớn lên tại Sài Gòn, trong một gia đình trung lưu với việc làm ăn phát đạt, dần dẫn đến giàu có hơn.

Thật ra, sau này tôi mới biết ba tôi là “Việt Cộng nằm vùng”, do đó có thể nói, gia đình tôi là gia đình “ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản”. Cách đây vài chục năm, khi nghe câu này, tôi khá giận dữ và cảm thấy bị sỉ nhục. Cảm giác đó dễ hiểu bởi sự thật chưa được phơi bày như sau này.

Tuy nhiên, cũng nhờ đó mà tôi tự tìm tòi. Tôi nghĩ, không có cách gì thuyết phục nhất cho mỗi người, nếu như tự thân mình không chủ động tìm hiểu và can đảm nhìn thẳng vào Sự Thật. Nhìn một cách thẳng thắn, không hề né tránh là điều chưa bao giờ dễ dàng, cho bất kỳ ai, cho bất kỳ điều gì, không riêng lãnh vực chính trị.

Ít nhất, cho đến nay, tôi có thể nói, tôi đã nhìn thẳng vào Sự Thật mà tôi biết, tôi tin một cách có căn cứ.

Từ cảm giác giận dữ, dần dần tôi chuyển qua cảm giác nhục nhã. Nhục nhã vì sự vong ân bội nghĩa của gia đình mình đối với Quốc Gia mà từ đó gia đình tôi làm ăn khá giả một cách chân chính, còn bản thân tôi lớn lên từ đó.

Tôi không có ý định chạy tội cho ba tôi hay những người thân khác. Suy cho cùng, gia đình tôi vừa là đồng phạm, vừa là nạn nhân của cộng sản. Đó là sự thật. Ba tôi chưa bao giờ giết bất kỳ một ai.

Ba tôi đã chết dưới tay người cộng sản. Tôi có căm thù không? Có. Có muốn báo thù không? Đã từng. Điều mỉa mai, ba tôi chết không phải vì người cộng sản trả oán hay trù dập mà cái chết của ba tôi đến từ sự “ân sủng” dành cho ông – một người chưa bao giờ cầm một đồng tiền bất chính nào, cũng như chưa bao giờ nhận bất kỳ sự “ban ơn” nào từ người cộng sản. Một cái chết khá đặc biệt trong muôn vàn cái chết, do người cộng sản gây ra. Có thể đó là một niềm an ủi cho tôi. Cũng có thể đó là một ơn huệ của Ơn Trên, đã sắp đặt cho ba tôi một cái chết không hề nhơ nhuốc mà nhuốm màu thê lương trong một con người thơ ngây và chơn chất. Nhưng đó là câu chuyện quá vãng của gần 20 năm về trước, không phải những gì tôi muốn viết hôm nay.

Tôi có ba người chú ruột đều được “phong liệt sĩ”. Cả ba người đều chết thời Pháp. Bà nội tôi được “tặng” “bà mẹ Việt Nam anh hùng”. Tôi có hai người cậu ruột, trốn ngoại tôi để đi tập kết năm 1954. Hai người cậu ruột khác lại làm trong chế độ VNCH. Hai người cậu này đều có chức phận vào thời bấy giờ. Tôi có một người chị ruột làm trong nhà thương và “thân cộng” lúc đó. Một người anh ruột là sĩ quan thuộc quân lực VNCH (nhưng thật ra là VC nằm vùng), một người anh ruột khác là hạ sĩ quan cũng thuộc quân lực VNCH (thuần túy là lính, không quan tâm và tham gia vào chính trị, cũng như không phải VC nằm vùng). Tôi có vài người anh, chị ruột nữa, họ là dạng “cách mạng 30/4”. Một số bà con thân thuộc nội ngoại khác, người thì ở trong “khu”, người lại chống Cộng triệt để. Vài người khác, người thì là quân nhân, người nữa lại là công chức của VNCH v.v…

Hồi trước 1975, đa số gia đình đều đông con. Ít thì ba, bốn; nhiều thì chín, mười. Có gia đình lên đến mười hai – mười bốn người con, đều bình thường trong nếp sống lúc bấy giờ. Một đời sống sung túc, hầu hết gia đình khá giả, đều giống nhau suy nghĩ: nhiều con là phúc lộc Trời cho. Chế độ VNCH cũng không có việc “sinh đẻ có kế hoạch”. Mắn đẻ lại là điều tốt mà phụ nữ thời xưa luôn tự hào. Cuộc sống dung dị như thế. Không chỉ riêng những gia đình giàu có mà có thể nói hầu hết đều tương tự như vậy.

Dông dài như thế, để nói rằng giòng tộc nội ngoại của tôi khá phức tạp. Giá như…

Vâng, chính cái “giá như” nó đã làm hầu hết giòng tộc, anh chị em đại gia đình tôi “tan đàn xẻ nghé” từ dạo ấy. Dạo mà “rầm rập bước chân ta đi rung chuyển đường phố Sài Gòn” với ngày 30/4/1975 (!)

Một giòng tộc như thế mà nói đến “đoàn kết” (như CSVN đang kêu gọi) thì quả là… hài kịch.

Ba tôi và anh chị tôi đã từng đi tù dưới chế độ VNCH. Ba tôi ra tù sớm, chị tôi thì được tha bổng sau vài tuần tạm giam, vì không đủ chứng cớ kết tội. Riêng anh tôi nhận án “20 năm khổ sai” và bị đày đi Côn Đảo cho đến (tất nhiên) 1975.

Điều tôi cám ơn Nhà Nước Việt Nam Cộng Hòa thật giản dị:

– Ngày ba tôi ra tù, ông vẫn mạnh khỏe. Về đến nhà chỉ một tuần sau là ông có thể bắt tay trở lại công việc làm ăn.

– Suốt thời gian ba và anh chị tôi bị điều tra cho đến lúc kết án chính thức, gia đình tôi (những người không liên quan) không hề bị săn đuổi, bắt bớ vô pháp, hành hung, xách nhiễu v.v… Má tôi đã gánh vác mọi việc làm ăn vào lúc đó. Chúng tôi vẫn đi học bình thường và sống trong môi trường không hề bị kỳ thị của bất kỳ thầy cô hay bạn bè nào. Hàng xóm láng giềng cũng không vì thế mà ghẻ lạnh, hắt hủi hay tiếp tay như kiểu bây giờ mà người ta gọi là “đấu tố thời đại mới”.

– Anh tôi – người ở tù Côn Đảo, ngày trở về đất liền vẫn mạnh khỏe, dù ốm o đen đúa, nhưng không hề mang thương tật gì cả.[**]

Cá nhân tôi,

Tôi cám ơn Việt Nam Cộng Hòa, không chỉ vì tôi được sống trong một xã hội – có thể chưa phải là tốt đẹp nhất – nhưng tốt đẹp hơn chế độ cộng sản 39 năm qua, mà tôi còn biết ơn vì tôi đã hấp thụ được nền giáo dục, có thể nói, cho đến nay 39 năm, dù VNCH không còn, dù CHXHCNVN cố gắng “cải cách” giáo dục nhiều lần rất tốn kém nhưng không hề mang lại chút tiến bộ nào khả dĩ. Và nói cho công bằng, giáo dục hiện nay tính về chất lượng, vẫn không thể nào đạt được như trước 1975 của miền Nam.

Nền giáo dục trước 1975 mà tôi hấp thụ, dù ngắn ngủi, nó thật sự là nền giáo dục nhân bản và khai phóng. Trung thực và hiền lương. Ganh đua nhưng không đố kỵ. Biết phẫn nộ nhưng không tàn ác. Đặc biệt nền giáo dục đó giúp cho hầu hết học trò luôn biết dừng lại đúng lúc trước cái sai với nỗi xấu hổ và tính liêm sỉ – tựa như “hàng rào nhân cách” được kiểm soát kịp thời.

Chính xác hơn, tôi cám ơn Thầy – Cô của tôi, có lẽ bây giờ hầu hết đã qua đời, nếu còn sống chắc cũng đã nghễnh ngãng hay quá già yếu.

Tôi biết ơn các Giáo sư [***]. Tôi muốn nói rõ: Tôi không hề có danh vị, bằng cấp gì cả.

Tôi biết ơn Thầy – Cô của tôi, vì nhiều độc giả thương mến (có lẽ qua những bài viết), họ ngỡ tôi là: giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ, nhà văn, nhà giáo v.v… nhưng tôi thưa thật, tôi chỉ là một người “tay ngang” trong viết lách. Qua từng bài viết, tôi rút ra kinh nghiệm. Đặc biệt, tôi luôn cố gắng viết cẩn trọng và khách quan nhất để thuyết phục độc giả. Tính cách này, tôi đã học từ Thầy – Cô tôi, ngày xưa. Dù môn Văn Chương ngày ấy, tôi luôn nhận điểm thấp tệ.

Tôi biết ơn Thầy – Cô của tôi cũng vì, sau 1975, cả nước rơi vào đói kém, làm cho “tính người” trong xã hội cũng mai một dần và tôi không là ngoại lệ. Thảm trạng xã hội lúc đó biến tôi trở nên chai lỳ, mất cảm xúc và lạnh lùng. Đặc biệt “chữ nghĩa” hầu như trôi sạch hết cùng những “tem phiếu”, “xếp sổ mua gạo”, chầu chực “mua nhu yếu phẩm” v.v… ngày xưa.

Về sau này, khi cuộc sống đỡ hơn, tôi có thời gian hơn cùng với thời cuộc đảo điên, dần dần, tôi cảm nhận tôi “trầm mình” trong nỗi đau của bản thân, gia đình, từ đó tôi mới thấu hiểu những điều ngày xưa tôi học và tôi giật mình vì sự lãng quên đáng trách đó.

Tôi tìm lại được “tính Người” mà bấy lâu nay tôi đánh mất.

Một lần nữa, tôi cám ơn Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa và các Thầy – Cô của ngày xưa.

[*] Vì những năm loạn lạc, đặc biệt tết Mậu Thân, nhiều nơi cháy nhà và thất lạc giấy tờ. Sau khi tạm bình yên, má tôi đã ra Tòa Hành Chánh Quận 3 thời bấy giờ để làm “Trích Lục Bộ Khai Sanh” cho tôi.

Nguyễn Ngọc Già

——————

[**] Tôi nhớ khoảng đến cả tháng sau (tức đâu khoảng cuối tháng 5/1975) anh tôi mới về tới SG, nhưng chưa được về nhà ngay mà ở đâu đó (lâu quá rồi tôi không còn nhớ địa điểm, hình như lúc đó ở tại một trường học nào đó thì phải?) đợi thẩm vấn điều tra từ “chính quyền cách mạng lâm thời” lúc bấy giờ, đâu hết cả hai tuần nữa mới được về nhà. Tôi nhớ lúc đó, tôi hỏi anh tôi rất ngây ngô: Ủa! Sao hơn cả tháng trời anh mới về nhà? Anh tôi cười và im lặng không nói. Mãi về sau, tôi mới lò mò tìm hiểu, thì ra, dù là “phe mình”, nhưng bản chất người cộng sản là “bản chất Tào Tháo”. Họ có tin ai bao giờ đâu! Họ giữ lại tất cả tù chính trị để điều tra xem thử có phải là gián điệp (các loại) được cài lại hay không (để tính chuyện lâu dài).

[***] Trước 1975, từ đệ thất (nghĩa là lớp 6 bây giờ), Thầy – Cô được gọi là Giáo Sư – một cách gọi trân trọng, không phải học hàm như bây giờ nhiều người biết.

NHỮNG NGÀY Ở KHÁNH HỘI

nguyenanbinh

Nhìn cao ốc ngày mọc lên như nấm
Đời cứ trôi theo từng bước chân quê
Đi một chút đường như bàn cờ trận
Lạc qua sông không thấy lối quay về.

Tiếng búa máy len vào trong giấc ngủ
Đêm nằm mơ thấy mây khói quê nhà
Tôi xa lạ giữa Sài Gòn trăm ngả
Nhà tầng tầng nuốt mất khoảng trời xa.

Ngày vẫn đi bánh xe đời vẫn chảy
Nước qua cầu ai biết được về đâu
Đèn vẫn sáng Sài Gòn dường không ngủ
Tiếng rao dài nghe hun hút đêm sâu.

Thương biết mấy những mảnh đời hạ bạc
Trên dòng kênh trôi nổi kiêp thương hồ
Mui nhiều màu xác xơ bờ Kênh Tẻ
Bao phận người chấp vá những ước mơ.

Mưa theo tôi suốt những ngày Khánh Hội
Tàn lá xanh đâu kể hết buồn vui
Thèm một chút khói sương trời quê cũ
Dòng sông xưa chỉ còn lại ngậm ngùi.

NGUYỄN AN BÌNH

RẰM LỄ CHÙA

mocmienthao

Hương trầm rơi nhè nhẹ
Trên tiếng chuông chùa xa
Nép mình vào hiên gió
Thoáng áo dài thướt tha

Cứ mỗi độ trăng tỏ
Thoang thoảng hương trầm bay
Tiếng kinh trong tiếng mõ
Gót hài em qua đây

Mong ánh trăng sáng mãi
Trên bốn mùa thơ ngây
Được ngắm em qua lại
Khi viếng lễ chùa nầy.

Bonus:
Hương trầm rơi nhè nhẹ
Trên đóa quỳnh nở đêm
Tiếng chuông khuya khe khẽ
Trên trăng xưa bồng bềnh
Của một thời để nhớ
Cho một ngày để quên…

MỘC MIÊN THẢO

ĐI VỀ PHÍA CON NGƯỜI: KÝ ỨC SẮC MÀU ( truyện dài)

ledachoanghuu

Chuyện rằng ở một làng hẻo lánh heo hút nọ có một bà mụ rất mát tay. Bà đỡ cho sanh nở được mẹ tròn con vuông hông chỉ trong làng, mà các làng kề cận đều một tay bà của bà lo liệu. Một bữa sáng còn sương đọng, bà thức dậy thì hoảng hồn đứng như trời trồng bởi ngay trước mặt, trong sân nhà là một ông hổ trắng, nhưng nhận biết bà đang run sợ, ngay lập tức hổ lắc đầu liên tiếp, sau đó khụy hai chân sau xuống, trở thành dáng thế ngồi, hai chân trước chắp thành hay tay, cuối đầu xá lạy liên tục. Ngừng lạy thì thấy bà vẫn còn tròn mắt, hổ ta tiếp tục lạy nữa. Chừng bà hiều rằng hổ cần giúp việc gì đó chớ muốn quật bà thì phóng ào vào cái một là xong. Bà gật đầu ra hiệu đã hiểu. Hổ liền mọp thân xuống ý mời bà lên. Bà lấy hết bạo dạng làm theo. Hổ đứng dậy cõng bà chạy như bay bằng hai chân tới một hang động. Trong hang có một con hổ cái nằm đau đẻ rên hừ hừ nhưng hông đẻ được. Tới đây thì bà đã rõ. Bà hết sức cứu giúp, hổ cũng mẹ tròn con vuông ra đời. Hổ cha vui mừng cõng bà quay về. Từ đó, cứ lâu lâu, buổi sáng thức dậy bà lại thấy trong sân có các loại thú rừng giống như của ông thầy Bí Ẩn, như một sự trả ơn cho bà. Vì vậy người ta đồn rằng ông như hổ tinh và có hàm ơn gì đó với người làng nên báo ân.
Một giai thoại truyền lại nữa là của những người thợ khai thác gỗ. Ngày trước, mùa mưa đi mần gỗ thường đưa về bằng cách chờ có có mưa lớn, nước đầu nguồn chảy mạnh sẽ thả gỗ cho trôi theo dòng suối, chỉ việc cặp bờ đi theo, gỗ bị đâm đầu vào bờ hay vào đá, nói chung là vướng chướng ngại vật thì lấy cây sào mà đầy mà xỉa cho nó bung ra khỏi là trôi tiếp. Đưa về cách này rất nhẹ nhàng, đỡ nhiều công sức người và trâu bò. Một bữa gỗ về ngang hòn đảo Bí Ẩn thì bị đâm sầm vào mấy tảng đá lớn, đợt này gỗ nhiều, nước cũng mạnh nên ào ào dồn chất đống, không cách gì đẩy ra nổi. Tới điểm tập kết cũng còn khá xa, đưa lên ngay đây đưa đi tiếp khá nhọc công. Toán thợ đành ngồi đốt thuốc bên bờ tìm cách, bàn nhiều cách sao cho an toàn nhứt mà chưa ra. Đang nhăn mặt, nhíu mày suy nghĩ chợt nghe rầm rầm, cây gỗ lúc nhúc dạt ra rồi từ từ trôi đi. Rất là kỳ lạ, chẳng thấy tác động gì, cây gỗ như tự động di chuyển. Và một vài người theo sau cùng với gỗ thấy thấp thoáng bóng trắng ẩn hiện trong các lũy tre bên kia bờ. Từ đó ông thầy Bí Ẩn là hổ tinh người ta càng tin hơn cho tới tận lúc này.
Với cu Sô do đã thấy thoáng dáng ông và có điều gì đó khang khác trong mắt ông Tiên kể chuyện khi ông nhắc tới rồi bỏ qua liền nên nó không tin là vậy. Trong đầu nó xuất hiện một màu thần chưởng. Nó đọc được những cuốn truyện về võ thuật, võ công siêu phàm của ba nó cất giấu được. Nó nghĩ ông thầy Bí Ẩn như những người tu luyện lâu năm trong động, trong cốc, râu tóc bạc phơ, sống lâu hơn trăm tuổi nên đã đạt được nội công thâm hậu, đạt được thần chưởng và ông là giáo phái tâm đạo chứ không phải là tà giáo nên cứu nhân độ thế.
Một buổi hoàng hôn êm ả mát mẻ nhưng đượm buồn, mảnh đất bên này suối giáp ốc đảo Bí Ẩn lại một lần nữa loang máu đổ. Lần này không phải là tai nạn mà máu thổ huyết tràn lênh láng của một ông là hậu duệ cha ông khai phá đất này. Đổ biết bao công cức, biết bao mồ hôi nước mắt và cả máu mới nên nhưng bây giờ người ta trưng thu tất cả để vào hợp tác xã. Chỉ chừa lại mảnh đất nho nhỏ làm vườn xung quanh nhà. Ông đau buồn sinh bịnh. Người ta lại phát cho một bọc thuốc từ trạm y tế, bọc thuốc xuyên tâm liên gọi là thuốc trị bá bịnh, như là thần dược. Những người hiểu biết chỉ có lắc đầu, trên đời làm gì có thuốc thần tiên. Xuyên tâm liên cũng tốt như chỉ dành cho một số bịnh nào đó thôi. May, khi ngã xuống, xung quanh bốn bề vắng lặng như tờ thì ông lờ mờ thấy được người bận nguyên bộ đồ trắng, râu tóc cũng trắng phau cứu giúp, ông không biết bằng cách nào nhưng máu ngưng chảy rồi ông được đưa về nhà bằng cách nào đó cũng rất bí ẩn cùng bọc thuốc Nam với cả chỉ dẫn. Con cái ông ở nhà cũng không hề hay biết, chỉ thấy ông đã nằm gọn trên tấm phản trong nhà với bọc thuốc này. Và ông chắc chắn đó là ông thầy Bí Ẩn. Câu chuyện lan truyền cu Sô nghĩ rằng không chỉ giỏi về võ thuật võ công, ông thầy Bí Ẩn còn rất giỏi về các bài thuốc chữa bịnh trong dân gian.
Những năm tháng bà con cô bác phải vào làm ăn tập thể, ốc đảo Bí Ẩn vẫn không ai đá động tới, ông thầy Bí Ẩn vẫn một mình một cõi nơi đây.

Từ khi nghe được câu chuyện cha ông đi khai hoang, cu Sô không còn ghét đêm tối trời.
Đêm tối trời nó vui mừng là đêm có đom đóm. Nó bắt chước ông Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi bắt đom đóm bỏ vào vỏ trứng. Vỏ trứng khá hiếm nên phải giữ kỹ càng. Bắt đom đóm làm đèn phát sáng vui chơi chớ không phải lấy ánh sáng học bài. Nó vẫn còn có cây đèn dầu hột vịt dù leo lét và hay bị tắt ngúm do ngọn gió thổi ngang khi bị bể bóng đèn, chưa kịp có bóng mới để thay, bóng đèn cũng thuộc hàng xa xỉ nhưng buộc phải có, còn hiếm hơn vỏ trứng. Cái đèn dầu lớn hao dầu nên chỉ đốt những dịp tết, giỗ quảy, có khách quý… Ý nghĩ là lạ trong nó rằng, nhờ đom đóm mà ông Trạng nguyên thành tài. Nó cũng muốn như vậy, muốn soi những vùng u tối trong mình, nhiều chuyện khó hiểu với nó quá chừng quá đỗi. Có lúc nó lóe lên, hiểu ra một điều, nó thấy mình phát sáng, đó là lúc vui mừng hơn tất cả, càng tự tin sẽ tiếp tục phát sáng. Và đó là niềm hy vọng để nó chờ đợi đêm tối trời.

Đom đóm có khi nhiều có khi ít.
Ta cũng vậy, bản nhạc có khi dài, có khi ngắn. Có khác là bản nhạc khó làm nên từ một hay vài nốt. “Tưng” – “Vui”, “Tưng tứng từng” – “Vui quá chừng”, có thể là một bài nhạc, nhưng chưa đủ vui, lặp đi lặp lại thì nhàm chán.
Đom đóm thì có một con giữa đêm tối trời.
Cu Sô thấy một đốm phát sáng. Nó chạy lại định bắt thì vấp té cái đụi, ngã lăn quay. Một ánh đén pin sáng lên rọi vào nó. Tiếng quát lớn đi theo sau:
“Thằng quỷ sứ. Phá hả mậy, gông cổ bây giờ.”
Liền ngay đó là tiếng chân người vùng chạy ào ào chỗ gốc cây lớn gần kề. Nó đứng dậy rúm người trong ánh đèn pin và tiếng quát mà chẳng biết ất giáp gì rồi bị nhéo tai buộc chỉ đường đưa về nhà, giải thích bao nhiêu cũng bằng thừa. May ở nhà còn cái đèn đom đóm mà con đom đóm nằm chết queo với xác nhận của cha nó mới tạm thoát, vẫn còn nghi ngờ phá đám. Cha nó im lặng không la chửi, chỉ kêu đi ngủ. Làm sao nhắm mắt được với tội lỗi tày đình bị gán ghép này. Qua mẫu đối thoại bên ngoài và những mẫu chuyện đàn anh lớn hơn kể lại nó mới biết thêm, ngoài ma quỷ, trong đêm tối trời còn có màu lén lút và màu rình mò. Một cặp đôi nào đó lén lút bên gốc cây, phả ra màu hơi thở gấp gáp nóng hổi, màu đôi môi run run chạm vào nhau nồng cháy, rồi màu trầm xuống, màu của nín thở, bàn tay lần mò, lần mò bật nút áo sao cho nhẹ nhàng nhứt, sao cho không phát ra tiếng động, tới màu của nín thở hết sức có thể để phát ra thì thào, anh yêu em và ngược lại em yêu anh vừa đủ cho đôi tai của nhau nghe… Đó là màu của cây mắc cỡ, ai động vào sẽ khép lá ngay tức thì, mắc cỡ không biết đi, biết có lẽ cũng trốn vào đêm tối. Màu của rình mò cũng nín thở nhưng nín thì cũng phải phả ra, phả ra hơi không nóng hực mà bốc mùi khó ngửi như tiếng xì hơi bị dồn nén. Màu này kèm màu mắt lăm lăm, mắt cú vọ rực sáng trong đêm tối, màu thân thể của chó sói chực vồ mồi… Rình mò để chực bắt tại trận những kẻ lét lút hò hẹn bị gán cho là lăng loàn. Nó cũng chưa hiều rõ nghĩa lăng loàn là gì, mơ hồ là bậy bạ, là sai trái. Những ánh mắt rình mò mang tên cán bộ, kết hợp rất nhiều, cán bộ xã đội, công an và văn hóa, đôi khi có hội phụ nữ, đoàn thanh niên… Những kẻ tuổi thanh niên cả nam lẫn nữ “lăng loàn”, những kẻ tuổi thanh niên cả nam lẫn nữ chưa “lăng loàn” được cán bộ dạy bảo luôn luôn mang trong mình một tình yêu trong sáng, một tình yêu minh bạch, một tấm gương trinh nguyên… Cu Sô chưa biết tức cười, nó chỉ thấy sự mâu thuẫn, sự lạ đời. Người ta cũng dạy cho những kẻ tuổi thanh niên cả nam lẫn nữ “lăng loàn”, chưa “lăng loàn” rằng phải có tư tưởng mới, tư tưởng tiến bộ, tư tưởng tự do, đến với nhau bằng tình yêu tự do, không bị áp đặt, không bị tư tưởng cổ hủ áp đặt là cha mẹ ông bà đặt đâu ngồi đó, không mối lái mai mối mồi chài trong tình yêu… Tự do là phải ngồi một đống trước làng nước qua lại để trò chuyện, tìm hiều rồi nói anh yêu em, em yêu anh không chút ngượng ngùng hay sao? Không được thử hơi thở có nóng hổi, có hòa hợp, đôi môi có run run thiệt tình trong tình yêu, hay phải thử trước làng nước? Thanh niên là phải hùng hồn, là phải anh dũng, là phải kiên định, là phải lập trường… cho dù là nữ cũng phải vậy(!). Cọc đi tìm trâu thì có sao(?!). Không được tồn tại khái niệm mắc cỡ, ôi! cái loài hoa mắc cỡ thiệt kỳ quặc(!). Phát sáng trong đêm tối lần này nó đã lầm, nhảy vào chụp bắt không phải là đom đóm mà có thể là miếng đai nịch bằng inox hay viên đạn đồng, đạn bạc chưa lắp vào khẩu súng phát ra.
Đom đóm có khi có cả đàn. Cả đàn như bãi sao sa. Những đóm lân tinh đẹp hơn vì nó ở gần, tận mắt thấy nhấp nháy phát sáng rất sáng, rất lung linh. Những đêm như vậy nó không bắt nữa mà nằm sải dài người ngay bên cạnh, tiếp tục ước và dĩ nhiên nghĩ mình sẽ phát sáng rất sáng, rất lung linh.

Nó không ngã người một mình mà cùng với đám bạn con nít là ngã ở ụ rôm những đêm tối trời đầy sao. Bầu trời đầy sao đẹp đẽ chỉ sau đàn đom đóm bởi đom đóm thấy ngay cận kề. Có bữa nó nghe chuyện trò, kể chuyện, có bữa nó bỏ qua, chằm chằm bầu trời mà đếm sao. Nó ví con người như những vì sao. Sao ông sao bà, sao cha sao má, sao anh sao chị sao em, sao bạn bè, sao bà con xóm giềng… Những sao lớn nhưng xa xôi là những người cán bộ và của thầy cô.
“Của thầy cô mà xa xôi?”
“Ừ, của thầy cô.”
Một lúc nào đó ta sẽ tấu khúc nhạc vui nhộn nhưng có xen nhiều dấu lặng, sẽ gặp nó ở điều này.
Cu Sô cảm nhận về sao dừng lại ở đó. Cũng như những giọt sương long lanh, về sau nó mới nhận ra hết vẻ đẹp của sao, của ánh trăng.

Có một đêm tối trời nó rất mong chờ, đây là đêm tối trời nhứt, đó là đêm ba mươi. “Tối như đêm ba mươi”, đêm tối như mực đã được lưu truyền trong dân gian không biết từ bao đời, có lẽ từ ngàn xưa. Đêm ba mươi, đêm cuối cùng, cánh cửa cuối cùng khép lại một năm. Đêm tối nhứt lại chuẩn bị mở một cánh cửa cho một năm mới. Một năm phía trước chưa biết ra sao nhưng chí ít mở ra ngày mùng một sáng tươi và những ngày xuân hồng, vui nhộn trước mắt. Nó khoái màu lửa bập bùng, màu những cục than to tướng từ những khúc củi bự cháy thành, củi lửa nấu nồi bánh tét, có mấy đòn bánh của nó trong đó, mấy đòn nhỏ xíu vụng về so với bánh tròn dài rất đẹp của cha của má làm thiệt điệu nghệ. Cả nhà thay phiên nhau canh chừng và lăng xăng chuẩn bị bông hoa, mâm ngủ quả. Lúc có một mình nó len lén bỏ vào mớ cành củi nhỏ, những cành củi đan chéo, chồng lên nhau cháy hết rụm xuống từ từ giống như tổ ong màu đỏ, như ngày đốt cỏ còn lại tàn lửa, trong lò cây củi đượm hơn, giữ lâu hơn và tự tay nó làm nên thấy đẹp tuyệt vời hơn. Mâm ngũ quả trên bàn thờ ông bà tổ tiên đã bày xong từ sáng cùng với bàn thờ Phật để buổi trưa cúng đón rước về cùng ăn tết. Đồ ăn ngon từ trưa còn lại nó còn no và ngán chớ không với bếp lửa này nó nghĩ ngay tới củ khoai lang lùi, trái bắp nướng… Mâm ngũ quả đang chuẩn bị là để giành giờ phút cúng mở cánh cửa năm mới, giờ phút giao thừa. Lăng xăng chuẩn bị nhưng rất nhẹ nhàng, nói năng nhỏ nhẹ hầu giữ cho bầu không khí tĩnh lặng, thật tĩnh lặng để chờ đón giờ phút thiêng liêng lắm lắm! Và cả tĩnh lặng để lắng nghe tiếng chuông chùa, tiếng chuông nhà thờ gióng lên từ xa xôi vang vọng tới cho đúng thời khắc, cha trang nghiêm đốt những nén nhang vái lạy. Không có tiếng điểm của đồng hồ, đồng hồ thuộc màu xa xỉ. Và sau đó là tiếng pháo nổ đì đùng. Làng quê thanh vắng tiếng nổ vang xa và vọng. Những viên pháo đỏ nổ tung tóe, xác lại ra màu hồng phơi đầy. Cu Sô nghĩ nôm na, có lẽ vậy mà được gọi là xuân hồng, bởi xuân sặc sỡ màu vàng, vàng của cội mai cổ thụ trước sân, vàng của gốc mai rừng chặt về chưng trong nhà, trong rừng cũng vàng mai khắp nơi, rồi vàng của vạn thọ, của cúc, của hướng dương, lát đát tô điểm vài màu cúc đỏ cúc trắng, một ít đỏ của mào gà không đủ khoe sắc với màu vàng tươi, tới ánh nắng cũng hao hao vàng. Qua thời khắc giao thừa nó lên giường ngủ vùi, phần do thức khuya phần buộc không nghĩ ngợi điều gì để sáng mai tránh kiêng cữ, tránh gương mặt ủ dột ỉu xìu, đầu tóc bù xù rũ rượi cạo gãi tứ tung, hay co ro vòng tay sát ngực… để đón xuân may mắn. Lúc này và vài năm về sau nữa không được như những năm trước nhưng tụi con nít vẫn vui. Vẫn có bộ áo mới súng sính chạy nhảy ra ngoài lộ mà xum xoe. Không có món xa xỉ khổ qua nhồi thịt, chả lụa, nem chua thì vẫn còn nồi măng kho dù ít thịt đi, nồi thịt kho hột vịt lưng bớt, vẫn còn hủ dưa món, khạp cải tà xị muối chua. Không có món xa xỉ bánh mứt thì vẫn có cái bánh in đóng bằng bột nếp lạt hơn bởi ít đường, học cốm đóng từ nổ nếp cũng vậy. Những thứ có được từ sự chắt chiu, nhịn nhục để dành, dù sao cũng là tết, đón ông bà cúng tổ tiên. Hơi buồn chút là thiếu tiền lì xì và những viên pháo lẻ đốt nổ bì bùm như những năm trước. Người lớn tới chúc tụng cũng ráng bỏ gương mặt lo âu, phiền muộn chán chường để hy vọng, nhâm nhi chút rượu với củ kiệu mà tôm khô đã búng bay đâu mất, hủ tai heo ngâm chua cũng vậy, đã “vẫy tai” chào đi…

LÊ ĐẮC HOÀNG HỰU

TRỜI XÁM

truongdinhphuong

Trời u ám, mây như tấm màn xám bọc lấy khoảng không gian, gió vần vũ, xác lá vàng rơi ngập đường. Nguyễn Du ngồi bên ấm trà nóng, mắt mơ màng nhìn vào cõi thinh không. Hình ảnh những phận người trong cõi trần gió bụi lần lượt lướt qua tâm trí Du.
Cuộc đời Du trải qua bao thăng trầm biến thiên, nay đã ngán ngẩm bả phù danh. Du chỉ muốn an nhiên tự tại thả hồn vào mây trời trăng nước, nhưng lòng Du cứ luôn đau đáu về số phận những kẻ thấp cổ bé họng trong cõi nhân thế này.
Du nâng chén trà uống một ngụm, vị trà sen thơm ngát lan tỏa, xông lên mũi làm tâm trí Du khoan khoái. Du như bồng bềnh trong cõi hư huyễn.
Du đang miên man trôi trong giấc mơ thì tiếng người nô bộc bất ngờ vang lên bên cạnh:
-Dạ bẩm ông.
Du giật mình choàng tỉnh quay lại hỏi khẽ:
-Có chuyện gì vậy?
Nô bộc đáp:
-Dạ thưa nhà cái Xoan cho người sang nhờ ông viết giúp bài văn tế ạ.
-Nhà Xoan ai vừa chết vậy?
-Dạ bẩm chồng thị đi tìm trầm trong rừng bị ngã xuống vực mà chết.
Toàn thân Du rúng động. Nhà cái Xoan hoàn cảnh bần hàn, Trần Chung chồng thị trước đây cũng là một tay học trò có tiếng nhưng vì đường công danh trắc trở đành gác việc bút nghiên, lao vào dòng đời kiếm miếng cơm manh áo.
Cha Trần Chung đã chết vì bị triều đình xử chém trong một vụ án văn. Nhà hắn còn mẹ già hơn tám mươi tuổi, một vợ và ba đứa con nhỏ.
Hai mắt Du rơm rớm lệ, khẽ nói:
-Ngươi vào mài mực rồi đưa giấy bút ra đây cho ta.
Người nô bộc đưa giấy bút ra. Du chấm mực viết một mạch xong bài văn tế , trao cho người nô bộc nói:
-Ngươi đưa sang cho nhà Xoan, à nhớ mưa ít đồ hương vàng thay ta sang thắp cho Trần Chung vài nén nhang nhé.
Người nô bộc dạ khẽ rồi cúi mình chào Du. Còn lại một mình Du lại chìm vào suy tưởng. Trên ngọn cau đầu hồi tiếng con cú rúc lên từng nhịp buồn thảm. Dưới mảnh sân rêu con chó co ro thu mình trong ổ rơm, ư ử rên vì lạnh. Du bất giác thở dài….
Mấy tháng nay Nguyễn Huệ đem quân ra thăng Long với danh nghĩa phò Lê diệt Trịnh. Kẻ sỹ khắp nơi tìm đến đầu quân cho Huệ. Khản bảo Du:
-Chú có tài sao không theo Huệ cống hiến vì dân vì nước.
Du lơ đãng nhìn đám mây cháy cuối trời khẽ nói:
-Ai cũng bảo Huệ là tay dũng tướng tài năng xuất chúng, có tấm lòng quảng đại, tài trí hơn người riêng em lại nghĩ khác.
Khản hỏi:
-Ý chú thế nào?
Du đáp:
-Anh chờ rồi sẽ thấy.
Dứt lời quay đi, im lặng. Khản lắc đầu, rời gót.
Đêm thu không khí êm như nhung. Du ngồi dưới ngọn đèn dầu lạc, tâm trí để cả vào ngòi bút, mỗi chữ như tút từ gan ruột, nước mắt Du lặng lẽ rơi.
Người nô bộc mỗi lần mở hé cửa ra nhìn thấy Du đang say sưa đưa bút, lắc đầu, đóng cửa lại. Du buông bút. Cho tay vào miệng, nghiến chặt. Năm đầu ngón tay bật máu. Du lẩm bẩm:
-Thế sự đa đoan, ta biết làm gì. Dòng sông đục ngầu ta chỉ là con cá nhỏ biết phương nào mà bơi về đây.

Sáng sớm mưa như trút. Du ngồi bên mái hiên ngắm mưa rơi. Lòng ngổn ngang trăm mối.
Thời gian này Du vẫn để tâm nghe tin tức ngoài Thăng Long. Huệ đã tiêu diệt bọn phản loạn và trao lại quyền bính cho vua Lê. Tuy nhiên đó chỉ là vẻ bề ngoài. Thực sự Huệ vẫn nắm toàn bộ quyền chính trong tay. Hôm qua Khản lại sang. Khản nói:
-Chú nói đúng, Huệ là tên khốn nạn. Hắn thừa nước đục thả câu, lần này hắn đem quân ra Hà Bắc thực chất là muốn chiếm đoạt giang san của nhà Lê chứ đâu phải có bụng tốt giúp dẹp phản loạn. Anh tính tập hợp kẻ sỹ kéo quân ra Bắc sống mái với Huệ một phen. Chú có ý kiến gì chăng?
Du nói:
-Anh đừng nên vọng động. Thời thế bây giờ đang hỗn loạn như canh hẹ. Nhà Lê cũng chả tốt đẹp gì. Cứ để cho Huệ và vua Lê đấu đá với nhau.
Khản nói:
-Thiên hạ nói chú là kẻ bạc nhược thật chả sai. Anh đã nhìn lầm chú.
Du nhìn theo dáng Khản lắc đầu. Khản cũng như mọi người vĩnh viễn không hiểu được tâm can của Du.
Mưa mỗi lúc một dữ dằn. Du tựa đầu lên tay, chập chờn đi vào giấc ngủ.
Thăng Long thành. Đêm mùa xuân. Du ngồi bên bàn, ngọn đèn dầu lạc khi mờ khi tỏ. Tiếng đàn nguyệt cầm như từng sợi tơ xuyên vào tâm hồn Du.
Mọi âm thanh cuộc sống lúc này dường như không còn tồn tại, chỉ có người con gái mảnh mai ngồi trước Du từng ngón tay thon mềm đang lướt trên những cung đàn ma mị.
Khuôn mặt người đẹp sầu như cánh hoa chiều muộn. Du lặng lẽ quan sát, lòng như không uống rượu mà say.
Trời khuya dần. Ngoài phố lác đác bước chân của những kẻ lang bạt. Du bước lại mở hé khung cửa sổ. Ánh trăng nhờn nhợt chiếu vào gian lầu nhỏ, không khí khăm khẳm.
Người đẹp đã dừng đàn, đang lặng lẽ nhìn Du. Du nói, âm thanh như vẳng về từ cõi xa xăm nào đó:
-Mai ta đi rồi, chả nhẽ nàng không có gì muốn nói cùng ta sao?
Bàn tay người đẹp khẽ vòng qua tấm thân gió bụi của Du, một cảm giác dịu dàng ấm áp. Tâm hồn Du chao đảo. Gió xuân như chiếc lưỡi tình nhân lả lướt trên khuôn mặt rám mùi dâu bể. Du cầm lấy bàn tay bé nhỏ của người đẹp.
-Lần này chia tay không biết có còn ngày gặp lại, nàng hãy vì ta mà sống cho thật tốt nhé.
Người đẹp tựa đầu vào vai Du, giọng oanh đượm nỗi thê lệ:
-Chàng không thể nán lại cùng thiếp thêm dù chỉ một ngày thôi sao?
-Đời kẻ nam nhi lấy gian nan làm thuyền, lấy đường xa gió bụi làm nhà, lấy khát vọng thay trời đổi đất làm chí hướng, nàng hiểu không?
-Thiếp hiểu. Những ngày qua ở bên nhau những tâm sự của chàng khiến thiếp thêm hổ thẹn bởi mình chỉ là gái giang hồ, phận liễu bồ mềm yếu không thể cùng chàng xông pha gió bụi cùng tạo nên nghiệp lớn.
Du thở dài:
-Trai thời loạn da ngựa bọc thây, gái thời loạn lênh đênh bể khổ. Thật đúng lắm thay!
Du quay lại, hai bàn tay đặt lên bờ vai thon của người đẹp. Hai đôi mắt nhìn nhau vừa đắm đuối thiết tha vừa trăm mối tơ vò.Người đẹp khẽ tựa vào ngực Du từng lời nói như bàn tay mượt mà xoa dịu trái tim Du:
-Chàng hãy ôm thiếp cho thật chặt có được không? Sao đêm nay thiếp thấy thân thể thiếp lạnh lẽo quá. Hãy sưởi ấm tâm hồn kẻ hèn mọn này trong những giây phút sau cùng để mai này hai ngả biệt ly mỗi khi mưa khóc sương hờn thiếp nhớ về đấng trượng phu để cõi lòng cô độc tìm thấy sự ấm áp.
Du ôm chặt người đẹp. Gió đêm lẻn qua khung cửa sổ đùa giỡn ngọn đèn dầu lạc chập chờn chực tắt.
Bên ngoài tất cả đã chìm vào sự im lặng muôn đời của đêm khuya. Du khép cửa sổ lại, dìu người đẹp đến bên giường….
Trái tim hai người tăng nhịp theo từng cung bậc cảm xúc. Du nói:
-Ta và nàng chỉ là hai kẻ lưu lãng giang hồ gặp gỡ nhau là duyên phận ly biệt cũng là duyên phận, xin nàng hãy nhận của Du này một lạy gọi là sự cảm tạ nàng bấy nay đã cho ta nương náu chốn này.
Người đẹp giơ tay ngăn cản:
-Đừng chàng đừng làm thế.
Tiếng dế buồn thảm thả vào màn đêm thăm thẳm. Bàn tay Du lần theo từng cúc áo của người đẹp…Hơi thở của người đẹp dồn dập.
-Không, ta không thể…
Du vùng đứng dậy. Chạy lại mở tung cửa sổ. Ngoài trời đang mưa. Từng giọt nước thi nhau bắn vào thân thể Du. Khuôn mặt Du ướt đẫm. Du thấy lòng mình ngập tràn sự thống khổ. Du yêu nàng nhưng Du không thể…
Người đẹp gài lại áo, lặng lẽ ngồi xuống bàn, những giọt lệ âm thầm rơi. Họ cứ như thế kẻ ngồi người đứng, mà trong tâm hồn đang từng cơn bão giông vần vũ…

Du tỉnh dậy chiều đã buông đầy mảnh sân gạch. Người nô bộc đặt ấm trà trước mặt Du nói khẽ:
-Dạ mời ông dùng trà.
Du quay lại nhìn người nô bộc cười, nụ cười của người bạn dành cho người bạn.
Du nói:
-Ngươi vào thu xếp hành trang, mai chúng ta lên kinh.

Đã gần bảy năm trôi qua, kể từ độ Du rời Thăng Long, bao nhiêu mong nhớ Du cất giữ dưới đáy lòng. Lần này quân Tây Sơn kéo ra Bắc , lòng Du bỗng trào dâng niềm lo lắng cho người con gái năm xưa. Du từng nghe người ta nói về Huệ. Huệ là tay kiêu hùng, sức vóc như mãnh hổ, trí tuệ hơn người nhưng Huệ lại là tay thô lậu trong lối hành xử với đàn bà. Những kẻ đi theo Huệ bảo rằng Huệ là kẻ háo sắc, thấy gái đẹp như chim ưng thấy gà con. Đã có biết bao nhiêu dân nữ bị chứng dâm cuồng của Huệ làm cho “nát liễu tan đào”. Huệ có thói quen mỗi lần hành lạc thường bắt người đàn bà cởi trần truồng nằm dưới nền đất rồi Huệ lấy rượu đổ khắp thân mình, Huệ lại vạch miệng đổ rượu cho đến khi đối phương say ngất ngư, lúc bấy giờ Huệ cởi hết áo quần đứng nhìn con mồi cười sảng khoái…
Mỗi lần Huệ hành lạc kéo dài cả tiếng đồng hồ, thõa mãn Huệ nằm lăn ra ngủ.Huệ ngủ thường hay ngáy.Tiếng nói của Huệ như chuông vỡ , cái uy khiến kẻ khác run sợ. Nhưng tiếng ngáy của Huệ lại ri rí như tiếng cú rúc trong đêm trường tăm tối.
Những thôn nữ sau khi đã bị Huệ chiếm đoạt sự trong trắng sẽ bị tiệt luôn đường sống, những kẻ dưới trướng Huệ lôi con mồi ra một nơi kín đáo bóp cổ cho đến chết rồi cắt nhỏ ra từng phần đào đất chôn chặt, sau đó san phẳng, người ngoài nhìn vào không thể phát hiện ra chỗ đó vừa bị đào xới.
Thủ đoạn đó của Huệ được bọn hạ nhân giấu nhẻm như mèo giấu cứt lại thêm những hành vi “ tự vẽ mặt anh hùng” của Huệ càng khiến nhân dân bốn cõi nhìn Huệ như một vị thánh sống. Trong quân của Huệ có tay Trương Thoại làm người chăm voi cho Huệ vốn là bạn tri giao của Du, thi thoảng hai người vẫn biên thư thăm hỏi nhau. Qua lời kể của Thoại, Du nắm bắt khá rõ về con người của Huệ.
Thoại còn tiết lộ với Du, không chỉ là kẻ dâm ô mà Huệ còn là tay khát máu. Năm 1777 Huệ đem quân đánh thành Gia Định nhân dân trong thành nguyện trung thành với chúa Nguyễn nhất quyết thà chết không đầu hàng. Huệ điên tiết ra lệnh cho quân lính chôn sống hai mươi hộ dân tổng cộng hơn một trăm nhân mạng hòng đe dọa dân chúng trong thành. Sự việc này lịch sử không hề nhắc đến!
Những điều ấy Du giữ kín trong lòng. Du biết Huệ là kẻ có tài kinh bang tế thế nhưng bản thân Huệ xuất thân hèn kém, giống như con cú phút chốc biến thành phượng hoàng từ kẻ tay trắng bỗng đâu quyền hành đầy tay, dĩ nhiên những thói xấu tiềm ẩn lâu ngày sẽ theo đà mà bộc lộ.
Ngày mai Du sẽ trở lại Thăng Long, ngoài mục đích gặp lại người con gái năm xưa Du còn muốn xem sự tình ngoài đó hiện nay thế nào.
Ăn cơm chiều xong Du cho người sang mời Khản. Nghe bảo Du có chuyện quan trọng về Thăng Long cần bàn, Khản không kịp thay đồ tất tả đi theo người nhà Du.
-Chuyến này em định cùng anh ra Thăng Long xem xem sự tình ngoài đó thế nào. Theo ý em chỉ cần hai anh em mình đi là đủ, chớ nên mang theo người hầu lỡ có sự việc gì xảy ra thêm rối.
Khản nhấp ngụm trà, nói:
-Chú nói cũng phải. Hiện nay Huệ như thế nào chúng ta chưa nắm rõ tốt nhất chớ nên đánh rắn động cỏ.
Du đáp:
-Tính anh cương trực hay hành động nóng vội, lần này anh phải thật bình tĩnh có chuyện gì cũng từ từ tính toán.
Khản cười ha hả:
-Chú cứ làm như anh là trẻ mục đồng không bằng. Rứa nhé để anh về thu xếp, chú ngủ sớm đi, mai anh em mình lên đường.
Khản ra về. Du cầm mãi chén trà trên tay, nhìn vào bóng tối. Từ phía dòng Lam vẳng lên điệu “giặm kể” buồn da diết. Du buột miệng thốt:
-Mai ta lại phải rời mảnh đất thân thương này rồi!
Làn gió lạnh phớt qua sân. Tiếng dế ngoài thềm xoi xói…
!
Thăng Long thành qua cơn binh biến phờ phạc như người phụ nữ bị hiếp dâm. Những ngôi nhà kiến trúc cầu kỳ nay cửa lủng ngói nát. Nét mặt dân chúng người nào người nấy lấm la lấm lét như tù mới được tha.
Du và Khản ghé vào quán nước bên đường. Du hỏi bà cụ chủ quán:
-Nghe nói từ khi Nguyễn Huệ đem quân ra dẹp loạn đời sống dân chúng ổn định lên nhiều phải không cụ?
Bà cụ nhìn quanh dò xét hạ giọng nói:
-Hình như hai bác là người Nghệ?
Khản đáp:
-Đúng vậy.
Bà cụ nói:
-Chả giấu gì các bác từ khi Huệ ra đây làm bao nhiêu việc thất đức khiến nhân dân oán hận nhưng quân Huệ như beo như cọp nên dân chúng ai cũng sợ chả dám lên tiếng. Vua Lê thì ngu hèn Huệ nói gì cũng nghe. Trăm quan có mắt như mù.
Du liếc mắt ra hiệu với Khản, lấy tiền trả tiền nước chào bà cụ rồi hai anh em vội vã đi tìm nhà trọ. Chiều buông nhanh, thành Thăng Long run rẩy như người mới ốm dậy.
Đêm. Kinh thành Thăng Long tĩnh lặng. Có vẻ như qua cơn binh biến sự nhiệt náo của vùng đất này đã bị bóp nghẹt thay vào đó là sự đìu hiu, hoang phế.
Chỉ có nơi nhà thổ không khí mua hoa bán nguyệt vẫn diễn ra rôm rả như thường. Thời đại nào cũng vậy, chuyện nhục dục luôn là món ăn khoái khẩu của loài người. Cái nghèo khổ, túng quẩn hay cuộc sống luôn bị cái chết rình rập không khiến người ta quan tâm bằng nhục cảm thể xác.
Du và Khản chậm rãi tiến về phía khu phố “Bình Khang”. Mấy năm nay Thăng Long thành kỹ viện thi nhọc mọc. Mỗi kỹ viện ra sau càng được xây dựng kỳ công hơn, từ lối trạm trổ tinh vi đến lối trang trí lòe loẹt với mục đích chèo kéo khách làng chơi.
Hai bên đường những cô gái trạc tuổi đôi mươi ăn mặc hở hang, uốn éo chào mời. Khản nắm chặt tay, nghiến giọng:
-Hủ bại quá đi mất, nhà Lê đến thời mạt vận rồi. Ngay giữa chốn kinh thành mà ô uế thế này thử hỏi sao mà dân không loạn nước không nhơ.
Du nói khẽ:
-Anh bình tĩnh, hãy nhớ chúng ta đi chuyến này tránh được rắc rối từng nào hay chừng đó.
Khản vẫn còn hậm hực:
-Thật sự ta đã thờ nhầm chúa.
Hai người thận trọng đi đến Tĩnh Nguyệt Lầu. Du muốn rẽ qua thăm người năm cũ. Lần này ra Bắc theo chủ ý của Du nên Khản hoàn toàn chấp nhận nghe theo chỉ đạo của Du.
Hai người lấy phong thái đạo mạo bước vào, ngay lập tức năm sáu cô nàng môi hồng má thắm chạy lại xun xoe:
-Ôi hai vị đại quan nhân, lâu quá mới thấy hai vị ghé chơi, khiến tụi em nhớ quá giời.
-Ấy ấy, mày tham vừa thôi chứ, để vị này cho tao.
Thôi thì trăm câu ngàn câu ong ve . Khản cau mày khó chịu. Du day day áo Khản. Khẽ cười nói:
-Xin các nàng cho hỏi hiện nay nàng Nguyệt Cầm có còn ở đây nữa chăng?
Mấy cô nàng liếc mắt nhìn Du lại nhìn Khản. Một cô nói:
-Không ngờ hai vị cũng là tay trăng gió không phải dạng vừa. Nguyệt Cầm cô nương hiện tại vẫn là “món đồ quý” ở chốn này, tuy nhiên hôm nay hai vị đến muộn mất rồi. Đêm nay Nguyệt Cầm cô nương đang bận tiếp một vị khách vô cùng quan trọng, một vị anh hùng uy vũ bốn phương.
Một ý nghĩ chạy nhanh qua đầu Du, lẽ nào kẻ đó là Huệ chăng.
Ngay lập tức Du nắm tay Khản chạy nhanh lên lầu, mấy cô ả không ngăn kịp la oai oái. Đã gần mười năm nhưng Du vẫn còn nhớ rõ căn phòng năm xưa. Cẩn trọng hai người tiến sát lại. Phía trong tiếng một người đàn ông, giọng như sấm rền:
-Nàng hãy chiều ta đêm nay, đảm bảo rồi đây ta sẽ trao cho nàng cuộc sống phú quý đầy đủ.
Tiếng người đàn bà run rẩy, van vỉ:
-Xin ngài hãy tha cho thiếp, nếu Ngọc Hân công nương mà biết thì cái mạng hèn của tiện thiếp có khác gì con sâu con kiến, chết không đất dung.
Cộp tiếng chén dằn xuống mặt bàn:
-Khốn nạn, ả là cái quái gì, ngay cả chuyện làm cho đàn ông sướng khoái ả cũng chả biết, thì mang danh công chúa thật uổng quá.
Du ghé mắt nhìn qua khe cửa. Một gã đàn ông uy phong lẫm liệt đang ngồi rót rượu uống như voi, đích xác là Huệ.
Người đàn bà vẻ đẹp chim sa cá lặn tay ôm chiếc đàn Nguyệt ngồi co rúm dáng điệu sợ sệt. Người đó chính là ý trung nhân trong mộng của Du.
Huệ đứng dậy tiến về phía người đẹp. Bàn tay thô bạo chộp lấy bờ vai nàng. Nàng run lên:
-Ngài say quá rồi, ngài về nghỉ ngơi đi mai tiện thiếp xin hầu đàn tiếp.
-Ta chưa bao giờ sayrượu, nàng nên biết Huệ này chỉ say một thứ mà thôi, đó là giang san Đại Việt này. Từ khi ta sinh ra trên cõi đời này đến nay thiên hạ luôn nhìn Huệ này bằng ánh mắt khinh thường, ngay cả anh em của ta cũng xem nhẹ ta, ta thề phải làm nên nghiệp lớn cho chúng nhân mở mắt mà nhìn Huệ này đầy ngưỡng mộ. Nhưng đêm nay, ha ha, ta mới phát hiện ra ta còn say một thứ nữa, đó chính là sắc đẹp có một không hai của nàng.
Người đẹp hoảng hốt đứng dậy, thoát khỏi bàn tay của Huệ. Huệ lao đến như con hổ khát mồi.
-Nàng đừng cố cưỡng, hãy ngoan ngoãn chiều ta, thuận ta thì sống nhược bằng nghịch ta thì chỉ có nước chết mà thôi.
Sự dồn ép của Huệ đẩy người đẹp lui dần đến sát chân tường. Nàng nhìn Huệ đầy căm hận. Huệ cười sảng khoái:
-Ta nói rồi,cái gì mà Huệ này muốn nhất quyết dành cho bằng được.
Bên ngoài hai bàn tay Du nắm chặt tưởng chừng gãy từng khớp xương, toàn thân Du run lên vì phẫn uất, Khản đứng bên bầu máu cũng sôi lên sùng sục. Khản cảm thấy tởm lởm thay cho một kẻ được thiên hạ tôn xưng là đấng anh hùng đội trời đạp đất.
Hai bàn tay thô của Huệ ôm chầm lấy người đẹp, sự quẫy đạp của nàng thành vô dụng dưới sức mạnh beo cọp của Huệ. Huệ nắm tóc nàng kéo lê lại giường, vật nàng xuống, Huệ chộp lấy bình rượu trên bàn, đổ vào miệng nàng:
-Uống đi, uống với ta nào, say rồi hành lạc mới thống khoái.
Du nghiến răng nghiến lợi nói thầm “Qủa đúng như lời đồn của thiên hạ, hắn là một tay bệnh hoạn”.
Khản đưa tay sờ thanh gươm bên hông, bụng bảo dạ:
-Đêm nay ta thề băm vằm tên khốn nạn này, bây giờ ta mới hiểu vì sao hắn lại dựng Lê Chiêu Thống lên làm vua. Hắn muốn cho một kẻ nhu nhược hèn yếu hờ hững ngồi ngôi cao để dễ bề thay triều đổi ngôi khi cần, không ngờ mưu kế của ngươi thâm độc đến vậy.
Bên trong người đẹp đã bị Huệ nhồi rượu say khướt, tấm áo trên mình nàng đã bị Huệ xé rách lộ ra bầu ngực căng đầy. Hai hàm răng Du cắn vào nhau bật cả máu.
Khản đưa chân đá văng hai cánh cửa, nhảy vào phòng, chỉa mũi gươm vào Huệ thét lên:
-Hồ Thơm, ngươi là tên chó chết.Một kẻ dâm loàn, tàn bạo như ngươi không xứng đáng được muôn dân ca ngợi.
Huệ quay lại, hai mắt đỏ ngầu, hai con tròng vằn lên từng tia máu:
-Mi là ai?
Khản dõng dạc:
-Ta là Nguyễn Khản.
Huệ cười ngạo mạn:
-Thì ra là con cò hen Ngàn Hống.
Khản lao về phía Huệ quyết tâm một đường kiếm lấy mạng Huệ, Huệ lách người rút nhanh thanh gươm bên mình, vung lên gạt kiếm Khản.
Xoay tay đâm thốc vào ngực Khản, máu phún ra, Khản gục xuống, máu trào ra như suối.
Đúng lúc đó rượu cũng vừa ngấm sâu vào nội tạng Huệ, Huệ gục luôn xuống bàn, ngáy ri rí. Du liều thân lao vào phòng, nhìn nhanh ý trung nhân rồi mau chóng xốc lấy Khản tẩu thoát.
Lịch sử ghi chép rằng “Bấy giờ có cựu tham tụng Nguyễn Khản ở Nghệ An ra khuyên Đoan Vương “nên sai tướng đóng giữ kinh thành. Còn chúa thì rước xa giá vua Lê đi Sơn Tây, không chế miền thượng du để toan tính việc cử sự sau này. Vả lại ở bãi Tự Nhiên (Thường Tín, HàĐông) kíp thả cầu phao để chặn thủy sư của giặc. Hai bên bờ sông đóng đồn quân theo lối “vẩy sộp” để đề phòng có sự xô xát xung đột. Lại xin chiêu dụ bọn giặc thủy như Trương Dao và Ba Bá, ban thêm quan tước cho chúng, khiến chúng chặn đánh phía sau quân Thủy Tây Sơn. Huệ và Chỉnh đã nêu danh nghĩa phò Lê, nhưng khi vào kinh thành không gặp được Lê hoàng thì tiến hay lùi cũng đều bất lợi. Một khi giặc mỏi mệt, hết lương ăn, tình thế tất không ở lâu được. Bấy giờ ta kíp viết thư phi báo cho các hào mục Thanh Hóa và Nghệ An khiến họ chận đánh đường về của Tây Sơn thì dù không bắt được Huệ, Chỉnh, chúng cũng bị thiệt hại nặng. Chứ nếu giao chiến với chúng thì kiêu binh (của ta) quyết không thể dùng được. Nếu thua một trận hết sạch như chùi, việc nước tất hỏng mất “. Chúa toan nghe theo mưu chước của Khản, nhưng các quân họp lại, làm ầm lên, cho rằng Khản đưa giặc đến, rồi chực giết Khản.”
Nguyễn Khản phải xin đi Sơn Tây, Hưng Hóa chiêu dụ nghĩa sĩ, được một tuần quân ứng mộ khá đông ông giao cho em là tri phủ Nguyễn Trứ điều khiển tại Mỹ Lương. Ông được lệnh chúa triệu hồi, vừa về thì bị cảm bệnh, ông qua đời ngày 17/9Â.L. (1786)”
Cái chết của Khản là do chính tay Huệ giết lịch sử đã không ghi chép lại.
Du trở lại quê nhà. Sau khi an táng anh xong, hai năm sau Du về ở tại quê vợ Quỳnh Côi, Thái Bình , và sống một cuộc sống khép kín.
Ngày qua ngày Du giam mình trong nhà, không đi đâu, đêm đêm Du chong đèn tận khuya mài mực viết nên những bài thơ gan ruột, nỗi nhớ thương người con gái năm xưa luôn hiện về dày xéo tâm hồn Du.
Có hôm người nô bộc bưng bữa sáng vào phòng cho Du, Du hỏi:
-Bên ngoài trời trong hay xám?
Người nô bộc nói:
-Dạ trời quang đẹp lắm ạ.
Du xua tay bảo người nô bộc đi ra, thở dài tự nhủ:
-Trời quang đẹp sao? Nhưng sao xã hội vẫn còn tăm tối ?
Bao giờ thì đời sáng đây?

Năm 1802 Nguyễn Ánh tiêu diệt nhà Tây Sơn lập nên triều Nguyễn sau nhiều lần thoái thác Du chấp nhận ra làm quan, trải qua nhiều vị trí khác nhau, được cử đi xứ nhà Thanh, tuy nhiên trong thâm tâm Du không hề muốn vướng bận cân đai áo mũ. Lòng Du lúc nào cũng đau đáu nhớ về người con gái năm xưa. Và trong tâm khảm Du hình ảnh những số phận con người khốn khổ không lúc nào nguôi.
Du bị bệnh dịch chết ngày mồng 10 tháng 8 âm lịch (16 tháng 9 năm Canh Thìn (1820) lúc 54 tuổi.
Nghe nói trước lúc trút hơi thở cuối cùng Du hỏi người nhà:
-Chân tay ta lạnh chưa?
Người nhà đáp:
-Dạ sắp lạnh rồi.
Du lại hỏi:
-Hôm nay trời ra sao?
Người nhà đáp:
-Dạ trời quang đẹp ạ.
Du bảo mở cửa ra, bên ngoài lá bắt đầu rơi, mưa lác đác. Du thở dài:
-Cuối cùng trời vẫn xám!
Du nhắm mắt, nét mặt dường như vẫn còn đượm nỗi đau đời !

TRƯƠNG ĐÌNH PHƯỢNG

Mỗi Ngày Trong Vườn Tôi

tranvanle

Vườn nhà tôi không rộng, đi hoài sao bao la?
Con chuồn chuồn bay qua, mỏi hay sao mà đậu?
Và kìa con sáo sậu nhặt chi cọng cỏ vàng?
Vườn tôi nắng mơn man, chưa một lần em đến
Ôi em con én liệng, anh mong hoài mùa Xuân!

Vườn tôi mưa rưng rưng từ khi tôi biết nhớ.
Vườn tôi cây sào lỡ: không trái nào trên cao!
Bởi em: một vì sao, tôi đầy tràn nước mắt!
Bởi em: còn như mất, muôn đời là chiêm bao!
Tôi hỏi cỏ. Nghẹn ngào. Tôi hỏi hoa. Hoa héo.
Kìa con chim chèo bẻo bay đi rồi, hoàng hôn!

Vườn tôi đầy trong hồn những mùa thương nhớ cũ:
Chỗ Ngoại nằm: ngôi mộ. Chỗ Má đi: không về.
Má với Cha nằm kề mà âm dương cách biệt
Mà bầy con tha thiết. Nhang tàn. Nhang tàn hương…

Chỗ tôi đi trong vườn, con đường mòn thăm thẳm.
Em, mối tình xa lắm, nhện giăng vàng nhánh cây…

Vườn tôi, vườn tôi đây, sáng tôi ra mở cổng
Đón những cơn gió lộng, chiều khép lại. Xa xôi!
Em mãi là mặt trời. Em mãi là bóng nguyệt.
Một ngày nào tôi chết. Vườn tôi thêm bao la…

Trần Vấn Lệ

U UẤT

suongnguyen

Xương cốt trời ơi lạnh buốt mình
Tan tành nhật nguyệt cõi vô thanh
Vẫn biết cuộc đời là hư ảo
Mà hồn vẫn nuối một bình minh
Tiếng chim khắc khoải buồn trong nắng
Hạnh phúc còn mơ những bóng hình
Cho tôi níu một vầng tinh tú
Và ngã bên bờ cỏ rất xanh.

SƯƠNG NGUYỄN