CƯỠI NGỌN SẤM 29

cuoingonsam

richardbotkin

Chương 24

Buổi Sáng Lễ Phục Sinh tại Sài Gòn

Sài Gòn
Buổi sáng Lễ Phục Sinh
Nhà ông Lê Bá Sách – Cha mẹ của Bình

Khi Cầm Bành kết hôn với Lê Bá Bình vào ba tháng trước, nàng phải bỏ công việc đã làm khá lâu ở thương xá của Hải Quân Hoa Kỳ tại Sài Gòn. Sau đó, đời sống của nàng như được chia thành hai mảng. Khi chồng không hành quân tận tuyến đầu phía Bắc để chiến đấu chống bọn Cộng sản đáng ghét thì Cầm đến ở với anh tại căn cứ Sóng Thần, hậu cứ của TQLC tại Sài Gòn và cũng là nơi mà họ đã thành hôn với nhau. Trong thời gian này, nàng cũng hoàn thành hết mọi trách nhiệm trong vai trò là vợ của một sĩ quan chỉ huy Sói Biển.

Khi Bình đi hành quân xa, mà đó là gần như suốt thời gian, Cầm về ở với cha mẹ chồng ở Tân Định trong vai trò con dâu trưởng của gia đình. Thật may mắn là nàng và mẹ chồng (mẹ kế của Bình, nhưng người phụ nữ này đã thương yêu và nuôi dạy anh ta như là mẹ ruột) rất hòa hợp với nhau. Cầm phụ giúp công việc nhà và chăm sóc bốn đứa em còn ở nhà. Nàng được mọi người yêu mến. Nếu có thời gian rảnh rỗi, nàng thường đón xích lô về thăm mẹ cũng đang ở gần đó. (Bấy giờ, cả hai người anh cũng đang phục vụ trong quân đội). Nếu có TQLC nào bị thương ở bệnh viện Thủ Đức cần phụ, nàng cũng sẽ đến giúp ngay.

Vào lúc xế chiều ngày thứ Bảy 1/4/1972, ngay cả đối với vợ lính và người thân, có rất ít tin tức liên quan đến tình hình của các lực lượng QLVNCH và TQLC đang giao tranh ở phía Bắc. Tuy nhiên trong mạng lưới thông tin của các bà vợ đã có sự bàn tán là có một chuyện gì đó sắp xảy ra.

Ai cũng biết cái thông lệ là luôn luôn phải giữ hai trong số ba lữ đoàn TQLC ở tuyến đầu. Do đó khi có tin Lữ đoàn 369, đơn vị đang ở Thủ Đức dưỡng quân như thường lệ để nghỉ ngơi, bổ sung quân số v.v… đã được điều động ngay lập tức ra phía Bắc trước thời hạn, mọi người bắt đầu bàn tán xôn xao. Có một cái gì đó khá nghiêm trọng đang xảy ra. Trong bao năm qua Cầm vẫn thấy chồng thường xuyên trở về từ chốn nào đó với thân thể mang hết thương tích này đến vết thương khác, thì nay nàng chỉ biết chịu đựng với nỗi chờ mong và cố làm nhiệm vụ của một người vợ đảm đang.

TRỞ LẠI ĐÔNG HÀ VỚI TIỂU ĐOÀN 3

Khi Thiếu tá Bình, Đại úy Ripley và các chiến sĩ của Tiểu đoàn 3 được điều động tới Đông Hà vào xẩm tối ngày 30/3/1972 để lãnh nhiệm vụ trừ bị cho Sư đoàn, họ không hề được nghỉ ngơi chút nào. Mặc dù những cánh quân tiên phong của bộ đội Bắc Việt đang xâm lấn chưa đến được Đông Hà nhưng sự xuất hiện của Tiểu đoàn 3 đã bị phát hiện. Đề-lô pháo binh Bắc Việt ở phía Bắc của dòng sông, cũng là những tên thường xuyên hướng hỏa lực pháo kích vào dòng người đang chạy nạn vào Nam trên Quốc lộ 1, đã gọi hỏa lực bắn vào Sói Biển mỗi khi có điều kiện. Không một ai trong Tiểu đoàn 3 kể cả Bình và Ripley có kinh nghiệm về cường độ của những cuộc pháo kích vốn đã xảy ra liên tục trước khi họ đến. Không tài nào ngủ được. Nghỉ ngơi thôi cũng khó khăn mặc dù họ đã nằm sâu dưới hầm và những trái đạn rơi xuống ở một khoảng cách an toàn khá xa. Điều tốt nhất mà các TQLC có thể làm được, như Bình, Ripley và tất cả những người khác trong Ban chỉ huy đã cố gắng thực hiện là mặc kệ và thích nghi với hoàn cảnh khi cho phép – chẳng hạn như ngả đầu ra phía sau mà vẫn theo dõi được các cuộc nói chuyện qua máy truyền tin v.v… – càng nhiều càng tốt mỗi khi đạn pháo kích không rơi gần lắm. Chuyện này họ đã làm khá thành công kể từ lúc đến Đông Hà. Các Đại đội tác chiến khác cũng vậy. Đành rằng không ai có thể hoạt động mãi như vậy được nhưng trước mắt không còn giải pháp nào khác hơn.

Thiếu Tá Bình giữ các Sói Biển trong tư thế sẵn sàng bất cứ lúc nào và luôn luôn chuẩn bị để chuyển nhanh từ phòng ngự sang tấn công. Cách hành quân căn bản cho tất cả các Tiểu đoàn TQLC là hiếm khi nào cả đơn vị cùng hoạt động chung với nhau thành một khối. Tiểu đoàn 3 gồm hai cánh là Alpha và Bravo. Hiện tại cánh Alpha gồm Bình, Ripley, lính của Ban chỉ huy, Đại đội 1 và Đại đội 4 cùng với phần lớn hỏa lực của Đại đội Vũ Khí Nặng của Tiểu đoàn 3. Họ đang hoạt động ở trong và bên ngoài thị trấn Đông Hà. Cánh Bravo do Tiểu đoàn phó chỉ huy gồm các đơn vị còn lại, Đại đội 2 và Đại đội 3 cùng với những người khác, đang nằm cách thị trấn vài cây số phía Tây trên Quốc lộ 9 hướng về Cam Lộ và đang phối hợp với Tiểu đoàn 20 Thiết Giáp QLVNCH.

Nhằm giảm thiểu tối đa nguy hiểm cho binh sĩ trong những trận pháo kích không ngớt của quân Bắc Việt, Bình liên tục tái phối trí các đại đội, thường xuyên di chuyển đến một vị trí ngụy tạo trước khi trời sập tối để chắc chắn là bọn trinh sát địch trông thấy rồi lại lặng lẽ bỏ đi chỗ khác khi trời vừa tối xuống. Để cho việc ngụy tạo được hoàn hảo hơn, Bình cho lính ngụy trang vị trí giả, đặt ăng-ten truyền tin và tiếp tục điện thoại từ xa thông qua các vị trí đó. Khi bọn pháo binh Bắc Việt pháo kích vào các vị trí bỏ trống, nhân viên truyền tin của Bình phát đi những thông tin giả mạo mà họ đoán chừng địch sẽ nghe lén, về các thiệt hại và yêu cầu trực thăng tản thương. Bình làm hết mọi cách để địch tiêu hao đạn dược vào những mục tiêu vô giá trị. Những chuyện này đòi hỏi các Sói Biển lúc nào cũng phải cảnh giác và di chuyển không ngừng. Mặc dù họ chưa thực sự chạm trán với địch nhưng việc di chuyển vòng quanh và tích cực phòng thủ cũng làm tiêu hao năng lượng một cách đáng kể.

Quan sát của John Ripley về người tỵ nạn Việt Nam bơ vơ cũng tương tự như Gerry Turley đã thấy, nếu không nói là còn mang tính cách cá nhân nhiều hơn. Khi Ripley tiến gần sát toán tiền phương địch, tức khoảng 10 cây số gần hơn so với Turley khi ở Ái Tử, anh đã chứng kiến một sự chết chóc và hủy diệt tàn khốc. Lòng căm thù của anh đối với bọn Cộng sản chồng chất lên một mức độ mới sau khi nhìn thấy dã tâm cố ý và hành động giết người bừa bãi hàng loạt những người dân vô tội nhiều như vậy. Anh tự hỏi không biết các Sói Biển sẽ nghĩ sao, có ai còn có thể thù hận bọn Cộng sản nhiều hơn được nữa hay không? Anh đã từng ngồi lặng yên hàng tháng nghe hết chuyện này qua chuyện khác do lính của Bình kể lại – họ đã hiểu và tin tưởng anh – biết bao nhiêu chuyện gia đình họ đã phải chịu đựng sự đau thương, nhọc nhằn và sỉ nhục trong tay bọn Cộng sản mà hầu hết người Mỹ không thể nào hình dung được. Sau cùng anh chỉ biết cám ơn là anh đã không phải đối phó với những vấn đề như vậy. Giống như Turley, tuy hai người chưa hề trao đổi với nhau về đề tài này, nhưng anh thầm tạ ơn là vợ con anh được ở xa, rất xa chốn này.

Nhiệm vụ giao cho Tiểu đoàn 3 của Thiếu Tá Bình như là đơn vị trừ bị cho Sư đoàn hóa ra là một quyết định sáng suốt. Điều hiển nhiên là hiện nay cầu Đông Hà đang là mục tiêu chiến lược của địch. Nói chung, sự biểu lộ yếu kém của các đơn vị bộ binh QLVNCH và nhất là sự tan rã của Trung đoàn 57 trong khu vực chung quanh Đông Hà nói riêng, đã để lại công tác phòng thủ sắp tới vào tay các đơn vị TQLC Việt Nam, những chiến sĩ sẽ không bỏ cuộc khi chưa đánh đấm gì cả.

Các Sói Biển có mặt ở Đông Hà vào chạng vạng tối ngày 30/3/1972 và các Đại đội tác chiến đã được bố trí tại những vị trí mà Bình cho là tốt nhất cho việc phòng thủ trong lúc này và sẵn sàng cho những trận phản công sắp tới. Sau khi đã quyết định phá cầu, Trung tá Turley gọi điện thoại xuống Bộ tư lệnh mới của Sư đoàn 3 Bộ Binh ở thành phố Quảng Trị. Cũng nên nhắc lại là tuy có toàn quyền điều động hỏa lực Hoa Kỳ nhưng khi trực tiếp điều động các đơn vị QLVNCH và TQLC thì người Mỹ chỉ là cố vấn. Tất cả công việc điều động binh lính và quyết định sử dụng các đơn vị đó như thế nào đều thuộc thẩm quyền người Việt Nam. Người Mỹ có thể đưa ra các đề nghị nhưng quyền tối hậu vẫn thuộc vào những người mà họ có nhiệm vụ cố vấn.

Turley đã gọi xuống cho Bộ tư lệnh Sư đoàn 3 Bộ Binh với mục đích đề nghị Tướng Giai cho sử dụng lực lượng trừ bị – trong trường hợp nầy là giao cho Tiểu đoàn 3 việc trấn giữ cầu Đông Hà – để ngăn chận không cho quân Bắc Việt vượt qua cho tới khi cầu có thể bị phá đi.

Đưa vào sử dụng lực lượng trừ bị là một chuyện rất quan trọng. Điều đó có nghĩa là tình hình đã nghiêm trọng lắm rồi. Đó cũng là biện pháp cuối cùng. Các Tư lệnh thường miễn cưỡng chấp nhận những biện pháp như vậy bởi đó là sự chọn lựa sau cùng; mũi tên cuối đã bắn ra rồi thì ống đựng tên trở thành trống rỗng. Đôi khi, đó lại là tất cả những gì mà người chỉ huy có thể làm. Tuy nhiên Gerry Turley tin chắc chắn rằng với tình hình chiến sự này thì cần phải hành động như vậy và phải làm ngay lập tức.

Khi Turley gọi lại Bộ tư lệnh Sư Đoàn 3 thì cả Tướng Giai và vị Đại tá cố vấn của ông – cũng chính là viên Đại tá trách nhiệm cho toán Cố vấn 155, người đã buộc Gerry vào nhiệm vụ hiện nay – đều không có mặt ở đó. Thay vào đó, cuộc trao đổi với Tham mưu trưởng của Tướng Giai đã như bị va vào bức tường gạch của truyền thống văn hóa. Tay Đại tá QLVNCH này, trong lúc thế giới chung quanh đang sụp đổ tan tành, chỉ khăng khăng từ chối vì sợ bị mất mặt và những chuyện linh tinh khác đã khiến cho máu của Turley bốc lên cao tới mức báo động. “Chúng ta phải đợi Tướng Giai trở về đã. Tôi không làm được gì ngay bây giờ. Chúng ta phải chờ.” Đó lại là một vấn đề truyền thống văn hóa nữa.

Tỉnh táo hơn tuy thất vọng cùng cực, Turley tuyệt vọng xoay qua Đại tá Định, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 258 đang cùng với anh ở trong hầm Trung Tâm Hành Quân.

Turley vừa mới mở thêm mặt trận thứ ba cho chính mình. Phía Bắc và Tây của anh là ba hoặc bốn Sư đoàn Bộ binh Bắc Việt, năm Trung đoàn Pháo binh rồi hình như đang có thêm một số lớn chiến xa địch chưa xác định được là bao nhiêu, và không ai biết còn cái gì khác nữa.

Quân tiếp viện của địch có thể không xa lắm ở phía sau. Về phía Nam, Turley đối diện với một hệ thống quân giai càng lúc càng không thân thiện tại Đà Nẵng và Sài Gòn, cứ liên tục chĩa mũi dùi vào quyền hạn của anh và chống đối các quyết định của anh.

Turley trông đợi nhiều vào Đại tá Định vì ông này cũng là TQLC. Tuy nhiên Turley nhận được câu trả lời y hệt như của tay Đại tá Tham mưu trưỏng trước đó. Ban đầu bị choáng váng nhưng Turley không chịu thua. Anh trình bày lý do của mình. Anh lập luận kế hoạch của mình với một sự nồng nhiệt mà chính anh cũng không ngờ mình lại như vậy. Bằng mọi cách hợp lý nhất, anh khẩn khoản Đại tá Định cho sử dụng Tiểu đoàn 3 tại cầu Đông Hà. Turley giải thích nhiều lần sự cần thiết phải hành động ngay nhưng Định vẫn đẩy quyết định cho cấp cao hơn. “Tôi không thể” là câu trả lời cố định lập đi lập lại của ông. Chán nản, Turley biết rõ rằng, nếu không điều động Sói Biển thì hoàn toàn không có hy vọng gì để ngăn chận được quân Bắc Việt.

Sự trao đổi giữa Turley và Định đã diễn ra ở một khoảng xa thích hợp đối với những người khác trong khu vực G-3. Khi Turley trở lại để gặp thuộc cấp của mình, đặc biệt là nhóm sĩ quan gần gũi đã cùng làm việc chung với nhau trong suốt ba ngày qua, họ có thể cảm thấy qua sự biểu lộ trên khuôn mặt và điệu bộ là anh đã thất bại trong việc thuyết phục Đại tá Định. Tuy nhiên anh biết vẫn phải bằng cách nào đó giữ một thái độ lạc quan cho những người khác nhưng anh chưa biết phải đưa ra lời khuyên gì đây.
May mắn thay là anh không phải làm gì cả. Chỉ một hay hai phút sau đó, Đại Tá Định bước đến phía sau Turley tuyên bố “Tiểu đoàn 3 sẽ chiếm cầu Đông Hà. Tôi sẽ ra lệnh cho Tiểu đoàn trưởng giữ lấy Đông Hà. Anh gọi cho cố vấn của anh đi và báo cho ông ta biết quyết định của tôi.” Trong nỗi vui mừng bất ngờ và với một tình cảm đặc biệt, Trung tá Turley đã ôm chầm lấy vị Đại tá TQLC Việt Nam.

SAU CUỘC GỌI MÁY VÔ TUYẾN

Tập họp lại cho đến người cuối cùng Tiểu đoàn 3 trong điều kiện hiện tại với mục đích cấp bách để phòng thủ khu vực chung quanh cầu Đông Hà không phải là một chuyện dễ dàng. Bình, Ripley và toán cận vệ vốn luôn bên cạnh họ, sau khi nhận được lệnh từ Đại Tá Định, đã để lại Đại đội 1 và Đại đội 4 đóng ở ngay cầu; sau đó họ di chuyển qua hướng Tây về phía Cam Lộ để bắt liên lạc và mang cánh Bravo cùng với Tiểu đoàn 20 Thiết Giáp quay trở lại khu vực cầu.

Mãi cho đến lúc này, Bình và Ripley không thích thú lắm với nhiệm vụ trừ bị cho Sư đoàn. Trong tình huống thế giới chung quanh có vẻ như đang sụp đổ, họ cảm thấy hết sức bực bội vì không đóng được vai trò chủ động nào trong diễn tiến các sự việc. Trong nhiều ngày vừa qua họ đã phải chịu đựng cơn pháo kích liên tục và bao nhiêu là căng thẳng mà không có cơ hội để phản công. Bây giờ thì mọi chuyện sắp sửa thay đổi rồi.

Cả Bình và Ripley đều biết là họ sẽ cần đến hỏa lực của Tiểu đoàn 20 Thiết Giáp và tất cả các tay súng dự phòng của Sói Biển để có được tối đa cơ hội sống còn nếu họ có ý định giữ lấy Đông Hà, bất chấp cái xác suất xấu một cách đáng sợ đang tăng dần theo từng giây phút trôi qua. Điều mà họ chưa biết là “địch có khoảng 20 chiến xa” nhưng trên thực tế hóa ra là hai trăm chiếc. Việc bắt liên lạc và mang được cánh Bravo cùng Tiểu đoàn 20 Thiếp Giáp về khu vực cầu là một điều hết sức then chốt nếu họ mong chận được địch quân ở phía Bắc dòng sông.

Điều khá nghịch lý là trong tất cả những người trong Ban chỉ huy Tiểu đoàn 3 và Tiểu đoàn 20 Thiết Giáp thì John Ripley, người Mỹ duy nhất trong nhóm, lại là người có nhiều kinh nghiệm hoạt động trong vùng nhiều hơn là bất cứ ai trong những người Việt Nam. Anh là người thông thạo địa hình trong và ngoài Đông Hà nhiều nhất. Khi cả hai đơn vị cuối cùng kết hợp lại được với nhau ở phía Tây của thị trấn và Bình trực tiếp gặp gỡ vị Trung tá QLVNCH chỉ huy Tiểu đoàn 20 Thiết Giáp thì bọn Bắc Việt tung ra một đợt pháo kích “trừng phạt” trên toàn bộ khu vực Đông Hà. Ripley tin chắc là trong thời gian 45 phút bắn phá có vào khoảng 1.000 trái đạn đã rơi xuống. May mắn là vị trí đóng quân của họ nằm ngoài vùng pháo kích nhưng tác động tâm lý khá nặng nề đối với những binh sĩ đang chứng kiến màn “trình diễn sống sượng” của hỏa lực địch, nhất là viên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 20 Thiết Giáp thì kinh hãi thấy rõ.

Trong hoàn cảnh chiến đấu cùng cực, mỗi lần gặp gỡ hội họp với nhau hiếm khi nào là dịp tốt nhất để giao hảo một cách lịch sự, chuyên nghiệp giống như trong các cuộc gặp nhau bàn chuyện làm ăn. Tuy nhiên hội họp trong những điều kiện khắc nghiệt lại cho phép bỏ qua các thủ tục chào hỏi rườm rà để có thể đi thẳng được vào vấn đề. Cảm giác ban đầu của Ripley đối với viên sĩ quan VNCH chỉ huy Tiểu đoàn 20 Thiết Giáp không được thoải mái, có lẽ vì anh đã có thành kiến chung coi thường thành tích của hầu hết các đơn vị QLVNCH trong vùng gần đó. Điều hiển nhiên mà ai cũng thấy là cái nhân vật chịu trách nhiệm nguyên một đoàn gần 50 chiến xa M-48A3 có vẻ không nhiệt tình lắm trong chuyện đưa thiết giáp vào việc bảo vệ Đông Hà. Khác với hầu hết các sĩ quan TQLC nghiêm nghị, chuyên nghiệp, tận tâm cùng với một ít sĩ quan QLVNCH khác mà Ripley đã quan sát – họ thà chết chứ không chịu để mất mặt hay bị đánh giá là yếu ớt hoặc hèn nhát – vị sĩ quan QLVNCH này có vẻ không quan tâm đến vấn đề giữ thể diện hay không trong lúc này. Ripley thấy rõ là ông này tuy cấp bậc cao hơn Bình nhưng không thể sánh bằng về mặt tinh thần với Bình.

Vị sĩ quan chỉ huy Tiểu đoàn 20 Thiết Giáp này có cái may là điều luật về việc bổ dụng sĩ quan cố vấn bộ binh Hoa Kỳ hiện chỉ được thực hiện ở cấp Trung đoàn đối với các đơn vị bộ binh do việc tiến hành Việt Nam hóa chiến tranh tất cả các hoạt động, nhưng vì lý do nào đó chưa áp dụng đối với đơn vị của ông. Do đó Ripley đã gặp được Thiếu tá Jim Smock, cố vấn Hoa Kỳ cho Tiểu đoàn 20 Thiết Giáp cùng một lúc với viên Tiểu đoàn trưởng VNCH. Phút đầu gặp gỡ còn có nghi ngại, nhưng cũng phải thông cảm cho Ripley về những cảm giác đó vì các đơn vị VNCH lúc này có vẻ chẳng làm được trò trống gì ngoài chuyện rút lui hàng loạt. Đại úy Ripley cho là những lời nhận xét táo bạo và lạc quan của Thiếu tá Smock cũng cần phải xem lại. Về phần mình, Ripley tin là rốt cuộc rồi thì đoàn thiết xa này cũng sẽ phải đưa vào chiến địa thôi.

Lý luận của Ripley rất đơn giản và thẳng thắn. Chiến xa VNCH là loại M-48, khá tốt nhưng chiếc T-54 có hai lợi thế mà anh biết địch sẽ tận dụng tối đa. T-54 được trang bị súng lớn hơn – 100 ly so với 90 ly của M-48 – và trong hầu hết các tình huống, kích thước thực sự làm nên sự khác biệt. Lợi thế cốt lõi thứ hai là hình thù T-54 thấp hơn rất nhiều. Hình dạng này khiến T-54 thành một mục tiêu khó bắn trúng hơn chiếc M-48 cồng kềnh hơn, ồn ào và tốn nhiều công bảo trì, tuy được chế tạo tinh xảo hơn. Dù vậy, bỏ qua những vấn đề đó, yếu tố quyết định thực sự vẫn là khả năng chỉ huy và lòng nhiệt thành chiến đấu của các binh sĩ.

Điều lạ lùng là tại sao chiến xa lại được sử dụng tại đây? Ai cũng biết Việt Nam khó là một môi trường lý tưởng cho các chiến xa tối tân. Dụng tâm của chiến xa là để sử dụng trong những đội hình càn quét khổng lồ trên những cánh đồng trung tâm Âu Châu hay các sa mạc rộng lớn ngút ngàn Trung Đông; chứ không phải tại Việt Nam mà địa hình hầu hết là rừng già ẩm mốc hay những cánh đồng lúa mênh mông. Tuy nhiên đây cũng chính là lý do mà Cộng sản đã mang chúng ra sử dụng. Bọn vẽ kế hoạch Bắc Việt đã đoán đúng là miền Nam và ông chủ bù nhìn Hoa Kỳ sẽ không ngờ là chiến xa lại được mang ra trên một quy mô lớn như vậy như họ sắp thấy.
Một số lợi thế vốn có ngoài chiến trường của chiến xa đã bị vô hiệu hóa bởi địa hình đã khiến cho những con thú vật khổng lồ kềnh càng này chỉ chạy được trên một số ít đường nhựa hay đường mòn có đủ sức chịu đựng của chúng. Tuy vậy, đối với các đơn vị QLVNCH và TQLC lúc này chưa có, hay không có vũ khí chống xe tăng thì cái hỏa lực di động và ảnh hưởng kinh hoàng của chiến xa có khả năng bắn trực xạ rất đáng kể.

Mặc dù Thiếu tá Smock thừa nhận rằng vị Tiểu đoàn trưởng mà anh đang cố vấn còn cần phải được góp ý nhiều hơn nữa nhưng anh cam kết với anh bạn TQLC là những tay lính trẻ trong các chiến xa đã sẵn sàng để xung trận và đang ngứa ngáy được đụng độ với địch. Lúc này Thiếu tá Bình đang thực sự nhiếc móc viên sĩ quan cấp cao hơn anh, khuyến cáo ông ta phải hành động như một người đàn ông và ra lệnh cho đơn vị của ông phải làm điều đúng là phòng thủ Đông Hà. Trong suốt cuộc tranh cãi gần như một chiều giữa con sư tử và con cừu, Bình không kềm giữ trong lòng điều gì nữa và cố gắng truyền chút sinh khí cho tay Tiểu đoàn trưởng Thiết Giáp. May cho Bình là anh không bị giới hạn bởi những phong cách hành xử mà Gerry Turley đã từng bị. Cũng mất một hồi lâu và Bình đã phải sử dụng khéo léo tất cả các mánh khóe trong “sách” nghệ thuật chỉ huy của mình nhưng rồi cũng thành công phần nào. Sự hổ thẹn và mặc cảm tội lỗi cũng là những động lực mạnh mẽ.

Kiến thức rộng rãi về địa hình trong khu vực của Ripley là một ưu điểm rất lớn. Trong lúc Bình vẫn tiếp tục khuyên bảo viên Trung tá VNCH thì Ripley hướng dẫn các TQLC và đám lính miễn cưỡng của Thiết Giáp đi vòng qua những ngã sau của Đông Hà nhằm thoát ra khỏi hàng rào pháo kích liên tục của địch và cuối cùng đến được vị trí ngay phía Nam của cây cầu.

Tại cầu Đông Hà, Đại đội 1 và 4 của Sói Biển đã thực sự đụng độ ác liệt với các lực lượng Bắc Việt mới đến tại bờ Bắc của dòng sông. Vừa trông thấy chiến xa địch xuất hiện, Ripley đã gọi ngay hải pháo. Loạt hải pháo đầu tiên trước đó lúc anh còn ở phía Tây của thị trấn đã có kết quả là tiêu diệt được bốn chiếc PT-76. Khi họ đến gần Đông Hà, Ripley vẫn tiếp tục sử dụng hải pháo. Những loạt sau tiêu hủy hầu hết là T-54.

Sự xuất hiện những chiếc dẫn đầu của Tiểu đoàn 20 Thiết Giáp làm thay đổi tình thế vì M-48 VNCH thực sự lần đầu tiên đã “lấy máu” được kẻ thù lâu nay không ngờ có thể bị đụng với thiết xa VNCH. Ngay lúc này thì bọn Cộng sản không lộ vẻ gì là sẽ mưu toan vượt sông trong thời gian sắp tới. Nhưng mọi người đều biết là chúng sẽ làm thôi, không chóng thì chầy.

TRONG KHI ĐÓ TẠI TRUNG TÂM HÀNH QUÂN CHIẾN THUẬT

Ranh giới của vũ trụ hiện tại ngay trước mắt đối với John Ripley, Lê Bá Bình, và các chiến sĩ Sói Biển là tầm bắn hiệu quả tối đa của tất cả các vũ khí mà họ có thể sử dụng và nhìn thấy được điểm rơi. Đối với Gerry Turley tại Trung Tâm hành Quân Ái Tử thì có phần rộng hơn một chút. Bất cứ ai đọc được bản đồ cũng đều thấy Đông Hà và cây cầu là chìa khóa của sự thành công hay thất bại trong vòng vài giờ sắp tới. Mặc dù nhận thức được điều đó nhưng Turley và toán của anh vẫn phải lo lắng và phối hợp những vấn đề tại các điểm khác trên địa bàn phía Bắc Vùng I Chiến Thuật. Tại những nơi này lực lượng VNCH và TQLC đang chịu đựng các tình huống càng lúc càng thêm khó khăn.

Trong lúc liên tục phân tích để điều động thời gian, nỗ lực, sự lo âu và nguồn lực, những điều dự đoán sắp sửa xảy ra tại Đông Hà đã khiến cho nơi này trở thành trọng tâm nhưng không phải là tất cả nỗ lực chung. Còn nhiều chỗ khác nữa cũng cần phải chú ý đến vì nếu lơ là thì sẽ có ảnh hưởng xấu đến bức tranh chiến lược tổng thể.

Không đầy 15 cây số về phía Tây của cầu Đông Hà có một cây cầu nhỏ hơn bắc qua sông tại Cam Lộ cũng có khả năng chịu đựng được chiến xa hạng nặng. Cái cầu đó hẳn nhiên đối với mọi người sẽ là lối giải quyết thứ nhì của Bắc Việt cho các đoàn thiết xa nếu họ không chiếm được cây cầu chính của Đông Hà. Turley cũng muốn phá nó luôn. Một lợi thế mà quân Đồng minh có là hải pháo, tuy không đủ sức để phá cho cầu sập xuống nước luôn nhưng cũng đã được sử dụng với hiệu quả tốt khi chống lại đợt tấn công ban đầu của thiết xa địch, nhờ sự phối hợp và kế hoạch đã tính trước của toán Joel Eisenstein rất phù hợp với quyết định nhanh chóng của John Ripley đã gọi và điều chỉnh hỏa lực nhắm vào địch. Cam Lộ thì nằm quá xa trong đất liền cho việc hỗ trợ bằng hải pháo, còn không quân thì không thể sử dụng được cho tới khi nào thời tiết tốt hơn.

Lúc này thì trung đoàn thứ nhì của Sư đoàn 3 BB QLVNCH đang rút xuống Cam Lộ tương đối có trật tự hơn là Trung đoàn 57 tại Đông Hà. Bị quân Bắc Việt rượt theo sát đuôi nên lực lượng Công Binh Chiến Đấu không tài nào đặt chất nổ để phá hủy cầu Cam Lộ được.

Năm cây số về hướng Tây Nam của Cam Lộ là căn cứ Carroll, nơi đó có Trung đoàn 56 và 22 khẩu trọng pháo trọng yếu gồm cả bốn khẩu 175 ly quý giá cũng đang chịu áp lực nặng nề của địch. Turley và toán của anh trong Trung Tâm Hành Quân không lường trước được là có các thế lực ngấm ngầm bội phản trong nội tình lãnh đạo địa phương của QLVNCH. Kết quả đưa đến là sự đầu hàng hèn hạ của cả căn cứ hỏa lực với tất cả binh sĩ, súng ống và trang thiết bị. Lúc đó thì tất cả những gì Turley biết được là tình hình tại căn cứ Carroll đã tuyệt vọng và các yêu cầu bắn hỗ trợ không được trả lời.

Điều duy nhất còn khả quan về tình trạng của căn cứ yểm trợ hỏa lực Mai Lộc, non bốn cây số về hướng Nam của trại Carroll nơi mà Lữ đoàn 147 TQLC Việt Nam đang trấn giữ, là các lực lượng TQLC tuy bị áp đảo về quân số và hỏa lực nhưng vẫn chống trả kịch liệt. Tuy nhiên họ khó mà giữ mãi được.

Từ khởi đầu của cuộc công kích lễ Phục Sinh (Mùa Hè Đỏ Lửa), hải pháo đã chứng tỏ là nguồn hỏa lực duy nhất có thể tin cậy được trong việc yểm trợ cho các đơn vị nào trong tầm hoạt động. Cho đến buổi sáng lễ Phục Sinh, có năm chiến hạm ngoài khơi là những chiếc: USS Buchanan (DDG‐14), USS Strauss (DDG‐16), USS Waddell (DDG‐24), USS Anderson (DD‐786), và USS Hamner (DD‐718). Tất cả những chiếc tàu này đã bắn đi những đợt hỏa lực áp chế mạnh mẽ và chính xác. Các hạm trưởng đã cho chiến hạm vào sát bờ tối đa để tận dụng từng thước cho tầm đạn của hải pháo.

Việc điều động hỏa lực Hải quân như vậy đòi hỏi sự phối hợp và liên lạc chặt chẽ giữa các chiến hạm và các lực lượng trên bờ. Đồng thời với nỗ lực đó, các hạm trưởng cũng gởi bản sao các thông điệp cho cả Trân Châu Cảng lẫn Sài Gòn. Sự liên lạc này phần nào đã bị trì trệ với hậu quả là làm ảnh hưởng đến Turley và toán của anh tại Trung Tâm Hành Quân. Chính Turley cũng không đoán trước được sự việc này và hoàn toàn không hay biết gì hết.

Cho đến sáng lễ Phục Sinh thì mọi người trong Trung Tâm Hành Quân bắt đầu nghe tin đồn nhiều hơn từ những người anh em Hải quân ngoài khơi ám chỉ đến các lực lượng TQLC Hoa Kỳ đang lênh đênh ngoài biển và gợi ý một cách lộ liễu là họ chỉ chờ được mời vào nhập cuộc. Turley dẹp hoàn toàn và bỏ ra ngoài tai cái ý tưởng này. Thay vào đó, anh tập trung vào việc sử dụng tối đa các phưong tiện mà anh vẫn tin tưởng tuyệt đối.

Điều mà không ai trong Trung Tâm Hành Quân có thể lường được là sự lan truyền nhanh chóng của các tin tức sai lạc đó. Nó giống như Turley và toán của anh tự dưng là thành viên bất đắc dĩ của một kiểu trò chơi “điện thoại” dành cho người lớn trong đó cứ mỗi lần truyền tin đi truyền tin lại thì các dữ kiện được báo cáo lên các cấp cao hơn theo hệ thống quân giai lại càng bị bóp méo hơn. Mặc dù các nhân vật tại Sài Gòn từ từ cũng nhận ra là tình hình tại phía Bắc Vùng I Chiến Thuật không khá lắm nhưng đồng thời họ có vẻ như hết sức quân tâm là có một tên Trung tá TQLC nổi loạn nào đó đang giở chứng tại Trung Tâm Hành Quân Ái Tử.

Screen Shot 2015-06-03 at 9.18.31 AM

CHỐN CŨ…

hienmay

ừ thế nhé anh đi cho kịp bước
ngoái lại chi trời mù lối phía sau
giọt thinh không lơ lửng ở trên cao
nào ai biết… em – tinh cầu vỡ vụn

và vội vã… triệu vì sao tắt ngúm
sau lưng anh (em trước mặt) – buồn thiu
đường thênh thang – một bóng hắt… liêu xiêu
thành đôi đấy (mà là đôi… hai nửa)

anh thừa sức tặng người nhiều lời hứa
em cả tin ôm vất vả đời mình
tình níu tình đợi khắc khoải… bình minh
đông lập sớm – em ngưng thu… thảng thốt

giữa màn tối… chập chờn cơn mê hốt
em vẽ anh bằng cọ nhớ rất mềm
buồn làm màu – nét nguệch ngoạc… thành tên
môi buột gọi – lá ngoài sân… xao xác

nước mắt rơi (nước mắt em) đắng chát
lã chã tuôn nhòe bức ảnh anh rồi
làm sao dừng (lững thững… cuộc tình trôi)?
em lạc mất… trái tim em – duy nhất

lặng lẽ… cọ tìm góc riêng khóc ngất
nghe dậy sầu (rượu chưa nhấp… đã cay?)
anh ngang qua… hoa cỏ chỉ khẽ lay
mà hất gọn em vào sâu huyệt mộ

**
chốn cũ bây giờ sót lại cái tên (khi xưa anh từng gọi em) – nhỏ ngốc… .

HIỀN MÂY

ĐÀ LẠT

nguyenducbatngan

Sầu heo hút một phía này xứ sở
Con chim nào đã bay trước đường bay
Đi và đến vẫn nghìn lần bỡ ngỡ
Hồn trong veo trăm ngấn gió phương này

Bờ cẩm nguyệt rủ ráng chiều đứng dậy
Tình băn khoăn còn đẫm ướt mù sương
Ngày tháng tận má hường em vẫn vậy
Rồi cũng tàn phai theo vạn ngã đường

Sáng thức dậy trên đầu ta mưa đụng
Mắt nhòe sương khơi nghẹn những u sầu
Chân mười ngón hỏi bùn lầy rã rụng
Thuở ngọt nồng nay đã bỏ về đâu

Từ thu biếc mất theo thời thịnh trị
Anh và em thôi cắn má cụng đầu
Từ xuân mộng khô dần trong ý vị
Đã trườn mình cho kịp với sông sâu.

NGUYỄN ĐỨC BẠT NGÀN

Mười Giờ, Truyện Ngắn Võ Phiến

6988227b5d54581d76c53257d77171b8

Cây sweet pea — người Tàu gọi là đậu tuyết hay đậu xạ hương gì đó — màu sắc thật là sặc sỡ. Ở đây người ta chỉ trồng lấy màu, lấy hoa, lấy hương (xạ hương?). Người láng giềng gieo hạt hồi mùa đông, đầu xuân đã có hoa nở rộ trên hàng dậu ngăn cách hai khoảnh vườn. Tháng ba dương lịch, bà láng giềng thông báo cho ông về chuyện phá lũ dây đậu để gieo hạt anh túc. Cũng lại một hoa sặc sỡ nữa. Bà ta có cái thú làm nở ra những đóa hoa cánh mỏng dính có sắc màu lòe loẹt. Bà ta dự tính như thế, ông tán thành ngay. Mà hình như lũ bướm cũng tán thưởng lắm.

Ông lạc mất trang sách từ lúc nào không hay. Tay vẫn cầm hững hờ cuốn sách, nhưng mắt ông đã rời chữ. Xung quanh ông, khắp phòng, ánh sáng ùa vào nhiều quá, ùa vào tràn trề. Hai mặt phòng có nhiều cửa gương lớn, phòng ông vào giờ này là cả một niềm hân hoan.

Mấy hôm gần đây kể như hôm nào cũng vậy, rốt cuộc rồi cũng đến thế thôi: ông bỏ sách, loay hoay tìøm một mảnh giấy, một cái gì để cài vào làm dấu trang sách nhưng không tìm được, ông đành úp mặt cuốn sách xuống thảm. Rồi ông nằm ngẩn ngơ trong ngôi nhà sáng choang. Rồi ông ngồi dậy đốt một điếu thuốc, khói xanh tỏa chầm chậm qua những tia ánh sáng. Rồi ông mở cửa bước ra hiên. Ông trở vào pha cà-phê uống. Ông mở cửa ra vườn sau, nghếch mặt nhìn nghiêng nhìn ngửa, đến bên cây này cây nọ, lại nghếch mặt nhìn đàn sáo đậu trên dây điện, nhìn con quạ trên cây thông sau lưng căn nhà trên ngọn đồi bên kia đường, có khi nhìn lên trời xanh trống không. Rồi ông bước đến đứng một lúc dưới bóng cây long não. Rồi ông cảm thấy mình lơ ngơ, không có việc gì giữa ngôi vườn vắng vẻ, ông lại vào nhà, ông đốt một điếu thuốc nữa v.v… Ông nằm xuống, cầm lấy cuốn sách. Một lát, ông lại nhổm dậy, úp sách xuống mặt thảm. “Căn phòng này coi bộ sáng quá, sáng dữ đa!”. Ông nhìn qua cửa kính, theo dõi lũ chim hải âu từ đâu ngoài bãi mới kéo vào khu phố này, lượn thấp trên các mái nhà, sà cả xuống mặt đường. Ông đứng lên, mở cửa, bước ra hiên xem hải âu chúng nó làm gì! Xem ra chúng cũng chẳng làm gì đáng kể: không ăn không uống, không tìm sâu tìm hạt gì, chúng chỉ bay lên bay xuống, lượn đi lượn về rà rà khắp xóm vậy thôi. Có con đậu lên một chiếc tán đèn bên đường, một con hải âu xám trên chót đỉnh một cột đèn, đậu và phóng uế, xong lại bay đi, vậy thôi. Rồi ông nhìn sang hai con bướm chờn vờn trên hàng dậu sweet pea. Bướm nó bay, hay nhỉ, nó không bay thẳng từ nơi này đến nơi khác, như không cốt bay để đến; nó bay như nhảy như múa, như đùa như giỡn mà chơi. Một lát, tự cảm thấy thừa thãi trước hiên, ông quay vào nhà, sửa lại chiếc gối, ghé nằm xuống, cầm cuốn sách lên, xem đồng hồ: Thế mà đã mất khối thì giờ!

Gần như hôm nào cũng vậy. Đến một lúc nào đó, ông chợt để ý và tự hỏi: “Có gì vậy cà?” Hồi gần đây có gì xảy ra? biến cố gì vậy?” Kiểm điểm mãi, cũng thấy ra biến cố: Mười giờ.

Mười giờ là một biến cố. Đáng lẽ ông đã biết từ lâu, vậy mà không hiểu tại sao ông lại lú đi, chẳng chịu thấy. Mười giờ sáng; trời đất vào cái giờ ấy, nó lạ lắm. Bây giờ nhớ lại thì ông đã nhiều lần khốn khổ vào cái lúc mười giờ. Hồi nhỏ, ngày ngày ngồi trong lớp học, mỗi buổi mai vào khoảng mười giờ, thỉnh thoảng hoặc một con chim bay ngang qua cửa sổ kêu đánh “chéo” một tiếng nhỏ, hoặc mấy đứa chăn trâu đùa giỡn với nhau ngoài đồng để lọt vào tai ông mấy tiếng léo nhéo, hoặc tốp lính kéo đi rộp rộp ngoài đường v.v…, thế là ông trông ra cái nắng tưng bừng bên ngoài và lạc mất tiếng thầy giảng một lúc lâu, thần trí vẩn vơ mãi đâu đâu.

Ngày nhỏ lơ đãng trong lớp, lớn lên ông lơ đãng ngay tại nhà. Cứ mười giờ mai, vào giờ nắng ráo, ấm áp, là như thế. Cứ như có ai kêu ai réo ở ngoài trời. Cứ như có hội hè ầm ĩ linh đình, có trống thúc cờ reo giục giã khẩn cấp ở ngoài. Nằm không yên, ngồi đứng không yên.

Giá mà lúc ấy ta xô cửa, bước ra ngoài, bắt gặp quả tang “cái mười giờ”, nhìn tận mặt nó một lúc thì rồi cũng nguôi ngoai. Rồi thấy mình lơ ngơ thừa thãi. Rồi cũng đến trở vào nhà thôi. Nhưng nằm lì trong nhà, ngồi lì trước bàn viết, nắm mãi cuốn sách trên tay, thì khổ sở đa!

Mười giờ, ngoài trời có gì vậy? Thì trời xanh vậy thôi. Thì mây trắng tơ tướt ngang trời vậy thôi. Nhưng trời xanh thao thiết mênh mông vào lúc mười giờ, tưởng chừng nó có cái hấp lực hút bật dậy những thây ma. Những xác chết nhập tràng chồm lên dưới một tác động ma quái.

Ma quái chứ. Mở cửa ra, vẫn chỉ có trời xanh, có cây xanh, có ánh nắng nhấp nháy trên lá xanh, mọi sự y nhiên, như xế hôm qua, như trưa hôm trước, như sáng hôm kia, như một ngày năm ngoái, năm kia… Nhưng mà không! Mười giờ hôm nay, vào giờ phút này, tưởng chừng nó đập gõ khua ầm lên trước cửa mình vậy. Mỗi hôm nó mỗi quấy động, nó luôn luôn mới, luôn luôn bất ngờ, nó là biến cố hàng ngày. Hôm nào mười giờ cũng làm mình rạo rực, nao nức, như là một Mười Giờ đầu tiên buổi khai thiên lập địa. Mười Giờ nào cũng là một Mười Giờ hoang sơ. Khu phố có thể tha hồ vắng vẻ, cứ mười giờ là tưởng chừng có hội hè tưng bừng: Mười giờ ngoài cửa, nó là một im lặng ầm ĩ, huyên náo, chát chúa.

Hoa có thứ hoa giờ tí có thứ hoa giờ ngọ, hoa tự do chọn lựa giờ giấc. Thứ hoa chọn lúc khuya khoắt vắng vẻ như hoa quỳnh, nó tha thồ đơn độc, ẻo lả, kiều mỵ. Còn hoa mười giờ không thế. Nó là hoa bầy hoa lũ. Là thứ hoa đồng khởi. Nó dậy lên, đứng lên cùng lượt, rực lên chói chang. Nhất hô bá ứng: Mười giờ cất tiếng gọi, từng từng lớp lớp điệp điệp trùng trùng hoa nọ liền đứng lên giữa trời. Không có ai mang hoa mười giờ vào phòng, vào những căn phòng nhỏ hẹp, để cho những ông cụ già móm mém vừa nhắp từng hớp trà vừa “thưởng thức”. Hoa mười giờ phải nở giữa khoảng rộng, dười trời bao la.

Đã mười giờ lại mười giờ sáng một ngày xuân, thôi thì khỏi nói. Đám dạ lý hương bên hè phát triển mạnh quá, lấn tràn vào cửa, mùa đông vừa qua ông đã phát bớt đi quá nửa lùm. Những gốc dạ lý hương bị đốn tưởng đã chết khô, bẻ gãy rôm rốp. Thế mà sang xuân bỗng thấy mầm xanh phọt lên. Lại nhớ có lần trong đống củi xếp sau hè thỉnh thoảng lại có cành bắn mầm nứt lá non. Tiếng gọi mùa xuân, sức kêu gọi của sự sống, Trời! nó mạnh kinh khủng!

Nghĩ đến cái rạo rực trong lòng một cành củi, một gốc cây khô, ông lại nhân tiện nghĩ qua về cái rạo rực trong lòng mình: “Ờ! mà mình cũng “rạo rực” lắm, đâu đã yên? Khối thì giờ mất đi một cách vu vơ. Thế mà không để ý thì không biết đấy”. Ông nhìn xuống mấy ngón tay vàng khè khói thuốc, mấy ngón tay dẹp, mỏng, khô quắt dần. Ông nhìn thoáng qua, rồi quay mắt đi, chán ngán. Tuy nhiên cũng nhếch miệng cười bâng quơ.

Ngoài sân, con bướm chờn vờn bên dậu hoa sweet pea. Rồi nó rời dậu hoa, bay nhanh qua suốt chiều ngang của khoảnh sân trước, tưởng đi luôn sang vườn nhà bên cạnh, bỗng đâu lại thấy nó chập chờn ngay trước hiên. Cái bóng của con bướm múa rộn ràng trên tấm màn cửa. Vào lúc ấy, chợt vẳng lên tiếng một đứa trẻ. Tiếng gọi la eo éo gì đó, nghe không rõ ràng, cách vài con phố, cất lên mấy tiếng rồi bặt mất.

Ông bàng hoàng. Tiếng kêu ngắn quá không kịp phân biệt là tiếng nước nào. Mễ chăng? Mỹ chăng? Việt chăng? Tưởng chừng tiếng một đứa trẻ ngày xưa hắt vào căn nhà tranh của ông từ một ngôi gò nào trong làng. Tưởng chừng tiếng mấy đứa trẻ la giỡn ở một góc phố vẳng lọt vào lớp học hồi niên thiếu… Một cái gì rung lên, quẫy mạnh trong ông. Ông xao động cả người.

Ông nhớ bữa ăn sáng cuối cùng với một người đàn bà. Người đàn bà đã chung sống với ông hơn chín tháng, ở một ngôi nhà mát mẻ thanh tịnh bên Tân Qui Đông. Hồi tưởng lại những ngày đó thật êm đềm.

Hồi đó, hai người gặp nhau giữa một đám bạn. Ông có một cảm tình mơ hồ với Loan lúc vừa mới gặp, tuy vậy ông không bắt chuyện, cũng không có dự tính gì. Vào một lúc nào đó ông nói một câu vẩn vơ (bây giờ ông không còn nhớ đại khái ra sao nữa, hay nói cho đúng là ông quên bẵng đã từ lâu chứ không phải mới bây giờ). Loan nghe xong, không nói gì; nàng quay mặt về phía khác, nhìn mông ra xa, mỉm cười nhẹ nhàng, bâng quơ. Ông sực kiểm điểm và nhận thấy câu nói vừa rồi của mình quả nhiên là có hướng về nàng, một cách vô ý thức. Sự hưởng ứng của nàng xa xôi dè dặt, lại hơi hững hờ.

Vậy mà ít lâu sau hai người gần gũi, rồi ông rước nàng về chung sống.

Nghĩ lại, giá bấy giờ nàng niềm nỡ có lẽ ông đã lảng tránh. Độ ấy tự dưng ông tránh hết những thái độ nồng nhiệt, tích cực, hăm hở. Tự dưng ông mệt mỏi tận chỗ sâu xa nhất trong tâm hồn. Đang ở một căn phòng thuê tại đường Cô Bắc, đi lại các tòa báo khá tiện khá gần, ông quyết định rút hẳn về bên Tân Qui Đông. Ông từ chối bớt một số công việc tòa soạn, hạn chế bớt một số khoản chi tiêu, hạn chế giao du, để hưởng một thời gian yên tĩnh. Bên cạnh Loan. Và Loan là cả một sự yên tĩnh, êm đềm.

Hai người sống với nhau không lâu, nhưng “hợp nhau kinh khủng”, ông công nhận thế.

Hôm về ở với ông, nàng không có gì nhiều nhặn để mang theo. Y phục, nàng cũng không sắm bao nhiêu. Nhưng nàng có chở theo một chậu trúc đằng ngà. Kể ra không phải là thứ cây kiểng hiếm hay quí. Một cây trúc đằng ngà nhỏ hơn cổ tay bịï chặt ngang lưng chừng, cao chừng thước rưỡi tây, thế thôi. Đưa cây trúc xuống xe, nàng cười. Ông bảo đặt nó ngay trước hiên nhà, ngoài cửa sổ từ phòng khách trông ra. Nàng đồng ý dễ dãi.

Cây trúc thế mà khỏe. Cành lá nó tỏa rộng ra sum suê. Nhiều buổi trưa vắng lũ chim sẻ kéo đến ríu rít trong tàn lá ấy. Mỗi lần nghe tiếng khua động trong nhà, chúng bay tán loạn. Trưa mùa hè nhiều lúc không được trông đến, trúc khô nước, lá cuốn cả lại. Múc một lon nước đổ vào gốc cho nó, thử lắng tai, có thể nghe tiếng lá khô mở ra rào rào, khe khẽ. Chừng vài giờ lá lại cuốn queo, lại cần thêm lon nước nữa.

Tàn lá ấy làm khổ cây trúc. Có những đêm gió lớn, sáng ra thấy nó lăn kềnh, nằm chình ình trước hiên. Cái chậu đất nặng nề là thế vẫn chưa đủ để giữ thăng bằng. Rốt cuộc Loan phải hè hụi trói cây trúc vào song cửa bằng một sợi dây kẽm. Ông muốn giúp nàng một tay, nàng cười cười:

— Anh cứ để nó cho em. Em trị được mà.

Thực ra ông ngờ rằng không phải chỉ có thế. Không phải là nàng không muốn phiền đến ai khác chỉ vì nàng đủ sức “trị” nó, mà bởi vì nàng muốn tự tay mình chăm sóc cây trúc “của mình”. Cây tre cây trúc ít khi là cây kiểng của một người đàn bà. Có thể đây là một kỷ niệm riêng sao đó. Nàng có cây trúc trong trường hợp như thế nào? nàng “thừa hưởng” của ai? Có lúc ông thoáng nghĩ ngợi về điều ấy, nhưng rốt cuộc cả hai cùng lảng tránh, bỏ qua vấn đề. Sáng sáng hai người ngồi trước hiên điểm tâm, uống cà-phê, và nhiều lần ông khen cây trúc đẹp. Nàng thắc mắc:

— Không thấy nó nẩy được mụt măng nào.
— Ờ nhỉ. Trồng lâu chưa?
— Lâu.
— Ờ, thế thì lạ.

Vậy rồi thôi. Ông không hỏi thực sự nó ở với nàng từ bao giờ.

“Trị” cây trúc là công việc của nàng. Ngoài ra nàng còn một thành tích nữa, cũng đáng kể. Sau nhà có cây mít, không biết nàng tìm đâu ra cái chuông, đem về treo lên một cành mít, rồi lại buộc một khúc cây bên cạnh làm cái dùi. Thỉnh thoảng, trong gian nhà vắng lặng, hoặc ông đang nằm đọc sách, hoặc chợt ngừng bút giữa trang giấy, hoặc đang ngồi lơ mơ uống tách nước…, chợt nghe một tiếng “boong.., oong…oong…” từ sau vườn.

Tiếng chuông đánh thức sự tịch mịch vắng vẻ. Ông tán thưởng:

— Hay nhỉ. Không có tiếng chuông, mình không để ý đến sự im vắng của xung quanh.

Nàng không nói gì. Một lát, ông lại ngẫm nghĩ:

— Thì vẫn là im vắng, nhưng một im vắng vô ý thức. Lâu lâu một tiếng “boong” làm cho sự im vắng tự ý thức về mình. Thành ra một sự vắng lặng có ý thức.

Nàng vẫn không nói gì. Nàng nhìn mông ra ngoài, cười bâng quơ.

Người đàn bà ấy không có mấy nữ trang, mấy món phấn son trang điểm; nàng bỏ thì giờ vào những thứ vớ vẩn: cái chuông, chậu cây… Hai người sống với nhau như thế cho đến một hôm ông bắt gặp Loan với một vẻ khổ sở. Vài ngày sau, nàng bảo ông biết nàng vừa được tin nhà, nàng phải về quê, ở dưới Sóc Trăng. Hoàn cảnh nàng có gì rối rắm khó khăn lắm. Ông khựng lại, nhìn nàng chăm chú một lát, biết rằng sự thể không thể nào đổi khác được, ông thở dài.

Hôm cuối cùng, loay hoay thế nào mà họ thức trắng đêm. Buổi tối, ngồi trước hiên nhà mãi cũng buồn, ông lấy xe chở nàng đi ăn cháo cá, rồi hai người ra ngồi bờ sông hóng mát tới khuya. Về, ông lại pha cà-phê uống, rồi ngồi xem sách. Loan lên giường nằm hồi lâu không ngủ được, vẹt màn chui ra. Ông bỏ sách, ngồi với nàng, chuyện trò lẩm cẩm. Đêm hết lúc nào không hay. Lúc nhìn qua cửa sổ thấy chân trời ửng sáng, ông sực nhớ ra, kêu đói, bảo Loan chải tóc tai để đi ăn sáng. Nàng ái ngại:

— Anh thức suốt đêm, có mệt không? Nhà sẵn còn trứng. Hay để em chiên “ốp la” ăn với bánh mì. Được không?

Ông lắc đầu. Lúc này ông muốn ngồi ở tiệm, ăn một tô phở nóng, thơm tho.

Thì đi. Qua cầu Tân Thuận, gặp hơi nước mát, ông hít mạnh vào phổi, thích thú. Rồi ông cao hứng dừng xe lại bên kia cầu tìm một cái quán gần bờ sông, ngồi nhìn mặt nước sáng dưới ánh bình minh, nhìn người qua kẻ lại, thấy khoan khoái, tỉnh người dần. Hỏi chủ quán: không có phở, chỉ có bò kho, có trứng “ốp la”. Không muốn bỏ một chỗ ngồi thích ý, ông gọi trứng “ốp la” và quay lại bảo Loan:

— Nhất ẩm nhất trác, định trước cả. Số mình sáng nay ăn trứng thì chỉ được ăn trứng thôi… Huống hồ những chuyện lớn trong đời, chạy đâu khỏi số?

Nàng nhếch cười buồn bã.

Ăn xong, đốt điếu thuốc, ngồi trước tách trà thơm, ông lờ mờ nghĩ về những ngày sắp tới. Chắc chắn ông sẽ trả ngôi nhà ở Tân Qui mà trở về bên Sài Gòn. Ở một mình chỗ quạnh vắng, buồn chết. Vả lại, tiền dành dụm đã vơi, ông cần ở gần các tờ báo để làm việc nhiều thêm. Ông nghĩ đến cuộc dọn nhà trong tuần tới, nghĩ đến công việc lấy tin vào lúc mờ sáng ở các tòa soạn nhật báo, đến công việc viết lách liên tu bất tận suốt ngày… Ông thẫn thờ lẩm nhẩm: “Mệt kinh khủng!”

Nghe một tiếng cười khẽ, ông ngoảnh lại: Loan cười lớn hơn, nàng lấy tay che miệng cười ngặt nghẽo, rồi lấy tay che cả mắt. Lát sau, khi nàng bỏ tay xuống, nước mắt hãy còn trên má. Lưng bàn tay nàng cũng ướt.

Loan ra đi tuần trước thì tuần sau ông cũng dọn nhà đi luôn. Hai người để lại trong vườn cũ cái chuông trên cây mít. (Cây trúc tất nhiên là Loan đem theo. Nó lên xe sau cùng, khi nàng đã chất đồ xong và đã lên ngồi trên xích-lô máy nàng mới nhờ người phu xích-lô bê nó đặt lên sàn xe, và nàng bảo ông: “Để lại, anh không trị nó nổi đâu. Nó sẽ vòi vĩnh, làm phiền anh.” Ông biết đó chỉ là một cách nói. Đó không phải là lý do khiến nàng không rời nó.)

Ông thuê một căn phòng nhỏ ở tầng lầu hai một tòa nhà lớn gần chợ Thái Bình. Trong cái hiu hắt của một cảnh sống đơn chiếc, có những buổi xế chiều, sau một giấc ngủ trưa mê mệt, ông thức dậy, nằm thười trên giường, ngao ngán nhìn bức tường phòng trơ trụi không một cái tranh cái ảnh. Cửa sổ đóng kín, căn phòng im mát và râm râm tối. Nằm im hồi lâu, trí nghĩ vẩn vơ từ chuyện nọ sang chuyện kia; trong vắng vẻ tĩnh mịch chợt ông tưởng chừng nghe thấy một tiếng “boong…oong…oong!”

Ông bàng hoàng ngẩn ngơ. Ông không nghĩ đến Loan, nhưng từng giác quan của ông chúng vẫn nhớ nàng. Trong cùng thẳm cõi vô thức của ông cái hơi hướng của những ngày cùng Loan chung sống vẫn còn vương vất. Từ cái này đến cái nọ, từ chuyện này đến chuyện kia, chúng trở về. Cái cổ tay của nàng, bữa cháo khuya trước hiên nhà bên Tân Qui, và ơ kìa! cổ chân, còn cả cái cổ chân của nàng nữa, thật là kỳ cục! và mùi tóc nàng nữa, và cái nhìn mông rất bâng quơ v.v… Ở tuổi ông vẫn còn những vẩn vơ vậy sao?

Ông tự cười mình, lẩm nhẩm mấy câu lăng nhăng:

“Mình về mình nhớ ta chăng?

— Nhớ mình? Ta quyết đoan rằng là: Chưa!
Nhớ mình? đã nhớ đâu cơ
Chẳng qua chỉ có vẩn vơ nhớ… nhà
Vườn quê mỗi buổi chiều tà
Bâng quơ tai nhớ một và tiếng chuông
Cà-phê mỗi sáng tinh sương
Nhớ đôi cành trúc vấn vương bên thềm
Lưng trời nhớ một cánh chim”

Mãi sau đó khá lâu, một hôm ông có dịp sực nghĩ đến giọt nước mắt của Loan trong bữa điểm tâm cuối cùng. Trong một thoáng, tự dưng ông tưởng thấy rõ cả cái lý do, như thoắt “ngộ” sự thực tròn vẹn. Lý do là cái tiếng “kinh khủng”… Đó là một thói quen của ông. Ông thường nói: “Dại kinh khủng. Hay kinh khủng. Rắc rối kinh khủng”… Hôm đó ông vừa kêu “Mệt kinh khủng” thì Loan cười. Nàng cười một thói quen. Rồi lại nghĩ rằng từ đây nàng sẽ chẳng bao giờ còn nghe “kinh khủng” nữa, chẳng còn gần gũi với cái thói quen hàng ngày ấy của ông nữa, nàng khóc lúc nào không hay. Một thói quen ngộ nghĩnh, chẳng đâu vào đâu, nhưng nghĩ rằng nàng sẽ mất nó mãi mãi, cho nên cuối tiếng cười có những giọt nước mắt.

Một cuộc chung sống mấy tháng rồi tan rã đã lâu thỉnh thoảng còn hắt về một tiếng chuông mơ hồ như thế. Và ở Sóc Trăng chắc chắn một đôi khi ở chỗ người qua kẻ lại, ở một góc đường, một quán nước, đâu đó chợt thoáng nghe hai tiếng “kinh khủng” Loan cũng ngẩn người ra bồi hồi.

Hơi hướng một cuộc tình đã dai dẳng, ông nghĩ đến cái hơi hướng của cuộc đời. Của cả cuộc đời.

Mai kia, ông ra đi khỏi cõi đời này, chắc đâu cái hơi hướng của nó không đeo đuổi? Ba tấc đất đâu đã thực là đủ sâu? Trong nghĩa trang, những khu nghĩa trang với đồi cỏ xanh mướt, cây xanh mơn mởn, mười giờ lũ chim sẻ, chim quành quạch kêu tíu tít, kêu rối cả lên, và nắng thì chan hòa, những khu nghĩa trang đô thị nằm ngay cạnh các con lộ rộn ràng, sát kề cuộc sống náo nức, trong những khu nghĩa trang như thế làm sao yên được giấc nghìn thu! Khó đa. Cuộc đời còn inh ỏi hơn một tình nhân. Dĩ nhiên ông không muốn nhớ, nhưng không nhớ mà được sao? Một tiếng còi xe, một tiếng gọi la trong vắt của đứa bé ở một góc phố…, những cái ấy hắt lọt xuống lòng huyệt vào nửa buổi mai huy hoàng, nó làm kinh động giấc nghìn thu đến chừng nào. Không nhớ Cuộc Đời, không nhớ “mình” mà được sao? Mình réo gọi, mình hút ta lên từ đáy mộ mỗi buổi mai mười giờ chứ lị. Những inh ỏi của trần gian, chao ôi!

“Mình “về” mình nhớ ta chăng?

— Nhớ mình? Không nhớ được răng hả mình?
Ba tấc đất, biết bao tình
Mười giờ mình vỗ rập rình nắp săng
Mình xua gió thổi mây giăng
Mình tung ánh nắng vang vang khắp trời
Mình rung chuyển đất lay đồi…

Mai kia rồi nữa ta rời xa nhau
Nhớ mình không nhớ được sao?”

Ông lẩm nhẩm trong trí mấy câu sau cùng, rồi đứng lên, bước ra sau vườn, nhìn bâng quơ: đàn sáo đậu trên dây điện đã bay đâu mất cả. Ông nhìn mông lên trời xanh trống không một lát rồi quay vào nhà.

Mười giờ, ông bỗng dưng như thể một kẻ lểnh lảng: ở trong nhà thì nghe như có tiếng réo gọi đâu đó xa xa, tung cửa ra ngoài không thấy ai, không thấy gì cả. Trông bên nọ ngóng bên kia dáo dác một lúc, cảm thấy tưng hửng, bèn quay vào.

Quay vào, thì nghe réo gọi bên ngoài. Văng vẳng, mơ hồ, mà khẩn trương, hối hả. Thoạt tiên mình còn ngờ vực lấy mình, về sau càng lúc càng nhốn nháo cả ruột gan. Tiếng gọi thiết tha quá, cấp bách quá, không sao không đáp ứng được. Lại tung cửa chạy ra. Và nhìn xuôi trông ngược vẫn chẳng có gì. Chỉ có ngọn gió vừa lướt qua. Chỉ có cây gồi già đội một mảng mây trắng to tướng đứng trân trên ngọn đồi…

Như vậy là chẳng có gì? — Lẽ đâu thế? Tiếng réo gọi mơ hồ nhưng không thể chối cãi. Sự Sống đó. Tiếng réo gọi của Sự Sống đó mà. Từ nơi cùng thẳm hư vô, nó gọi ta. Cái lanh lảnh trong một tiếng trẻ con, cái rào rào trong gió lá; một cánh bướm chập chờn, một cành tre dưới nắng: Nó đấy. Nó cả đấy. Nó xa xôi tận cùng thẳm mà cũng gần gũi trong gang tấc. Sự Sống đó. Tiếng gọi của Sự Sống nhiệm màu. Tiếng gọi của Trời Đất đó. Của Vũ Trụ Càn Khôn mịt mờ ảo huyễn mà quyến rũ mê hoặc khôn lường đó.

Rồi mai kia:
“Nhớ mình không nhớ được sao?”

Võ Phiến
5 – 1987

CÀ PHÊ NƠI VƯỜN TƯỢNG PHẠM VĂN HẠNG

maiviet

Tôi ngồi tìm lại với người
Sáng nay nắng bỗng hong ngoài trái tim
Tiếng xe còn vọng trong đêm
Tưởng lòng ai nhắn lời mênh mong buồn
Tôi ngồi thả nỗi nhớ thương
Hồn se sắt lạnh theo đường em đi
Đà Lạt nói tôi điều gì
Mà trong đôi mắt thầm thì giọt sương
Tôi ngồi tìm lại mùi hương
Chiều qua ai gửi nơi vườn tượng xưa.

MAI VIỆT

LỤC BÁT KHÁNH MINH

nguyenthikhanhminh

TRẦN GIAN

Đêm qua đất mở mịt mùng
Sáng nay đất chở vô cùng nhịp vui
Trời chung cả cái xanh trời
Tôi thêm nữa, những mặt người tôi đang
Thế là, một cõi trần gian…

TÌM ĐÂU

Cuộc đời- hạnh phúc ú tim
Bước chân mọ mẫm tôi tìm hụt hơi
Cuộc đời bung nỏ, như chơi
Mũi tên Hạnh phúc hút trời mây bay
Cười ai, đứa trẻ trắng tay…

THÔI THÌ

Tôi kêu lên. Tôi tới đây
Tôi gõ mãi. Mà bóng ngày vẫn tăm
Mòn hơi tiếng gọi xa xăm
Bụi hồng bay vó đằm đằm nhân gian
Thì thầm khuya… đóa ngọc lan.

CÕI LỜI

Một vòng sinh tử trêu ngươi
Đành thôi ăn dối cõi lời mây bay
Mai kia mốt nọ. Hoạ may
Còn hơi thở ấy mà bày cuộc vui
Dẫu đời ngàn dặm phủi phui…

Nguyễn thị Khánh Minh

Facebook tại Viêt Nam

nguyendinhbon

Nhân chuyện Tiến sĩ văn học XHCN Đoàn Hương phát biểu “Theo thống kê thì có đến 50% người chơi Facebook là vô công rổi nghề” (Trích clip Cà phê sáng với VTV3 ngày 23/9/2016), tôi đăng lại bài viết cũ của mình để bạn nào chưa đọc thì đọc cho vui (bài này chỉ dành cho các bạn Fb thân quí của tôi, xét về trình độ ngôn ngữ bà Hương không xứng để tôi phản biện):
Facebook: báo mạng lớn nhất, đa dạng nhất, nhanh nhất và miễn phí tại Việt Nam!

Dẫu là một tài năng ngoại hạng, tay Mark Zuckerberg khi tạo ra facebook hẳn không tưởng tượng được rằng rồi sản phẩm của mình nhanh chóng trở thành một kênh truyền thông số một Việt Nam hiện nay.
Thực vậy từ ngày ra đời, facebook đã thay đổi triệt để cách con người giao tiếp với nhau và chưa bao giờ cụm từ “mạng xã hội” quen thuộc như hiện nay tại các đô thị, trường học… Việt Nam. Điều đặc biệt hơn tất thảy, khi tại các nước phát triển, có nền chính trị đa nguyên, tự do báo chí, facebook gần như chỉ là phương tiện để trao đổi thông tin với bạn bè, biểu thị và quảng cáo “cái tôi”, giải trí, kinh doanh… thì tại Việt Nam, trang mạng xã hội này còn làm hơn thế nữa, khi trở thành một tờ báo lớn nhất, đa dạng nhất, đưa thông tin nhanh nhất và hoàn toàn miễn phí.
Điều này quá dễ dàng nhận thấy. Trong khi tại các nước tư do báo chí, những tờ báo lớn có đầy đủ phương tiện hiện đại nhất, kể cả máy bay và những thiết bị trực tiếp truyền hình, nhằm phục vụ cho việc đưa tin, nghĩa là mọi thứ tin tức mà bạn đọc quan tâm từ ông tổng thống đương nhiệm đi ăn kem đến con chó xấu nhất thế giới vừa qua đời, thì tại Việt Nam, báo chí hoàn toàn nằm trong sự kiểm duyệt khắt khe của nhà cầm quyền, không được thông tin không chỉ là chuyện chính trị ở trong nước, mà ngay cả chuyện giật sụp tượng Lê nin ở Ukraina tờ Thanh Niên, tờ báo khá lớn có giấy phép của Việt Nam, vừa đưa lên đã… gỡ xuống!!!
Trong tình thế ấy facebook đã làm thay mọi tờ báo ở Việt Nam, vượt mặt tất thảy và không có đối thủ có thể cạnh tranh. Chúng ta có thể bắt gặp trên facebook gần như tất cả các cây bút viết bằng tiếng Việt trong đủ mọi đề tài từ xã hội, chính trị, văn hóa, sáng tác, tôn giáo, giải trí… trong mọi thời điểm, mọi lĩnh vực với nhiều văn phong, cách miêu tả khác nhau, phù hợp với đủ loại người đọc, thú vị hơn, nó còn là “tờ báo” châm biếm hàng đầu, khi quay hướng đả kích những tờ báo chính thống, thò ra rồi lại rút vào… như chơi!
Không còn nghi ngờ gì nữa, môi trường facebook hiện nay, nếu nhìn và đọc nó như một tờ báo mạng thì đó chính là môi trường tự do báo chí, một nền tự do báo chí ngoài dự liệu và ngoài tầm kiểm soát của nhà cầm quyền. Tất nhiên nhà nước Việt Nam nhìn thấy sức mạnh của facebook và muốn ngăn chặn nó tương tự như Trung Quốc đang làm là không để nó hoạt động ngoài cái vòng kim cô của mình, nhưng có lẽ điều này là quá muộn một khi internet không thể không là một lựa chọn cần thiết cho một xã hội cần phát triển về kinh tế để mong tồn tại.
Và trong khi chờ đợi một nền báo chí tự do đích thực còn ở tít mù xa, bản thân tôi mỗi ngày khi mở facebook ra, đọc những thông tin thú vị và chân thực, nhận những đường link bổ ích từ bạn bè, tôi lại nghĩ thầm: cám ơn Mark Zuckerberg!
14516323_1204693782918271_2479393607604795887_n

(10/2013)
NGUYỄN ĐÌNH BỔN

Lạc Tình Ca

luuxongpha

Rụng dần vòm lá mơ phai
Tiếng chim khắc khoải trên cây rụng dần
Cành khô queo quắt thời xuân
Nhắn mênh mông gởi hết bâng khuâng về
Lặc lè chân phố hồn quê
Theo đời nâng chén bùa mê cạn đời
Góc hồn ươm hạt tình tươi
Đâu ngờ hoa nở chơi vơi tình sầu
Gánh buồn đi lấp chiêm bao
Gánh chiêm bao đổ về đâu dại khờ
Bốn mùa lòng cứ vu vơ
Từng đêm khâu vá giấc mơ ngược dời
Trước đèn có thực là tôi
Quàng vai man trá ngậm lời điêu ngoa
Đưa tay vẫy suốt ta bà
Ai mua tôi bán chiều tà xác xơ
Dỗ người hết mộng còn mơ
Cơn mưa hóa đá vẫn chờ bóng mây
Hồn tôi tiếng gió lăn dài
Tìm em chiếc lá rơi ngoài mùa thu!

Lưu Xông Pha

NÍU

truongdinhphuong

Trăng tà níu ngọn tre cong
Mái tranh xiêu níu lưng còng thời gian
Cành trơ níu mảnh lá vàng
Heo may níu giọt đêm tàn buồn tênh
Bàn chân níu bước lênh đênh
Dòng sông vắng níu chênh vênh nhịp cầu
Con tim níu lấy nỗi sầu
Để thương tiếc mối tình đầu nhạt phai
Hạt sương níu ánh ban mai
Đôi tay trắng níu tương lai hững hờ
Mi gầy níu bóng cơn mơ
Vần thơ níu những ngu ngơ đường trần…

TRƯƠNG ĐÌNH PHƯỢNG

BẤT CHỢT MƯA

buidiep

Tôi nhớ ngày nao hạt mưa còn trẻ lắm
Đổ trên vai em tròn
Lăn tăn
Lăn tăn

Bến sông ấy
Buổi trưa năm ấy
Âm u mưa giấu biệt mặt trời
Chỉ có mảnh trăng non bên vai tôi tỏa sáng
Rực rỡ vùng đôi mươi

Và mùa thu đôi mươi không trở lại
Sông đã già hơn xưa

Chỉ vầng trăng trẻ mãi
Về đâu về đâu
Những lời chưa nói

Ngoài ngã tư mỗi mùa lễ tình nhân người ta bán rất nhiều hoa hồng
Không ai bán mùi ổi chín
Không ai bán bông màng màng bươm bướm
Không ai bán gói bắp rang
Thuở tình tang tình tang
Chung trường ngõ nhỏ

Sao lòng tôi còn mở ngõ
Gió hồn nhiên còn thổi bến sông gầy

Tôi vẫn đợi dù không mong gặp lại
Khuôn mặt mình một thuở biết heo may.

BÙI DIỆP
( Trích Ngụ Ngôn Gió Cát 8)