Về miền Viễn Tây

 

Một buổi sáng ngày 24 tháng 1 năm 1848, người thợ mộc James Marshall đi dọc theo bờ Nam sông American, một con sông đổ xuôi từ rặng Sierra Nevada phía đông của California chảy ra vịnh San Francisco. Ông ta tình cờ tìm thấy lấp lánh dưới bờ sông cạn 2 cục kim loại quý giá, điều này làm thay đổi lịch sử tiểu bang California và cả nước Mỹ. Những cục vàng quý giá đầu tiên đó được tìm thấy trong khu xưởng cưa của John Sutter. Chủ nhân của trang trại này dù cố giấu kín, nhưng tiếng đồn vang xa, vang nhanh như gió theo những vó ngựa suốt dọc chiều ngang nước Mỹ, theo những bức điện tín lan xuống Mễ Tây Cơ, theo những cánh buồm hải hành đến tận Trung Hoa và cả đến Úc châu…

Trước tiên phải nói đến sự phát triển mở mang của nước Mỹ đã tăng đến 23% diện tích sau hiệp ước mua được Louisiana (Louisiana Purchase) từ Pháp năm 1803. Nước Mỹ đã mở rộng ra thêm về phía Tây kéo dài từ Louisiana đến tận Montana, Oregon về phía Bắc. Cuộc sát nhập Cộng Hòa Texas năm 1845. Tiếp đó cuộc chiến tranh với Cộng Hòa Mễ Tây Cơ kết thúc năm 1848 đã sát nhập phần đất phía Tây mênh mông còn lại (bao gồm California, Nevada, Utah, một phần New Mexico, Colorado.)

Ngư phủ người Hoa tại Monterey, California năm 1875 – NGUỒN EN.WIKIPEDIA.ORG

Trước đó miền viễn Tây là vùng đất xa lạ đầy bí hiểm và trắc trở. Vì thế rất ít người Mỹ từ phía đông của sông Mississippi đến lập cư. Những người cư dân ở chung quanh Vịnh San Francisco hầu hết nói tiếng Tây Ban Nha suốt 3/4 thế kỷ bỗng qua một đêm thấy mình bị vây quanh bởi bao nhiêu người xa lạ. Những người này đến từ các tiểu bang đầu tiên bên mạn đông sông Mississippi, họ là những anh thợ may sinh quán từ Đông Âu (như Levi Strauss, chủ nhân chiếc quần Jean xanh nổi tiếng cho đến bây giờ). Họ là những anh thư ký từ Luân Đôn, những quý tộc từ Nam Mỹ, những người thợ mỏ nghèo nàn ở Mễ Tây Cơ, những người Trung Hoa cơ cực đến từ lục địa và cả các tàu buôn chở đoàn tội phạm từ Úc Châu. Tất cả đến đây với một mục đích: đào vàng. Khoảng chừng hơn 300 ngàn người đến California trong một năm sau đó, 1849. Họ được biết với tên gọi “forty-niners” – những người bốn chín (đến California vào năm 1849). Họ đã làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt California. Từ một thành phố vịnh ngái ngủ yên tĩnh, San Francisco năm 1848 chỉ có khoảng 1 ngàn ngôi nhà, một năm sau đã mọc thêm 35 ngàn. San Francisco đã hóa thân thành một thương cảng quốc tế nhộn nhịp tàu bè và khách.

Dọc theo con sông American quanh khu vực xưởng cưa của John Sutter và hầu như quanh bờ sông đó đâu đâu cũng có vàng, những người đến đầu tiên chỉ cần chiếc muỗng và con dao nhỏ có thể vớt vàng lên từ đáy lòng sông cạn. Những lá thư của Chun Ming, một người Hoa vượt qua biển Thái Bình về Hoa lục đã dấy lên cơn sóng đổ xô về châu Mỹ, năm 1852 đã có đến 25 ngàn người Trung Hoa đến California, có lúc cao điểm đến 2 ngàn người trong một ngày. Họ gọi San Francisco là Gold Mountain – Núi Vàng – Kim Sơn. Thư của người đi trước kể lại rằng vàng nhiều đến mức một người có thể đào vàng mà con lừa mang về không nổi. Những lá thư gởi về quê nhà của những người đào vàng cho biết trong một ngày họ có thể kiếm được số tiền hơn 1 năm trời ở quê. Một cha xứ đạo Mormon dự định đến đây truyền đạo, đã bỏ ý định và mở cửa hàng bán cuốc xẻng, dụng cụ đào vàng. Ông ta trở nên giàu có nhanh chóng. Những chiếc tàu buôn đã mang đến nhiều gỗ để xây dựng lán trại và nhà cửa, ngay cả mang đến hàng trăm con mèo, để bán cho những trang trại có nhiều chuột. Năm 1853 Levi Strauss cũng mang theo vải bố dày dự định bán cho người đào vàng làm lều và bọc mui xe ngựa, sau đó nhận thấy loại vải denim này phù hợp bền bỉ cho người thợ, ông ta may quần jean, cùng Jacob Davis sáng chế ra những nút đinh gắn vào túi quần 1871, những túi quần bền chắc để nhét các thỏi vàng vào… (chiếc quần jean ra đời từ ấy). Một người Hoa tên Wah Lee mở tiệm giặt ủi đầu tiên ở góc phố Washington và Grant. Ông trở thành nổi tiếng và dẫn đường cho các tiệm giặt ủi truyền thống của người Hoa sau này khắp nước Mỹ. Tất nhiên thành phố phát triển sầm uất nhanh chóng với đầy đủ các dịch vụ, ngân hàng, bưu điện, môi giới cầm đồ… Và các hệ lụy cũng kéo theo sau. Các sòng bài, nhà chứa, cướp bóc và tội phạm. Điều thương tâm nhất là số phận của những người cư dân địa phương trong đó bao gồm các bộ lạc thổ dân da đỏ, người Mễ Tây Cơ bản xứ và thiểu số người Trung Hoa.

Thoạt đầu khi những người da trắng băng qua lãnh thổ của họ để đến San Francisco, họ đã được lợi khi mua bán thực phẩm, nước uống và tính tiền với giá cao cũng như lộ phí băng qua lãnh địa. Sau đó bệnh dịch tả (mà người da trắng mang đến) và các vụ cướp ngựa, giành đất của người da trắng cũng như xung đột giữa các bộ lạc đã dẫn đến nhiều cuộc chết chóc đẫm máu. Chính quyền phải nhúng tay can thiệp mua chuộc các thổ dân để người da trắng tiếp tục cuộc chinh phục viễn tây. Với sức mạnh vũ khí những người di dân đã đàn áp thổ dân không nương tay. Người thổ dân mất dần lãnh thổ. Họ trở thành làm mướn cho những người đào vàng. Say sưa và nợ nần, đã đẩy một số trở thành nô lệ… Người thổ dân da đỏ gọi Kali là vàng, Fornia nghĩa là Wouldn’t you like some? California nghĩa là: bạn có muốn vàng không? Trước thời kỳ Gold Rush (đua nhau tìm vàng) có khoảng 300 ngàn thổ dân da đỏ. Trong vòng 20 năm sau chỉ còn lại 30 ngàn.

Không phải vận may và thành công đến với tất cả “những người bốn chín”. Nhiều người đã chết, đã thất bại và quay về cố hương hay cố thử thời vận ở rải rác các tiểu bang khác. Làn sóng chống đối người di dân lên cao. Chính phủ địa phương đã có biện pháp hà khắc về thuế để giảm thiểu cạnh tranh khốc liệt ấy. Những nhóm người sắc tộc thiểu số và không cùng ngôn ngữ phải nhận lấy hậu quả nặng nề. Đầu tiên là thuế năm 1850 đánh cao đến 20 đô la một tháng cho những người không mang quốc tịch Mỹ (Foreign Miners Tax) tương đương hơn 500 đô la hôm nay. Hàng ngàn người đã bỏ miền đất hứa hẹn này và trở về cố hương. Thế nhưng những người Hoa nhỏ bé và lam lũ này vẫn nhẫn nhục chịu đựng ở lại. Họ tiếp tục bám lấy mảnh đất này, dù khắc nghiệt nhưng cũng tốt hơn nơi quê chốn họ sinh ra ngàn lần. Họ vẫn chăm chỉ quây quần với nhau. Họ vẫn giữ tập quán xưa, không nhậu nhẹt bài bạc, ăn món ăn quen, dùng ngôn ngữ mẹ đẻ, đa phần ít học nên họ không học được Anh Ngữ. Họ làm việc suốt cả ngày Chủ Nhật. Điều này trở thành cái gai trong mắt người Mỹ. Và thế là một luật thuế lần thứ nhì ra đời, đánh thuế trực tiếp đến người Hoa. Một số người Hoa phải chuyển qua làm những dịch vụ khác như giặt ủi và xây dựng đường hỏa xa sau này.

Làm lụng cực khổ như vậy trong khi giá cả dịch vụ và thức ăn trở thành đắt đỏ đến mức không thể tưởng tượng được. Trong thời điểm cao trào năm 1849, một quả trứng giá đến 25 đô la theo thời giá hiện nay, nửa ký cà phê giá 100 đô và thay một đôi giày ủng để làm việc giá 2,500 đô! Nhiều thương gia và kỹ nghệ gia gián tiếp làm giàu lên nhanh chóng từ những người tìm vàng. Và họ đã bắt đầu sự nghiệp kinh doanh lẫy lừng từ nơi này. Philip Armour đã làm giàu bằng hệ thống dẫn nước trên máng để điều khiển dòng chảy các con sông dẫn nước vào chỗ đãi vàng. Nhiều năm sau ông đã làm chủ các xưởng đóng thịt hộp theo dây chuyền ở Chicago. Trước khi xây dựng thành công hãng xe điện Studebaker Corporation ở Indiana, John Studebaker đã chế ra chiếc xe cút-kít 1 bánh (wheelbarrow) cho những người tìm vàng. Hai thương gia ngân hàng Henry Wells và William Fargo đã mở văn phòng ở San Francisco và sớm trở thành một trong những nhà băng tiếng tăm Wells Fargo. Và tất nhiên có cả Levi Strauss như đã nói phía trên.

Cộng đồng người Việt Cali tưởng niệm trước Tượng Đài Thuyền Nhân VN trong nghĩa trang Westminster Memorial Park – NGUỒN VIETBAO.COM

Hàng ngàn người đã giàu có và thay đổi cuộc đời. Nhưng oái oăm thay chủ nhân của xưởng cưa John Sutter lại không có được may mắn. Khi người thợ mộc của ông tìm được cục vàng đầu tiên, ông đã cố giữ kín, nhưng 1 tháng sau những người làm công đã bỏ trang trại để đi đãi vàng. Hàng ngàn người mới đến đã xâm lấn và phá hủy trang trại cùng đất đai trong khu vực. Bị thúc ép vì nợ nần và nhà bị đốt cháy, ông dời đến Pennsylvania trong nỗ lực nhiều năm đòi chính phủ liên bang bồi thường tài sản. Ông thất bại và mất trong nghèo khó.

Những người tiên phong về miền viễn Tây hoang dã này cùng những thỏi vàng đầu tiên đã làm nên một tiểu bang California trẻ trung, năng động và giàu có. Năm 1850, chỉ sau 2 năm từ khi chính phủ mua lại vùng đất, California trở thành tiểu bang thứ 31 của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Kể từ đó California được gọi là tiểu bang vàng, có nền kinh tế đứng thứ 5 toàn nước Mỹ. Hiện giờ dù tiểu bang đã không còn tìm thấy vàng nhưng khí hậu ấm áp bốn mùa, nắng ấm chan hòa từ biển Thái Bình Dương, soi bóng chiếc cầu lịch sử Golden Gate như chiếc cổng vàng luôn bao dung chào đón người di dân bốn phương, trong đó có gần 1 triệu rưỡi người Việt.

Khác “những người bốn chín” năm xưa, những người Việt đến định cư ở miền đất này để tìm một thứ khác quý giá hơn vàng. Đó là tự do.

SEAN BẢO

——————————————

rời rạc 7

phuonguy

nghỉ đêm ở đó
chốn không lời
nỗi buồn vừa hồi môn câu thinh lặng
sáng mát giọt sương rời
nghe vời trên mái nhà cũ
buồn vừa mọc mộng sinh sôi

những ngày mùa thu ngấp nghé trở về
suy dinh dưỡng sau trận biến chứng của lũ ve
sụt sùi áp thấp

nghỉ đêm ở đó
chốn không màu
cơn mưa không trôi mau
gọi gió về nhận mặt
âm âm khúc buồn bất tán
ly tan sợi khói họa hình
lũng đêm chờ réo bình minh

nghỉ đêm ở đó
chốn âm thầm
người không về
ai hát khúc trăm năm?
lạc sương khói mùa hoa cũ
nghe lạnh bờ môi câm.

PHƯƠNG UY

 

MẮC NỢ

 

Tôi mắc nợ vầng trăng quê câu hát
buổi tròn trăng ngày ấy rất xa
sớm  tinh khôi trong nắng nhạt nhòa
nhớ bữa ra đi hẹn ngày trở lại

hai mươi năm sau và nhiều năm sau nữa|
ngày trở về dấu chấm mờ khơi
đất quê người ru khúc chơi vơi
chiếc bóng lẻ chênh vênh cùng nỗi nhớ

tôi mắc nợ lũy tre làng buổi ấy
ngày sang sông mưa nắng bất thường
lòng cố dặn đừng quên chiều nắng nhạt
con đò xưa khuất bóng người xưa

mắc nợ rồi –đành vậy cơn mưa
bong nóng bập bềnh nổi trôi vô định
giọt nước mắt từng đêm thinh lặng
chảy về đâu mà mải miết tuôn trào?

cũng đành thôi mắc nợ chiêm bao
tiếng chim hót vật vờ kí ức
kia ong bướm nhởn nhơ hư thực
thêm một xuân không ghé lại nữa rồi

suốt cuộc đời tôi mắc nợ tôi
cứ vay mãi chưa lần trả được
và như thế từng đêm thao thức
nợ canh tàn đâu thấu được tàn canh.

Mai Thanh Vinh

CHỈ LÀ GIẤC MƠ BUỒN

 

Không  biết chạy về đâu  với  những kỉ niệm  buồn
Nơi  những  phố hàng  rong  ngổn ngang  quang gánh
Nơi những giọt mồ hôi  chưa kip rơi khỏi  đôi môi đắng
Nước mắt  đã khô chưa kịp ứa  cuối  chân  mày

Những con đường  mù mịt  – những  khói bay
Em chạy mãi – trên những tháng ngày . . . vô vọng
Không một ai  và không một  . . . ai  mơ mộng
Những con đường  vô  vọng . . . những  hàng  cây

Nơi  người ta khát khao  đi lại  – bóng râm đầy
Nơi chú cuội  có thể nằm yên  và . . . đánh  giấc
Nơi những giòng sông – có trời  mây lồng lộng
Những con thuyền đang  ngủ  giữa . . . hừng đông

Chỉ là  giấc mơ  thôi – chỉ là giấc mơ . . . buồn
Những con rắn trườn mình  – lướt êm – trong đêm tối
Những con chó –  rình  mò  –  nhe nanh – trên góc phố
Tiếng  tu huýt  – ré lên  – trên những phận người

Và cả đêm đen  – trên những con đường  vô vọng
Vẫn là bóng dáng của em – đứng ngóng – lập loè
Cả một thế giới  – buồn phiền . . . chín đầy đôi  môi đỏ
Anh có thể  mua  vui  – bằng chính  nỗi . . . muộn  phiền

Em  có thể tin vào một thế giới của . . . người hiền
Không có chó nhe nanh – và không có người  lừa lọc
Em có  thể bán tất cả  – trừ nỗi buồn . . . vô vọng
Nơi trái tim của em – vẫn còn có anh . . . úp mặt
Chỉ một lần thôi – hi vọng những . . . con đường.

Nguyễn Tấn Cứ

Lao Xao Vẫy Gọi

CHÁY HẾT PHÙ DU

 

nầy còn một chút mong manh
khuya nay đốt hết một lần cho xong
phố xưa mắt ấy cháy lòng
nhìn sao cho nỗi ăn năn kịp về
mà người đụng đậy cơn mê
thức ta hé những đêm khuya rã rời
mà người thơn thớt môi cười
cho chiêm bao nỗi mồ côi lạ kỳ
phù du đập cánh hoài nghi
xui ta cháy nốt xuân thì khuya nay

Âu thị Phục An

LỜI KHÁT

 

Tôi đang viết giấc mơ
Trên tiếng gió giữa hàng cây ngoài phố
Những cơn gió quái Santa Ana nắng mưa tráo trở
Trên dự báo những ngày đen tối
Trên tiếng gấp gáp bay đi của đàn chim én
Trên vội vã những bước chân
Trên lãng quên nhịp sống
Trên u buồn những chia ly,
Trên vô vọng những mắt đá
Tôi muốn lời vẽ nên một giấc mơ

Tôi đang viết giấc mơ
Trên giấc ngủ nỗi sợ
Trên khốn cùng nước mắt
Trên lạnh tanh thi thể
Trên hẩm hiu dòng máu
Trên bất lực dấu hỏi
Tôi muốn lời tôi vẽ nên một giấc mơ

Tôi đang viết giấc mơ
Bằng những lời tôi khát
Bằng hết sức có thể, một gạch nối ấm áp.

Tôi đang viết giấc mơ
Che chở tôi
Nơi tôi có thể sống với những phút giây chưa từng tới
Nơi tôi có quyền mơ mộng
Nơi tôi có quyền được quên
Nơi cảm xúc tôi được chọn lựa một bình yên.

Tôi đang viết giấc mơ. Người ơi
Trong phút giây tin cậy của một lời cầu nguyện.

Nguyễn thị Khánh Minh

DUYÊN ANH, TÌNH EM

 

Cả tuần nay, khoảng chừng năm giờ chiều khi tôi sửa soạn đóng cửa văn phòng đi về thì một phụ nữ trẻ, người Mỹ, dẫn hai đứa bé, một gái, một trai, cả hai đều giống con lai đi ngang qua văn phòng tôi. Tôi chào hỏi qua loa, nháy mắt mỉm cười với hai đứa bé rồi ra về. Văn phòng của tôi nằm gần thang máy trên lầu thứ năm của bệnh viện nên người qua kẻ lại thăm viếng thân nhân là chuyện thường.

Một bữa tôi đi họp về sớm, khi trở lại văn phòng thì thấy người đàn bà đã đứng đó với hai đứa bé, trên tay bà ta cầm một cái khay nhựa lớn bọc giấy bạc bên ngoài. Dường như bà ta có ý chờ đợi tôi nên khi tôi đến mở cửa văn phòng thì bà ta cười tươi tiến tới và nói:

– Tôi làm chả giò biếu nhân viên của cô vì họ tận tụy săn sóc cho Mimi.

Nói xong bà ta mở tấm giấy bạc, trong khay đó sắp thứ tự những cuốn chả giò vàng rực, thơm ngát và bà ta mời tôi nếm thử. Tôi lịch sự từ chối nhưng lại khen:

– Bà học ở đâu mà làm chả giò khéo qúa vậy?

Bà ta nhoẻn miệng cười:

– Tôi lấy chồng Việt Nam nên món gì cũng làm được hết

Bây giờ tôi mới hiểu sao hai đứa bé kia có làn da mịn màng màu hơi ngăm ngăm ửng hồng, đôi mắt tròn xoe đen lánh, và mái tóc mày hung hung nâu. Hai đứa bé chừng bốn năm tuổi và có những nét xinh đẹp giống nhau. Nhìn hai đứa bé dễ thương tôi buột miệng:

– Hai cháu xinh xắn qúa

Người đàn bà trả lời rất tự nhiên:

– Ba của chúng nó rất đẹp trai cô ạ

Đúng là người Mỹ, họ ăn nói rất thật tình. Tôi nhìn kỹ người đàn bà trước mặt, bà ta có lẽ chừng ngoài ba mươi, vóc dáng mảnh mai với mái tóc vàng óng ả buông ngang vai, khuôn mặt đẹp như Delena, cô ca sĩ có một dạo hay hát trên Thuy Nga Paris. Tôi lại khen:

– Gia đình bà như vậy qúa hoàn toàn.

Tôi bất chợt bắt gặp một nỗi muộn phiền trong đôi mắt xanh biếc khi bà ta thở dài:

– Nếu Mimi được khỏe thì chúng tôi thật là hạnh phúc.

Tôi đoán Mimi là một trong những bệnh nhân đang nằm trên lầu của tôi làm, mới chợt nhớ ra nãy giờ mình chưa hỏi thăm gì về người nhà của bà ta hết. Tôi lật đật hỏi tới:

– Xin lỗi bà, cô Mimi đang nằm ở phòng nào?

Bà ta xua tay:

– Xin cô cứ gọi tôi là Melissa. Mimi nằm phòng 554, Thôi xin phép cô tôi đưa hai cháu vào thăm vì mấy ngày nay Mimi nằm trong phòng nóng (hot room) nên chúng tôi chỉ đứng ngoài không vào thăm được. Hôm nay thì điều trị xong rồi nên hai đứa bé chắc rất mừng khi được ôm Mimi.

À thì ra thế, thân nhân của Melissa nằm trong cái “phòng nóng” đó. Thường thì tôi hay đi thăm viếng và theo dõi những bệnh nhân hằng ngày, nhưng lại hay tránh những “phòng nóng” vì sự giới hạn tiếp xúc trong khi bệnh nhân đang chữa trị. Tôi cám ơn Melissa đã nhớ tới nhân viên của tôi và làm cho họ món ăn đặc biệt này. Tôi cũng đưa cho Melissa tấm business card và dặn là nếu cần gì cứ cho tôi biết, và cũng hứa là hôm sau sẽ trở lại thăm Mimi.

Tôi cầm khay chả giò đi vào phòng giải lao của nhân viên và không cần giải thích, tất cả những y tá đang làm việc đều biết món ăn ngon này là do Melissa làm vì có lẽ đây không phải là lần đầu tiên cô ta đem chả giò cho họ. Tôi nói với cô y tá Lisa là Melissa đang đưa hai đứa bé vào thăm Mimi. Lisa hoảng hốt la lên:

– Không được đâu, Mimi đang ói mửa tùm lum vì vừa uống xong thuốc xổ.

Nói xong cô ta lật đật chạy ra hành lang đi theo Melissa. Chỉ vài phút sau cô ta hai tay dắt hai đứa bé trở về phòng giải lao. Lisa nói với tôi là mấy cô y tá ở đây thường trông chừng hai đứa bé giùm cho Melissa trong lúc cô ta thăm viếng Mimi vì có lúc Mimi bệnh nặng và rất đau đớn nên Melissa không muốn cho chúng nó vào chứng kiến cảnh đó. Hai đứa bé ngoan ngoãn ngồi trên ghế xem phim hoạt hoạ. Đứa bé gái buồn buồn nói với em nó:

– Không được thăm Mommy Mimi rồi

Tôi nghe con bé nói như thế thì lại nghĩ, hoá ra hai đứa bé này là con của Mimi. Tôi xoa đầu con bé và trở về văn phòng xem hồ sơ của Mimi. Thời buổi điện tử tối tân, tất cả những tài liệu về bệnh nhân đều nằm trong máy vi tính, chỉ cần đánh tên vào là tôi đã có thể đọc được về bệnh tình cũng như tiểu sử của bệnh nhân. Dĩ nhiên, không phải ai cũng có thể làm như thế được, chỉ có nhân viên như chúng tôi mới có quyền xem hồ sơ của bệnh nhân thôi.

Mimi Phạm năm nay 35 tuổi, cô ta mắc bệnh ung thư cổ vòng tử cung (cervical cancer), cô ta đã từng chửa trị bằng chemotherapy hai lần rồi và lần này thì phải trị bằng Cesium Seeds. Thông thường khi chữa trị thì bệnh nhân phải vào phòng giải phẩu để cấy tạm (temporary implant) những ống nhỏ (rods) ở tử cung, sau đó bệnh nhân trở về phòng và những hạt Cesium sẽ được đặt (load) vào những ống nhỏ đó, Cesium là một nguyên tố, hình thức phóng xạ của chất này có hữu ích để chửa trị ung thư.

Bệnh nhân khi điều trị bằng phương thức này thì phải nằm yên lặng, bằng phẳng trên giường, hoặc chỉ có thể ngẩn đầu lên chừng 30 độ (30 degrees) thôi. Trong thời gian 48 tiếng đồng hồ, họ chỉ được ăn những thức ăn lỏng (clear liquids), và sẽ bị uống thuốc chống đi tiêu chảy (anti- diarrhea). Họ còn phải đặt thêm một ống vào đường tiểu (Foley catheter) để nước tiểu tự động chảy ra ngoài mà họ không cần phải di chuyển. Để tránh sự đau đớn và trấn an tinh thần, họ được chuyền thuốc đau liên tục bằng máy qua một đường gân (PCA pump).

Sở dĩ những người bệnh nhân này cần phải hết sức cẩn thận trong vấn đề di chuyển vì nguyên tố Cesium có thể rớt ra ngoài (perforate). Vì sự phóng xạ của nguyên tố (Cesium) cho nên bệnh nhân phải nằm riêng biệt trong một phòng riêng và hai phòng nằm phía hai bên cũng phải để trống (blocked). Những người săn sóc cho những bệnh nhân này đều phải đeo một miếng bảng rất nhỏ (radiation badge). Mỗi khi tiếp xúc với bệnh nhân, cái miếng bảng nhỏ đó là cách để đo lường số lượng tích tụ từ những tia quang tuyến (ionizing radiation) trong khi săn sóc cho bệnh nhân. Vì những tia quang tuyến mãnh liệt đó nên phòng này được coi như là phòng nóng (hot room). Sau hai ngày thì những nguyên tố được giải tỏa (unload) và bệnh nhân bắt đầu đi đứng lại và phải uống thuốc xổ để tránh chứng táo bón. Có những người không quen với thuốc xổ nên họ lại ói mửa như tình trạng của Mimi hiện giờ.

Theo như sự liệt kê về lý lịch của Mimi thì nàng ta độc thân và thân nhân khi cần phải liên lạc lúc khẩn cấp liệt kê là cô Melissa Phạm. Tôi đọc xong hồ sơ của Mimi thì cũng hơi thắc mắc về tình trạng của cô vì cô ta không có bảo hiểm (unfunded patient), và mấy cô làm về xã hội trong nhà thương đang xin giấy tờ cho Mimi được hưởng quyền lợi chính phủ dành cho những người nghèo hoặc vì sức khỏe yếu kém không thể đi làm (Medicare/ Medicaid/SSI). Mimi mới có 35 tuổi còn rất trẻ, có nghĩa là sự tiên đoán về dư hậu bệnh (prognosis) rất là mỏng manh. Tôi nói thầm trong lòng là sớm mai vào làm chuyện đầu tiên là phải đến thăm Mimi trước.

Sáng hôm sau khi vừa vào tới thì Melissa một lần nữa đứng một mình chờ tôi ở cửa văn phòng với nét mặt đăm chiêu. Tôi hỏi thăm về hai đứa bé thì Melissa cho biết là hai đứa đang ở nhà của ba chúng nó. Tôi mời Melissa vào văn phòng, vừa ngồi xuống ghế thì cô ta bỗng khóc oà lên. Tôi hốt hoảng nghĩ là đã có chuyện gì xảy ra cho Mini. Nhìn nét mặt của tôi, Melissa lau nước mắt và nói:

– Tôi khổ tâm lắm cô ơi! Chồng tôi đang muốn bắt hai đứa con.

Nghe Melissa nói tôi lại thắc mắc:

– Melissa muốn nói là hai đứa bé tôi gặp hôm qua phải không? Tôi tưởng chúng nó là con của Mimi vì nghe chúng nó gọi Mommy Mimi.

Melissa giải thích:

– Mimi là cô của hai đứa bé. Cô có rảnh làm ơn vào giải thích cho Mimi biết về sự ăn uống dinh dưỡng như thế nào khi về nhà vì Mimi không hiểu tiếng Anh nhiều. Tôi cũng nhờ cô khuyên giùm chồng tôi…

Melissa nói nửa chừng thì bỏ lửng, tôi không hiểu ý cô ta muốn nói gì và đang muốn tôi giúp đỡ chuyện gì. Dường như đoán được ý nghĩ của tôi, Melissa nghẹn ngào :

– Thú thật với cô chuyện gia đình chúng tôi rất dài dòng, phức tạp…

Melissa bắt đầu kể, cô ta và chồng là Hải lấy nhau được bảy năm. Hai người sống rất hạnh phúc mặc dầu Hải lớn hơn Melissa cả chục tuổi. Hải là người có học thức, chàng làm kỹ sư ở một cơ sở khá lớn trong tỉnh. Cách đây năm năm Hải bảo trợ cô em gái là Mimi qua Mỹ. Trong khi đó thì Melissa đang mang bầu đứa con đầu lòng bé Tina.

Sự có mặt của Mimi trong đời sống của hai người là một may mắn cho cả hai bên vì Mimi rất đảm đang. Suốt ngày Mimi ở nhà săn sóc cho Tina trong khi cả Hải và Melissa đi làm. Tối về thì Melissa chở Mimi tới trường học thêm Anh ngữ. Khi thằng bé Tino ra đời thì hai đứa con của Hải và Melissa cũng là con của Mimi vì hai đứa quấn quít với Mommy Mimi cả ngày. Một năm trước đây Mimi mắc phải chứng ung thư, vì Mimi yếu sức nên Melissa phải ở nhà lo cho hai đứa bé và lo cho Mimi…

Melissa ngừng kể, lau nước mắt và năn nỉ:

– Tôi nhờ cô nói chuyện với Hải giùm tôi, anh ấy đang đau khổ và đang tức giận kinh khủng lắm…

Melissa ngưng lời và khóc nức nở. Tôi lúng túng nắm lấy tay cô và không biết phải an ủi như thế nào vì tôi càng nghe Melissa nói, càng lẫn lộn vì không hiểu cô ta muốn nói gì. Melissa nhìn tôi e dè và chùng giọng tiếp tục câu chuyện:

– Tôi ở nhà lo cho Mimi trong khi Hải tiếp tục đi làm, anh ấy cũng rất ưu tư về bệnh tình của cô em gái. Nhà anh ấy chỉ có hai anh em, cha mẹ thì đã già nên họ chọn ở lại Việt Nam. Một bữa Mimi lên cơn sốt, mê sảng và la khóc um xùm, tôi sợ qúa ôm chầm Mimi lại, cho uống thuốc và không dưng hôn Mimi rồi hai đứa tôi ôm nhau nằm ngủ. Từ đó, chúng tôi biết tình cảm của chúng tôi có với nhau là tình cảm của một đôi tình nhân.

Phải nói là tôi rất bàng hoàng sau khi nghe Melissa kể, nhưngcố làm mặt tỉnh và càng nắm chặt bàn hai tay của Melissa như một sự trấn an. Chuyện của Melissa khiến tôi nhớ đến câu chuyện của Rosie ODonnell, người điều chương trình “talk show” nổi tiếng. Gần đây Rosie và người yêu là Michelle Rounds vừa mới bí mật làm đám cưới trước khi Michelle lên bàn giải phẫu vì chứng ung thư. Khi đọc tin tức này tôi đã nghĩ đó chính là tình yêu chân thật giữa hai nhân chứng với nhau, tình yêu này có khác gì tình yêu giữa đôi trai gái. Tôi làm trong nghề khá lâu và đã từng chứng kiến tình yêu nồng nàn của những cặp tình nhân phái nam cũng như phái nữ với nhau. Nếu có ai nhìn thấy được sự săn sóc thương yêu và sự hy sinh, lo lắng cho nhau khi một trong hai người họ bệnh hoạn thì mới hiểu được họ đã biểu hiệu tình nghĩa vợ chồng rất mặn mà với nhau. Những cơ hội tiếp xúc với những người không ngại ngần bộc lộ tình cảm của họ như thế này đã tạo cho tôi được một cái tính là không phán đoán một ai mà trái lại chấp nhận họ như những cá nhân khác thôi.

Melissa xiết chặt tay tôi và năn nỉ:

– Tôi biết cô là người có ảnh hưởng của cả hai nền văn hoá Đông Tây và là người có kiến thức nên tôi mới mạo muội tỏ bày tình cảnh của tôi với một van xin là cô hãy giúp nói chuyện giùm với Hải, anh ấy muốn từ Mimi, đòi ly dị với tôi và muốn bắt hai đứa bé. Tôi sẵn sàng chấp nhận sự ly dị, nhưng hai đứa bé là nguồn hạnh phúc của Mimi vì không biết Mimi còn sống đưọc bao lâu.

Chuyện Melissa nhờ làm tôi rất khó nghĩ vì tôi luôn chủ trương là không bao giờ dính dáng gì tới những chuyện riêng tư của bệnh nhân. Melissa yêu cầu tôi làm một điều ngoài khuôn khổ, phạm vi làm việc của tôi nhưng trong thâm tâm tôi thì rất áy náy, không đành nghoảnh mặt. Melissa cho tôi số điện thọai của Hải và rối rít cám ơn.

Tôi đến phòng thăm Mimi, nhìn thân hình nhỏ nhoi, ốm yếu của Mimi dưới lớp mền dày tôi cảm thấy tội nghiệp và bứt rứt. Mimi đang bị sốt nên nằm mê man, khuôn mặt dễ thương của Mimi tái xanh và hơi thở thoi thóp dưới ống oxygen. Melissa đã về nhà, trong căn phòng trống trải đó tôi cảm thấy sự lạc lõng, chơi vơi của Mimi. Tôi nghĩ đến sự trôi nổi của một kiếp người và những mâu thuẩn trong đời sống với những đưa đẩy không lựa chọn.

Tôi lưỡng lự, đắn đo về những lời năn nỉ của Melissa và sau cùng tôi gọi cho Hải. Tôi nói với Hải là tôi cần gặp anh để nói rõ về tình trạng của Mimi. Hải có vẻ ngập ngừng, nhưng cuốì cùng bằng lòng gặp tôi ở một quán café gần bệnh viện.

Khi tôi đến nơi thì người đàn ông chừng ngoài bốn mươi và qủa thật rất đẹp trai như lời Melissa tả đứng dậy ở một góc bàn trong quán café vắng chào tôi.

Hải ăn nói rất từ tốn, lịch sự và chàng đã không do dự đi thẳng vào vấn đề:

– Có lẽ chị đã hiểu rõ hoàn cảnh trái ngang của gia đình tôi. Tôi thật là rối trí.

Hải nhìn tôi rồi tiếp tục:

– Chị có xem phim “Brokeback Mountain ” chưa, hoàn cảnh của tôi gần giống như trong phim, chuyện chỉ khác người nạn nhân là vai nữ. Khi nữ tài tử Michelle Williams đóng vai người vợ chứng kiến cảnh chồng mình hôn người bạn trai cũ thì chị cứ tưởng tượng nỗi giận dữ và cay đắng của tôi khi bắt gặp sự âu yếm giữa Melissa và Mimi…

Hải nói với tôi là anh không còn giận Mimi và Melissa nhưng chỉ trách mình là tại sao không cảm thấy được tình cảm của Melissa trong những năm chung sống với nhau. Còn Mimi thì anh cũng không ngờ vì từ thuở nhỏ Mimi rất xinh đẹp và chưa bao giờ có những thái độ “thất thường” trong vấn đề tình cảm.Chuyện Mimi không có bạn trai và sống với cha mẹ cho tới lúc 30 tuổi thì cũng dễ hiểu vì cả nhà hy vọng là Mimi sẽ được bảo trợ đi Mỹ cho nên nàng không muốn vướng bận gia đình vì đó là một trở ngại cho việc xuất cảnh.

Hải qủa là người hiểu biết và có kiến thức, anh nói với tôi quan niệm về sự đồng tính luyến ái, chúng tôi đồng ý đây là tính bẩm sinh nhưng vì xã hội qúa khắt khe nên phải đến một thời gian thật lâu, và gần đây khi những khuôn mặt nổi tiếng của Hollywood mạnh bạo tiên phong phô trương sự lựa chọn “lệch lạc” về tình dục của họ thì xã hội mới dần dà chấp nhận. Hải mỉm cười :

– Chị coi đó, ngay đến con gái ông phó tổng thống Dick Cheney mà còn có “vấn đề”, gia đình ông cũng phải chấp nhận thôi. Mới đây cái tin sốt dẻo nhất là Anderson Cooper, người anchor của đài CNN cũng vừa ra khỏi bóng tối tỏ bày cuộc sống tình dục trung thực của mình. Khi nghe tin tức này tôi không ngạc nhiên và không có ý nghĩ xấu gì về họ…

Hải nhìn qua song cửa sổ, một cái nhìn xa vắng. Tôi nghĩ Hải đang trấn an chính anh và đang tự đi tìm một tha thứ trong lòng nên tôi kiên nhẫn lắng nghe. Bỗng nhiên Hải bật cười:

– Chuyện người ta thì mình sáng suốt lắm chị à, nhưng chuyện của tôi thì tôi tối mò. Tôi đã từng đi qua những giai đoạn hỷ, nộ, ái, ố, rốt cuộc thì rất hoang mang. Tôi đã đi bác sĩ tâm lý, khi không giải thoát được thì tôi đi thăm vườn Lộc Uyển của thiền sư Thích Nhất Hạnh để tìm cho tôi một tịnh tâm. Giờ đây tôi ngồi đây với tâm trí ngổn ngang, rối beng như mạng nhện.

Tôi hỏi Hải là mối quan tâm nhất của anh hiện tại là gì thì anh lại hỏi tôi:

– Xin chị cho tôi biết rõ về tình trạng của Mimi.

Trước khi đi gặp Hải tôi đã nói chuyện sơ với người bác sĩ của Mimi và ông cho biết là tình trạng của Mimi không được khả quan, có thể phải tiếp tục trị với những thuốc chống ung thư mạnh hơn, nhưng còn tùy thuộc vào sự chịu đựng và phản ứng của cơ thể Mimi nữa. Dĩ nhiên tôi không thể khẳng định được định mệnh của Mimi với Hải cho nên tôi chỉ biết khuyên:

– Mimi rất yếu từ thể xác đến tinh thần, chỉ có tình thương yêu của những người thân mới có thể giúp cô ta chống chỏi được những thử thách trước mặt của cơn bệnh trầm trọng.

Dường như có giọt nước mắt đang làm ướt khóe mắt của Hải, anh cám ơn tôi và xin điạ chỉ email của tôi để tiện việc liên lạc. Tôi trở lại làm việc với một ưu tư nặng trĩu trong lòng.

Hai ngày sau đó tôi nhận được email của Hải, anh gửi cho tôi vỏn vẹn mấy câu thơ:

Như các đám mây trôi lang thang trên bầu trời
Không gốc rễ, không nơi trú ngụ, không phân biệt
Các ý tưởng nổi trôi trong tâm ta cũng thế
Khi con nhìn thấy được Tự Tánh
Thì mọi sự phân biệt đều chấm dứt
(Kinh DIỆU PHÁP ĐẠI KHÔNG THỦ ẤN, được truyền bởi vị Thánh Tăng Tây Tạng Tilopa (988-1069)

Tôi tiếp tục đến thăm Mimi mỗi ngày, chỉ dẫn cho Mimi cách thức ăn uống bổ dưỡng và dặn dò phải tránh tiếp xúc nơi công cộng để tránh nhiễm trùng trong khi đang thời kỳ chữa trị với chemotherapy. Một tuần sau thì Mimi đã khỏe hơn, ngày Mimi xuất viện tôi đã bật khóc khi thấy Hải đẩy chiếc xe lăn cho cô em gái, bé Tino ngồi trên lòng của Mimi, Hải đi ngang qua văn phòng tôi chào từ giã, Melissa và con bé Tina hớn hở đi phía sau.

Khi nhìn hình ảnh của cả năm người khuất lần trong thang máy, tôi ngậm ngùi nghĩ đến sự chịu đựng của Hải và tự hỏi không biết sự hy sinh vô biên của anh có giữ được chút hạnh phúc nhỏ nhoi cho gia đình, nhất là cho cuộc đời còn lại rất ngắn ngủi của cô em gái.

Nguyễn Thị Huế Xưa

Tháng Ba

tháng Ba nằm ngửa đất
ngó trời cao bao dung
hồn hoa bàn tay khép
nở thơm đoá dị kỳ

chân đau đi một dặm
đã thấy đời chênh vênh
ghé chân ngồi quán gió
chung quanh dấu bụi hồng

ơi bàn tay con gái
ngón nho nhỏ thanh tân
hôm thẹn thùng hò hẹn
ngờ đâu là một lần

ngày có đi chớ vội
chân có đi bão bùng
trong trái tim hồ vắng
mấy sơn khê chập chùng

đôi khi ngày im tiếng
giọt nắng giữa chừng tan
khoảng không loang sắc trắng
trắng áo xưa mơ ngồi

sáng nay ra ngoài phố
cuộc đời dòng sông quanh
nước trôi trôi mấy dặm
bỏ quên những quên rồi

bài thơ tình viết vôi
mấy dòng vội vội ghi
chuông nhà thờ hạt nhỏ
chuông nhà thờ hạt to

xin hạt nào vừa đủ
vòng tràng hạt Mân Côi
cầm trên tay trang điểm
lá me mưa tơi bời

ngang qua nhà giáo xứ
ngang qua ngõ nhà em
đâu khác gì hoa cỏ
mà buồn ơi lại buồn

tháng Ba lời kinh tịnh
ghi xuống bài Phúc Âm
giữa tâm đời hư ảo
vương mãi hạt bụi nào

Phạm Quang Trung