Em đi bỏ lại tháng ngày

,

Em đi bỏ lại tháng ngày,
Tôi và
chiếc lá vàng bay 
cuối mùa.
Thu này phố cũ thưa mưa
Hàng me kỷ niệm hương vừa vừa phai.
.
Nhớ em tôi thở hơi dài
Tìm trong khói thuốc bóng ai mịt mùng
Ngoài kia gió gọi mông lung
Biết em còn nhớ mùa không mà về! 

 

Trần Tuấn

NGÀY THẤM MỆT.

 

Mang thị phi treo trên đầu ngọn bút
Cuồng vọng lấm lem bôi xóa tâm hồn
Khi nhìn lại thấy cuộc đời bất ổn
Và hành trình- đâu đó- rất cô đơn.

Thời chúng ta
khó mở lòng trắc ẩn
Mỗi một người tự ôm ấp vết thương
Lúc thấm mệt
ngã bên trời
khắc khoải
Tan tác buồn
thuở hạt bụi tha phương…

Tôn Nữ Thu Dung

 

ĐƯA EM ĐI HẾT MIỀN TEXAS

 

Sáng chủ nhật trong góc bàn nhỏ của qúan Starbucks, người đàn ông ngồi che mặt sau tờ báo nhằng nhịt hình quảng cáo, trên bàn ly café đen nằm bất động vì chưa bao giờ thấy ông ta nhất ly lên uống. Có một cái gì hơi quen thuộc từ người đàn ông làm tôi thắc mắc, chỉ nghĩ vậy thôi rồi tôi lại tự cho mình là lẩm cẩm vì rằng chưa thấy mặt người đàn ông đó thì làm sao quen được. Khi đi ngang qua bàn của ông ta ngồi, cái xách tay đi tập gym của tôi vướng vào góc bàn làm ly café lung lay đổ. Tôi vội vàng đưa tay chụp lại, người đàn ông bỏ tờ báo xuống, tôi hoảng hốt nhìn ông ta rồi buột miệng:

– Hello “anh” Joe!

Người đàn ông cũng bỡ ngỡ chào:

– Hello “cưng.”

Câu chào hỏi thân mật của người đàn ông người ngoại quốc làm tôi bật cười. Ông kéo ghế mời tôi ngồi và tôi hỏi ông:

– Cô Mailan lúc này ra sao hả anh Joe”

Joe nhìn tôi buồn bã:

– Mailan không được khoẻ cưng à. Có lẽ Mailan cần thật nhiều “A Di Đà” may ra mới thoát nạn.

Câu trả lời bằng Anh ngữ chen lẫn tiếng Việt Nam làm tôi quan tâm đến Mailan, người vợ của ông Joe. Tôi tình cờ gặp vợ chồng ông Joe cách đây hơn sáu tháng khi cô Mailan nằm trong bệnh viện nơi tôi làm việc. Tôi nhớ ngày đầu tịên khi gặp cô Mailan, nhìn người đàn bà có nước da màu nâu mượt mà và mái tóc nhuộm hung vàng, tôi cứ nghĩ cô ta người Hawaii. Sau khi chào hỏi qua loa, cô Mailan nhận ra bảng tên của tôi và la lên:

– Trời ơi cưng người Việt Nam hả” Cô ghiền nói tiếng Việt qúa xá, mà cưng có nói tiếng Việt được nhiều không, có ăn được nứơc mắm không”

Sự vồn vả của cô Mailan làm cho tôi thấy cảm mến cô ngay từ giây phút đầu,và lúc đó mới biết cô tên là Mai Lan nhưng cô ghép tên lại để tiện phát âm. Khi nghe tôi nói chuyện lưu loát, cô bắt tôi hứa là sẽ trở lại thăm cô khi rảnh. Cô Mailan giới thiệu với tôi ông Joe, người đàn ông có khuôn mặt và đôi mắt xanh của tài tử Paul Newman. Thật sự tôi chỉ nhìn thấy chỉ một con mắt xanh buồn của ông Joe thôi còn con mắt bên trái thì ông ta đeo một miếng vải tròn che lại. Ông Joe bắt chước vợ hồn nhiên gọi tôi là “cưng’và tôi vì phép lịch sự với cô Mailan cho nên cũng gọi ông Joe bằng “anh” tuy rằng chúng tôi đối thoại với nhau bằng Anh ngữ nhưng lại chêm vào những từ ngữ xưng hô cung cách của người Việt Nam.

Vài hôm sau khi tôi trở lại thì cô Mailan dường như hôn mê vì uống thuốc chống lại cơn đau từ xương tủy, ông Joe thì đang loay hoay mở băng nhạc CD, điệu nhạc Waltz rộn ràng trong lúc cô Mailan còn hôn mê khiến tôi nhìn ông thắc mắc.

When we dance together my world’s in disguise

It’s a fairyland tale that’s come true

When you look at me girl with those stars in your eyes

I could waltz across Texas with you

Ông Joe giải thích là cô Mailan rất thích loại nhạc cao bồi và điệu nhảy miền quê của vùng Texas. Trong lúc cô hôn mê ông nghĩ là âm thanh quen thuộc của điệu nhạc sẽ làm cho cô Mailan mau tỉnh lại không chừng. Ông Joe nói xong rồi rươm rướm nước mắt và câu chuyện ông kể lại cho tôi nghe làm tôi xúc động.

Sự gắn bó của hai vợ chồng ông Joe bắt đầu bằng một chuyện tình tay ba. Ngày xưa ông Joe đi lính ở Việt Nam, khi đóng quân ở miền tây ông và một người bạn quân ngũ tên Jeremy cùng thương một cô gái ở quán cafe trong tỉnh đó là cô Mailan. Ông Joe và Jeremy là hai người bạn rất thân từ khi còn học trung học, cả hai cùng đi lính và hy hữu là được ở cùng một đơn vị khi đổi qua Việt Nam. Mặc dù thương cô Mailan nhưng cả ông Joe và Jeremy không hề nói cho nhau biết tình cảm của mình. Ngày quân lực mỹ vội vàng rút quân ra khỏi Việt Nam, Joe và Jeremy đều trở về Texas và sau đó được giải ngũ. Tình cảm dành cho cô Mailan tưởng như đã để lại sau lưng với sự điêu tàn của cuộc chiến, không ngờ chỉ vài tháng sau thì Jeremy ngã bệnh, một loại ung thư liên quan tới những hạch máu (lymphoma). Chính lúc này Jeremy thú nhận với ông Joe là cô Mailan đang mang thai và ông ta đang làm giấy tờ để đưa cô Mailan qua Mỹ. Ngày Jeremy hấp hối, ông ta yêu cầu ông Joe nhận trách nhiệm là sẽ lo cho cô Mailan vẹn toàn. Bênh cạnh giường bệnh của người bạn đồng hành,đồng chí hướng ông Joe bùi ngùi nhận lời hứa.

Sự thay đổi sau cuộc chiến tạo nên nhiều trắc trở trong việc liên lạc với cô Mailan, khó khăn hơn nửa là cô ta ở tận miền tây. Sau nhiều năm tìm kiếm và miệt mài lo giấy tờ với ý định đem cả cô Mailan và đứa con ra khỏi nước, cuối cùng côMailan ra đi một mình, đứa con nhỏ lúc đó saú tuổi không đi cùng vì lý do rất giản dị, khi sanh xong bà mẹ của Mailan vì sợ hàng xóm dị nghị nên nhận đứa cháu ngoại là con. Theo pháp lý cô Mailan và đứa bé không có gì ràng buộc ngoài trừ tình “chị em”. Tôi còn nhớ ông Joe kể tới đây thì dường như có một cái gì khúc mắc nên ông lắc đầu nói như thầm thì với chính ông:

– Phải chi đứa be… suông sẻ thì hai mẹ con hủ hỉ với nhau. Có lẽ trời phật chưa phù trợ nên Mailan mới khổ sở như thế này.

Tôi bất chợt nghĩ là đứa bé đã mất nhưng ông Joe dường như đoán được ý nghĩ của tôi, ông nói tiếp:

– Chiến tranh tàn bạo lắm cưng à. Jeremy chết vì bệnh ung thư hạch máu, đứa con của Jeremy rất khôi ngô, thằng bé giống hệt như ba nó nhưng khi nó mười tuổi thì mới biết là thằng bé không có trí khôn của những đứa bé cùng lứa tuổi. Năm nay thì nó đã hơn ba mươi tuổi rồi và vẫn ngu ngơ sống với bà ngoại của nó ở Việt Nam.

Tôi thắc mắc:

– Nhưng sao lại dính líu tới chiến tranh”

Ông Joe từ tốn giải thích:

– Cưng phải biết, ngày trước tôi và Jeremy ở trong lực lượng hải quân Sông Ngòi, khi chiến dịch rải thuốc khai hoang dọc theo dòng sông miệt đó có lẽ chúng tôi đã hửi mùi thuốc qúa nhiều, đã ăn những sản phẩm nhiễm chất độc đó nên chi Jeremy mới bị ung thư hạch máu và bị ảnh hưởng đến thằng bé con mới bị chậm trí. Chắc lúc đó cưng còn nhỏ nên không để ý tới thời cuộc,nhưng gần đây tin tức tài liệu vể dữ kiện này được đăng khắp nơi.

Sau khi nghe ông Joe giải thích tôi nhớ ngay tới một cuộc phỏng vấn trên chương trình 20/20 với bà Barbara Walter cách đây khá lâu. Cuộc phỏng vấn về gia đình tướng Zumwalt, người đồ đốc hải quân đã ra lệnh rải thuốc khai hoang dọc theo những nhánh sông Cửu Long ,và dọc theo biên giới Cao Miên năm 1968 để phá đi những khu rừng rậm nơi cộng sản núp trốn và rình rập bắn tấn công những con thuyền đi tuần trên sông ngòi. Người con trai cả của đồ đốc Zumwalt, Elmo Zumwalt 3rd lúc đó cũng ở vào lực lượng hải quân ở Việt Nam, anh có nhiệm vụ đi tuần dọc theo những con sông nơi bị rải thuốc khai hoang. Sau khi trở về nước, một năm sau anh ta khám phá ra là bị ung thư của những hạch máu (lymphoma) và chứng bệnh rất độc của bạch huyết cầu (Hodgkin’s disease). Đau đớn hơn nữa là đứa con của anh, Elmo Zumwalt 4th thì mắc phải chứng bệnh chậm trể thần kinh (Mental Retardation). Cũng trong thời gian này, báo chí đã nêu lên những dự kiện cấu kết từ thuốc khai hoang (Agent Orange) và những đứa con của những người cựu chiến binh từ Việt Nam, con của họ đã sinh ra với hình hài không được bình thường (birth defects).

– Khi nghe tôi đề cập tới câu chuyện của gia đình đồ đốc Zumwalt, ông Joe cay đắng:

– Tôi cảm thấy thương xót cho người con của ông ta, nhưng dù sao họ có thế lực, oai quyền nên họ có đủ điều kiện chửa trị trong khi những người như chúng tôi thì đành chịu chết hoặc đui mù thôi.

Tôi giật mình, nhìn lên khuôn mặt khả ái, đẹp trai của ông Joe với một con mắt với miếng vải che lại một bên. Tôi không dám hỏi nhưng ông Joe đã trả lời:

– Tôi nói với cưng rồi, chiến tranh dã man ghê lắm, chiến tranh và sự chết chóc qúa gần trong đời sống làm con người đâm ra ngông cuồng. Một thằng bạn đồng đội sau khi chứng kiến nhiều cái chết trước mắt trong một ngày nổi cơn điên hốt thuốc khai hoang và liệng tung khắp bầu trời, tôi đứng gần lảnh đủ, may là chỉ đui có một bên. Không biết những gì đã xảy ra trong cuộc đời của nó vì khi nổi cơn điên lên nó còn hăm dọa là sẽ uống luôn thuốc khai hoang để ..thử thách với đời.

Câu chuyện của ông Joe là trong những mẫu chuyện đớn đau cay đắng mà tôi đã từng nghe, từng chứng kiến khi có dịp tiếp xúc với những cựu chiến binh Hoa Kỳ. Sau cuộc chiến đời sống của họ bổng dưng bị đảo lộn, họ tiếp tục bị ám ảnh bởi những bom đạn, những cơn ác mộng dai dẳng và sự căm hận về cuộc chiến không lối thóat. Phần nhiều đời sống của họ không còn bình thường như trước. Họ trở về nước sống nhờ thuốc an thần mà những loại thuốc này không thể mang lại sự bình an cho họ,trái lại họ còn bị hổn loạn tinh thần hơn. Tôi đã từng thấy những cựu chiến binh sống bên lề đường xin ăn, đời sống càng ngày càng đi vào ngõ tối vì khi lảnh tiền trợ cấp hàng tháng ra họ chỉ biết dùng tiền mua rượu ,uống cho say sưa quên đời rồi sau đó quên đi sự nhục nhã ngửa tay xin từng đồng.

Ông Joe kể cho tôi nghe về những tối nằm trên bong tàu nhìn những đóm hoả châu sáng ngập bầu trời, đợi chờ những biến cố bất thường xảy đến như sự pháo kích bất ngờ của cộng qụân, nếu bị bắn thì tất cả sẽ nhảy xuồng nước tránh nạn. Ông còn nói thêm tầng phía dưới của chiếc tàu là nơi dễ bị nhắm nhất vì đó rất vừa tầm tay súng của kẻ thù. Nghe ông kể tôi ngậm ngùi nhớ đến những người cựu chiến binh đã tình cờ đến trong cuộc đời tôi như ông Rọm, người cựu biệt kích dù, như một Kevin Ngô người thuơng phế binh ngoại quốc khi lập gia đình đổi theo họ của vợ. Tình cảm tôi dành cho những cựu chiến binh chất chứa trong lòng vì ba tôi cũng là từng là một chiến sĩ hiên ngang xông pha ngoài trận tuyến, khi đến nước Mỹ không lâu thì ông chết vì bệnh tim, tôi luôn luôn nghĩ ba tôi mất vì bệnh đau tim theo lẫn nghĩa đen và nghĩa bóng.

Ông Joe luôn túc trực bên cô Mailan, tiếng nhạc miền quê Texas tiếp tục điệu Waltz vui tươi. Mỗi ngày tôi đi ngang phòng cô Mailan thì tôi nhớ thêm được một khúc hát:

Waltz across Texas with you in my arms

Waltz across Texas with you

Like a storybook ending I’m lost in your charms

And I could waltz across Texas with you

Khi nghe tôi thầm thì hát theo điệu nhạc, ông Joe nói với tôi rằng rất tiếc tôi không gặp được cô Mailan khi cô khoẻ mạnh vì cô lúc nào cũng lạc quan, yêu đời. Ông cho biết tình ông đối với cô Mailan nặng lắm, khi cô Mailan đến đất Mỹ, hai vợ chồng ông rất nghèo. Ngày giã từ quân ngũ trở về ông không có bằng cấp địa vị, ông ăn tiền trợ cấp của cựu quân nhân và tài trợ cho người tàn tật vì ông bị mù một bên mắt. Cuộc đời của ông gắn bó với những bất hạnh, chỉ vài tháng sau khi cô Mailan đến thì ông bị đứt mạch máu não, và bị liệt một bên người. Cô Mailan mặc dù ngôn ngữ còn bất đồng nhưng một mình tháo vát lo cho ông rất chu đáo. Ông nhớ hoài sự tận tụy lo lắng của cô Mailan vào lúc ban ngàylo thuốc men và phụ ông tập thể dục (rehabilitation), rồi tối đến hình dáng nhẫn nhục của cô Mailan ngồi bên chiếc máy may may từng mảnh áo, thưở đó cô Mailan lảnh đồ về nhà may, mỗi cái áo có 25 xu thôi. Cô miệt mài may vá cho đến khuya và không bao giờ nghe cô than vản. Chính những đêm khuya đó cô Mailan buồn nên vặn radio nghe nhạc, những bài hát theo điệu quê (country music) rồi cô đâm ra thích loại nhạc này. Cô thích nhất là những bài hát của Willie Nelson và của Johnny Cash.

Nhờ sự kiên nhẫn của cô Mailan, một năm sau ông Joe đi đứng lại được mặc dù bên phía tay trái vẫn còn hơi yếu. Khi mạnh lại ông Joe đưa cô Mailan đi xem cao bồi cưỡi ngựa đấu bò (rodeo), cô Mailan tính tình mộc mạc hiền lành, đi xem vài lần xong đâm ra thích thú. Từ đó niềm giải trí của hai vợ chồng ông là đi xem rodeo mỗi tháng. Nguyện vọng của cô Mailan là một ngày nào đó cô sẽ được đi khắp vùng Texas, được xem tất cả những trận rodeo ngoạn mục.

Ông Joe trở lại trường đi học về nghành kỹ sư, bốn năm sau đời sống của hai vợ chồng ông khá giả hơn, ông và cô Mailan về lại Việt Nam thăm gia đình. Ông kể lại sự bồn chồn bất an của chính tinh thần ông trong chuyến trở về đó, ông nói với tôi chuyến đi buồn nhiều hơn vui vì đây là cơ hội cho ông chứng kiến thảm cảnh sau chiến cuộc.

– Người tàn tật khắp nơi cưng ơi! đời sống của dân chúng còn tệ hơn lúc còn chiến tranh. Xã hội đầy rẫy tham nhũng hối lộ. Cộng sản bóc lột dân chúng nên chi người nào theo chúng nó nịnh bợ thì giàu nứt đất nẻ đai, kè nghèo thì chết không có chiếu chôn. Chúng tôi trở về niềm an ủi duy nhất cho Mailan là gặp lại đứa con trai và bà mẹ. Khi trở lại Mỹ, Mailan như người không hồn và tôi cảm thấy bó tay, bất lực không giúp gì Mailan được.

Ông Joe nói thêm là có lần ông ngõ ý nhận thằng bé con của Jeremy làm con nuôi để đưa nó qua bên đây sống, nhưng sau khi suy đi nghĩ lại cả ông và cô Mailan quyết định không nên, vì theo cô Mailan, đứa con khờ khạo chậm trí của cô có qua đến bên Mỹ mặc dầu đời sống vật chất đầy đủ hơn nhưng mỗi ngày cô và ông Joe càng già sẽ lo không nổi cho nó, rồi nó cũng sẽ vào trong những viện đặc biệt dành cho những đứa bé cùng cảnh ngộ như nó. Cô Mailan nghĩ là để con ở lại Việt Nam dù sao bà ngoại và gia đình cô còn có tình thương lo cho nó và nó sẽ được sống trong sự hạnh phúc ngây ngô đó. Ông Joe cảm phục sự hy sinh của cô Mailan, từ đó mỗi tháng ông đều đặn gửi tiền về để gia đình cô Mailan lo cho con. Lần cuối ông và cô Mailan về xây một căn nhà khá khang trang ở Rạch Gía cho cả đại gia đình cô Mailan ở. Mỗi năm hai vợ chồng ông về thăm nhà một lần và mỗi lần ở tới ba tháng. Từ ngày cô Mailan bệnh vợ chồng ông không về được, ông không biết phải giải thích như thế nào với gia đình vì cô Mailan căn dặn là đừng cho gia đình hay sợ mọi người lo lắng.

Cô Mailan dần dần tỉnh lại và qủa thật như ông Joe đã nói, mặc dù còn yếu cô Mailan lúc nào cũng điềm tinh, vui vẻ. Khi tôi mang vào tặng cô chậu hoa tulips trắng thì cô bật khóc, trong khi tôi còn bỡ ngỡ thì ông Joe cho biết đây là loại hoa mà mỗi năm vào ngày ba mươi tháng tư, ngày giổ của Jeremy cô và ông đem ra ngôi mộ của Jeremy thăm viếng. Ông còn cho hay là mỗi năm vào ngày quốc hận cô Mailan và ông đều vào trường UT (University of Texas) để tham dự đêm không ngủ. Khi biết được tôi là cựu học sinh của trường UT, cô Mailan hỏi:

– Cưng có tham dự vào đêm không ngủ lần nào chưa” Cảm động lắm cưng ơi, sự mất mát đã đem tình người ngồi lại với nhau, đốt những ngọn nến để thấy còn nồng hơi thở của quê hương và biết thương yêu còn trong trái tim mọi người.

Tôi không ngờ cô Mailan mộc mạc mà có thể diễn tả tâm trạng một cách văn hoa mật ngọt như thế. Ngày cô Mailan xuất viện tôi đến từ giã, cô Mailan nhắn với tôi:

– Cưng hay đi chùa nhớ cầu xin Phật độ cho cô một cái chết được an lành. Cô chỉ tội cho anh Joe thôi, suốt cuộc đời anh ấy qúa tốt với cô, cưng nhớ cầu Phật mang đến cho anh ấy chút thanh thản trong đời.

Trong khối óc tưởng rằng giản dị của cô Mailan lại chất chứa một sự thông minh lạ thường.vì sau khi nói chuyện với ông bác sĩ về tình trạng của cô, tôi biết đời sống còn lại của cô rất mong manh. Cô bị ung thư máu đã mấy năm qua và sự đau đớn của thể xác khiến cô sẵn sàng buông xuôi.

Sáng hôm nay gặp lại anh Joe trong qúan café, tôi bùi ngùi nhắc lại những lời nói của cô Mailan. Ông Joe nhìn tôi dọ hỏi:

– Cưng có biết gì về kinh Dược Sư không” Nghe nói loại kinh này nghe xong tâm trí rất an hòa, có người nghe xong hết bệnh ngay.

Tôi biết ông Joe đang có một hy vọng rất mơ hồ về tình trạng của cô Mailan. Niềm tin đến vội vã trong khi tâm thần ông qúa bất an. Tôi nhìn kỹ khuôn mặt và con mắt của Paul Newman, trong con mắt xanh đượm buồn đó có một thiết tha cầu khẩn từ đấng linh thiêng ban phép nhiệm màu. Tôi nhìn ông và bắt đầu hát nho nhỏ:

My heartaches and troubles just are up and gones

The moment you come into view

With your hand in mine dear I cound dance and dance

And Waltz across Texas with you

Tôi sẽ về đi ngay đến chùa xin chư phật phù hộ cho ông Joe được tâm an lạc và cho cô Mailan có thêm một chút sinh lực cuối cùng để cùng ông Joe đi dự xem những trận rodeo qua khắp miền Texas.

I could Waltz across Texas with you

It’s a fairyland tale that’s come true

Nguyễn Thị Huế Xưa

HIỆN TƯỢNG FATIMA, CỘNG SẢN, VÀ HỒI GIÁO

This gallery contains 2 photos.

      Số báo Time, phát hành ngày 30/12/1991, Richard N. Ostling – một ký giả kỳ cựu chuyên về mục tôn giáo – đăng tải một bài viết nhan đề, “Hand-maid or Feminist?”. Trong bài viết này, ông nhận định: “Trong số những phụ nữ đã từng sống ở trần gian, Mẹ của […]

hãy nắm tay nhau đi hết con đường

 

 

 

ta vốn biết cõi đời này rất thực
nên chẳng bao giờ mơ ước viển vông
đêm nằm mộng gặp chút tình tri ngộ
thì cũng xin từ khước một tấm lòng

ta vẫn biết cuộc đời này rất bạc
bạc như vôi, cả một chữ từ tâm
hà cớ gì mà không buông bỏ
cõi trần gian còn một chỗ nằm

ta đã biết đời người là hữu hạn
đừng bao giờ để tắt lửa yêu thương
cứ như vậy, lòng ta vô lượng
hãy nắm tay nhau đi hết con đường

NP phan    

gửi chút sương mù

 

gửi em một chút sương mù
hiên trời Đà Lạt mùa thu gió lùa
lưng đồi khói đổ chiều mưa
ngồi rưng rức nhớ cuối mùa mây trôi

gửi chiều Đà Lạt chơi vơi
mi mo sa thắm dốc đồi hoa rơi
mốt mai đi hết kiếp người
trong tôi còn thắp một trời mộng mơ

gửi em lại những trang thơ
cầm câu lục bát tôi chờ đợi em
từ cơn mưa nhỏ êm đềm
sao quên Đà Lạt vàng nghiêng dốc đồi

gửi luôn em những nụ cười
ngàn thông và gió và lời chia phôi
nhỡ mai tôi tuổi cuối đời
vẫn còn mơ một chân trời sương giăng…

nguyễn minh phúc

đà lạt tháng chín 2017

 

Dạ Khúc: Năm Câu Chuyện Về Âm Nhạc Và Đêm Buông ( chương 1)

FILE PHOTO: Author Kazuo Ishiguro photographed during an interview with Reuters in New York, U.S. April 20, 2005. REUTERS/Mike Segar/File Photo

Kazuo Ishiguro

Cái buổi sáng tôi nhìn ra Tony Gardner ngồi giữa đám khách du lịch ấy, mùa xuân vừa mới đến thành Venice. Chúng tôi vừa kết thúc tuần đầu tiên trọn tuần biểu diễn ngoài trời ở  Quảng trường– thực là nhẹ nhõm vô kể, anh nghĩ mà xem, sau những giờ đằng đẵng chen chúc ở góc trong cùng quán, vừa biểu diễn vừa tránh đường cho thực khách lên xuống cầu thang. Sáng ấy gió se se lạnh, và cái rạp mới tinh cứ lật phật quanh chúng tôi, nhưng cả hội đều cảm thấy thư thái và sảng khoái, và tôi nghĩ cái chút thư thái sảng khoái đó có thể nghe ra được trong nhạc chúng tôi chơi.

Nhưng nghe mà xem, tôi đang nói cứ như là mình chơi chính thức trong ban nhạc vậy. Thật ra tôi chỉ là một gã “di gan”, đấy là từ của giới nhạc công chỉ những kẻ đi khắp piazza, hễ có ban nào trongba quán cà phê thiếu người thì ghé chân vào. Chủ yếu tôi chơi ở quán Caffè Lavena, nhưng chiều nào đắt sô tôi cũng có thể làm một suất với ban của Quadri, rồi chạy qua bên Florian, rồi lại băng ngang quảng trường về Lavena. Tôi đánh bạn khá thân với họ – với cả bồi bàn ba quán nữa – và giả dụ là ở đâu khác thì giờ này tôi đã có chốn an cư rồi. Nhưng ở cái thành phố sốt lên vì truyền thống và quá khứ này, mọi thứ đều đảo ngược cả. Ở nơi khác, biết chơi ghi ta là anh đã có lợi thế. Còn đây à, ghi ta! Các chủ quán gãi đầu gãi tai. Ghi ta thì hiện đại quá, khách du lịch sẽ không ưa. Mùa thu rồi tôi kiếm được một chiếc ghi ta jazz loại cổ điển có lỗ thoát âm hình ô van, loại mà ngay Django Reinhardt cũng phải vừa ý, để nhìn vào không ai tưởng là một tay chơi rock. Như thế lẽ ra dễ chịu hơn, nhưng các chủ quán vẫn không hài lòng. Nói đằng thằng ra thì, một khi chơi ghi ta thì dù anh có là Joe Pass đi nữa, người ta cũng chẳng cho anh được một công việc ổn định ở quảng trường này đâu.

Thêm nữa, tất nhiên, lại còn cái chuyện nho nhỏ là tôi không phải dân Ý, nói gì đến dân Venice. Anh chàng người Séc thổi kèn saxo alto cũng chịu chung số phận. Người ta thích chúng tôi, ban nhạc cần chúng tôi, nhưng dù gì thì gì vẫn không có chỗ trong thực đơn chính thức cho chúng tôi. Chơi đi và ngậm mỏ lại, các chủ quán luôn nói thế. Như thế thì khách sẽ không biết cậu không phải người Ý. Mặc áo đuôi tôm, đeo kính râm vào, chải tóc lật ra sau, sẽ chẳng ai nhận thấy, miễn là đừng mở miệng.

Nhưng công việc cũng không đến nỗi tồi. Ban nhạc cả ba quán, nhất là khi phải chơi cùng lúc từ các rạp đối địch nhau, họ đều cần đàn ghi ta – cái gì đó nhẹ, chắc nịch, nhưng được tăng âm, đứng trong cùng mà phả ra các hợp âm. Chắc hẳn anh đang nghĩ, ba ban nhạc cùng chơi trên một quảng trường, hẳn phải hỗn loạn lắm. Nhưng Piazza San Marco rộng rãi đủ cho tất cả. Một người khách đi ngang quảng trường sẽ nghe thấy bản nhạc này dần tắt, giai điệu khác lớn dần, như khi dò sóng radio. Có một thứ mà khách du lịch không thể chịu đựng nhiều quá, đấy là nhạc cổ điển, những bản nhạc không lời phối nhiều cách khác nhau từ những điệu aria nổi tiếng. Tất nhiên, đây là San Marco, không ai đòi các ca khúc pop đang thịnh hành. Nhưng thỉnh thoảng họ cũng muốn thứ gì đó quen tai, có thể là một khúc trong nhạc kịch Julie Andrews ngày xưa, hay nhạc nền một bộ phim tên tuổi. Tôi nhớ có lần hè năm ngoái tôi đi từ quán này sang quán khác, chơi “Bố già” chín lần liền trong một buổi chiều.

Tóm lại là buổi sáng mùa xuân ấy, chúng tôi đang chơi cho một đám du khách khá đông đảo thì tôi nhìn thấy Tony Gardner, một mình bên cốc cà phê, gần như ngay trước mặt mình, cách rạp chỉ khoảng sáu mét. Người nổi tiếng đến quảng trường này không ít, chúng tôi chẳng bao giờ rộn lên làm gì. Kết thúc một bản, có thể sẽ nghe các nhạc công bảo nhỏ nhau. Nhìn kìa, Warren Beatty đấy. Nhìn, Kissinger kìa. Cái bà kia, ở trong cuốn phim có mấy người đổi mặt cho nhau đấy. Chúng tôi quen rồi. Đây là Piazza San Marco cơ mà. Nhưng khi tôi nhận ra đúng là Tony Gardner đang ngồi kia, thì khác. Tôi hào hứng thực sự.

Tony Gardner từng là ca sĩ yêu thích của mẹ tôi. Ngày xưa, ngày còn chính quyền cộng sản, chẳng dễ mà kiếm được những đĩa nhạc kiểu ấy, nhưng mẹ tôi có gần như đủ bộ đĩa của ông. Một lần hồi nhỏ, tôi làm xước mất một trong những đĩa nhạc quý báu đó. Căn hộ thì chật, mà một đứa bé trai như tôi hồi ấy không thể tránh khỏi lúc cuồng chân cuồng tay, nhất là trong những tháng mùa đông lạnh không dám ló mặt ra đường. Thế là tôi chơi trò nhảy từ cái xô pha nhỏ sang ghế bành, và trong một cú nhảy tôi nhắm nhầm mà lao thẳng vào máy quay đĩa. Cái kim rạch lên mặt đĩa đánh xẹt – đó là từ rất lâu trước khi có đĩa CD – thế là mẹ trong bếp chạy ra mắng tôi một trận. Tôi buồn bực lắm, không phải chỉ vì bị mắng, mà vì tôi biết đấy là đĩa nhạc của Tony Gardner, và biết mẹ quý nó đến mức nào. Và tôi biết cả cái đĩa này nữa rồi sẽ có những tiếng lụp bụp đế theo khi ông rủ rỉ những bài hát Mỹ. Nhiều năm sau, khi lên Warszawa làm việc và biết về thị trường đĩa lậu, tôi mua lại cho mẹ toàn bộ các an bum của Tony Gardner thay cho đĩa của mẹ đã mòn hết, kể cả cái tôi làm xước. Tôi mất ba năm cho việc đó, nhưng tôi cứ tìm được thêm, từng cái một, và mỗi lần về thăm mẹ tôi lại mang một cái về.

Vì thế chắc anh hiểu sao tôi lại hào hứng như vậy khi nhận ra ông ngồi cách mình chưa đầy sáu mét. Thoạt đầu tôi không tin vào mắt mình, và chắc là đã lỡ một phách trong chuỗi hợp âm. Tony Gardner! Thử nghĩ mẹ thân yêu sẽ bảo gì nếu biết điều này! Vì mẹ, vì những kỷ niệm về mẹ mà tôi phải đến nói gì đó với ông ấy, kể cả nếu mọi người trong ban nhạc có cười và bảo tôi cư xử như một gã hầu phòng.

Nhưng tất nhiên tôi không thể cứ thế chạy ào đến chỗ ông, đẩy nhào bàn ghế xung quanh được. Vẫn còn phải chơi cho xong suất. Đấy thật là một cực hình, anh thử nghĩ xem, chơi ba bốn bài nữa trong khi bất cứ lúc nào tôi cũng tưởng như ông sắp đứng dậy bỏ đi. Nhưng ông vẫn ngồi đấy, một mình, cứ nhìn cốc cà phê, khuấy chầm chậm như băn khoăn không hiểu bồi bàn mang cho mình thứ gì. Trông ông cũng giống như mọi du khách Mỹ khác, áo sơ mi xanh nhạt bẻ cổ và quần ống rộng màu xám. Tóc ông trên bìa đĩa đen và láng mượt là thế, giờ đã gần bạc, nhưng vẫn còn rất dày, và vẫn chải nuột nà theo cùng một kiểu ngày xưa. Khi tôi mới nhìn ra ông, ông cầm cặp kính đen trong tay – tôi không hiểu nếu không phải thế thì liệu mình có nhận ra ông không – nhưng trong lúc ban nhạc cứ chơi và tôi cứ nhìn, ông đẩy kính lên mắt, rồi lại bỏ ra, rồi lại đeo vào. Có vẻ ông đang chìm đắm trong suy nghĩ, và tôi hơi thất vọng thấy ông không để ý lắm đến nhạc chúng tôi chơi.

Rồi suất diễn cũng xong. Tôi vội vã ra khỏi rạp mà không nói gì với mọi người, đi thẳng đến bàn Tony Gardner, rồi trong một giây hoảng hốt không biết phải bắt chuyện thế nào. Tôi đứng sau lưng ông, nhưng giác quan thứ sáu nào đó đã mách ông quay lại nhìn lên tôi – chắc là do bao nhiêu năm được fan săn đón – và tích tắc sau tôi đã tự giới thiệu mình, rằng tôi hâm mộ ông đến mức nào, rằng tôi chơi trong ban nhạc ông vừa nghe, rằng mẹ tôi là fan ruột của ông, cứ thế một lèo. Ông lắng nghe hết sức nghiêm nghị, lúc lúc lại gật đầu như bác sĩ nghe bệnh nhân. Tôi cứ nói hoài mà ông chỉ đôi lúc bảo “Thế à?” Sau một lúc tôi nghĩ thế là đủ rồi và chuẩn bị xin phép đi thì ông nói:

“Thế ra anh là người ở mấy nước cộng sản ấy đấy. Sống ở đấy chắc khó khăn.”

“Đấy là ngày xưa thôi.” Tôi làm bộ vui vẻ nhún vai. “Bây giờ chúng tôi có một đất nước tự do. Và dân chủ.”

“Tốt quá. Và đội của anh vừa chơi cho chúng ta nghe đấy. Ngồi xuống đi. Anh dùng cà phê?”

Tôi nói không định ép ông chịu đựng mình, nhưng giọng ông giờ đã có vẻ hiền từ nhưng cương quyết. “Không, không, anh ngồi xuống. Mẹ anh thích nghe đĩa của tôi, anh bảo thế mà.”

Thế nên tôi ngồi xuống và kể thêm chút nữa. Về mẹ tôi, về căn hộ, thị trường đĩa lậu. Và dù không nhớ được tên các an bum, tôi quay sang mô tả hình minh họa trên bìa đĩa theo trí nhớ, và mỗi lần như thế ông lại giơ ngón tay lên mà noi, ví dụ: “À, đó chắc là Inimitable. The Inimitable Tony Gardner.” Tôi nghĩ cả hai đều đang thích thú trò chơi này, nhưng rồi, nhận ra ánh mắt ông Gardner trượt qua tôi, tôi ngoảnh lại vừa kịp thấy một người phụ nữ đang đi lại bàn.

Đấy là một điển hình của những bà người Mỹ hết sức quý phái, từ kiểu tóc tới phục trang lẫn dáng người, đến mức anh sẽ ngỡ họ còn trẻ lắm cho tới khi thấy họ thật gần. Nhìn từ xa, có lẽ tôi đã tưởng nhầm bà là một cô người mẫu trong các tạp chí thời trang giấy bóng. Nhưng khi bà ngồi xuống cạnh ông Gardner và đẩy cặp kính đen lên trán, tôi thấy bà cũng phải ít nhất năm mươi rồi, có khi hơn. Ông Gardner bảo tôi: “Đây là vợ tôi, Lindy.”

Bà Gardner thoáng mỉm với tôi một nụ cười có vẻ miễn cưỡng, rồi nói với chồng: “Còn đây là ai? Anh đã kịp tìm ra một người bạn rồi cơ à.”

“Đúng thế, em yêu. Anh đang trò chuyện vui vẻ với… Xin lỗi anh bạn, tôi vẫn chưa biết tên anh.”

“Jan,”tôi đáp nhanh. “Nhưng các bạn tôi gọi tôi là Janeck.”

Lindy Gardner nói: “Anh nói là anh có tên thân mật còn dài hơn tên thật à? Sao lại thế được?”

“Đừng khiếm nhã với anh bạn trẻ, em yêu.”

“Em không khiếm nhã.”

“Đừng bông đùa về tên anh ấy, em yêu. Thế mới ngoan chứ.”

Lindy Gardner quay sang tôi tỏ vẻ bất lực. “Anh có hiểu ông ấy nói thế là sao không? Tôi có lăng mạ anh à?”

“Không, không,” tôi nói, “không có đâu, bà Gardner.”

“Lúc nào ông ấy cũng bảo tôi khiếm nhã với công chúng. Nhưng tôi có khiếm nhã đâu. Nãy tôi có khiếm nhã với anh không?” Rồi sang ông Gardner: “Em nói chuyện với công chúng một cách tự nhiên, cưng ạ. Đấy là phong cách của em. Em không bao giờ khiếm nhã.”

“Được rồi, em yêu,” ông Gardner nói, “không nên chuyện bé xé ra to. Hơn nữa, anh bạn trẻ này không phải là công chúng.”

“Ồ, không phải à? Thế anh ấy là gì? Cháu họ xa vừa tìm được à?”

“Lịch sự đi nào, em yêu. Anh bạn trẻ đây là đồng nghiệp. Nhạc công, dân nhà nghề. Chúng ta vừa hân hạnh được nghe anh trình diễn.” Ông đưa tay về hướng rạp.

“Ồ đúng rồi!” Lindy Gardner lại quay sang tôi. “Anh vừa chơi trên đó phải không? Nhạc hay lắm. Anh chơi phong cầm, phải không? Hay lắm!”

“Cám ơn bà rất nhiều. Thực ra thì tôi chơi ghi ta.”

“Ghi ta à? Anh đừng đùa. Tôi vừa nhìn anh chơi có một phút trước. Ngồi ngay kia, cạnh tay chơi đại hồ cầm, điều khiển phong cầm điêu luyện làm sao.”

“Xin phép bà, thực ra người chơi phong cầm là Carlo. To béo, đầu hói…”

“Anh nói thật à? Anh không đùa tôi chứ?”

“Em yêu, anh bảo rồi. Đừng khiếm nhã với anh bạn trẻ.”

Ông không hẳn là lớn tiếng, nhưng giọng ông đột ngột đanh và giận dữ, và rồi một lúc im lặng khó xử. Rồi tự ông Gardner lên tiếng nhẹ nhàng:

“Anh xin lỗi, em yêu. Anh không định gắt em.”

Ông đưa tay nắm lấy tay bà. Tôi cứ nghĩ bà sẽ hất ông ra nhưng không phải, bà trở người trong ghế để nhích lại gần hơn, và đặt tay kia lên đôi bàn tay đang nắm chặt. Họ ngồi như thế một lúc, ông Gardner đầu cúi xuống, bà vợ nhìn mông lung qua vai ông, sang bên kia quảng trường về phía nhà thờ thánh Peter, dù có vẻ anh mắt bà chẳng đặt vào đâu cả. Trong phút chốc hình như họ không chỉ quên có tôi ngồi đây, mà quên đi cả đám đông nhộn nhịp trên quảng trường. Rồi bà nói, nhẹ như hơi thở:

“Không sao đâu cưng. Lỗi tại em thôi. Em làm anh bực.”

Họ ngồi như thế thêm lát nữa, hai bàn tay siết chặt lấy nhau. Rồi bà thở dài, buông tay ông Gardner và nhìn sang tôi. Bà đã nhìn tôi lúc nãy rồi, nhưng lần này thì khác. Lần này tôi cảm thấy được sức quyến rũ của bà. Cứ như bà có một mặt số chia độ từ không đến mười, và khi nhìn sang tôi, lúc đó, bà đã quyết định xoay tới sáu hay bảy; tôi cảm nhận được nó rất rõ, và nếu bà có mở miệng yêu cầu tôi điều gì – ví dụ như bảo tôi đi suốt quảng trường để mua tặng bà bó hoa chẳng hạn – chắc tôi sẽ hào hứng tuân theo lập tức.

“Janeck,”bà nói, “Đấy là tên anh, phải không? Tôi xin lỗi Janeck nhé. Tony nói đúng. Tôi không có quyền nói với anh như vừa rồi.”

“Bà Gardner, thật tình không có gì phải lo đâu.”

“Mà tôi lại làm phiền hai người nói chuyện nữa chứ. Chắc là chuyện âm nhạc, phải không? Thế này nhé, tôi sẽ để yên cho cả hai nói tiếp.”

“Không việc gì phải đi cả, em yêu,” ông Gardner nói.

“Thế mà có đấy cưng. Em đang thèm được ngó vào cái hiệu Prada đằng kia đến điên lên được. Em chỉ ra đây định bảo là em sẽ đi lâu hơn lúc đầu em nói thôi.”

“Thôi được rồi, em yêu.” Tony Gardner lần đầu tiên ngồi thẳng lên và hít vào một hơi. “Miễn là em biết chắc em sẽ vui.”

“Ởt rong đó em sẽ cực kỳ phấn khởi. Thế nên hai chàng trai cứ nói chuyện vui vẻ nhé.” Bà đứng dậy khẽ chạm vào vai tôi. “Tạm biệt anh, Janeck.”

Hai chúng tôi nhìn theo bà đi, rồi ông Gardner hỏi tôi dăm câu ba điều về chuyện đàn hát ở Venice, cụ thể là về ban nhạc quán Quadri lúc này vừa bắt đầu chơi lại. Ông không có vẻ chú tâm vào những câu trả lời mấy, và tôi đã định xin phép đi thì ông thình lình bảo:

“Có một điều tôi muốn đề nghị với anh, anh bạn trẻ. Tôi sẽ nói với anh ý nghĩ của mình và anh cứ việc từ chối nếu muốn.” Ông ngả người về phía tôi và hạ giọng. “Tôi kể với anh chuyện này. Lần đầu Lindy và tôi đến Venice là để đi trăng mật. Hai mươi bảy năm về trước. Và mặc dù đã có rất nhiều kỷ niệm tuyệt vời ở đây, chúng tôi chưa bao giờ quay lại, hay ít nhất là không quay lại cùng nhau. Thế nên khi lên kế hoạch cho chuyến đi này, chuyến đi đặc biệt này, chúng tôi tự nhủ mình cần nghỉ lại vài ngày ở Venice.”

“Đây là kỷ niệm ngày cưới của ông bà ạ, thưa ông Gardner?”

“Ngày cưới?” Có vẻ như ông giật mình.

“Xin lỗi,” tôi nói. “Chỉ là tôi đoán, vì ông vừa nói đây là chuyến đi đặc biệt.”

Trông ông vẫn ngơ ngác mất một hồi, rồi ông bật cười, tiếng cười lớn, rền vang, và bỗng nhiên tôi nhớ ra bài hát mà mẹ tôi vẫn hay bật nghe suốt trong đó ông có nói một đoạn ngắn ở giữa bài, đại ý là ông không bận tâm đến người đàn bà đã bỏ ông mà đi, rồi thì ông cười khinh miệt đúng y như thế này. Giờ tiếng cười ấy vang khắp quảng trường. Đoạn ông nói:

“Ngày cưới à? Không, không phải ngày cưới. Nhưng điều tôi định đề nghị với anh cũng không khác lắm. Bởi tôi muốn làm một điều thật lãng mạn. Tôi sẽ hát cho bà ấy nghe từ dưới khung cửa sổ. Đầy kiểu cách, đúng chất Venice. Đây là lúc cần đến anh. Anh chơi ghi ta còn tôi hát. Ta sẽ dùng một chiếc gondola, ta bơi thuyền đến dưới cửa sổ, tôi hát vọng lên chỗ bà ấy.Chúng tôi thuê một palazzo cách đâykhông xa. Cửa sổ phòng ngủ trông thẳng ra kênh. Khi trời tối, đấy sẽ là khung cảnh lý tưởng. Đèn trên tường tạo sáng đúng như ý. Anh và tôi trên thuyền, bà ở bên cửa sổ. Tất cả những bài bà ấy thích. Chúng ta không cần phải làm nhiều, ban tối vẫn còn khá lạnh. Chỉ độ ba bốn bài thôi, tôi hình dung thế. Tôi sẽ lo cho anh được bồi dưỡng đủ. Anh nghĩ sao?”

“Ông Gardner, đấy sẽ là vinh dự lớn nhất đời tôi. Như tôi đã nói, ông là một nguồn ảnh hưởng quan trọng đối với tôi. Ông định khi nào?”

“Nếu trời không mưa thì sao không phải luôn hôm nay? Khoảng tám giờ rưỡi? Chúng tôi ăn tối rất sớm, giờ ấy đã về rồi. Tôi sẽ bịa chuyện gì đó để ra khỏi căn hộ, ra ngoài gặp anh. Tôi sẽ lấy một chiếc thuyền, chúng ta quay lại dọc con kênh, dừng ngay dưới cửa sổ. Đâu sẽ vào đấy. Anh nghĩ thế nào?”

Chắc anh cũng thấy, thật chẳng khác gì giấc mơ thành sự thực. Thêm nữa, đây là một ý tưởng đáng yêu biết bao, đôi vợ chồng này – chàng sáu chục, nàng năm chục xuân xanh – cư xử như một đôi thiếu niên mới biết yêu. Thực tế là ý tưởng ấy đáng yêu đến nỗi suýt nữa – nhưng chỉ suýt thôi – tôi quên bẵng cảnh tượng vừa xảy ra giữa họ. Ý tôi là, ngay cả lúc ấy, ở đâu đó tận sâu bên trong, tôi cũng linh cảm mọi việc sẽ không giản dị như ông vẽ ra.

Một lúc sau ông Gardner và tôi ngồi lại bàn bạc các chi tiết – ông muốn bài nào, chơi tông gì, những chuyện kiểu đó. Rồi đến lúc tôi phải về rạp tiếp tục suất diễn sau, nên tôi đứng dậy, bắt tay ông và nói ông có thể tuyệt đối tin tưởng ở tôi tối nay…

ĐÊM ĐỘC HÀNH

Xa thật xa – quá một tầm tay với
Em trôi theo con nước đỏ phù sa
Ta mây trắng bay bay chiều dịu vợi
Cách nhau xa qua mấy dặm quan hà

Trăng bến cũ ngây ngô chiều lữ thứ
Tóc phai màu qua mấy trận phong ba
Ai biết được cánh bườm dong sóng dữ
Sẽ ra sao khi bóng đã xế tà…?

Đêm độc hành chứa chan tình ly khách
Đèn bên đường đưa chiếc bóng xa hơn
Ta vẫn thế với nỗi buồn cô quạnh
Cuối đường chưa – Mà thăm thẳm đêm trường…?

HỒ CHÍ BỬU

RƯỢU CUỐI NĂM

Quán cóc một mình với gió đông
nhớ bạn, thương quê lũ chất chồng
sẵn giận, bưng nguyên bình trút rượu
trợn mắt nhìn ra phía biển Đông

Rượu đãi nhân giữa thời mạt vận
không cong lưng cũng sói gối quỳ
hào khí tiền nhân còn một bụm
tóc bạc mơ mòng được mấy khi!

Người tứ hướng, ta riêng một cõi
hồn ở ven sông, xác ở đồng
vung tay tưởng đụng sau liền trước
xiềng ách nghìn năm đủ thấm không!

Son sắt mài lòng chưa đủ bén
di hận muôn đời lẽ bại vong
toác giọng gọi hồn thiêng bỗng nghẹn
thế đất hình rồng có hóa long?!

Quán cóc, rượu cuối năm rót ngược
chiều hôm còn đứng đợi bên trời
ngày rộng mang mang thân lạc xứ
bèo nổi, mây chìm cố thổ ơi!
Nguyễn Tam Phù Sa

TÁC GIẢ ĐOẠT GIẢI NOBEL VĂN HỌC NĂM 2017: KAZUO ISHIGURO

 

VỀ TÁC GIẢ ĐOẠT GIẢI NOBEL VĂN HỌC NĂM 2017 KAZUO ISHIGURO:
Kazuo Ishiguro là một trong những nhà văn hàng đầu trong nền văn chương Anh đương đại. Sinh 8/11/1954 tại Nagasaki, gia đình ông chuyển tới Anh sống năm 1960, nơi ông lấy bằng cử nhân rồi thạc sĩ về sáng tác văn học. Năm 1982, Ishiguro chính thức nhập tịch Anh, cho ra đời tiểu thuyết đầu tay A Pale View of Hills, trở thành một cây bút trẻ sáng giá “ngang với Martin Amis, Salman Rushdie và Ian McEwan” (The Guardian).

Hai cuốn sách đầu tiên của ông đều lấy bối cảnh ở Nhật, cuốn thứ hai, An Artist of the Floating World (1986), bắt đầu chuỗi giải thưởng dồn dập đổ xuống ông. Bốn trên sáu tiểu thuyết của Ishiguro đã được đề cử Booker, gần nhất là Never Let Me Go,
chỉ đứng sau cuốn Biển của John Banville. Cuốn sách được giải thực sự là The Remains of the Day (1989), được dựng thành phim năm 1993 có Anthony Hopkins và Emma Thompson đóng với 8 đề cử Oscar.

Kazuo Ishiguro có viết truyện ngắn rải rác trên các báo, nhưng Dạ khúc là tập truyện ngắn đầu tiên của ông. Đây cũng là cuốn sách mới nhất ông xuất bản năm 2009.