TRUYỆN NGẮN CỦA HARUKI MURAKAMI: KINO

Bản dịch của Nguyễn Huy Hoàng

Gã luôn ngồi ở cùng một chỗ, trên cái ghế đẩu đặt dưới cuối quầy. Đó là khi chưa có ai ngồi, nhưng nó hầu như lúc nào cũng trống. Quán bar hiếm khi đông khách, chỗ ngồi đặc biệt đó là nơi kín đáo và ít thoải mái nhất. Cầu thang phía sau khiến trần nghiêng và thấp, thế nên rất khó để đứng lên mà không bị cộc đầu. Mà gã cao, chẳng hiểu sao lại ưa cái chỗ hẹp và chật chội ấy.

Kino còn nhớ lần đầu gã tới quán của anh. Sự xuất hiện của gã khiến Kino lập tức chú ý — mái đầu cạo hơi xanh, bờ vai mỏng nhưng rộng, ánh mắt sắc lẹm, gò má cao và trán rộng. Trông gã khoảng đầu ba mươi, mặc một cái áo mưa xám dài dù trời không mưa. Lúc đầu, Kino nghĩ gã là một tên yakuza nên anh rất cảnh giác với gã. Lúc đó là bảy rưỡi một buổi tối lạnh giữa tháng Tư, quán thì vắng khách. Gã chọn chỗ ngồi dưới cuối quầy, cởi áo khoác, gọi một cốc bia bằng chất giọng trầm, rồi lặng thinh đọc một cuốn sách dày. Nửa tiếng sau, đã hết cốc bia, gã khẽ giơ tay lên khoảng ba hay năm phân để ra hiệu cho Kino và gọi một cốc whiskey. “Loại nào?” Kino hỏi, nhưng gã nói gã không thích hẳn loại nào.

“Loại Scotch bình thường nào đấy thôi. Đúp. Thêm chừng ấy nước và chút đá, nếu được.”

Kino rót một chút White Label vào cốc, thêm lượng nước tương đương và hai viên đá nhỏ vuông vắn. Gã hớp một ngụm, chăm chú ngắm cốc rượu và nheo mắt lại. “Cái này được đấy.”

Gã đọc thêm nửa tiếng rồi đứng dậy và thanh toán bằng tiền mặt. Gã đếm chính xác từng đồng lẻ để không phải nhận xu tiền thừa nào. Kino khẽ thở phào nhẹ nhõm ngay khi gã vừa ra khỏi cửa. Nhưng dù gã đã đi, sự hiện diện của gã vẫn còn ở lại. Trong lúc đứng sau quầy, thỉnh thoảng Kino lại liếc xuống chỗ gã vừa ngồi, nửa lòng hi vọng gã vẫn còn ở đó, đưa tay lên mấy phân để gọi chút đồ.

Gã bắt đầu thường xuyên tới quán của Kino. Một, nhiều nhất là hai lần một tuần. Gã luôn gọi một bia trước, sau đó đến một whiskey. Đôi khi gã lại nghiên cứu thực đơn trong ngày trên tấm bảng đen và gọi một bữa ăn nhẹ.

Gã hầu như không nói một lời. Gã luôn đến khá sớm vào buổi tối với một cuốn sách kẹp dưới nách mà gã sẽ đặt lên quầy. Mỗi khi đọc đã mệt (ít ra là Kino đoán gã đã mệt), gã ngước mắt khỏi trang sách và nghiên cứu những hàng chai rượu xếp trên các kệ đặt trước mặt gã, như thể đang xem xét một loạt những con thú bị nhồi xác khác lạ đến từ những vùng đất xa xôi.

Dù thế, khi đã quen, Kino chưa từng cảm thấy khó chịu khi ở cạnh gã, ngay cả khi chỉ có hai người. Kino cũng rất kiệm lời, anh không cảm thấy khó khăn khi phải giữ yên lặng quanh những người khác. Trong khi gã đọc, Kino làm những việc anh vẫn làm khi ở một mình — rửa bát đĩa, chuẩn bị nước sốt, chọn nhạc để bật, hoặc lật qua các trang báo.

Kino không biết tên gã. Gã chỉ là một khách quen thường xuyên tới quán, thưởng thức một bia và một whiskey, lặng lẽ đọc, trả tiền mặt, rồi đi. Gã không làm phiền ai. Kino còn cần biết gì thêm về gã?

***

Hồi đại học, Kino là vận động viên điền kinh chạy tầm trung xuất sắc, nhưng đến năm 3 anh bị đứt gân gót chân nên phải từ bỏ ý định tham gia một đội chạy tiếp sức. Tốt nghiệp xong, theo lời huấn luyện viên, anh làm việc cho một công ty thiết bị thời trang và ở lại đó 17 năm. Công việc mà anh đảm trách là thuyết phục các cửa hàng thể thao niêm yết nhãn giày chạy của anh và các vận động viên hàng đầu thử chúng. Công ty của anh, một doanh nghiệp tầm trung có trụ sở tại Okayama, còn lâu mới được nổi tiếng và thiếu sức mạnh tài chính như của Nike hay Adidas để thảo các hợp đồng độc quyền với những vận động viên điền kinh hàng đầu thế giới. Tuy vậy, nó vẫn tạo nên nhiều đôi giày thủ công được chế tác cẩn thận và cũng có một số ít vận động viên tin tưởng vào sản phẩm của nó. “Làm việc lương thiện rồi sẽ được đền đáp” là khẩu hiệu của người sáng lập công ty, và phương pháp thầm lặng, phần nào hơi lạc hậu đó lại phù hợp với tính cách của Kino. Ngay cả một người ít nói, khó gần như Kino cũng có thể bán được hàng. Thực ra, chính vì tính cách của anh mà các huấn luyện viên mới tin tưởng anh, các vận động viên mới thích anh. Anh cẩn thận lắng nghe từng nhu cầu của mỗi vận động viên, đảm bảo người phụ trách bộ phận sản xuất nhận được mọi chi tiết. Lương lậu không nhiều để nói, nhưng với anh công việc như thế là hấp dẫn và hài lòng. Dù không thể tự mình chạy được nữa, anh vẫn thích ngắm nhìn những vận động viên chạy quanh đường đua, hình thức hoàn hảo tuyệt đối của họ.

Kino bỏ việc không phải vì anh đã hết hài lòng với công việc, mà vì anh phát hiện ra vợ anh có tình cảm với gã bạn thân nhất của anh ở công ty. Kino dành nhiều thời gian trên đường hơn ở nhà ở Tokyo. Anh nhét đầy một túi thể thao to bằng những mẫu giày, vòng vèo khắp các cửa hàng thể thao trên Nhật Bản, đến thăm các trường đại học và doanh nghiệp tài trợ cho các đội điền kinh. Vợ và gã đồng nghiệp của anh bắt đầu ngủ với nhau khi anh đi xa. Kino không phải dạng người dễ nhận ra manh mối. Anh nghĩ cuộc hôn nhân của anh vẫn tốt đẹp, vợ anh cũng không nói hay làm gì khiến anh nhận ra cô phản bội. Nếu anh không trở về sớm hơn một ngày từ chuyến đi kinh doanh đó, chắc anh chẳng bao giờ phát hiện được chuyện gì đang xảy ra.

Khi trở lại Tokyo ngày hôm đó, anh về thẳng căn hộ của mình ở Kasai chỉ để thấy vợ và gã bạn anh đang trần truồng quấn quýt nhau trong phòng ngủ của anh, trên chiếc giường mà anh và vợ anh vẫn ngủ. Vợ anh đang ngồi trên, và khi Kino mở cửa, hai người mặt đối mặt, bộ ngực đáng yêu của cô nảy lên nảy xuống. Hồi đó anh 39, vợ anh 35. Họ chưa có con. Kino cúi đầu, đóng cửa phòng ngủ, rời căn hộ, và không bao giờ quay lại. Hôm sau, anh bỏ việc.

***

Kino có một người bác chưa lập gia đình, chị gái của mẹ anh. Bà đối xử rất tốt với anh từ khi anh còn nhỏ. Bà có một ông bạn trai lớn tuổi hơn (chính xác hơn là “người yêu”), ông đã hào phóng tặng bà một ngôi nhà nhỏ ở Aoyama. Bà sống trên tầng hai và mở quán cà phê ở tầng dưới. Trước nhà là mảnh vườn nhỏ và một cây liễu ấn tượng có cành thấp mọc chi chít lá. Ngôi nhà nằm trên một ngõ hẹp đằng sau Bảo tàng Nezu, không hẳn là vị trí tốt nhất để thu hút khách hàng, nhưng bác anh có tay buôn bán, nhờ đó mà cửa hàng cà phê đã đem lại lợi nhuận kha khá.

Đến tuổi 60, bà bị đau lưng nên việc quán xuyến cửa hàng một mình ngày càng khó khăn. Bà quyết định chuyển đến một căn hộ nghỉ dưỡng ở Cao nguyên Izu Kogen. “Bác không biết cuối cùng cháu có muốn tiếp quản cửa hàng không?” bà hỏi Kino. Lúc đó là ba tháng trước khi anh phát hiện ra vợ anh ngoại tình. “Cháu rất cảm kích vì đề nghị của bác,” anh trả lời bà, “nhưng cháu đang mãn nguyện với cuộc sống hiện giờ.”

Sau khi nộp đơn thôi việc, anh gọi hỏi bác xem bà đã bán cửa hàng cho ai chưa. Một công ty bất động sản đã kê khai nó, bà bảo, nhưng chưa có ai đề nghị nghiêm túc. “Cháu định mở một quán ba ở đó nếu được,” Kino nói. “Cháu trả tiền thuê cho bác theo tháng được không?”

“Nhưng công việc của cháu thì sao?”

“Cháu bỏ mấy hôm rồi.”

“Vợ cháu không ý kiến gì à?”

“Bọn cháu sẽ ly dị sớm thôi.”

Kino không giải thích lí do, bác anh cũng không hỏi. Đầu dây bên kia im lặng một lúc lâu. Sau đó bác anh đưa ra số tiền thuê nhà, thấp hơn nhiều so với Kino dự tính. “Cháu nghĩ cháu lo được,” anh bảo bà.

Anh với bác anh chưa bao giờ nói chuyện nhiều đến thế (mẹ anh không thích anh gần gũi với bác), nhưng hai người dường như luôn thấu hiểu lẫn nhau. Bà biết Kino không phải loại người dễ nuốt lời.

Kino dùng nửa số tiền tiết kiệm của mình để cải tiến quán cà phê thành quán bar. Anh mua đồ nội thất đơn giản, xây một cái quầy dài, chắc chắn. Anh thay giấy dán tường mới với một màu êm dịu, mang bộ sưu tập đĩa nhạc từ nhà đến, xếp một kệ đĩa LP trong quán. Anh có một dàn âm thanh tốt — bàn xoay Thorens, âm ly Luxman, bộ loa 2 đường tiếng JBL nhỏ — mua từ hồi anh còn độc thân, hơi quá phung phí khi đó. Nhưng anh luôn muốn nghe những bản nhạc jazz cũ. Đó là sở thích duy nhất của anh, một sở thích anh không bao giờ chia sẻ với ai anh biết. Hồi đại học, anh từng làm phục vụ quầy rượu bán thời gian trong một quán rượu ở Roppongi, thế nên anh rất thạo pha trộn cocktail.

Anh đặt tên quán là Kino. Không nghĩ được tên gì hay hơn. Tuần đầu mở quán, anh chẳng có mống khách nào, nhưng không vì thế mà anh hoang mang. Mà nói cho cùng, anh không quảng cáo cho quán, cũng chẳng đặt một cái biển bắt mắt. Chỉ đơn giản là anh kiên nhẫn chờ đợi những kẻ tò mò tình cờ vấp qua cái quán nhỏ trong ngõ của anh. Anh vẫn còn chút tiền trợ cấp thất nghiệp, mà vợ anh cũng không đòi hỏi hỗ trợ tài chính gì. Cô đã đến sống cùng gã đồng nghiệp cũ của anh, cô và anh đã quyết định bán căn hộ của họ ở Kasai. Kino sống trên tầng hai ngôi nhà của bác anh, và khi đó, tưởng như anh đã có thể vượt qua mọi chuyện.

Trong khi chờ đợi khách hàng đầu tiên, Kino thưởng thức mọi loại âm nhạc anh thích và đọc những cuốn sách anh vẫn muốn đọc. Như mặt đất khô cằn đón chào cơn mưa, anh để mình đắm chìm trong cô độc, sự im lặng, nỗi cô đơn. Anh nghe rất nhiều bản nhạc độc tấu dương cầm của Art Tatum. Chúng phần nào có vẻ phù hợp với tâm trạng của anh.

Anh không chắc tại sao, nhưng anh không còn cảm thấy giận dữ hay cay đắng về vợ anh hay gã đồng nghiệp mà cô ngủ cùng. Chắc chắn, sự phản bội là một cú sốc, nhưng qua thời gian, anh bắt đầu cảm thấy như thể nó là không thể tránh được, như thể ngay từ đầu mọi chuyện đã là định mệnh của anh. Nói cho cùng, trong cuộc đời mình anh có đạt được gì đâu, hoàn toàn là thất bại. Anh không thể khiến ai hạnh phúc, và tất nhiên, cũng không thể khiến chính anh hạnh phúc. Hạnh phúc? Anh còn không chắc nó nghĩa là gì. Anh cũng không có một giác quan rõ ràng, về những cảm xúc như đau hay giận, thất vọng hay cam chịu, và chúng nên được cảm nhận thế nào. Phần lớn điều anh có thể làm là tạo nên một nơi mà trái tim của anh, với chiều sâu và sức nặng trống rỗng, có thể bị buộc lại, để giữ nó khỏi lang thang vô định. Quán ba nhỏ này, Kino, giấu trong một con ngõ hẻm, đã trở thành nơi đó. Và dù không hẳn là được thiết kế, nó cũng đã trở thành một nơi thoải mái đến lạ thường.

Một con mèo hoang chứ không phải ai khác đã khám phá ra Kino là nơi dễ chịu đến thế nào đầu tiên. Một con mèo cái còn bé, lông xám, có cái đuôi dài, đáng yêu. Con mèo ưa cái kệ trưng bày nằm chìm trong góc quán và thích cuộn tròn ở đó để ngủ. Kino không quá quan tâm đến con mèo, anh nghĩ chắc nó muốn được ở một mình. Anh cho nó ăn và thay nước mỗi ngày một lần, nhưng chỉ có thế. Anh cũng đục một cái cửa cho mèo để nó có thể ra vào quán lúc nào nó muốn.

***

Con mèo có thể mang lại chút may mắn cùng sự xuất hiện của nó vì sau đó, lác đác mấy vị khách cũng tới. Một số trong số họ bắt đầu đến thường xuyên, những người thích thú cái quán nhỏ bé trong ngõ hẻm này với cây liễu cổ kính, ông chủ trầm lặng tuổi trung niên, những đĩa nhạc cổ điển xoay tròn trên máy phát, và con mèo xám đương ngủ trong góc nhà. Những người này thi thoảng lại dẫn theo những vị khách mới. Dù còn lâu mới phát đạt, ít ra quán cũng kiếm lại được tiền thuê nhà. Với Kino, thế là đủ.

Gã đàn ông trẻ có mái đầu cạo bắt đầu đến sau khi quán mở độ khoảng 2 tháng. Thêm hai tháng nữa trôi qua Kino mới biết tên gã, Kamita.

Hôm đó trời mưa lất phất, cái kiểu mưa khiến ta không biết có phải đem ô hay không. Quán chỉ có ba khách, Kamita và hai gã mặc vét. Lúc đó là bảy rưỡi. Như mọi lần, Kamita ngồi trên chiếc ghế đặt cuối quầy, nhâm nhi cốc White Label với nước và đọc sách. Hai gã kia ngồi cạnh một cái bàn, cưa chai Pinot Noir. Họ đem chai rượu theo và hỏi Kino có phiền không nếu họ uống nó ở đây, với khoản phí mang đồ uống bên ngoài là 5 ngàn yên. Đây là lần đầu với Kino, mà anh cũng chẳng có lí do gì để từ chối. Họ mở chai rượu và đặt lên bàn hai chiếc ly cùng một bát hạt đồ nhắm. Cũng không vấn đề gì. Có điều họ hút thuốc nhiều quá khiến Kino, vốn ghét hút thuốc, mất thiện cảm với họ. Chẳng còn nhiều việc để làm, Kino ngồi lên một cái ghế đẩu, lắng nghe đĩa LP Coleman Hawkins với bản “Joshua Fit the Battle of Jericho.” Anh thấy màn độc tấu bass của Major Holley thật tuyệt.

Lúc đầu hai gã có vẻ hòa thuận, cùng thưởng thức rượu, nhưng sau đó bất đồng quan điểm nảy sinh về một chủ đề nào đó mà Kino chẳng biết là gì, hai gã mỗi lúc một nóng máu. Rồi một gã đứng dậy, dựng cái bàn lên làm một trong hai cái ly và cái gạt tàn đầy tro rơi xuống sàn vỡ tan. Kino vội chạy tới với cây chổi, quét dọn đống lộn xộn, đặt một cái gạt tàn và ly sạch khác lên bàn.

Kamita, lúc này Kino chưa biết tên gã, rõ ràng là thấy khó chịu với hành động của hai gã kia. Nét mặt gã không đổi, nhưng gã liên tục nhẹ nhàng gõ những ngón tay trái lên mặt quầy, như một nghệ sĩ dương cầm đang kiểm tra phím đàn. Mình phải giữ mọi chuyện dưới tầm kiểm soát, Kino nghĩ. Anh đi tới chỗ hai gã. “Xin thứ lỗi,” anh nói lịch sự, “nhưng phiền hai anh hạ giọng một chút.”

Một gã ngước lên nhìn anh bằng ánh mắt lạnh lùng rồi vươn dậy khỏi cái bàn. Đến giờ Kino mới nhận ra hắn lớn không ngờ. Không quá cao nhưng ngực nở, hai cánh tay khổng lồ, khổ người mà ta vẫn trông đợi ở một đô vật sumo.

Gã còn lại nhỏ hơn nhiều. Gầy và xanh, có cái nhìn sắc sảo, kiểu người giỏi xúi bẩy người khác. Hắn cũng chậm rãi đứng dậy, Kino nhận ra anh đang phải đối mặt với cả hai người. Rõ ràng là hai gã đã quyết định sử dụng cơ hội này để tạm dừng cuộc tranh cãi của họ và cùng nhau đối đầu với Kino. Cả hai kết hợp một cách hoàn hảo, cứ như thể họ đã âm thầm chờ tình hình này xảy đến.

“Thế mày nghĩ mày cứ chen vào ngắt lời bọn tao mà được à?” gã lớn hơn nói, giọng hắn đục và trầm.

Bộ vét họ mặc trông có vẻ đắt tiền, nhưng nhìn kỹ hơn mới thấy chúng được may rất sơ sài và tồi tàn. Không hẳn là yakuza, dù bất cứ việc gì hai gã có dính líu chắc chắn đều không đứng đắn. Gã lớn hơn cắt tóc húi cua, trong khi tóc gã đồng hành cùng hắn được nhuộm nâu và búi lại theo kiểu đuôi ngựa buộc cao. Kino thu hết can đảm để đón nhận chuyện xấu sắp xảy ra. Mồ hôi bắt đầu túa ra từ nách anh.

“Xin lỗi,” một giọng khác cất tiếng.

Kino quay lại và nhận ra Kamita đang đứng đằng sau.

“Đừng đổ lỗi cho nhân viên,” Kamita nói, chỉ Kino. “Tôi là người bảo anh ta đề nghị hai anh giữ trật tự. Ồn thế khó tập trung, tôi không đọc sách được.”

Giọng Kamita điềm tĩnh và chậm rãi hơn so với lúc bình thường. Nhưng có gì đó, vô hình, đã bắt đầu xao động.

“Không đọc sách được,” gã nhỏ hơn lặp lại, như thể để chắc rằng câu đó không có gì sai ngữ pháp.

“Gì? Mày không có nhà à?” gã lớn hỏi Kamita.

“Tôi có,” Kamita đáp. “Tôi sống gần đây.”

“Thế sao mày không về nhà mà đọc?”

“Tôi thích đọc ở đây,” Kamita nói.

Hai gã kia liếc qua nhìn nhau.

“Mang sách đây coi,” gã nhỏ hơn nói. “Để tao đọc hộ mày.”

“Tôi thích tự mình đọc, yên tĩnh,” Kamita đáp. “Vả lại tôi không thích anh phát âm sai một từ nào cả.”

“Thằng rách việc,” gã lớn nói. “Mới nực cười làm sao.”

“Mà mày tên gì?” Đuôi ngựa hỏi.

“Tên tôi là Kamita,” gã đáp. “Viết bằng chữ ‘thần’ — kami — và ‘cánh đồng’ — ta — ‘cánh đồng của thần linh.’ Nhưng nó không đọc là Kanda như anh tưởng. Nó được phát âm là Kamita.”

“Tao sẽ nhớ đấy,” gã lớn hơn nói.

“Tốt. Ký ức có thể hữu ích,” Kamita nói.

“Này, ra ngoài kia đi?” gã nhỏ hơn nói. “Ra đó muốn nói gì cũng được.”

“Được thôi,” Kamita đáp. “Nơi nào tùy anh. Nhưng trước khi đi, anh có thể thanh toán chứ? Anh sẽ không muốn gây rắc rối cho quán đâu.”

***

Kamita bảo Kino mang hóa đơn thanh toán của họ ra, gã trả chính xác số tiền cho đồ uống của gã trên quầy. Đuôi ngựa rút tờ 10 ngàn yên trong ví ra rồi quăng nó lên mặt bàn.

“Tao không cần tiền thừa,” Đuôi ngựa bảo Kino. “Nhưng sao mày không mua cho mình mấy cái ly tốt hơn nhỉ. Rượu thì đắt mà mấy cái cốc như này làm nó uống như cứt.”

“Cái quán rẻ tiền,” gã lớn hơn nói, khinh khỉnh.

“Chính xác. Quán bar rẻ tiền với khách hàng rẻ tiền,” Kamita nói. “Sao mà xứng với các anh. Phải có chỗ nào xứng hơn chứ. Mà chỗ nào thì tôi chịu.”

“Giờ thì chẳng phải mày khôn lắm à,” gã lớn hơn nói. “Mày làm tao chết cười.”

“Sau này cứ nghĩ đi, và cười lâu, cười đẹp vào,” Kamita nói.

“Mày không định bảo tao nên đi đâu đấy chứ,” Đuôi ngựa nói. Hắn chậm rãi liếm môi, như con rắn đang định cỡ con mồi.

Gã lớn hơn mở cửa rồi bước ra ngoài, Đuôi ngựa theo sau. Có lẽ cảm nhận được bầu không khí căng thẳng, con mèo, dù trời mưa, nhảy ra ngoài theo họ.

“Anh chắc anh ổn chứ?” Kina hỏi Kamita.

“Đừng lo,” Kamita đáp, thoáng nở một nụ cười. “Anh không cần làm gì cả, anh Kino. Cứ ở yên đấy. Chuyện này sẽ qua nhanh thôi.”

Kamita ra ngoài rồi đóng cửa lại. Trời vẫn mưa, nặng hạt hơn lúc trước. Kino ngồi lên một cái ghế đẩu và chờ đợi. Bên ngoài im lắng đến lạ, anh không nghe được gì. Cuốn sách của Kamita vẫn để mở trên bàn, như con chó được huấn luyện tốt đang nằm chờ chủ. Mười phút sau, cửa mở, Kamita sải bước vào một mình.

“Anh không phiền cho tôi mượn cái khăn chứ?” gã hỏi.

Kino đưa Kamita một cái khăn sạch, gã lấy nó lau đầu. Rồi cổ, mặt, cuối cùng là cả hai tay. “Cảm ơn anh. Mọi thứ xong xuôi rồi,” gã bảo. “Hai thằng kia sẽ không vác mặt đến đây nữa đâu.”

“Có chuyện gì thế?”

Kamita chỉ lắc đầu, như thể muốn nói, “Anh không biết thì hơn.” Gã đi xuống chỗ ngồi, nốc cạn chỗ whiskey còn lại, rồi đọc tiếp trang sách đang dở.

Tối muộn hôm đó, sau khi Kamita về, Kino ra ngoài đi một vòng quanh khu phố. Căn hẻm hoang vắng và tĩnh lặng. Không có dấu hiệu nào của một cuộc chiến, không có vết máu. Anh không thể hình dung chuyện gì đã diễn ra. Anh quay lại quán để chờ thêm vài vị khách, nhưng không ai đến. Con mèo cũng không thấy về. Anh tự rót cho mình chút White Label, thêm chừng đó nước và hai viên đá nhỏ, rồi nếm thử. Không có gì đặc biệt. Nhưng đêm đó, anh cần một liều rượu mạnh trong người.

***

Khoảng một tuần sau sự cố, Kino ngủ với một khách nữ. Cô là người đầu tiên anh quan hệ từ khi anh bỏ vợ mình. Cô 30, hoặc có lẽ lớn tuổi hơn chút. Anh không chắc cô có thể coi là đẹp được không, nhưng có điều gì đó độc đáo về cô, điều gì đó đặc biệt.

Cô từng đến quán vài lần trước đó, luôn đi cùng một gã đeo kính gọng mai rùa có chòm râu dê như mốt thời beatnik những năm 50, ở trạc tuổi cô. Gã cắt tóc ngổ ngáo và không đeo cà vạt bao giờ, thế nên Kino đoán hắn không phải dạng nhân viên văn phòng điển hình. Cô thì luôn mặc váy bó sát tôn hình thể mảnh mai, quyến rũ. Họ ngồi tại quầy, thỉnh thoảng trao đổi thì thầm một hai từ trong khi nhâm nhi cocktail hay rượu sherry. Họ không ở lại lâu. Kino tưởng tượng họ thưởng thức chút đồ uống trước khi làm tình. Hoặc sau. Anh không biết trước hay sau, nhưng cách họ uống khiến anh nhớ về tình dục. Lâu và mãnh liệt. Hai người họ trông vô cảm lạ thường, đặc biệt là cô gái, Kino chưa từng thấy cô cười. Đôi lúc cô có nói chuyện với anh, nhưng chỉ là về những bản nhạc đang phát. Cô thích jazz, cũng đang tự mình sưu tập đĩa LP. “Bố tôi thường nghe loại nhạc này ở nhà,” cô kể với anh. “Nó mang lại nhiều kỷ niệm.”

Qua giọng điệu của cô, Kino không biết những kỷ niệm đó là về cha cô hay là về âm nhạc. Nhưng anh không dám hỏi.

Thực ra Kino đã cố không quá thân mật với cô. Rõ ràng gã kia không hề vui vẻ gì khi thấy anh gần gũi với cô. Có lần anh và cô nói chuyện khá lâu, trao đổi mấy mẹo về những cửa hàng đĩa thu âm cũ ở Tokyo và cách tốt nhất để bảo quản đĩa than, sau đó gã liên tục nhìn anh bằng ánh mắt lạnh lùng, nghi ngờ. Kino luôn cẩn thận giữ mình tránh khỏi mọi loại rắc rối. Không gì tệ hơn ghen tuông và hãnh diện, mà Kino cũng từng có mấy kinh nghiệm khủng khiếp không vì cái này thì vì cái kia. Dường như đôi lúc có điều gì đó ở anh làm xáo động mặt tối trong những người khác.

Thế nhưng đêm đó, cô đến quán một mình. Quán không có khách, và khi cô mở cửa, không khí mát mẻ của buổi đêm len lỏi vào. Cô ngồi tại quầy, gọi một ly rượu mạnh, bảo Kino bật vài bản nhạc của Billie Holiday. “Thật cũ càng tốt, nếu được.” Kino đặt một đĩa thu âm của hãng Columbia lên máy phát, nó có bản “Georgia on My Mind.” Cả hai lặng lẽ lắng nghe. “Anh bật luôn mặt kia được không?” cô hỏi khi đĩa chạy hết, và anh làm như cô yêu cầu.

Cô chậm rãi nhấp hết ba ly rượu mạnh, lắng nghe thêm vài đĩa nhạc — “Moonglow” của Erroll Garner, “I Can’t Get Started” của Buddy DeFranco. Ban đầu Kino còn tưởng cô đợi gã kia, nhưng cô chẳng liếc đồng hồ lấy một lần. Cô chỉ ngồi đó, nghe nhạc, đắm chìm trong suy tư, nhâm nhi ly rượu của mình.

“Bạn cô hôm nay không đến à?” Kino quyết định hỏi khi sắp đến giờ đóng cửa.

“Anh ấy không đến. Anh ấy ở rất xa,” cô đáp. Cô đứng dậy và bước đến chỗ con mèo đang ngủ. Cô nhẹ nhàng vuốt lưng nó bằng những đầu ngón tay của mình. Con mèo vẫn bình thản ngủ tiếp.

“Chúng tôi đang nghĩ tới chuyện không gặp lại nhau nữa,” cô nói.

Kino không biết trả lời sao nên anh chẳng nói gì, chỉ tiếp tục đứng thẳng người sau quầy.

“Tôi không biết nói thế nào,” cô bảo. Cô thôi vuốt ve con mèo và bước trở lại quầy, tiếng giầy cao gót lộp cộp. “Quan hệ giữa chúng tôi không hẳn… bình thường.”

“Không hẳn bình thường.” Kino nhắc lại lời cô nói mà không thực sự để ý xem thế nghĩa là gì.

Cô uống nốt chút rượu còn sót lại trong ly. “Tôi có thứ này muốn cho anh thấy, anh Kino,” cô nói.

Dù đó là gì Kino cũng không muốn thấy. Điều này thì anh chắc chắn. Nhưng anh không thể cất thành lời.

Cô cởi chiếc áo cardigan của mình ra và đặt nó lên ghế. Cô vòng hai tay ra sau lưng để cởi chiếc váy ra. Cô quay lưng về phía Kino. Ngay dưới móc áo ngực màu trắng của cô, anh thấy rải rác những đốm màu than mờ nhạt, như vết bầm tím. Chúng khiến anh nhớ lại những chòm sao trên bầu trời mùa đông. Một dải mờ nhạt những ngôi sao sắp tắt.

Cô không nói gì, chỉ phô bày tấm lưng trần về phía Kino. Như những người còn không thể hiểu câu hỏi mình được hỏi, Kino chỉ nhìn chằm chằm vào những vết đốm. Cuối cùng, cô kéo khóa lên và quay mặt lại với anh. Cô khoác áo cardigan lên và sửa lại mái tóc.

“Đó là vết bỏng thuốc lá,” cô nói đơn giản.

Kino không biết phải nói gì, nhưng anh phải nói gì đó. “Ai làm thế với cô?” anh hỏi, giọng khô khốc.

Cô không trả lời, và Kino nhận ra anh cũng không mong đợi một câu trả lời.

“Có cả ở những chỗ khác nữa,” cuối cùng cô nói, giọng trơ lỳ cảm xúc. “Những chỗ… hơi khó để lộ.”

***

Từ đầu Kino đã cảm thấy có điều gì đó khác thường về người phụ nữ này. Điều gì đó gợi lên một phản ứng bản năng, cảnh báo anh đừng dính líu đến cô. Nói chung anh là người thận trọng. Nếu thực sự cần làm tình, anh hoàn toàn có thể tìm đến một cô gái điếm. Mà đó là còn không phải như thể anh bị cô thu hút.

Nhưng đêm đó cô thực sự khao khát có một người đàn ông làm tình cùng cô, và có vẻ như anh chính là người đàn ông đó. Đôi mắt cô mơ màng, hai đồng tử giãn ra một cách lạ lùng, nhưng có ánh cương quyết trong đó không cho phép được rút lui. Kino không có sức mạnh để chống lại.

Anh khóa cửa quán, rồi cả hai lên lầu. Trong phòng ngủ, cô mau chóng cởi bộ váy, tụt quần lót ra và cho anh thấy những chỗ hơi khó để lộ. Lúc đầu Kino không thể không ngoảnh mặt đi, nhưng rồi anh cũng chịu nhìn. Anh không thể, cũng không muốn hiểu tâm trí của một gã đàn ông dám làm những điều độc ác, hay của một người phụ nữ sẵn sàng chịu đựng. Đó là cảnh tượng hoang dã ở một hành tinh cằn cỗi, cách nơi Kino sống nhiều năm ánh sáng.

Cô cầm tay anh và đưa nó lần lượt chạm qua từng vết sẹo. Có những vết sẹo trên ngực cô, cạnh âm đạo cô. Anh lần theo những đốm sẫm màu, chai sạn, như thể dùng bút chì để nối các dấu chấm. Chúng tạo nên một hình thù gợi lại trong anh điều gì đó mà anh không thể nhớ ra.

Họ làm tình trên sàn tatami. Không nói chuyện, không màn dạo đầu, không có cả thời gian để tắt đèn hay trải futon. Lưỡi cô lướt xuống cổ họng anh, móng tay cô bấu vào lưng anh. Dưới ánh sáng, như hai con thú đói, họ ngấu nghiến xác thịt họ khao khát. Khi bình minh bên ngoài dần lên, họ bò vào futon rồi ngủ, như thể bị kéo vào bóng đêm.

Gần trưa Kino mới dậy, cô gái đã đi. Anh cảm thấy như thể anh vừa có một giấc mơ rất thực, nhưng tất nhiên đó không phải là mơ. Lưng anh hằn lên những vết cào cấu, cánh tay anh còn in dấu răng, dương vật anh hơi nhức với cơn đau âm ỉ. Mấy sợi tóc đen dài vương quanh chiếc gối trắng của anh, còn tấm nệm đậm mùi hương anh chưa từng gặp khi trước.

Cô đến quán vài lần sau đó, luôn đi cùng gã râu dê. Họ ngồi tại quầy, nói chuyện bằng giọng nhẹ nhàng trong khi uống một hoặc hai ly cocktail, rồi đi. Cô với Kino cũng nói chuyện đôi chút, chủ yếu là về âm nhạc. Giọng cô vẫn như trước đây, như thể cô không hề nhớ chuyện gì đã xảy ra giữa họ đêm đó. Nhưng Kino có thể nhận ra ánh mắt ham muốn trong đôi mắt cô, như một tia sáng nhạt mờ sâu dưới đường hầm. Anh chắc chắn thế. Nó mang mọi thứ sống động trở lại trong anh — vết cấu của móng tay cô trên lưng anh, cơn nhức nơi dương vật anh, cái lưỡi dài, trơn của cô, mùi hương trên giường anh.

Trong lúc Kino và cô nói chuyện, gã đi cùng cô luôn quan sát cẩn thận từng biểu hiện và hành vi của anh. Kino cảm nhận được điều gì đó nhớp nháp quấn quanh cặp đôi này, như thể có một bí mật sâu xa mà chỉ hai người họ mới biết.

***

Cuối mùa hè, vụ li hôn của Kino đã xong, một buổi chiều anh với vợ anh gặp nhau ở quán, trước giờ mở cửa, để bàn mấy công việc cuối cùng.

Các vấn đề pháp lý nhanh chóng được giải quyết, cả hai đều đã ký những tài liệu cần thiết. Vợ Kino mặc bộ váy màu xanh dương mới, cắt tóc ngắn. Trông cô khỏe mạnh và vui vẻ hơn anh từng thấy. Cô đã bắt đầu cuộc sống mới, mà chắc là rất trọn vẹn. Cô liếc quanh quán bar. “Quán đẹp thật đấy,” cô nói. “Tĩnh lặng, sạch sẽ, dịu êm — rất giống anh.” Sau đó là một lúc im lặng. “Nhưng không có gì ở đây thực sự thay đổi anh cả”: Kino hình dung đó là những lời cô muốn nói.

“Em uống gì không?”

“Chút rượu vang đỏ, nếu anh có.”

Kino lấy ra hai chiếc ly và rót một chút Napa Zinfandel. Họ uống trong im lặng. Họ không định nâng cốc mừng li hôn. Con mèo nhẹ nhàng bước đến và bất ngờ nhảy vào lòng Kino. Anh vuốt ve phía sau tai nó.

“Em phải xin lỗi anh,” cuối cùng vợ anh cất tiếng.

“Vì cái gì?” Kino hỏi.

“Vì làm tổn thương anh,” cô đáp. “Anh có tổn thương, một chút, đúng không?”

“Chắc thế,” Kino nói sau một lúc nghĩ ngợi. “Dù sao anh cũng là người. Anh có tổn thương. Nhưng nhiều hay ít thì anh không biết.”

“Em muốn gặp anh để nói lời xin lỗi.”

Kino gật đầu. “Em xin lỗi rồi thì anh chấp nhận. Đừng nghĩ ngợi gì chuyện đó nữa.”

“Em muốn kể với anh mọi chuyện, nhưng chỉ là em không biết nói thế nào.”

“Nhưng dù sao không phải là chúng ta đã đến cùng một chỗ à?”

“Có lẽ thế,” vợ anh đáp,

Kino nhấp một ngụm rượu.

“Đó chẳng phải lỗi của ai,” anh nói. “Anh không nên về sớm một ngày. Hoặc anh lẽ ra nên báo cho em biết. Thế thì chúng ta sẽ chẳng phải trải qua những chuyện thế này.”

Vợ anh không nói gì.

“Em gặp gã đó từ bao giờ?” Kino hỏi.

“Em nghĩ mình không nên quan tâm đến chuyện này.”

“Ý em là tốt hơn thì anh không nên biết, phải không? Có lẽ em nói đúng đấy,” Kino thừa nhận. Anh vẫn đang vuốt ve con mèo, nó liên tục kêu gừ rừ. Một lần đầu tiên khác.

“Có thể em không có quyền nói những lời này,” vợ anh nói, “nhưng em nghĩ sẽ tốt hơn nếu anh quên đi những chuyện trước đây và tìm một ai đó khác.”

“Chắc thế,” Kino đáp.

“Em biết sẽ có người phù hợp với anh. Không khó để tìm được đâu. Em không thể là người đó cho anh, em đã làm những chuyện tồi tệ. Em thấy rất tội lỗi. Nhưng từ đầu đã có gì đó sai lầm giữa hai ta, giống như cài khuy áo lệch. Em mong anh có được cuộc sống bình thường, hạnh phúc.”

Cài khuy áo lệch, Kino nghĩ.

Anh nhìn bộ váy mới cô đang mặc. Họ đang ngồi đối diện nhau nên anh không biết phía sau lưng cô là dây kéo hay khuy cài. Cơ thể của cô không còn là của anh, vậy nên anh chỉ có thể hình dung ra nó. Khi nhắm mắt lại, anh thấy vô số vết bỏng màu nâu sậm len lỏi trên khắp tấm lưng trắng muốt của cô, như một đàn sâu bọ. Anh lắc đầu để xua đi những hình ảnh đó, nhưng vợ anh dường như lại hiểu nhầm điều này.

Cô nhẹ nhàng đặt tay cô lên tay anh. “Em xin lỗi. Em thực sự xin lỗi.”

9

Mùa thu đến và con mèo biến mất.

Mất mấy ngày Kino mới nhận ra nó đã đi. Còn mèo này, vẫn chưa có tên, đến quán bất cứ lúc nào nó muốn và thỉnh thoảng lại không xuất hiện một thời gian, thế nên nếu Kino có không thấy nó một tuần hay chục ngày anh cũng không quá lo lắng. Anh rất thích con mèo, nó cũng có vẻ tin tưởng anh. Nó như lá bùa may mắn của quán. Kino có ấn tượng rõ ràng là chỉ cần nó vẫn ngủ trong góc thì sẽ không có chuyện gì xấu xảy ra. Nhưng khi hai tuần trôi qua, anh bắt đầu lo lắng. Sau ba tuần, Kino bụng bảo dạ con mèo sẽ không quay về.

Trong lúc con mèo biến mất, Kino bắt đầu để ý tới những con rắn bên ngoài, ở gần ngôi nhà.

Con đầu tiên anh gặp màu nâu xỉn và dài. Nó ở trong bóng cây liễu trong sân trước, thong thả trườn đi. Khi phát hiện ra nó, Kino đang mở khóa cửa với một túi đồ tạp phẩm trong tay. Rất hiếm gặp rắn ở giữa Tokyo này. Anh hơi ngạc nhiên, nhưng không lo lắng. Đằng sau ngôi nhà là Bảo tàng Nezu có những khu vườn lớn. Một con rắn sống ở đó thì có gì là bất thường đâu.

Nhưng hai hôm sau, khi gần giữa trưa anh ra mở cửa để lấy báo, anh thấy con khác ở cùng một chỗ. Nó màu hơi xanh, nhỏ hơn con hôm nọ, trông hơi lớt nhớt. Khi thấy Kino, con rắn dừng lại, khẽ ngóc đầu lên, nhìn anh chằm chằm như thể nó quen anh vậy. Kino lưỡng lự, không biết phải làm gì, rồi con rắn từ từ hạ đầu xuống và biến mất trong bóng râm. Mọi chuyện khiến Kino rợn người.

Ba hôm sau, anh phát hiện con rắn thứ ba. Nó cũng nằm dưới tán cây liễu trong sân trước. Con này nhỏ hơn nhiều so với hai con trước, màu đen. Kino không biết gì về lũ rắn, nhưng anh có cảm giác con này là nguy hiểm nhất. Nó nhìn như rắn độc. Ngay khi nhận thấy anh có mặt, nó liền lủi vào đám cỏ. Ba con rắn trong vòng một tuần, bất luận xem xét thế nào cũng là quá nhiều. Có gì đó khác lạ đang diễn ra.

Kino gọi điện cho bác anh ở Izu. Sau khi trò chuyện về những người hàng xóm, anh hỏi bà đã bao giờ thấy rắn trong ngôi nhà ở Aoyama chưa.

“Rắn á?” bác anh hỏi lớn, giọng ngạc nhiên. “Bác nhớ là sống ở đó lâu lắm rồi mà chưa thấy rắn bao giờ. Hay đó là dấu hiệu của động đất nhỉ. Lũ động vật cảm nhận được thiên tai sắp đến và hành động kỳ quái lắm.”

“Nếu thế thật thì có lẽ cháu nên tích trữ đồ ăn dự phòng,” Kino nói.

“Được đấy. Sẽ có ngày Tokyo phải chịu động đất lớn thôi.”

“Nhưng lũ rắn nhạy cảm với động đất thật à bác?”

“Bác còn chẳng biết nó nhạy cảm với cái gì. Nhưng lũ rắn thông minh lắm. Trong truyền thuyết cổ, nó thường giúp đỡ mọi người. Nhưng khi có một con rắn dẫn đường, cháu không biết theo hướng đó tốt hay xấu được đâu. Phần lớn là có cả tốt cả xấu.”

“Mơ hồ thế.”

“Phải đấy. Rắn thực ra là loài sinh vật rất mơ hồ. Trong truyền thuyết, con rắn lớn nhất, khôn ngoan nhất sẽ giấu trái tim của nó ở đâu đó ngoài cơ thể, thế nên nó không thể bị giết được. Muốn giết nó thì phải tìm đến nơi ẩn náu khi nó không có ở đó, xác định chỗ trái tim đang đập, rồi cắt nó làm đôi. Phải nói là không dễ dàng gì đâu.”

Làm sao bác anh biết được những chuyện này?

“Có lần bác xem được một chương trình trên đài NHK so sánh những truyền thuyết khác nhau trên thế giới,” bà giải thích, “có một ông giáo sư đại học nào đó đã nói chuyện này. TV có thể hữu ích lắm đấy, có thời gian cháu nên xem nhiều TV vào.”

Kino bắt đầu cảm thấy như thể ngôi nhà bị lũ rắn bao quanh. Anh cảm nhận được sự hiện diện trong câm lặng của chúng. Nửa đêm khi anh đóng quán, khu phố tĩnh lặng, không một tiếng động nào ngoại trừ tiếng còi cấp cứu thỉnh thoảng cất lên. Tĩnh lặng đến nỗi anh gần như nghe được tiếng rắn trườn. Anh đóng một tấm bảng bịt kín cái cửa ra vào mà hồi trước anh đục cho con mèo, như thế sẽ không có con rắn nào chui được vào nhà.

***

Một đêm, gần mười giờ, Kamita xuất hiện. Gã gọi một bia, tiếp đến là một cốc White Label đúp như mọi khi, và ăn món bắp cải nhồi. Gã đến muộn và ở lại lâu như thế quả là bất thường. Thỉnh thoảng, gã lại ngước mắt khỏi trang sách để nhìn chăm chăm vào bức tường đối diện, như thể đang cân nhắc điều gì. Gần đến giờ đóng cửa, gã vẫn ở lại, cho đến khách chỉ còn mỗi gã.

“Anh Kino,” Kamita nói hơi kiểu cách, sau khi thanh toán. “Tôi thấy rất tiếc là đã đến lúc.”

“Đã đến lúc?” Kino nhắc lại.

“Anh sẽ phải đóng quán. Dù chỉ là tạm thời.”

Kino nhìn chằm chằm vào Kamita, không biết trả lời thế nào. Đóng quán?

Kamita liếc một vòng quanh quán ba trống vắng, rồi quay lại với Kino. “Anh chưa nắm được hết những gì tôi đang nói đúng không?”

“Tôi nghĩ thế.”

“Thực sự tôi rất thích quán này,” Kamita nói, như thể đang tâm sự. “Yên tĩnh, tôi có thể ngồi đọc, có thể nghe nhạc. Tôi đã rất vui khi anh đến mở quán ở đây. Nhưng tiếc là đang có thứ gì đó mất tích.”

“Mất tích?” Kino hỏi. Anh hoàn toàn không biết như thế nghĩa là sao. Tất cả những gì anh có thể hình dung chỉ là một tách trà có con chíp nhỏ xíu đính trên mép.

“Con mèo xám sẽ không quay lại,” Kamita nói. “Ít nhất là trong thời gian này.”

“Vì nơi này đang thiếu thứ gì à?”

Kamita không trả lời.

Kino dõi theo ánh mắt của Kamita, cẩn thận quan sát xung quanh quán ba, nhưng anh chẳng thấy có gì khác thường. Dù thế, anh có cảm giác nơi đây đang trống trải hơn bao giờ hết, thiếu sức sống và màu sắc. Thứ gì đó vượt ra khỏi cảm giác chỉ-tạm-đóng-cửa-buổi-đêm thông thường.

Kamita cất tiếng. “Anh Kino, tôi biết anh không phải hạng người sẵn sàng làm điều sai trái. Nhưng đôi khi trong thế giới này, chỉ không làm điều sai trái thôi là chưa đủ. Một số người lợi dụng khoảng trống đó làm lỗ hổng. Anh hiểu tôi đang nói gì chứ?”

Kino không hiểu.

“Cứ cân nhắc nó cẩn thận,” Kamita nói, nhìn thẳng vào mắt Kino. “Đó là một vấn đề quan trọng, đáng được suy nghĩ nghiêm túc. Dù câu trả lời có thể không đến dễ dàng như thế.”

“Anh đang nói là có rắc rối nghiêm trọng xảy ra, không phải vì tôi đã làm gì sai mà là vì tôi không làm gì đúng à? Rắc rối liên quan đến quán bar này, hay đến tôi?”

Kamita gật đầu. “Anh hiểu thế cũng được. Nhưng tôi không đổ lỗi cho mình anh, anh Kino. Tôi cũng có lỗi vì không nhận ra nó sớm hơn. Đáng lẽ tôi cần để tâm hơn. Đây là một nơi thoải mái không chỉ cho tôi mà còn cho bất cứ ai.”

“Vậy giờ tôi phải làm gì?” Kino hỏi.

“Tạm đóng quán lại và đi đâu đó thật xa. Lúc này anh không làm gì khác được đâu. Tôi nghĩ tốt nhất anh nên đi trước khi cơn mưa dầm tiếp theo lại tới. Thứ lỗi cho tôi, nhưng anh có đủ tiền cho một chuyến đi xa chứ?”

“Chắc tôi sẽ trang trải được một thời gian.”

“Tốt. Đến lúc đó anh có thể nghĩ về những chuyện sẽ tới sau đó.”

“Nhưng anh là ai?”

“Tôi chỉ là một gã tên Kamita,” Kamita đáp. “Viết bằng chữ kami, ‘thần,’ và ta, ‘cánh đồng,’ nhưng không đọc là ‘Kanda.’ Tôi sống ở gần đây đã lâu rồi.”

Kino quyết định hỏi tiếp. “Anh Kamita, tôi có câu hỏi này. Anh thấy rắn quanh đây bao giờ chưa?”

Kamita không trả lời. “Đây là những gì cần làm. Đi thật xa, và đừng ở lại một nơi quá lâu. Mỗi thứ hai và thứ năm nhớ gửi bưu thiếp. Như thế tôi có thể biết anh vẫn ổn.”

“Bưu thiếp?”

“Bưu thiếp ảnh ở bất cứ đâu anh đến.”

“Nhưng tôi nên gửi cho ai?”

“Anh có thể gửi cho bác anh ở Izu. Đừng viết tên riêng hay lời nhắn nào. Chỉ ghi địa chỉ gửi đến. Điều này rất quan trọng, đừng quên.”

Kino nhìn gã ngạc nhiên. “Anh biết bác tôi?”

“Phải, tôi biết bà khá rõ. Thực ra, bà đã nhờ tôi để mắt tới anh, để đảm bảo không có gì xấu xảy ra. Có vẻ tôi đã thất bại.”

Gã này là ai thế nhỉ? Kino tự hỏi mình.

“Anh Kino, khi tôi biết đã đến lúc anh có thể trở về, tôi sẽ liên lạc với anh. Cho đến lúc đó, hãy tránh xa nơi này. Anh hiểu chứ?”

***

Đêm đó, Kino gói ghém đồ đạc cho chuyến đi. Tôi nghĩ tốt nhất anh nên đi trước khi cơn mưa dầm tiếp theo lại tới. Thông báo tới quá đột ngột, lý lẽ của nó lại quá tầm hiểu biết của anh. Nhưng lời lẽ của Kamita có sức thuyết phục kỳ lạ vượt qua cả mọi lý lẽ. Kino không nghi ngờ gã. Anh nhét mấy bộ quần áo cùng đồ dùng vệ sinh cá nhân vào một cái ba lô cỡ vừa, cái mà anh vẫn dùng trong mấy chuyến đi kinh doanh. Khi bình minh lên, anh gắn một tờ thông báo lên cửa: “Xin thứ lỗi, quán tạm đóng một thời gian.”

Đi xa, Kamita bảo anh. Nhưng anh không biết thực ra nên đi đâu. Có nên đi lên phương Bắc? Hay về phía Nam? Anh quyết định đi theo một tuyến đường anh thường đi khi còn bán giày chạy. Anh bắt một chuyến xe buýt tốc hành đến Takamatsu. Anh sẽ đi một vòng quanh Shikoku, sau đó đến Kyushu.

Anh đặt phòng tại một khách sạn kinh doanh gần Nhà ga Takamatsu và ở lại đó ba ngày. Anh lang thang khắp thành phố và đi xem một vài bộ phim. Các rạp đều vắng khách, còn phim thì chán ngắt, không có ngoại lệ. Khi trời tối, anh trở về phòng và xem TV. Anh nghe theo lời khuyên của bác và xem mấy chương trình giáo dục, nhưng chúng chẳng đem lại thông tin gì hữu ích. Ngày thứ hai ở Takamatsu là vào thứ năm nên anh đi mua một tấm bưu thiếp ở cửa hàng bách hóa, dán tem rồi gửi nó cho bác anh. Như Kamita hướng dẫn, anh chỉ ghi tên và địa chỉ của bác.

“Cứ cân nhắc nó cẩn thận,” Kamita đã bảo anh thế. “Đó là một vấn đề quan trọng, đáng được suy nghĩ nghiêm túc.” Nhưng dù có có xem xét nghiêm túc đến cỡ nào, anh cũng chẳng ngộ ra được vấn đề.

***

Mấy hôm sau, Kino đặt phòng ở một khách sạn kinh doanh giá rẻ gần Nhà ga Kumamoto, ở Kyushu. Trần thấp, giường hẹp, chật chội, TV nhỏ, bồn tắm bé tí, tủ lạnh nhỏ xập xệ. Anh thấy mình như thể một gã khổng lồ lúng túng, vụng về. Nhưng trừ chuyến đi đến cửa hàng tạp hóa gần đó, anh giấu mình trong phòng cả ngày. Ở cửa hàng, anh mua một chai whiskey nhỏ, ít nước khoáng, chút bánh quy để ăn nhẹ. Anh nằm trên giường, đọc sách. Khi đọc đã mệt, anh xem TV. Khi xem TV đã mệt, anh đọc.

Ngày thứ ba ở Kumamoto. Anh vẫn còn tiền trong tài khoản tiết kiệm và nếu anh muốn, anh thừa sức thuê phòng ở một khách sạn tốt hơn nhiều. Nhưng anh cảm thấy với mình, chỗ ở như giờ là đủ. Nếu ở trong một không gian nhỏ như thế này, anh không phải suy nghĩ điều gì không cần thiết, mọi thứ anh cần đều nằm trong tầm với. Anh đột nhiên biết ơn vì điều này. Tất cả những gì anh muốn là chút âm nhạc. Teddy Wilson, Vic Dickenson, Buck Clayton — đôi lúc anh mong đến tuyệt vọng được nghe những bản jazz cũ với kỹ thuật ổn định, đáng tin cậy và hợp âm đơn giản của họ. Anh muốn cảm nhận niềm vui thuần khiết khi biểu diễn, sự lạc quan tuyệt vời của họ. Nhưng bộ sưu tập đĩa nhạc của anh đang ở rất xa. Anh mường tượng ra quán của anh, vắng lặng từ khi đóng cửa. Con hẻm, cây liễu lớn. Người ta đọc thông báo anh dán rồi rời đi. Còn con mèo thì sao? Nếu nó về, nó sẽ thấy cánh cửa đã bị bịt kít. Lũ rắn có còn lặng lẽ bao vây căn nhà không?

Đối diện cửa sổ phòng trên tầng 8 của anh là cửa sổ của một tòa nhà văn phòng. Từ sáng đến tối, anh dõi theo những con người làm việc ở đó. Anh không biết họ kinh doanh gì. Những người đàn ông đeo cà vạt đi ra đi vào, trong khi những người phụ nữ gõ máy tính, trả lời điện thoại, sắp xếp hồ sơ. Không hẳn là cảnh tượng thu hút được sự chú ý. Ngoại hình và quần áo của những người làm việc tại đó bình thường, thậm chí là tầm thường. Kino quan sát họ hàng giờ chỉ vì một nhẽ đơn giản: anh không có việc gì khác để làm. Và anh bất ngờ, ngạc nhiên phát hiện ra những người đó đôi lúc có vẻ hạnh phúc đến nhường nào. Một số thỉnh thoảng còn phá lên cười. Tại sao? Làm việc cả ngày trong một văn phòng ảm đạm với những thứ trông hoàn toàn tẻ nhạt (ít nhất là đối với Kino) — sao họ có thể làm được và vẫn thấy thật hạnh phúc? Có phải có những bí mật ở đó mà anh không thể hiểu được?

Đã đến lúc lên đường lần nữa. Đừng ở lại một nơi quá lâu, Kamita bảo anh như vậy. Nhưng thế nào đó Kino lại không thể quyết tâm rời khỏi cái khách sạn nhỏ chật hẹp này ở Kumamoto. Anh không thể nghĩ được nơi nào anh muốn đến. Thế giới là một đại dương bao la không có điểm mốc, còn chiếc thuyền nhỏ Kino lại mất bản đồ và mỏ neo. Khi trải tấm bản đồ Kyushu để tìm một nơi đi tiếp, anh cảm thấy buồn nôn, như thể bị say sóng. Anh nằm xuống giường và đọc sách, thỉnh thoảng lại ngước lên để ngắm nhìn những người trong văn phòng phía bên kia đường.

Hôm đó là thứ hai, thế nên anh mua một tấm bưu thiếp ở cửa hàng lưu niệm của khách sạn có hình chụp Lâu đài Kumamoto, viết tên và địa chỉ của bác anh, rồi dán tem vào. Anh cầm tấm bưu thiếp một lúc, lơ đãng nhìn chăm chăm tòa lâu đài. Một bức ảnh khuôn sáo, thứ mà ta thường thấy trên các tấm bưu thiếp: tòa tháp khổng lồ cao vút trước nền trời xanh với những quầng mây trắng. Dù có nhìn bức ảnh lâu thế nào, anh cũng không thể tìm ra mối liên hệ giữa anh và tòa lâu đài đó. Rồi trong cơn thôi thúc, anh lật mặt sau tấm bưu thiếp lại và viết lời nhắn cho bác anh:

Bác khỏe không? Lưng bác mấy hôm nay sao rồi? Bác thấy đấy, cháu vẫn đang đi du lịch một mình. Đôi lúc cháu thấy như thể cháu nửa trong suốt. Kiểu như bác có thể nhìn xuyên qua nội tạng của cháu, như một con mực tươi mới bắt. Còn đâu cháu vẫn ổn. Hi vọng sớm được đến thăm bác. Kino

Kino không chắc điều gì đã thúc giục anh viết. Kamita đã cấm làm thế. Nhưng Kino không kiềm chế được bản thân. Bằng cách nào đó mình phải kết nối lại với thực tế, anh nghĩ, hoặc không mình sẽ không còn là mình. Mình sẽ trở thành một người không còn tồn tại. Trước khi anh có thể đổi ý, anh vội vã đi tới một hộp thư gần khách sạn và bỏ tấm bưu thiếp vào trong.

***

Khi anh tỉnh dậy, đồng hồ đặt cạnh giường chỉ 2 giờ 15. Có ai đó đang gõ cửa phòng anh. Tiếng gõ không lớn nhưng chắc, gọn, như tiếng gõ đinh của một tay thợ mộc lành nghề. Tiếng gõ đó kéo Kino ra khỏi một giấc ngủ sâu cho đến khi ý thức của anh tỉnh táo một cách hoàn toàn, thậm chí đến tàn nhẫn.

Kino biết tiếng gõ nghĩa là gì. Anh biết anh phải ra khỏi giường và mở cửa. Dù ai đang gõ cũng không có sức mạnh để mở nó từ bên ngoài. Nó phải được chính tay Kino mở.

Anh nhận ra chuyến thăm này chính xác là những gì anh đang mong đợi, nhưng đồng thời cũng là những gì anh lo sợ trên hết. Đó là sự mơ hồ: níu kéo một khoảng không giữa hai thái cực. “Anh có tổn thương, một chút, đúng không?” vợ anh từng hỏi. “Dù sao anh cũng là người. Anh có tổn thương,” anh đáp. Nhưng điều đó không đúng. Ít nhất một nửa của nó là dối trá. Mình chưa đủ tổn thương khi lẽ ra phải thế, Kino thừa nhận với chính mình. Khi lẽ ra mình phải cảm thấy đau đớn thực sự, mình lại dập tắt nó. Mình không muốn giải quyết, nên mình tránh phải đối mặt. Đó là lí do giờ đây trái tim mình trống rỗng. Lũ rắn đã nắm lấy nơi đó để cố gắng che giấu trái tim lạnh lùng đang đập của chúng.

“Đây là một nơi thoải mái không chỉ cho tôi mà còn cho bất cứ ai,” Kamita từng nói. Cuối cùng Kino cũng hiểu ý gã là gì.

Kino trùm chăn lên, nhắm mắt lại, lấy hai tay bị tai. Mình sẽ không nhìn, mình sẽ không nghe, anh tự nhủ. Nhưng anh không thể át đi tiếng gõ. Ngay cả khi anh chạy tới nơi tận cùng trái đất và nhét đầy đất sét vào tai, chỉ cần anh còn sống, những tiếng gõ sẽ không ngừng bám theo. Đó không phải là tiếng gõ cửa khách sạn. Đó là tiếng gõ cửa trái tim anh. Ta không thể thoát khỏi âm thanh đó.

Anh không chắc thời gian đã trôi qua bao lâu, nhưng nhận ra tiếng gõ đã dừng lại. Căn phòng tĩnh lặng như phía bên kia mặt trăng. Nhưng Kino vẫn nằm trong chăn. Anh phải cảnh giác. Thứ bên ngoài cánh cửa của anh sẽ không bỏ cuộc dễ dàng đến thế. Nó không vội vã. Mặt trăng chưa xuất hiện. Chỉ có những chòm sao cằn cỗi mờ nhạt lốm đốm trên bầu trời. Trong một khoảng rất lâu, thế giới thuộc về những sinh linh khác. Chúng có rất nhiều phương pháp. Chúng có thể có được thứ chúng muốn bằng mọi cách. Gốc rễ của bóng đêm có thể lan khắp mọi nơi dưới lòng đất. Kiên nhẫn qua thời gian, lần mò những điểm yếu, chúng có thể phá vỡ tảng đá vững chắc nhất.

Cuối cùng, như Kino đoan chắc, tiếng gõ lại vang lên. Nhưng lần này nó đến từ hướng khác. Gần hơn nhiều so với trước. Dù ai đang gõ cũng đang đứng ngay ngoài cửa sổ cạnh giường anh. Bám vào bức tường của tòa nhà, tám tầng trên cao, gõ-gõ-gõ lên tấm kính đầy những vệt mưa.

Tiếng gõ giữ cùng một nhịp. Hai lần. Rồi hai lần nữa. Cứ thế cứ thế mà không dừng lại. Như âm thanh của một nhịp tim có cảm xúc.

Tấm rèm đang mở. Trước khi ngủ thiếp đi, anh đang xem hình thù những vết mưa đọng trên mặt kính. Kino có thể hình dung ra anh sẽ thấy gì ngoài kia nếu thò đầu khỏi chăn. Không — anh không hình dung ra được. Anh phải dập tắt khả năng tưởng tượng ra bất cứ thứ gì. Mình không nên nhìn nó, anh tự nhủ. Dù có trống rỗng thế nào, nó vẫn là trái tim mình. Vẫn còn chút hơi ấm con người trong đó. Ký ức, như rong biển cuộn quanh bãi cọc trên bờ, lặng lẽ chờ thủy triều dâng. Đó là những cảm xúc, nếu bị cắt sẽ chảy máu. Mình không thể để chúng lang thang đâu đó ngoài tầm hiểu biết của mình.

“Ký ức có thể hữu ích,” Kamita từng nói. Một ý nghĩ bất ngờ vụt đến với Kino: Kamita phần nào đã gắn kết với cây liễu già trước nhà. Anh không nắm được chính xác điều này có ý nghĩa ra sao, nhưng một khi tư tưởng đã bám chặt lấy anh, mọi thứ trở nên dễ hiểu.

Kino hình dung ra những phiến lá phủ đầy màu xanh, trĩu nặng võng xuống gần mặt đất. Mùa hè, chúng cho khoảnh sân bóng mát. Ngày mưa, những giọt vàng lấp lánh trên đám cành mềm mại. Ngày gió, chúng đung đưa như một trái tim thao thức, và những con chim nhỏ bay qua, rít lên với nhau, đáp xuống những cành cây mỏng, dẻo dai, chỉ để bay lên lần nữa.

Dưới tấm chăn, Kino cuộn mình như một con sâu, nhắm mắt thật chặt và nghĩ về cây liễu. Lần lượt, anh hình dung ra những đặc tính của nó — màu sắc, hình dạng, chuyển động. Anh cầu nguyện cho bình minh tới. Tất cả những gì anh có thể làm là chờ đợi như vậy, kiên nhẫn, cho đến khi những tia sáng ló rạng, lũ chim thức dậy và bắt đầu ngày mới của chúng.  Tất cả những gì anh có thể làm là tin vào lũ chim, vào mọi loài chim với đôi cánh và cái mỏ của chúng. Cho đến lúc đó, anh không thể để lòng mình trống rỗng. Khoảng không đó, chân không mà nó tạo ra, sẽ hút chúng vào.

Khi cây liễu không thôi là chưa đủ, Kino nghĩ về con mèo xám gầy và sở thích rong biển nướng của nó. Anh nhớ Kamita ngồi tại quầy, đắm chìm trong cuốn sách, những vận động viên điền kinh trẻ vượt qua các buổi tập luyện lặp đi lặp lại đến kiệt sức trên một đường đua, bản độc tấu “My Romance” đáng yêu của Ben Webster. Anh nhớ vợ anh trong bộ váy mới màu xanh dương, mái tóc tỉa ngắn. Anh hi vọng cô đang sống khỏe mạnh, hạnh phúc trong căn nhà mới. Không có, anh hi vọng, bất kỳ vết thương nào trên cơ thể cô. Em đã xin lỗi trước mặt mình, và mình chấp nhận lời xin lỗi đó, anh nghĩ. Mình không cần học cách lãng quên mà là cần học cách tha thứ.

Nhưng dường như dòng chảy thời gian không được cố định đúng cách. Sức nặng đẫm máu của lòng ham muốn và mỏ neo han gỉ của nỗi ăn năn đã chặn dòng chảy bình thường của nó. Cơn mưa triền miên, những chiếc kim đồng hồ lẫn lộn, những con chim vẫn đương say ngủ, một nhân viên bưu điện vô danh lặng lẽ xếp chồng bưu thiếp, bộ ngực đáng yêu của vợ anh nảy mãnh liệt trong không khí, thứ gì đó ngoan cố gõ lên cửa sổ. Như thể nhịp đập luôn đều đặn này dụ anh xuống sâu hơn trong một mê cung khơi gợi. Thình thịch, thình thịch — rồi lại lần nữa, thình thịch. “Đừng nhìn đi đâu, hãy nhìn thẳng vào nó,” ai đó thì thầm vào tai anh. “Trái tim ngươi trông như thế đấy.”

Những cành liễu đung đưa trong cơn gió đầu hè. Từ một căn phòng tối nhỏ, đâu đó bên trong Kino, một bàn tay ấm áp vươn tới anh. Nhắm mắt, anh cảm thấy bàn tay đó đặt trên bàn tay anh, nhẹ nhàng và rất thật. Anh đã bỏ quên điều này, tách biệt khỏi nó quá lâu. Phải, mình bị tổn thương. Rất, rất sâu sắc. Anh nói với chính mình. Và khóc.

Trong lúc đó cơn mưa vẫn chưa chịu buông tha, dìm thế giới trong cơn ớn lạnh. ♦

Bản dịch của Nguyễn Huy Hoàng.

Ghi chú của người dịch:

• Nhân vật chính, Kino (木野), cũng giống Haruki: mở quán rượu và thích nhạc jazz. Về sở thích này, có thể tìm hiểu thêm qua essay “Jazz Messenger” của ông.
• Tên của Kamita được viết theo lối kanji là 神田, theo lời nhân vật, dạng hiragana là かみた (Kamita) chứ không phải かんだ (Kanda).
• Các từ tiếng Nhật được giữ nguyên trong bản tiếng Anh (do đặc thù văn hóa), bản tiếng Việt cũng vậy:
1. Yakuza: các tổ chức xã hội đen, băng đảng tội phạm truyền thống ở Nhật.
2. Tatami: nệm lót sàn truyền thống của Nhật.
3. Futon: bộ giường truyền thống của Nhật, gồm có nệm, chăn, gối… Có thể gấp gọn lại và trải ra (trên nền tatami) khi cần.

THƠ PHƯƠNG UY

 

 

MỞ CỬA

Mở cánh cửa ra
để biết
Tôi và em đi về có cùng một hướng?
nắng trôi nghiêng sáng đầu tuần
hửng chút mùa đông.

Mở cánh cửa ra
ùa vào hương lá mới
mùa sang
còn chút rộn ràng
dẫu cánh hồng đã úa tàn trong lọ
còn vương vấn chút hương.

Mở cánh cửa ra
để anh còn có thể nhớ được gương mặt em
trong nâng niu hồi tưởng
yêu thương nhập tràng
mê táng buốt tim
Em mãi ngàn năm lăm lăm bia mộ
tôi mãi âm u
một cuộc trốn tìm.

Trên từng bậc đá đẫm sương huyết dụ
người không về từ trăm năm
Thạch thảo không còn xanh màu xưa cũ
dù trăng tràn một đêm rằm.

Mở cửa ra đi em
Anh đời chiều còn đưa nhau về ngược
Bên cánh cổng khép im lìm
dấu nắng tàn phai
Sao có thể tìm nhau chiều sương muộn?
cánh hồng cũ úa nhàu
chờ tay ai về nhặt một u hoài…

 

MUỘN PHIỀN

Anh trở về cung đường cũ mùa đông
Tìm một ngày không còn ở lại
Tìm niềm vui và những nỗi buồn đã trôi xa rồi xa mãi
Những lời ca lịm tắt chẳng sinh sôi
Một ngày thứ Tư của tháng Mười.
Em đừng khóc trong nỗi buồn vực mắt
Hết buồn chưa?

Khóc được đã là quên
dầu mặc….
Chùm cúc dại nở ra trên bậc đá muộn phiền
Đường dài
Kiss the rain của Yiruma vẫn âm ỉ chảy
Hoài niệm trễ nãi
Cho sự mệt mỏi loang dần
Cơn mơ về muộn nín câm

Anh lặng lẽ cất tiếng hát vào trong ngực
nghe bài thơ ngày cũ xưa thổn thức
và tin chẳng có gì tốt đẹp ở trên đời
Cung đường oằn uống những dấu chân rơi
chừng như rất vội

Tháng Mười, gió mùa đông bắc thổi
Áp thấp chập chùng mưa
Bến bus trống không còn ai ngồi đợi
Lạnh tanh vạt gió lùa…

 

PHỤC TANG

Chiều
Chờ đợi một chuyến xe xuyên về ngày hôm qua
Anh phục tang một giấc mơ thấp khớp
Nghe tiếng gào của cung nguyệt cầm mắc khúc
Chiều đau đáu trăng xanh.

Trong vùng xoáy của lặng im
Em bước vội vào trận mây lặng lẽ
Giọt nước mắt ngày xưa dẫu có buốt tim
giờ cũng úa vàng quạnh quẽ
Đâu còn làm em đau?

Chiều ngoảnh mau
Sợ tàng gió về phụ rẫy
Chiếc lá xanh giữa khu vườn xưa
đã kịp khô theo chất dẫn lưu|lãng quên trong phù hư lộng lẫy
Vầng trăng thổ huyết trên đầu.

Em mê mải đi về nơi nào đó
trên từng ô cửa đã rêu
Để mùa đông cạ cựa vào cơn mưa
Xót nỗi buồn dịch hạch

Giấc mơ rồi cũng có lúc
tự mình khăn gói xanh xao
Nghe kỉ niệm vỡ từng kí âm mưng mủ
Gai lưỡi điếng câm vàng mã xạc xào
Trong chiều phục tang của những giấc mơ
Khúc gió đứt buổi ngày cổ tích
chậm chạp oằn mình đi lướt qua nhau.

 

 

BẶT ÂM

 

Ngày
Không phản hồi
Những kí tự vô tình lấp liếm
Em bặt câm
Màn hình không hiển thị
Tôi thì thào khúc vô thanh.

Ngày
Đếm vết chân chim
Nụ hôn đi lạc
Niềm vui là xa xỉ phẩm
Thôi , nghe Artista band hát rằng “ em không trở lại “
Đồng hồ gõ tiếng câm.

Ngày
Nhặt một con trốt gió
Trên lãng quên xanh
Gặp mùa đông gục đầu sau bậc cửa
Trong giấc mơ nghe mị ma chó sủa
Sân vắng tanh không khách ghé thăm nhà

Ngày
Không vệt nắng
Vẽ mùa đông
Bằng một màu son cũ
Đã xa…

Phương Uy

đường xưa lối cũ

 

Đường xưa lối cũ ta về
Từng con sóng vỗ não nề xa xa

Tôi xin mượn tên một bài hát của cố nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ làm tựa cho bài viết có lẽ không đâu vào đâu này, để cám ơn chị bạn Ninh-Hòa có cái họ vừa đẹp vừa buồn – Lương Lệ- đã hát tặng trong đêm đầu tiên chúng tôi vừa trở lại quê nhà, ở cái quán cà phê mang tên khá lạ; Hòn Kiến, nằm trong một khu vắng vẻ trên con đường Bạch Đằng quen thuộc của một thời tôi còn lang thang đi học ở Nha Trang.
Bài hát dù hay nhưng xưa cũ lắm, tôi đã nghe rất nhiều lần, đến gần như không còn cảm xúc. Nhưng hôm nay ngồi nghe chị hát mà lòng chợt ngậm ngùi. Bởi vì chính bây giờ đây, tôi đã trở về và đang đi trên những con đường xưa lối cũ ấy.

Không ngờ chị hát thật hay, thật truyền cảm. Tôi nghe tên chị từ lâu lắm, nhưng hôm nay lần đầu tôi gặp chị. Tôi mới chợt nghĩ ra rằng, ở Ninh Hòa, cái họ Lương này, dù ở Phú Hòa hay là ở Xóm Rượu gì cũng đã từng vang bóng một thời, đã từng làm khổ biết bao chàng, từ thư sinh đến anh hùng hào kiệt. Bà xã tôi thường nhắc tên một cô bạn thân, cùng lớp, cùng đội múa Trăng Mường Luông ngày xưa, đẹp và hiền như ma soeur, nhưng bất cứ lúc nào cũng có thể khóc được. Hỏi ra thì cô nàng có cái tên Lương-Lệ Bích-San. Tôi bảo, cô ấy dễ khóc là phải, vì trong cái tên lúc nào cũng đã có sẵn cả một dòng nước mắt. Đêm nay cũng có Bích San và ông xã. Anh ngồi bên tôi, rất hiền lành, chỉ mỉm cười, ít nói, thì thầm đọc cho tôi mấy câu thơ về một chuyện tình buồn. Anh làm thơ hay lắm nhưng cho tôi cái cảm giác là cuộc tình của hai người ngày xưa cũng có cả một trời sóng gió. Trước năm 75, anh là giáo sư của vài trường trung học ở Ninh Hòa, nhưng bây giờ anh làm một việc giống như một “cai trường”, sống âm thầm lặng lẽ ở Nha Trang. Chị bạn hát tặng chúng tôi bài hát mừng hội ngộ tối nay, chắc lúc xưa cũng đã từng làm dại khờ bao nhiêu trái tim của đám học trò lẫn các ông thầy Trần Bình Trọng, Võ Tánh.

Được tin bà già vợ đau rất nặng, phải vào nhà thương trong tình trạng rất nguy ngập mà không ai chăm sóc, nễ tình bà vợ Ninh Hòa, tôi tháp tùng một chuyến cố hương. Lần đầu tiên sau hơn ba mươi năm, bất ngờ được ăn một cái Tết quê nhà. Đêm giao thừa, nằm ờ Ninh-Hòa mà thấy lòng buồn bát ngát một mùa thu. Có lẽ, tuổi đã già nên không còn cái nao nức của thời xưa, hay là còn cái cảm giác quê hương mình sao vẫn còn xa lạ quá. Ngay trước nhà là một chợ hoa, nhiều nhất là hoa cúc với hoa mai. Dường như hai loại hoa này đang mang mùa xuân đến cho Ninh-Hòa. Sắp đến giờ giao thừa mà hoa vẫn còn đầy ngoài đường, trước ngõ. Người ta phải bán với cái giá chỉ để khỏi phải trả tiền chuyên chở lại về nhà trên các vùng như Quang Đông, Chấp Lễ. Tội nghiệp, những người trồng hoa có lẽ đã phải vất vả suốt cả năm, để mang mùa Xuân đến cho mọi nhà, nhưng rồi không biết mùa Xuân có đến được nhà của chính họ hay không ?

Sáng mồng một Tết, dự định ghé lại thăm một vài người quen, nhưng ngại có người kiêng cữ. Một kẻ lưu lạc tha phương xông đất biết đâu lại là cái điềm chia lìa nào đó. Nên cuối cùng đón xe lửa trở lại Nha Trang để tìm một chút yên bình. Đi xe lửa bây giờ là điều thú vị, vừa được ngắm cảnh núi non đồng ruộng, vừa được nghe toàn những bản nhạc”vàng” tình ca của miền nam thuở trước và nhớ lại cái thời vào trọ học Nha Trang , cuối tuần chỉ toàn đi xe lửa “cọp”.

Nha Trang, dù có cái gì xa lạ nhưng lúc nào cũng đẹp. Đẹp để đủ cho lòng người ta nuối tiếc mông lung. Bởi ngồi trước biển Nha Trang mà tâm tư cứ mơ hồ giữa cái còn và cái mất, giữa ngày xưa với bây giờ. Cái nhớ nhất, sâu lắng nhất còn lại trong lòng là kỷ niệm của một thời đi học, của những mối tình học trò vụng dại dễ thương.

Niềm vui là tìm gặp được những bạn bè cùng lớp ngày xưa để còn thấy mình trẻ lại. Nhưng vui đó rồi buồn đó. Bởi bây giờ ai cũng đã già và mỗi người một số kiếp long đong.

Một thằng bạn cùng học ba năm cuối cùng ở trường Võ Tánh, to con, đẹp trai và học giỏi. Sau này cũng là bạn lính. Ở tù hơn bảy năm nên bạn bè ai cũng nghĩ là nó đã đi diện HO và đang nổi trôi nơi nào trên nước Mỹ, không ngờ còn gặp lại nó ở Nha Trang.

Sau sáu tháng nó vào tù, cô vợ “Bắc Kỳ nho nhỏ” mang ba đứa con (mà đứa lớn nhất mới vừa năm tuổi) giao cho bà nội ở trên Thành, Diên Khánh, rồi sang sông….. về đâu đó, không bao giờ trở lại thăm con. Bà nội thì già, mấy đứa nhỏ bấu víu vào ông chú, vừa tốt nghiệp kỹ sư Nông Lâm Súc, nhưng bởi có ông anh là “ngụy đang cải tạo”, nên được chức phụ hồ cho một ông thợ nề là bác họ. Trong lúc phụ hồ xây dựng một bệnh viện, anh làm quen được một chị đầu bếp của bệnh viện, Không biết tài ăn nói thế nào mà anh làm cô đầu bếp động lòng trắc ẩn, thương cảm hoàn cảnh mấy đứa cháu dại không mẹ không cha. Cô sẵn sàng làm mẹ nuôi. Với tất cả tiền bạc và tấm lòng, cô đã cưu mang ba đứa bé còn hơn cả một người mẹ. Ba đứa nhỏ lớn lên cứ tưởng cô là mẹ. Cái tình mẫu tử này sao mà hiếm hoi và bi tráng quá. Thì ra trong cái thời nhá nhem tình nghĩa ấy vẫn còn có những tấm lòng hơn cả chữ từ bi viết trong mấy ngôi chùa.

Bảy năm sau, thằng bạn tôi được thả về, cúi mình trước người con gái lần đầu tiên gặp mặt để xin lạy một lạy tạ ơn. Cô nắm tay ngăn lại. Đúng giây phút ấy, bốn mắt nhìn nhau và cùng rơi lệ. Họ ôm nhau và yêu nhau rồi lấy nhau… Hôm gặp chị, tôi tò mò hỏi lý do nào chị yêu và lấy thằng bạn khốn cùng của tôi trong lúc chị còn con gái. Chị cho biết vì không thể rời xa ba đứa nhỏ mà chị cứ tưởng là con ruột của chính mình. Chính cái tình thương gắn bó mấy đứa nhỏ mà chị trở thành vợ của ba nó. Còn tôi thì lại mơ màng suy ngẫm đến hai chữ duyên nợ của đất trời.

Sau này chị làm đầu bếp cho một nhà hàng ở bờ biển Nha Trang. Thằng bạn tôi và mấy đứa con vẫn sống trên Thành, vì với cái lý lịch đen, không thể xin được cái hộ khẩu về thành phố. Còn chị vợ thì tiếc cái hộ khẩu ở thành phố, mà không muốn chuyển lên Diên Khánh. Mặc dù ban ngày làm ở Nha Trang nhưng tới tối là chị chạy xe Honda về với chồng con.

Cũng chính vì cái “hộ khẩu” mỗi người một nơi ấy, mà khi thằng bạn của tôi nộp đơn xin đi theo diện HO, bị phái đoàn Mỹ từ chối, trả lại hồ sơ và sỉ vả một trận, vì nghĩ chị vợ tốt bụng này chỉ là vợ giả, trả tiền cho nó để được bỏ nước ra đi. Chuyện tình ngay mà lý gian ấy cũng đã làm vợ chồng tốn kém và khốn khổ một thời. Sau mấy lần khiếu nại, cái ân sủng cuối cùng là: chỉ có người cha và ba đứa con được ra đi vào đợt cuối HO. Còn chị vợ sẽ vĩnh viễn không bao giờ được bước chân đến Mỹ.

Bạn tôi quyết định ở lại với người vợ ân tình, mà anh coi như ông trời đã sai xuống dương trần này để gánh vác cho mấy cha con.

Bây giờ ba đứa con đã là người lớn. Thằng bạn tôi ở nhà chăm sóc ngôi từ đường, nuôi mấy con heo và nấu cơm cho con cho vợ. Chị ấy vẫn làm ở khách sạn dưới Nha Trang.

Hôm đứa con gái lớn lấy chồng, chị khuyên mãi thằng bạn tôi mới báo tin cho bà mẹ ruột bạc tình, bây giờ đang lấy một ông chồng người Thụy Sĩ. Bà ấy cũng vác bộ mặt đầy son phấn trở về. Nhưng đứa con gái chỉ cho bà đến nhà hàng dự tiệc mà từ chối sự hiện diện của bà trong hôn lễ. Con bé bảo rằng, bà chỉ là một cái máy đẻ ra tôi, nhưng mẹ tôi chính là vợ của ba tôi bây giờ.

Tôi rót một ly rượu mừng cho cả cái vô phúc lẫn cái diễm phúc của thằng bạn cũ, nhưng rót đến hai ly để mời vợ nó. Một ly mừng và một ly để nói hộ giùm tôi lòng biết ơn và ngưỡng mộ.

Tội quay sang bảo thằng bạn:
– Dường như chính phủ Mỹ vừa cho mở lại diện HO, mày thử nộp đơn lại xem sao.
Nó xua tay:
– Tao chẳng cần đi đâu nữa, vì ở đâu có bà vợ tao đây là ở đó có thiên đường.
Tôi đùa:
– Mày nói còn hay hơn mấy ông linh mục trong nhà thờ.
Tôi choàng tay ôm vợ chồng nó mà nước mắt trào ra. Tôi nghĩ, nó vẫn còn tác phong của một thằng lính.

Một cô bạn học từ năm đệ tứ. Mùa hè năm rồi sang Mỹ thăm cô con gái là ni cô tu ở một ngôi chùa nữ dưới Los Angeles, bất ngờ đọc được bài viết của tôi trong Đặc San Hội Ngộ Võ Tánh & Nữ Trung Học Nha Trang, trong đó tôi có nhắc đến tên nàng, rồi lần mò tìm ra tông tích của tôi. Ngày xưa là một cô bé khá xinh và học giỏi. Sau này có thời làm phóng viên chiến trường cho QĐ II. Ông chồng gốc Võ Bị Đà Lạt, chết một tháng trước ngày có chuyến bay theo diện HO. Nàng dắt hai đứa con gái lưu lạc khắp nơi, với một số vốn liếng của mẹ cha để lại. Cuối cùng, khi kinh tế ổn định, mẹ con về mua một ngôi nhà bên cạnh Quan Âm Tự ở Sài Gòn. Cô con gái út vừa học đại học vừa tu học trong chùa. Còn nàng thì tu tại gia và cũng là một nhà thơ. Ngồi trên máy bay trở lại Nauy, tôi đọc hết hai tập thơ của nàng ký tặng lúc chia tay. Nàng làm thơ Đường thật hay và cảm động. Tôi nghĩ, nếu Đức Phật mà đọc được thơ nàng thì cũng phải rơi nước mắt xuống tòa sen.

Mấy ngày ở Sài Gòn, tôi ghé thăm chị Hà , một người con gái gốc gác “quan họ” nhưng lúc nào cũng nặng lòng với Ninh Hòa. Ông bố ngày xưa là một niên trưởng của tôi trong quân đội, nên ngôi nhà nhỏ, dù là của gia đình đã bao đời, bây giờ vẫn chưa có “sổ đỏ”, trông cũ kỷ nhất trên con đường Minh Mạng xưa, vì không được phép sửa sang lại. Vẫn với nụ cười, từ tốn và lịch thiệp đủ để cho người lạ dễ làm quen và có cảm giác gần gũi thân thiện. Tôi hiểu lý do tại sao, giữa Sài Gòn với những bề bộn trong mấy ngày giáp Tết, bao nhiêu người phải đi ngược về xuôi, vậy mà cuộc họp mặt tất niên của Hội Đồng Hương Dục Mỹ & Ninh Hòa của chị có đến hơn một trăm người hiện diện. Nghe tôi ghé thăm, có một anh bạn trẻ Ninh-Hòa cũng đến chờ tôi. Chính cái cách biệt tuổi tác, cái khoảng cách không gian giữa ngoài và trong nước, lại là một sự gắn bó đến không ngờ. Chúng tôi có biết bao nhiêu điều để nói, từ hoài cảm về một thời xa xưa, đến những buồn vui trăn trở bây giờ.

Tội nghiệp người bạn trẻ có lòng. Hôm sau, anh xin nghỉ làm nguyên cả buối sáng… ghé lại khách sạn rủ tôi ra quán cà phê tâm sự. Tôi có cả xót xa và hạnh phúc, khi thấy mình đã già, trí óc có thể đã cằn cỗi, lỗi thời nhưng lại có rất nhiều ưu tư, suy nghĩ rất gần với người bạn trẻ, vừa có lòng vừa có kiến thức này. Những nhận định, từ cái tư cách của ông nhạc sĩ Phạm Duy, những điều đáng buồn của quê hương đất nước: đạo đức xã hội ngày cáng bị xói mòn, người ta làm giàu không từ nan bất cứ một thủ đoạn nào, ngay cả bán phụ nữ đi làm nô lệ -kể cả nô lệ tình dục-và bán cả một phần giang sơn đất nước.

Nói chuyện với anh, tôi chợt nhớ tới cái kết luận của nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, khi đọc Le Fils de La Baleine (Kẻ Thừa Tự của Ông Nam Hải), tác phẩm nổi tíếng trên thế giới vào những năm giữa thập niên 50-60, của ông Thầy, nhà văn Cung Giũ Nguyên (nguyên tác bằng tiếng Pháp, xuất bản lần đầu ở Pháp năm 1956. Sau đó được dịch ra nhiều thứ tiếng và tái bản ở Đức và Canada):

“Người ta tôn vinh, thờ phụng một con Cá Voi chết, nhưng tại sao người ta lại tàn nhẫn với cuộc sống của một con người. ? – Xin đừng choàng vòng hoa cho một người đã chết và hãy yêu một người đang sống”.

Chiều hôm qua, trong khi bà vợ Ninh Hòa đi mua sắm, làm tóc làm tai, tôi nằm dài trong hotel đọc hai cuốn sách. Cả hai cuốn sách này tôi đã đọc qua trên mạng, cùng vớí bao ý kiến khen chê từ trong ra ngoài nước: Nhật Ký ĐặngThùyTrâm và tiểu thuyết Bóng Đè. Một cuốn đề cao một nữ bác sĩ hy sinh trong cuộc chiến, mà cuốn nhật ký của cô được kẻ cựu thù là một ông Mỹ vô danh nào đó gìn giữ và trao lại cho gia đình. Tôi nghiệp, lại thêm một cái chết nữa bị người ta lợi dụng. Còn cuốn kia nói về hiện tượng một cô gái bị bóng ma của mấy đời nhà chồng: ông, cha, từ trên bàn thờ trong nhà họ, đêm nào cũng xuống đè cô hãm hiếp. Tôi thích cuốn tiểu thuyết này, tác giả là một cô luật sư trẻ ngoài Hà Nội. Dường như báo chí trong nước phê phán gắt gao về những từ ngữ tả chân tình dục. Riêng tôi, tôi thích thú cái ý đằng sau những từ ngữ ấy. Đúng như vậy, có biết bao nhiêu người tuổi trẻ mà tôi biết hay đã gặp, như người bạn trẻ đang ngồi trước mặt tôi đây, với tấm lòng, kiến thức và nhiệt huyết, họ thừa khả năng để đưa đất nước vươn lên. Những cái bóng ma của quá khứ chỉ làm cho họ thêm nặng nề, ngộp thở. Chia tay anh, suốt trên đường về lại hotel… lòng tôi miên man với bao suy tư và hy vọng.

Ở Nha Trang, bất ngờ gặp vợ chồng cô bạn ở bên con sông Dinh và cây cầu Sắt, học cùng lớp và cũng cùng đội múa với bà vợ Ninh Hòa của tôi ở Trần Bình Trọng, cũng trở về từ một nơi nào đó. Ông bà cứ như là đám mây trên trời. Chợt đến rồi chợt đi. Không biết những nơi hai người đi qua có còn để lại vết tích của một đôi tình nhân sáu mươi. khi “con tim đã vui trở lại” ?

Gặp cô bạn thân thiết một thời này, bà xã tôi bèn làm ngay một cuộc họp bạn bỏ túi. Bốn người bạn cùng lớp, trôi nổi mỗi người một cảnh, bây giờ gặp lại nhau, thôi thì tha hồ mày tao mi tớ, và kể đủ thứ chuyện dưới đất trên trời, làm tôi nhớ đến mấy câu thơ ” làm chơi” của một ông bạn vong niên:

Một đám con nít sáu mươi
Gặp nhau bỗng thấy nhớ trời đất xưa
Nhớ ngôi trường cũ dưới mưa
Nhớ thầy nhớ bạn nhớ giờ ra chơi

…..

Một đám con nít sáu mươi
Tìm nhau kể chuyện trên trời dưới sông
Trên trời mây nổi mênh mông
Dưới sông bèo dạt bềnh bồng nổi trôi…

Một người nhắc tới anh bạn “ốm tong teo” cùng lớp, nhà thơ Quan Dương, đang lưu lạc ở New Orleans, vừa bị cơn bão Katrina rượt chạy sang tận Houston-Texas, và cho biết là dường như có một tờ báo trong nước luận (tội) về thơ Quan Dương. Tôi bảo là thơ Quan Dương chỉ kể lại những cái đau của người miền Nam trong những ngày tháng cũ. Có luận thì cũng chỉ thấy tội…nghiệp mà thôi. Đã là con người, lại là một nhà thơ.., xin hãy để cho họ nói lên những nỗi niềm tận đáy lòng của họ. Làm thơ cũng chỉ là một sự giải tỏa những niềm đau, những ẩn ức còn ở trong lòng. Chính những ông Văn Cao, Phùng Quán, hai nhà thơ nổi tiếng nhưng đã bị tù đày, tàn tạ gần cả một đời chỉ vì “…muốn làm nhà văn chân thật / Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã / Bút giấy tôi ai cướp giật đi /Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá ” cũng đã từng nhờ thơ mà sống còn, bởi “có những lúc ngã lòng,.. nhờ vịn câu thơ mà đứng dậy”. Bây giờ nhà nước đã phải chấp nhận ngợi ca giá trị thơ văn của hai ông, như là một đóng góp quí giá, lớn lao vào sự nghiệp văn hóa chung của dân tộc. Đặc biệt tên Văn Cao đã được dùng đặt tên cho một con đường ngay giữa lòng Hà Nội. Tiếc là mọi thứ chỉ xảy ra khi ông sắp chết !

Một anh bạn trong nước cho biết thêm một điều thú vị : “ông chủ tịch tỉnh” bây giờ là bạn học cùng lớp cùng trường Trần Bình Trọng với Quan Dương ngày trước (nằm vùng). Không biết ông ta có chút xót xa nào khi đọc được tập thơ Ruột Đau Chín Khúc của Quan Dương , và nếu bây giờ gặp nhau, liệu “ông chủ tịch” có tay bắt mặt mừng, hay lại bắt thằng bạn xưa nhốt vào trại tù “cải tạo” thêm vài ba năm nữa ? Ôi ! cuộc chiến tranh Việt nam sao mà bi thảm quá !

Tôi từ giã Ninh-Hòa vài ngày sau Tết, nhưng không biết Quê hương mình có thực sự bước vào một mùa Xuân ? Tôi nhìn thấy người ta bắt đầu phóng những con lộ lớn từ quốc lộ “đại hàn” nối về khu thị trấn. Tôi cũng mừng về những đổi thay muộn màng đó của quê hương, nhưng thầm mong những con lộ mới làm này cũng sẽ nối lại được cái tình tự của con người Ninh Hòa, người Việt Nam với nhau. Bất giác tôi nhớ tới những đồng đội bất hạnh của tôi còn nằm lại trong Nghĩa Trang Quân Đôi Biên Hòa, mồ mả của họ đã bị đâp phá, san bằng, người nhà không được tự do sửa sang, thăm viếng. Vết thương cũ trong lòng tôi nhói đau trở lại, tựa hồ như đang có trăm ngàn vết chém.

 

Phạm Tín An Ninh

Lưu vong

 

Có lẽ em không hay
Đôi cánh chàng, đã gẫy
Chàng cần được ngủ yên
Trong nấm mồ hiện tại


Phải, chính em đang mang
Bão bùng hung hãn tới
Quật mồ chàng lạnh tanh
Bỗng thành tang tóc, mới


Em buộc chàng hồi sinh
Sống, bằng đôi cánh gẫy
Định mệnh vút như tên
Cắm ngập từng thân phận
Phải, chính em giương cung
Hồn chàng đành rơi rụng…

 

Hồn chàng đành rơi rụng
Ngoan ngoãn xuống tay ai
Như ngoài khung kiếng cửa
Chiếc lá khẽ qua đời…


Bây giờ vốn liếng anh
Chỉ còn đôi mắt dại
Trông vời hướng cố hương
(Tinh anh nào sót lại
Đủ xanh màu nhớ nhung?)


Bây giờ trí óc anh
Vang vang hoài sóng bạc
Cách chi thơ thành vần
Tặng em mừng, chớp mắt


Ôi những chiều bên nhau
Hai đứa cười chung nụ
Gìn giữ được bao lâu?
Chút sương tình óng ả?


Ôi, những chiều bên nhau
Hát chung bài hát cũ
Dăm nụ cười nít nhỏ
Chén vơi sầu vong lưu..

 

Nguyễn Tất Nhiên

 

VỀ NGỒI TRÊN CỎ

về như cỏ ngủ
xanh mấy mùa rêu
mưa trên vũng lệ
mưa rồi anh yêu

mọc lên một nụ
cười choáng trăng sao
ngày em yểu điệu
ngày em biết yêu

về quanh con phố
dấu nào chân qua
về không thể nhớ
chỗ nào đôi ta

mắt cay sợi khói
đi về vậy thôi
ngày em mười sáu
đâu biết đầy vơi

đâu biết đất trời
chia đôi hai đứa
đâu biết gì đâu
cũng bày đặt hứa

về ngồi trên cỏ
ầu ơ nhớ thương
về quanh quẩn mãi
cũng đành khói sương…

âu thị phục an
2017

PHAN NHẬT NAM DỰA LƯNG NỖI CHẾT

 

Lần cuối cùng, tôi gặp Phan Nhật Nam, vào một sáng Chủ nhật, đâu khoảng hơn tháng trước ngày miền Nam rơi vào tay cộng sản. Nam đang đứng nói chuyện với nhà văn Vũ Bằng và nhà văn Mặc Thu trên lề đường trước nhà ông Chu Tử và vợ chồng Đằng Giao, 104 đường Công Lý. Thấy Nam trẻ trung tươi sáng trong bộ quân phục Nhảy dù vải kaki vàng thẳng cứng nếp hồ với đầy đủ lon lá, huy chương và sợi giây Bảo quốc rực rỡ, tôi thoáng ngạc nhiên vì lần gặp gỡ trước Nam đã nói với tôi rằng vừa giải ngũ. Tôi hỏi đùa:

― Bạn tôi quân cách rềnh ràng đi lãnh thưởng ?

Tôi có ý trêu Nam về số tiền một triệu ông Chu Tử đề nghị báo Sóng Thần tặng Nam về tác phẩm ” Tù Binh Và Hoà Bình ” để bỉ thử giải Văn học Nghệ thuật bần tiện của Thiệu. Nam cười lớn:

― Cái giải thưởng của bố già cậu sài mẹ nó hết rồi, có cụ Vũ Bằng biết đấy !

Rồi Nam tự giải thích khi thấy tôi hóm hỉnh nhìn Nam với bộ quân phục:

― Cậu Nam giải ngũ nhưng cậu Nam vẫn là lính Nhảy dù hợp lệ ! Nhưng mà giải ngũ rồi chán quá mi ơi. Buồn cóc biết làm gì và thèm mặc lại quân phục?

Xong Nam dịu giọng nói như than thở:

― Có lẽ tao lại phải làm đơn xin tái ngũ. Giải ngũ mà tao có cảm tưởng xấu hổ như một thằng đào ngũ !

Tôi có chuyện cần, vội gặp ông Chu Tử nên không nán lại góp chuyện với ba người và tìm hiểu chuyện Nam giải ngũ là đùa hay thật. Tôi chào và leo lên gác. Lúc trở xuống thì Nam đã không còn đấy nữa, và đó là lần cuối cùng tôi gặp Phan Nhật Nam, cho đến ngày di tản và cho đến bây giờ là sáu năm chia biệt.

Gặp Nguyên Vũ ở Fort Chaffee, gặp Lê Văn Mễ và một số bạn trong và ngoài binh chủng Nhẩy dù thân biết Phan Nhật Nam, tôi đều hỏi thăm và rõ chắc Nam cùng vợ con kẹt lại. Tôi rất buồn và lo lắng cho Nam cùng các bạn văn không di tản được. Nhưng tôi nghĩ nhớ và lo lắng cho số phận Phan Nhật Nam nhiều nhất. Là bởi, lần ra Hà Nội quan sát vụ trao trả tù binh, Nam đã ngông nghênh ôm theo cả một lô sách ” Mùa Hè Đỏ Lửa ” ký tặng các văn nghệ sĩ miền Bắc. Đó là tác phẩm để đời của nhà văn chiến trường số Một của miền Nam viết về cuộc chiến khốc liệt mùa hè 72, đầy rẫy lời thống mạ chủ nghĩa và tập đoàn lãnh đạo miền Bắc, phơi bầy thực chất phi lý bi thảm của cuộc nội chiến và toàn vẹn bộ mặt bất lương đốn mạt của ” anh Hồ cộng sản ” – thứ ” nhân tài chết tiệt của dân tộc ” – mà Nam đem đến tận nơi, dí vào mắt chúng. Tôi thật phục Nam. Tôi vẫn muốn có dịp hỏi thăm Nam về chuyến theo phái đoàn Ủy ban Liên hiệp Quân sự ra Hà nội và khi trở về, Nam đã viết cuốn ” Tù Binh và Hoà Bình mà tôi chưa được đọc “.

Đối với tôi, Nam đã chiếm giữ một cảm tình đặc biệt. Tôi yêu cái văn chương bốc lửa của Nam, thích cái con người tàng tàng ngạo nghễ của Nam. Kỷ niệm tôi có với Phan Nhật Nam không nhiều nhưng đủ để tôi và Nam coi nhau như bạn thiết. Tôi đọc tác phẩm đầu tay của Nam, cuốn ” Dấu Binh Lửa ” nhân một kỳ nghỉ dưỡng sức trên Đà Lạt và đã say mê cuốn hút, cảm phục văn tài, vô cùng thú vị với những dòng thể hiện sống động mạnh mẽ, hiên ngang, đậm sũng tình người, chứa chan lòng yêu quê hương đất nước … Phan Nhật Nam, ngôi sao mới hiện nhưng đã chói lọi trong giới quân nhân cầm bút. Nam hiện thực đời mình, phổ diễn tâm tình, cảm nghĩ của một người vững chắc lập trường quốc gia nhân bản, hiện thực tấn thảm kịch đầy bi phẫn đau thương của cả một thế hệ trong đó có Nam vừa thủ diễn vừa là chứng giả. Nam đã nói lên được tiếng lòng thầm kín cùng khát vọng chung của những người cầm súng. Nam là gạch nối giữa những người lính chiến và dân thành thị. Nhờ có tác phẩm của Phan Nhật Nam, dân thành phố ngụp lặn trong bình yên hưởng thụ mới giật mình biết đến và biết rõ mức độ thảm khốc của chiến tranh cùng sự hy sinh quá lớn của người lính. Điều rõ rệt nhất là Nam đã nói lên được cho nhân loại hiểu về cái chính nghĩa của cuộc đấu tranh để tự tồn. Rằng những người lính Việt Nam Cộng Hoà cầm súng và chiến đấu không phải vì bản năng hiếu sát hay yêu thích chiến tranh, mà là chiến đấu để tồn tại. Cho chủ nghĩa Quốc gia tồn tại và nền Tự do Dân chủ của miền Nam tồn tại.

Trong các thiên bút ký chiến trường, Phan Nhật Nam đã cực tả được độ cao cùng tột của chiến tranh tàn khốc, hiện thực được cả một trời đất mênh mang thống hận trong lòng người dân Việt trước cảnh tương tàn đẫm máu, đã vẽ ra một thiện thân sừng sững của người lính Nhảy dù chiến đấu hào hùng và chết rất hào hùng. Những đời trai trẻ quên bỏ hạnh phúc, tình yêu, tương lai, sự nghiệp cùng những vui riêng để bước vào chốn cùng hung cực hiểm, đầy rẫy gian lao khổ nhọc và bị vô ơn bạc đãi nhưng vẫn lầm lì chịu đựng và dũng cảm xông pha trận mạc, trực diện kẻ thù, đổ mồ hôi, xương máu lao thẳng vào đạn lửa, phóng mình vào nỗi chết cho giải đất miền Nam được tồn tại và người dân miền Nam được sống còn.

Phan Nhật Nam là một nhà văn có chân tài. Ngôn ngữ xử dụng trong văn chương Phan Nhật Nam là thứ ngôn ngữ hừng hực như lửa, mạnh mẽ như gió bão, vững chắc như thành đồng, tha thiết, nồng nàn, chứa chan nhân tính …

Tôi gặp Nam lần đầu do Thế Phong đưa lại chơi nhà Nam ở đường Trần Nhật Duật, Tân Định. Nhưng biết nhiều về Nam thì qua bạn cùng khoá với Nam là Võ Ý. Tôi nhớ lần đó Nam nói khoái tôi vì bài bút ký ” Dakseang Gối Mỏi Lưng Đồi ” tôi viết trên tuần báo Đời và ký tặng tôi cuốn ” Mùa Hè Đỏ Lửa ” với vỏn vẹn mấy chữ Tặng ông, bạn tôi làm Thế Phong cười ngất :

― Nó là nhà văn đang lên, sách bán có tiền nên hà tiện chữ nghĩa cho bạn bè !

Sau này tôi mới nói cho Nam biết cái thằng bay chiếc C&C cho tướng Hậu nửa đêm vào Tân Khai trong trận bão Mannie, giữa mưa đạn phòng không Việt cộng mà Nam nằm dưới đất nhìn thấy khi theo chiến đoàn trung tá Cần vào giải vây An Lộc rồi viết trong ” Mùa Hè Đỏ Lửa ” chính là tôi, Nam có vẻ thống khoái vì sự ngẫu nhiên ấy, cười khà khà và phán một câu:

― Thấy chiếc máy bay, tao thương quá. Những thằng Không quân chân hổng giữa trời, chết mà không biết thằng khốn nạn nào ” chơi ” mình thì ” lỗ ” quá! Thực tình tao ” rét ” mày ạ, chết dưới đất vững hơn … Ai ngờ lại là mày bay cho ông Hậu ! Hà hà ! … Mày rơi đêm đó là tao lại có tí đề tài ” viết cho một người nằm xuống ” !

Trong những ngày bôn ba chiến trận, thỉnh thoảng tôi có gặp Nam vác máy hình theo quân Dù đi làm phóng sự. Nhưng thường là những lúc tôi về Saigon cùng Nam và một vài bạn văn nghệ ghé La Pagode bù khú. Đó là những lần tôi có dịp thán phục khoa đấu láo của Nam. Cái giọng oang oang nửa Huế, nửa Quảng Nam, pha tí Bắc kỳ, một khi mở máy là nói liên miên đủ thứ đề tài … Có thể nói khoa tán phét của Nam vô địch ! Nam có khả năng nói thao thao hàng giờ không ngưng nghỉ và thật lôi cuốn, có duyên, ba hoa châm biếm bất cần thiên hạ.

Tôi nhớ nhất một lần đang đấu vung vít với chúng tôi, Nam bất chợt để ý thấy một cô gái ngồi uống nước một mình ở bàn bên cạnh. Cô gái mặc đồ đầm, có nét đẹp kiêu kỳ sang cả của một thứ kiều nữ con nhà giàu học trường đầm, châm hút điếu Salem. Thế là Nam kêu lên:

Tại hạ xin có ý kiến: Người đẹp mà hút Salem là không đúng sách vở !

Thế là Nam bỏ mặc câu chuyện dở dang với chúng tôi, kéo ghế qua bàn cô gái. Tôi không nhớ Nam hút thuốc gì nhưng cũng là một thứ thuốc lá đầu lọc và Nam bô bô quảng cáo cho hiệu thuốc của mình với những lời dẫn chứng theo sách vở, theo kinh nghiệm, theo thống kê, theo lời ” Khổng Tử xổm tọa chi viết ” , theo lời khuyên của bác sĩ này, nhà sản xuất nọ và Nam đem luôn chính trị, kinh tế, quân sự và cả truyện chưởng Kim Dung vào bài hát nói! Nam nói một cách trơn tru hữu lý. Trong cái hoạt kê quấy nhộn ấy, tôi thấy khẩu tài của Nam vượt xa miệng lưỡi dẻo kẹo của những anh giang hồ bán thuốc Sơn Đông. Những tay mãi võ láu cá vặt đó, hay những lời tuyên truyền của mấy cậu mợ cộng sản nhà quê không thể duyên dáng bay bướm trí thức như Nam được. Cô gái cuối cùng phải bỏ nét mặt lạnh lùng kênh kiệu, bật cười phì và nhận điếu thuốc Nam mời. Bài tán láo của Nam dài gần nửa tiếng đồng hồ và hai tay ăn tục nói phét có hạng trong mấy chúng tôi hôm đó là Thế Phong và Dương Hùng Cường cũng phải chào thua Nam.

Đó là một vài trong những kỷ niệm tôi có với Phan Nhật Nam. Tôi yêu và phục Nam không chỉ có văn tài và và khoa đấu hót. Nam thông minh, hiếu động, tính tình thẳng trực, ngang tàng khí phách, đôi khi hành động như một thứ ” cao bồi văn nghệ ” nhưng không nhố nhăng lố bịch. Cái ngông nghênh tự phụ của Nam, đối với tôi không có gì quá đáng. Tâm hồn Nam sâu sắc, nhiều tình cảm và rất tốt với bạn bè. Nam bị kẹt lại vì ngày 30-4 dắt vợ con vào nhà tướng Kỳ nhưng không thấy ông tướng râu kẽm, bèn chạy qua DAO. Trước cảnh chen lấn cùng ám ảnh một đảo Guam không hơn gì các trại đón dân tị nạn miền Trung, Nam chán nản đưa vợ con trở về. Cộng sản tiếp thu Saigon, Nam như con chuột mắc nạn trong bẫy xập, cuống cuồng sợ hãi vì tin cộng sản sẽ lùng giết. Phan Nhật Nam, đại úy Nhảy Dù, nhà văn chống cộng lẫy lừng tên tuổi, thành viên đối nghịch to mồm nhất trong Ủy ban Liên hợp Quân sự? phải là thành phần Ngụy số một ” có nợ máu với nhân dân ! ” Nam hơn ai hết, hiểu rõ bản chất đê tiện của cộng sản, biết rõ những gì đang chờ đợi mình và Nam tìm chỗ ẩn thân. Nam bỏ Saigon về Long Khánh làm rẫy trước khi cộng sản có chương trình lùa dân đi kinh tế mới. Nhưng Nam biết trước sau gì cũng không thể lẩn trốn được cái mạng lưới công an tinh vi cộng sản một khi chúng cố tình lùng kiếm và vì Phan Nhật Nam quá nổi. Ngày 22-6-75, Nam ra trình diện học tập và bị giam tại trại Long Giao. Chính tại đây, Nam đã viết trong bản tự khai, ” Trong đời tôi, tôi chỉ có một điều ân hận là có ông bố hành nghề cộng sản ! ”

Bố Nam theo kháng chiến từ năm Nam 7 tuổi, hiện là một nhân vật cao cấp trong Chính trị bộ Hà nội, tên Phan Văn Trình. Mẹ Nam là bà Ngô Thị Phương Dung, chết năm Nam 18, học trường Phan Chu Trinh, Đà nẵng. Nam sinh ngày 10-9-43 tại Huế nhưng lớn lên tại Quảng nam. Sinh viên Sĩ quan Võ bị Quốc gia Đà Lạt khoá 18, ra trường năm 1963, tình nguyện đi binh chủng Nhảy dù. Năm 1968 ra khỏi binh chủng và thời gian sau Hiệp định Paris, Phan Nhật Nam là thành viên VNCH trong Ủy ban Liên Hợp Quân Sự Bốn Bên cho đến ngày miền Nam rơi vào tay cộng sản.

Những năm tại ngũ, Phan Nhật Nam từng tham dự hầu hết các chiến trường sôi bỏng ở quốc nội (1963-1973). Từ những địa danh nổi tiếng như Khe Sanh, Cồn Tiên, đến những làng nhỏ ở Cửa Việt, Diễm Hà Trung, Diễm Hà Nam, cho đến nững hóc hiểm hoang vu ở cuối thung lũng sông Kim Sơn; từ tây vực quận Hoài Ân, Bình Định, tới làng Mã Tây, vv? nơi nào Nam cũng tới và đã tham chiến, chỉ trừ chiến dịch Hạ Lào. Quãng đời binh nghiệp bôn ba đã cho Phan Nhật Nam quá nhiều chất liệu phong phú để dựng thành tác phẩm. Khởi nghiệp viết văn từ 1969 và đã nổi tiếng với tác phẩm đầu tay ” Dấu Binh Lửa ” .Sau này văn tài Phan Nhật Nam chói sáng hơn với tập bút ký chiến trường ” Mùa Hè Đỏ Lửa ” nói đến cuộc chiến khốc liệt cùng tinh thần chiến đấu hào hùng tuyệt vời của người lính Việt Nam Cộng Hoà trong những trận đánh rúng động thế giới ở Quảng Trị, An Lộc … vào mùa hè binh biến 1972.

Ngoài những bài phóng sự, những truyện ngắn đăng rải rác trên các nhật báo, tuần báo, đặc san Saigon, Phan Nhật Nam chỉ trong 5 năm từ ngày khởi nghiệp, đã có một số lượng tác phẩm đáng kể xuất bản và tạo được tên tuổi, chỗ đứng riêng biệt trong làng văn : Dấu Binh Lửa ( Đại Ngã, 1969, Hiện Đại tái bản 1974 ) – Dọc Đường Số Một ( Đại Ngã, 1970 ) – Mùa Hè Đỏ Lửa ( Sáng Tạo, 1972, tái bản 2 lần, 1973, 1974 ) – Ải Trần Gian ( Đại Ngã, 1970 ) – Dựa Lưng Nỗi Chết ( Hiện Đại, 1973 ) – Tù Binh và Hoà Bình ( Hiện Đại, 1974 ).

Những tác phẩm Phan Nhật Nam dự định xuất bản nhưng không thực hiện được vì biến cố 30-4-75 gồm: ” Những Ngày Hè Cuối Cùng – Đá Nát Vàng Phai – và Mặt Trận Quảng Trị ” ( còn có tên Trên Giòng Đá Đổ Mồ Hôi ).

Chưa hết, Phan Nhật Nam hiện đang ở trong trại tù cộng sản nhưng vẫn còn cầm bút. Hơn cả Phùng Quán với ” Giấy bút tôi ai cướp giật đi, tôi vẫn dùng dao viết văn lên đá … ” Phùng Quán khi viết những câu thơ phẫn hận ấy, trên vai vẫn còn mang quân hàm của chế độ, không ở trong tù, vẫn còn phương tiện để mà viết và còn có được cơ hội phổ biến là tờ Nhân Văn Giai Phẩm.

Phan Nhật Nam bị đưa ra Bắc từ 22-6-76, qua những trại tù kinh khiếp nằm sâu trong rừng núi thượng du Bắc Việt nước độc giết người: Sơn La, Lai Châu, Tuyên Quang, Hoàng Liên Sơn và cuối cùng hiện ở trại tù số 5 Thanh Hoá thuộc hệ thống Trại Đầm Đùn, hay trại tù Lý Bá Sơ khủng khiếp bậc nhất trong hệ thống tù cộng sản. Nhưng Phan Nhật Nam vẫn viết. Viết trong những điều kiện trăm phần khốn cực hơn Phùng Quán. Viết lén lút phập phồng dưới nắng lửa, mưa dầm, trong tối tăm đói lạnh, vây quanh bởi những cặp mắt nham hiểm rình mò cú vọ của một bầy lang sói. Suốt năm năm tù tội đọa đầy, Nam đã dựng khung hai tác phẩm trường thiên ” Đá Nát Vàng Phai ” và ” Luyện Ngục Rực Lửa ” cùng những trang nhật ký gửi vợ con yêu dấu. Hai tập dàn bài Nam dấu cất đã bị khám phá và tịch thu. Nam bị chúng đánh đập, cùm xiềng, giam vào hầm đá biệt lập tối tăm lạnh buốt, chịu đựng đói khát cực khổ suốt ba mươi nhăm ngày đêm thảm nhục và cuối cùng Nam đã sống còn như một nhiệm mầu. Nam còn hơi thở nghĩa là còn nghị lực, còn vững vàng ý chí để phấn đấu, để tin yêu và hy vọng, không quên mình là một Hướng đạo sinh ” Vui Vẻ Trong Mọi Khó Khăn “, không quên mình là lính Nhảy Dù ” Cố Gắng ” , không quên mình là một chiến sĩ có thêm nặng trên vai thiên chức Nhà Văn! Nam thể hiện nỗi thảm thương khổ nạn của kiếp tù đầy nhục nhã của chính mình và chung của hàng trăm ngàn bạn bè chiến hữu đồng cảnh ngộ vào những trang nhật ký đầm đìa máu lệ gửi cho vợ con, như một tiếng kêu thương bi thiết gửi cho người thế giới bên ngoài.

Những trang nhật ký này, coi như tác phẩm mới nhất của nhà văn Phan Nhật Nam viết trong lao tù cộng sản và tôi đang có trong tay.

Do một người bạn cùng khoá với tôi và là bạn chung của tôi và Nam gửi cho, khoảng trung tuần tháng 10-80, với lời nhắn ” Nam nhờ tôi trao cho bạn, để làm cách nào vận động cứu Nam, nếu không nó chết.” Bạn tôi là Đại úy hoa tiêu Không lực, rất thân với Phan Nhật Nam, ra trình diện cùng ngày, chung chuyến tầu ra Bắc và đôi ba lần cách khoảng bị giam chung với Nam cùng một trại tù. May mắn cho Nam là Chử Quân Anh trước ngày được cộng sản phóng thích nhờ bao công lao tốn phí vận động của người vợ có quốc tịch Pháp, đã vì bạn, mưu mô lén dấu giúp Nam đem ra được tập nhật ký và mang qua Pháp an toàn. Quân Anh cho tôi biết Nam bị liệt vào thành phần tù chính trị ngoan cố và chúng đã dành sẵn cho Nam bản án tử hình. Nếu không, nhẹ nhất cũng khổ sai chung thân vì Phan Nhật Nam cương ngạnh vô phương cải tạo. Quân Anh còn cho tôi biết thêm rằng tình trạng sức khoẻ của Nam hiện tại rất là thê thảm. Cái thân hình vốn gầy gò mảnh khảnh của Nam ” bây giờ tiều tụy suy nhược, ông không thể nhận ra đâu …” Lao động quá sức và ăn đói, bệnh tật không thuốc men đã khiến Nam chân run không đứng vững. Đầu váng, mắt hoa, lúc nào cũng nghe tiếng ve u u trong óc. Phổi hư, răng mục nguyên hàm, tóc rụng từng mảng vì nhiều thứ bệnh tù: bệnh thiếu dinh dưỡng, bệnh ghẻ ngứa, bệnh tê thấp, bệnh đau dạ dày, bệnh trĩ nội xuất huyết hậu môn ngày hàng lít máu … Thế mà vẫn phải khổ dịch lao tác mỗi ngày. Phá rừng, xẻ núi, còng lưng đập đá, oằn người bấu những ngón chân bật máu đẩy từng xe đá hay kéo vần khối gỗ nặng trên cả sức người khoẻ mạnh vượt hai cây số đường đèo trơn trượt … Thế mà vẫn phải chỉ một buổi sáng cúi xuống, nhấc lên, khuân 670 tảng bùn nước nặng trung bình 10 kilô hay 6 tấn 7 cho một thân tù ốm yếu? Thế mà trời đông hàn vẫn phải trần truồng ngâm mình dưới dòng sông giá buốt đẩy từng bè củi, lội ngược con nước về trại cách xa 4 giờ đường bộ trong trong cái lạnh cắt da của 7 độ centigrade !

Tôi mềm nhũn cả lòng. Những dòng chữ nhỏ kín đầy hai mặt những trang giấy xé ra từ quyển vở học trò tồi tàn phẩm chất sản xuất từ cái gọi là xã hội chủ nghĩa miền Bắc đúng là nét chữ cứng cỏi thân quen của Phan Nhật Nam. Cái văn chương ngôn ngữ kết đọng thành khối đau thương thống hận vô cùng đó đúng là thứ văn chương ngôn ngữ chỉ một Phan Nhật Nam có được.

Định mệnh nào đã đưa Nam vào con đường khổ nạn đắng cay nhường ấy ? Định mệnh nào cay nghiệt đã khiến cha con Nam đối đầu chủ nghĩa, để rồi ngày trùng phùng trong nghịch cảnh, Nam chỉ biết u oán nhìn cha thinh lặng qua chấn song tù, nước mắt khổ đau tủi hận chan chứa tuôn rơi ?… Ba mươi năm đi làm cách mạng để đổi lấy một ngày ” chiến thắng ” trở về thấy cảnh gia đình ly tán. Để thấy đứa con trai tù tội. Để chứng kiến cái chết u uất của đứa con gái. Em gái Nam có chồng học tập, tuyệt vọng hủy đời xuân sắc trước cặp mắt ngỡ ngàng đau đớn của người cha cộng sản .

Còn Nam, Phan Nhật Nam đã như một anh hùng ngã ngựa, hiên ngang bước vào lò luyện ngục với nụ cười khinh mạn. Hiên ngang nhận chịu những ngón đòn thù đê tiện và cực cùng độc ác. Để chứng tỏ đởm lược của một chiến sĩ Nhảy dù, chứng tỏ hào khí của người lính quốc gia, chứng tỏ phong thái bất khuất của một nhà văn hữu hạng miền Nam, Nam đã chối bỏ những lời dụ hoặc để làm tờ khai tự thú theo ý muốn cộng sản, chối bỏ đặc ân từ ảnh hưởng chức vụ người cha và bởi thế, vợ Nam mới bị ngăn cấm liên lạc với chồng. Những lá thư gửi vào trại tù, vợ Nam phải dùng tên khác, gửi cho người khác nhờ chuyển đến Nam lén lút. Và bởi thế, bố Nam không thể làm gì cưỡng chống mệnh lệnh đảng can thiệp cho Nam. Trong suốt 5 năm tù tội, Nam chỉ được vợ con thăm nuôi một lần duy nhất, nhưng không phải là một cuộc thăm tù chính thức. Vợ Nam phải chạy vàng hối lộ cho bọn công an bộ đội để có giấy tờ mạo danh, dắt hai con thơ lặn lội đường trường ra Bắc thăm chồng.

Đó là lần gặp gỡ ngắn ngủi, cực cùng chua xót và cảm động vào tháng 5-79 mà Nam đã viết trong trang đầu nhật ký. Những dòng máu lệ đầm đìa thương tủi ấy, tôi đọc mà rúng động. Tôi nhìn thấy cảnh tủi mừng đau đớn của cuộc trùng phùng thực hư ảo mộng giữa cha con chồng vợ trên bờ đê lộng gió. Tôi thấy những giọt nước mắt thảm sầu thánh thót rơi trên những gương mặt khổ đau thống hận. Và nghe, và cảm nhận được tất cả nỗi u oán uất nghẹn không thốt thành lời trên những đôi môi khô héo, trong những tia nhìn chĩu nặng tủi hờn. Thật tội thương Nam. Thật hết sức đáng yêu và vô vàn cảm phục. Quân Anh nói với tôi nhiều chuyện về Nam và khẳng định một điều rằng trong tù Nam sống không hèn. Tôi biết Phan Nhật Nam vững vàng bản ngã, đầy ắp tình người, tình yêu thương đồng loại. Cao cả biết bao nhiêu khi nghe Nam nói đến cái chết của đứa bé gái con ” em Lợi ” . Nói đến những người tù nữ, đến những đứa trẻ tuổi măng thơ sinh ra và lớn lên trong đói khổ trại tù, lây lất, bơ vơ … ” Những đứa bé da nhăn như người già vì thiếu dinh dưỡng ” !

Đọc những dòng diễn tả trong nhật ký, tôi nhận ra Nam vẫn nguyên tròn bản chất. Một Phan Nhật Nam vui tếu tàng tàng. Một Phan Nhật Nam người hùng Mũ đỏ. Một Phan Nhật Nam trọng danh dự và nhất ngôn. Cái tinh thần Hướng đạo Nam hằng ôm giữ, cái châm ngôn ” Vui Vẻ ” chỉ nam cho đời sống, Nam đã tận tụy thi hành ngay cả trong những giây phút Nam đang ” Dựa Lưng Nỗi Chết ” ! Tôi đã mỉm cười trong nước mắt ngậm ngùi … Thân xác Nam rũ liệt nhưng tinh thần Nam còn vững thẳng với bao gắng gượng, dưỡng nuôi nghị lực để sống còn cho hy vọng mãnh liệt có một ngày về mà Nam gọi đó là sự ” Phục Sinh Mầu Nhiệm “, bằng vào niềm tin nơi Thiên chúa, bằng vào tình yêu vợ thương con quá mạnh. Tôi bồi hồi cảm động khi thấy Nam viết say sưa về cái mộng ra tù cầm bút viết văn trở lại, kiêu hãnh, nồng nàn khoe với vợ con về tập bản thảo của hai cuốn trường thiên viết trong tù ngục? Lại còn cái ước ao có được chiếc khẩu cầm để thổi te te trước giờ lên võng mỗi đêm. Lại còn đỏm đáng chuốt trau nhân dáng, dù cho tàn tạ cũng là nét tàn tạ rất ” hùng ” của một Sĩ quan Cộng Hoà xuất thân Võ Bị, hỏi xin cái nón rộng vành che nắng lửa trời hè lao động nhưng nhất định không phải là thứ nón tai bèo của mấy chú Vi-Xi ! … Thật tội thương Nam, dù trong khổ nạn vẫn cố đem vui sống cho đời, dù trong đầy đọa cũng không đánh rơi nhân phẩm và chịu đồng hoá với bầy ác thú.

Tháng 3-80, vợ con Nam đã vượt biên bằng đường bộ tới Thái Lan và đến nay khi tôi viết những dòng chữ này (tháng 2-81), ba mẹ con vẫn long đong cơ cực sống trong trại tị nạn Sikew. Phải hiểu một khi quyết định rời bỏ miền đất quê hương chẳng biết dung người ấy, chị Nam đau đớn thế nào và Nam ngẩn ngơ rúng động thế nào khi biết vợ con mình từ nay đã xa cách nghìn trùng, để lại bên trời khổ nhục mình Nam với nỗi cô đơn trầm thống. Phải mất một thời gian dò tìm liên lạc, tôi mới có địa chỉ viết thư xin ý kiến chị Phan Nhật Nam về việc phổ biến tập nhật ký. Bởi vì dầu sao những trang nhật ký này Nam viết riêng cho vợ con và là báu vật thiêng liêng chỉ riêng vợ con Nam có quyền tư hữu. Hơn thế nữa, việc công bố nhật ký làm sao tôi dám tự chuyên vì ảnh hưởng rất lớn tới nỗi an nguy của Nam. Tôi nghĩ tới trường hợp nhà văn Doãn Quốc Sĩ cùng những lời hy vọng của Nam đã viết và ủy thác Chử Quân Anh trao tập nhật ký cho tôi, việc trước tiên tôi có thể làm được là liên lạc với anh Trần Tam Tiệp, tổng thư ký Văn Bút Việt nam Hải ngoại nhờ vận động với Văn Bút Quốc Tế cùng các cơ quan quyền lực quốc tế can thiệp cho Nam được tự do.

Anh Trần Tam Tiệp đã sốt sắng lo liệu. Phan Nhật Nam có tên trong danh sách tù nhân văn nghệ sĩ được hội Văn Bút Quốc tế trực tiếp can thiệp. Hơn thế nữa, Phan Nhật Nam còn được ghi tên dự một giải văn chương quốc tế với tác phẩm là tập nhật ký này. Ủy ban Ân Xá Quốc Tế cũng lấy tên và địa chỉ trại tù để gửi quà tặng cho Nam. Tôi báo tin và chị Nam viết trả lời, ” Nếu anh thấy việc công bố nhật ký của Nam nhất thiết phải làm thì anh cứ tùy tiện. Cũng như anh, tôi hơi lo không biết việc ấy có lợi hay hại cho Nam song đành vậy. Tôi rất mừng khi biết Pen Club gửi quà tặng cho Nam. Những món quà của Pen Club có một giá trị tinh thần đáng kể. Nam sẽ phấn khởi và hy vọng hơn khi biết có sự chú ý của bên ngoài đối với mình. Nghị lực cũng giống như vốn liếng, để không ăn dần cũng suy mòn hao hụt đi, rất cần sự tiếp sức … ”

Tôi chỉ chụp một trang nhật ký của Nam gửi cho chị đọc. Chị đau đớn viết cho tôi, ” Những ngày trong trại tị nạn này cũng là những ngày tôi cảm thấy gần gũi Nam nhất trong suốt mấy năm nay. Có cái hạn chế của thực phẩm để cảm thông một phần nào cái đói. Có se da vì chăn Hồng Thập Tự phát quá ngắn không chùm kín đầu để cảm được cái lạnh của người đốn cây xẻ đá giữa buốt giá của mùa đông miền Bắc … Tôi biết Nam là người yêu đời sống rất mãnh liệt, thế mà Nam đã ai oán kêu lên Thà rằng ta chết cho xong! thì đủ biết Nam bi phẫn tuyệt vọng đến nhường nào. Lòng tôi tan nát …”

Tôi không thể chờ đợi lâu hơn để hoàn tất việc chuyển dịch tập nhật ký sang Anh ngữ phổ biến đồng loạt cùng bản văn Việt ngữ. Công việc này quả thực quá khả năng tôi vì văn chương ngôn ngữ Phan Nhật Nam vô cùng khó dịch, dù tôi có bỏ ra hàng ngàn giờ và dốc toàn vốn liếng cũng không thể chuyển ra ngoại ngữ trung thực và trọn vẹn mức độ bi thương thảm thiết chứa trong từng lời, từng chữ mà Nam đã viết bằng máu lệ đời mình. Tôi không thể để lâu hơn. Vì Nam đang quằn quại mỏi mòn ngóng đợi từng ngày, từng giờ. Vì những điều Quân Anh kể về tình trạng sức khoẻ của Nam và lời nhắn ” làm thế nào vận động cứu Nam, không nó chết ” ám ảnh tôi lo lắng bồn chồn.

Tôi xin gửi đến các báo chí Việt ngữ trên toàn thế giới, kính nhờ quý vị phổ biến rộng rãi trong mọi giới đồng bào tị nạn. Xin gửi đến các hội đoàn quốc gia tranh đấu chống cộng sản và tranh đấu cho nhân quyền. Gửi chung những bằng hữu thân biết Phan Nhật Nam, các nhà văn, nhà báo, các chiến hữu của Nam? với lời khẩn thiết kính xin quý vị tiếp tay phổ biến tài liệu này và vận dụng mọi phương tiện tranh đấu buộc cộng sản trả tự do cho nhà văn Phan Nhật Nam. Tiếng kêu thương của Phan Nhật Nam cũng là tiếng kêu thương đứt ruột của hàng trăm ngàn người Việt Nam của chế độ Tự do đang bị cộng sản giết dần mòn trong các trại tù cải tạo.

Tập nhật ký này nếu được các vị dịch giả thừa khả năng ngoại ngữ dịch ra Anh văn và Pháp văn, phổ biến cho nhân loại toàn cầu biết đến cái thảm trạng kinh hoàng của hệ thống lao tù cộng sản, phải là một công trình văn hoá lớn lao, không riêng gì Phan Nhật Nam cùng vợ con mang ơn quý vị, mà tất cả những người chống cộng trên thế giới đều biết ơn.

Đào Vũ Anh Hùng

CÒN MỘT CHỖ TRỐNG

Người đi
Biền biệt khói mây
Bằng lăng từ ấy 
Rụng đầy ngày xưa

Chiều rơi
Nhuộm tím đón đưa
Bến sông
Hoa rụng cho vừa tương tư.

Tóc phai trải rộng giấc mơ
Lỡ nghiêng gối …
Lạnh một bờ môi xa

Giấu niềm đau
Giữa thiết tha
Phiến buồn năm tháng
Nhạt nhòa lòng nhau.

HOÀNG CHẨM

Dẫu Một Đời Phiêu Bạt

gởi bạn bè dưới mái trường Trung học

tôi đã về đây. Đừng làm mặt lạ.
giữa ngã tư đường Y Yút-Quang Trung
mắt lơ láo nhìn người qua kẻ lại
lòng nôn nao chờ mãi tiếng reo mừng

chả mấy lúc ghé về thăm chốn cũ
kể từ khi rời bỏ mái trường quen
gởi lại sau lưng mưa bùn nắng bụi
và tháng năm, phải nói, rất êm đềm

những người bạn một thời chia kỷ niệm
nay vào đời chia dâu bể nhiễu nhương
chim vỗ cánh lạc phương trời xa biệt
suối ra sông đau nỗi nhớ cội nguồn

giữa phố đông mình tôi đứng lặng thầm
tội nghiệp quá nỗi lòng người trở lại !
đường xa ngái dõi tìm về cố quận
ôm nỗi sầu ngơ ngẩn ngó trời mây !

Banmêthuột của một thời, mất dấu
lạ trong tôi từ mỗi ngã tư đường
bạn bè hỡi, dẫu một đời phiêu bạt
trời quê xưa vẫn đợi người viễn phương…

tôi đứng đây, gió ngược về trường cũ
mây đuổi nhau lạc hướng Thác Nhà Đèn
tay che nắng, mắt nheo nhìn cho rõ
nào thấy ai, chỉ thấy, mỗi-mình-tôi !…

Trần Huy Sao

TÔI LẠI GẶP NHỮNG TRIỀN HOA DẠI

 

Tôi lại gặp những triền hoa hoang dã
Nở trong ta như con chữ vô tình
Hoa không thể đo lòng người khôn dại
Chỉ sắc màu làm vọng động u minh

Sau nụ ấy chẳng còn chi dâu bể
Sau làn hương là đêm ngát tình nhân
Hoa gió sương quên tiểu nhơn quân tử
Đường trăm năm đôi chân vấp bao lần

Ngôi nhà cũ bậc thềm xưa cũng cũ
Chỉ bước quen người như nắng qua đèo*
Gió vô tâm nhắc hoài bài ca lá
Rụng trong chiều thanh âm rỏ đìu hiu

Người ký thác với hồn cây tình cỏ
Ngôi nhà xưa đã rệu rã trăm phần
Nếu thương mến chút tình xanh nồng ấm
Hãy về nghe khúc lá ăn năn.

BÙI DIỆP

KỂ LẠI MỘT CHUYỆN TÌNH HỒI ĐÓ

 

Ngày xưa có hai đứa bé sống ở ven sông
Thường ra ngồi nhìn lục bình trôi trên mặt nước
Con bé muốn thằng nhóc vớt cho bằng được…
Những đám lục bình tim tím để làm vòng hoa

Thằng nhóc dại khờ kết vương miện cô dâu
Đâu biết hoa sẽ tàn sau khi rời thân nước
Con bé dỗi hờn
Dậm chân muốn khóc
Rồi vứt vòng hoa trả lại dòng sông

Thời gian trôi.
Hai đứa cùng lớn khôn
Người con trai lên đường.
Quê hương sa vào tay gìặc
Cô gái mỗi chiều nhìn theo con nước
Dõi mắt trông tìm vòng hoa tím
Ngày xưa
Cho dẫu cuộc đời chỉ là giấc nam kha
Nhưng cũng đủ đã tím trôi từ đó

Năm 2000. Khi lái xe băng qua xa lộ
Gã đàn ông giật mình khi bắt gặp màu hoa xưa
Gã tấp vào lề, lội xuống nước vớt được vòng hoa
Ứa nước mắt nhìn về phương trời xa
Lặng lẽ …

Người cảnh sát không cùng màu da hú còi ngừng lại
Rất thản nhiên phạt gã một ticket màu vàng
(cái tội cản trở lưu thông)…

Quan Dương