NỢ NGƯỜI….. NAM PHƯƠNG!

           “ Hòa bình ơi! Hòa bình ơi! Bao giờ mi mới trở lại cho thôn quê miền Nam lấy lại vẻ mặt vui tươi, niềm nở của một dân tộc hiền hòa, hiếu khách; coi tiền tài như phấn thổ, nhơn nghĩa tự thiên kim! Miền thôn quê yêu dấu, trãi qua bao cơn biến đổi tang thương vẫn gìn giữ nguyên vẹn kho tàng đạo nghĩa của một dân tộc hết sức hiền lành; nhưng có một tinh thần thượng võ, ý chí  bất khuất , bền gan chiến đấu làm kinh tâm cả Thế giới”

  Gò Công_ Xưa và nay  ( Huỳnh  Minh)/1968                                                                                           

 

Tôi về Gò Công vào những ngày đầu mùa mưa. Tháng năm mang đến những cơn mưa chiều nặng hạt và cả Sài Gòn như thể được gột rửa_ sáng láng và tươi tỉnh hơn trong việc sửa soạn cho một ngày lao lực thường nhật. Tầm khoảng 7h 30 sáng, Quốc lộ 50 cắt ngang đại lộ Nguyễn văn Linh đông nghẹt những người. Con đường hẹp, không tốt cho lắm. Sự chen chúc làm bắn lên những mảng nước bẩn đọng lại từ các ổ gà. Những biển quảng cáo, quán hàng hai bên đường náo động.  Những màu sắc hỗn mang. Tiếng càu nhàu , chửi đổng xen lẫn tiếng động cơ xe máy, xe hơi.. …Dù  đã suy hao một phần áp lực từ trận mưa đêm hôm trước, Sài Gòn vẫn với những đặc trưng của nó tham lam lấn mãi ra tận vùng ngoại vi trong một sự cưỡng chế ưu thắng . Trong tầm mắt  tôi, không gian bên thất thủ cứ lùi dần, lùi dần…. xa ngút phía sau dòng xe cộ nườm nượp chuyển động. Tự dưng con người cảm thấy ngợp và mong mỏi một khoảng khí trời. …

Theo quốc lộ 50, qua cầu Ông Thìn bắc ngang sông Cần Giuộc đi thêm một đoạn nữa bước qua địa giới  tỉnh Long An.  Nằm nép bên trái dãy nhà quản lý khu công nghiệp Tân Kim,  là di tích lịch sử Đình Chánh , Tân Kim. Nơi đây có mộ và điền thờ Tiền hiền Mai Văn Giã, thủy tổ mai tộc xã Tân kim. Ông nguyên quán ở thôn An Quới, huyện Phù Ly, Phủ Quy Nhơn ( nay là xã An Quới, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định) . Cuối thế kỷ  XVII, ông theo dòng người Nam tiến từ miền Trung vào khai khẩn đất hoang tại khu vực ngã ba Rạch Cát Hạ ( nay là ấp Tân Phước, xã Tân Kim, huyện Cần Giuộc). Từ đó, lưu dân quy tụ ngày một đông, ra công khai khẩn biến rừng hoang thành ruộng đồng trù phú như ngày  nay. Đình được thành lập vào năm 1860 để thờ ông  và được phục dựng vào năm 2002.

Từ Bình Định vào đây khai phá

Bao gian lao vất vả chi sờn

Tân Kim là đất dừng chơn

Đời đời con cháu ghi ơn kính thờ

 

Tôi có hỏi ông Từ giữ đền về tính nguyên trạng của di tích, thì ông bảo vẫn còn y như cũ, chỉ mới xây thêm phần phía sau điện thờ. Nhưng thoáng nhìn quanh , tôi có cảm nhận có cái gì đó không được ổn . Có thể là do sự áy náy  về một định dạng quá tân thời đang tạo áp lực cho  một khối thời gian đang cần bảo tồn một cách nguyên bản, tối thiểu hóa sự xáo trộn ….và ở đây, sự phục dựng không chuyên nghiệp đã lấy đi phần hồn của một nguyên tác  đã thách thức thời gian đến gần hai thế kỷ, sau bao biến cố.

 

 

Di tích đình chánh Tân Kim _ Tân Kim/Long an ( Ảnh tác giá)

      Huyện Cần Giuộc còn hai di tích đáng lưu ý  nữa là công viên Nguyễn Thái Bình và tượng đài Nghĩa sĩ Cần Giuộc. Công viên tượng đài liệt sĩ Nguyễn Thái Bình tọa lạc tại ngã ba giữa quốc lộ 50 và đường tránh trị trấn Trí Yên. Công viên có quy mô không lớn nhưng kiến trúc khá đẹp. Nền được lát đá hoa sạch sẽ, phía trên có tượng đài người sinh viên trẻ tay cầm sách, đứng vươn trên đám lá dừa nước, mặt hướng về phía Bắc, phía thành phố. Nguyễn Thái Bình sinh ngày 14-01-1948,  tại xã Trường Bình, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long an. Ông là sinh viên du học tại trường cao đẳng Fresno ( California), tham gia phong trào sinh viên phản đối cuộc chiến của Hoa Kỳ tại Việt Nam. Ông bị bắn ngày 02/07/1972,  trên chiếc  Boeing 747 của hãng Pan America, tại phi trường  Tân Sơn Nhất, với  việc khống chế tổ lái_  đòi đáp máy bay xuống sân bay Hà Nội.

Nằm ngay giữa trung tâm hành chánh của thị trấn, Tượng đài nghĩa sĩ Cần Giuộc bằng đá hoa cương mô tả một nhóm người nông dân tay nắm những thứ vũ khí thô sơ như liềm, phảng….trong tư thế xốc tới mạnh mẽ. Hình ảnh gợi lại cuộc tập kích ngày 16/02/1861 của nông dân Cần Giuộc  dưới sự chỉ huy của Thống binh Bùi Quang Là và Bình Tây Đại nguyên soái Trương Định vào một đồn lính Pháp. Cuộc tập kích bất thành, do quân Pháp được viên trợ kịp thời. Nghĩa quân rút lui để bảo toàn lực lượng và bị thiệt hại khoảng vài trăm người  . Sự hy sinh kể trên tạo cảm hứng cho nhà nho yêu nước Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) viết nên bài văn Tế bi hùng, được xem như một trong những áng văn chương tiêu biểu cho phong trào chống Pháp nhân dân Nam bộ vào những ngày đầu tiên nước Việt ghánh chịu thảm họa xâm lăng. Trong góc nhìn hiện đại hơn , bài văn Văn Tế Nghĩa dân chết trận Cần Giuộc (1861) đã nêu lên nguyên nhân sâu xa của một cuộc chiến được nhen nhúm, âm ỉ lắm lúc tưởng chừng đã tắt và rồi bùng lên, kéo dài trong suốt 117 năm ( 1858-1975) ở miệt Nam bộ.

Cũng là dân chú trọng lịch sử, một lần trong buổi tham quan khu bảo tàng chứng tích chiến tranh ( War Remnants Museum), tôi có làm quen với một du khách Úc ( Australia) đứng tuổi. Tôi có hỏi ông ta về nghĩ sao về nguồn gốc của cuộc chiến mà đất nước ông ta đã từng gửi quân tham gia, với tư cách là một đồng minh. Sau bốn mươi năm ngày im tiếng súng, ông ta trả lời rất ngắn gọn “_ Mọi thứ bắt đầu từ người Pháp”. Tôi nói “ Ông đúng!”…..

Trở lại với bài văn Tế của Nguyễn đình Chiểu

“   … Nhớ linh xưa

Côi cút làm ăn

Riêng lo nghèo khổ

Chưa quen cung ngựa, đưa tới trường nhung

Chỉ biết ruộng trâu ở theo làng hộ;

……

Vốn chẳng phải quân cơ, quân vệ, ở dòng lính diễn binh;

Chẳng qua là dân ấp, dân làng, mến nghĩa làm quân chiêu mộ

……..

Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân

Cây hương nghĩa sĩ thắp nên thơm, cám bởi một câu vương thổ….”

….

Tôi mất một thời gian khá lâu, đứng trước ngân hàng Vietcombank, ngóng qua tượng đài  nhưng người nông dân chân đất với lòng ngùi ngùi.

***

Quốc lộ 50 được biết như ngày xưa, chỉ là tỉnh lộ lót đá dăm và khá hẹp, nhưng là con đường huyết mạch từ Gia Định đi về Gò Công, Chợ Gạo, Mỹ Tho, Bến Tre … Thời thực dân và trước nữa, nó đã hiện diện nhưng với quy mô nhỏ và sơ sài hơn. Cái tên phổ thông là đường ngựa trạm bắt nguồn từ việc chuyển công văn, thư từ …từ những nơi trú đóng xa xôi của những đồn binh địa phương tới các thành lũy trung ương thời Chúa Nguyễn . Những trạm dừng chân, thay ngựa cho những người phu trạm  được rãi dọc theo con đường  và  địa danh Chợ Trạm còn được gọi ở hiện tại , cũng nhắc cho ta về một thời xưa cũ vang bóng.  Từ Ngã tư đến cầu chợ Trạm, Cần Đước ,Long An là quãng đường khoảng  nửa cây số nhà cửa san sát, chợ búa tấp nập. Đủ loại hải sản vùng sông nước như cá lóc, cá tra, cá rô. Trái cây cũng góp phần tô thêm sắc màu cho khu chợ quê sặc sỡ hẳn lên. Màu vàng của đu đủ, chuối, khóm. Mùi thơm của mít, sầu riêng đa dạng hóa khứu giác. Những tủ kính trưng bày những chiếc điện thoại bằng bàn tay đủ màu sắc, sáng ánh kền đủ các hãng Sam sung, Oppo, Apple, Philips…như sự mỉa mai của thời đại, quấy rối suy nghĩ của tôi về hình ảnh của những người lính trạm trú đóng nơi này cách đây đã vài thế kỷ. Với một khí cụ thông tin be bé như vậy, ngày nay người ta có thể bắt liên lạc được với cả Hà Nội, Sài gòn hoặc một thành phố nào đó trên thế giới Paris, New York, Moscow….Không gian dường như không là vấn đề. Nhưng bất khả thi là vấn đề thời gian. Khoa học bị chặn lại….. Óc tưởng tượng, kiến thức, những chùm rễ liên kết manh động được phát huy. Thực ra trong khung ảnh hiện tại, cũng khó mà hình dung khuôn hình nhòa nhạt của những người lính thú ngày xưa và cuộc sống sinh hoạt chắc cũng khá hẩm hiu của họ , dù trong một khoảng khắc ngắn ngủi.  Những câu thơ tôi thuộc nằm lòng, lúc đi học, còn văng vẳng bên tai

Ngang lưng thì thắt bao vàng
Đầu đội nón dấu , vai mang súng dài
Một tay thì cắp hỏa mai
Một tay cắp giáo, quan sai xuống thuyền
Thùng thùng trống đánh ngũ liên
Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa

Và…..Thời gian qua lâu lắm rồi, người lính thú ơi!

Qua cầu, tôi có gặp một ông lão tóc bạc, đang gò lưng trên chiếc xe đạp: _ Đường này về Gò Công hả Bác?

_ Ừ thẳng đường, tới một ngã Ba rẽ trái. Hỏi người ta là biết!. Ông trả lời. Không hiểu ở lứa tuổi đó, sao giọng người còn trong và êm như ca một câu vọng cổ.

***

Gò Công theo tiếng Khmer Aih Amrak ( Con công), nơi này nguyên sơ là vùng đồi núi có nhiều chim công ( Wikipedia). Phía đông giáp huyện Gò công Đông. Phía Tây giáp huyện Gò công Tây. Phía Nam giáp hai huyện này. Bắc giáp Long An.  Thị xã có diện tích vào khoảng 102.358 km2. Dân số: 107.600 người. Một thị xã nhỏ , dân số khá khiêm tốn, nhưng lại có một bề dày lịch sử đáng nể và những danh nhân Việt đứng song hành tiêu biểu cho từng thời kỳ, làm mảnh đất này chừng như không phai mờ được trong dòng lịch sử cận đại đến tận gần đây. Khởi nguồn từ những lưu dân từ vùng Thuận Hóa, Quãng Ngãi theo cuộc nam tiến của Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh ( 1650-1700) vào khai khẩn đất đai, cộng với một số người Hoa tị nạn trong phong trào “Bài Thanh, Phục Minh” ( thế kỷ 17) sống một cách rãi rác. Đến năm 1862, Gò Công đã có những công trình xây cất vững chắc và sự quy hoạch đô thị sơ khởi. Là một trong những vùng đất bị người Pháp xâm chiếm đầu tiên và áp đặt quyền cai trị. Hiện tại thị xã còn lưu giữ rất nhiều công trình kiến trúc thời phong kiến và Thuộc Pháp rất độc đáo.  Bên cạnh đó Gò Công còn là tâm điểm cho những tấm gương quật khởi Võ Tánh, Trương  Định….., những văn thi nhân, nghệ sĩ tài hoa của đất nước : Hồ Biểu Chánh, , Hoàng Phương…., những người phụ nữ tài sắc, thuần hậu với một tâm hồn Việt như Thái hậu Từ Dũ, Nam Phương ….

 

Tôi đứng trước cửa ngõ vào Gò Công_ Sông Vàm Cỏ.  Sông Vàm cỏ_ tài liệu của Pháp gọi là Vaico. Vaico bắt nguồn từ tiếng Khmer ”Piăm Vaico” nghĩa là Vàm (Pi ăm) ,đánh/lùa ( Vai); bò (co). Điều này cho thấy sông Vàm cỏ Đông và Vàm cỏ Tây chính là con đường lùa bò ngày xưa của người Khmer. Sông Vàm Cỏ là ranh giới tự nhiên giữa hai tỉnh Tiền Giang và Long An. Sông chảy theo hình W, dài khoảng 35,5 cây số có đến ba tên gọi. Đoạn Vàm cỏ Đông hợp nhất với Vàm cỏ Tây cho đến khúc sông Tra, được gọi là sông Hương Xá. Đoạn chảy qua khúc phà Mỹ Lợi hay cầu Mỹ Lợi ngày nay, gọi sông Vàm Cỏ. Phía hạ lưu đổ ra sông Soài Rạp chảy ra biển, ngược lên , còn được gọi là Vàm Bao Ngược. Dân sông nước Nam Bộ thường nói _ Thứ nhất Vàm Nao , thứ nhì Bao Ngược , để nói lên tính thất thường và  nguy hiểm của đoạn sông này. Do Vàm là danh  từ dùng để chỉ nơi những nhánh sông hợp nhất lại thành một nên dòng chảy  thường xiết, nước xoáy và sâu. Ngày thường đã thế, khi thời tiết trở trời sóng to, gió cả trở thành mối đe dọa tiềm tàng cho những phương tiện đường thủy, nhất là những phương tiện thô sơ ngày trước nhe ghe bầu, xuồng , xáng….

      Cầu Mỹ Lợi Km 33+650, vừa mới hoàn thành  và đưa vào sử dụng vào năm 2015.  Cầu  có chiều dài toàn tuyến khoảng 2.691 met, phần cầu chính 1.422 met ( nguồn Wiki), nối liền Gò Công với  Cần Đước trên quốc lộ 50. Chiếc cầu rút ngắn khoảng cách từ Sài Gòn đi Gò Công ( trước kia phải đi phà), là cái gạch nối quan trọng cho thị xã không chỉ trên lĩnh vực giao thông, mà còn ở nhiều mặt khác như kinh tế, văn hóa, du lịch …với Sài Gòn và các tỉnh thành phía Bắc. Trong nhận định khách quan , có thể nói tương lai của vùng đất trước mặt phụ thuộc rất nhiều ở chiếc cầu này.

Tôi đứng trên cầu Mỹ Lợi ngó xuống Bến phà cũ ngày xưa. Con sông Vàm Cỏ mênh mang với mặt nước đùng đục màu phù sa. Những con tàu kéo và xà lan như những chấm nhỏ  ì ạch rẽ nước, để lại phía sau những hai làn sóng dài, thật lâu mới tan. Những đám lục bình gấp gáp trong con nước với sự vô định.  Hướng lên thượng lưu, ngút tầm mắt một viền xanh lờ mờ của cây cối chạy dài như sự chuyển động tiệm tiến của bầu trời trời xuống mặt đất.  Trước mặt, chếch phía Gò Công một bình nguyên  với thảm thực vật xanh ngắt mở ra, tít tắp phía xa có thể nhìn thấy dăm ngọn núi ẩn hiện  bên Vũng Tàu.. Nghe bảo ngày trước, tất cả các phương tiện giao thông đều phải phụ thuộc vào Bắc Mỹ Lợi, gây khá nhiều trở ngại , tốn thời gian và  nhiều nguy hiểm…..

Qua dốc cầu, tôi vẫn còn loang quanh với suy nghĩ . Rồi đây những thế hệ sau chắc sẽ không còn nghe câu hò thảm của những  góa phụ ven sông, trong ánh chiều nhập nhoạng.

Anh đi ghe gạo Gò Công
Về qua Bao Ngược bị dông rách buồm
Thuyền anh cao nhưng sóng cả nhận chìm
Em trông sông bao nhiêu khúc, nỗi niềm ruột đau…

`Vàm bao ngược_ Mỹ lợi/ Gò Công ( Ảnh tác giả)

 

***

Trên con đường đến cầu Sơn Quy để vào Gò Công, tôi có đi qua làng làm tủ thờ Gò Công. Hai bên đường là những gian trưng bày những chiếc tủ thờ được chạm trổ rất công phu và tinh tế.

Tủ thờ Gò Công, xa lông Sông Bé

Chắc ai ai miệt Nam bộ này cũng đều biết tiếng……Bụng định ghé vào tham quan, nhưng thấy đường còn dài, lại thôi. Hẹn một cơ hội khác.

Chợ  Tân Trung là ngôi chợ nhỏ nép bên quốc lộ 50.  Cô gái khoảng hai mấy, đon đả chào: “_ Bánh Tét chuối Gò Công đi anh. Bánh mới nấu hồi sáng ngon lắm!” . Bụng đã đói, nhưng tôi giả tảng _” Có bánh giá thì mua, không ăn bánh tét đâu!” . Một chị sồn sồn  bán trái cây bên cạnh , vọng qua “_  Bánh giá tuốt trên Hòa Đồng chớ dưới này đâu có. Mà bánh tét cũng ngon lắm!” Tôi thêm _” Bánh giá có ca dao, bánh tét đâu có ca dao”  Người đàn bà ngẩn ra, rồi như chợt nhớ  “ _ Có…có chớ….tối nay nó về  nó làm….Mua cho nó mấy đòn đi anh”.  Hai người đàn bà quay người lại, cười ngất. Tôi cũng không nhịn được cười. Phải công nhận dân xứ Gò cũng khá hài hước và có duyên. Tôi mua hai đòn, treo lung lẳng ở đầu xe.

Bánh tét khá ngon, đáng đồng tiền. Nếp déo, mềm không pha gạo lợn cợn, cũng không dính nháp vào chân răng. Nhân quả chuối đỏ thẩm, tạo nên một sắc tương phản trên nền xanh lá  khá đẹp. Nhân ngọt đậm, lớp thịt bánh láng lẫy, chút vị mằn mặn thoang thoáng. Chỉ như hơi gió biển….trên đầu lưỡi….

Lăng Hoàng Gia nằm trong một con đường nhỏ cùng tên, nếu không để ý, dễ chạy luộc qua. Tôi cũng vậy. Phải lộn trở lại sau khi hỏi thăm đường. Lăng nằm sâu trong con hẻm, cách lộ khoảng 50m. Từ bên ngoài nhìn vào, cũng khó đoán được quy mô của nó nhưng bước vào trong mới nhận thấy khá rộng. Lăng được xây trên một địa thế cao ráo, được gọi là Giồng Sơn qui ( có nghĩa gò đất hình mai rùa). Một hồ cá bên trái , có lầu bát giác thưởng ngoạn. Mặt nước trơ lạnh, không thấy bông sen, bông súng gì. Cây cối không mang vẻ nguyên sơ, cổ thụ ,có lẽ tuổi đời trẻ hơn nhiều so với  cái di tích mà quần thể thực vật ở đây được tạo ra để tôn vinh.  Nhưng để bù vào những khiếm thuyết , màu xanh của đám cỏ mọc tràn lan, ướt sương sau cơn mưa và vòm tối do những tán cây tạo thành  cũng tạo được một cảm nhận nể nang cho những kẻ hậu sinh trước cái mình sắp phải đối diện.. Lần cổng thứ hai kiến trúc giống kiểu thành quách phong kiến nhưng kích thước khá khiêm tốn. Hai cánh cổng gỗ màu đen được chạm trổ khá công phu đầy họa tiết sinh động. Một con đường lát gạch dẫn vào nơi điện thờ. Bên trong điện thờ chia làm năm gian rõ rệt.

Bên trái có dòng chữ quốc ngữ_ Thành Thái quơn ( ngươn) niên / Kỷ sửu kiến tạo 1888

Chính giữa_  Đức quốc công từ.

Bên phải là dòng chữ: _ Khải Định lục niên/ Tân dậu trùng tu 1921.

Hai hàng câu đối bằng chữ Hán nơi gian chính  nơi có lối đi vào. Không gian thấp, tối, chật hẹp  với  những bài vị bằng tiếng Hán_ Nôm được đặt trên năm hương án ( Ngũ Đại) chia đều hai bên. Trên tường treo đầy những bài biểu bằng chữ quốc ngữ, nói về thanh thế và công lao của người được thờ tự. Khói nhang nghi ngút và hàng cột gỗ lim màu đen , thâm trầm làm lắng tụ những xáo động đời thường, khiến lòng người trong phút chốc bị lôi cuốn vào tâm niệm hoài cổ, nguồn cội…..

Lăng thờ Đức Quốc Công- Lễ Bộ thượng Thư_ Phạm Đăng Hưng. Ông sinh năm 1764 tại Giồng Sơn Quy , thôn Tân Niên Đông, xã Định tường, huyện Kiến Hòa. Ông là cha ruột của Thái Hậu Từ Dũ ( vợ vua Thiệu Trị, mẹ vua Tự Đức , nổi tiếng về lòng nhân hậu và dưỡng nhục, nhà hộ sinh tại Sài Gòn mang tên bà vẫn còn hoạt động đến ngày nay). Năm 1796 ông thi đỗ Tam Trường, được Chúa Nguyễn Phúc Ánh bổ dụng làm Lễ sinh ở phủ, sung Cống sĩ viện, rồi thăng Tham luận. Năm 1813, ông giữ chức Thượng Thư bộ lễ. Năm 1821, được sung làm phó tổng tài của Quốc Sử quán. Ông nổi tiếng là một hiền nhân và là một trung thần nhà Nguyễn.

Khu lăng mộ Hoàng gia _ Gò Công ( Ảnh tác giá)

Khuôn viên khu mộ khá rộng và bề thế. Dù đã đọc nhiều bài viết về những sai sót của việc trùng tu nhưng nó cũng tạo được một phần hồn cho cái nhìn của khách thập phương về một thời đại vàng son đã khuất bóng. Hai tấm bia đá được dựng hai bên, náu dưới mái hai kim tĩnh và những dòng chữ đã nhòa nhạt vì thời gian. Tấm bia bên trái ( hướng người viếng) có khắc hình cây thập giá  và một vài dòng chữ Pháp loáng thoáng. Nghe đồn đây là tấm bia của triều đình Huế ban tặng cho ngài, nhưng đã bị Pháp lấy, làm tấm bia cho đại úy Barbé  (Viên sĩ quan Pháp tử trận trong một cuộc phục kích của nghĩa quân Trương Định). Một sự lưu lạc kéo dài gần cả hai thế kỷ,  sau đó mới tìm lại được chủ nhân dích thực của mình. Mộ xây theo hình cánh dơi. Ba cung tròn ngoại tiếp trong một tam giác cân. Nền móng phía ngoài lát gạch tàu, phía trong không biết vật liệu gì nhưng cảm thấy khá chắc chắn. Họa tiết trang trí quá tỉ mỉ nhưng cũng quá rườm rà , nên khó lòng tìm được điểm nhấn. Giữa nấm mộ chính được xây một hình bát giác , có đỉnh là một núm tròn, trông như một cái ấn ( triện) của vua chúa ngày xưa. Tương truyền ông được chôn ngồi…. Phía trên  cây phượng cổ thụ vẻ cung khiêm như một người hầu, thả những cánh hoa màu đỏ thẩm xuống nền gạch rêu phong từng cánh…từng cánh một….làm thời gian theo suy tưởng của vãng khách dường như cũng chậm đi.

Cũng trên con đường Lăng Hoàng gia, phía sau Lăng tẩm Cụ Phạm Đăng Hưng, tôi tình cờ bắt gặp một quần thể những ngôi mộ xưa( sau này mới rõ đây là những họ hàng , thân thích họ Đặng). Một ngôi mộ được chôn phía bên tay trái con đường. Khuôn viên khá rộng rãi, chữ nhật, có tường bao bọc, nhưng lâu ngày không có bàn tay chăm sóc , nên phủ đầy xác lá. Mộ chính vun cao , hình lưng một con thú, có khắc hoa văn , đang phủ phục. Mộ còn khá nguyên vẹn. Bia đá phía trước khá to và dày . Dòng chữ Hán khắc trên bia theo thời gian đã phai lạt. Tường được xây bằng những viên gạch vồ, to hơn viên gạch bình thường, bề ngang khá lớn đến 15cm, bề dài khoảng 30cm. Trên mỗi viên gạch có một kí hiệu giống như một chữ Hán hay nôm gì đó, có thể thương hiệu của nơi sản xuất.  Những viên gạch long ra_ ẩm, đầy rêu, nhưng không thấy dấu hiệu mục nát. Thời gian đã hơn hai thế kỷ ẩn chứa trong những thứ vật liệu xây dựng thô sơ của tiền nhân, giờ lộ thiên, trơ gan dưới ánh mặt trời làm kẻ hậu sinh như tôi phải cúi đầu khâm phục….Phía bên phải con đường, chếch qua tí, cũng có một ngôi mộ lớn, nhưng đã bị hủy hoại khá nhiều. Chỉ còn lại bức tường viền hình vòng cung sụt lở. Dây leo và cây bụi phủ đầy.

Những viên gạch xưa_ Cụm khu lăng mộ Hoàng gia ( Ảnh tác giả)

Đền thờ của người anh hùng dân tộc Trương Định nằm chếch bên trái của chợ Gò Công. Quần thể này có thể mới được duy tu nên nhìn rất nổi bật và tinh khôi, thiên về suy tưởng lịch sử hơn về cơ cấu kiến trúc. Quần thể cũng được chia làm hai phần riêng biệt khu mộ phần và điện thờ. Khu mộ phần quay về hướng Bắc ( hướng thành phố) gồm một cụm những chi tiết mang tính Lễ, có trang trí hoa văn, được xây cất sắc sảo, sơn màu tiệp với với màu đá xanh . Tất cả trông sạch sẽ và rất mới. Có hai tấm bia , một trước, một sau mộ đều khắc bằng chữ hán. Một tấm có thể ghi thân thế của ông, còn tấm kia chữ khắc hai chữ, bằng màu sơn đỏ. Tôi nghĩ có thể đó là họ tên. Do sự quy tụ khá nhiều những chi tiết trên một chu vi hẹp nên thật khó nắm bắt cho trọn vẹn. Mộ ông hình mai rùa, tròn vạnh, trên có khắc hoa văn. Trước mộ có trồng hai cây sứ trắng . Một chậu sen có bông hoa trắng độc nhất, khoe mình dưới cái nắng. Bên hai cánh cổng của cửa vào có ghi hai câu đối bằng chữ quốc ngữ:

Hận nước cất cao đầu sóng bạc, chuyển rung Vàm Bao Ngược
Thương dân đành mất mạng, máu hồng tô thắm đất Gò Công.

Trước khi vào đây, tôi có gặp một chị bán vé số. Chị nói thời ông cố kể lại, sau khi ông tự sát, người Pháp  bêu xác ông giữa chợ Gò Công để thị uy. Thây  ông phơi ba ngày ba đêm , giữa trời nắng gắt mà không sình thúi cũng như không có con ruồi nào dám bâu đậu….Câu chuyện không mang tính thuyết phục điều tin hay không tin, nhưng nó nói lên, hình ảnh của con người này nằm trong sự kính trọng của những người dân địa phương bình thường ở đây, sâu sắc đến độ nào!

Đền thờ anh hùng dân tộc Trương Định _ Gò Công ( Ánh tác giả)

Ông sinh năm 1820 tại Bình Sơn, Quãng Ngãi, theo cha vào Nam, lấy vợ ở Tân An ( thời vua Tự Đức), chiêu mộ dân chúng khai hoang, khẩn hóa lập ấp trại tại Tân Hòa ( thuộc Gò Công). Ông thông binh thư, võ nghệ, thi đậu cử nhân võ, nên được phong làm quản cơ. Khi người Pháp hạ thành Gia Định (2-1859), ông đưa quân tham gia nhiều trận đánh, được phong làm Chánh quản cơ, phòng thủ đại đồn Chí Hòa ( Chợ Lớn). Sau khi đại đồn thất thủ, ông cùng số binh sĩ còn lại rút về Tân Hòa cố thủ. Trong thời gian đó, ông chỉ huy nhiều trận phục kích, làm thực dân Pháp với thiệt hại đáng kể, phải nể mặt. Với hòa ước mà triều đình Huế kí kết vào tháng 6 năm 1882, cắt ba tỉnh miền Đông cho Pháp, ông không chấp nhận. Cho rằng  triều đình phản bội nhân dân, ông tự xưng là Bình Tây Đại Nguyên soái, tiếp tục chiêu mộ nghĩa quân kháng chiến. Ông nói “_ Triều đình Huế không nhìn nhận chúng ta, nhưng chúng ta cứ bảo vệ Tổ quốc của chúng ta…” Với chiến thuật du kích chiến và phòng ngự tốt, ông đã gây không ít khó khăn cho người Pháp trong cuộc bình định vùng đất mới chiếm đóng….Mãi đến tháng 8 năm 1864, người Pháp dùng Đội Tấn ( một tướng lãnh của ông phản bội) lập mưu, vây hãm tại xã Phước Lộc. Ông bị trọng thương và rút gươm tự sát ngày 20 tháng 8 năm 1864, hưởng thọ 44 tuổi. Người Pháp bêu xác ông tại chợ để răn đe trong ba ngày đêm. Sau đó người vợ bé của ông , một đại điền chủ giàu có đất Gò Công, đã xin xác ông và an táng tại đây.

Đền thờ được xây dựng tân kỳ, không gian cao, khá thoáng đãng. Hương án và dung ảnh ông đặt giữa. Hai bên có hai  hàng giá đặt những thứ binh khí cổ. Hai bàn thờ tả, hữu  với những dòng chữ Hán Một tượng đồng bán thân được thờ phía sau, cao cỡ tầm người. Và phía sau cùng, sát vách  là chân dung của một vị võ tướng đang cưỡi con ngựa trắng. Nét vẽ lại hao hao giống chân dung của vua Quang Trung tôi đã từng thấy , hơn là ông. ( Thực ra đây là chân dung của Đại đô đốc Phạm Công Trị, người giả vua Quang Trung, đi chầu nhà Thanh_ Bức ảnh nguyên thủy do họa sĩ nhà Thanh vẽ, sau đó được phổ biến lại tại Việt Nam, gây nhiều ngộ nhận). Trong trường hợp này, nếu đó là chân dung Nguyễn Huệ, tôi cũng không hiểu tại sao  người ta lại thờ cả hai con người ở hai thời đại khác nhau, ở hai đẳng cấp khác nhau, mang những tư tưởng khác nhau để quy vào một nơi. Phải chăng có một sự nhầm lẫn nào đó?….Trên cao nơi có dung ảnh vị võ tướng có treo một biển sơn đỏ và hàng chữ  bằng chữ quốc ngữ “ Anh hùng dân tộc Trương Định”…Hai bên tường có treo những bảng  nói về cuộc đời và những câu nói nổi tiếng của ông. Đặc biệt có một bảng in bằng ronéo, bản lớn, bọc kính , trên đó có ghi “ Di tượng 30 anh hùng liệt sĩ Việt Nam thời cận đại” như Phan Thanh Giản, Tống Duy Tân, Kỳ ngoại Hầu Cường Để, …. và bên dưới là đôi  dòng giới thiệu thân thế và sự nghiệp. Những dòng chữ tuy ngắn ngủi nhưng thật đầy đủ và ấn tượng. Tôi lướt mắt qua những con chữ, nét phác họa của những bức chân dung được thu nhỏ , không dấu được lòng cảm thán. Lịch sử tranh đấu của dân tộc gan góc này trong suốt một thế kỷ  như được trãi ra trong khung hình . Bi tráng và mãnh liệt. Gương những anh hùng , chí sĩ bị bức hại như những vì sao anh khôi lóe sáng trên bầu trời đen tối kéo dài một trăm năm trong ách nô dịch thực dân.

****

Chợ Gò Công được xây dựng vào năm 1916, theo như cái năm được lưu trên mặt tiền của khu chợ chính. Vào thời điểm tôi đang đứng là năm 2017, tức là tôi đang đối diện với một công trình có tuổi đời đã lên đến một thế kỷ. Ngoài ra còn có một khu chợ mới được xây dựng, cũng trên một trục đường, nằm cách khu chợ cũ khoảng vài trăm met. Thực tế, theo một tư liệu hình ảnh của Báo Ấp Bắc điện tử, có đăng hình khu chợ Gò công cổ và chú thích, ngôi chợ này được xây dựng vào năm 1898. Lấy 1916 trừ cho 1898, tức ngôi chợ tiền thân chỉ tồn tại trong 16 năm. Điều này có vẻ hơi phi lí. Với những công trình xây dựng thời Pháp thuộc, nếu không bị những biến cố bất khả kháng như chiến tranh, hỏa hoạn, thiên tai….nó có thể tồn tại đến cả thế kỷ.  Vả lại , công trình  của chợ Gò công ( cũ) hiện tại đã có khá nhiều sự thay đổi,  nhiều hình thái kiến trúc khá hiện đại như hạ thấp chiều cao. Những đường lam trang trí. Mặt tiền từ kiến trúc gothic chuyển sang block hiện đại….Theo suy nghĩ của tôi, vậy trên trục thời gian, có đến 3 ngôi chợ trên một địa điểm. 1898 một cái. 1916 một cái. Hiện tại (2017) một cái….Thật là rối rắm!

Chợ Gò Công ngày nay ( Ảnh tác giả)

Chợ chia làm ba gian. Một gian chính và hai phụ. Có thể mới được trùng tu nước nước sơn còn khá mới. Tôi không vào chợ, chỉ chạy xe vòng quanh. Dọc bên hông chợ , người ta bày bán trái cây, tôm cá, rau củ ….nhưng thứ theo mùa vụ, không mang tính nhu yếu phẩm. Tôi tấp vào một gánh chè, do hai vợ chồng vừa bày ra. Chè được đựng trong một xoong to, còn bốc khói. Những lát mít vàng ruộm thật bắt mắt, chen với những quả táo tầu đỏ thẩm . Một điều phải công nhận ẩm thực Nam Bộ có thể không quá cầu kỳ khi nấu nướng nhưng về phần trang trí và sắc màu, nó vượt trội trên cả ba miền. Từ cái bánh bò, ly chè….cho đến những thứ đồ ăn, thức uống khác. Tôi lại gần ,hỏi người đàn bà “_ Chè này gọi chè gì vậy chị?”

“_ Chè Tàu Thưng !” Người đàn bà lúi cúi xoắn cọng dây thun cho một bịch chè, ngẩng lên trả lời.

Cái tên lạ hoắc, làm tôi phải hỏi lại lần nữa cho chắc ăn.

“_ Chè Tàu Thưng, anh à!” Lần này thì anh chồng, mặc chiếc quần cộc, đang phụ vợ ,ngồi bên trả lời.

Tôi đón lấy hai bịch chè nóng hổi, không  hỏi vặn thêm về nguồn gốc , vì thấy hai vợ chồng đang bận tay, đưa mắt tìm kiếm một chỗ khuất nằm bên kia đường. Chè Tàu Thưng, hay được gọi là chè Thưng, chè Bà Ba Nam Bộ( theo tra cứu sau này). Chè nấu bằng nếp, khoai lang, đậu phụng, đậu đỏ, có bỏ thêm trái cây là mít và táo tầu. Nước cốt dừa béo, mằn mặn như trung hòa  cái vị bùi bùi khá chìm của ngũ cốc trước khi chuyển sang vị ngọt tự nhiên, giòn giòn nổi trội của cây trái…Tôi ngạc nghiên, tự hỏi sao trong cái món ẩm thực quê mùa ( gần như vô danh) lại gợi lên những suy nghĩ mang tính học thuật khá độc đáo về bản ngã của vùng đất ruộng nước, về những sản vật mà thiên nhiên ban tặng, Chỉ đơn giản trong bịch chè, cảm tính thưởng thức của con người đã nâng đến tầm triết lý…và đặc biệt, một dư vị đậm chất quê hương. Không quên được!

Người Gò Công I Mộc mạc và chân chất. Rất gần gũi và dễ bắt chuyện. Điều này khỏi nói rồi. Ở chợ , tôi có đến trước một khay bánh bò của một chị khá đứng tuổi. Trên khay chỉ còn lại hai cái bánh cuối cùng. Thấy tôi hỏi mua bánh, chị hơi ngần ngừ , nói “ _  Bánh này từ hồi sáng rồi. Anh có lấy tôi qua bên kia lấy bánh mới cho!” .Trước chút tình người chỗ chợ búa , tôi phẩy tay: “ _ Thôi chị ơi! Phiền phức. Em lấy bánh này cũng được”. Khi trao cho tôi, chị dặn thêm “ _ Ăn đi chớ để trong bịch nilon hầm hơi. Nó thiu!”….Tại nhà Đốc Phủ hải, một căn nhà cổ của một Bá hộ giàu có, tương truyền là cháu ngoại của bà Trần Thị Sanh ( Người vợ bé nặng tình của vị thủ lĩnh nghĩa quân Trương Định). Vào tầm trưa, người bảo vệ đã  khóa cổng đi ăn cơm, nên tôi đi quanh quẩn trong khuôn viên phía trước. Ngôi nhà được xây vào cuối thế kỷ 19, trệt, lợp ngói. Mặt tiền gồm những cụm cửa hình vòm của lối kiến trúc Roman kết hợp với hai bên cánh là hai kiến trúc phụ mang hình thức Tân cổ điển_ những khối chữ nhật có tác dụng nâng chiều cao của tổng thể cấu trúc, đến một tầm mà  định nghĩa về nó hoàn toàn nằm trong phạm vi một kiến trúc sinh hoạt, vượt qua sự hà khắc tôn giáo và bên dưới tầm với một công sở. Hơn nữa, có thể chủ nhân rất tinh ý khi mang điểm nhấn là những cung tròn Á đông đặt vào trọng tâm, trong khi sự cách tân vuông vức Tây phương , dù quan trọng nhưng chỉ là tính phụ trợ. Vấn đề này giải quyết cho việc mang toàn bộ khối kiến trúc thoát khỏi sự lạc lõng với cảnh quan xung quanh, nhất là ở khung cảnh tiền đô thị An Nam vào thời kỳ đó. (Cây cau, giàn trầu, những dãy phố lụp xụp….). Những họa tiết trang trí bên ngoài hoàn toàn Âu Tây mềm mại, uyển chuyển…cầu kỳ nhưng không bị phô ( chõi). Tôi đi vòng quanh quan sát khu nhà, thì có gặp một nhóm thợ hồ đang nghỉ tay uống nước. Họ đang xây dựng căn nhà bên cạnh. Thấy tôi có vẻ là người ở xa tới, nên nhóm người cũng vui vẻ hỏi han, bắt chuyện. Câu chuyện lan man về những địa danh ở miền Trung và Nam bộ, nơi những người thợ hồ đã từng đến làm việc, chuyển sang cái nhìn về thị xã Gò Công cảnh quan, con người…. trước, sau giải phóng và tương lai…. Ngồi nghe chuyện , tôi mới nhận ra một đặc điểm khá lí thú ở những hậu duệ của văn hào họ Hồ ( Hồ Biểu Chánh) này, là khả năng nói chuyện khá lưu loát và những lời nhận xét tinh tế, đáng ghi nhận. Tỉ dụ khi nói đến ngày ba mươi tháng tư, một anh thợ hồ lớn tuổi có nói :”_ Cũng mừng là nó kết thúc để dân chúng làm ăn. Dây dưa hoài ….Sức người, sức của ….quốc gia nào chịu nổi!”. Nói thật, cũng hiếm mà tìm được một cái nhìn như anh, trong những thế hệ đi trước. Người Gò Công cũng rất có khiếu về thi ca. Với tôi đó là một khám phá thật mới mẻ và cũng thật ấn tượng ở giữa thời đại này, tại một thị xã chỉ cách Thành phố trong bán kính năm mươi cây số. Khi cơn bão của lối sống hiện đại đã tàn phá không thương tiếc đời sống tinh thần con người Việt, từ Nam chí Bắc, đến một câu nói tử tế cũng không ra hồn, thì ở đây , người ta sẵn sàng chia sẻ những bài thơ mộc mạc nói về quê hương của họ với những người lần đầu quen biết…. Trưa nắng, tôi ngồi nhấp nháp ly cà phê đắng, lắng nghe những câu lục bát từ những người phu hồ.…Thật cảm động!

Ù ơ….Mẹ mong gả thiếp về vườn
Ăn bông bí luộc, dưa hường nấu canh
Thương anh….cũng muốn theo anh
Ngặt cha với mẹ , không đành….thời sao?

Dinh tỉnh trưởng Gò Công_ Một phế tích đáng tham quan ( Ảnh tác giả)

Về nhân chủng học hình thể ( Physical anthropology) qua tiếp xúc, người Gò Công đều có một cái gì na ná giống nhau. Vóc người cao lớn hơn dân Việt bình thường ở những vùng miền khác. Khuôn mặt dài, sống mũi cao và thẳng. Cánh mũi nhỏ. Mắt không to, môi không quá dày. Vành tai dài, chảy. Khuôn mặt đầy, đẹp ….và không thực linh hoạt. Dù rất hiếu khách nhưng nụ cười cũng khá hạn chế. Lúc bình thường, nhìn kỹ, lại có nét hướng nội.

Gò Công có  những con đường nhỏ, hàng cây sò đo với những bông hoa đỏ thẫm, chạy dài, trông khá lạ mắt. Mật độ xe cộ thưa thớt. Đường phố sạch. Không khí trong lành. Dân không mấy ai ra đường mang khẩu trang kín mít như ở Sài Gòn. Một vài cảnh quan trong thị xã thấy khá vắng, thậm chí mơ màng như  Nhà thờ Chánh Tòa, Dinh tỉnh trưởng ….Những công trình kiến trúc kể trên đã có tuổi đời hơn cả thế kỷ. Một số còn trưng dụng. Số xuống cấp, đóng cửa. Thật không dễ kìm nén dòng cảm xúc khi phải đối diện với cấu trúc khổng lồ, suy kiệt sau bao năm tận tụy, phục vụ giờ nằm phủ phục, im lìm với những mảng tường nứt vỡ hoen màu gạch đỏ, những ban công bám đầy rêu và dây leo….

Điều đáng nói là các di tích ở Gò Công đều chưa có quy mô , trên thực tế chỉ để tưởng niệm, cúng bái, tham quan trên cơ sở vùng miền lân cận…chứ chưa mở rộng sang ranh giới của những địa điểm du lịch thật sự, với những vệ tinh và cơ sở hậu cần hưởng lợi đi kèm. Sự khai thác có lẽ trông chờ vào tương lai gần, vì tiềm năng sẵn có là điều không thể bàn cãi.

****

Vào khoảng thập niên 90 , trên sân khấu âm nhạc Việt, bỗng xuất hiện một vài sáng tác lạ được trình bày bởi nữ ca sĩ nổi danh hồi ấy, Bảo Yến, làm xôn xao dư luận, nhất là đối với giới trẻ. Những ca khúc như “ Chuyện tình hoa muống biển”, “ Ánh mắt quê hương”, “ Thương một người ở xa”…. cùng với  dòng nhạc Gò Công, đã làm nên tên tuổi một người nhạc sĩ xứ Gò ,có tên Hoàng Phương. Nhưng thật ra, ông là một nhạc sĩ đã thành danh với nhạc phẩm “ Hoa sứ nhà nàng” từ trước năm 1975. Nhạc sĩ Hoàng Phương tên thật là Nguyễn Kim Hoàng, sinh năm 1943, tại  xã Tân Thành huyện Gò Công. Năm 1968, khi 25 tuổi, ông lên Sài Gòn tham gia ban nhạc cùng Vinh Sử, Quốc Dũng , Lê Hựu Hà…Trong năm này, ông viết bản nhạc đầu tay “ Hoa sứ nhà nàng” . Nhạc phẩm này ngay lập tức đã khẳng định tên tuổi của ông. Sau 30 tháng 4 năm 1975, ông quay về Gò công mở tiệm sửa đồng hồ, sau đó  hành nghề thợ bạc. Năm 1986, trong chính sách đổi mới, ông cho ra đời dòng nhạc Gò Công, với các bài hát trữ tình ca ngợi tình yêu , ca ngợi quê hương, danh thắng Gò Công. Album  “ Băng nhạc Gò Công”  vừa ra đời đã được sự đón nhận nồng nhiệt của công chúng yêu âm nhạc khắp cả nước và được xem như một hiện tượng. Ông được vinh danh như “ Ông hoàng nhạc Gò Công”. Năm 1989, ông cưới người vợ hai tên Mộng Vân. Hai người xây dựng một căn nhà nhỏ trên bãi biển Tân Thành. Vào những năm cuối đời, ông trở nên suy sụp. Ông mất vào năm 2002, vì bị bệnh ung thư gan. Ông để lại cho đời  khoảng 20 tác phẩm hoàn chỉnh và một số khác còn đang viết dở dang…..

Cũng không hiểu biển Tân Thành trong suy tưởng của người nhạc sĩ ngày đó như thế nào, hoặc khoảng thời gian hai mươi năm,  con người đã làm thay đổi hoàn toàn những cảnh quan mà trước đây nó từng có. Được quảng bá khá nhiều trên các phương tiện truyền thông về một bãi biển cát đen đặc biệt, một khu du lịch khá lý tưởng….nhưng trước mắt tôi, bãi biển Tân thành ngày nay, như một minh chứng cho sự độc ác của con người ,trong hành động triệt phá đến tận cùng các nguồn lực còn sót lại của tự nhiên, mà không có sự bù đắp và sự  vô cảm tính đến lạnh lùng trong liên kết sinh hoạt đời thường giữa con người với môi trường  xung quanh. Bãi biển rách rưới , nằm rũ chết. Những công trình ngắn hạn, gãy đổ, dập vùi trong sóng biển mà thời gian và sự thô thiển của cấu trúc không đọng nổi chút giá trị của chữ phế tích. Bãi biển tràn ngập rác. Những cây phi lao mới trồi lên từ cát nay phải khó nhọc oằn mình dưới một lớp bao ni lon xanh đỏ dày cộm, quấn riết. Những vuông đất mới bị đào xới làm những vuông tôm, đất sình như vết loét nằm cận kề  bên bãi tắm… cho một khái niệm dễ lẫn lộn giữa một nông trường nuôi tôm và một khu du lịch. Những nhà hàng được cất như những cái chòi vươn ra biển, nơi khi hưởng thụ người ta thật vô tâm với những thứ mình xả ra .Phía dưới, những bè rác thải, trôi nổi, dập dềnh trong con sóng….Thực ra bãi biển , còn là nơi thu hoạch nghêu khá lớn của người dân địa phương, nhưng vào thời điểm tôi đứng, thủy triều đang lên và những con sóng mấp mé ven đường.

Bãi biển Tân Thành, Gò Công Đông_  Cảnh  tiều tụy của tự nhiên trước việc vắt kiệt của con người ( Ảnh tác giả)

 

Thất vọng  trong cố gắng tìm đến một nơi đã  trở thành nguồn cảm tác, của một nhạc sĩ nổi tiếng ,nhưng trên đường quay ra, tôi lại tìm được nguồn vui nho nhỏ ở khu chợ Gò Công Đông. Trong một quán giải khát,  tôi tình cờ ghé vào….Cô gái Gò Công Đông xinh xắn mang ra ly nước mía xanh ngắt. Những ngón tay  tay nhỏ nhắn của cô gái  xoay xoay chiếc volume của cái amply trong góc nhà và giọng ca quen thuộc  của cô  ca sĩ ngày nào, vang lên

“ …Có phải chăng cát giận, cát hờn. Chẳng muốn nhận dấu chân em làm kỉ niệm. Để cát bay , cát tạo thành hình của sóng. Để ven bờ cát mãi đùa vui…”

Tôi bị đẩy vào trong một tâm trạng thật ngổn ngang.

Chợ Gò công Đông   ( Ảnh tác giả)

****

Khác với Gò Công Đông, Gò Công Tây là một khu vực thuần túy nông nghiệp. Quốc lộ 50 chạy về thị trấn Chợ Gạo, có lẽ là xương sống của huyện lị. Trên thực tế, khi di chuyển trên quốc lộ, ta cũng khó tìm được màu xanh của ruộng lúa hay những mảnh vườn đặc trưng trồng cây ăn trái. Những dãy nhà mọc dọc theo con đường đã che chắn một phần nào tầm mắt. Chỉ để những lối rẽ, những con hẻm nhỏ, đang mong đợi một sự tìm tòi phía sau….

Anh ơi về tới Hòa Đồng
Nhớ mua bánh giá chợ Giồng tặng em.

Ngã ba Hòa Đồng có một lối rẽ như vậy. “ _ Chợ Vĩnh Bình chớ! Bây giờ đâu ai kêu chợ Giồng nữa đâu. Đi thẳng là tới!” . Theo tay anh xe ôm chỉ, tôi phóng xe trên con đường rãi nhựa nhưng khá ọp ẹp để vào trung tâm thị trấn. Xét trên các khía cạnh , vùng này có vẻ không trù mật bằng dưới Gò Công Đông. Những ngôi nhà cũ kỹ với diện tích khá hẹp, nằm chen lẫn với những ngôi nhà cao tầng, các cơ quan công sở. Một lớp bụi đỏ mờ phủ trên các cấu trúc sinh hoạt và việc nhận diện con người cũng không mấy sáng sủa. Nhưng càng vào sâu, đường xá càng dễ đi , cảnh quan có vẻ sáng láng, nhiều kiến trúc tôn giáo hơn. Qua cầu Vĩnh Binh bắc qua một con kinh nhỏ, ngôi chợ hiện ra trong tầm mắt. Chợ Vĩnh Bình , tức chợ Vĩnh Lợi hay còn gọi là chợ Giồng Ông Huê. Chợ được xây dựng vào năm 1895, do ông Trần văn Huê, một đại điền chủ , bỏ tiền xây cất. Tương truyền, ông Huê ngày trước quê tận Quãng Ngãi, theo Chúa Nguyễn di dân vào Nam , nhờ khai phá đất đai mà trở nên giàu có. Nhưng tôi không ghé vào chợ. Tôi theo đường Nguyễn văn Côn xuôi một đoạn khá xa đến một địa danh gọi là Phước Hựu. Có thể trong mắt, tôi chưa chạm đến cái mà tôi muốn tìm…

“ _ Bánh giá bây giờ hết ngon rồi. “ Má chậm rãi nói    “_ Mấy người hồi xưa làm ngon hơn! Nhưng muốn mua cũng phải đi buổi sáng , chứ giờ này đâu còn chỗ nào bán.”

Người đàn bà lại cúi xuống làm công việc của mình, sắp xếp những tệp giấy vàng bạc, rồi bó nó lại bằng những sợi dây thun.  Chiếc khăn rằn Nam Bộ  trên đầu, đôi lúc lại buông thõng một tua xuống vai gây vướng víu, nên thỉnh thoảng, bà lại ngưng việc, lấy tay nhét nó lại vào những nếp gấp. Khuôn mặt dài, sống mũi hơi khoằm, dái tai chảy dài có đeo đôi mặt cẩm thạch nhạt màu….Cái hình ảnh gợi cho tôi vài kỷ niệm về bà ngoại tôi, ngày trước…..Những nếp nhăn đánh dày trên khuôn diện như gân một chiếc lá rụng.

_ Ruộng nhà mình đây hả Má?

_Ừa …cũng được hai sào. Mỗi năm hai vụ. Nhưng bây giờ đâu có người mần. Tụi nhỏ nó đi mần xí nghiệp hết rồi!

_ Sao ít vậy Má. Mấy chỗ khác  thấy họ làm được đến ba bốn vụ ? Thắc mắc tôi hỏi.

_  Ở đây đất phèn, chỉ mần được vậy. Nhà nước cũng khuyến khích trồng xen canh như dưa , khoai, khổ qua…Nhà không có người mần, nên cho người ta mướn.

Loáng thoáng một người đàn ông lớn tuổi, đang vun đống rơm ở sau nhà, nên tôi hỏi:

_  Ba hồi trước làm gì Má?

_  Ổng đi lính….nghĩa quân, đóng loang quanh đây.

_ Đất này ông bà để lại hả Má?

_  Đâu có…ông bà hồi trước cũng chỉ tá điền thôi. Lúc tụi tui ra riêng …cũng đi mần ruộng mướn. Sau này có chính sách gì đó….Chính sách gì đó thời ông Thiệu….

Thấy bà cứ ngắc ngứ mãi, nên tôi thêm vào:

_ Người cày có ruộng….

_ Ờ…. “ Người cày có ruộng”  nên mới được mấy sào. Sau này giải phóng vô, ruộng đất sung vô Hợp tác xã hết,  nhái cũng hoàn nhái, về lại kiếp làm mướn…

_ Ủa , hợp tác xã mà làm mướn gì má?

_ Thì mầm mướn cho nhà nước, lấy công điểm. Đói sặc gạch. ..Mần ra hột lúa mà chỉ nhai khoai mì, khoai lang trừ cơm.

Bà bật cười. Tuổi tác và cái miệng móm xọm, đầy trầu  đã xua đi cái vị chua chát của câu nói,  đồng hóa nó trong cái cười của nhân tâm.

_  Sau này thấy dân đói quá…kéo nhau đi hết, nên mấy ổng mới chia lại ruộng. Giờ được hai sào non đó!

Tôi ngồi bên Má, nhìn ra vuông ruộng tít tắp, xanh ngắt của lúa đang thời con gái. Những ngọn  gió thỉnh thoảng tràn qua cánh đồng  làm gợn lên những con sóng, nổi cồn, lan mãi… chạy ruổi về phía những rặng cây ăn trái nổi lờ mờ phía chân trời. Mùi hăng hăng quen thuộc của bùn đất , mùi của hoai hóa từ con  rạch nhỏ trước nhà làm không khí đang thở đậm lại. Bên trái , mấy cái mộ cổ của mấy ông Bá hộ ngày trước, kiến trúc cầu kỳ nằm khuất trong đám lau lách, cho cái nhìn ám lại về một thời đại tối tăm địa chủ, tá điền và những thời kỳ khác đã đi qua.

Trong thoáng trầm tư, ký ức hằn những nếp nhăn trên trán người Mẹ Việt!

 Chợ Vĩnh Binh ( Tên ngày xưa chợ Giồng)_ Gò Công Tây ( Ảnh tác giả)

…..

Nằm tựa lưng vào bờ kinh Vĩnh Bình, chợ Vĩnh Bình có cấu trúc của một khối chữ nhật, chạy dài. Chợ đã được xây dựng mới, cao ráo, sạch sẽ. Chênh chếch phía mặt tiền, còn giữ lại vài ngôi nhà cổ lợp ngói, với kiến trúc thấp, những cổng vòm được trang trí bằng phù điêu và hoa văn. Rêu mốc và sự cũ kỹ chừng như cô lập hẳn quần thể này trước những ngôi nhà cao tầng hiện đại mọc đầy xung quanh. Trong bối cảnh chung, chúng hiện diện như những chiếc bóng ma mị, đầy tự kỷ , tồn tại bằng những ký ức, biến cố vốn chất chứa quá nhiều trong chúng. Điều này lý giải, không phải tự dưng, ánh mắt tôi khi quét qua đó, đột nhiên chùng xuống.

Trời đã xế chiều, ngôi chợ không còn sự tấp nập, ồn ào. Lác đác, vài gian hàng đang dọn…

_ “ Bánh giá hả em? Giờ này đâu ai còn bán nữa….Chạy xuống cuối chợ coi sao?” Một chị phụ nữ mau mắn nói.

Buổi chợ đông , con cá đồng cũng chê lạt
Lúc chợ  chiều, con tép bạc cũng khen ngon

Có lẽ đây là hàng bánh cuối cùng và chủ sạp, một phụ nữ trẻ khuôn mặt ủ ê, đang gói mấy chiếc bánh bằng miếng lá chuối cho một người khách. Cạnh đó, một cái chảo đầy dầu chiên đang sôi sùng sục bắc trên một cái lò đun bằng củi. Một thau bột vẫn còn lưng lửng, bên kia là một cái thúng to đựng  lủng củng đủ thứ: giá sống, gan heo, tôm sống.….Cái quạt trên tay cô nàng làm việc liên tục, nhưng vẫn không xua nổi đám ruồi nhặng lì lợm, cứ chờ chực lao vào. Giả tảng như không biết gì, tôi hỏi: _ Đây chợ Giồng phải không em?

_ Chợ Vĩnh biệt anh à!…Câu trả lời làm tôi suýt phì cười _  Buôn bán ế quá, mai mốt không còn ai bán nữa, chắc phải kêu chợ Vĩnh biệt. Cô nói như trãi lòng mình…._Mua  giùm em vài cái bánh đi anh!

Thực ra thứ bánh giá nổi tiếng này, cũng gần giống món bánh xèo ở miền Trung. Bột gạo xay pha loãng với đậu nành, đổ lên một dụng cụ khá đặc biệt, giống cái khuôn đúc bánh xèo nhưng nhỏ hơn, trong này gọi bằng cái vá. Tiếp theo người ta cho giá sống, gan heo lên trên, rồi đổ một lớp bột mỏng phủ đều. Trên cùng cho hai con tôm và ít hạt đậu phụng cho bắt mắt. Hoàn tất , tất cả cho qua chảo dầu, chiên vàng. Sau đó vớt lên, để ráo dầu là có thể ăn được…. Bánh giá ăn không với nước mắm, nước tương kèm rau sống. Một số người lại thích ăn với bún.

Tôi định lấy hai cái ăn lấy thảo, nhưng khi nhìn khuôn mặt chân phác của cô bán hàng chẳng thấy vui lên tí nào, đành lấy thêm hai cái nữa.

Nhận mấy cái bánh, tôi có gửi lời chào và câu chúc buôn may, bán đắt….chỉ thấy nàng cười thẹn và câu trả lời, nho nhỏ…._ Cám ơn!

Rồi mai em gái theo chồng/ Ai đem bánh giá chợ Giồng mời anh ( Ảnh tác giả)

 

****

Tháng năm mùa của những cơn giông chiều ở mảnh đất miền Tây . Vừa thoáng thấy những đụn mây đen ùn lên ở chân trời, thoắt cái , nó đã bắt kịp tôi, khi bánh xe vừa chạm ngưỡng Gò Công. Mưa mù mịt. Hạt mưa to, nặng như những mảnh kính vỡ vung vãi , đâm nhói vào da thịt. Ướt như chuột lột, tôi đâm xe vào mái hiên của một nhà ven đường để tránh mưa. Mưa đổ  từng đợt ào ạt, xói cả mặt đường nhựa. Con phố trước mặt như ai đổ lên một lớp sơn bạc, nhòa nhạt, vắng ngắt…..

Trong lúc đợi mưa tạnh, tôi chợt nhớ cuốn sổ ghi chép để trong túi áo sơmi lúc sáng. Cái túi ướt nhẹp, nhưng cũng may, bên trong cuốn sổ vẫn khô ráo. Dưới ánh sáng lờ mờ còn sót lại của ban ngày, tôi đọc lại dòng chữ do chính tôi ghi lại, theo nguồn khảo cứu.

“ Tuy vậy, Nam Phương hoàng hậu được nhiều người đánh giá là người thiết tha với đất nước. Theo tài liệu của sử gia Pháp Jean Renaud do nhà xuất bản Guy Boussac ấn hành năm 1949:

Sau khi quân Pháp dựa vào thế lực của quân Anh quốc để gây hấn ở miền Nam với ý đồ tái chiếm thuộc địa Việt Nam. Lúc đó vua Bảo Đại đã thoái vị, bà Nam Phương đang ở tại An Định cung bên bờ sông An Cựu. Đau lòng trước thảm cảnh mà đồng bào miền Nam, quê hương của bà đang trực tiếp gánh chịu, cựu Hoàng hậu Nam Phương đã gửi một thông điệp cho bạn bè ở Á châu yêu cầu họ lên tiếng tố cáo hành động xâm lăng của thực dân Pháp với lời lẽ như sau:

“Kể từ tháng 3 năm 1945, nước Việt Nam đã thoát khỏi sự đô hộ của người Pháp nhưng vì lòng tham của một thiểu số thực dân Pháp với sự tiếp tay của quân đội Hoàng gia Anh nên hiện nay máu của nhân dân Việt Nam lại tiếp tục chảy trên mảnh đất vốn đã có quá nhiều đau khổ. Hành động này của thực dân Pháp là trái với chủ trương của Đồng Minh mà nước Pháp lại là một thành viên. Vậy tôi tha thiết yêu cầu những ai đã từng đau khổ vì chiến tranh hãy bày tỏ thái độ và hành động để giúp chúng tôi chấm dứt chiến tranh đang ngày đêm tàn phá đất nước tôi.

Thay mặt cho hàng chục triệu phụ nữ Việt Nam, tôi thỉnh cầu tất cả bạn bè của tôi và bạn bè của nước Việt Nam hãy bênh vực cho tự do. Xin các chính phủ của khối tự do sớm can thiệp để kiến tạo một nền hòa bình công minh và chân chính và xin quý vị nhận nơi đây lòng biết ơn sâu xa của tất cả đồng bào của chúng tôi”…”

……..

Biết rằng sau cơn mưa trời lại sáng, nhưng sao trên con đường về, hòa mình vào dòng người xứ Gò đang vội vã,  tôi  lại cảm thấy nặng lòng. Thời gian và bao sự thay đổi dâu bể, tất cả đâu cưỡng lại được vận trời. Cũng  xin đành nợ Người…. Nam Phương!

Sài Gòn, ngày 7 tháng 7 năm 2017

Vũ Khuê

 

 

 

 

Tài liệu tham khảo:

_ Nguồn Wilkipedia.
_  Gò công_ Xưa và nay ( Tác giả Hoàng Minh)
Và một số tư liệu khác.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

hình 

 

tôi cứ nhìn em mãi
( em mãi chả nhìn tôi )
tôi tương tư chiếc bóng
bóng nghiêng vai giữa đời

tôi bỏ trong dấu ngoặc
lâu lâu lại mở ra
thấy đức tin, tuyệt vọng
cùng tẩu hoả nhập ma

tôi đi và ca hát
trong một giấc mộng du
lúc mắt chạm nhan sắc
tôi thấy tôi trong tù

tay tôi chạm ảo ảnh
như lần đầu tập đi
ấp úng từng câu nói
không nói cũng biết,  vì …

tôi cứ nhìn em mãi
em như biết vì sao
vì sao em im lặng
im lặng bởi vì sao?

Ngô Yên Thái

VỀ CHIA VẦNG TRĂNG CŨ

 

mây hoan hỉ níu mùa lên gió lộng
khép trên tay ngày tháng úa tuổi buồn
những con đường thơ dại khuất sau lưng
tay cuống quýt lần tìm hơi hướm cũ

nửa mùa thu gối đầu lên hơi thở
bàng bạc trăng lóng lánh ủ tơ vàng
tuổi thơ nào không dan díu cưu mang
nhánh kỷ niệm xanh hoài trong tâm thức

nửa mùa thu của bây chừ…thuở trước
vẫn bồn chồn thương nhớ khác chi nhau
trăng trung thu…trăng tròn vạnh trên đầu
ta chia nửa tình yêu và nỗi nhớ

muốn quay lại dựa lưng ngày tháng đó
bên tuổi thơ mười bốn với mười lăm
bên giấc mơ tròn trịa ánh trăng rằm
với rạo rực sáng bừng đôi mắt biếc

muốn quay về ngồi bên nhau tha thiết
bên tiếng cười với mâm cổ rộn vui
trăng lên cao…trăng dưới đất sóng đôi
ta khúc khích khúc đồng dao rồng rắn

nửa mùa thu tưởng đi vào xa vắng
chợt quay về đánh thức giấc mơ xưa
những buồn vui nói răng hết cho vừa
dù đã giấu vào trong thơ chạm ngõ

muốn quay về chia lại vầng trăng cũ
tuổi mười lăm mười bảy ngát hương hoa
ơi ! nửa mùa thu cũ cứ xót xa
cứ ray rứt bâng khuâng …dài nỗi nhớ

TA MUỐN QUAY VỀ…
CHIA NHAU VẦNG TRĂNG CŨ
TA MUỐN QUAY VỀ…
TÌM LẠI KHÚC CA SAO

DaoLam

CHIỀU SERENADE

 

 

anh lên phố.phố vừa tràn đông bắc
lạnh đủ vừa gây nhớ một bàn tay
nắng hoe vàng lúng liếng mắt ai?say!
anh cúi xuống tìm dấu giày đã cũ

anh lên phố.phố lặn vào khăn gió
thả tóc bơi theo lá.khởi qua chiều
thành phố đồi.thành phố dốc.lượn lờ theo
quán vắng.nhạc ru tình.serenade

mắt ngược xuôi.bần thần.khao khát
một mùa vàng ủ chật áo vàng sương
tóc nào bay trong gió lã ngợp hương
anh cuống quít dựa bóng chiều khắc khổ

anh lên phố.phố dặn dò đừng nhớ
đừng chờ trông.(và cũng nhớ:đừng quên)
dù mất.còn.vẫn mãi một linh duyên
một gặp gỡ đủ mang theo suốt cuối

anh lên phố.phố buồn vui không nói
lặng thầm theo(gánh bớt nỗi cưu mang )
thành phố đồi.thành phố dốc.lang thang
anh nhặt góp để suốt đời mắc nợ

anh lên phố.phố trong veo mắt nhỏ
con đường đêm thơm lựng tóc đuôi gà
bay trong chiều serenade tẩm hoa
anh rón rén lượm nốt trầm cất giấu

anh lên phố.buồn kịp về ở đậu
cứ giật mình thảng thốt biết bao năm
thành phố đồi.thành phố dốc.dẫu xa xăm
vẫn nóng hổi nốt trầm seranade!

Lê Hát Sơn

Dạ Khúc: Năm Câu Chuyện Về Âm Nhạc Và Đêm Buông ( chương 2)

FILE PHOTO: Author Kazuo Ishiguro photographed during an interview with Reuters in New York, U.S. April 20, 2005. REUTERS/Mike Segar/File Photo

 

Khi tôi tới gặp ông Gardner thì đường phố đã khá tối và vắng vẻ. Hồi ấy tôi vẫn còn lạc đường mỗi lần đi xa quảng trường San Marco, thế nên dù đã khởi hành sớm, dù đã biết vị trí cây cầu nơi ông Gardner hẹn, tôi vẫn đến muộn vài phút.

Ông đứng ngay dưới ngọn đèn đường, mặc bộ com lê nhăm nhúm, áo sơ mi mở ba hay bốn nút, có thể nhìn thấy cả lông trên ngực. Khi tôi tạ lỗi đến muộn, ông bảo:

“Vài phút thì có hề gì? Lindy và tôi lấy nhau đã hai mươi bảy năm. Vài phút thì có hề gì?”

Ông không bực tức, nhưng có vẻ nghiêm trọng và âu sầu – không có gì là lãng mạn. Đằng sau ông là chiếc gondola dập dềnh nhẹ nhàng trên sóng, và tôi thấy người đứng thuyền là Vittorio, một người tôi không mấy ưa. Trước mặt tôi, Vittorio lúc nào cũng xởi lởi, nhưng tôi biết – ngay từ hồi ấy – anh ta đi khắp nơi nói đủ thứ chuyện tồi tệ, toàn chuyện đặt điều, về những kẻ như tôi, những kẻ anh ta gọi là “bọn ngoại quốc từ các nước mới nứt mắt”. Thế nên hôm ấy khi anh ta chào tôi hồ hởi như anh em ruột, tôi chỉ đáp lại bằng cái gật đầu, và im lặng đợi anh ta đỡ ông Gardner vào thuyền. Rồi tôi đưa anh ta cầm cây đàn – tôi mang theo cây Tây Ban Cầm, để cây có lỗ ô van ở nhà – và cũng trèo vào theo.

Ông Gardner liên tục xoay trở ở đằng mũi, có một lần còn ngồi phịch xuống đến nỗi suýt làm lật thuyền. Nhưng có vẻ ông không để ý thấy, và khi thuyền rời bờ, ông cứ nhìn đăm đăm xuống nước.

Mất vài phút chúng tôi lướt đi lặng lẽ giữa hai dãy nhà tối đen, chốc chốc lọt qua bên dưới những cây cầu thấp. Rồi ông bứt khỏi những ý nghĩ đăm chiêu mà nói:

“Nghe này, anh bạn. Tôi biết là chúng ta đã thỏa thuận xong các tiết mục tối nay. Nhưng tôi vừa nghĩ nãy giờ. Lindy rất thích bài ‘By the time I get to Phoenix’. Tôi có ghi âm bài đó một lần lâu lắm rồi.”

“Vâng, thưa ông Gardner. Mẹ tôi lúc nào cũng nói bài đó ông hát hay hơn cả Sinatra. Hơn cả cái bản nổi tiếng do Glenn Campbell hát nữa.”

Ông Gardner gật đầu, rồi một lúc lâu tôi không nhìn rõ mặt ông. Vittorio cất tiếng hô báo hiệu vang dội các bức tường trước khi cho thuyền ngoặt qua chỗ rẽ.

“Tôi đã hát cho bà ấy nghe bài này rất nhiều lần,” ông Gardner nói. “Anh hiểu không, tôi nghĩ bà ấy sẽ thích được nghe bài ấy tối nay. Anh có thuộc nhạc chứ?”

Lúc này cây đàn đã ra khỏi bao, nên tôi chơi vài khúc.

“Lên chút nữa,” ông nói. “Lên đến mi giáng. Hồi thu đĩa tôi hát thế mà.”

Thế nên tôi chơi lại đoạn nhạc theo tông mới, và khi đã hết có lẽ cả một đời, ông Gardner cất tiếng hát, rất khẽ khàng, ghìm nhịp thở, như là không nhớ rõ lời. Nhưng giọng ông vọng lại rất rõ trong lòng kênh yên tĩnh. Quả thật là nghe rất tuyệt. Và trong một lúc hình như tôi trở lại làm đứa bé con, ở trong căn hộ, nằm ườn trên thảm trong lúc mẹ ngồi trên xô pha, mệt lử, hoặc có khi sầu não, còn đĩa Tony Gardner thì quay trong góc phòng.

Ông Gardner đột ngột ngưng hát và nói: “Được rồi. Chúng ta sẽ chơi ‘Phoenix’ cung mi giáng. Rồi có thể là ‘I fall in love too easily’, như chúng ta đã bàn. Và kết thúc bằng ‘One for my baby’. Thế là đủ. Bà ấy sẽ không nghe nhiều hơn đâu.”

Sau đó ông lại chìm vào suy tưởng, và chúng tôi cứ thế trôi qua bóng tối trong tiếng khỏa nước nhè nhẹ của Vittorio.

“Ông Gardner ạ”, rốt cuộc tôi nói, “mong ông thứ lỗi câu hỏi của tôi. Nhưng bà Gardner có biết trước cuộc trình diễn này không? Hay đây là một bất ngờ thú vị?”

Ông thở dài nặng nhọc, rồi nói: “Tôi nghĩ chắc là phải xếp vào mục bất ngờ thú vị.” Rồi nói thêm: “Có Chúa biết bà ấy sẽ phản ứng thế nào. Có thể chúng ta sẽ không tới được tận ‘One for my baby’.”

Vittorio cho thuyền ngoặt qua một khúc kênh nữa, và đột ngột nghe vang lên tiếng cười và tiếng nhạc, chúng tôi trôi qua một nhà hàng lớn, đèn đuốc sang trưng. Bàn nào hình như cũng kín khách, các anh bồi lăng xăng hối hả, thực khách đều có vẻ sung sướng, dù ở bên kênh đào vào mùa này trong năm chắc cũng không ấm mấy. Sau cảnh tĩnh mịch và bóng tối chúng tôi vừa đi qua, nhà hàng này gây cho tôi cảm giác bất an. Có vẻ như chúng tôi mới là người đứng yên, đứng trên bến tàu mà ngắm, trong lúc con tàu dạ tiệc lấp lánh ấy trôi qua. Tôi nhìn thấy vài khuôn mặt ngoảnh ra phía mình, nhưng không ai để ý nhiều đến chúng tôi. Rồi nhà hàng đã nằm lại đằng sau, và tôi nói:

“Kể cũng buồn cười. Ông có tưởng tượng được đám khách du lịch ấy sẽ làm gì nếu họ vỡ lẽ là có chiếc thuyền chở Tony Gardner huyền thoại vừa đi qua không?”

Vittorio, dù không khá tiếng Anh lắm, cũng hiểu được đại ý và cười một tiếng nho nhỏ. Nhưng một hồi lâu ông Gardner không đáp lại. Chúng tôi vừa trở lại trong bóng tối, trên một khúc kênh hẹp giữa những cửa ra vào sáng nhờ nhờ, thì ông bảo:

“Anh bạn, anh đã sống tại một nước cộng sản. Chính vì thế anh không nhận ra ở đây thế giới vận hành thế nào.”

“Ông Gardner,” tôi nói, “giờ nước tôi không còn là cộng sản nữa. Giờ chúng tôi là một dân tộc tự do.”

“Tôi xin lỗi. Tôi không có ý khinh thường tổ quốc anh. Các anh là một dân tộc anh dũng. Tôi mong cho các anh chóng được hòa bình và thịnh vượng. Nhưng tôi định nói với anh là, anh bạn, tôi có ý là vì anh sinh trưởng ở quê hương anh cho nên điều tự nhiên là có nhiều chuyện anh chưa hiểu hết. Cũng như sẽ có nhiều điều tôi không hiểu về đất nước anh.”

“Tôi nghĩ là ông nói đúng, thưa ông Gardner.”

“Những người chúng ta vừa đi qua. Nếu anh đến chỗ họ mà bảo, ‘Này, các anh có ai còn nhớ Tony Gardner không?’ thì có thể một vài người trong đó, phần lớn cũng nên, sẽ bảo có. Ai biết được? Nhưng đi thuyền qua như chúng ta vừa rồi, ngay cả nếu họ có nhận ra tôi, liệu họ có phấn khích không? Tôi nghĩ là không. Họ sẽ không buông nĩa, sẽ không ngắt quãng câu chuyện tâm tình bên ánh nến đâu. Việc gì phải thế? Chẳng qua là một gã hát tình ca của một thời xưa cũ mà thôi.”

“Cái này thì tôi không tin được, thưa ông Gardner. Ông là một giọng hát kinh điển. Ông cũng ngang với Sinatra hay Dean Martin. Những nhân vật kinh điển, họ không bao giờ lỗi mốt. Không phải như đám nhạc pop bây giờ.”

“Anh nói thế là tử tế lắm, anh bạn. Tôi biết anh có thiện ý. Nhưng một đêm như đêm nay, đây không phải là lúc để phỉnh nịnh tôi.”

Tôi đã muốn phản đối, nhưng có gì đó trong dáng vẻ ông khiến tôi không muốn tiếp tục đề tàu này. Thế nên chúng tôi đi tiếp, không nói câu nào. Thành thực mà nói, lúc này tôi bắt đầu nghĩ xem mình đã rơi vào chuyện gì, cái trò hát bên cửa sổ này là sao. Và những người này là người Mỹ nữa chứ. Làm sao tôi dám chắc rằng khi ông Gardner bắt đầu hát bà Gardner sẽ không đến bên cửa chĩa súng nã đạn vào chúng tôi.

Có lẽ Vittorio cũng đang nghĩ tương tự trong đầu, bởi khi chúng tôi lướt qua gần một cây đèn gắn trên tường, anh ta ném cho tôi một cái nhìn như muốn nói: “Chúng ta vớ được một gã gàn dở, phải không, amico?” Nhưng tôi không đáp lại. Tôi không định về phe với loại người như anh ta chống lại ông Gardner. Theo lời Vittorio, những kẻ nhập cư như tôi chỉ có đi lột tiền của khách du lịch, xả rác xuống kênh, và nói chung là hủy hoại cả thành phố. Có những ngày, nếu đang gặp cơn khó chịu, anh ta sẵn sàng kết tội chúng tôi là bọn xin đểu – dâm tặc nữa không chừng. Tôi đã có lần hỏi thẳng mặt có đúng là anh ta nói vậy về chúng tôi không, và anh ta thề thốt đấy chỉ toàn là bịa đặt. Làm sao anh ta mà lại hận thù chủng tộc được, trong khi có một bà dì người Do Thái mà anh ta tôn thờ như mẹ? Nhưng một buổi chiều nọ tôi đang tiêu khiển giữa hai suất diễn, tựa mình trên cây cầu ở Dorsoduro thì thấy một chiếc gondola trôi quabên dưới. Trên đó có ba du khách đang ngồi, và Vittorio đứng dựa cây chèo, làm một bài diễn văn cho cả thế giới cùng nghe, miệng tuôn ra đúng những lời lẽ ấy. Cho nên anh ta cứ việc tìm mắt tôi tùy thích, nhưng đừng có hòng tranh thủ tình đồng đội của tôi.

“Tôi sẽ cho anh biết một bí mật nhỏ,” ông Gardner thình lình nói. “Một bí mật nhỏ về nghề diễn. Trao đổi kinh nghiệm nhà nghề. Cũng đơn giản thôi. Anh phải biết một điều gì đó, điều gì cũng được, anh phải biết một điều gì đó về khán giả của anh. Một điều gì đó đủ cho anh có thể ngầm phân biệt được khán giả này với những người anh vừa hát cho nghe đêm hôm trước. Ta lấy ví dụ anh đang ở Milwaukee. Anh phải tự hỏi mình, có gì khác, có gì đặc biệt ở khán giả Milwaukee? Có gì khiến họ khác với khán giả Madison? Nếu không nghĩ ra được gì, anh cứ phải nghĩ tiếp đến lúc tìm được. Milwaukee, Milwaukee. Ở Milwaukee có món sườn lợn rất ngon. Chỉ thế là đủ, đấy là cái sẽ giúp anh khi bước ra sân khấu. Anh không cần phải nói ra với họ, chỉ cần giữ trong đầu khi anh hát cho họ nghe. Những người ở trước mặt anh đây, họ là những người vẫn hay ăn sườn hảo hạng. Họ có đòi hỏi rất cao đối với món sườn. Anh hiểu tôi nói gì không? Như thế khán giả trở thành một người mà anh hiểu, một người anh có thể biểu diễn cho nghe. Đấy, bí mật của tôi là thế. Trao đổi kinh nghiệm nhà nghề.”

“Vâng, cám ơn, thưa ông Gardner. Tôi chưa bao giờ nghĩ theo cách đó. Chỉ bảo của một người như ông, tôi sẽ không bao giờ quên.”

“Thế nên,” ông nói tiếp, “tối nay chúng ta đang biểu diễn cho Lindy. Lindy là khán giả. Thế nên tôi sẽ nói với anh gì đó về Lindy. Anh có muốn nghe về Lindy không?”

“Có chứ, thưa ông Gardner,” tôi nói. “Tôi hết sức muốn nghe về bà ấy.”

QUÊ HƯƠNG

 

Ôi lịch sử những dòng đời cay nghiệt,
Những tự hào hoá giải với oan khiên.(Trần Kiêm Đoàn)

 

Quê hương có gì để nhớ
Mà sao nước mắt lưng tròng?

1.

Quê hương. chiếc đò nho nhỏ
Qua sông. kham khổ từng ngày
Thân me vai gầy. gánh khổ
Thương con. chịu nổi đắng cay

 

Quê hương còn đầy thương nhớ
Ngoại nhai tóm tém trầu cay
Mẹ mày. thằng cháu mất dạy
Rong chơi lêu lổng suốt ngày

 

Quê hương làm sao không nhớ?
Cầu tre lắt lẻo sáng mai
Đường vui. trống trường réo gọi
Cây cao. chim hót từng bầy

 

Chia nhau từng viên đạn nhỏ
Bịt mắt. kiếm  tìm. Ai đây?
Chia nhau nỗi lo thầy gọi
Nhói đau. thước khẽ bàn tay
Chia nhau trái me keo  ngọt (+)
Chia nhau từng tiếng cười đầy

 

Quê hương làm sao không nhớ?
Dòng sông tuổi trẻ mênh mang
Bần de. phóng đùng. nước mát
Lặn tìm. chân bắt. la vang
Bờ sông. chị khàn tiếng gọi
Vết roi cha đánh. tím bầm!

 

2.

Quê hương đỏ màu phượng vĩ
Hè sang.   ve sầu khóc vang!
Tạ từ. lời ca ly biệt
Buồn trao lưu bút. lệ tràn!
Biết rồi mùa sau gặp lại?
Hay rồi đôi ngã ly tan!

 

Quê hương. buồn vui gác trọ
Thả hồn. giọng Khánh Ly khàn
Chia nhau. chút đầu thuốc vụn
Khói bay. theo khúc tình tan

 

3.

Bao năm đời này vẫn nhớ
Xuân nao. thay đổi phận người!
Bể dâu. biệt ly. mong đợi!
Khổ đau thay thế nụ cười!

 

Bao năm chém tre đẵn gỗ
Bạn bè. chết không nắm mồ!
Mẹ già vượt đồi núi khổ
Thăm con. lệ cạn mắt khô!

 

Con ơi. vợ con Kiều đó
Bán thân. lo giúp cho chồng!
Chữ Trinh. thôi đành phụ bạc!
Đoạn trường. con biết hay không?!

 

4.

Bao năm đời này vẫn nhớ
Đêm thâu. xuôi mái theo dòng
Người đi. không lời từ biệt
Buồn ơi. tím biếc dòng sông!

 

Quê hương ta ơi. thôi nhé!
Buồn ơi. nước mắt lưng tròng!
Rặng cây quê hương mờ bóng
Có còn gặp lại được không?

 

5.

Quê hương hoài mong thương nhớ
Cô thân. lưu lạc phuơng người
Chiều nay. nhớ dòng sông ấy
Lục bình hoa tím hoài trôi!

 

Quê hương ta ơi …đừng nhớ!
Muộn phiền. cay đắng mà thôi!
Cố quên. sao lòng vẫn nhớ!
Quê hương nhớ lắm… ơi người!

 

Quê hương còn gì để nhớ?
Buồn ơi. nước mắt lưng tròng!

Quê hương sẽ còn để nhớ?
Quê hương đáng nhớ không người?!

 

Nguyên Lạc                 

——————————————————————————————————–

Chú thích:

(+) Me nước hay còn gọi me keo, găng tây, keo tây (danh pháp khoa học: Pithecellobium dulce) là một loài thực vật có hoa trong họ Đậu (Fabaceae).

 

NGÀY THÁNG ẤY HỒN NHIÊN

 

1.

Đầu những năm 60, không rõ được cất từ thời nào mà một dãy phố trệt ở gần cuối đường Trần Quang Khải, khu Tân Định, trông rất cũ kỹ. Chiều chiều, quanh quẩn bên những gốc cây dầu, cây sao trên vỉa hè, bọn trẻ khu phố kéo nhau ra chơi đủ thứ trò. Có nhiều trò con gái con trai chơi chung như: trốn tìm, nhảy dây, lò cò, đánh đáo…, vài trò khác thì tụi con gái thường chỉ đứng xem mà rất hiếm khi tham gia, như: đá banh, bắn bi, bắn ná, u bắt mọi…

Cứ thế, hai đứa bạn hàng xóm lâu năm, chơi với nhau rất thân là hai tên nhóc ngang tuổi nhau, Hòa và Quan. Cũng hay đi chung, chơi chung với cặp bài trùng này còn có Kim, chị kề của Quan và chỉ lớn hơn 1 tuổi. Hòa cũng xem chị Kim như bạn học, do cả ba đứa đều học chung trường, chỉ khác lớp.

Hết lớp 5, cả ba đứa cùng đậu tiểu học, chị Kim đậu luôn vô lớp đệ thất trường công là trường nữ trung học Lê Văn Duyệt, gần lăng Ông Bà Chiểu. Còn bọn con trai, do đậu tiểu học xong là ham chơi suốt mấy tháng, không chịu ôn bài đàng hoàng nên đều rớt khi thi vào lớp đệ thất trường công Trần Lục, gần chợ Tân Định. Bố mẹ Hòa dễ dãi, cho con học trường tư, là trường Les Lauriers cũng gần nhà. Chỉ còn Quan, do bố mẹ cương quyết, bắt học lớp tiếp liên, dùi mài ôn tập để thi vào trường công lần nữa. Kết quả là, đành chịu chậm mất một năm, cậu mình lọt vào vào trường Trần Lục.

Thế là khi lên trung học, ba đứa bạn thân học ở ba trường khác nhau nhưng Hòa vẫn tiếp tục chơi thân với Quan và chị Kim. Sắp dậy thì, con gái trổ mã, cô chị của Quan cao hơn hai thằng con trai gần cả tấc. Lúc này ba đứa bắt đầu “ngao du” những chỗ mới, xa nhà hơn, như piscine Chi Lăng, piscine Đại Đồng, lăng Ông Bà Chiểu… Thú vị nhất là những địa điểm bên Dakao, tức vẫn gần nhà, lội bộ một lát cũng tới, như: tiệm thạch chè Hiển Khánh cạnh rạp ciné Casino Dakao, mấy chỗ bên đường Hiền Vương là đền thờ Hưng Đạo vương, đất thánh Tây cùng đất thánh Chà, rồi chùa Ngọc Hoàng… Vui nhất là vô chùa Ngọc Hoàng, bứt lá cây thả xuống cái hồ nước xanh lè cho mấy chú rùa ăn. Gần cổng chùa lại có một lớp dạy Anh ngữ buổi tối, ban ngày thường ơ thờ quên khóa cửa phòng học, cả bọn lẻn vào, ban đầu chỉ ngồi chơi, sau lén lấy về cả hộp phấn viết bảng. Cái trò “trộm vặt” chẳng đáng gì nhưng lại vui vui, dù cái giá phải trả là trên đường về Quan cứ hồi họp úm, che cái hộp dấu trong áo. Cả bọn đều lo lắng, ngó dáo dác, sợ người của lớp học biết đâu lại đột nhiên xuất hiện và bắt tại trận…

Lúc này, tính khí của mỗi đứa đã định hình khá rõ rệt. Quan lúc nào cũng suy nghĩ thực tế, nhanh nhẹn, tháo vát, nhiều sáng kiến. Chị Kim thì thông minh, tế nhị, cứng cỏi, hướng ngoại, nhiều lúc không hề ngại tỏ vẻ “đàn chị” đối với hai cậu em. Hòa thì ôn hòa nhất trong bọn, hay hướng nội, mơ mộng và hiếu cảm. Được nhất là cả ba đều học giỏi đều các môn nên thường xuyên đứng hạng thứ cao trong lớp. Đáng khen hơn nữa, cả ba đứa học giỏi đều do trí thông minh hay năng khiếu riêng – Quan giỏi trội nhất là môn toán, Hòa, chị Kim trội nhất môn Anh ngữ và Hòa trội nhất về môn văn –  cộng thêm trí nhớ tốt chứ chẳng đứa nào chịu cần cù, học gạo. Sở trường của mỗi đứa là như thế nhưng trong bụng lúc nào Hòa cũng thầm nể cái tánh cứ-như-con-trai của chị Kim. Cậu mình phục lăn chị bạn, đã lúc nào cũng nói nhanh và bước đi nhanh, mà nắm bắt, phán đoán chuyện gì cũng vừa nhanh nhạy vừa xác đáng.

 

2.

Năm Hòa và chị Kim thi tú tải hai, Quan thi tú tài nhất thì ba mẹ Hòa dọn nhà qua Bà Chiểu. Từ đó, cứ cách hai, ba ngày là Hòa lại qua Tân Định ghé chơi cả buổi, có khi ở lại ăn cơm với gia đình Quan, chị Kim. Lúc này, về ngoại hình, con gái con trai gì cũng thay đổi, nở nang hơn, đường nét mạnh mẽ hơn hoặc thướt tha hơn. Con trai nhổ giò nên đã lấy lại danh dự nam nhi, không chịu thấp hơn con gái nữa, ngược lại còn cao hơn vài phân. Còn về nội tâm, cô thiếu nữ 18 tuổi, thon thả, duyên dáng, đã có cả một vũ trụ tâm tưởng riêng tư của con gái nên đã ít đi chơi, ít sinh hoạt chung với hai cậu em.

Vẫn tánh quyết đoán và sớm chín chắn so với lứa tuổi, trong trường chị Kim đã được bầu làm trưởng lớp liên tục hai niên khóa. Cũng từ cái tính hướng ngoại, thích tham gia hoạt động xã hội, chị Kim đã dẫn dắt hai cậu em cùng vào sinh hoạt trong một nhóm tín đồ đạo Mormon, cùng có thêm vài người bạn mới, đó là những người Mỹ làm việc cả bên dân sự lẫn bên quân đội. Hầu hết trong nhóm này thuộc giới trẻ, hiếu động và rất ham vui, ngày nghỉ cuối tuần thường tổ chức party. Hòa, Quan, chị Kim theo ngay một lớp học khiêu vũ do họ tổ chức, tất nhiên miễn phí và không buộc phải về xin phép phụ huynh. Tại lớp, rất dễ nhận ra năng khiếu đối với môn khiêu vũ cứ như sẵn có ngay từ lúc mới chào đời của chị Kim và Hòa. Học đến điệu nhảy cổ điền hay tân thời nào cả hai cũng thành thạo rất nhanh, bước đi uyển chuyển, quay người gọn, đẹp… Còn Quan – “nhà” toán học, giỏi luôn về khoa cơ khí, máy móc – lại có phần vụng về, tập bước căn bản tương đối chậm, cũng nắm bắt khá chậm các kiểu fantasy.

Trong đêm party đầu Kim, dù nhảy khá thạo, đủ tự tin nhưng ban đầu Hòa vẫn hơi bị trục trặc bởi tính nhút nhát và nhạy cảm không đúng lúc, đúng chỗ. Khi sắp ôm eo những cô gái cùng nhảy, cậu mình rất hồi hộp, tim đập dồn dập, thậm chí lòng bàn tay xuất mổ hôi ướt rượt. Kỳ cục là những xáo trộn tâm lý lẫn sinh lý ấy xảy ra luôn cả khi Hòa tiếp cận với “phe ta”, “đào nhà” là chị Kim.

Suốt cuộc đời, Hòa không bao giờ quên người con gái đầu tiên cùng khiêu vũ với mình chính là chị Kim. Còn hơn thế, cô gái này và Hòa còn là một cặp bài trùng cho những bước tập đầu tiên rồi suốt cả lớp khiêu vũ. Tuy nhiên, ở giai đoạn còn học nhảy với nhau, có vũ sư theo dõi sát bên, Hòa chỉ chú ý, tập trung cả đầu óc lẫn thân thể để bước sao cho đúng cách và đúng nhịp hoặc quay sao cho khéo, không còn tâm trí đâu mà cảm nhận xem đang ôm ai trong tay… Đến đêm party  đầu tiên, để mở hàng cho “sự nghiệp” khiêu vũ của mình, Hòa mời ngay chị Kim. Cậu mình tính toán rằng nhảy với “đào nhà” thì lỡ có va vấp cũng đỡ sượng. Hơn nữa, chị Kim cho thấy nhảy đã khá vững, nếu “kép” có trật bước, trật nhịp thì chị cũng có thể nương theo, cùng chỉnh đốn lại được.

Đầu Kim, đôi bạn ra piste thì đúng lúc bản Perfedia trổi lên cho khách nhảy tua Chachacha. Điệu nhảy khỏi-ôm-đào này dễ ăn và bình an vô sự, miễn đừng bước nhầm phương hướng, “nhập vô, dạt ra” như kéo đàn accordéon hay dẫm chân người ta. Kế đó, Hòa và chị Kim đứng yên ở piste nhảy và ôm nhau khi ca khúc The First of May trổi lên với điệu Ballade.

Mọi sự có vẻ vẫn ổn. Vòng tay Hòa ôm chị Kim đang vừa phải, không lỏng cũng không xiết, đúng phép xã giao theo bài bản.

Nhưng kìa, cậu con trai chợt cảm nhận một điều gì đó là lạ, hay hay. Không còn là chuyện hai đứa bạn – một là con trai, một là con gái – hồn nhiên ôm nhau như vật lộn trong trò chơi u bắt mọi của tụi con nít ngày nào nữa. Cái trò chơi mạnh bạo thời niên thiếu ấy đã buộc Hòa, đã chọn một phe thì ở phe phải tuôn dầm mồ hôi, vất vả ôm ghịt lấy mình mẫy đối thủ bên phe kia – bất kỳ thằng nào, con nào – cho nó bất động tại chỗ thì mình cùng phe mình mới thắng…

Giờ đây, cuộc đời như đã bí ẩn thay đổi trong vòng tay Hòa. Cũng là thân hình con gái, đứa bạn gái gầy nhom mà Hòa đã kết thân qua không biết bao nhiêu trò chơi ngây thơ hồi nhỏ – nhưng giờ đây, thân chị Kim thật mềm mại, thon thả, cứ như được ai đó tính toán thật khéo cho đúng mực mảnh mai, đang không quá béo cũng không quá gầy mà chỉ thật vừa vặn với vòng tay ôm của cậu con trai, dịu dàng cận kề một cách thật êm ái, ngọt ngào.

“Don’t ask me why, but time has passed us by/ Some one else moved in from far
away”
, lời ca khúc cũng đang rất hợp với tâm trạng ngỡ ngàng của Hòa lúc này.

Trong ánh sáng mờ ảo, huyền hoặc của phòng nhảy, nhiều lúc hai bạn nhảy lặng thinh nhìn vào mắt nhau. Chị Kim mỉm cười nhè nhẹ. Hòa xao xuyến đến lặng người, bởi chưa bao giờ thấy cô bạn cười đẹp và dễ thương đến vậy. Và xao xuyến đến đâm ra sợ hãi sức quyến rũ của nụ cười con gái, cứ chốc lát Hòa lại nhìn tránh sang chỗ khác, không dám nhìn quá lâu khuôn mặt con gái quen-mà-lạ cận kề, lại còn thoảng thoảng mùi nước hoa ma mị gì đó…

Bản nhạc dứt đã lâu, cậu con trai mới lớn cứ như vẫn còn đắm hồn trong một cơn mê kỳ lạ. Hòa mơ hồ cảm thấy, sau đêm khiêu vũ nầy, tuồng như những cảm xúc tinh khôi, mượt mà với con gái trên đời này, cụ thể là với chị Kim, bởi mới mẻ, sâu lắng quá nên chắc sẽ còn vang vọng, ray rức thật lâu nữa trong cuộc sống của mình những ngày tới…

 

3.

Năm đầu đại học, Hòa vào trường Văn Khoa và chọn ban triết, chị Kim vào trường Vạn Hạnh, học ban khoa học xã hội. Qua những lần đến nhà chơi với hai chị em Quan, tình cờ Hòa thấy hai anh chàng trắng trẻo, cùng đeo kính cận gọng vàng, một anh đi xe Vespa Italy, anh kia đi chiếc Honda 90 phân khối, hết anh này đến anh kia cứ đến tìm chị Kim hoài. Tình cờ gặp lúc chị Kim tiếp bạn, Hòa ngồi trên gác với Quan, nghe loáng thoáng cô gái Bắc đáo để trong nhà chuyện trò một mực ngọt ngào, rôm rã, với bất cứ anh chàng cây si nào khi đến lượt tiếp chuyện đối tượng. Hai cậu em, dù thuộc loại vừa hiền vừa khờ về chuyện con trai con gái yêu đương, bồ bịch nhưng nào chịu im, cứ om xòm bình luận với nhau về tình hình ở phòng khách. Đoán mò, đoán suông mãi cũng chán, bèn bắt cá, Quan cho rằng chị mình sẽ chọn tên Honda 90, Hòa ngược lại, cho là chi Kim thích tên Vespa hơn.

Rốt cuộc, trong một bữa đi ăn chè Hiển Khánh, bị “thắc mắc đời tư” mãi nên chị Kim hơi bực, tiết lộ luôn một hơi nhưng thật ngắn gọn vừa đủ nghe, rằng đó là hai tên bạn sinh viên lớp trên trong trường. Theo nhận xét đã đủ chín chắn của cô gái, cả hai bạn trai này đều thuộc loại thiếu gia con nhà giàu, đều lịch sự và cư xử đàng hoàng, chỉ tiếc rằng một anh thì có tính “thùng rỗng kêu to”, hoang tưởng về chính mình, còn anh kia chưa chi đã lộ ra tính độc tài, gia trưởng. Do đó,“Là bạn, bạn tốt thôi, không bồ bịch, iu iếc gì cả!”, chị Kim bình thản kết luận.

Một ngày nọ, Hòa ngỡ ngàng nhận được tin vui. Quan báo cho biết chị Kim vừa đột ngột nhận lời cầu hôn của một người Mỹ. Hòa cũng biết sơ về anh chàng này. Đó là một thanh niên có vẻ cũng bình thường thôi trong nhóm đạo Mormon, giờ Hòa mới được biết rõ hơn: anh là đại úy hải quân, họ hàng gần với một vị đô đốc hải quân Hoa Kỳ.

Ngày đám cưới, buổi sáng Hòa bận đi học nên không dự các nghi thức hôn lễ, chỉ dự tiệc cưới ở khách sạn/nhà hàng Majestic buổi tối. Đường Trần Quang Khải náo động như muốn kẹt xe khi cả một đoàn xe Ford quân đội, sơn màu xanh đen của quân cảnh Mỹ rộn rịp tới lui, đậu la liệt trước căn nhà trệt xoàng xỉnh của đàn gái. Chợt mưa thật lớn, mấy anh MP Mỹ cao lớn phải bung dù, che đưa từng vị khách  ra xe… Xe chạy, Hòa cảm thấy êm như ngồi trên máy bay. Nhìn qua lớp kính xe màu thật tối, cảnh tượng đường phố trong mưa cứ loang loáng lướt qua như ảo ảnh…

Đại sảnh của khách sạn choáng ngợp ánh sáng. Cô dâu, chú rể mặc áo dài cổ truyền VN thật rực rỡ, tươi cười đứng chào khách. Trang điểm tuyệt mỹ nhưng chị Kim vẫn không dấu được vẻ mệt mỏi trên gương mặt. Hòa tréo hai cánh tay mình để bắt tay một lượt cả chú rể lẫn cô dâu. Nằm gọn trong bàn tay Hòa, bàn tay đã tháo găng của chị Kim nhỏ nhắn, lạnh lẽo đến tội nghiệp. Hòa hướng về chú rể, nói chưa hết câu chúc tân hôn tiếng Anh thì chợt cảm thấy chị Kim khẽ xiết mạnh bàn tay mình, Hòa xoay qua nhìn thì nghe giọng thầm thì “Hòa mi Kim cái đi! Hòa nhé…”. Cô dâu vừa nói vừa dùng ngón tay gõ nhẹ vào gò má mình, ánh mắt long lanh…

Hòa sửng sốt, buông bàn tay chú rể, chỉ giữ bàn tay cô dâu nhưng vẫn đứng im như một chàng ngố, chỉ biết nhìn chăm chăm vào mắt anh chồng người Mỹ, như thể xem anh phản ứng ra sao trước đề nghị của vợ mình. Kìa, anh ta cười vô tư, thoải mái, nói “OK! OK!”, còn gật gật đầu.

Tim đập thình thịch, Hòa vụng về hôn thật nhẹ lên má chị Kim. Cô dâu còn bắt cậu bạn hôn cả bên má còn lại của mình xong mới chịu buông tay, thả tự do cho chàng ngố.

Hòa đã từng biết, từng thấy người phương Tây, chỉ là bạn bè nhưng nam nữ vẫn thường ôm nhau, hôn nhau trên má khi gặp gỡ, tạm biệt, chúc mừng, chia sẻ nỗi niềm… Nhưng vừa rồi, Hòa vẫn hồi hộp, lúng túng khi hôn chị Kim – coi như công dân Hoa Kỳ đến nơi, do đây là lần đầu tiên của đời trai trẻ, Hòa được một cô gái cho phép ôm hôn. Còn chàng rể, đã sinh ra và lớn lên trong xã hội Âu Mỹ, tất nhiên chẳng có vấn đề gì khi chứng kiến một người đàn ông – cũng là bạn thân của vợ mình – vừa ôm hôn nàng. Anh chàng còn vỗ tay cười như thích chí tán thưởng nữa kìa.

Tiệc cưới linh đình của chị Kim diễn ra trong cảnh trí hoành tráng, sang trọng ngoài sức tưởng tượng của Hòa, bởi do là con cái một gia đình chỉ thuộc hàng trung lưu bậc dưới, từ nhỏ đến giờ cậu mình rất hiếm khi được lui tới nơi cao sang của giới thượng lưu như khách sạn cỡ này. Bên cạnh đó, đại tiệc kiểu Âu Mỹ hết sức sang trọng, bàn ăn kiểu dài thườn thượt, thực khách của một bàn đến mấy chục người cứ ngồi đối diện nhau, tức không phải kiểu ngồi thành vòng tròn với kiểu bàn chỉ 12 ghế ở nhà hàng Tàu. Được bố tập cho từ ở nhà, Hòa sử dụng dao, nĩa cũng coi như thành thạo, nhưng cậu mình không thể hiểu hết những cái tên tiếng Anh xa lạ trên menu vì tiệc đãi rất nhiều món Tây và có vài món rất cầu kỳ.

Rốt cuộc, cậu con trai rời khỏi buổi tiệc cưới chị bạn với ngổn ngang nhiều nỗi ngỡ ngàng, bâng khuâng. Cùng một lượt, nhiều thứ hoàn toàn mới mẻ rủ nhau đâm sầm vào tâm tưởng của Hòa.

Cậu con trai mơ hồ nhận ra rằng, thật hạnh phúc, sung sướng khi lần đầu tiên trong đời được có mặt trong một khung cảnh thượng lưu, quyền quý tột cùng và được thưởng thức món ngon vật lạ thừa mứa, nhưng vượt lên trên mọi thứ vật chất cao sang ấy, cái quý giá, sâu lắng hơn hết trong đêm nay không gì khác hơn niềm cảm xúc ngọt lịm, lâng lâng đến muốn bay bổng khi lần đầu tiên trong đời mình được hôn con gái.

 

4.

Đám cưới đã xong xuôi, chiều hôm sau Hòa rảnh rỗi bèn lấy xe qua Tân Định tìm Quân chơi thì Quân vắng nhà và tình cờ có chị Kim về nhà ăn cơm tối với gia đình. Hòa chào bác trai để ra về thì chợt bác gái ở nhà dưới bước lên, bảo nhỏ:

“Cái Kim đang ốm, nằm trên gác nghe tiếng con, nó bảo con lên gác, nó nói gì đấy”.

Trong ánh sáng nhợt nhạt buổi chiều, căn gác – nơi chốn rất quen thuộc với Hòa vì từ lâu cậu đã có mặt tại đây trong rất nhiều sinh hoạt, từ học nhóm, chơi đùa, nghịch ngợm cho đến ăn vặt, uống cà phê với chủ nhà – bỗng dưng im ắng lạ thường. Hơn thế, Hòa như khựng lại khi thấy chị Kim nằm sóng soãi trên chiếc giường nhỏ, quần sọt, áo thun mong manh, trễ tràng. Khi Hòa lấy chiếc ghế nhỏ, ý tứ ngồi tuốt ở phía chân giường như thủ thế thì cô gái lại vất luôn sang bên cái gối nhỏ đang phủ trên ngực. Như bị điện giật, Hòa vội vàng nhìn tránh vào vách.

Cậu trai hiền, chưa hề biết mùi tình dục, vô cùng xốn xang khi thoáng thấy mờ mờ ảo ảo khuôn ngực lồ lộ không áo lót và cặp giò thuôn dài của cô gái – đúng hơn là của một người đàn bà trẻ, mới động phòng hôm qua.

Lúng túng quá nhưng Hòa cũng ráng lên tiếng:

“Chị ốm hả? Có uống thuốc gì chưa?”

Cô gái vẫn nằm nghiêng, chỉ chống tay đỡ một bên má và đáp khẽ:

“Kim chỉ hơi nặng đầu, dã dượi thôi”, rồi bảo Hòa ngồi sát lại hơn. “Mà… Hòa đừng gọi Kim là chị nữa, gọi Kim thôi là được rồi”

Hóa ngơ ngác:

“Là sao chị Kim? Chị là chị Quan mà. Lại lớn hơn Hòa…”

Chị Kim phật ý, ngắt lời:

“Đã bảo đừng gọi Kim là chị cơ mà! Tụi mình chơi thân với nhau bao năm rồi, nay Kim lấy chồng, sắp đi thật xa nữa, nên Kim muốn mang theo một tình cảm thật dễ thương duy nhất của thời con gái, là Hòa đấy!”

Từ lúc này, xen giữa những quãng lặng kéo dài khá lâu, chốc lát cô gái lại phải gợi chuyện, lên tiếng nói, hỏi gì đó vì cậu trai chỉ biết im lặng và thỉnh thoảng còn phải lo tránh ánh mắt rất lạ của cô gái cứ đăm đăm nhìn mình.

Chị Kim giải thích bâng quơ gì đó, bảo rằng ai mà muốn lấy chồng, chỉ là bố mẹ ở nhà – nhất làm mẹ – đã theo dài hơi thuyết phục con gái mình không cần phải suy nghĩ, đắn đo gì cả, bởi không thể dại dột bỏ qua một đám có tương lai huy hoàng đến như thế…

Trời tối nhờ nhợ, Hòa đứng dậy định mở đèn nhưng chị Kim không cho. Cô gái lại nói tiếp… Có lúc Hòa đành chịu, không hiểu ý của Kim muốn nói gì nhưng Hòa vẫn bàng hoàng lắng nghe. Cậu con trai càng bàng hoàng, rối tung trong lòng khi cảm thấy bàn tay ẩm lạnh của cô gái xiết nhè nhẹ bàn tay mình rồi nắm mãi không buông…

Sau buổi chiều ngồi với chị Kim trên căn gác, cứ mỗi lúc Hòa chợt nghĩ về cô gái là một nỗi xao xuyến lạ thường lại choáng ngợp tâm tưởng, khiến cậu con trai mới lớn cảm thấy vừa phiền muộn không đâu vừa mệt mỏi mơ hồ, đến nỗi gần như rũ liệt. Hòa nằm lì trong phòng, không thể nào ra phi trường tiễn chị Kim theo chồng về nước Mỹ xa vời vợi kia…

 

PHẠM NGA

Tháng 10/2017

Một Thoáng Gió Thôi

 

Một thoáng gió thôi, làn gió thoảng
Bay qua em, thổi
Tóc em bay…
Em bay theo gió
Anh theo tóc
Để nhớ thương em
trọn một ngày…

Một thoáng gió thôi mà cũng động
Tim người. Em biết tại sao không?
Nếu mình đừng gặp nhau chiều ấy
Đừng tóc em bay, gió bập bồng…

Một thoáng gió thôi mà mắc cỡ
Ai hôn em vậy? Gió hôn em!
Tại sao anh vẫn người xa lạ
Để gió hôn em, để đứng nhìn?

Nếu tóc em đừng bay mênh mông
Em mười bảy tuổi đừng qua sông…
Chao ôi thương quá người con gái
Ba Mạ ham chi: Bắt lấy chồng?

Nam Phổ từ khi vắng một người
Tôi về quạnh quẽ ngó mây trôi
Sông Hương núi Ngự vua ngồi đó
Chắc thấy thần dân…
Đứng ngậm ngùi?

Trần Vấn Lệ

KHẮC KHOẢI ÂU THỊ PHỤC AN

 

 

 

“Tôi dướn người về phía trước làm như đáp trả lại nụ hôn vội vàng của Vị  nhưng thật ra để tránh cho phiến lưng bị chàng ép mãi vào vách”.

(Phục An)

Truyện ngắn đầu tay của Âu Thị Phục An có tựa “Những Ngày Không Định Trước”, do Mai Thảo chọn đăng trên giai phẩm Văn số ra ngày 19.10.1974. (Sau truyện ngắn này, tạp chí Văn liên tục đăng 3 truyện khác của chị: “Thăm Viếng”, “Màu Áo Hẹn” và “Bên Kia Mùa Hè”).

Trước đó, chị có thơ, văn đăng rải rác trên Tuổi Ngọc, nhật báo Dân Chủ và các báo văn nghệ ở Sài Gòn, nhưng phải đợi đến lần xuất hiện này, độc giả mới biết thêm một cây bút nữ còn trẻ là Âu Thị Phục An. Nói biết thêm, bởi cách viết của cô sinh viên ban Triết, Đại học Văn khoa Sài Gòn không có kiểu cách làm dáng, khô cứng thường thấy ở các cây bút mang khuynh hướng dùng ngôn ngữ “triết học tra tấn văn chương”. Văn chị cứ “tỉnh queo” đến lạnh lùng trong những tình huống mà lẽ ra là đón đợi những vồn vập, rực cháy, những háo hức nồng nàn… Đọc những truyện ngắn của chị, nhiều khi tôi nghĩ, chị như một kẻ lữ hành trên con đường vắng, không có người đồng hành để trò chuyện, đành phải dồn nén lại. Sự dồn nén đó cứ lướt thướt trôi theo dòng suy nghĩ chảy xọc vào ngòi bút, giống như một thỏi băng tan chảy.

Truyện ngắn đầu tay “Những Ngày Không Định Trước” có cấu trúc dạng nhật ký nhằm giãi bày tâm trạng của một cô gái trẻ, chính xác là một nữ sinh bậc cuối trung học đang bước vào những ngày cuối cùng của kỳ thi Tú Tài và đang đón đợi người sẽ là chồng tương lai. Lẫn lộn giữa chuyện thi cử, đậu rớt “chẳng mừng lắm” và “chẳng hề buồn hoặc toan tính…” là tâm trạng chờ đợi và chẳng chờ đợi gì về chuyến gặp mặt người yêu, ở một nơi đóng quân nào đó, sẽ đến nhà thăm gia đình nàng. Tình yêu của cô nữ sinh trung học với anh chàng quân nhân tên Thăng lơ lửng một cách lạnh lẽo. Họ gần bên nhau mà như xa cách nhau, không hề biểu lộ một tình cảm đặc biệt của những kẻ khao khát yêu, khắc khoải đợi chờ những nụ hôn cháy bỏng. Cứ giả định rằng, nếu Thăng không đến, hẳn cô gái kia cũng chẳng băn khoăn đặt những câu hỏi tại sao. Bởi có gặp hay không thì cũng như chuyện đậu và rớt Tú Tài vậy thôi trong suy nghĩ của cô trước đó.

Trong khoảng thời gian chờ đợi, quanh quẩn trong đầu óc nàng là những hoài nghi. Nàng cố gắng lý giải về mối tình đầu. Mối tình này có “tồn tại” hay không “tồn tại” trong cô. Thăng có thật là chồng tương lai? Và cô, cuối cùng chỉ còn lại mối hoài nghi cứ ngày càng trương phình lên: “Tôi chịu không biết ra sao cả cũng như nhiều lần tự hỏi tôi yêu Thăng, chúng tôi có thật yêu nhau hay mỗi đứa chỉ yêu những điều lý thú do cuộc tình này mang lại”.

Cách lý luận, suy nghĩ của cô gái hơi lạ và ngược đời khi tách tình yêu thành hai mảnh thật và không thật. Hai mảnh đó nảy sinh ra “những điều lý thú do cuộc tình này mang lại” như là mệnh đề tiên quyết để biết “có thật yêu nhau”. Như vậy, cô gái trẻ đã phân thân với những thắc mắc, những cật vấn về mối tình, mà ngay cả chính bản thân cô ta cũng không chắc chắn lắm!

Trong truyện không hề thấy có một dòng chữ nào, theo dạng “lỡ mai anh chết em có buồn không”, hay: “Mai anh về trên đôi nạng gỗ / Bại tướng về làm gã cụt chân – Linh Phương”. Các chi tiết trong truyện không đẩy lên theo kết cấu kịch. Nó cứ lặng lẽ chảy như một dòng nước nhỏ, vừa vặn cho kích thước tra hỏi. Bóng dáng vật vờ giữa yêu hay chưa yêu luôn xuất hiện trong đầu cô gái trẻ, đôi lúc như một trò chơi, có cũng được, nếu không cũng chẳng mất gì. Mà cũng đúng thôi, bởi truyện được viết xong vào tháng 7 năm 1974 tại Bạc Liêu, khi mà bối cảnh cuộc chiến miền Nam đang lúc cao trào cho những đợt tấn công, phản kích sau khi hiệp định Paris bị vất sang bên để cả hai phía bắt tay nói với nhau bằng súng đạn. Tâm trạng hoài nghi, nỗi thất vọng, mệt mỏi có dịp bùng lên ở cách sống, cách ăn nói, suy nghĩ của thanh niên thời bấy giờ. Ngay chính những tình cảm liên quan đến cuộc sống và bản thân, họ cũng không hề tin là có thật: “Thăng vẫn không thay đổi thế ngồi, thế ngồi làm chúng tôi gần như đưa lưng về nhau”.

Thế hệ trẻ thời đó đã đánh mất niềm tin chăng? Họ mệt mỏi chán ngán chăng? Họ lúng túng một cách khá vất vả khi tìm kiếm và đối mặt với những sự thật chăng? Có thể là vậy, bởi đời sống bên ngoài đã lấy đi của họ tất cả, chỉ chừa lại nỗi hoài nghi sưng tấy lên, ngày mỗi đầy trong đầu óc: “Có phải yêu nhau là tổ chức những đuổi bắt miệt mài là tìm kiếm một điều đã gặp nhưng không cho là điều tìm kiếm. Tôi chợt rùng mình sợ hãi khi chợt nhận thấy mình như một con kiến bò quanh quẩn mãi trong một vòng tròn rất rộng”.

Truyện không có gì mới, vẫn theo motif chàng là quân nhân, nàng là nữ sinh, yêu nhau. Nhưng có cái lạ là sự lạnh lùng ở cả hai nhân vật cân bằng nhau, đến độ gần như dửng dưng, tàn nhẫn. Họ có vẻ như già trước tuổi. Già ở tính cách và già cả tâm hồn! Đọc lại lần nữa, mới hay chị luôn đặt bên cạnh ngòi bút của mình những dấu hỏi to tướng, chẳng có câu trả lời: “Đậu, rớt, những tên gọi, những dấu hỏi vẽ lên không hề đem theo được một hình ảnh vui buồn nào. Lạ không?

 

Nhưng phải đợi đến 4 tháng sau, khi truyện ngắn “Thăm Viếng” đăng trên giai phẩm Văn, số đặc biệt Văn Chương Nữ Giới ra ngày 1.2.1975, cùng với các đàn chị Nguyễn Thị Vinh, Trần Thị Tuệ Mai, Hoàng Hương Trang, Trùng Dương, Nguyễn Thị Ngọc Minh, Trần Thị NgH. thì độc giả mới thực sự chú ý đến cái tên Âu Thị Phục An. Nói chú ý bởi cấu trúc và nội dung câu truyện càng lạnh hơn; lạnh như một thỏi thép bỏ vãi đâu đó sau chái nhà.

“Thăm Viếng” thuộc thể văn kể chuyện. Nhân vật chính xưng tôi (cùng em gái người yêu) đi thăm vị hôn phu đang thụ huấn tại quân trường Thủ Đức. Ngay những dòng đầu tiên của truyện, dường như chị đã báo trước cho người đọc sẽ có điều gì đó khác hẳn những cuộc thăm viếng thông thường của những cặp tình nhân với bao nỗi chờ mong, khao khát, nhớ nhung… bằng những dòng chữ tỉnh táo đến sắc lạnh: “Lần đầu tiên, cùng với Viên lên thăm Vị ở quân trường ngày chủ nhật, lúc ấy tôi đã là vợ chưa cưới của chàng rồi”. Tính cách của “tôi”, hoặc vì quá thông minh, hoặc được thụ hưởng tính cách giáo dục của một gia đình nền nếp, nên “tôi” chỉ quan sát, đứng ngoài mà quan sát, rồi để cho cảm xúc trườn qua sự quan sát ấy với một ý thức xẻ ngang giữa tỉnh táo và đông cứng, đôi khi như tách biệt, đứng hẳn ra ngoài rìa sự thăng hoa của loại tình cảm bị dồn ứ của các nhân vật phụ “tôi chỉ thấy tội nghiệp cho mọi người”, khi tận mắt nhìn thấy: “…những bóng mát tạm bợ và một vài chiếc lều được dựng vội vã nên trống trải và xiêu vẹo che giấu một cách hời hợt những cặp tình nhân nằm với nhau bên trong. Những cặp tình nhân hôn nhau, vuốt ve một cách tự nhiên như chung quanh họ là một nơi riêng biệt vậy”. Ngoại cảnh đã tạt gáo nước lạnh buốt vào tâm giới “tôi”, để nảy bật ra thứ tình cảm không mấy thân thiện. “Tôi” bị nhìn thấy về mọi sự diễn ra bên ngoài cho đến lúc “tôi” tự nhìn lại “tôi” trong một khung cảnh đầy bất ngờ không kém. Đó là lúc Vị tách “tôi” ra khỏi em gái anh ta, đưa vào một gian buồng và “tôi” đã dùng sức mạnh lý trí đến mức tối đa để làm co quắp tình cảm đang cháy bùng trong người. Bởi “tôi đủ thông minh hiểu để không hỏi han gì”. Có thể và không hẳn là mặc cảm phạm tội, nhưng trước đó “tôi” đã nhìn thấy cảnh phô diễn thứ tình cảm “nhếch nhác” rất tự nhiên ngoài khu tiếp tân khóa sinh, khiến sự liên tưởng càng trở nên mạnh mẽ hơn với chỗ hai người đang đứng: “Một căn phòng tắm lộ thiên, có thùng đựng nước, có quần áo lót của đàn bà vắt bừa bãi trên dây”. Cú chạm mặt hơi bất ngờ vào vị trí hai người sắp yêu nhau khiến “tôi” càng lúc càng rơi vào trạng thái căng cứng đến khó chịu. Ngay cả khi hai người đang hôn nhau nơi không mấy sạch sẽ và thơ mộng kia, thì sự tỉnh táo trong con người “tôi” vẫn luôn chiếm ưu thế. Những rung động thân xác khi trao đổi nhau những nụ hôn khắc khoải đợi chờ của Vị đã bị “tôi” đẩy xuống, nằm bẹp dí ở chỗ cái khóa soutien. Cảm giác đau nổi lên thật mạnh mẽ, thế chỗ cho những ngọt ngào, nồng cháy… Nó lấn át cả sự háo hức, đón đợi nơi người bạn trai để cuối cùng tạo thành mối tương quan cộng hưởng giả tạo ở động tác “dướn người”: “Vị quay lại. Chàng hôn tôi. Bỗng tôi cảm thấy đau nhói lên ở phía sau lưng vì chiếc soutien bị cấn vào vách ván. Tôi dướn người về phía trước làm như đáp trả lại nụ hôn vội vàng của Vị nhưng thật ra để tránh cho phiến lưng bị chàng ép mãi vào vách”.

Viết một cách trần trụi như thế này, nhất là một nhà văn nữ, hẳn nhiên sẽ gợi sự tò mò đối với người đọc. Nhưng để cho sự trần trụi không làm “tổn thương” đến các nhân vật trong truyện, chị đã khéo léo che giấu đi những nhục cảm khi “tôi dướn người về phía trước”. Động tác ấy không phải là sự cộng hưởng, đáp trả mà tác động bởi khóa móc soutien. Vị thì không nhận biết ở chỗ một đằng cái khoái cảm bị đè xuống, đằng kia thì cứ bốc cao lên. Một sự lừa dối ngọt ngào!

Trong quyển Văn học miền Nam, tập Tổng quan, Võ Phiến có nhắc nhiều lần cái cynique trong văn học và ông cho trâng tráo là cách viết, cách nói cực đoan của tinh thần hoài nghi, thể hiện rất rõ thông qua các nhân vật của Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Trần Thị NgH., Lệ Hằng… Và, đấy là hậu quả của “chiến tranh và hỗn loạn, hoàn cảnh xã hội của giai đoạn 64-75 tạo cho người ta một lối sống khác hẳn trước” (sđd, trg 292). Nhận xét này cũng có phần có cái lý của nó, khi mà tầng lớp thanh niên có học luôn tự dằn vặt về những tha nhân, thượng đế, tồn tại hay không tồn tại, những khách thể và chủ thể, sống và chết… trong bối cảnh đất nước loạn lạc, đều ít nhiều ảnh hưởng bởi trào lưu triết học hiện sinh của Pháp từ giữa thế kỷ XX.

Hiện tượng này cũng dần lấp ló nơi một Âu Thị Phục An bắt đầu bước chân vào làng văn với cái cynique đầu tiên trong truyện ngắn đầu tiên của chị, tuy có nhẹ nhàng hơn, kín đáo hơn các nhà văn nữ đi trước. Mà cũng có thể là chị biết điểm dừng, biết kềm chế, không để cho sự “nổi loạn”, cái trâng tráo của bản thân đi quá xa, khiến người đọc (thuở đó) bỗng có chút giật mình như cái kết ở truyện thứ hai này? “Thăm viếng lần nữa? Ồ, không ai đủ can đảm đưa tay đập vào vết thương của mình lần thứ hai. Không bao giờ. Căn phòng tắm lộ thiên. Cái móc soutien bị cấn và trăm ngàn nỗi cùng quẫn trong đầu… Không bao giờ. Tôi im lặng nghe Viên an ủi. Im lặng vì không biết phải phân bày như thế nào. Mà dù có phân bày chắc Viên cũng không thể nào tin được việc ấy đã xảy ra”.

Cả giới văn nghệ lẫn độc giả chờ đợi ở sự bứt phá của Phục An, như họ đã từng trông đợi sự thành công của những Túy Hồng, Trùng Dương, Nhã Ca… và gần hơn là Trần Thị NgH., Lệ Hằng. Nhưng tất cả đều đặt dấu chấm hết, kể cả người viết mới lẫn những nhà văn đã thành danh, sau ngày 30.4. Một quãng lặng khá dài, không ai cầm nổi bút, ngoại trừ một số rất ít…

Phục An cũng nằm trong số đó và chị chỉ viết trở lại chừng 5, 3 năm nay với hơn 10 truyện ngắn, nhưng phong cách thì không còn giữ được như trước 75! Tất cả các truyện ở giai đoạn này, hầu như nói về bạn bè một thời. Vị trí của họ bị thay đổi. Họ lao vào các công việc chân tay để mưu sinh; họ thất chí, rượu chè bệnh tật và cái chết (“Dù Chỉ Một Lần Cũng Không Thể”, “Trạm Cuối”), hoặc về mối tình lỡ kể chuyện người thì chồng chết vì tai nạn, kẻ thì tự ái về cách đối xử của vợ, bỏ nhà ra đi. Họ tình cờ gặp nhau, tìm đến với nhau, chia sẻ nỗi bất hạnh, cô đơn và rồi hạnh phúc bên nhau (“Mùa Thu Ẩm Ướt”)…

 

Nhưng thay vào chỗ khuyết trên, Phục An chuyển sang làm thơ, với một bút lực khá mạnh mẽ. Thơ chị xuất hiện khá đều đặn trên các trang mạng văn học. Yếu tính trong thơ chị vẫn là phận người, nỗi cô đơn chồng chất, những bất hạnh, sự bất lực và chút hạnh phúc mong manh. Đọc những dòng thơ của Âu Thị Phục An, tôi có cảm giác như đang ngồi thiu thiu nghe những khúc nhạc đồng quê theo dòng Bluegrass, bởi chị luôn lồng vào đó là những câu chuyện, đôi khi như một truyện ngắn rút gọn:

Nàng đang tắm.

Nàng đang khỏa thân trong phòng tắm.

Nàng đang ngồn ngộn sức sống trong kia.

Chàng đẩy cửa bước vô.

Nàng đang kỳ cọ liền khựng lại. Anh muốn tắm? Không, anh muốn nhìn em thôi, em cứ tắm đi. Nàng nói. Coi chừng ướt anh. Không sao mà. Nàng cười rồi vô tư tắm táp.

Bỗng dưng nàng quay lại nhìn chàng. Anh muốn… không? Chàng ngập ngừng. Nếu có thể.

Nàng chống hai tay vào tường, đưa lưng về phía chàng. Nếu anh muốn, thì có thể mà.

Chàng lả đi trên giường. Cơn mệt lại đến.

Bất lực trước cái chết, hai dòng nước mắt trào ra, ngoằn ngoèo chảy loang trên khuôn mặt hốc hác của chàng.

Nàng đã cố gắng giúp đỡ chàng thật nhiều. (Lần Cuối Cùng Trong Phòng Tắm).

Có dịp ngồi bàn về thơ Âu Thị Phục An, nhiều bạn trẻ và nhiều trung niên cho rằng chị khai thác sex đến mức tối đa. Sex như là hơi thở trong thơ chị. Tôi không nghĩ vậy. Bởi sau khi đọc những bài thơ chị đăng trên các trang mạng, sex chỉ là cái cớ để chị bày tỏ thái độ, cảm xúc của cá nhân trước những vòng xoáy thời cuộc. Vì ngay chính chị cũng phải hứng chịu cảnh ngộ cay đắng đó. Chị không sử dụng ngôn ngữ và hình ảnh sex như một thứ tình dục luôn đắt hàng (chữ dùng của Nguyễn Thị Hải Hà trên văn chương việt, rằng: “Sex Sells. Người Mỹ thường hay nói thế. Cái gì có dính líu đến chuyện chăn gối thường dễ hấp dẫn người nghe người xem người mua bán, như tôm tươi thường đắt hàng. Các nhà văn Hoa Kỳ khá dạn tay khi viết về tình dục. John Updike, Philip Roth, Paul Auster, Joyce Carol Oates đều mang tình dục vào tác phẩm”

Thơ Phục An cũng không dung tục như Vệ Tuệ trong tác phẩm “Điên Cuồng Như Vệ Tuệ” (Trung Quốc), hay sàm sỡ thô bỉ như “Sợi Xích” của Lê Kiều Như. Đó là những thứ cặn bã, rác rưởi của loại văn chương hạ cấp!

Tính dục trong thơ Phục An trong veo như giọt sương mai, chỉ để diễn đạt nội tâm, giãi bày những ẩn ức về mặt tâm lý, không hề có sự ức chế sinh lý.  Những hình ảnh chúng ta bắt gặp trong thơ, thông qua từ ngữ mang tính ẩn dụ nhiều hơn. Chị không dùng ngôn ngữ nhằm phô diễn sức nặng vốn có của hình ảnh thông thường, mà hơn hết là để chuyển tải tứ thơ. Vì, theo ông Đặng Tiến: “Nói đến lời trong thơ là nói đến từ ngữ, hình ảnh và nhịp điệu, nói đến cả khoảng im lặng bên trong câu thơ, hoặc chung quanh bài thơ…” (Đặng Tiến, Thơ, thi pháp và chân dung, trg 58, nxb Phụ Nữ, HN, 2009). Và: “Ý trong thơ, khác với ý trong văn xuôi, ở chỗ nó không có giới hạn, không có kích thước. Tạm nói là nó mông lung, bất định” (sách đd, trg 60).

Đọc nhiều lần, cảm quan của tôi về thơ Phục An vẫn là: sex phi sex. Xin dẫn một bài thơ của chị:

bám vào lềnh bềnh vỉa hè

những bộ xương người cúi xuống nâng ly

bám vào phù hoa

những bộ xương người cúi xuống nâng bi

da thịt em trắng ngần

ướp nhầy nhụa máu trinh

dâng anh một lần

toang hoác bình minh

con gái

run rẩy lột xác trên những mép giường

em trượt trên chất nhờn

cay đắng

của em

nụ cười em hóa đá

cứng đờ lút vào dung nham

cơn hứng lậm vào khuya

chờ giờ hóa thạch

em muốn bám vào cội nguồn

lần nữa tái sinh

vỉa hè ủ em

hằng đêm

và anh đẩy em

tuột trôi vào lỗ cống muộn phiền

em muốn ngậm vào em

con vật nào

có thật.

(Thả Trôi)

Cách dùng từ ngữ (langue) như lời nói (parole) để diễn đạt ý như kiểu bài thơ “Thả Trôi” trên đây rất dễ gây ngộ nhận, hiểu lầm, chỉ vì chị mượn những thực thể, những hình tượng ngoại giới tạo chất liệu cho cái tứ sâu xa bên trong, là những phiền muộn, đau đớn không cùng của một kiếp người là thân phận bị xô dạt một góc “lỗ cống” nào đó chỉ có mình chị mới bị trói chặt chân tay?

Rồi đến cái nhếch nhác ở một góc phố nhỏ trong thành phố chị đang sống có những cái “phình phịch, hổn hển, leng keng” giữa một bên là thánh thiện và bên kia là sự trần trụi đến nao lòng. Nỗi buồn cuộn lên từ ngoại cảnh “bị nhìn thấy” là con đường nhỏ Huyền Trân “tai tiếng”, dội ngược vào trí não tạo thành những sắc màu, những âm thanh:

cái đầu chó gặm mất rồi

não văng tứ phía

mạch đập ở cổ còn phình phịch

cái lưỡi tuột lại le ra

trái tim tím tái còn thở hổn hển

hai cái chuông đồng treo hai đầu vú nhỏ

đung đưa bài thánh ca trên những sợi lông tơ

núp sau gốc cây đường huyền trân công chúa

áo xống tuồng tích hoa lá cành

nghiễm nhiên kiếm sống

phố chảy cuồn cuộn ánh đèn đêm

những con rắn lửa nhảy múa dưới háng

nàng và trong miệng nàng

cỏ ướt đẫm tinh trùng

người ta vẫn thấy khoái

khi ngồi tuốt trên gác chuông

nhà thờ đức bà

làm dáng

với những hình nhân cục cựa dưới chân đèn

luôn nẩy ngược và rên

thành phố không buồn ngủ

thành phố nằm ngửa nàng lại lắc leng keng

hai cái chuông treo trên hai đầu vú

nhỏ

muộn phiền

(Lắc Chuông).

Đọc những câu thơ này, nghe ra thơ không phải là thơ, càng không phải văn xuôi. Nó là sự sắp đặt cố ý của người viết, như trong các thập niên 50, 70 của thế kỷ trước, Thanh Tâm Tuyền đã cách tân thơ bằng cách “phá vỡ cái vỏ ngữ âm của câu, hay bài thơ… tháo gỡ guồng máy ngôn ngữ ra từng bộ phận rồi lắp ghép lại thành những chức năng mới, trong văn bản mới” (Đặng Tiến, http://www.diendantheky.net/2012/03/ang-tien-thanh-tam-tuyen.html).

Không thể nói Phục An chịu hay không chịu ảnh hưởng của Thanh Tâm Tuyền, nhưng chắc chắn một điều là chị đã chọn lựa thơ tự do như là môi trường tốt nhất cho sự sáng tạo của mình, để hoàn thành chức năng “tra vấn và trả lời” như nhà văn Alain Robbe-Grillet đã từng khẳng định, rằng đó chính là thiên chức của nhà văn.

Không ai có thể ngăn cấm nhà văn: thôi đừng phẫn nộ, đừng chua chát, rời xa bi kịch đã rồi của dân tộc. Cái ngóc ngách đau đớn cùng tận kia, trước nhãn quan của nhà văn là thượng đế trên chính mảnh đất mình, được Phục An giải mã bởi những hình ảnh chồng chất nhau, níu kéo nhau, tạo thành những chuỗi âm thanh bi phẫn:

nàng xõa tóc
chạy dưới nắng tháng tư
hai cái mông tròn huyền hoặc
đung đưa
bình minh rọi những tia nắng đen
điên cuồng qua nách
cát nhảy dưới gót chân bất hạnh
máu ứa từ môi thâm
tháng tư đuổi từ sau lưng
xương rồng đâm lên vú
biển ôm nàng ngất ngư
nắng của tháng tư rơi từ một bình minh đen tối
nắng cũng rơi từ âm cung mê lối
chạy đi tìm bóng của ảo tưởng xưa xa
ngày về rất vội
về dù dòng sông quê hương chật chội…
chỉ muốn trần truồng gào khóc những điêu linh.

(Bình Minh Đen)

Và, dẫn thêm bài thơ khác để nhấn mạnh thiên chức nhà văn trong ngòi bút chị:

tôi rất buồn
khi đi trên những con đường không còn vỉa hè
khi
(…) ngồi rung đùi trong nhiều biệt thự
spa, resort, hotel năm sao, du lịch Thái Lan, Sing, Trung Quốc
những cái chợ tự phát bên lề đường không cần đóng thuế
những “gái chợ đông” ôm thúng co giò chạy khi thấy công an
những “trai giữa chốn ba quân” trơ mặt chạy xe ôm nám đen khuôn mặt

tôi rất buồn
khi đất nước tôi
chạy theo (…)
20 năm máu lửa chết chóc xảy ra.

(Năm Mới Vẫn Không Có Gì Mới)

Thế giới thơ của Phục An đa chiều, rộng nghĩa. Chị đã phá bỏ những luật lệ trong thơ cổ điển (như nhiều nhà thơ đi trước đã từng làm) để tìm kiếm cái đẹp, dẫu cho cái đẹp ấy hàm chứa bao nỗi nhục nhằn của một kiếp người. Tuy nhiên, khi đến với thế giới thơ Phục An, nếu chỉ lướt qua, một lần thì dễ bị những ẩn ngữ kia đánh lừa, bởi bề ngoài ngôn ngữ mang đầy chất phồn thực, lớp lớp những khoái cảm của tính dục là “những khắc khoải, thao thức về thân phận, khát vọng làm người của một con người” như chị đã từng tâm sự.

Đa chiều và rộng nghĩa chỉ khi nào người đọc chịu khó đào xới ở dưới tầng sâu để thấy được cái ý ẩn nấp trong lời, như một vì sao lạ giữa muôn ngàn tinh tú giữa tầng không mênh mông.

Chị là người đã miệt mài mang thơ đi tìm sự tự do tuyệt đối trong khoái cảm tính dục, vất vả lăn tới chân trời xa lạ, mà ở đó cái đẹp là những câu trả lời từ những tra vấn liên tục về phận người?

 

Nguyễn Lệ Uyên

 

 

NẮNG SÀI GÒN

tiếng con ve lưng chừng ngày vạn cổ
trang vở rêu xanh đỉnh tháp nhà thờ
dưới hồ con rùa ai đợi từ kiếp trước
dấu chân người luênh loáng một hồi chuông

chút buồn ta cũng từ sợi tóc hóa thân
những con đường mai sẽ hương trầm
chưa hò hẹn đã run cành hoa nắng
trong tay cầm như bóng nước long lanh

tiếng chim đánh rơi dĩ vãng góc sân
và vĩnh cữu sẽ huyên thuyên giọng hót
tự nguyên thủy trái tim xanh rừng rú
trên tay người sẽ khổ nạn những bài thơ

chân mày cong nhíu nửa bùng binh
chia núi ra từng mảnh chiều hoang dại
ta ngồi lắng nghe biên đồn thất thủ
chạy đi đâu cho khỏi nắng sài gòn

 TRƯƠNG ĐÌNH TUẤN