NHÁY MẮT

 

 

Nháy mắt em cười nheo lá răm
trái tim tôi muốn rụng qua đời
nháy mắt em làm tôi chờ đợi
tính tháng năm bằng… mắt lá răm

Nháy mắt em treo mộng nửa chừng
một lần tôi xé tuổi thanh xuân
nháy mắt em làm tôi… lờ lững
say suốt đêm dài – em biết không?

Nháy mắt – em làm tôi… ngất ngư
ngóng theo – không biết… khóc hay cười
cuối năm tôi biết mình tư lự
hồn cứ bâng khuâng mộng đến người

Nháy mắt em cười rất… tiểu thơ
ngó nghiêng là cái dáng em cười
ngó xiên là cái… đuôi con mắt
mắt khép – ơ kìa – môi ái khanh

Ồ mắt – có là – khanh – của anh
xoay lưng em ngoảnh mặt sao đành
mỉm cười – con mắt – nheo – nheo – nháy!
có thật –  em là… khanh… của anh?

NGUYỄN TẤN CỨ

vọng âm

 

 

đâu đó
trong giấc mơ đỏng đảnh
có tiếng thủy tinh vỡ giòn giã
âm thanh sắc nhọn cắm vào nỗi buồn
nỗi buồn đã âm thầm dịch chuyển
theo một trật tự khác

những bức tranh tường
chếnh choáng một màu vang đỏ
trên cành cây hoang tưởng
giăng mắc tiếng ca não nề
trong ám ảnh phù du

ráng chiều rực rỡ
rướn cong
bờ dốc đứng
chặn đường về
một mùa hoa oải hương

đêm vô tình
trôi trên một dòng sông đen
bình minh bất ngờ
đón dòng dung nham tuôn trào từ nỗi nhớ
của đóa hoa tình phai

ngày ta về với biển
những con sóng lừng lững
xô nghiêng đại dương
sự cuồng nộ vỡ ra thành tiếng khóc
bờ cát quặn đau
con còng gió không còn nơi ẩn náu

NP phan

 

Trái đắng

 

 

Lộc Khiêm, mê đắm đuối con gái rượu của Nguyễn Đình. Đình trước 75 là nhà văn, thơ cũng chơi luôn. Có hai tập truyện, một tập thơ đã xuất bản. Ngoài ra Đình còn viết báo, dăm ba chục bài đã in trên các báo. Đình không lính tráng chi nhưng là cán bộ giảng huấn chính trị có cỡ. Sau 75 Đình đi học tập ba năm. Về, bán nhà ở thị xã  lên đèo ông Phật tậu mẫu đất. Lộc Khiêm là một trong nhưng gã trai thất nghiệp đến làm thuê cho Đình.

Con gái Đình là Dung. Cô sâu đậm cảm tình với Khiêm lắm. Nhưng vợ chồng Đình cực lực phản đối. Chắc chắn là do Khiêm quá nghèo lại thất học. Từng là nhà văn, con gái chữ cũng tốt ai lại chấp nhận một gã bá vơ. May thay Dung có nét và rất duyên, trai theo cả đoàn. Đình chọn lấy một anh con nhà, áp đặt Dung vào chuyện đã rồi. Thuở ấy câu áo mặc sao qua khỏi đầu vẫn còn linh lắm, vậy là Khiêm ôm mối hận tình nhìn người yêu sang thuyền khác, cũng có uống đôi ba xị rượu giải buồn. Bạn bè khuyên:
-Thôi. Bỏ đi bạn hiền, gái khối mẹ gì mà buồn với bực?

Buồn được thời gian Khiêm về Sóc Trăng thăm bà con cô bác. Cha mẹ Khiêm là người Việt gốc Khmer. Xưa ông cha bị ông Cộng hòa bắt đi lính, tống ra miền Trung xa xôi, mẹ đi theo, vậy là chị em Khiêm ra đời. Chị em Khiêm tuy ngâm ngâm đen nhưng đẹp thì khỏi chê, trai ra trai, gái ra gái đâu ra đó tuyệt lắm. Đẹp thì thời nào chả có anh xin theo xách dép. Lộc Kim Quang chị kề Khiêm được một anh tên Bình đeo đuổi. Quang cũng thích anh. Hiềm nỗi Bình là con trai ông Đình.

Nếu ông Đình e con gái vớ trúng thằng trên răng dưới củ từ, vậy ông có chê Kim Quang không? Thiên hạ tò mò lắm nên sáng nào cũng ghé quán cà phê cóc  nghe ngóng thử xem sao. Đình vốn kín và im như thóc, bà vợ cũng rứa luôn. Vậy là có màn rấp ranh, rập rình, hóng hớt xem sao. Vậy rồi chả biết  có hay không mà thiên hạ kháo rằng cha nội Đình cũng không chịu Quang là dâu:

–  Cha Đình chửi thằng Bình thiếu điều tắt bếp, văng tục không khác chi tao với mày. Chả cũng chê con Quang đen.

–   Bà mẹ … dza dzàng mũi tẹt bày đặt chê đen. Thằng Bình ra để tao nhảy vô con Quang. Nó đen tao cũng đen hề hề hề hợp gu.

Đùng một cái như bom rơi, như đất bằng dậy sóng. Cả xứ đồn rằng Kim Quang lớn bụng. Bằng chứng là đi đâu cô cũng úp cái nón lá trước bụng. Mấy bà già trầu – đàn bà lúc đó mười cũng còn có ba bà ăn trầu  nói rằng:

–  Con Quang không chửa đem đầu tao chặt đi.

Gia đình Quang tuy một thời lính tráng, bạt mạng không kém cạnh ai. Nhưng cho đến tận thời điểm nầy chả bậc làm cha mẹ nào không cúi mặt khi con gái không chồng mà chửa. Bụng Quang lum lên mà phía đối tác chả ai bắn tiếng, thậm chí cả người tình của Quang cũng thả cục lơ. Anh bị áp lực từ cha chăng? Cũng có thể lắm, vì Bình là con một, là đích tôn của cả một hệ thống đạo đức cổ truyền cực đoan pha lạc hậu. Bình cũng lơ. Mỏi mòn quá, thêm cái thiên hạ dè bỉu ông Lộc Sanh – cha của Khiêm và Quang – đành bán nhà đưa gia đình về cố quận. Quang cũng biệt luôn từ đó.

Chuyện đến đó là tạm dừng. Vợ chồng Đình dựng vợ gã chồng cho con. Trai gái đình huỳnh tưởng không còn chi đẹp hơn. Số một là Dung, chồng cô con nhà giàu đẹp trai và học giỏi, cô cũng biết đẻ lắm. Trai gái, trai gái bốn đứa đẹp như mơ. Bình thì hơn cô những hai đứa, nhưng thua cô khoản con trai. Sáu cô cháu gái nói lên sự khát thèm vô vọng của ông nội Đình. Bình cũng vậy. Chao ôi câu nhất nam viết hữu luôn làm khổ người đàn bà, họ mang nặng vì khao khát của kẻ khác.

Cũng nên thông cảm cho Đình. Xưa nay thằng người nào trên thế giới nầy chả muốn có thằng cu. Một thực tế không thể chối là con gái lấy chồng theo chồng thì trong nhà ta còn chi? Đình buồn hơn cha chết. Những mong một cu con nối dõi tông đường và hy vọng đà tiêu tan khi lần thứ sáu vượt cạn cô con dâu hết khả năng sinh. Anh  chồng tên Bình còn khát hơn ông cha, anh bay nhảy ngoài đường và yêu đương với một góa phụ. Người đàn bà nầy đẻ cho Bình một đứa, khốn thay vẫn là gái. Vậy là Bình phải dang tay ôm hai bà. Bà sau có hai con riêng. Bình khổ như một con… Con gì nhỉ? Chả biết, nhưng chó còn sướng hơn.

Bầy con bà lớn dứt khoát không thừa nhận con em lạc ngõ. Chúng không trọng cha như xưa và cả sáu đứng hẳn về phía mẹ. Ông Đình héo queo như tàu lá chuối khô mùa gió Nam lào. Làm sao mà tươi tỉnh khi yên lặng khác thường phủ vào nhà từ khi Bình bị lộ chuyện phòng hai. Một yên lặng có phối mầu lạnh của hoàng hôn miền Trung mùa tháng mười giá rét. Để xua băng giá ông Đình ôm bầu rượu ngồi ngâm thơ. Tiếng ngâm của một ông già có rượu nghe như tiếng tụng kinh siêu độ cô hồn ngày rằm tháng bảy. Thiên hạ bình rằng:
-Cha Đình đang cầu siêu cho gia đình ổng kìa.

Họ nói vậy mà không chừng trúng à. Không phải sao? Nhà thơ, nhà văn, ông cán bộ giảng huấn chính trị bó tay với thằng con hai vợ. Bà mẹ nó, trong nhà sáu đứa, ngoài ngõ một đứa. Không nhận cháu, Đình có đáng là người không? Mà nhận thì ăn làm sao, nói làm sao cho thông với đứa con dâu mà ông đích thân cưới? Thiệt là rối như canh hẹ. May quá, rượu gạo dầm thuốc bắc đã giúp ông Đình liều mạng kiểu kệ. Đến đâu thì đến. Ừ vậy cho khỏe. Rượu ngâm thuốc độ cồn cao lắm, chỉ hai cốc là phê, là có quyền yêu đời và ngâm thơ.

Đùng một cái. Sau gần ba chục năm Lộc Khiêm xuất hiện.

Đi với Khiêm là một cậu trai. Khiêm giới thiệu:
– Thằng An con bà Quang, cháu kêu tao bằng cậu.

–  Lâu quá hả bạn hiền. Kim Quang dạo nầy sao? Mấy con rồi, làm ăn đỡ không?
– Chị Quang chỉ duy nhất thằng nầy. Bây nhận ra nó không?

Thiên hạ ngắm nghía trung niên tên An
– Bà nội tui ơi… giống cha Đình y tạc luôn.

Ông Đình nghe kể, giật mình. Ly rượu trên tay rơi xuống nền gạch vỡ tan tành.

***

Đình lập cập chống cây ba toong đi lên đi xuống, hoang mang chả biết cái tin kia là thực hay hư. Muốn hỏi thằng trưởng nam thì – trời ạ – chả biết nó đi đâu, mấy đứa cháu gái đừng nhờ chi mất công, chúng dạ nhưng chả có làm đâu mà hòng. Chao ôi một thời nhà văn nhà báo, lấy nhân lễ nghĩa trí tín làm đầu mà nay con cháu ra như ri thì đúng là hết thuốc. Việc nầy từ đâu mà ra nhỉ? Lỗi tại ông nhận đứa cháu ngoài luồng hay do thằng con trai có phòng hai? Hay là sau chiến cuộc kinh tế khó khăn học hành dang dỡ nên lòng người sinh bẩn chật? Dám lắm à. Chắc luôn chứ dám gì nữa. Dân dĩ thực vi tiên. Đừng nói dân, vua chúa còn lấy ăn làm trọng. Chả phải trong tứ khoái cái ăn đứng đầu đó sao? Càng thiếu thốn cái ăn càng bự. Nhà được vài sào đất rẫy. Lúa thượng một năm một vụ ông Đình đem gạo cho con nhỏ ngoài luồng hỏi ai không tức? Mà nếu cái tin kia là thực thì sao bây giờ? – Đình tự hỏi.

Chưa kịp tự trả lời thì Cửa đến. Nguyễn Cửa là bạn thân của Đình. Cả hai cùng học chung một trường. Mười lăm tuổi, đang trong lớp Cửa phì phèo thuốc lá. Giáo sư đến tận nơi xách lổ tai Cửa để thị uy. Cửa văng tục chửi thề inh ỏi rồi đe:

-Tao đi lính về là chết mẹ mày với tao.

Thuở ấy chuyện lính tráng cũng không chi khó. Cửa về nhà lấy khai sanh sửa năm sanh rồi đăng vào Thuỷ quân lục chiến cho nó kiêu hùng. Nhờ to con cao ráo nên qua mặt ban tuyển mộ cái rẹt. Sau ba tháng lăn lê bò toài ngoài thao trường Cửa được bốc ra Quảng Trị để tái chiếm cổ thành. Chưa được một tuần đã có mặt ở bệnh viện vì bị phía bên kia cho một viên Ak lủng bụng. Vậy là chưa đến bốn tháng làm lính đã hoá phế binh. Phế thì phế nhưng vẫn ngon vì ba tháng lĩnh lương một lần. Phế binh đồ hoa mũ nồi xanh uy lắm, đi đâu Cửa cũng móc bên hông trái lựu đạn phòng thân. Vào quán nhậu Cửa vỗ ngực rằng ta đây đã ôm cổ thành cho đến cuối mùa sương gió.  Lớn lối được ba năm thì kiêu hùng ôm gói đi cải tạo với Đình. Binh nhì mà đến ba năm cải tạo là vì khổ quá chịu không xiết nên Cửa trốn. May mà bị bắt lại bằng không chết mất xác trong rừng. Vậy nên cả hai tình như ruột thịt.

Cửa nói:

–  Xưa kia tui đã nói mà ông không chịu nghe. Ông chê con Quang đen, chê nó là dân Khmer. Đen thì sao?  Ông là dân có học mà quên mất chuyện cô đào điện ảnh hô-ly-gut giếc chi đó lấy cha thượng nghị sĩ da đen làm chồng. Giờ đây ông hối cũng không còn kịp nữa rồi ông  Đình ơi. Thằng An con con Quang với thằng Bình giống ông như hai giọt nước. Tui nói láo cho bà bắn.

Đình chống ba toong lại bên bình rượu múc một ly làm một hơi rồi múc một ly khác cho bạn hiền:
-Tao biết làm sao bây giờ hả Cửa?

Của nốc một hơi cạn ly rượu khà một phát. Cai dòng rượu gạo dầm thuốc bắc đã gì đâu. Nó làm cho ta minh mẫn mà ra kế sách:
-Tui gặp thằng Khiêm rồi… tui có ý như vầy…
-Nói đi.

–  Ông nên gặp nó nói chyện xem sao. Ông không thể để thằng cháu của ông không biết chi nguồn cội. Tui nói đúng không?

–  Tao còn mặt mủi nào Cửa ơi.

–  Nữa… ông lại sĩ diện. Xưa kia chê chị em nó lạc hậu kém văn minh. Thực ra ông mới là thằng lạc hậu bậc nhất. Khi là cán bộ giảng huấn chính trị ông lô loa rằng Chúa đã tạo ra con người và da trắng da đen da vàng hay da đỏ là như nhau. Ông nói vậy nhưng không nghĩ vậy. Nếu nghĩ vậy thì con Quang là vợ thằng Bình và ông đã không đổ thừa mọi bi đát ngày nay là do số phận. Đúng không? Bây giờ ông lại không dám đối diện với thực tế. Nếu là tôi, tôi sẽ gặp Lộc Khiêm. Chú cháu lâu ngày gặp lại nói dăm câu ba chuyện thì có sao?
– Rồi sau đó thì sao?

–  Nước chảy đến đâu vuốt mặt đến đó. Tôi sẽ bố trí cho ông gặp thằng Khiêm và thằng An…
– Mày giúp tao nhé.
– Ô kê… mà ông biết tại sao tôi nhúng tay vô vụ này không?
– Sao vậy?

–  Vụ này cực hấp dẫn. Hoàn cảnh của ông bây giờ rất chi bi đát. Thiên hạ xứ nầy đang ngóng diễn tiến tiếp theo của sự kiện. Họ biết ông cho đứa cháu gái con bà hai của thằng Bình lương ăn. Bây giờ đất đang đang có giá, năm sào rẫy của ông trên đèo ông Phật sẽ ra sao nếu thằng An nhận ông và thằng Bình là ông nội và cha? Ái chà chà… hậu quả của ông thật khó lường ông bạn già ạ…

Ông Đình toát mồ trán khi nghe Cửa nói. May quá, dù sao cũng có bình  rượu gạo dầm thuốc bắc. Rượu muôn đời là cứu cánh khi bế tắc. Ông một ly và bạn Cửa  một ly. Kẻ thống khoái còn người bi khoái qua một tiếng khà.

Một tuần sau Cửa đưa bạn Đình đến cà phê Suối Mơ.

***

Thị trấn nầy chả có con suối nào để mà mơ với mộng, nhưng cà phê của anh chồng tên Suối và chị vợ tên Mơ thì tuyệt vời. Thuở Cộng Hoà tại vị thì Suối Mơ lẫy lừng tăm tiếng. Chủ quán có biệt tài rang và pha chế cà phê kiểu đến một lần phải đến lần hai. Thiên hạ đồn cà phê quán này có tẩm thuốc phiện nên say lòng khách. Sau ’75 cà phê nằm trong dạng xa xí phẩm. Những địa danh như Buôn mê thuộc và Đà lạt cà đã ít thì chớ còn bị hoang hoá bởi loạn lạc, vậy nên đắt kinh hoàng. Một tạ cà phê nhân cả cây vàng. Dân chạy ăn bạt mặt, cà pháo đầy chứ phê thì có mà mơ. Nói vậy chứ cũng có những tay lên ông thành cha nhờ hôi của trong biến động và cũng còn những anh chị tuy lý lịch bần nông nhưng vàng cả thùng đại liên dấu dưới giếng. Họ vẫn đến Suối Mơ kiếm ly đen nóng nói chuyện thời cuộc. Thuở ấy tụ năm tụ ba là cải tạo chứ không đùa. Vậy nên  chủ quán bèn chia quán ra hai phần. Bên trong chứa bọn tiểu tư sản thích cà kê, bên ngoài bán nước é cho dân lao động. Nhiều năm về sau khi cán bộ cũng có quyền làm giàu và cà phê phải có thêm ôm iếc, ma tuý dân chơi chích thẳng vô tĩnh mạch thì Suối Mơ ế òm. Chỉ những tay biết cái sự ngon của cà phê mới đến. Họ yêu cái phòng kín đáo và đầy ắp kỷ niệm của một thời uống ly cà phê phải thụt thò.

Lộc Khiêm từng là khách của Suối Mơ, nhất là những tháng ngày yêu đương với em Dung con gái Nguyễn Đình. Sau khi em Dung theo chồng, Khiêm ôm quán hận tình thêm thời gian nữa rồi bán xới ra đi. Nên chi, khi quay lại đường xưa lối cũ Khiêm đến Suối Mơ để tưởng niệm một mối tình. Than ôi yêu nhau mà không lấy được nhau thì  người ta cứ nhớ hoài.

Và Nguyễn Cửa đưa Nguyễn Đình đến để gặp Khiêm và An. Về sau Cửa nói với ba quân rằng hắn đã quá sai lầm khi nhúng tay vô vụ này. Cửa không ngờ sự  kiện diễn tiến theo một chiều hướng không lường được. Thánh cũng bó tay:

–  Bây biết không? – Cửa nói với chúng sanh – ông Erich Maria Remaque nói rằng con chó no bụng rồi mà thẩy cho miếng thịt nó vẫn đớp. Vì sao? Vì ăn thịt là bản năng của loài chó. Con người ta giàu nứt đố đổ vách mà thấy cục vàng vẫn tối mắt và xúm nhau dành nói chi nghèo. Con người xét về bản chất trước tiên là một loài thú. Tao nhớ đại khái vậy và không ngờ bầy cháu cả nội cả ngoại của ông Đình lại tệ đến hết thuốc chữa.

Khi Cửa và Đình vào phòng thì mục kích cả tốp, hai thứ cháu nội và ngoại và Lộc Khiêm đang điểm mặt thằng Châu – Châu là cháu ngoại của Đình –:

–  Câm họng mày lại. Bọn mày được giáo dục từ đâu mà xem của cải nặng hơn tình vậy. Nè… chưa chi mà bây đã sợ bị mất phần rồi là sao? Tao tội nghiệp cho ông Đình quá. Thằng An không hề là cháu nội và là anh ruột của bây đâu mà lo. Về quê là bà chị tao phá cái thai hoang liền. Thằng  An giống ông Đình là ngẫu nhiên thôi…

Khiêm quay ra cửa:

–  Ô kìa… chú Đình… bầy cháu của chú hiểu lầm rồi, chúng nó nghĩ tôi đưa thằng An về đây để nhận cha và ông nội để chia mấy sào đất rẫy đang có giá của chú… ha ha ha…

Trước khi đến Suối Mơ Đình và Cửa và làm vài ly rượu gạo dầm thuốc bắc. Uống cho có khí thế mà đối diện với sai lầm vậy mà. Và tuổi già và huyết áp cao cùng cái hiện thực phủ phàng đánh Đình một cú. Ông già sáu mươi mấy tuổi ngã huỵch xuống sàn phòng:

–  Bà mẹ nó – Cửa văng tục – phải chi tao đỡ kịp thì chắc không đến nỗi bất toại như hôm nay…

Nguyễn Trí 

Mài Gươm Phục Hận

Sắt mài rồi cũng thành kim,
gươm mài rồi hết muốn tìm thù nhân!
Chỉ còn kia, một vầng trăng,
đêm nao khuyết tưởng mình cầm gươm khua!
Trăng không thắng, trăng không thua,
gió lay buồn quá lá cờ chiêm bao!

Việt Nam ơi, nói thế nào,
ba người ngồi xuống là tao với mày;
ba người đứng dậy, chia tay,
khoảng không gian trống rỗng đầy hư không!
(*) Bội Châu xưa hẳn đau lòng,
nhìn non ngó nước mơ mòng chuyện chi?

Chuyện chi ơi chẳng chuyện gì,
bao nhiêu nấm mộ đen xì thời gian!
Trời bày ra cuộc tang thương,
người bày thêm những con đường phân vân!
Đi xa thì muốn về gần,
gặp nhau mở miệng đếch cần mày tao!
Mỗi người một bệ trên cao,
một mình mà cũng ồn ào, thật vui!

Đêm đêm ta hỏi ta hoài:
“Tại sao mình phải là người Việt Nam?
Lớn lên, đi Lính, làm Quan,
ba quân tản lạc mình mang kiếp Tù?
Bạn ta, kìa Sĩ Quan Dù,
giống ta, mình Bộ Binh, ồ, giống nhau!”.
Lá cờ bay mãi chiêm bao,
gươm mài đến giọt máu đào cạn khô!

Bạn ta tự nhận Hắc Ô,
ta thì như kẻ đội mồ đứng lên!
Đã là Lính, chẳng còn Tên,
soi gương xóa được vết lem, đỡ buồn?
Hỡi ơi trăng khuyết trăng tròn,
gươm mài gang thép đã mòn thép gang!
Phải chi đừng nhỉ Việt Nam,
ta đâu đến nỗi lang thang xứ người! (**)

TRẦN TRUNG TÁ

(*) Nhà chí sĩ Phan Bội Châu có nhiều câu nói thật hay:

1, “Lập thân tối hạ thị văn chương”, Làm người thấp kém nhất, hèn hạ nhất là…làm thơ, viết văn!
Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch
Lập thân tối hạ thị văn chương ( Viên Mai)

Khuya sớm những mong ghi sử sách
Lập thân hèn nhất ấy văn chương…( Phan Bội Châu)

 

2, “Cứ ba người Việt Nam ngồi lại là thành lập được một cái Đảng”.
3, “Đảng Phái còn thì nước mất, Đảng Phái mất, nước mới còn!”

(**) Quốc hiệu Việt Nam do Tàu áp đặt, vua Gia Long năm 1802 lên ngôi đặt tên nước là Nam Việt (chữ Việt bộ Mễ, dư ăn dư để, phù hợp với nghĩa của chữ Gia Long, tăng gia và thịnh vượng), cho sứ sang Tàu xin cầu phong An Nam Quốc Vương, vua Càn Long của Tàu nhớ lại chuyện Triệu Đà xưng Vương nước Nam Việt, mới đây Quang Trung muốn lấy lại hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây (đất của Nam Việt), mãi đến năm 1804 mới chấp thuận cho Gia Long làm An Nam Quốc Vương nhưng tên nước phải đảo lộn ngược, từ Nam Việt thành ra Việt Nam, mà chữ Việt của Việt Nam phải viết bằng bộ Tẩu, có nghĩa là Vượt Thoát, Chạy Trốn…từ đây xuống phía Nam rồi chạy trốn đâu nữa kệ nị! Vua Gia Long không chịu, nhưng vẫn sợ Tàu, giữ lại mỗi một chữ Nam. Năm 1820, Minh Mạng kế nghiệp Gia Long, đổi tên nước thành Đại Nam, quốc hiệu này vẫn được vua Bảo Đại, vị vua cuối cùng triều Nguyễn gìn giữ cho tới ngày buộc lòng phải thoái vị, năm 1945.

Nước ta là một nước Mạnh và To Lớn, Tiên Hoàng Đế họ Đinh từng đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt. Triều đại Lê kế tiếp đổi là Đại Việt. Từ năm 1820 trở đi là Đại Nam. Không ai nói chữ Đại là Nhỏ, là Yếu, chẳng hiểu tại sao những bậc thức giả đời nay cứ “khẳng khái” cho nước mình là nước Nhược Tiểu, dân tộc mình là Dân Tộc Nhược Tiểu.
Không lẽ chữ Anh Hùng đồng nghĩa với chữ Anh Hèn?

quanh đời hư không

 

sáng nay mưa đầu ngõ
một đám tang nhà người
trên quan tài nến đỏ
khói nhang tràn chơi vơi

một kiếp người đó ư?
cuối cùng về huyệt mộ
bỏ trần gian ưu tư
trong nắng chiều hư ảo

bên những vòng hoa viếng
có vòng nào cho tôi ?
rồi ai người đưa tiễn
khi tôi rời cuộc chơi

hồn về như chiếc bóng
theo nhang trầm lặng câm
mới hay nghìn ảo vọng
vừa lăn qua chỗ nằm

hắt hiu ngàn lau sậy
trôi quanh đời hư không
đôi lần tôi mơ thấy
nghĩa trang buồn mênh mông…

nguyễn minh phúc

 

Người con gái Duy Xuyên

 

Tôi sinh ra và lớn lên trên dãi đất nghèo miền Trung. Thành ngữ dân gian gọi là nơi “chó ăn đá, gà ăn sỏi ”, hiện thực hơn người ta thường nói đây là miền“ nắng cháy da, mưa thúi đất”, báo chí thì dùng biệt danh “Vùng hỏa tuyến”. Trong nhạc của ca sỹ Duy Khánh- người đồng hương- có câu than thở “Quê hương em nghèo lắm ai ơi! Mùa Đông thiếu áo, hè thời thiếu ăn…”.Đó chính là Quảng Trị.

Ấy thế mà nào tôi có được coi là dân thị xã. Làng của tôi thuộc một vùng quê nằm ngoài rìa, dọc theo Quốc lộ I. Làng có cái tên rất hay: Long Hưng nhưng dân chúng quanh năm chúi đầu trên những thửa ruộng cằn khô, không biết lúc nào mới được là “Rồng vươn lên” như tên gọi? Làng nghèo đến mức tên người cũng ít khi thêm được cái chữ lót như một nhà văn từng nhận xét. Làng nổi tiếng vì thổ ngữ  đặc biệt. Hễ chúng tôi thốt ra câu nào là đã nghe nhận xét: “ A, dân Long Hưng.”

Dân Long Hưng chỉ có một niềm tự hào là giỏi Toán. Dù nghèo nhưng hầu hết nam sinh của làng đều thi đậu vào ngôi trường trung học công lập danh giá của thị xã: Trường Nguyễn Hoàng. Các giáo sư phần đông là người Huế, hàng tuần đi xe taxi ra dạy. Họ thường khen chúng tôi về sự thông minh. Đặc biệt là  trong mục “Toán chạy”; đây là loại toán hầu như chỉ dành cho học sinh giỏi. Mạ tôi thường lấy gương của một người làng là Bác sỹ Văn Tần để răn dạy  hai anh em  chúng tôi cố gắng học hành.

Mặc cảm con nhà nghèo khiến tôi ít khi trò chuyện với ai, đặc biệt với các bạn nữ trong lớp. Mỗi lần tôi nói câu gì, tụi bạn hay trêu“Cóc mở miệng”. Điều đó càng làm tôi câm lặng hơn. Con trai mười bảy, mười tám thường đỏm dáng. Đi học đã biết vuốt tóc láng mượt bằng nước lạnh, miệng ngậm điếu thuốc Ruby Queen, viết thư tỏ tình với bạn gái. Riêng tôi “nhà quê” trong chiếc áo ngã màu cháo lòng, quần xanh bạc phếch…

Lên đệ nhị cấp, chúng tôi bắt đầu lo lắng với lệnh tổng động viên vừa ban bố. Phải cố mà thi đậu. “Rớt Tú tài anh đi trung sĩ ”. Chiến tranh đã bao phủ cả quê hương. Đêm đêm nghe tiếng đại bác rền vang, máy bay quân sự  bay về phía Gio Linh, Cam Lộ rợp trời, nhà nhà chuẩn bị những cái hầm trú ẩn bằng bao cát quân đội. Thỉnh thoảng đã có nhà trúng đạn pháo kích của Việt Cộng, tiếng khóc than vang trời dậy đất.

Tôi may mắn đậu Tú tài hai không phải vào Thủ Đức “thức đủ năm canh”  như các bạn nam cùng lớp. Nhưng tôi “out” khi cố chen chân vào Đại học sư phạm Huế. Đành phải ghi danh học MPC ở Đại Học Khoa học. Đi dạy kèm gặp bà chủ ác nghiệt, tôi lên giảng đường bữa đói bữa no. Ngày về làng xin tiền mua sách, tôi ứa nước mắt nhìn mạ lần mò chiếc kim băng mở túi áo lôi ra những đồng bạc lẻ. Sau bao đêm trằn trọc, tôi dặn dò thằng em lớp 11 cố học cho mạ yên tâm rồi quyết định thi vào khóa 28 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam vào năm 1971 theo lời khuyên của anh Hoàng Tấn, K25, người Quảng Trị. Nguyên văn lời anh: “ Tất cả có chính phủ lo. Ra trường, ngoài bằng tốt nghiệp (Võ) còn có thêm bằng Cử Nhân Khoa Học Ứng Dụng (Văn) . Học 4 năm  với chương trình đại học lại được xem như văn võ song toàn. Đó cũng là một lựa chọn tốt  cho người trai thời loạn muốn thỏa chí tang bồng…”

Cuối tháng 12 năm 1971 tôi nhập trường. Người Pháp tôn vinh Đà Lạt là Deuxieme Paris; có bản nhạc ca  ngợi “Ai lên xứ hoa đào”; văn chương hết lời tán dương những cô gái má đỏ môi hồng. Nhưng qua mùa Tân Khóa Sinh, khi đã khoác lên mình bộ quân phục kaki vàng với cầu vai alfa đỏ, được ra phố cuối tuần tôi cũng chẳng biết đi đâu ngoài mấy vòng loanh quanh ở khu Hòa Bình, hay chui vào cine’ Ngọc Lan hoặc Ngọc Hiệp rồi xuống mấy chục bậc cầu thang leo xe Dodge về lại trường. Thôi, những lần sau đành ở lại  phòng, làm bạn với mấy thằng cù lần, lôi Anh văn ra học vì thuộc loại “dốt” ngoại ngữ và nhận biệt danh là nhóm “ Lờ quờ ”. Thằng Thế Hân có biệt danh “Hân gà” vì thấy gái là mặt đỏ au và lúng túng như gà mắc tóc. Thằng Kim Long, lai Miên, gốc Trà Vinh, luôn được đại đội phó “ưu ái ”  cho đi gác Đài Tử Sĩ nhưng cứ cười tươi… Cả bọn không bao giờ có vinh dự được gọi tên ra hội quán  Huỳnh Kim Quang gặp người thân chứ đừng nói chi đến chuyện gặp Đào!

Trời không thương nhà nghèo, Quảng Trị trở thành chiến địa ác liệt vào “mùa hè đỏ lửa” năm 1972. Mạ tôi và đứa em may mắn vượt qua Đại Lộ Kinh Hoàng vào ở trại tạm cư Hòa Khánh- Đà Nẵng, hằng tháng ăn gạo trợ cấp.Thôi thế là tôi không bao giờ còn được trở về căn nhà tranh với bao nhiêu kỷ niệm buồn vui thời thơ ấu. Làng tôi, Ngã Ba Long Hưng –được nhắc nhiều lần trong cuốn Mùa Hè đỏ lửa của nhà văn quân đội Phan Nhật Nam- đã tan nát, điêu tàn! Mặc cảm chồng chất mặc cảm, tôi co mình trong vỏ ốc, tháng tháng dành dụm chút tiền lương cấp trung sĩ ít ỏi, gởi về phụ mạ nuôi em.

Tháng 11 năm 72, khóa 27 và 28 trường Võ Bị nhận lệnh đi công tác Chiến tranh chính trị miền Trung. Tôi được phân công về Huế. Thành phố thơ mộng hiền hòa bên dòng sông Hương như sôi động hẳn lên bởi hình ảnh hào hùng của các chàng trai cằm gập vuông góc, đi đứng oai phong. Anh chàng Ngọc cùng đại đội vỗ vai tôi “Gái Huế dễ thương thật! Mày có bạn nhiều giới thiệu cho tao một em”. Tôi cười méo xệch “Kiếm đâu ra!”. Ấy thế mà tuần sau đã thấy Ngọc ngồi với một nàng trong quán chè Sầu, miệng mồm như tép nhảy. Thằng Thanh, tóc hớt  ba phân lộ ra mấy cái sẹo to tổ bố cũng quen một em Đồng Khánh hẳn hoi. Chỉ có tôi lủi thủi ngồi cắt dán mấy cái khẩu hiệu với thằng Tập. Thằng này đã có người yêu ở Củ Chi và tự hứa tuyệt đối chung tình.

Thật sự tuổi thanh niên ai chẳng rung động trước những bóng hồng. Thời học lớp 12, tim tôi đã từng hồi hộp với một cô bạn cùng lớp. Em có mái tóc xõa ngang vai, hiền hòa và học giỏi. Nhưng nhà em kín cổng thâm nghiêm và tôi chưa một lần hé môi. Tôi biết em đang học ĐHSP Huế khoa Vạn Vật nhưng cũng không dám tìm gặp. Liệu em còn nhớ tôi, thằng cù lần hôm nay đã mang quân phục nhưng vẫn mãi cù lần. Vậy là trong khi các bạn vi vu cuối tuần với các nàng ở chè Cồn Hến, bánh bèo Tây Thượng, cà phê Góp Gió… tôi ôm cây đàn guitar bị đứt dây ngồi nghêu ngao “Sao em không đến chiều nay Thứ Bảy?”. Niên trưởng Hưng, K 27 tò mò nhìn tôi “ Hiệp có bình thường không? ”. Dù sao tôi cũng không phải rơi vào tình trạng gởi thư xin tiền nhà như mấy thằng bạn. Mạ tôi nghèo kiếm đâu ra tiền!!!

Về Trường ba tuần, chúng tôi lại được lệnh đi tiếp đợt 2. Hiệp định Paris vừa ký kết, phải tăng cường công tác CTCT. Lần này đại đội tôi được phân công về Quảng Nam –Đà Nẵng. Mấy thằng bạn có Đào ở Huế méo mặt tưởng đâu phen này được “tái nạm” em yêu. Máy bay C 130 hạ cánh xuống phi trường Hòa Khánh, tôi có cơ hội vào Trại tạm cư thăm mạ, nhét cho thằng em ít tiền và mấy lời khuyên, rồi lên xe GMC vào Quảng Nam.

Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Quảng Nam là Đại tá Lê Trí Tín. Ông xuất thân từ quân trường Đà Lạt, và trước đây, ông cũng  từng ở trong khối Quân sự vụ của Trường Võ Bị nên quan tâm rất chu đáo đến các khóa đàn em. Chúng tôi được cung cấp ưu tiên lương thực, thực phẩm rồi chia ra từng toán nhỏ về các Chi khu. Có toán lên tuốt luốt vùng đồi núi Thường Đức, Quế Sơn; gần gần thì Đức Dục, Điện Bàn, Đại Lộc; đẻ bọc điều thì ở ngay thị xã Hội An…Riêng nhóm tôi về Duy Xuyên.

Duy Xuyên là một vùng đất cách Đà Nẵng khoảng 45 km phía Tây Nam, nằm dọc theo bờ Nam con sông Thu Bồn thơ mộng, con sông đi vào thơ ca của người xứ Quảng. Tôi chưa một lần đến đây nhưng đã thuộc mấy câu thơ của Tường Linh thời trung học:

                        Tôi nghĩ về một dòng sông

                        Dòng sông quê hương có đôi bờ  đất mật

                        Có những tên làng tôi yêu mến nhất

                        Có triền xanh, gành xám , bãi vàng

                        Những hàng cừ xe gió nước reo vang

                        Những thác xiết, nhọc nhằn thuyền lên ngược

                        Nguồn hai ngã, lòng sông chung nguồn nước

                        Khúc cạn khúc sâu, phía lở phía bồi

                        Sông Thu Bồn thương nhớ của ta ơi!

                                                            ( Dòng nhớ thương chảy mãi qua hồn)

Một quận nghèo nhưng hiền lành với những căn nhà nhỏ nép mình sau vườn khoai sắn xanh ngắt, những ruộng dâu bạt ngàn. Chúng tôi ở trong chi khu, hằng ngày phân tán thành những nhóm nhỏ làm công tác dân vận ở các xã như Xuyên Thọ, Xuyên Châu, Xuyên Hòa, Xuyên Phú… Thằng Sanh, nổi tiếng hào hoa, đi một vòng phố chợ rồi về nói với cả nhóm: “Mấy cô nhan sắc trung bình trở lên đều là “hoa có chủ” của các anh công tác đợt 1 hết rồi, tao quay về mái nhà xưa thôi”. Nói xong hắn lúi húi viết thư hẹn hò với em Thành Nội!

Nhớ lần ở Huế, nhóm tôi được thằng Tiến mời tới nhà ăn giỗ. Cả một bàn dài có đến mấy chục món nhưng món nào cũng bày chút chút trong những chiếc dĩa nhỏ xíu. Báo hại cả bọn lúc về phải ghé chợ Đông Ba mua thêm chục mì gói. Thằng Quảng dân Bến Tre cằn nhằn:

– “Chịu không nổi kiểu cách của ‘Dân các Mệ’. Cả bàn, tao quơ đũa một phát là sạch bách. Ăn vậy hèn chi gái Huế cái eo nhỏ chút xíu trông thấy mà thương!”

Còn  đây, người xứ Quảng mộc mạc chơn chất như những món ăn của họ. Khoai lang Trà Đỏa củ to bằng cái đầu con nít, vỏ trắng ruột vàng phải cắt năm xẻ bảy đem nấu, bột khoai thơm phức nghẹn tới cổ họng. Ăn món gì cũng có cái bánh tráng kèm theo, không nướng thì nhúng nước cuốn. Lần đầu tiên tôi biết món Mì Quảng, niềm tự hào của dân Quảng Nam. Cách nấu không cầu kỳ như bún bò Huế nhưng cách ăn trông thật ngon với những cây cải non, sợi mì trắng, miếng  sườn heo, con tôm chiên vàng óng, mẩu bánh tráng dòn tan trong miệng, tay cầm trái ớt xanh cắn cái bụp… Có lần lãnh lương, cả bọn kéo nhau đi ăn đặc sản Bê Cầu Mống ở đầu cầu Câu Lâu thuộc quận Điện Bàn, tôi ngớ người ra khi nghe chị chủ quán nói “Chừng nuớ bua rùa. Đừng bỏa nữa mòa mẹn!”( Chừng đó vừa rồi. Đừng bỏ nữa mà mặn!). Dường như tôi đang nghe lại cái giọng Long Hưng quê kiểng xứ mình!

Tuổi thanh niên thấy gái như nam châm hút sắt. Qua hai tuần lại thấy các chàng SVSQ bắt đầu có cặp khi có màn trình diễn văn nghệ với các cô giáo trường Phan Bội Châu. Anh chàng Sanh phát hiện ra “Vẫn còn nhiều em coi ngộ lắm, mà là hoa chưa có chủ mới tuyệt! ”.

Thật sự, con gái vùng Điện Bàn, Duy Xuyên khá dễ thương. Họ không tiểu thư như gái Huế. Đa số có một vẻ đẹp khỏe mạnh, làn da trắng mát do vùng đất này xưa kia chuyên dệt lụa nuôi tằm. Họ ăn nói mạnh bạo và khá tự nhiên trong giao tiếp nhưng với bản chất rụt rè của mình, tôi chẳng kiếm được một em để dung dăng thị xã Hội An như các bạn.

Vào một ngày Thứ Bảy, nhóm tôi đi đắp đất làm đường ở xã Xuyên Châu. Cuối tuần nên anh nào trông cũng vội vàng để về văn nghệ văn gừng với các cô giáo. Gần 3 giờ, nhóm “Lờ quờ ” gồm tôi, Thế Hân và Kim Long nhận bao giàn cho các bạn làm nốt đoạn cuối cùng. Ba thằng con nhà ruộng đồng, lại không có em nên chúng tôi nhẩn nha cho đến xế chiều. Thấy một căn nhà có cái cổng vào bị lún, ba thằng thấm nhuần công tác dân vận làm luôn. Mọi việc hoàn tất, chúng tôi vào nhà xin rửa chân tay. Người thiếu phụ, chủ nhà, khoảng trên năm mươi, nét mặt còn vương nét một thời xuân sắc, không có vẻ mặn mà khi giao tiếp, chỉ chúng tôi ra giếng sau vườn.

Cái giếng được bao bọc bằng những viên đá ong mang dấu ấn thời gian. Nước giếng trong vắt và mát lạnh. Một cây ngọc lan tỏa bóng mát với những búp hoa còn xanh nhỏ nhắn như ngón tay út của người thiếu nữ đẹp. Tôi đưa tay vít một nhánh thì bỗng có…trái khế cắn dỡ bay vèo vào cánh tay. Ngước nhìn lên, cách đó khoảng năm mét, một cô gái đang vắt vẻo trên cành khế cổ thụ. Tôi nghĩ thầm  “Cô này mà bắn tỉa thì hết sẩy!”. Không hiểu trời xui đất khiến thế nào mà hôm nay Cóc tôi mở miệng:

– Xin cái hoa, làm gì dữ vậy cô em?

– Nhưng nó đang xanh, hái thấy thương!

–  Vậy cô em “trả công” chúng tôi cái gì đây?

Tưởng nói đùa cho vui, nhưng ai ngờ cô ta nhảy xuống và đi tới chúng tôi với một túi khế trên tay. Cô khoảng 18, 19 tuổi, mái tóc dài, làn da trắng hồng. Kim Long buột miệng “ Ui! Chu cha…”

Chưa nói được câu nào thì từ trong nhà có tiếng gọi:

-Hạnh, vào nhà ngay!

-Dạ…Cô gái lè lưỡi, nhét vào tay tôi túi khế nặng rồi chạy biến.

Ba thằng ra về với “thành quả lao động”.

Tối hôm ấy, cả nhóm được tráng miệng với những trái khế vàng ươm, ngọt thanh.Thế Hân thắc mắc: “Sao bà mẹ coi bộ hổng có cảm tình với bọn mình?”. Anh chàng Thu đào hoa góp chuyện: “Chắc bả sợ con gái rơi vào tay tụi bây, lũ gian ác!”

Dù sao tôi cũng đã biết cô gái tên Hạnh và…một cái nốt ruồi lớn ngay dưới chân mày bên trái. Có lẽ, biết cũng để cho vui thế thôi. Cù lần như tôi nước gì!

* * *

Chiều Chủ Nhật, tôi từ Chi khu ra cái quán nhỏ ở góc chợ thuê mấy cuốn truyện chưởng của Kim Dung về đọc cho qua ngày đoạn tháng. Cô chủ tên Dung, nghe đâu cũng là “hoa có chủ” của một anh K27. Đang lúi húi tìm thứ tự mấy cuốn Thiên Long Bát Bộ,  bỗng nghe một giọng nữ phát ra từ cửa quán:

  • – Chị Dung, tìm cho em cuốn “Áo tiểu thư” của Duyên Anh. Răng chị…

Câu nói ngắt ngang nửa chừng khi cô gái nhận ra có  bóng người trai lạ đứng trong góc. Tôi nhìn ra. Đó chính là cô gái có cái nốt ruồi trên chân mày ngày qua…

Sau này, khi quen nhau, Hạnh vẫn hay nói đó là duyên kỳ ngộ. Em bảo nhà em không ai thích lính. Cũng đúng thôi, nhà thơ Hữu Loan đã  viết “Lấy chồng chiến binh, mấy người đi trở lại” cơ mà. Tôi trêu “Ghét của nào trời trao của ấy!”. Em cúi mặt buồn buồn.

Hạnh là con gái duy nhất của gia đình.Tên em đơn giản là Trần thị Hạnh. Em kể Ba chết từ lúc mới sinh, mẹ ở vậy nuôi em khôn lớn. Em vừa tốt nghiệp lớp cán sự y tế ngoài Đà Nẵng, về quê thăm mẹ trong lúc chờ bổ nhiệm. Tôi thở phào. Em ra trường sớm mấy tháng, có khi  lũ bạn công tác đợt 1 đã dzớt mất rồi.

Tôi trở lại thăm má Hạnh mấy lần theo lời anh chàng Sanh cố vấn “attack at home” nhưng lần nào cũng gặp một nét mặt  lạnh lùng. Má Hạnh tránh tiếp xúc hoặc chỉ trả lời nhát gừng những câu hỏi chân tình của tôi. Nhìn bà, tôi liên tưởng đến nhân vật nữ Anh Cô căm thù đàn ông vì bị Đoàn Nam Đế phụ tình trong cuốn Anh hùng xạ điêu của Kim Dung. Có lần tôi còn thấy mắt Hạnh hoe hoe đỏ như vừa mới khóc xong.

Chúng tôi đành biến quán cho thuê truyện của cô Dung thành nơi hò hẹn. Giai đoạn đầu chẳng biết nói chuyện chi, cứ đem mấy cuốn truyện ra mà tán về các nhân vật hoặc chuyện nắng mưa…Ấy thế mà vắng nhau một ngày đã thấy nhơ nhớ…

Nhưng có lẽ tình yêu làm cho người ta thông minh ra. Nghe bạn bè, một chiều Thứ Bảy tôi bạo gan rủ nàng đi chơi nhà thờ Trà Kiệu. Mượn chiếc  Honda Dame của cô Dung, tôi chở Hạnh lên đường.

Nhà thờ núi Trà Kiệu nằm trên ngọn đồi Bửu Châu cao khoảng 60 mét thuộc xã Xuyên Kiệu. Đó là một ngôi nhà thờ cổ được trùng tu từ thế kỷ XIX. Đứng ở tháp chuông, chúng tôi nhìn xuống và ngợp trong màu xanh biêng biếc của cây lá dọc theo hai bờ của dòng sông Thu Bồn thơ mộng. Hàng me tây cổ thụ che rợp mát khu vực nhà thờ và gần đó là một ngôi trường tiểu học do các nữ tu đảm trách. Những chiếc áo choàng đen  trong bóng chiều tạo nên một vẻ đẹp nao lòng. Hạnh cúi đầu kính cẩn khi đi qua những bức tượng tái hiện mười hai  chặng đường  Thánh giá của Chúa Giê Su. Nàng chỉ cái giếng nước mà người xứ đạo phong là giếng nước Thánh. Ai chân tình cầu nguyện khi uống sẽ toại nguyện với ước vọng của mình. Hai đứa cùng ngậm ngụm nước mát. Hạnh nhắm hai mắt lại giây lâu. Tôi hỏi em cầu nguyện điều chi? Em thầm thì “Bí mật!”.

Chúng tôi ngồi nghỉ mệt bên một triền bắp ven sông. Hạnh nói với tôi cách đây khoảng 25 km là Thánh địa Mỹ Sơn, Vương quốc của triều đại Champa cũ. Tiếc rằng chúng tôi không đến được vì lý do mất an ninh. Ánh nắng chiều trải trên dòng sông Thu, gió mơn man như quạt hầu. Dòm kỹ cái nốt ruồi của em coi thật ngộ. Nó hồng hồng và nổi như một hạt đậu cuối chân mày. Em đỏ mặt xấu hổ khi thấy tôi cứ dòm chằm chằm vô mặt. Tôi kể cho em nghe về làng quê của mình, về tuổi nhỏ chăn trâu cắt cỏ, về góc vườn mỗi khi giận mạ thường ra ngồi gục mặt rồi ngủ thiếp lúc nào không hay…Hạnh chủ động cầm tay tôi bóp chặt.Tôi nghe rõ hơi thở dồn dập của em. Và thằng con trai 22 tuổi lần đầu tiên biết thế nào là câu hát của Phạm Duy phổ thơ Nguyễn Tất Nhiên “Uống ly chanh đường, uống môi em ngọt…”

Chúng tôi đã…thật sự yêu nhau từ giây phút đó. Có Hạnh tôi bớt cù lần hơn. Nhóm “Lờ quờ” mất cái đầu tàu. Hai  thằng bạn bắt tôi bao một chầu Mì Quảng ở Ngã ba Nam Phước trước khi từ giã nhóm. Chuyện nhỏ đối với một gã trẻ tuổi đang say hương vị tình yêu!

Chúng tôi đã có những ngày thật thú vị. Hạnh đưa tôi đi Hội An thăm lại ngôi trường Trần Quý Cáp thời nàng học trung học. Hai đứa lên Chùa Cầu nhìn tượng con chó và con khỉ, lang thang trên con đường nhỏ dọc sông Hoài ngắm những ngôi nhà lợp ngói âm dương. Tôi biết thêm món ăn độc đáo xứ Hội như cao lầu, bánh tráng đập Cẩm Nam, chén chè “ chí mà phù” của ông Tàu già trên phố Nguyễn Thái Học. Có một điều làm tôi cảm động, dù hơi ngượng, là thỉnh thoảng khi trả tiền, cô chủ quán bảo “cô bạn anh trả trước rồi”.

Mỗi lần như thế, Hạnh bảo – Để mặc em, cho nó vui.

Nhưng có lẽ Hạnh thích nhất là khi tôi tặng nàng tập thơ “Thuở làm thơ yêu em” của Trần Dạ Từ . Đến bây giờ tôi  vẫn còn nhớ rõ cái màu cà phê sữa của cuốn sách. Những câu thơ tài hoa như dành riêng cho chúng tôi trong bài thơ Nụ hôn đầu :

Lần đầu ta ghé môi hôn

Những con ve nhỏ hết hồn kêu vang

Vườn xanh, cỏ biếc, trưa vàng

Nghìn cây phượng vĩ huy hoàng trổ bông…”

Tôi ghi dòng chữ trên đầu trang : “Để em đọc khi nhớ anh”. Hạnh bảo:

– Đây sẽ là cuốn sách gối đầu giường của em. Mãi mãi.

Khi yêu Hạnh, thật sự tôi đã nghĩ đến một mái ấm gia đình. Lăng nhăng không phải là bản chất của thằng tôi cù lần. Chúng tôi còn hơn hai năm để nuôi dưỡng tình yêu. Nhưng thật khó khăn khi tiếp cận với má nàng để bà hiểu tôi là người tử tế.

Suy nghĩ  lâu lắm, Hạnh cắn môi bảo tôi:

-Thứ Bảy này mình lên nhờ bà Ngoại. Ngoại thương em lắm. Mà anh mặc đồ civil nhen.

Bà ngoại Hạnh ở Gò Nổi thuộc quận Điện Bàn. Bà trên 70 nhưng còn khỏe mạnh, giọng nói sang sảng. Trên bàn thờ có hình một ông mặc phẩm phục triều đình trông rất quắc thước. Hạnh bảo tôi đó là ông Cố, một trong Ngũ phụng tề phi của xứ Quảng Nam, niềm hãnh diện của dòng họ ngoại.

Bà đón tiếp cô cháu gái thật vồ vập: – Cha mày. Mấy lâu đi mô mất mặt không thấy thăm bà?

Niềm vui của bà lan qua cả bạn của cháu. Bà sai đứa cháu nhỏ múc nước lấy khăn cho  tôi rửa mặt, leo dừa hái trái “hai đứa”uống, ra vườn thử xem có trái mít nào trở tiếng thì chặt xuống cho “tụi nó” ăn…Đúng là một bà ngoại xứ Quảng nồng hậu mà chơn chất.

Bửa cơm trưa thật ngon miệng với thịt luộc chấm mắm cái, rau cải nấu canh cá rô thêm chút gừng.Tôi nằm trên bộ ngựa bằng gõ thiu thiu ngủ, hai bà cháu rì rầm to nhỏ ở phòng trong.

Chúng tôi ra về khi chiều đà nhạt nắng. Cái nhìn của bà cụ đối với tôi chăm chú hơn nhưng không còn vẻ ồn ào như ban sáng. Hạnh phụng phịu hờn dỗi và không chịu mang trái mít về làm quà như dự định.Trên đường  nàng im lặng nép sát người vào lưng tôi. Một linh cảm bất an trong lòng. Gia đình nàng chê tôi điểm nào???

*          *          *

Mười ngày liền tôi không gặp được Hạnh. Nhờ vã cô Dung hai lần nhưng không ăn thua, má nàng giữ rịt trong nhà. Lại nghe  bạn bè xôn xao đợt công tác có thể sắp kết thúc nhường cho K 29, lòng tôi như lửa đốt. Có đêm tôi liều mạng mượn chiếc Honda phóng về Xuyên Châu. Ngang nhà nàng cửa đóng kín mít, ánh đèn nhỏ hắt ra leo lét. Kim Long ngăn tôi : “Coi chừng có bữa anh Hai ăn súng của bọn du kích. Xứ này coi thế nhưng không hiền đâu!”

Chiều thứ ba, đang ngồi đánh domino với đồng đội thì anh chàng Thu đi về bảo tôi:

-Tao thấy má vợ của mày ngồi xe ôm đi đâu về hướng  Điện Bàn.

Cơ hội trời cho, tôi vất mấy con bài cho Kim Long rồi vẫy xe đi Xuyên Châu…

Nhà vắng ngắt nhưng cửa vẫn mở.Tiếng nước xối trong phòng tắm dưới nhà ngang. Để cho Hạnh khỏi ngượng ngùng, tôi không lên tiếng.Tôi nhìn kỹ mấy bức hình trên vách . Hình bà má hồi còn trẻ bế Hạnh trong lòng; hình Hạnh ôm con búp bê thời nhỏ; hình nàng trong chiếc áo blue trắng đang thực tập ở bệnh viện, cái nốt ruồi có món tóc mai che ngang… Phía bên kia là chiếc giường nhỏ có cái áo gối màu hồng thêu những bông hoa li ti, trên gối còn vương vài sợi tóc dài. Chắc Hạnh vừa nằm ngủ trưa xong.Tôi ngồi xuống cạnh giường, tự dưng có cái ý nghĩ thật lãng mạn là nhặt một vài sợi tóc của nàng làm của riêng. Dưới gối cồm cộm một cuốn sách.Tôi lật lên. Đúng là tập thơ của Trần Dạ Từ. Tôi nhớ câu nói của Hạnh hôm nào “Đây sẽ là cuốn sách gối đầu giường của em”, lòng xao xuyến một thứ tình cảm ngọt dịu.

Tôi lật vài trang sách, một tờ giấy nhỏ gấp tư  kẹp ngay bài thơ “Mối tình đầu”. Quả thực là tôi không nghi ngờ gì về tình cảm của Hạnh nhưng tôi vẫn tò mò giở ra. Nét chữ cứng cáp, chân phương có mấy dòng : “Hạnh, Ba đã nghe bà ngoại nói chuyện. Con hãy chấm dứt ngay mối quan hệ  không lành mạnh đó. Có cơ hội chúng ta sẽ trao đổi thêm.Trước mắt, chuẩn bị cho Ba ít thuốc kháng sinh.Sẽ có giao liên về lấy trong tuần tới.”

Tôi choáng người. Ba Hạnh chưa chết như nàng đã nói với tôi? Thứ ngôn ngữ này rõ ràng là loại ngôn ngữ của phía “bên kia”. Có lẽ nào ba nàng là  cán bộ Cộng Sản hoạt động nằm vùng? Có tiếng động dưới nhà ngang.Tôi đặt cuốn sách dưới gối trở lại ngồi ở bàn giữa, cố gắng giữ nét mặt thật bình tĩnh.

Hạnh xuất hiện trong bộ đồ hoa màu tím nhạt. Em mừng rỡ “a” lên một tiếng rồi sà xuống bên cạnh tôi, thì thào “Em nhớ anh quá!”.Mùi hương chanh và mùi tươi mát của da thịt con gái nồng nàn bốc lên nhưng quả thật tôi không còn lòng dạ nào để rung động. Tôi đẩy nhẹ người Hạnh ra. Nàng hơi khựng lại rồi hỏi tôi: “Anh đến lâu chưa? Sao anh biết má vắng nhà?” .Tôi trả lời “Do tình cờ vậy thôi”.

Những cảm xúc trong tôi đã bị dội một thùng nước lạnh. Đầu tôi rộn lên nhiều câu hỏi khó trả lời. Hạnh không giấu sự vồ vập và hé môi chờ đợi một nụ hôn say đắm nhưng tôi chỉ chạm phớt vào môi. Nụ hôn lần này sao nghe vị đắng chát. Tôi có cảm tưởng bị lừa dối, thậm chí hơi sợ hãi. Có lý nào cô ấy đang giăng bẫy tôi, một chàng Sinh viên Võ Bị, một Sĩ Quan quân lực VNCH tương lai ?

Người hàng xóm qua chơi kéo tôi thoát khỏi sự khó xử. Lấy cớ phải về họp gấp, tôi từ giã Hạnh trong nét mặt phụng phịu của nàng.Tôi đang cần thời gian để suy nghĩ.

Đêm hôm ấy tôi trằn trọc mãi. Gói Capstan gần hết dù tôi không phải là thằng nghiện thuốc lá.Tôi đã hiểu ra thái độ lạnh nhạt của má và bà ngoại nàng. Tôi tự vấn xem có khi nào Hạnh hỏi mình về lĩnh vực quân sự chưa? Có khi nào mình sơ suất tiết lộ điều gì chăng. Rõ ràng tôi yêu Hạnh nhưng phương châm của trường Mẹ đã khắc sâu “Tổ Quốc-Danh Dự-Trách Nhiệm”. Tôi thiếp đi với  điều  tâm niệm thứ tám trong Mười Điều Tâm Niệm của SVSQ/TVBQGVN : “Không có gì là không thể làm được đối với SVSQ”.

Tuần sau đó tôi nằm mẹp trong Chi khu. Hai lần có lời nhắn của cô Dung ra quán sách nhưng một lần tôi cáo ốm và một lần kêu bận công tác. Tôi không đủ can đảm để gặp Hạnh. Tôi sợ mình sẽ bị lung lay bởi đôi mắt ướt và cái nốt ruồi như hạt đậu đỏ cuối chân mày.

Rồi cũng đến ngày từ giã Duy Xuyên. Hạnh gởi qua Kim Long cho tôi một túi nhỏ gồm những mứt bánh thổ sản, sáu chiếc mouchoir có hai chữ H lồng nhau và lá thư chỉ có một dòng “Em yêu anh mãi mãi”.Tôi nhếch môi cười cay đắng, đem mớ quà cho bạn bè liên hoan, sáu cái khăn tay tôi để lại trên cái ghế bố ngủ đêm ở Chi khu và xé bức thư thành những mảnh nhỏ.

Ngày leo lên chiếc GMC ra phi trường quân sự Đà Nẵng, đưa mắt nhìn quanh, tôi nhận ra Hạnh đứng nép sau một cây phượng lớn. Em nhìn tôi, môi mấp máy điều gì không rõ. Thôi đành. Vĩnh biệt mối tình đầu oái oăm!

 

*          *   *

Về lại trường, chúng tôi chúi mũi vào học Văn hóa bù lại cho chuỗi ngày công tác. Sự bân rộn làm tôi không nghĩ ngợi nhưng khi đêm về tôi luôn nhớ đến Hạnh và những cái hôn mềm môi ướt rượt.Tôi nhận gác thay cho đồng đội ở Tiền đồn hoặc Đài tử sĩ mà không chút phân vân. Quên, quên và phải quên.

Nhưng bất ngờ thay, tôi trở thành người nổi tiếng của Đại đội vì những lá thư dồn dập bay về. Nét chữ màu tím mảnh mai của Hạnh! Một tuần tôi nhận đúng bảy lá! Một tháng đủ ba mươi chiếc phong bì! Tay đàn em K30 mỗi lần nhét thư vào phòng dù cố gắng nghiêm trang nhưng không giấu nổi nụ cười tủm tỉm.

Tôi không mở bất kỳ lá thư nào. Tôi kiếm một cái túi nilon và gom nó lại. Rồi cô ấy cũng sẽ hết kiên nhẫn.

Tháng sau, tôi có một lá thư với nét chữ lạ. Tôi mở phong bì. Dòng chữ ngắn của cô Dung: “Sao anh Hiệp không viết thư cho Hạnh?”. Tôi bỏ chung vào gói thư, không trả lời. Thời gian qua…

Đã gần cuối năm thứ ba.Tôi vẫn là một anh trai tân. Thật đáng thương hại khi trong đêm trao nhẫn truyền thống, tôi cầm lấy chiếc nhẫn tự lồng vào ngón tay mình. Tôi tiếp tục làm nhóm trưởng nhóm “Lờ quờ”, không quan tâm đến sự mối mai của bạn bè với các em gái Bùi Thị Xuân hoặc với những cô sinh viên Đại Học Chính Trị Kinh Doanh Đà Lạt danh giá.

Một chiều thứ Bảy, có tiếng của Sinh viên trực nhật trên loa phóng thanh gọi tôi ra hội quán Huỳnh Kim Quang gặp người thân. Không thể là mẹ tôi, người suốt đời chưa bao giờ nghĩ mình được ngồi máy bay, dù chỉ một lần. Không thể là em tôi đang  chúi đầu trên giảng đường Đại học ở xứ Huế xa xôi. Chỉ có thể là Hạnh? Lúc này tôi đã chuyển đại đội.Tôi chạy tìm Kim Long hiền lành cộng thêm anh chàng Thu hào hoa nhiều chiêu trốn gái ra hội quán tìm hiểu và cứu giúp. Lòng tôi như đánh lô tô. Ba mươi phút sau, Thu trở lại cười  rộng miệng “Xong rồi.Tao bảo mày đã hỏi vợ ở quê!”. Kim Long đi sau mặt buồn xo bảo tôi : “Anh Hai ác quá. Em khóc nhiều lắm. Tội quá trời luôn!”.

Đêm hôm ấy, tôi đốt hết tập thư của Hạnh.Trong mắt bạn bè cùng đi công tác Duy Xuyên, nhất là Thành Sang, Sinh viên Sĩ Quan  phụ trách câu lạc bộ Huỳnh Kim Quang, tôi là thằng Don Juan. Sang bảo “Thấy con nhỏ thất thểu ra về, tao muốn đấm vào mặt mày một cái ”. Cũng đành!

 

*     *   *

Tôi sẽ không nói nhiều về thời gian hơn hai năm đi tù, thân phận không bằng một con vật. Mạ tôi đã hồi cư cất túp lều trên nền đất cũ Long Hưng, em trai tôi bỏ học cầm cái bay đi làm thợ hồ. Tôi thành “con bà Phước” sống nhờ vào các niên trưởng và các chiến hữu có thân nhân thăm nuôi. Ngày cầm giấy ra trại, niên trưởng Huỳnh công Kỉnh, K25 còn phải cho tôi  tiền mua vé  tàu. Về làng xưa  vào ngày cuối năm lúc trời đã chạng vạng, mạ ôm chầm lấy tôi rồi nghẹn ngào bảo “Vào Nam đi con. Không sống nổi ở đất ni mô. Thay đổi hết rồi. Sâu bọ lên làm người rồi!”.Tôi ở được với mạ một đêm, cầm trong tay cái địa chỉ của người làng tận Sài Gòn, ăn hai bữa cơm trộn bắp rồi lại ra đi…

Trên chuyến xe Bắc Nam ọp ẹp, tôi đi qua vùng đất Quảng Nam đầy ắp kỷ niệm xưa…Hòa Khánh, Hòa Cầm, Cẩm Lệ, Vĩnh Điện, Duy Xuyên…Chắc bây giờ Hạnh đang ở trên  đà danh vọng, có khi  làm bà Cán Bộ cũng nên. Tôi cũng chẳng ân hận gì. Tôi với nàng rõ ràng là hai đường thẳng song song.

Tôi cũng chẳng muốn nhắc lại tháng ngày ngược xuôi kiếm sống trên đất Sài Gòn. Người làng cũ đã bán nhà đi kinh tế mới. Tôi nằm vơ vất ở bến xe Miền Đông ba đêm rồi may mắn gặp lại Ngọc, thằng bạn cùng đại đội. Hắn giúp tôi gặp nhóm bạn cũ đang thay nhau đạp xích lô từng ngày; có khi lại mang vác hàng cho mấy bà bán phụ tùng xe đạp ở chợ Trời; có khi lang thang không biết đêm nay mình sẽ ăn đâu, ngủ đâu. Đúng  như câu thơ của Lý Bạch “Xử thế nhược đại mộng!”. Cuộc đời  quả là một giấc mộng lớn. Mới ngày nào chúng tôi còn là những chàng trai hào hoa ấp ủ nhiều hoài bão.Tôi nghe tin anh Hoàng Tấn đã bị bắn chết vì phản kháng ở Đơn Dương- Đà Lạt. Bạn  bè cũ có thằng vượt biên thoát, thằng mất tích, thằng còn ở trong các trại giam, thằng vào rừng tìm lực lượng kháng chiến…

Rồi cuộc đời đưa đẩy tôi lưu lạc qua đất Campuchia bằng xe đò ở Tân Châu-Hồng Ngự. Tôi làm nghề cắt tóc dạo ở Phnompenh, bỏ mối thuốc cho một ông Trùm buôn lậu thuốc Tây của Xí nghiệp Quốc doanh Việt Nam kiếm cơm hàng ngày, thậm chí có khi còn làm y tá chích thuốc dạo cho bệnh nhân. Ơn trời, chưa nghe ai chết! Tôi giao tiếp với  người Cam ở các chợ Schabarbauu, chợ Chắc Nghệ… Đôi khi thất chí, muốn lấy đại một cô Miên quấn xà rông, có mấy cái răng vàng 24 karat  sáng chóe chuyên ăn mắm bò hóc cho xong đời!

Tình cờ tôi quen anh Tài, một Việt Kiều Miên về nước năm 1972 lúc người Việt bị cáp duồn. Anh lên lại Nam Vang  làm ăn và có ý định  vượt biên qua Thái Lan. Anh cần một tay sử dụng súng sẵn sàng bắn vào Công an hoặc hải tặc. “Một liều ba bảy cũng liều”, tôi nhận công việc này.

Chúng tôi lên Kompongsom mua một chiếc ghe cũ bề ngang 2m dài 7m được tân trang, sửa lại lốc máy và khởi hành vào một đêm tháng Tám từ Vịnh Tân Hao. Trên ghe có sáu người lớn và hai con nít. Ghe không dám đi gần bờ vì sợ lính biên phòng của Miên. May mắn thay, gần tới KoKong thì trời đổ mưa lớn che khuất tầm nhìn của các trạm gác. Lênh đênh trên biển 4 ngày chúng tôi gặp những chiếc tàu treo cờ Thái và ghe đi đúng hướng cập vào tận một hải cảng. Tôi chưa phải sử dụng cây M16!

Lúc quyết định theo anh Tài tôi có ý nghĩ nếu chuyến đi không thành công thì biển sẽ là mồ chôn cuộc đời đã tận đáy xã hội của mình.Tôi chẳng còn sợ gì cái chết. Tôi cũng  dự định nếu đến được Thái Lan thì sẽ ngữa mặt lên trời cười ba tiếng bù lại hơn 10 năm tủi nhục sau ngày Miền Nam sụp đổ. Nhưng tôi không làm được điều này vì chỉ kịp xách cái bao đi theo người lính Thái về trại tạm trú Leam Ngộp.

Sau ba tuần ăn, ngủ, nghỉ, chúng tôi chuyển lên trại chính là Panat Nikhom. Nghe nói chỉ hai tháng sau, trại tạm cư đóng cửa không còn chấp nhận người tị nạn Việt Nam.Và ở đây, tôi đã quen Minh Hạnh, vợ của tôi bây giờ.
Qua bao nhiêu gian khổ, tôi không còn giữ được bất cứ một thứ giấy tờ nào.Tôi chỉ còn nhớ số quân của mình. Nhưng may mắn thay, khi được  Cao ủy Liên Hiệp Quốc phỏng vấn, tôi gặp Thiếu tá niên trưởng Tôn Thất Diên K10, Trưởng khoa Anh Văn của Trường Võ Bị, đang làm phiên dịch cho phái đoàn.Thầy đã tận tình giúp đỡ tôi. Chao ôi là ân tình của trường Mẹ! Tôi được nhập cư vào đất Mỹ. Trong tháng ngày chờ đợi và học nghề ở Phi Luật Tân, bạn bè K28 cũng đã yểm trợ cho  tôi một ít tài chánh trong tình nghĩa đồng môn, bạn bè cùng khóa…

Như bao người đến Mỹ muộn màng, nên vợ chồng phải hùng hục kiếm sống. Một người ôm 2,3 jobs và thay đổi công việc liên tục từ hầu bàn, rửa bát, làm vườn, dọn tuyết, sơn nhà, giữ trẻ…đêm về còn phải đi học ESL . Bên nhà báo tin mạ mất , tôi cũng chẳng thể trở về. Thôi thì buổi chiều ly biệt cuối năm  đó, tôi cũng đã nhủ thầm “Lạy mẹ, con đi”…

Tôi cũng không hiểu sao vợ tôi lại có cái tên trùng với Hạnh Duy Xuyên? Lại sinh cùng năm ký hiệp định Geneve 1954. Minh Hạnh người Vĩnh Long và hiền lành như cây trái miệt vườn sông Hậu. Cô ấy chưa bao giờ hỏi tôi về quá khứ và cũng không biết gì về Trường VBQGVN với những chàng trai quân phục dạo phố worsted, Jaspe, cầu vai alfa đỏ… Chúng tôi từng bước ổn định cuộc sống với hai con gái chăm ngoan.

Sau những nhọc nhằn, giờ đây tôi đã có những phút giây thư giãn. Tôi bắt đầu liên lạc, thư qua tin lại với bạn bè xưa. K 28 có đâu khoảng 50 người trên đất Mỹ. Bạn bè  hầu hết đã quá 60, lâu lâu lại nghe tin buồn một thằng về “Vùng V”. Ôi! Đời người như bóng câu qua cửa sổ.

Năm ngoái, tôi về Houston, Texas tham dự Đại hội Võ Bị lần thứ 19.  Thật cảm động khi gặp lại  những gương mặt “gian ác” thuở nào. Chúng tôi hò hét, cười đùa y như những chàng trai mới lớn. Nhắc lại kỷ niệm xưa có thằng rươm rướm nước mắt dù tóc trên đầu đã ngã màu bạc trắng.

Hôm đến nhà hàng Kim Sơn dự dạ tiệc, ngang qua một số chị em Hội Phụ nữ Lâm Viên, tôi chợt nghe tiếng gọi:

  • – Anh Hiệp…Có phải anh Hiệp không???

Tôi dừng chân. Trước mặt tôi là một người đàn bà còn vẻ duyên dáng trong chiếc áo dài xanh truyền thống…Nhưng tôi không thế nào nhớ nổi đó là ai.

Người đàn bà mỉm cười: -Trông anh không thay đổi mấy. Em nhận ra ngay. Dung Duy Xuyên đây! Anh còn nhớ không?

            -Ồ, cô Dung Duy Xuyên, người góp phần mai mối cho mối tình đầu của tôi ở Quảng Nam. Chúng tôi mừng rỡ. “Tha hương ngộ cố tri ”, hạnh phúc nào bằng! Chúng tôi bồi hồi nhắc lại chuyện hơn 40 năm về trước, thời tôi là một anh SVSQ cù lần và Dung với cái quán cho thuê sách ở góc chợ…Dung đã lấy vị Niên trưởng K27 khi anh đi “tù cải tạo” về và hai vợ chồng qua Mỹ theo diện HO năm 1992.

Dung chợt nghiêm mặt hỏi tôi:

– Anh có nhớ gì về Hạnh không?. Tôi cười cười:

– Sao? Cô ấy làm bà Bí thư Tỉnh ủy chưa? Có bao nhiêu biệt thự rồi?

-Anh không biết thật sao? Đàn ông các anh thật vô tâm…Nó tội lắm.

Dung kể cho tôi nghe. Quả thực như tôi nghĩ, ba Hạnh không chết như trong lý lịch đã khai. Ông tập kết ra Bắc khi Hạnh còn nằm trong bụng mẹ và trở về Nam từ những năm 70. Ông móc nối với gia đình để được tiếp tế và hoạt động trên đất Quảng Nam. Đó cũng chính là lý do mà cả bà ngoại và má Hạnh ngăn cản không cho Hạnh giao tiếp với tôi, một người lính VNCH. Sau ngày tôi trở về trường không lời từ giã, Hạnh đau khổ lắm. Không nhận được thư hồi âm, cô trốn nhà lặn lội vào Đà Lạt. Trước thái độ cự tuyệt lạnh lùng và dứt khoát của tôi, cô về sống lầm lủi ở Xuyên Phước, phụ trách phòng Hộ sinh Xã.

Ngày miền Nam mất, ba Hạnh công khai xuất hiện với cương vị một  “cán bộ Cách Mạng” cao cấp trong sự mừng rỡ của người mẹ chờ đợi  đằng đẳng 20 năm ròng. Nhưng ngày vui ngắn ngủi chẳng được bao lâu. Sự thủy chung của bà đã bị trả giá khá phũ phàng. Chỉ bốn tháng sau, một người đàn bà miền Bắc xuất hiện với những đứa con sau lưng. Ba Hạnh lúng túng giải thích, nhưng mọi chuyện đã quá rõ ràng. Má Hạnh không có con trai. Căn nhà từ đường có cây ngọc lan, có cái giếng đá ong đành để lại cho gia đình mới. Hai mẹ con trở về Điện Bàn sống  với bà Ngoại trong ngôi nhà tôi đã một lần đến thăm.

Hạnh từ chối đặc quyền đặc lợi dành cho  “con em chính sách” đi học Bác sỹ ở Hà Nội. Mẹ Hạnh suy sụp hẳn đi và mất sau một cơn đột quỵ. Trước khi mất, bà cầm tay Hạnh ứa nước mắt như một lời xin lỗi muộn màng. Mãn tang mẹ, Hạnh quyết định đi tu Thiên Chúa giáo dòng Phước Môn. Và hiện giờ nàng đang là một nữ tu phụ trách trường trẻ em mồ côi gần Nhà thờ Núi Trà Kiệu!

Tôi ngồi lặng.Trong đầu tôi dần hiện ra hình ảnh cô gái có khuôn mặt trắng mát, cái nốt ruồi như hạt đậu đỏ cuối chân mày, một buổi chiều tháng Ba,ngôi nhà thờ cổ, ngụm nước giếng mát lạnh và …nụ hôn đầu. “Lần đầu ta ghé môi hôn. Những con ve nhỏ hết hồn kêu vang…”

Tôi biết mình sẽ có nhiều đêm mất ngủ. Hạnh ơi!…

    Hương Thủy

 

 

 

 

 

BẢN SAO TỘI NGHIỆP.

 

Mười bảy tuổi, quyển sách đầu tay của tôi được tủ sách Tuổi Hoa xuất bản… Cả một thế giới nhỏ bé quanh tôi xôn xao, nhưng ba vẫn thản nhiên:

– Ba tưởng con thích làm một nhà thơ hơn chứ!

Tôi cũng tưởng thế, từ năm lớp tám, tôi đã có những bài thơ trẻ con đăng trên các báo, tôi trả lời:

– Con muốn khẳng định mình.

Hơi huênh hoang, nhưng ba chẳng nói gì… Tôi biết những việc tôi làm được là nhờ ba tôi… Tâm hồn thơ dại của tôi được nuôi dưỡng trong một môi trường đẹp, tôi có một tủ sách cổ quý giá của ông nội để đắm chìm vào đọc thay vì rong chơi cùng bè bạn, tôi có một vườn Quỳnh để thao thức nửa đêm ngắm từng nụ hoa run rẩy nở, đẹp đến trào nước mắt, tôi có một con đường Trúc Đào tuyệt vời trong khoảng sân để mỗi ngày cứ thơ thẩn “còn lối bâng khuâng ngõ Trúc Đào”… Những buổi ngâm thơ, bình thơ của ba vào những ngày trăng tỏ đã ru ấu thời tôi vào dòng cổ tích. Các thầy cô dạy văn đã rất ngạc nhiên vì một con bé non choẹt như tôi lại rành rẽ điển tích, điển cố như một nhà nho chân chính…

Ba tôi hiền lắm, tất cả mọi người tiếp xúc với ông đều yêu quý ông, nhưng ông lại rất nghiêm khắc với tôi, có lẽ hơn ai hết, ông biết tôi là một con nhóc bất trị, nhưng thật ra ngoài cái vẻ huênh hoang bất cần, trái tim tôi chỉ là một chiếc lá non run rẩy – như con ốc mượn vỏ che thân vậy mà – Làm bất cứ việc gì tôi cũng cố gắng hết sức để ba hài lòng và tôi sống không một chút nào bình an… Một người bạn lớn làm thơ ở phương xa có hẹn đến nhà, rồi khi tìm đến chỉ để bỏ vào thùng thư một tờ thư nhẹ hẫng: “Tôi đã đến nhà, nhà em kín cổng cao tường, hàng xóm nói em là con ông lớn… ” Đọc thư, tôi đã đau đớn biết bao!

Năm 1972, mùa hè đỏ lửa, Nha Trang của tôi lúc ấy là một thị xã yên bình nhất nước, nửa đêm cả xóm hốt hoảng vì tiếng xe cộ ầm ĩ, xôn xao… Khu vực Xóm Mới thuở ấy còn rộng rãi lắm, cuối đường nhà tôi là một rừng dương liễu có đường mòn đi ra biển… Những người dân Pleiku di tản xuống Nha Trang đã tìm đến ba tôi trong cơn hoảng loạn trước khi tìm đến chính quyền… Những năm trước đó, ba tôi đã nhận thêm một trách nhiệm khác nữa thuộc ngành giáo dục…

Khi ba tôi mất, tôi như một con diều đứt dây, bay lang thang cùng trời cuối đất mà không biết lúc nào rơi xuống… chỉ biết là cần phải bay cao bay xa… Tôi ra trường năm 1978, về dạy học ở một nơi tận cùng của tỉnh, ông Hiệu Trưởng trấn an:

– Cô yên tâm, ngày xưa ba cô nuôi tôi suốt mấy năm sư phạm.

Tôi không hề biết chuyện đó, mẹ tôi chỉ nói:

– Có mấy đứa sinh viên của ba ở quê ra, nghèo lắm, ba cho tiền ăn học… sau nghe nói lên rừng.

Và trong một dịp đến trại An Dưỡng nuôi người già và trẻ mồ côi Lạc Thiện, ông Giám Đốc đã nhận ra tôi không biết qua tên hay qua nét mặt.

– Ngày đó, tôi được lệnh ném một quả lựu đạn vào nhà ba cô nhưng tôi không thể, thay vào đó tôi chỉ quăng một cục sắt để cảnh cáo… Sau đó tôi bị điều qua nơi khác.

Chuyện này thì tôi biết, năm 1970, bên ngoài cục sắt là những lớp giấy báo và một lá thư… Đó cũng là lý do ba tôi muốn từ chức để bảo vệ sự an toàn cho cả gia đình, nhưng rất tiếc ba đã không làm được điều ấy để rồi 5 năm sau trả nợ cho đất nước bằng chính sinh mạng của mình.

Thuở nhỏ, tôi vừa đau khổ vừa hãnh diện vì ba, những mối tình thơ dại của tôi bị ánh mắt giễu cợt của ba đốt thành tro bụi và biến tôi thành một kẻ bạc tình bạc nghĩa. Rồi những bài thơ đăng ở Tuổi Hoa, Tuổi Ngọc, Ngàn Thông, Mây Hồng, … Những truyện ngắn đăng ở Sóng Thần, Thời Tập… Ban đầu vì đam mê, thích thú sau dần dần như một cái nghiệp phải trả hoài trả hủy.. Nhiều lúc tôi quá mệt mỏi vì những cố gắng của mình… Tôi chỉ muốn nằm dài ngày này qua ngày khác, nhưng tôi biết ba kỳ vọng vào tôi những hoài bão lớn vì khi ông đọc bài phỏng vấn tôi trên một tờ báo trẻ, tôi đã trả lời rất thành thật vào lúc đó, ước mơ của tuổi mười bảy dễ thương: “Em muốn khi ra trường sẽ được làm tùy viên báo chí của tổng thống.” Ba hỏi : “con thật sự nghĩ đến việc đó sao?”

 Nhưng không ai biết tôi mơ ước những gì, vì những khi quá mệt mỏi, tôi vẫn thường tự nhủ: “tôi chỉ thích làm thơ và đi chơi lang thang!”

Tôi muôn đời chỉ là một bản sao tồi tệ .

Thế rồi khi ba mất vào sinh nhật tôi năm 19 tuổi, tôi buông thả hết, tôi ném những mơ ước của mình vào một xó xỉnh nào đó của giòng đời luân lạc, tôi cay đắng nghĩ rằng bây giờ tôi có làm gì bậy bạ cũng chẳng sợ ai, tôi đi xóa mù trên núi, tôi học Cao Đẳng Sư Phạm, tôi ra trường đi dạy xa lơ xa lắc, bỏ dạy, lấy chồng, viết diễn văn thuê, mở nhà hàng nổi tiếng có tên trong các sách giới thiệu du lịch của Thái Lan, viết lách lăng nhăng rẻ tiền theo đơn đặt hàng không dám ký cả tên mình… Nhiều lúc trái tim loạn nhịp than van, vì đâu nên nỗi ???

Cách giáo dục của ba tôi đúng hay sai tôi không biết vì 5 người khác trong gia đình đều thành công mỹ mãn, trừ tôi ra, lơ ngơ láo ngáo: “Ma đưa lối, quỷ dẫn đường/ Lại tìm những chốn đoạn trường mà đi”…
Chốn đoạn trường của tôi nhiều gập ghềnh cay đắng, nhưng tôi cứ hất cái mặt đáng ghét của mình lên để tự hào rằng tôi không sợ, tôi chưa bao giờ biết thế nào là sợ hãi… vì quanh tôi lúc nào cũng có những thiên thần hộ mệnh để tôi can trường đi tiếp con đường mình đã chọn dù khá chông gai và  đâu đó… đôi khi … như ngày xưa,  khi quá mệt mỏi, tôi vẫn thường tự nhủ: ” …thật sự, tôi chỉ thích làm thơ và đi chơi lang thang!”

TÔN- NỮ THU- DUNG

ghi trên dòng sinh mệnh .

ta một buổi già hơn hôm trước
ngồi soi gương rồi quẳng gương đi
chạm khoé mắt thấy dăm giòng lệ
khô lâu đời trên bước thiên di

và từng buổi buồn vui đổ xuống
nhánh sông hằng chả biết về đâu
yêu cũng chỉ là vì trót lỡ
đời sinh ta sinh cả bể dâu

từng buổi sáng nắng reo giữa ngọ
tan vào đêm bóng tối thương trăng
trăng nhớ núi nằm nghe sóng vỗ
sóng xa bờ tìm dáng trăm năm.

Ngô Yên Thái

CANH BẠC CÕI NGƯỜI

 

1)

Đổi từng bước giang hồ mua hương lửa
Đời không ngai nên tất bật gánh rong chơi
Hồn thu thảo trăng ả đào môi miếng
Một phần ta ba phần mộng nghịch đời

2)

Mưa viếng lá lá vụt rơi về cội
Người viếng người câm điếc cõi phù vân
Lửa hay khói rụi trơ dòng nhiệt huyết ?
Đành lòng chờ đông trần trụi căm căm

3)

Hồn đá lạnh đợi viếng nhau mờ mịt
Muối trong sương rướm máu những hoa hồng
Bầy thú rậm rật nhau lời hoa mỹ
Người đợi người dài lắm biệt mù đông

4)

Mỗi sắc mặt lộ chênh gương phù thủy
Miếng môi nhau chia canh bạc cõi người
Trò sát phạt thú-người tô vẽ mãi
Bỗng lộ hàng nhờm tởm mặt đười ươi

5)

Váy tung xòe tuột truồng con bài tẩy
Nhẵn đãi bôi trượt gió bụi hồng nhan
Tung hê lắm món ngàn vàng ôi ỉu
Mấy sát na bầm dập đóa trinh tân ?!..

Chu Thụy Nguyên

Đọc một số bài thơ trong “Lễ tẩy trần tháng tư – The purification festival in April” của Inrasara

 

Inrasara là bút danh quen thuộc của một cây bút người Chăm. Tên thật của anh là Phú Trạm. Quê anh là làng Chăm Mĩ Nghiệp – nổi tiêng với nghề dệt thổ cẩm – thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận. Inrasara sinh năm 1957. Năm 2917 này, anh tròn 60 tuổi.

“Lễ tẩy trần tháng Tư – The purification festival in April” là một tuyển tập thơ và trường ca được Nhà xuất bản Văn Nghệ xuất bản năm 2005. Tuyển tập thơ gồm 26 bài thơ và 6 đoạn trường ca và được in với 2 thứ tiếng: Việt, Anh. Tác phẩm này đã mang về cho Inrasara 2 giải thưởng: Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam và Giải thưởng Văn học Đông Nam Á (ASEAN).

Trong bài viết này, tôi chỉ điểm qua “Lời đề từ” và 5 bài thơ mà tôi yêu thích. Như thế, bài viết sẽ ngắn gọn hơn, ít làm mất thì giờ quí báu của người đọc hơn.

  1. “Lời đề từ”

“Lời đề từ” ở đầu sách được in bằng 3 thứ tiếng: Chăm, Việt, Anh. “Lời đề từ” lại là một bài thơ ngắn, chỉ gồm 5 dòng. Có một thầy giáo dạy Văn đã thuộc lòng “Lời đề từ” này, đọc cho tôi nghe và bảo rằng: “tôi chẳng hiểu Inrasara nói gì cả”!

Theo tôi, có lẽ đây là một tuyên bố, tuyên ngôn về đổi mới chữ nghĩa, đổi mới văn chương, đổi mới tư duy, tư tưởng, tình cảm, … của nhà văn, của nghệ sĩ. Đó là một khát khao lớn của nhà thơ. Vì thế, anh đặt nó lên đầu tập sách. Việc anh cho 41 chữ cái Chăm, các chữ cái La tinh tắm gội cùng anh trên dòng sông Lu chỉ là một ẩn dụ, có thể có nhiều cách hiểu khác nhau. Tôi trích nguyên vẹn “Lời đề từ” dưới đây để người đọc rộng đường tìm hiểu:

… Buổi sáng – rất sảng khoái, tôi ra sông Lu

gánh theo đầu kia 41 inư akhar Cham KCT (1),

đầu này nhúm chữ cái Latinh ABC

nhận đầu chúng xuống nước bắt tắm gội từng đứa một

và tôi vui vẻ tắm với chúng.

Theo tôi biết, Inrasara sử dụng thành thạo tiếng Chăm, tiếng Việt, tiếng Pháp, tiếng Anh (41 mẫu tự Chăm: tiếng Chăm, các mẫu tự La tinh: tiếng Việt, tiếng Pháp, tiếng Anh).

 “Đứa con của đất”

“Đứa con của đất” là một bài thơ dung dị, mộc mạc, đã khắc họa chân thực chân dung của tác giả qua các thời kì: sinh ra ở một miền đầy nắng và gió của vùng cực nam trung bộ, được nuôi dưỡng bằng tình mẹ, tình cha, tình ông, tình làng, lớn lên trong chiến tranh, tiếp xúc các trào lưu tư tưởng của thờ đại, chới với, bế tắc, gặp người yêu, quên mất những câu ca điệu hát của dân tộc mình, cảm thấy như đui mù, như bị vứt bỏ. Và, cuối cùng nhà thơ đã “ngóc đầu dậy”, “trườn lên”, “rướn mình”, tìm lại được chính mình và “nắng quê hương”. Tất cả như một sự phục sinh kì diệu:

… Tôi đánh rơi thế giới và tôi lạc mất tôi

Tôi lạc mất điệu đwa buk (2), câu ariya (3), bụi ớt

Trái tim đui

Tôi như người bị vứt

rớt giữa cánh rừng hoang trụi lá mùa xanh.

  Rồi tôi ngóc đầu dậy và tôi trườn lên

rồi tôi rướn mình khỏi hố hang quá khứ

như kẻ bị thương mò tìm lối ra khỏi đống tan hoang thành phố

tôi tìm lại tôi

tìm thấy nắng quê hương!

Lại xanh trong tôi – dù rừng đã cháy

lại chảy trong tôi – dù sông đã chết

chợt hanh lại cát – chợt buồn lại ru

chợt duyên lại em – chợt hoang lại tháp

 Giọng mẹ xa vời dỗ giấc thiên thu.

 “Đêm Chăm”

Đêm Chăm” tái hiện sinh động đêm hội Katê tưng bừng tại một làng quê Chăm. Bao người con của làng đi làm ăn xa, đã hối hả, lũ lượt quay về làng để cùng vui, cùng múa hát với tiếng trống ginăng, tiếng trống baranưng (4) thân yêu:

Với đêm nay rừng tháng Mười phát sáng

với đêm nay mắt họ bừng kiêu hãnh

tha hương bao nhiêu năm vẫn nhịp đề huề.

 Baranưng vỗ dội bờ dĩ vãng

người nông dân buông mình vào mẫu số chung định phận

trong bập bềnh những thế kỉ ginăng.

 Thơ Inrasara không hấp dẫn bởi ngôn từ đẽo gọt, óng mượt mà hấp dẫn bởi lời tự sự chân thực, bởi câu chữ mộc mạc, dung dị và mới lạ.

  1. Không ai có thể hát thay chúng ta

“Không ai có thể hát thay chúng ta”, theo tôi, là một thông điệp sâu sắc: không ai sống cuộc đời của ta, không ai chịu trách nhiệm về số phận của ta. Mỗi người phải sống cuộc đời mình, phải tự viết lịch sử của đời mình:

Không ai có thể hát thay chúng ta

nơi đây và lúc này

cả hôm sau có lẽ….

 … Không có ai

tim dễ cháy hơn trái tim chúng ta

phía đau khổ.

 Cha

Cũng với lối tự sự thủ thỉ, chân phác, Inrasara đã khắc họa chân dung người cha và biểu hiện mối tình cha – con sâu nặng, đằm thắm. Người cha sinh ra trong hoàn cảnh y tế, y học chưa phát triển, bệnh tật hoành hành hung tợn. Như một phép lạ, ông đã sống sót để làm người:

Xưa

dưới cái rây lịch sử khổng lồ

cha lọt sàng sống sót.

 Lổm ngổm bò dậy làm người

một phép lạ.

 Phải lo mưu sinh, làm nhà, làm ruộng, làm rẩy, … cha anh không có thời gian cho văn chương, triết học. Đa số những người đàn ông thuộc các thế hệ trước đều “phải” như thế! Chỉ có rất ít người được học hành đến nơi đến chốn và có đủ áo cơm để mơ mộng, suy tư.

 

Glang Anak, Pauh Catwai (5) phải vội vã

viết đã rất ngắn

như thể trối trăng.

 Cha giấu mặt sau trang thơ

ngăn tiếng nấc.

 Kẻ sống sót không có giờ cho văn chương

một khoản trời để thở.

 Không mơ dựng tiếng tăm

một ngôi nhà cư trú.

 Nhưng, đến thế hệ của anh, được sinh ra và lớn lên trong ngôi nhà đẫm mồ hôi và nước mắt của cha, anh đã lớn khôn, đã trưởng thành, đã có thì giờ để làm thơ, viết văn và luận bàn triết học.

Từ ngôi nhà này

con ra đời và khôn lớn

con biết nghĩ siêu hình / tập làm văn chương

con không quên cha / không quên mình

vẫn đủ giờ suy tư siêu hình, sáng tác văn chương

đủ giờ nghĩ kĩ, viết dài

dài mười lần trăm lần nghìn lần hơn

Pauh Catwai, Giang Anak.

 Thơ hay là nghệ thuật của sự chân thành. Inrasara không hề nói thương, nói yêu mà ngập tràn yêu thương, mà thắm thiết tình phụ tử!

  1. Chân dung nàng

“Chân dung nàng” mang dấu ấn thời cuộc: nông dân rời bỏ ruộng đồng, nương rẫy để vào các thành phố mưu sinh. Nam nhi trai tráng đã gặp vô vàn bất trắc huống gì các cô gái. Cô gái Chăm lại càng khó khăn hơn. Nhưng, vì sự sống của gia đình và của chính bản thân, người con gái Chăm vẫn phải rời xa ngôi nhà thân yêu, rời xa cha mẹ, xóm làng. Cô gái phải ra đi, phải vào phố như một sự ép buộc:

Em bị nhổ khỏi plây (6)

bị văng vào phố.

 Em không có dây chuyền / không có quần jeans

mang linh hồn ngọn đồi

em lạc vào phố lạ.

 Nhiều đồng ruộng tốt tươi đã bị san lấp để làm nhà máy này, xí nghiệp nọ, sân gôn kia, … và vì thế người nông dân đã phải bỏ làng vào phố một cách bất đắc dĩ. Họ gặp phải vô vàn gian khó, trùng điệp nhọc nhằn nơi đất khách quê người. Tất cả đều xa lạ với cô gái Chăm:

Em giặt giũ trong căn gác lạ

em thợ phụ trong xưởng may lạ

em hoảng hốt trong con hẻm lạ.

 Mang linh hồn ruộng đồng

em rụng vào đêm lạ.

Năm tháng đi qua, cô gái Chăm có lần về thăm làng đôi hôm, nửa ngày rồi lại quày quã vào phố, tình yêu cũng phải quên đi, cô gái chào từ biệt xóm làng, chào từ biệt người yêu – người con trai – nay đã “vợ con đủ đầy”!

Nàng vẫn đi về mênh mông hướng phố

vẫy anh em đang mắt nhìn mở cửa

vẫy người yêu đã vợ con đủ đầy

vẫy bà con mãi liêu xiêu bão lũ.

 Ta chúc cho cô gái Chăm, các cô gái nói chung, phải bỏ làng vào phố, được bình an, gặp nhiều may mắn và thành công!

Và, vui biết bao, cuối cùng, cô gái Chăm đã về lại làng, về với đồng ruộng, về với những ngọn đồi quên thuộc:

Hình như hồn buồn nàng hé nắng

sẵn sàng mọc trái cây ban mai.

 Bỗng một hôm làng có em trở về

vỡ linh hồn ngọn đồi ruộng đồng

như một dòng khởi đầu in đậm.

 Tóm lại, ta thấy rõ thơ Inrasara có một nét riêng độc đáo. Đó là sự mộc mạc, dung dị của ngôn từ, cái mới, cái lạ trong diễn đạt, sự chân thành, kín đáo trong biểu hiện tình cảm, cảm xúc. Có lẽ vì thế, thơ Inrasara dễ đi vào lòng người.

Ninh Thuận, 15-11-2017

PHAN THÀNH KHƯƠNG

 

(1) 41 inư akhar Cham KCT = 41 mẫu tự tiếng

(2) đwa buk = vũ điệu truyền thống của người Chăm.

(3) ariya = thi ca

(4) ginăng, paranưng = 2 loại trống của người Chăm.

(5) Glang Anak, Pauh Catwai = các trường ca cổ của dân tộc Chăm ở đầu thế kỉ XIX.

(6) plây = palei = làng.