Đọc một số bài thơ trong “Lễ tẩy trần tháng tư – The purification festival in April” của Inrasara

 

Inrasara là bút danh quen thuộc của một cây bút người Chăm. Tên thật của anh là Phú Trạm. Quê anh là làng Chăm Mĩ Nghiệp – nổi tiêng với nghề dệt thổ cẩm – thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận. Inrasara sinh năm 1957. Năm 2917 này, anh tròn 60 tuổi.

“Lễ tẩy trần tháng Tư – The purification festival in April” là một tuyển tập thơ và trường ca được Nhà xuất bản Văn Nghệ xuất bản năm 2005. Tuyển tập thơ gồm 26 bài thơ và 6 đoạn trường ca và được in với 2 thứ tiếng: Việt, Anh. Tác phẩm này đã mang về cho Inrasara 2 giải thưởng: Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam và Giải thưởng Văn học Đông Nam Á (ASEAN).

Trong bài viết này, tôi chỉ điểm qua “Lời đề từ” và 5 bài thơ mà tôi yêu thích. Như thế, bài viết sẽ ngắn gọn hơn, ít làm mất thì giờ quí báu của người đọc hơn.

  1. “Lời đề từ”

“Lời đề từ” ở đầu sách được in bằng 3 thứ tiếng: Chăm, Việt, Anh. “Lời đề từ” lại là một bài thơ ngắn, chỉ gồm 5 dòng. Có một thầy giáo dạy Văn đã thuộc lòng “Lời đề từ” này, đọc cho tôi nghe và bảo rằng: “tôi chẳng hiểu Inrasara nói gì cả”!

Theo tôi, có lẽ đây là một tuyên bố, tuyên ngôn về đổi mới chữ nghĩa, đổi mới văn chương, đổi mới tư duy, tư tưởng, tình cảm, … của nhà văn, của nghệ sĩ. Đó là một khát khao lớn của nhà thơ. Vì thế, anh đặt nó lên đầu tập sách. Việc anh cho 41 chữ cái Chăm, các chữ cái La tinh tắm gội cùng anh trên dòng sông Lu chỉ là một ẩn dụ, có thể có nhiều cách hiểu khác nhau. Tôi trích nguyên vẹn “Lời đề từ” dưới đây để người đọc rộng đường tìm hiểu:

… Buổi sáng – rất sảng khoái, tôi ra sông Lu

gánh theo đầu kia 41 inư akhar Cham KCT (1),

đầu này nhúm chữ cái Latinh ABC

nhận đầu chúng xuống nước bắt tắm gội từng đứa một

và tôi vui vẻ tắm với chúng.

Theo tôi biết, Inrasara sử dụng thành thạo tiếng Chăm, tiếng Việt, tiếng Pháp, tiếng Anh (41 mẫu tự Chăm: tiếng Chăm, các mẫu tự La tinh: tiếng Việt, tiếng Pháp, tiếng Anh).

 “Đứa con của đất”

“Đứa con của đất” là một bài thơ dung dị, mộc mạc, đã khắc họa chân thực chân dung của tác giả qua các thời kì: sinh ra ở một miền đầy nắng và gió của vùng cực nam trung bộ, được nuôi dưỡng bằng tình mẹ, tình cha, tình ông, tình làng, lớn lên trong chiến tranh, tiếp xúc các trào lưu tư tưởng của thờ đại, chới với, bế tắc, gặp người yêu, quên mất những câu ca điệu hát của dân tộc mình, cảm thấy như đui mù, như bị vứt bỏ. Và, cuối cùng nhà thơ đã “ngóc đầu dậy”, “trườn lên”, “rướn mình”, tìm lại được chính mình và “nắng quê hương”. Tất cả như một sự phục sinh kì diệu:

… Tôi đánh rơi thế giới và tôi lạc mất tôi

Tôi lạc mất điệu đwa buk (2), câu ariya (3), bụi ớt

Trái tim đui

Tôi như người bị vứt

rớt giữa cánh rừng hoang trụi lá mùa xanh.

  Rồi tôi ngóc đầu dậy và tôi trườn lên

rồi tôi rướn mình khỏi hố hang quá khứ

như kẻ bị thương mò tìm lối ra khỏi đống tan hoang thành phố

tôi tìm lại tôi

tìm thấy nắng quê hương!

Lại xanh trong tôi – dù rừng đã cháy

lại chảy trong tôi – dù sông đã chết

chợt hanh lại cát – chợt buồn lại ru

chợt duyên lại em – chợt hoang lại tháp

 Giọng mẹ xa vời dỗ giấc thiên thu.

 “Đêm Chăm”

Đêm Chăm” tái hiện sinh động đêm hội Katê tưng bừng tại một làng quê Chăm. Bao người con của làng đi làm ăn xa, đã hối hả, lũ lượt quay về làng để cùng vui, cùng múa hát với tiếng trống ginăng, tiếng trống baranưng (4) thân yêu:

Với đêm nay rừng tháng Mười phát sáng

với đêm nay mắt họ bừng kiêu hãnh

tha hương bao nhiêu năm vẫn nhịp đề huề.

 Baranưng vỗ dội bờ dĩ vãng

người nông dân buông mình vào mẫu số chung định phận

trong bập bềnh những thế kỉ ginăng.

 Thơ Inrasara không hấp dẫn bởi ngôn từ đẽo gọt, óng mượt mà hấp dẫn bởi lời tự sự chân thực, bởi câu chữ mộc mạc, dung dị và mới lạ.

  1. Không ai có thể hát thay chúng ta

“Không ai có thể hát thay chúng ta”, theo tôi, là một thông điệp sâu sắc: không ai sống cuộc đời của ta, không ai chịu trách nhiệm về số phận của ta. Mỗi người phải sống cuộc đời mình, phải tự viết lịch sử của đời mình:

Không ai có thể hát thay chúng ta

nơi đây và lúc này

cả hôm sau có lẽ….

 … Không có ai

tim dễ cháy hơn trái tim chúng ta

phía đau khổ.

 Cha

Cũng với lối tự sự thủ thỉ, chân phác, Inrasara đã khắc họa chân dung người cha và biểu hiện mối tình cha – con sâu nặng, đằm thắm. Người cha sinh ra trong hoàn cảnh y tế, y học chưa phát triển, bệnh tật hoành hành hung tợn. Như một phép lạ, ông đã sống sót để làm người:

Xưa

dưới cái rây lịch sử khổng lồ

cha lọt sàng sống sót.

 Lổm ngổm bò dậy làm người

một phép lạ.

 Phải lo mưu sinh, làm nhà, làm ruộng, làm rẩy, … cha anh không có thời gian cho văn chương, triết học. Đa số những người đàn ông thuộc các thế hệ trước đều “phải” như thế! Chỉ có rất ít người được học hành đến nơi đến chốn và có đủ áo cơm để mơ mộng, suy tư.

 

Glang Anak, Pauh Catwai (5) phải vội vã

viết đã rất ngắn

như thể trối trăng.

 Cha giấu mặt sau trang thơ

ngăn tiếng nấc.

 Kẻ sống sót không có giờ cho văn chương

một khoản trời để thở.

 Không mơ dựng tiếng tăm

một ngôi nhà cư trú.

 Nhưng, đến thế hệ của anh, được sinh ra và lớn lên trong ngôi nhà đẫm mồ hôi và nước mắt của cha, anh đã lớn khôn, đã trưởng thành, đã có thì giờ để làm thơ, viết văn và luận bàn triết học.

Từ ngôi nhà này

con ra đời và khôn lớn

con biết nghĩ siêu hình / tập làm văn chương

con không quên cha / không quên mình

vẫn đủ giờ suy tư siêu hình, sáng tác văn chương

đủ giờ nghĩ kĩ, viết dài

dài mười lần trăm lần nghìn lần hơn

Pauh Catwai, Giang Anak.

 Thơ hay là nghệ thuật của sự chân thành. Inrasara không hề nói thương, nói yêu mà ngập tràn yêu thương, mà thắm thiết tình phụ tử!

  1. Chân dung nàng

“Chân dung nàng” mang dấu ấn thời cuộc: nông dân rời bỏ ruộng đồng, nương rẫy để vào các thành phố mưu sinh. Nam nhi trai tráng đã gặp vô vàn bất trắc huống gì các cô gái. Cô gái Chăm lại càng khó khăn hơn. Nhưng, vì sự sống của gia đình và của chính bản thân, người con gái Chăm vẫn phải rời xa ngôi nhà thân yêu, rời xa cha mẹ, xóm làng. Cô gái phải ra đi, phải vào phố như một sự ép buộc:

Em bị nhổ khỏi plây (6)

bị văng vào phố.

 Em không có dây chuyền / không có quần jeans

mang linh hồn ngọn đồi

em lạc vào phố lạ.

 Nhiều đồng ruộng tốt tươi đã bị san lấp để làm nhà máy này, xí nghiệp nọ, sân gôn kia, … và vì thế người nông dân đã phải bỏ làng vào phố một cách bất đắc dĩ. Họ gặp phải vô vàn gian khó, trùng điệp nhọc nhằn nơi đất khách quê người. Tất cả đều xa lạ với cô gái Chăm:

Em giặt giũ trong căn gác lạ

em thợ phụ trong xưởng may lạ

em hoảng hốt trong con hẻm lạ.

 Mang linh hồn ruộng đồng

em rụng vào đêm lạ.

Năm tháng đi qua, cô gái Chăm có lần về thăm làng đôi hôm, nửa ngày rồi lại quày quã vào phố, tình yêu cũng phải quên đi, cô gái chào từ biệt xóm làng, chào từ biệt người yêu – người con trai – nay đã “vợ con đủ đầy”!

Nàng vẫn đi về mênh mông hướng phố

vẫy anh em đang mắt nhìn mở cửa

vẫy người yêu đã vợ con đủ đầy

vẫy bà con mãi liêu xiêu bão lũ.

 Ta chúc cho cô gái Chăm, các cô gái nói chung, phải bỏ làng vào phố, được bình an, gặp nhiều may mắn và thành công!

Và, vui biết bao, cuối cùng, cô gái Chăm đã về lại làng, về với đồng ruộng, về với những ngọn đồi quên thuộc:

Hình như hồn buồn nàng hé nắng

sẵn sàng mọc trái cây ban mai.

 Bỗng một hôm làng có em trở về

vỡ linh hồn ngọn đồi ruộng đồng

như một dòng khởi đầu in đậm.

 Tóm lại, ta thấy rõ thơ Inrasara có một nét riêng độc đáo. Đó là sự mộc mạc, dung dị của ngôn từ, cái mới, cái lạ trong diễn đạt, sự chân thành, kín đáo trong biểu hiện tình cảm, cảm xúc. Có lẽ vì thế, thơ Inrasara dễ đi vào lòng người.

Ninh Thuận, 15-11-2017

PHAN THÀNH KHƯƠNG

 

(1) 41 inư akhar Cham KCT = 41 mẫu tự tiếng

(2) đwa buk = vũ điệu truyền thống của người Chăm.

(3) ariya = thi ca

(4) ginăng, paranưng = 2 loại trống của người Chăm.

(5) Glang Anak, Pauh Catwai = các trường ca cổ của dân tộc Chăm ở đầu thế kỉ XIX.

(6) plây = palei = làng.

 

LƯNG CHỪNG THÁNG MƯỜI MỘT…

vũ điệu em bóng bẩy thời gian
áp lên tờ lịch manh nha từng con số
đếm ngược.đếm xuôi.nhắc chừng.chối bỏ.
tất cả tròn đầy.tất cả dở dang.

khi em về hoa mụ mị nở.tan
bầu trời độc tứa mặt trời xuống cỏ
anh đứng thẳng ngó rừng.anh nằm dài ngó gió
gió đi ngang.anh xếp cất chẳng buồn theo

thu là gì mà man mác mãi.buồn hiu
chiều đã chật trốn ngày đông vào búi tóc
sá gì giọt lệ manh nha điệu tơ vò nhức buốt
bài tình xưa rêu đã bám cung trầm

ngày rất dài.đêm thút thít kéo ngang
thả tiếng gió trước sân khuya.gõ cửa
(muốn đánh đuổi cơn mê chiều quá khứ
mãi chằm hăm đeo bám.rất keo sơn)

đất quê nhà thơm chân ngập bùn non
anh ra phố dấu phèn khua khoắng nhắc
trời bỗng rộng hơn trong ngực anh thoi thóp
lời của chim mòn rục cửa hoang đường

anh đếm sợi tóc bay tháng mười một lưng chừng
biết nhớ lắm giọt mồ hôi mang vị biển
anh ngắt.véo.trốn cơn mơ chờ tái hiện
hư thực chi mà ròng rã quanh năm?

em qua cầu.sông mãi rộng dòng sông
lời thánh hạ đong đầy trên bến vắng
anh đứng dựa cuộc tình vừa tách bến
ngày hoang khai in vết sướt trăm năm

tháng mười một em.tháng mười một anh
cỏ đã héo trên bậc thềm ký vãng
dãi lụa mềm thắt chiếc nơ.rực sáng
ngực nhấp nhô hơi thở mượt thanh xuân

anh ru anh.ru em.ru gió núi.trăng ngàn
rồi lấp đất chôn đàn.quẳng thơ không hối tiếc
tháng mười một lưng chừng đánh đu chờ rét
anh cong mình chờ từ thiện cõng đi chơi

tháng mười một lưng chừng.
bề bộn chẳng đầu đuôi !

lê hát sơn

người thi sĩ già ven sông

 

 

ý nghĩ phiêu du trên không gian ba chiều
chạy phăng vào ngôi nhà ven sông
nước rầm rì với những cọc cắm sâu
đợi con chim về đứng im lìm như nhà hiền triết
mùa đông xám xịt ngửi mái rạ sẫm mầu
từng chiếc lá khô quéo quắt
con chim vút bay
đậu vào ý nghĩ người thi sĩ già đang làm thơ trong ngôi nhà đang sập
người thi sĩ già vỡ óc
cây viết bỗng chảy mực như dòng cuồng lưu
những giọt mưa biến thành ngàn triệu viên đá cuội.
đắp mộ
không gian đìu hiu
ngọn nến trắng càng xót xa thân phận
cây viết mất tích
tình yêu không còn
người thi sĩ già quay đầu về non
con chim vẫn đứng im lìm như nhà hiền triết
chiếc thuyền nhỏ chao mình trên nước
cây đỗ quyên già xơ xác. một vài bông.

Đặng Phú Phong

NGƯỜI ĐÀN BÀ ĐAN GIẤC MƠ

 

1.

Người đàn bà ngồi bên hiên đời
Đan bóng chiều vào tối
Những bí mật  trượt qua triền tóc
Mấy mươi mùa xuân, thảng thốt. Phận người.
Từng ngả đường chảy qua miền tim
Từng dòng sông tình yêu trôi qua miền suy tưởng
Người đàn bà ngồi trên thác gió
Đan niềm tin lên tấm áo nỗi đau.
Trong tiềm thức giữa biên giới hoàng hôn
Người đàn bà âm thầm nhìn những cánh chim hồng
Bị thiêu thân trên đỉnh núi
Đêm đêm, đêm đêm
Người đàn bà ngồi trên giấc chiêm bao
Cần mẫn se ngàn sợi len bình minh
Đan triệu vết thương những con đường
Những con đường khuôn mặt hằn cỏ dại
Tiếng thở dài u uẩn
Lẫn trong từng thớ bụi
Xa xa
Xa xa
Vụn vỡ
Những khúc kinh cầu nguyện…

2.

Những lời hứa đang mọc ra từ những đám gai
Những khát vọng rủ nhau trốn về cuối dòng sông tị nạn
Lạnh lùng lạnh lùng
Gió khuya khứa mòn chiếc đò quá khứ
Vầng trăng thổ máu
Từng giọt từng giọt
Như cơn mưa mùa hạn
Nhỉ xuống mảnh vườn tương lai.
Bầy giun dế giấu giấc mơ khờ dại
Sau trùng trùng hỗn khúc tụng ca.

 

Lũ còng gió cắn nát hồn nhiên
Rải xương mình lên những hạt cát
Khắc khoải ươm mầm những cánh hoa
Mang hình viên ngọc thần kỳ.

 

Người đàn bà vẫn kiên nhẫn ngồi đan
Sự thật chết dần sau làn vải giả dối.

Trương Đình Phượng

CHIỀU MƯA UỐNG RƯỢU SÔNG TRÀ

 

 

Tôi về Quảng Ngãi chiều mưa bay
Sông Trà mênh mông nước dâng đầy
Gió thổi mênh mông trời thơ rượu
Còn thú chi bằng cạn chén say!

Sông Trà chết giấc nay bừng tỉnh
Bạn quê ơi! Nâng chén,đừng than!
Giá phải đêm trăng dòng lấp lánh
Có bờ xe nước múc ánh vàng…

Cây lá xanh đôi bờ vẫn mộng
Vẫn ngân vang chén rượu chiều nay
Thưa em mây gió vô cùng sóng
Bạn hữu quê hương bát nước đầy!

Anh bạn dang tay như múa hát
Đọc thơ sang sảng quán chiều mưa
Đọc thơ sang sảng Cao Bá Quát
Nhớ “Trăng Sông Trà” một đêm xưa!

Sóng nước miên man nguồn ơi biển
Nâng chén khà khà thân củi trôi!
Cầm tay Trà Khúc lòng quyến luyến
Nửa thế kỷ buồn thân phận tôi!

Tôi biết có người lo nước lên
Đứng trên cầu ngó củi lềnh bềnh
Tôi vẫn mộng Long Đầu Hý Thủy
Nâng chén mừng “tương ngộ ngẫu nhiên”!

Bạn ơi có mấy khi tương ngộ
trong cuộc đời uống rượu Sông Trà
Say tuý luý càn khôn một độ
Cho hồn thơ nhập mộng thiên thu!

Trần Thoại Nguyên

  PHẠM CHU SA MÊNH MÔNG CÕI TÌNH

 

 

“Quá nửa đời anh đi tìm một nửa
Một nửa nào thất lạc của anh xưa
(Phạm Chu Sa)

Phạm Chu Sa có thơ đăng trên các báo văn nghệ Sài Gòn từ 1970, khi ông đang theo học Đại Học VạnHạnh, cùng lúc làm biên tập và là thư ký tòa soạn tuần báo Tuổi Ngọc của Duyên Anh, từ 1971 đến cuốinăm 1973 thì bị bắt quân dịch, bị đẩy lên Tây Nguyên, đến đầu năm 1975, ông đào ngũ trốn về SàiGòn.

Cả ba tập thơ của ông xuất hiện trước công chúng có một khoảng cách khá dài, Những Nụ Tình Xanh do cơ sở Đồng Dao xuất bản năm 1972. Đến tháng 2 năm 1975, ông tự xuất bản tập Trên Đồi Sương Phủ, lúc mà cuộc chiến bùng nổ ác liệt và đến hồi gần kết thúc, nên tập thơ bị bỏ ngỏ, không thể tới tay độc giả.

Tuy khoảng cách xuất hiện khá xa nhau về thời gian, nhưng thơ của Phạm Chu Sa trước sau vẫn là cõi mộng mênh mông tình. Đó là những cuộc tình lỡ, tình say, tình ảo… Cho tới khi ngã rẽ cuộc đời ông là lính thú – quân dịch – trên vùng đất Tây Nguyên heo hút. Heo hút, nhưng không thiếu tiếng đạn bom. Vì vậy, thơ ông vẫn vang vọng âm sắc của những mối tình uất nghẹn, chia lìa vượt thời gian như đang hít thở khói trời lồng lộng. Và ông làm thơ không phải mang tâm thức của kẻ lưu đày mà, vượt lên trên khói lửa vẫn là những vần điệu ngọt ngào đến cay đắng của chàng thư sinh đang bước nốt đoạn đường của mộng, của say cùng tỉnh thức theo trăm ngả phân ly để hoàn tất nốt cuộc lữ trong nỗi cô đơn cùng tận.

Bắc Phương Hành, ông viết vào tháng 2.1973 sau ngày ký hiệp định Paris, tràn đầy cảm xúc như mâu thuẫn nhau: Vừa khấp khởi mừng vui vì hòa bình sắp lập lại trên quê hương đã quá đỗi điêu tàn, vừa ngậm ngùi thương nhớ bao nhiêu người đã nằm xuống.!…  Đó là những người bạn, người tình, là nhân thế nổi trôi bềnh bồng quanh ông, trên quê hương ông, để những giờ khắc khơi vơi, một mình đâu đó, nơi đèo cao dốc thẳm, chốn núi rừng thâm u kéo dài những u hoài chồng chéo nhau:

Hai mươi năm nối thành bi khúc

Bài ca buồn bã nối điêu tàn

Những ngựa ngủ vùi lòng đất chết

Những đời nằm xuống vẫn hoang mang

Màu quê cũ rưng hồn lữ khách

Chút lòng lận đận với quê hương…

(Một Nửa, trg 12)

Thời khắc ông viết bài hành này là lúc ông tưởng tượng ra một cuộc hành trình từ Nam ra Bắc khi quê hương ngưng tiếng súng (vì hiệp định đã ký), hòa bình lập lại, đất nước thống nhất, không còn giòng sông chia cắt, non sông nối liền một dải:

Ta đi biển thét lời giông bão

Sá gì chút gió mặn chiều hô

Mà không dựng thẳng cờ minh đạo

Soi một giòng sông nối một giòng…

Mới dợm bước chân khởi cuộc lữ hành (mới chỉ là tưởng tượng) thi sĩ đã nâng chén rượu nhạt chia tay người tình – chia tay một cuộc tình:

…Ví thử đời ta men rượu nhạt

Mời em nhân buổi tiễn đưa này

Chắc cũng buốt môi người cúi mặt

Còn chút tình xưa như khói bay

(Một Nửa, trg 7)

Tôi nghĩ, khi sử dụng thể hành, thì nhà thơ có thể giãi bày trọn vẹn tâm cảm gần xa, nên trước kia, những Trần Huyền Trân, Nguyễn Bá Trác, Nguyễn Bính đã đẩy câu thơ chuồi dài tới tận sau này với những Độc hành ca, Hồ trường, Hành Phương Nam… nên Phạm Chu Sa đã chọn thể hành như để gửi gắm tấc lòng, để giãi bày những ưu uất sâu kín, ông đã mang theo cùng năm tháng?  Ông thản nhiên đón nhận số phận đẩy đưa. Thản nhiên đến mức lạnh lùng trong bài hành thứ hai: Trường Sơn hành như một định mệnh khắc nghiệt đời ông được báo trước.

Núi chẻ đèo cao rừng thăm thẳm

Núi tiếp rừng xanh nắng trải thảm

Chân bước dò trên xác lá khô

Hồn mở vào cửa mộng hư vô

(…)Mang trên vai nửa đời tuổi trẻ

Nhìn quanh ta chập chùng bóng xế

Bước vội, nhưng nhịp nhàng nhịp nhàng

Đầy ắp hồn thơ điệu cuồng vang

(Một Nửa, trg 32)

Giữa đại ngàn Trường Sơn thâm u, tâm hồn và bản thân ông vừa chìm ngập vào thiên nhiên hùng vĩ mà gờn gợn để tiếp tục, vừa thản nhiên quan sát và liên tưởng đến số phận “tàn xiêu, mây trôi” của mình trong thời gian biếm trích nơi vùng đất chết:

Trường Sơn núi dài hằn vết chém

Nát bấy hồn ta làm muôn mảnh

Máu đỏ ngầu sông núi thân yêu

Ta nhìn ta bóng đổ tàn xiêu

Trường Sơn núi biếc trời đứng bóng

Rền vang tiếng bước thời gian vọng

Lắng chìm hơi thở thời gian xuôi

Đời ta như một bóng mây trôi

(Một Nửa, trg 37)

Trong buổi nhiễu nhương, tâm cảm nơi ông chừng như là những mộng mị trôi nổi có không từ “thời gian vọng” đến “thời gian xuôi” như cách gắn liền quá khứ xa tới hiện tại gần, là nỗi cô đơn của kẻ lưu đày trên chính ngay mảnh đất ông đang bước tới, gắn chặt, thở khói trời u uẩn. Ông chìm khuất và mất tăm giữa cái ồn ào trống rỗng, là tiếng kêu bi thiết của con chim gục ngã trên tổ rơm thông thống lỗ méo nụ hoang hoác:

Bằng hữu lang thang người mỗi ngả

Mình ta đứng gọi thấu trăm năm

Ông gọi ai đến nỗi phải mang theo nỗi trống trải dặm dài, ông thở với lớp lớp mây trắng đùn quanh chóp núi trống trơn, nghêu ngao với những cuộc tình nhân thế dẫy đầy ảo mộng?

Thật ra, không phải tới tận bây giờ Phạm Chu Sa, (khi Một Nửa đến với độc giả như một cuộc tương phùng sau chừng ấy năm dài im lặng) mới hé lộ những rơi rớt tang thương những cuộc tình lỡ, mà trước đó, ông đã khơi gợi như một phiên thư âm bản ở hai tập: Những nụ tình xanh (1972)  Qua đồi sương phủ (1975). Đó là những âm tiết khởi đầu bật lên nỗi hoài nhớ mênh mông một kiếp người, một cuộc tình như khói như sương và rồi đọng lại trong tâm trí ông như một bức ảnh hoen nhòe màu thời gian.

Tình em cuộn tròn như con mèo ốm

Vo viên đời anh như điếu thuốc

(…)

Anh cũng muốn hỏi em biết điều gì không

Đêm và bóng tối

Đã quanh quẩn trong anh nửa đời mộng thực

(Những Nụ Tình Xanh, trg 54-55)

Đó là những lời tự thú ngọt chát và cay sè nơi cõi lòng ông, liêu xiêu nơi hai bờ mộng thực. Nhớ lại những năm trọ học cùng ông trên căn gác gỗ đường Nguyễn Huỳnh Đức (nay là Huỳnh Văn Bánh), Phú Nhuận, nhìn bờm tóc ông nhuốm ráng chiều màu nắng quái ngoài hành lang, nhìn cái dáng xiêu xiêu thẫn thờ dưới cột đèn ngã chúi về đêm trong con hẻm nhỏ và hai tay trong túi quần và ánh mắt như màu tối đậm trên bờ tường thấp loang lổ, tôi đã tự hỏi: ông tự tìm kiếm chính mình trong nỗi cô đơn hay hoài nhớ về những gì ông đã đánh rơi đâu đó, là những hình bóng nhập nhòa, hiển hiện trên bờ tường đá ong, những mất mát luôn vây bủa, bi lụy không ít đến cuộc đời ông?

Những thứ rơi vãi dọc đời ông, không hình hài rõ nét. Chúng chợt bật lên trong ông, có khi là một cơn mưa dầm, một ngày nắng cháy. Cũng có khi đang có chút se lạnh trong lớp khí trời từ phương bắc tràn về, xám đục đến ảm đạm:

Ở Sài Gòn thèm một ngày mưa bụi

Thèm nhạc sầu của gió bấc heo may

(…) Mưa ở đây mưa quá đỗi bất thường

Và nắng gắt cháy cả tình mới chớm

(Một Nửa, trg 15)

Khoảng không gian trơ khấc và nhão nhoét kia bất chợt trườn vào tâm trí ông, để cuối cùng chỉ còn là nỗi trống không, mà khởi đầu là những nhớ-nhung-trong-mất-mát-không-cùng:

Ở Sài Gòn chiều không em mây nổi

Nhớ em nghe giá buốt dậy trong hồn

(Một Nửa, trg 16)

Bài thơ này (Ở Sài Gòn), ông viết xong vào tháng 6 năm 1973, nửa năm sau hiệp định Paris. Nỗi hoang mang và nhớ nhung hỗn độn nơi ông, trong chính nội dung bài thơ không để người đọc khám phá điều gì về thời cuộc. Nhưng ẩn giấu phía sau những ngày Sài Gòn anh bỏ quên mộng tưởng/ Đêm đèn màu rực sáng nỗi ưu tư/ Cơn mộng nhỏ môi dậy thì thiếu nữ/ Sao niềm đau chợt buốt nhức không ngờlại dẫn ta đến những liên tưởng về những hoang mang của ông trong khoảnh khắc “còn một chút Sài Gòn” trước khi ông trở thành gã đào binh. Ông giấu cái thực trong mộng tưởng. Ông cất nỗi ngậm ngùi trên vai áo, để mấy chục năm sau, cũng Sài Gòn ấy lại khơi gợi hình ảnh Sài Gòn trước, vẫn là những tâm trạng Ở Sài Gòn bây giờ có những sớm mai buồn muốn khóc/ Mặt trời mù cơn ngái ngủ bình minh/ Những giọt cà phê buồn rơi lặng lẽ/  Sóng sánh màu mắt em (Ở Sài Gòn bây giờ, trg 52). Những hình ảnh của Sài Gòn trước và bây giờ vẫn cứ nguyên vẹn trong ông, vẫn là sớm mai buồn, giọt cà phê buồn, vẫn rơi lặng lẽ và dồn nén thành màu mắt em, chiếm trọn tâm hồn ông, không thay thế, không ai khác ngoài em.

Tôi nhớ đã đọc ở đâu đó Dostoevsky viết, đại ý rằng: “Cả đời tôi chỉ muốn đẩy tới tận cùng những gì người khác chỉ làm được có một nửa”. Phạm Chu Sa thì không đủ lực để làm cái công việc vĩ đại của đại văn hào Dostoevsky. Ông không tuyên bố hoàn thiện cuộc đời bị xáo tung, mà đơn giản là tìm trong chính mình, đi tìm một nửa của cuộc đời mình bị rơi lạc nơi đồi hoang núi sâu hay giữa lòng thành phố tràn ngập ánh đèn? Chuỗi dài quẩn quanh tìm kiếm cái đã mất trong con người chính mình đến mệt nhoài những hơi thở dốc. Và khi tìm thấy thì hệ quả là:

Quá nửa đời anh đi tìm một nửa

Một nửa nào thất lạc của anh xưa

Khi tìm được thì nửa anh vụn vỡ

Nên làm sao ta ráp lại cho vừa.

Hàn gắn lại em ơi đời tạm bợ

Một chiều say một sớm tỉnh một khuya buồn

Một giọng hát một điệu cười khúc khích

Cũng tràn đầy cả hạnh phúc đau thương

(Một Nửa, trg 104).

Nhà thơ Du Tử Lê có một nhận xét về Phạm Chu Sa, theo tôi là chính xác: “… và người đọc đã bắt gặp một cái gì đó, một cái gì đó có thể nhìn như một Phạm Chu Sa. Một cái gì không thể mang một tên gọi khác… Tôi muốn ví thơ ông như một giòng sông xanh, nhưng dưới đáy lại ẩn sẵn khá nhiều sóng ngầm”.

Cuộc đời ông chưa bao giờ yên ả. Và thơ ông cũng vậy, ẩn bên dưới sự phẳng lặng là những giòng chảy ngầm cuồng phẫn, chờ chực bùng lên những đợt sóng gầm gào. Thoạt lướt qua, tưởng chừng như những câu thơ kia dung dị, đôi khi mang hơi thở chung của những chàng thi sĩ trước năm 1975, là những buồn chán, cột đèn vàng, giọt cà phê đen… tâm trạng của một thời tan tác. Nhưng ẩn bên dưới ngữ nghĩa tầng sâu lại là những cuồng khích, bung vỡ sôi sục, đôi khi nhuốm màu sắc phản kháng của tuổi trẻ:

Bằng màu đen của bóng tối cạm bẫy

Trốn chạy nỗi căm hận khô đắng

Trốn chạy niềm cô đơn

Cuồng loạn những điệu kèn da đen buổi dạ hội hóa trang

Sự bất lực của âm thanh

Và bóng tối đồng lõa

(Một Nửa, trg 63).

Thời nhiễu nhương, tuổi trẻ phản kháng, tuổi trẻ gào rống, tuổi trẻ xuống đường, buồn nôn, phẫn nộ, chán chường… không phải là điều mới lạ. Thời nào và ở đâu tuổi trẻ cũng nhạy cảm trước các vấn đề xã hội, thời cuộc… Xã hội và thời cuộc nhớp nhếch như là mệnh đề tiên thiên xô ngã con người vào “vũng trống”, và họ bất lực gào lên:

Đêm thành phố thật buồn

Mười giờ tối còi giới nghiêm reo vội vã

Đêm chợt im vắng trong niềm sôi sục

Sẽ vỡ tung một sớm mai nào

(Những Nụ Tình Xanh, trg 72).

Có lẽ, sẽ rất thừa thãi khi các nhà đạo đức, trong bối cảnh xã hội suy đồi, phong hóa, lên tiếng chỉ trích sự mất cân bằng trong suy nghĩ và hành động của giới trẻ. Thời kỳ đó, Phạm Chu Sa thuộc lớp tuổi hai mươi, nhưng không tĩnh yên để lắng nghe, để nhìn, đọc những lời rao giảng như Thiền sư Nhất Hạnh đã từng viết: “Tôi rưng rưng nước mắt, vì tôi được nghe chính tiếng nói của lòng tôi, tiếng tự thú của lòng tôi… Nếu các em biết thương yêu và tha thứ thì hồn nước cũng sẽ giật mình, đời chúng ta sẽ lên sức sống, tủi hờn sẽ lắng xuống và niềm kiêu hãnh sẽ vươn lên. Nếu các em biết thương yêu và tha thứ thì súng đạn cũng sẽ phải thở dài, tàu bay cũng sẽ phải khóc, lựu đạn sẽ phải im tiếng, và quê hương ta sẽ không còn là một bãi chiến trường” (Nói Với Tuổi Hai Mươi). Nhưng khốn nỗi, đó chỉ là cách nhìn của thầy Nhất Hạnh. Tuổi trẻ không còn đủ tỉnh táo để bước đi trên những con đường gập ghềnh, hỗn độn. Đó cũng là nét chung với đa phần. Phạm Chu Sa không tự tách mình ra khỏi đống bùng nhùng kia, ông viết:

Khép kín trái tim.

Hai tay vo tròn quá khứ

Hồn chết lịm từng phiến băng tan

Ta cúi đầu bỏ trốn

Ngôi mộ đời cỏ úa xương người

(Những Nụ Tình Xanh, trg 30).

Lúc này, trong tay tôi chỉ còn hai tập: Những Nụ Tình Xanh và Một Nửa (Trên Đồi Sương Phủ, ngay chính tác giả cũng không giữ nổi), nhưng khi soi rọi lại, có vẻ như Một Nửa là sự nối dài từ tập thơ đầu tay. Vẫn giọng điệu ấy, vẫn tâm tình ấy. Hơi thở từ thơ ông tưởng chừng như mong manh khói sương, nhưng đằng sau lại là những ẩn ức, những bất lực, trắc trở… cả đời ông cất công tìm kiếm, ráp nối cho trọn vẹn. Khốn thay, thảy đều không theo đúng ý ông:

Lang thang trong rừng vắng

Hái một cụm hoa sầu

Ồ khắp trời mây trắng

Biết lối về nơi đâu?

(NNTX, trg 59)

Trời cao trăng nở rộ

Lữ khách trên đường khuya

Bóng nhòa trong sương lạnh

Nhớ nhà, đâu lối về?

(NNTX, trg 74)

40 năm trước ông không tìm ra “lối về” cho riêng mình, thì đến 40 năm sau ông vẫn loay hoay tự tra vấn:

Như đời ta vốn đã quá ngu ngơ

Đi tìm mãi những điều không có thật!

Cám ơn đời từ niềm tin thứ nhất

Thứ hai, ba, tư… cho đến cuối cùng

(Một Nửa, trg 103)

Cuối cùng thì đâu là “lối về” của ông?

Có lẽ, xin tạm mượn mấy dòng sau của nhà thơ Du Tử Lê nhận xét về tác phẩm Phạm Chu Sa để kết thúc bài viết này:

“Phạm Chu Sa, với những bài thơ mới, nơi nửa sau của thi phẩm “Một nửa” đã cho thấy ông vượt qua được ngưỡng cửa ngáng trở tàn khốc của thời gian. Thơ của họ Phạm ở những năm tháng sau 1975, tuy căn để, đa số vẫn là những thao thiết về tình yêu. Nhưng đó là một thứ tình yêu đã ra khỏi hố, hầm ẩn náu của những xung động tình cảm đôi lứa thuần túy. Mà, tình yêu, trong cõi giới thi ca Phạm Chu Sa hôm nay, là những vấn nạn được cất lên từ những tâm bão nhân sinh. Những cật vấn tử / sinh. Kiếp / đời. Theo tôi, đó là những câu thơ được chắt ra từ những chiêm nghiệm đời sống đã sắc xuống. Để tự thân, thơ có được chiều sâu và, độ rộng… Trong ‘Một nửa’ của họ Phạm, cá nhân tôi rất thích những câu thơ như, ‘Tự đào huyệt chôn mình / như một tên tử tội / a ha ta hóa trang / làm anh hề múa rối.’ Hoặc, ‘Hạnh phúc trơ vơ trên dây thong lọng / em kịp mua về đốt hết nhân gian.’ Hoặc ‘Dã quỳ thắp nắng / chìm dần trong sương / nhặt bóng tà dương / ném vào vô tận.’ Hoặc nữa, ‘Một chân thò lỗ huyệt / một chân nhảy lò cò / đi tìm phương bất diệt,’ vân vân…”    (dutule.com)

 

NGUYỄN LỆ UYÊN

__________

Tên thật: Phạm Đình Thống.

Sanh năm 1949 tại Bình Định, Trung phần VN.

Cựu sinh viên ĐH Vạn Hạnh.

Trước 1975, cộng tác với Tuổi Ngọc, Vấn Đề, Văn, Khởi Hành…

Sau 1975, làm nhiều nghề kiếm sống, rồi làm Phóng viên, Biên tập viên các báo: Thanh Niên, Gia Đình & Xã Hội; Phụ trách phía Nam tạp chí Ngày Nay ( Hiệp Hội UNESCO-VN). Cộng tác với các báo, tạp chí: Tuổi Trẻ, Người Lao Động, Phụ Nữ TP.HCM, Kiến Thức Ngày Nay, Xưa & Nay …

Thơ đã xuất bản:

– Những nụ tình xanh, NXB Đồng Dao (1972)

– Qua đồi sương phủ, Tác giả XB (tháng 2-1975)

– Một nửa, NXB Thanh Niên (2011)

XA RỒI TRĂNG LAY TÓC RỐI 

 

“Trong tim còn nhốt tình không ?
Trong bâu áo lật còn hồng nhủ hoa ?”  (Hạ Quốc Huy).

1
Tay nghiêng vạt áo qua cầu
Bước em động vỡ tiếng sầu mênh mang

Cõi ta trú ở lang thang
Chân quơ, tay múa, nghênh ngang yên hà

2
Xa rồi cái tuổi mười ba
Theo hương bồ kết, thiết tha si tình

Xa rồi
bạch diện thư sinh
Chia tay nghiên bút chấp kinh phong trần

Xa rồi
lửa dội quan san
Khép trang hồ thỉ, uổng ngàn tử sinh

Cùng đường. Mạt lộ chiến binh
Anh hùng tận tuyệt. Ngục hình xích khua…

3
Xa rồi
truông bãi, ghềnh trưa
Thù chan nắng khổ, oán xưa đọa đày

Xa rồi tóc rối trăng lay
Đọng trong mắt phượng khoảng mây phiêu bồng
Trong tim còn nhốt tình không ?
Trong bâu áo lật còn hồng nhủ hoa ?

Mai trôi lãng mạn ngọc ngà
Tóc phai cổ tích, tình ra lạc loài

4
Vạt buồn gói trọn bi ai
Tà đau tấu khúc
bi hài
ngàn trang

Ngày em áo cưới đò ngang
Tôi bơi theo khóc. Chẳng màng ngó tôi

5
Trời ơi ! Đứt ruột. Trời ơi !
Thuyền sao không đắm. Tôi bơi em về .

HẠ QUỐC HUY

Như Con Ngựa Tía Bay Vèo Qua Truông

Hôm nay ngày ủ ê buồn.  Mưa?  Mưa, không thấy.  Mù sương thì nhiều.  Buổi mai giống giống buổi chiều.  Trưa nay chắc cũng đìu hiu…và buồn!

Sáng.  Tôi đặt một nụ hôn, trên bàn tay mở cửa hồn buổi mai.  Lời chào vui gửi tới ai…có đuôi con mắt kéo dài thời gian…

Một ngày…rồi suốt trăm năm, mưa hay là nắng cũng thầm thì thôi.  Ai xa cuối biển đầu trời, tôi xa cũng vậy từ hồi tôi xa…

Quê Hương…nhớ chớ khói nhà, nhớ Ba tôi với tách trà khói bay.  Nhớ Má tôi với vườn cây, mang đôi guốc mộc đưa tay vén trời…

Thế mà huyền thoại hỡi ơi, bốn ba năm tưởng một thời xa xưa…Ngoại lui cui ở vườn dừa, ngó buồng cau trái chín hờ hững treo…

Thuyền ai ai lỏng tay chèo…con sông uốn khúc đám bèo nổi xanh…Cà Ty tên đọc Cà Tình…cà tang dám lắm, cà tàn Tầm Xuân!

Nhớ ai mười bảy theo chồng.  Nhớ ai mặc áo lụa hồng Mã Châu.  Hỏi sao không lụa Blao để cho nhớ nhớ hoa đào Di Linh?

Sáng nay tôi chỉ còn hình, trời không có nắng bóng mình không theo…Nghĩ ai khuất nẻo đường chiều…như con ngựa tía bay vèo qua truông…

 

Trần Vấn Lệ   


Quê Hương, Tình Yêu, Kỷ Niệm,

 

Có một thời tôi để lại họ tên
Trên những bức tường vôi vàng Pháo Đội
Trên thành giường, đồ nghề… ghế xếp
Và trang sổ nợ cá nhân…

Tôi đã để lại những dấu chân
Trên những địa hình Nha Trang, Ninh Hòa, Dục Mỹ
Như áo trắng em một thời hoa mộng
Khiến nao lòng bao kẻ si tình

Tuổi đôi mươi theo thời buổi chiến chinh
Theo quỹ đạo bút nghiên rồi cung kiếm
Em còn nhận ra ai trong kỉ niệm
Trên những hành trình xuôi ngược thanh xuân

Tôi sẽ về gặp lại những hàng dương
Dưới đám bụi thời gian tan theo từng cơn nắng
Với ngọn gió Lào phả từng hơi nóng gắt
Vào ký ức xanh một thời lãng du

Con đường nhỏ những ụ 105, 155…
Ghé kho quang cụ về sân tenis
Giải địa hình… mượn giùm tôi Lo-Ga-Rích
Đến giảng đường còn nóng những mái tôn

Phòng bản đồ vẫn vắng im
Chỉ có tiếng lao xao của bầy chim sẻ
Hàng cây Vũ Đình Trường như lặng lẽ
Mặt trời còn gay gắt phía cổng sau

Có còn không những hàm số nhức đầu
Những phép tính quay cuồng đang ngủ gật
Đang mơ màng giữa Ô1, Ô2, đồi Trọc
Hòn Vọng Phu mây bạc đã thấy gần

Đường xạ trường căn cứ Cọp Đen
Khói buôn Thượng nhớ hăng mùi gia súc
Hơi núi rừng thở đầy trong lòng ngực
Bóng sa trường vằng vặc mấy mùa trăng

Có những chuyến đi về qua núi Đeo
Aó lụa bay gữa hương rừng ngan ngát
Ngọn gió trưa hè quen chợt mát
Dáng núi đồi dìu dịu trinh nguyên

Giữa ngàn xanh cõi thiên nhiên
Đang lâng lâng hùng vĩ
Với say sưa bao chuyện kể
14 cây bỗng hóa gần lại thêm

Nhớ những buổi ngoài ,nhớ cà phê đêm
Nhớ mùi hoa cau.. nhớ hương Ngọc nhẹ
Ai sẽ hát thầm lời rất khẽ
Ngọc Lan dòng suối có tơ vương…

Mắt thu hồ dịu có đoạn trường
Có cô nàng café
Một cô nàng be bé
Cô không cười… dù bằng mắt thơ ngây

Tôi có những mối tình ngắn gang tay
Đủ những đêm trường mộng mị
Trường Pháo Binh Dục Mỹ
Có tro tàng hoa miên…
Và hoài vọng muôn niên…

Hòa Nguyễn

MƠ HỒ CÂU THƠ CŨ

 

Chiều lững thững câu thơ tuổi trẻ
Cọng cỏ xanh nhằn giữa môi khô
Phố lơi hơi theo ngày đã nhẹ
Dốc co ro mù sương ấu thơ

Bất chợt trắng một bông cúc dại
Thềm rêu em lạ lẫm ân tình
Màu mây cũ ngẫu nhiên ghé lại
Nghe như ai vừa gọi tên mình

Xa lăng lắc âm ba nguồn cội
Dội chật lòng ẻo lả ly hương
Hồn khằn tiếng núi đồi già cỗi
Rót vàng phai chưng hững âm buồn

Tìm lại chút thân quen chẳng thấy
Lựng chựng chân lạc lõng quê nhà
Sót lụn vụn câu thơ mười bảy
Mịt chân dung mờ tít ngày xa

Mơ hồ ta câu thơ tuổi trẻ
Rớt rơi trong quá vãng vàng son
Quành tìm nhặt vần rưng lạnh lẻ
Chai đầy tay những vết sống mòn

NGUYỄN LIÊN CHÂU