Unhappy Valentine’s Day

Nàng không buồn nghĩ tới / Valentine’s day hôm nay. Trùm khăn tóc khỏi bay, nàng đi ra làm bếp!

Làm đàn bà, số kiếp: Lo cho chồng cho con. Trong ngực nàng không còn / trái tim cho người cũ…

Nàng lâu nay, vậy đó! Nàng là người đàn bà. Vẫn miệng còn như hoa. Vẫn mắt như hồ nắng…

Valentine’s day lẵng lặng / mỗi năm đều trôi qua. Không ai nói nàng già, nhưng soi gương nàng biết…

Thời gian đi qua thiệt / qua trước của nhà nàng/ khói lam chiều mang mang / ôi những làn khói tỏa…

Nàng nghe lạnh trên má / giọt nước mắt nàng lăn…Ai cũng có tuổi Xuân…Nàng, hoa hồng treo ngược!

Nàng mở khăn cho tóc / xỏa xuống bàn tay nhăn / nhớ khi đò trôi ngang / bàn tay nàng trên ngực…

Nếu hồi đó nàng khóc…vu quy thiếu nữ…mà! Và bây giờ thì xa / Valentine’s Yêu Dấu!

Nàng! Ôi anh thật “xấu” / xa em thời chiến tranh!

Trần Trung Tá

ĐÊM BUỒN…

ĐÊM BUỒN…

Im vắng mơ hồ như giấc mơ
Ai buồn buông thả một hồn thơ
Quê hương khuất nẻo chiều nghiêng bóng
Viễn khách sầu lay khói sóng mờ

Ta cũng như người – thương nhớ thương
Quê mình biền biệt mất trong sương
Lưu vong trên đất mình đang ở
Đau nhói trong tim nỗi đoạn trường

Ta cũng như người ray rứt thôi
Những chiều mưa rụng lá chơi vơi
Nhớ ơi khói ấm cay lòng mắt
Ta khóc – mà thôi – đã-mất-rồi….

TẶNG HH.

Còn quê đâu nữa mà về
Chỉ còn lại những não nề. Phù vân
Chỉ còn lại tiếng chuông ngân
Rung trong tiềm thức mỗi lần nhớ quê
Cầu tre – lắc lẽo – câu thề
Không nên danh phận – không về cố hương…

Hồ Chí Bửu.

ĐÊM TRỪ TỊCH


Tặng Bạn hiền Zulu DC CAO HẠO NHIÊN

Năm tàn nguyệt tận đêm trừ tịch
Xa xứ lòng ai chẳng ngậm ngùi.
Huống nỗi quê xưa bao thảm kịch
Đau thương đất Mẹ lệ than ôi !

Buồn xuyên thế kỷ ta lữ thứ
Sóng vỗ ầm vang dội biển đông.
Hỡi kẻ rước voi dày mả tổ
Hoàng Sa vết chém…máu Tiên Rồng…!

Chợt nhớ mùa xưa mai vàng điểm
Chiều ba mươi Tết mẹ têm trầu
Bàn thờ nghi ngút trầm hương quyện
Rước tổ tiên về nhắc nhớ nhau…

Lò than lửa réo, nước sùng sục
Nồi bánh chưng đây: Hồn cố hương.
Dân tộc! Ta mơ hoài chẳng được
Đêm trừ tịch buốt giá trong lòng!

TRẦN THOẠI NGUYÊN

Phạm Công Luận: Vẻ hấp dẫn của ký ức

Có người nói: “Viết, một cách nào đó, là chết”. Có những câu chuyện cũ, không có gì độc đáo nhưng ta muốn giữ cho riêng mình. Một ngày, ta ghi lại kỷ niệm ấy trên trang giấy, rồi được nếm trải cảm giác sung sướng khi bài viết nên hình nên dạng, được đăng trên sách, báo… Đến lúc nào đó ngồi lục lại trong trí nhớ, ta bỗng thấy những kỷ niệm lấp lánh ấy không còn đậm đà trong lòng mình nữa, không còn làm ta thao thức nữa, nó “chết” dần theo từng con chữ, để lại vài hình ảnh mờ nhạt. Điều đó như một quy luật tự nhiên.

Có một dạo tôi miệt mài viết về những cái Tết trong gia đình khi còn cha mẹ. Đó là khoảng thời gian hạnh phúc khi ngồi trước màn hình máy tính hoặc trong bóng đêm thả trí nhớ bay về miền xanh thẳm thơm mùi thuốc pháo ở những ngày xưa. Sau đó, những chuyện cũ như phai dần sau một lần lấy ra từ trong kho của kỷ niệm, giống như cuốn sách cổ trong hầm mộ tan thành bụi bay theo gió khi phơi ra ánh sáng mặt trời.

Khi có nhà riêng, anh bạn tôi tách gia đình nhỏ ra khỏi cuộc sống đại gia đình và dần thay đổi lối sống, từ cách trang trí nhà cửa trở đi. Ngày Tết, cả nhà đi du lịch nước ngoài, cửa nhà khóa kỹ vài lớp. Anh kể rằng thật thoải mái khi mấy ngày Tết không bị ràng buộc bởi những kiểu cách xã giao như trước kia. Anh không cần mua hoa về chưng, dọn bày cỗ bàn, cúng kiến, xông đất, cúng giao thừa, tiếp khách.v.v…

Một lần, ngồi bên hồ bơi ở một resort xứ người để trông con đang ngụp lặn dưới nước, anh sực nhớ hôm nay là mồng Một Tết. Anh nhớ trong căn nhà cũ kỹ một thời, nơi sum họp của gia đình bảy người con cùng cha mẹ khi xưa. Anh nhớ cái bàn thờ sáng choang với lư đồng mà chính tay anh, đứa con trai út trong nhà mỗi năm nhận phần việc lau chùi bằng khế, chanh. Anh nhớ dáng cha bận bà ba trắng đứng thắp nhang trước bàn thờ, dáng mẹ ngồi cắt củ kiệu và nhớ cảm giác sung sướng khi mang từng cái sàng tre sắp đầy kiệu và củ cải lên phơi trên sân thượng trong cái nắng thơm dịu của tháng Chạp ta. Anh thấy buồn thiu, rồi tự nghĩ tốt nhất là cất cho kỹ cái tâm trạng u uẩn ấy, vì những người thân yêu quanh anh khó mà hiểu được những gì thuộc thế giới tuổi thơ của anh mà họ không từng có mặt.

Có khi vợ anh, khi sống trong nhà chồng, cũng từng cảm thấy lạc mất nhiều cảm xúc của tuổi thơ, của quê hương, của kỷ niệm và của những nghi thức ở tôn giáo mà cô ấy gắn bó từ nhỏ. Tối đó, anh ngồi trên một góc giường phòng nghỉ, gõ phím ghi lại từng dòng về những thổn thức trong lòng. Anh thức để viết đến một giờ sáng, lưu lại và mỏi mệt nằm xuống ngủ khi tâm trạng đã nhẹ nhàng hơn. Biết mình không quen viết lách có văn vẻ, câu cú có lộn xộn, nhưng đó là liều thuốc hay. Anh bớt đi nhiều cảm giác nhớ nhung, cảm thấy việc viết lên trang giấy chẳng khác chi đốt một lá bùa, để những sầu não bay đi và tâm bình yên hơn.

Nhiều lần tôi thấy mình bị lạc trong mớ ký ức hỗn độn của “những năm niên thiếu dịu dàng và tuổi trưởng thành khắc khổ” (nói như Gogol), trong đó từng có những câu chuyện buồn, đáng xấu hổ và đầy giận dữ. Nhưng cho dù ký ức xấu cũng là ký ức, tôi chỉ thích nhớ những chuyện vui khiến mình từng thấy hạnh phúc.

Sự nghiêm khắc của cha trở nên dễ thông cảm, câu răn dạy khó chịu của ông anh cả chứa đựng sự chăm lo thương yêu trên bước đi của đứa em đang trưởng thành. Phải chăng đó là màng lọc không chỉ tạo nên từ lý trí mà còn từ sự thông hiểu và biết ơn, mà khi trưởng thành ở tuổi nào đó ta mới có được.

Viết về ký ức phải chăng chỉ là sự trốn chạy thực tại?

Tôi không nghĩ mọi chuyện đơn giản như vậy. Khi viết về quá khứ, tôi nhận ra mình là ai, những gì đã tác động đến mình để trở thành một con người đủ cả những tính tốt và xấu, với những điều mạnh mẽ lẫn yếu đuối trong tính cách không dứt bỏ được. Tôi hiểu rõ hơn vì sao mình yêu tha thiết một thành phố dù nó dần dần không giống như mình yêu thương, vì sao gắn bó với những xóm giềng, cây cỏ, thời tiết, khí hậu chung quanh khi chúng đã dần biến dạng. Và vì sao, luôn cố gắng truyền cho con một điều gì đó của quá khứ, dù các con thật ra đang sống để hình thành một quá khứ cho tương lai của các con. Đó là mật mã để gắn kết các thế hệ mà nhiều khi mong muốn truyền đi như là một thứ bản năng có sẵn. Có lẽ đó là lý do các cụ già thích kể chuyện xưa.

Dù sao, thời thơ ấu là thời gian đẹp nhất đời người cho nên viết về tuổi thơ là niềm vui thực sự. Bằng bàn phím, tôi du hành ngược thời gian, để được lần nữa nếm miếng bánh tráng kẹo mạch nha ngọt lịm của ngày xưa, hút nhụy hoa trong cuống bông bụp trồng bên hàng rào, nhai lại hạt điệp vàng thơm bùi và đăng đắng… Đó là những khoái cảm đơn sơ nhưng nhớ lâu.

Nên cho dù, viết là “làm chết” hay “làm mòn” những kỷ niệm, tôi vẫn muốn viết về những ngày xưa. Kỷ niệm càng đào, càng khai thác càng đầy và lộ ra những điều từng quen thuộc nhưng lạ lùng như mới gặp lần đầu. Đó là vẻ hấp dẫn khi được đào bới kho tàng ký ức.

Phạm Công Luận
(Nguồn: Tác Giả cho phép)

ĐÊM LƯU XỨ

Đêm khói tỏa, đêm trầm hương mê hoặc
Đêm tàn canh qua vội rất vô tình
Con dế nhỏ gọi hoài âm thưa, nhặt
Cũng như người thao thức với đêm thanh.

Bờ huyễn ngạn còn vang lời hư ảo
Đưa tôi về nồng ấm những khuya mưa
Và hoài niệm vẫn xanh màu phương thảo
Màu chiêm bao lẫn khuất bụi xa mờ.

Đêm lưu xứ nghẹn ngào men rượu đắng
Từng giọt buồn như lệ buốt thiên thu
Nghiêng ly cạn đợi một giờ Nguyên Đán
Vàng son xưa phai nhạt tự bao giờ…

Tôn Nữ Thu Dung

BÀI ĐẦU NĂM TÌNH YÊU

Nắng xuân nào long lanh trong mắt bé
Đầu tháng giêng tây anh đã tết ngày tình
Đầu tháng giêng tây anh đã xênh xang mới mẻ
Óng ả linh hồn, ríu rít nhịp tim

Nắng xuân nào long lanh trong mắt bé
Linh hồn anh từ đó ướp trầm hương
Linh hồn anh, từ đó, ngạt ngào thơm
Máu, như nước hoa chan đời lễ lạc

Máu, như gió lành chảy qua ruộng đồng bát ngát
Chở chuyên mùi lúa chín quanh năm
Như sông hiền chia chín ngả: cửu long giang
Ôm ấp phù sa, lẫy lừng sức sống

Tình, đã mở ra một bầu trời nạm ngọc
Linh hồn anh, từ đó, khảm muôn sao
Nắng xuân nào long lanh trong mắt bé
Thơ học trò anh thách thức thời gian

Có luật đào thải khắt khe, có kẻ cùng thời ghen tị
Hãy duyên dáng nở nụ cười âu yếm nhẹ
Hạt răng đều chới với đứa ngồi trông
Thơ học trò anh gieo vần tuyệt kỹ

Thơ học trò, anh thổi ấm gió tàn đông
Cho ai mang vào trường khoe với bạn: của anh Nhiên …
Nắng xuân nào long lanh trong mắt bé
Mười ngón tay gầy anh có cách chi không

Nhặt cả bóng cả hình chàng thi sĩ
Lẫn cái tài hoa, trao gọn giữa tròng đen
Nắng xuân nào long lanh trong mắt bé
Linh hồn anh, từ đó, bỗng ham vui

Linh hồn anh, từ đó, mãi mê chơi
Thượng đế nếu hỏi tại sao, anh sẽ trả lời mạnh dạn:
Thiên đàng của ngài là an bình, thanh thản
Ngài nên đem phủ dụ những bà cả ông già

Nắng xuân nào long lanh trong mắt bé
Đầu tháng giêng tây anh đã tết ngày tình
Đầu tháng giêng tây anh đã xênh xang mới mẻ
Quên hết phận người, hiện tại, việt nam …

NGUYỄN TẤT NHIÊN

Tối Hăm Chín Tết

Một bước nữa thôi…là tới Tết! Thời gian lui lại, có bao giờ? Ba mươi chờ vậy, đêm trừ tịch, dám…ngủ quên…chừ, dám có mơ?

Mưa mãi…mưa hoài. Mưa sẽ tạnh! Nửa đêm, lưng lửng, nửa đêm buồn…Buồn ai, không có, đang buồn ngủ…Dẫu có thế nào, mai cũng Xuân!

Mai, chuyện của mai, Thiên Chúa phán. Khổ đau đã đủ bữa hôm nay! Nào ai theo Đạo không tin Chúa? Mình ngoại Đạo mà mắt cũng cay!

Thôi kệ, buông xuôi dòng nước chảy…Thời gian, nước chảy, một đường xuôi! Những người lội ngược không hề tới / cái chỗ ngọn nguồn mây trắng trôi!

“Bạch vân thiên tải không du du!”. Thiên tải – ngàn năm…cõi tít mù. Biết vậy, tại sao mình cứ tính…Tính mờ con mắt thấy Thiên Thu!

Hôm nay, hăm chín, mai ba mươi. Mồng một chào nhau nở nụ cười…Ai viết cho tôi trên cánh thiếp, nhành mai đơm nụ thấy thương ơi!

Tôi biết mình xa…vẫn cứ xa…Xa Non, xa Nước, biệt quê nhà! Nhớ ai mặc áo bà ba tím…nhớ nụ tầm xuân…nhớ xót xa!

Bốn mùa…không biết Xuân hay Hạ, một trộ mưa, trời…không lẽ Thu? Tí tách…nằm nghiêng, nghe tí tách…Một ngày sắp tới…sẽ bao lâu? (*)

“Mưa chiều Thứ Bảy, tôi về muộn, cây khế trên đồi trổ hết bông!” (**), Nguyễn Hàn Chung nhắc thơ ai đó, mười bảy ai xui bậu lấy chồng?

Mười bảy…Bây giờ hăm chín Tết, ai còn tần tảo phải không ai? Ai còn tíu tít cơm và áo…Chiếc áo bà ba…kệ gió bay!

Trần Vấn Lệ

(*) Cổ thi: Tứ thời vô Xuân Hạ, Nhất vũ tiện thành Thu.
(**) Thơ Phạm Công Thiện.

MỘNG XUÂN… .

tìm trong xuân
mộng
bình yên
chút se sắt lạnh bên hiên gót về
hương thơm theo bước chân thề
chỉ duy nhất trái tim kề người thôi

**
người duy nhất trị vì ngôi
mộng xuân
tìm
lạc thuở đôi cát lầm
đất trời tự thuở lặng trầm
uyên ương tạc đã âm thầm kiếm nhau

**
tạc âm thầm kiếm xưa sau
hoài ngăn cách mãi nỗi đau vẫn giờ
tìm trong xuân
mộng
tình cờ
và trong cả những bất ngờ nào hay

**
bất ngờ trận bụi sầu bay
cội xương rụng trắng lá lay khi mùa
lá lay cỏ ngọn gió đùa
mộng xuân
tìm
cánh chim vừa ngõ hoa

**
tìm trong xuân
mộng
thiết tha
may ra sót chút dấu mà nhớ thương
sót yêu sót trót vấn vương
thành đông giá sớm dậy sương khói miền

**
khói sương đông giá thần tiên
tìm chiêm bao
thấy mây hiền
mộng xuân…

PHẠM HIỀN MÂY

nguyên đán tình yêu

nụ mai sáng nay vừa nở
trên môi em ngọt thơm hồng
tôi nghe bềnh bồng trong gió
là tình tôi chớm đơm bông…

mùa xuân bên trời quá mộng
miên man giọt nắng xuân tràn
có chút gì trong nắng sớm
mà hồn xuân đậu thênh thang

ơi tôi bên trời nguyên đán
tình yêu mầu nhiệm theo về
khẽ thôi chân trần gót mỏng
nồng nàn gọi cửa đam mê

từ trong muôn trùng nỗi nhớ
thiết tha hoa cỏ gọi mời
nầy người tôi xin hỏi nhỏ
có dành xuân nào trao tôi…

nguyễn minh phúc

Biểu Tượng Heo Trong Huyền thoại, Điện ảnh, và Văn học

Người miền Nam gọi là con heo. Miền Bắc, gọi con lợn. Ở miền Nam có bánh da lợn và bánh tai heo. Không thấy ai nói bánh da heo và bánh tai lợn. Heo thì có heo nhà và heo rừng. Trong giống heo nhà có gồm chung một loại heo nhỏ, màu đen hoặc đốm đen, là heo mọi. Tiếng Anh có nhiều chữ để chỉ con heo, hoặc lợn. Mãi cho đến thế kỷ thứ mười chín, chữ “swine” là chữ được dùng thường xuyên nhất. “Pig” ban đầu được dùng để chỉ “a young swine” (một con heo còn bé). “Boar” là heo đực tuy nhiên thường được dùng để chỉ loài heo rừng. “Sow” là heo nái. “Barrow” heo đực bị thiến. “Hog” là con heo đực trưởng thành, to lớn hơn “pig,” được dùng chung cho cả hai “swine” hoặc “barrow.” “Farrow” trước kia dùng để chỉ heo con, sau dùng để chỉ đàn heo con mới sinh.
Đối với người Do Thái và người Hồi Giáo, heo là con vật bẩn thỉu vì vậy giáo dân không được phép ăn thịt. Người nào không tuân theo giới cấm sẽ bị Chúa hay Giáo Chủ trừng phạt. Tuy vậy, vẫn có những quốc gia, đưa loài heo vào hàng thần linh. Albina là một nữ thần trong huyền thoại của xứ Etruscan (thuộc về nước Ý thời cổ). Gốc gác Albina là một con heo nái màu trắng. Tương tự như huyền thoại Etruscan, huyền thoại Celtic (bao gồm các quốc gia Ireland, Scotland, Wales) có nữ thần Eridwen (cũng là con heo trắng). Babi Ngepet là một con heo quỉ trong huyền thoại Indonesia. Huyền thoại Wales có Hen Wen, vị thần heo nái đã sinh ra con mèo khổng lồ Cat Palug. Về sau còn mèo này đánh nhau với Vua Arthur. Hildisvíni là con heo đực của vị thần Freyja trong huyền thoại Norse. Gullinbursti là một con heo nọc có bộ da cứng như thép, lông bằng vàng mọc dọc theo xương sống. Bộ da này có thể chiếu sáng trong bóng tối. Gullinbursti được dùng làm quà tặng cho Frey, vị thần tượng trưng cho nắng và thời tiết tốt đẹp, bảo vệ sự sinh tồn và thịnh vượng cho loài người. Kamapua’a trong huyền thoại Hawaii là một cậu bé nửa người nửa heo, là thần tượng trưng cho khả năng sinh sản và bảo vệ của hòn đảo Maui. Moccus là một vị thần heo Celtic bảo vệ thợ săn và chiến sĩ. Trư Bát Giới trong huyền thoại Trung quốc, là một người, nửa phần trên mang hình dáng heo, đã theo Đường Tam Tạng đi thỉnh kinh. Sau khi cuộc thỉnh kinh thành công, Trư Bát Giới trở thành Bồ Tát.
Dường như, người Tây phương thời cổ vì sợ sự tàn phá của loài heo rừng khổng lồ mà đưa chúng vào huyền thoại. Heo, được tôn thờ vì sợ hãi chứ không vì kính yêu. Lưu truyền mãi đến ngày hôm nay, heo luôn luôn là biểu tượng cho sự khinh ghét vì những đặc tính dâm dục, ngu độn, và tham ăn. Phim ảnh về tình dục tục tằn (pornography) được dịch ra là “phim con heo”. Con heo cũng là biểu tượng của sự ngu xuẩn. Người Việt mình thường chê trách một người nào đó bằng thành ngữ “ngu như heo.” Người Mỹ dùng chữ “pig out” để chỉ hành động ăn tham và ăn nhiều. Tiếng Hy-lạp cổ có một thành ngữ được dùng để chỉ người ngu mà hay làm ra vẻ khôn ngoan dạy đời; đó là “a pig contending with Athena” có nghĩa là heo là dám đối đáp với Athena, vị nữ thần bảo hộ thành phố Athen. Bên cạnh hai con heo rừng của Calydon và Heracles, tôi sẽ kể bạn nghe sau đây, Hy lạp còn có con heo rừng (nái) Crommyonian sow là mẹ của con heo rừng Calydon, bị Theseus, vị thần lập nên thành phố Athen, giết chết. Câu chuyện heo Crommyonian cũng na ná như hai huyền thoại kia lại ít chi tiết ly kỳ nên tôi bỏ qua.


Cuộc săn heo rừng ở Calydon.

Calydon là một thành phố của Aetolia, vào thời Hy Lạp cổ, nằm ở bờ phía Tây của con sông Evenus cách bờ biển chừng 11 km. (Theo Wikipedia). Calydon vào thời ấy rất thịnh vượng, được nhắc nhở nhiều lần trong tác phẩm Iliad của Homer. Oeneus, vua của Calydon thường dâng hiến lễ vật cúng tế Artemis, nữ thần chúa tể ngành săn bắn, con của Zeus và là chị/em sinh đôi của thần Apollo. Có một năm, Oeneus quên kèm tên Artemis trong các món lễ dâng cúng các vị thần. Nổi giận vì cho là Oeneus khinh thường mình, Artemis thả con heo rừng khổng lồ của bà đến tàn phá tất cả ruộng vườn nhà cửa và giết hại dân chúng của Calydon. Dân chúng rút vào kinh thành cố thủ, con heo rừng lại canh ngay trước cửa thành khiến dân không thể cày cấy hay săn bắn, dần dần lâm vào nguy cơ bị chết đói. Oeneus kêu gọi anh tài cứu giúp quốc gia. Người nào giết con heo rừng khổng lồ này sẽ được thưởng bộ da và cặp nanh của nó.
Một người thì có lẽ khó mà thắng được con heo rừng của Artemis, tuy nhiên rất nhiều anh hùng xứ Calydon đã đáp ứng lời kêu gọi của Oeneus. Trông số này có Argonauts, đoàn quân đã từng đi săn con cừu thần có cánh với bộ lông bằng vàng, và hoàng tử Meleager, con vua Oeneus. Người yêu của Meleager là Atalanta, săn bắn rất tài giỏi, cũng được mời tham dự cuộc săn.
Atalanta, nguyên là con nuôi của Artemis. Thuở nhỏ đã từng được nuôi bằng sữa của Artemis. Lớn lên nàng thường được Artemis ủy quyền quán xuyến công việc. Tài năng của nàng vượt xa người thường. Hoàng tử Meleager giết chết con quái vật, tuy nhiên, phần thưởng cao quý của người chiến thắng được chàng trao cho Atalanta vì nàng là người đầu tiên bắn trọng thương con quái vật.
Đoàn quân săn bắn không đồng ý việc giải thưởng cao quý này lại được trao cho một người đàn bà (kỳ thị phụ nữ quá!). Mấy người con của Thestios, cậu của Meleager, cướp phần thưởng này, vì thế Meleager giết đám con và cả người cậu. Ngày xưa, khi Meleager mới sinh ra, có một vị thần tiên tri, nhìn mấy cây que củi đang cháy trong lò sưởi, rồi bảo rằng: “Bao giờ cây củi ấy cháy hết, Meleager sẽ chết.” Mẹ của Meleager để bảo vệ con, vội dập tắt cây củi rồi cất vào trong áo. Meleager nhờ đó thoát chết. Đang cơn giận con trai giết chết em trai và cháu, bà rút cây củi đang giấu trong áo ném vào lửa, vì thế giết chết Meleager.
Người ta bảo rằng thần Artemis sai Atalanta đi giúp đoàn người săn con heo rừng khổng lồ để chia rẽ đoàn quân sâu xa hơn, và trả thù vua Oeneus. Trong cuộc săn, người này bắn lầm người kia, các vị anh hùng đâm ra thù oán giết chóc lẫn nhau, xã hội càng thêm hỗn loạn.
Bộ da con heo rừng được thờ trong đền Athena Alea ở Tegea, Laconia; tương truyền từng được người đời nhìn thấy hồi thế kỷ thứ hai sau Công Nguyên. Bộ nanh heo rừng khổng lồ xứ Calydon, phần gốc to nhất, có chu vi gần 89 centimeters. Bài học duy nhất của cuộc săn heo lưu lại cho đời sau là sự qui tụ rất nhiều anh hùng (heroes) chung tay góp sức với nhau để cứu quốc gia đang gặp nạn.


Cuộc săn heo rừng của Heracles

Người Hy-lạp cổ biến heo rừng thành thần và đưa vào huyền thoại không phải chỉ một lần. Cuộc săn heo rừng trở thành một trong mười hai công việc khó nhọc mà Heracles phải thực hiện để chuộc tội.
Heracles (còn được biết bằng tên La-mã, Hercules) là con của Zeus. Vị chúa tể của các vị thần này có người vợ chính thức tên là Hera. Mẹ của Heracles là Alcmene, một trong những người vợ lẽ của ông. Hera vì ghen nên thường tìm cách hãm hại Heracles. Ngày chàng còn nằm nôi Hera cho hai con rắn thân tín của bà đến giết Heracles. Tuy nhiên, cậu bé Heracles đã bóp chết hai con rắn bởi vì từ khi mới sinh ra đời chàng đã có sức mạnh vô song. Hera không bỏ cuộc. Bà biến Heracles trở nên điên loạn. Trong cơn điên chàng đã giết chết vợ và các con.
Ân hận vì vợ con chết dưới tay mình, Heracles đến đền Delphi cầu xin với các nhà tiên tri lời sấm truyền chỉ cách cho chàng chuộc tội. Sấm truyền Heracles phải đến chầu vua Eurystheus, và thực hiện 12 công việc nhọc nhằn cực độ do vị vua này chọn lựa. Theo lệnh vua Eurystheus, Heracles giết con sư tử thần Nimean rơi từ trên mặt trăng xuống, con rắn chín đầu Hydra, và bắt sống con tuần lộc có bộ lông bằng vàng, thú cưng của thần Artemis. Công việc thứ Tư, Eurystheus sai Heracles đi giết một con heo rừng khổng lồ sống trên núi Erymanthos thường xuyên xuống núi giết người và phá hoại mùa màng.
Tương tự trường hợp Calydon, heo rừng Erymanthos cũng do Artemis thả xuống trần gian để trừng phạt người dân. Erymanthus, con của thần Apollo, nhìn trộm vị nữ thần Aphrodite đang tắm vì thế bị Aphrodite đánh mù mắt. Apollo trả thù cho con bằng cách sai con heo rừng (của Artemis) đi giết Adonis, người tình trẻ tuổi đẹp trai của Aphrodite. Robert Graves, một học giả chuyên nghiên cứu huyền thoại Hy-lạp, cho rằng đời sau ghi chép nhầm lẫn nên gán cho nữ thần Aphrodite, thật ra đó chính là Artemis.
Nếu tin theo giả thuyết của Robert Graves, câu truyện vừa kể bên trên trở thành, Erymanthus nhìn trộm Artemis tắm vì thế nữ thần đánh Erymanthus, cháu gọi bằng cô, đến mù mắt còn gửi cả con heo rừng đến phá hoại mùa màng trên vương quốc của cháu. Thật là một người cô hung tợn. Và Heracles phải giết con quái vật này để chuộc tội giết vợ con.
Trên đường đi giết con heo rừng Erymanthos, Heracles giải cứu Chiron, người bị xiềng trên đỉnh núi. Hằng ngày có con đại bàng đến rỉa gan của Chiron để ăn. Heracles giết chết chim đại bàng cứu Chiron, vì thế được ông ta chỉ cách để bắt giết con heo rừng khổng lồ Erymanthos. Vì đang giữa mùa đông, Heracles lùa con heo rừng vào cánh đồng tuyết thật dày khiến nó bị lún sâu không chạy được. Heracles bắt trói và khuân về để trước mặt Eurystheus. Hoảng sợ vì con thú khổng lồ và hung dữ, vua ra lệnh đem giam nó vào một cái chum khổng lồ “pithos” phân nửa chum được chôn dưới đất. Vẫn còn kinh sợ, vua Eurystheus van xin Heracles đem con quái thú đi thủ tiêu. Người đời sau, Roger Lancelyn Green, kể thêm rằng Heracles ném con quái vật ngoài biển khơi, nó bơi vào nước Ý, và nanh của nó được lưu giữ trong đền thờ Apollo ở Cumae.
Heo rừng thường thường rất dữ tợn và nguy hiểm. Nữ thần Venus đã lên tiếng cảnh cáo Adonis, không nên đi săn heo rừng, nanh của nó có chứa sức mạnh của sấm sét. Tuy vậy, phim ảnh Hoa Kỳ có một con heo rừng rất hiền lành, chỉ biết ăn sâu bọ, đó là Pumbaa, nhân vật trong “the Lion King.” Pumbaa theo tiếng Swahili, Đông Phi, có nghĩa là ngu ngốc, kỳ khôi, cẩu thả, bất cẩn. Pumbaa tuy vậy lúc cần cũng là một chiến sĩ can trường, và sẽ tức giận nếu kẻ nào không phải là bạn mà dám gọi Pumbaa là con heo. Châm ngôn của Pumbaa là “Hakuna Matata” có nghĩa là chẳng hề gì đâu, đừng lo nghĩ, hãy cứ vui mà sống.

Nhưng Pumbaa chỉ là con heo rừng trong phim hoạt họa. Thế còn có con heo nào được đóng phim không. Có chứ. Không chỉ một con mà cả ngàn con trong phim “The Pigs and the Battleships” (1961) hay “Bầy heo và Đoàn Chiến Hạm.”
“Bầy heo và Đoàn Chiến Hạm” là tên cuốn phim dựa vào tiểu thuyết của Kazu Otsuka do Shohei Imamura làm đạo diễn.
Hai nhân vật chính trong phim là Kinta và Haruko. Phim lấy bối cảnh là Yokosuka, một thành phố cạnh biển vào thập niên năm mươi, lúc chiến tranh giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản vừa chấm dứt. Nhân danh bảo vệ Nhật Bản lúc ấy đã đầu hàng và tuyệt đối giã từ vũ khí; Hoa Kỳ mở nhiều trại lính dọc theo chiều dài của quốc gia Thái Dương Thần Nữ. Phim cho thấy quan điểm của Imamura về xã hội Nhật vào thời điểm ấy, khác hẳn nếu không nói là hoàn toàn trái ngược với quan điểm của Yasujiro Ozu. So sánh quan điểm của Imamura với Ozu mà không với đạo diễn nào khác là bởi vì Imamura đã từng là phụ tá đạo diễn cho Ozu trong rất nhiều phim. Nhiều người bảo rằng Imamura là học trò của Ozu. Với bộ phim rất thành công này, Imamura khẳng định tài năng, và được xem là người dẫn đầu khuynh hướng New Wave (Làn Sóng Mới) của Nhật Bản. Người xem nếu quen thuộc và yêu thích quan hệ cha con, vợ chồng, với những xung đột ngấm ngầm bên dưới bộ mặt lặng lẽ trầm ngâm của các nhân vật; quen thuộc và yêu thích quan niệm thẩm mỹ của vườn Thiền, trà đạo, cắm hoa, thơ haiku như trong phim Ozu; sẽ cảm thấy bực bội, hay choáng váng với cách miêu tả xã hội Nhật của Imamura.
Kinta lớn lên trong một gia đình nghèo, mẹ mất sớm, ông bố nghiện rượu làm nghề kéo xe thuê. Anh lêu lỏng, lười biếng, làm tay sai cho băng đảng Himori, chuyên tống tiền những chủ tiệm nhỏ trong vùng để kiếm tiền tiêu vặt. Haruko giúp việc cho một cái bar nhỏ, yêu Kinta, mơ một ngày nào làm đám cưới với Kinta và thoát ly gia đình. Chị của Haruko hành nghề gái bán bar, lấy tiền mang về giúp mẹ nuôi em. Mẹ Haruko đã hứa gả nàng cho một người Mỹ đứng tuổi để lấy ba chục ngàn. Và tiền đã được bà mẹ lấy trước. Haruko muốn Kinta cùng chạy trốn với nàng đến Kawasaki để tìm việc làm và bắt đầu cuộc sống tự lập.
Cứ mỗi lần một chiến hạm Hoa Kỳ cập bến, thành phố Yokosuka trở nên bát nháo với quang cảnh cờ bạc, say sưa, đĩ điếm. Khung ảnh của Imamura miêu tả những anh chàng lính Mỹ to lớn, đần độn, và dâm dục. Người Nhật thì tham lam, trộm cắp, lường gạt, và đánh mất phẩm giá.
Băng đảng Himori kiếm lợi bằng cách nuôi heo, cung cấp thịt cho các trại lính Hoa Kỳ. Kẻ cắp gặp bà già, băng đảng này bị lường gạt, ký hợp đồng với một tên bịp bợm. Họ nộp tiền trước để được mua thịt hộp phế thải của lính Mỹ và dùng thịt này để nuôi heo. Băng đảng Himori bị bịp hết tiền, thua lỗ. Haruko mang thai, phá thai, hẹn hò đi chơi với lính Mỹ say rượu, bị hiếp dâm, ăn cắp tiền của lính Mỹ, bị bắt, vào tù, được chuộc ra và phải lấy chồng Mỹ để trả nợ. Haruko bỏ trốn đến trại nuôi heo. Kinta tổ chức bắt trộm tất cả heo trong trại đem bán để lấy tiền và trốn đi với Haruko. Kế hoạch không thành, Kinta bị băng đảng đối lập cướp tất cả các xe heo, và bản thân anh ta bị bắt lên xe heo đưa vào thành phố. Kinta dùng súng uy hiếp tài xế của các xe vận tải chở heo phải thả heo ra, và trong cuộc xung đột Kinta bị bắn chết. Đàn heo tràn ngập thành phố chen chúc trong các ngõ hẻm dẫm đạp lên người ta khiến nhiều người bị chết. Haruko nhìn thấy cái chết của Kinta, một mình bỏ thành phố ra đi.
Người xem phim không khỏi nghĩ rằng Imamura đã dùng hình ảnh đàn heo tràn ngập thành phố đè chết người dân như biểu tượng của lính Mỹ dày xéo nước Nhật.
Nếu trong thời cổ đại của Hy-lạp con heo rừng khổng lồ là biểu tượng cho sức mạnh và sự hung tợn của thú vật khống chế loài người, thì trong thời hiện đại con heo của George Orwell là biểu tượng của sự độc tài, sử dụng quyền hành đàn áp và dối gạt người dân. Tuy chê bai loài heo tham lam và dâm dục, loài người, nhất là các nhà độc tài thật ra cũng chẳng khác gì loài heo. Ở phần cuối truyện “Animal Farm” Orwell viết:
“The creatures outside looked from pig to man, from man to pig, and from pig to man again; but already it was impossible to say which was which.”
Dịch là:
“Loài thú ở bên ngoài đưa mắt nhìn từ loài heo sang loài người, rồi từ loài người sang loài heo, rồi lại từ loài heo sang loài người; nhưng không thể nào phân biệt kẻ nào là heo, kẻ nào là người.”
Người Anh (và Mỹ) khi biểu lộ sự khinh bỉ một người đến tột độ, họ mắng là đồ heo. Somerset Maugham đã cho một nữ nhân vật, Sadie Thompson, Altogether [1934.] Rain, kêu lên. “You men! You filthy dirty pigs! You’re all the same, all of you. Pigs! Pigs!” Dịch là “Lũ đàn ông các anh! Bầy heo bẩn thỉu! Các anh toàn như nhau cả. Cả một lũ heo! Heo! Heo!”
Bên cạnh sự bẩn thỉu, ngu xuẩn, tham lam, tham ăn, và dâm dục, ít thông dụng hơn, con heo còn tượng trưng cho sự giận dữ tột độ. Trong vở kịch Lysistrata của Aristophanes, đám phụ nữ đồng lòng biểu tình, từ chối chăn gối với chồng và người yêu, để phản đối chiến tranh, có câu: “I will set loose my sow,” nghĩa đen là “tôi sẽ thả rong con heo nái,” nghĩa bóng là “tôi sẽ bày tỏ cơn giận dữ của tôi.”
Shakespeare đã tận dụng chi tiết, cờ hiệu của vua Richard III có hình con heo trắng. Ông vua này bị Shakespeare gọi là “Heo” thí dụ như: “the boar” (3.2.11), “elvish-marked, abortive, rooting hog” (con heo bị quỉ ám gây ra thất bại), hay con heo phá hoại của quỷ (1.3.227) và
The wretched, bloody, and usurping boar,
That spoiled your summer fields and fruitful vines,
Swills your warm blood like wash, and makes his trough
In your emboweled bosoms” (5.2.7-10)
Con heo khốn nạn, khát máu, xâm chiếm,
Phá hoại ruộng vườn và vườn nho mùa hè đang tốt tươi,
Máu của bạn tuôn chảy ra như là nước để rửa, và làm cái máng cho hắn
Bằng cái lồng ngực bị mổ toang của bạn.
Người Do Thái và Hồi Giáo chê thịt heo bẩn không ăn, nhưng với người Việt thịt heo là vật liệu để nấu thành những món ăn ngon không thể thiếu. Ngày thường ở các hàng quán bán thức ăn, thịt heo là nguyên liệu chính trong cơm sườn, gỏi cuốn, chả giò, bánh canh giò heo. Đặc biệt, với ngày Tết, bên cạnh dưa chua, củ kiệu, thịt heo nạc lưng kho với trứng là món không thể thiếu. Phổ thông đến độ, thịt heo xuất hiện cả trong hai câu đối nổi tiếng, lưu truyền từ bao năm cho đến bây giờ.
Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ.
Cây nêu tràng pháo nổ bánh chưng xanh.
Xin chúc độc giả một năm mới ngon miệng với nồi thịt kho nước dừa thơm ngát.

Nguyễn Thị Hải Hà