Một ngày bỗng thấy tôi còn

Ngày cô đơn tấu đàn gầy
Đêm cô độc chiếc bóng dài khẳng khiu
Bất ngờ ngã sấp vào rêu
Mùa xuân rớt hột hắt hiu đá mòn
Đường làng mất dấu chân son
Nhà quê cò vạc héo hon từng giờ
Bồng bồng bế bế ngây thơ 
Muối dưa bỏ chợ vu vơ lở bồi
Chiều mù bóng lại đưa nôi
Lửa rơm nướng tiếng à ơi chín dòn
Một ngày bỗng thấy tôi còn
Lá hoàng hôn rụng chưa mòn mắt xanh! 

LƯU XÔNG PHA

mênh mông quê nhà

đã qua biết mấy suối sông
mà đi chưa hết mênh mông quê nhà
chưa tường ngọn núi mờ xa
chưa nghe trọn một tiếng gà gáy trưa
qua bao cơn nắng, cơn mưa
nào hay khúc hát đò đưa đẫm buồn
ai chờ con vạc kêu sương?
ai đi mòn gót trên đường cái quan?
chao ôi, bao độ đông tàn
mà chưa thấu nỗi cơ hàn mẹ cha
gió hoang thổi tạt hiên nhà
chợt cay đôi mắt: chiều tà bến sông

NP PHAN

MẤY MƯƠI NĂM AI DÈ

Tôi gặp người bạn cũ.  Trên bạn, một bầu trời, ở đó mây trắng trôi.  Té ra bạn tóc bạc!

Nhiều năm… đời đổi khác:  nhiều năm, nay là xưa.  Giữa ngày không nằm mơ… hay là mình chưa gặp?

Con đường dài tăm tắp chỉ có mây trắng trôi trong không gian là trời, thấy nụ cười:  tia chớp?

Hai bàn tay vỗ, bợp.  Ờ thì ra âm thanh!  Hai mắt bạn long lanh, hai mắt mình cũng thế?

Nhắc lại câu tình nghĩa mới biết mình vẫn còn tấm lòng thuở thanh xuân vành nón trận che trán…

Chuyện tâm tình chưa cạn, nói gì hơn làm thinh!  Kệ, tất cả xung quanh, chúng mình là thế giới…

Trên bầu trời vời vợi.  Tổ Quốc hình mây bay…

*

Chuyện mở ra giữa ngày, chúng tôi gặp giữa phố, rủ vào cà phê gió tha hồ ngó mặt nhau…

Nói tiếng Mỹ how? How? Nói tiếng Việt sao?  Sao hả?  Lúc đó cây rụng lá, vài chiếc bay phất phơ…

Nhắc thuở mình ấu thơ, thời học trò Đại Học, sách vở bày như thóc, nước mắt, mồ hôi tuôn…

Chuyện cũ có vui, buồn… giống nước nguồn trong, đục chảy vào sông nhiều khúc, ra biển, nhiều cù lao…

Thương quá mùa hoa đào hàng năm đỏ rực nhớ…

Thương qua thời súng nổ, mình chưa chết… còn nghe!

Mấy mươi năm ai dè sau tan bè xẻ ván…Ai nhỉ, hồi mười tám tóc thề bay như sương…

Trần Vấn Lệ

LÀ AI?

1.

… chia nhau chút bể dâu này
bờ xa nước cạn buổi mây hải tần
tàn ngày gác xế phân vân
nghe từ vô thức căn phần ngàn xưa
cầu vồng trả nắng cho mưa
riêng tôi trả mãi những mùa bão giông
đêm tàn bóng gởi hư không
an nhiên cuộc lữ bụi hồng nhẹ thênh…

2.

con thuyền trôi theo dòng sông
chỉ tìm một chiếc lá hồng vừa rơi
mai kia từ chốn xa vời
còn nghe tiếng hạc lưng trời tiễn đưa
tôi là ai
– từ ngàn xưa
em là ai
– giữa lọc lừa trần gian
là ai
– ngọn gió lang thang
đã nghe lạnh thuở vầng trăng bội thề…

TÔN NỮ THU DUNG

NHỮNG MÙA NẮNG NHA TRANG

Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ
Ở một nơi nào đấy xa xôi…
Có thành phố như giấc mơ im ắng…
… Có thành phố ngày xưa, có thành phố…
Nơi rất ấm, tuổi thơ ta ở đó…

(Robert Rozhdestvensky- Thái Bá Tân dịch)

Nếu tôi là họa sĩ, có lẽ những giọt nước mắt xa Nha Trang sẽ được vẽ bằng một mầu sắc nào đó rất lung linh trong một bức tranh nắng, có đôi mắt to của một cô bé 16 tuổi đựng suốt năm tháng ấu thơ dạt dào tiếng sóng, một ngày con sóng bật ra khỏi khóe mắt thành những hạt lệ, nên nó sẽ là một mầu rất mặn biển, để người xem tranh biết được nỗi chia lìa đó đã cứa xót lòng tôi đến thế nào.

Tôi không là họa sĩ, chỉ mong ký ức dẫn lời để có thể phác họa được cùng người một cách diễm lệ hình ảnh 16 mùa nắng Nha Trang, Nha Trang nhi đồng, Nha Trang dậy thì, và, Nha Trang lớn lên xa vợi, giật lùi sau chuyến xe lửa đang chở tia nhìn nuối buồn đau ngày tôi bị gỡ đi cái núm gió nắng mặn mòi ấy. Thế nên tôi cứ khắc khoải khi đêm về thốt nghe như có tiếng tầu lửa vang bên ngoài cửa sổ. Thế nên tôi nghĩ mình nợ Nha Trang một món nợ ân tình. Tôi nghĩ, vâng, nếu cho tôi trở lại mười sáu năm đầu đời để lại dung giăng dung giẻ với Nha Trang, thì có lẽ tôi sẽ biết nạp một cách tận tình hơn hơi thở phập phồng của phố biển, để bây giờ có thể viết về nó một cách sắc nét hơn, tha thiết hơn.

Thật sự lúc này tôi thấy mình đã sẩy đi ít nhiều ký ức về Nha Trang, Người đã cùng tôi một thời bé dại. Tôi đâu biết rằng, mỗi bước nhảy cò cò của tôi là từng bước một ánh nắng buổi mai đi về sau lưng, mỗi mảnh ngói nhỏ ném xuống đánh dấu ô “cái nhà” của mình chỉ là một không gian hư ảo, tan đi khi những đường phấn kẻ ô chơi bị xóa vội vàng dưới cơn mưa … Tôi cũng không hay mỗi trái banh thảy lên, từng thẻ đũa bị tóm, tờ tợ từng mảnh thời gian bị lấy đi, để khi tàn một ván chơi thẻ thì thời gian không còn dấu gì trên vuông gạch…

Chắc không ai lúc bé mà không chơi trò u mọi, tôi nhớ, chỉ với 5 anh em nên chia phe không đều, luật chơi lại ấm ớ, chơi miễn sao mấy anh em thấy ổn là được, chỉ mình tôi là con gái, lại nhỏ bé, hơi thở ngắn nên hình như tôi làm tù binh hơi bị nhiều, chỉ mong phe ta u u tới cứu. Tiếng u u xa vời không đến được để gỡ ra cho tôi nỗi buồn xa quê, nó ở đó mở mắt hoài vọng một bàn tay Nha Trang.

Có nước sông mầu nhiệm nào cho mình trẻ lại, chắc tôi sẽ tham lam như người đàn bà trong cổ tích, uống cho đến khi hóa thành trẻ sơ sinh, để lại được lớn lên từ hạt gạo thơm ruộng đồng nước ngọt Nha Trang, để lại học nói từ hương biển mặn. Để lòng xanh đại dương. Để tóc lại mướt ngọn dương liễu. Để mơ mộng theo ngọn núi trầm tím nơi chân trời trên biển hoàng hôn. Để mắt nhìn háo hức theo đoàn tầu xe lửa nhả khói phía xa bên kia những cánh đồng quê nội. Để lại được lớn lên, lần nữa, Nha Trang…

… Lớn lên da ngào muối biển. Lớn lên cát trắng chân quen. Lớn lên môi cười nắng ấm. Lớn lên mắt xanh trời rộng. Lớn lên sóng vỗ trong lời. Lớn lên tóc rằm dương liễu. Lớn lên biển ở trong tim…

Người đem tôi vào không khí ruột thịt ấy, là bà nội tôi, là vòng tay mẹ tôi. Bà nội từ Thuận Mỹ, đã mua vé máy bay cho mẹ và các anh tôi, từ Hà Nội vào Nha Trang, lúc ấy tôi mới 3 tháng ngủ say trong tay mẹ. Nghĩ lại vẫn thấy lâng lâng vui sướng rằng, bước chân đầu tiên chạm đất của tôi là đất Nha Trang, âm thanh bập bẹ tiếng con người của tôi là âm thổ nhưỡng cát trắng biển xanh. Hình ảnh đất trời đầu tiên mà tôi biết cảm xúc là vòm trời cong giáp biển, là con mương ốm o chảy loanh quanh ở làng nội. Mầu sắc tóm thị giác tôi là mầu cà phê sữa của con mương, đầy mắt tôi là mầu tím rưng rức bụi trâm trâm. Và hương bám hoài trong nhớ, cái hương đồng nội trộn lẫn mùi nắng trưa, đất bùn, phân trâu bò, lá tre xanh. Âm thanh quyến luyến tôi là tiếng xình xịch xe lửa mỗi cuối tuần từ phố về quê, và tiếng sóng mãi là vọng âm quen trong giấc ngủ nhớ nhà.

Tôi nhớ khi mới tới ở Santa Ana, đêm đầu tiên tôi giật mình thức giấc vì nghe như có tiếng rào rào vọng tới, tôi hỏi và được giải thích đó là tiếng xe hơi chạy trên freeway, trời, sao giống âm tiếng sóng xào biển khuya vậy, không biết tôi cảm giác chính xác không hay là vọng ảo, bạn ơi?

Nói nhỏ cùng Hóa Nhi rằng, chân dung người tình Nha Trang của tôi đấy, chỉ cần người “điểm nhãn” nữa là thành duyên nợ. Nhưng mà thôi, chỉ hẹn hò cũng đã ngất ngây một kiếp tôi rồi…

Trên con đường hò hẹn ấy…,

Là những bước theo mẹ tới trường, một con dốc ở Cầu Đá, rồi con đường nhỏ lởm chởm ở phố Sinh Trung, bước ngắn bước nhỏ nên gõ nhịp rất mơ hồ trong nhớ, ở đó những cây muồng bên vệ đường luôn là bóng mát cho những đứa trẻ ngồi chơi đùa, nhà ba mẹ tôi nhỏ lắm, tôi nhớ nền nhà mầu xi măng đen, và ngạch cửa với hai bậc tôi vẫn thường bước lên bằng đôi guốc mộc quai nhựa trong, sao bé thế mà lại đi guốc nhỉ, nhưng đó là hình ảnh tôi rất thích về mình, bé xíu, mặc quần lụa trắng hai ống so le, lại lênh khênh trên đôi guốc, đứng dưới gốc muồng, bên cạnh hai ông anh, cũng bé, đang chơi bắn bi. Đó là thời gian của chồi nắng. Chồi 3, chồi 5 tuổi. Nắng ăn nắng ngủ và nắng khóc nhè.

Trên con đường hò hẹn ấy…,

Là giàn hoa ti-gôn hồng, hoa giấy đỏ, giăng ngang cổng một ngôi nhà trên con đường đất dẫn tới cuối là một ngôi trường tiểu học đứng ở đầu con dốc nhỏ, con dốc mà anh Khoa đã có lần ngã rất đau, đến nỗi cái bánh xe đạp nhỏ bị quẹo thành số tám. Nhà ba mẹ tôi lúc này lớn hơn ở Sinh Trung nhiều lắm, có một cái thềm rộng hình chữ L ngược, được che rợp bởi giàn hoa giấy và thiên lý tây, hương rất thơm vào những đêm khuya, dù chưa đủ lớn để bắt kịp được mùi hương với ý nghĩa tâm linh của nó, nghĩa là, chỉ đơn giản mùi mình thấy thơm, không phải hương làm mình bâng khuâng.

Thềm nhà ấy như biển trên đó có chiếc thuyền bằng gối bông chở ba và anh em tôi -ba luôn được ngồi trên gối và anh em tôi hì hục đẩy- những buổi tối chơi đùa đến khuya, để kết thúc có khi là một bữa phở xe mà đứa nào đứng chờ cũng chảy nước miếng, thề là chưa có bát phở nào trong đời tôi ngon đến thế, mà nghe kể lại giá chỉ có 5 cắc (?) một tô. Thềm nhà ấy cũng là nơi chúng tôi ngủ vào những ngày nóng, thời đó ban đêm nhà không phải đóng cửa, tôi nhớ rõ như thế, đó là vào thời ông Diệm, tôi vẫn nghe nói thế. Những ngày mưa thì thềm nhà lại biến thành một sân trượt nước, có lần anh cả tôi nhảy từ thành cái hồ nước xuống thềm và anh trượt thẳng vào cơn bất tỉnh, làm cả nhà cuống sợ, anh Khôi ơi, anh còn nhớ hương vị thứ thuốc chữa cơn ngất của anh không?(bà ngoại tôi chữa bằng cách cho uống nước tiểu của em trai!) Từ ấy chúng ta không còn được trượt nước dưới mưa nữa.

Thềm nhà ấy, nắng xiên vai 7 tuổi ngồi chơi thẻ một mình, có khi tôi rủ được Khuê, cậu em kế chơi cùng, nhưng nó là con trai, đâu kiên trì với trò chơi lẻ tẻ, các anh tôi vẫn kêu những trò của tôi là thế, phải là chơi bắn súng giàn trận đánh nhau, đúc kiếm trong những khuôn củ khoai, anh Khoa, anh Khải à, còn nhớ cách đúc kiếm này không vậy, em nhớ, những cây kiếm nhỏ rất đẹp, sáng loáng, ngày đó, em rất thích, những muốn xin một cái để dành vào kho đồ chơi lẻ tẻ của mình. Những trò chơi như thế kéo tuổi thơ chúng ta đi qua tháng ngày, em là con gái ở giữa ba ông anh và ba cậu em, không theo nổi những trò chơi lớn, nên ngày đó em hay đứng một mình… em thích chơi năm mười, ẩn núp mà không muốn bị tìm thấy… dường như em đã lớn lên trong cái kén của riêng mình, như thế.

Trong kén ấy, nắng 8, 10 tuổi nhả những sợi tơ…, nắng sắm vai cổ tích, nắng chuyện trò với búp bê. Không hiểu sao, cái ông anh họ bên nội, lớn hơn tôi nhiều lắm, giật lấy con búp bê của tôi và làm hư tóc, rách cả cái áo đầm đỏ của nó, rồi anh ta bỏ đi, tôi đứng ôm con búp bê bị thương trên thềm trưa, ba mẹ lại đi vắng, chả biết mách ai, hình như búp bê cũng khóc. Tôi rất ghét người anh họ này, thậm chí đến lớn tôi cũng không thể nào tha thứ cho anh ta được, vì từ lúc đó tôi không còn chơi búp bê nữa, vì hình ảnh con búp bê áo đầm đỏ thân thiết bị thương luôn làm tôi đau nhói. Đó là con búp bê tôi thích nhất. Lúc này cái buồn đã là một vết sẹo phai, người anh họ kia cũng đã không còn. Sau này tôi có thêm một con búp bê khác, phần thưởng một bài thơ thiếu nhi, nó cũng mặc áo đầm đỏ, nó làm tôi nhớ đến một ông bác nhà văn bạn ba mẹ tôi, ở Sài Gòn ra Nha Trang chơi, hình như bác bị ốm hay sao, tôi thấy khăn tay bác có dính máu, thấy tôi sợ bác nói, bác không chết đâu phải chờ con thành thi sĩ…, bác cao lênh khênh, cúi xoa đầu tôi, không phải thơ búp bê nữa nhé. Thế mà, vào một ngày cuối tháng tư sau đó rất lâu, rất lâu, bác đã tử nạn trên một con tàu, và mộ bác là lòng biển xanh thẳm. Ôi biển, biển rất hiền rất bao la của tôi, bỗng một thời nổi lên những con sóng oan nghiệt. Bác ơi, con xin lỗi bác là con đã yêu biển, không ngờ rằng đó là nơi vĩnh viễn bác ở lại, bác ơi, con sẽ tặng bác bài thơ, mãi là lời của con búp bê…

Nắng thời này đúng là tơ là lụa, nắng nối một đường hoa thơm cỏ lạ từ lòng bố mẹ thị thành đến lòng bà nội quê nhà, nắng mở con mắt ngạc nhiên từ ô cửa sổ toa tầu. Có lẽ thời gian này, thích nhất là những cuối tuần được về quê nội bằng xe lửa, tôi thường xếp con thuyền giấy thả ra ngoài cửa sổ khi tầu đi qua cầu, các anh tôi reo lên khi những chiếc máy bay giấy tung theo gió, rồi, cắn ngón cái, ngoắc ngoắc những ngón còn lại để lêu lêu tôi, thuyền mà lại bay lên trời, hí hí… Tôi cũng khá ngẩn ngơ vì điều ấy, hay vì vậy mà ước mơ của tôi chỉ là chiếc thuyền giấy không bến đỗ…

Nói đến xe lửa, ôi, … khói con tàu theo suốt tuổi thơ ngây… (Lữ Kiều) vì nó gắn với nước mắt trên thềm ga những lần tiễn cha đi Sài Gòn dạy học. Thế là, thấm mùi đưa tiễn, chín mười tuổi đã biết cái mặn của nước mắt khóc vì xa người yêu mến. Ưng ức hình ảnh con tầu khuất dần để lại đường khói đen dài, để lại mẹ và tôi đứng trên thềm ga rộng bên cạnh những đường ray bị bỏ lại im lìm, tôi nắm chặt tay mẹ òa khóc, gió thổi lộng hai tà áo lụa mầu mỡ gà của mẹ, tôi khóc hoài, đến nỗi mẹ phết vào vai tôi, tiên nhân con bé này làm má cũng khóc đây này, có nín đi không.Lúc này nhớ lại lời mẹ, tôi thấy tức cười và thương mẹ quá, giọng nói mẹ ướt nặng như tấm khăn bị nhúng nước. Rồi hai mẹ con líu ríu ra về, thường là ngồi trên một chiếc xe xích lô đạp, ghé vào nhà bạn thân của mẹ, bà giáo Hương, chắc mẹ muốn chia nỗi buồn, tôi thì vẫn rấm rứt cho tới giấc ngủ đêm…

Nắng đẫm trang vở học trò. Ôi nắng 12, 13 tuổi. Tuổi bản lề giữa nụ nhi đồng và hàm tiếu hoa, chẳng phải tuổi 13 mà đã được gọi là nàng của nhà thơ tình yêu Nguyên Sa đâu. Nắng non bình minh mặt trời vừa nhú trọn khỏi mặt nước xanh. Nắng chưa nhấn mạnh hơi thở mặt trời mãn khai, đêm chưa mơ màng trăng liễu vào giấc ngủ say. Biển còn vỗ sóng ngoài tầm mơ mộng.

Hồi này vì nhảy một lớp nên tôi bằng lớp với anh kế, và thế là chơi với toàn bạn của anh, nên cũng khá là được cưng, anh em kết nhau tới tuổi Tú Tài, chắc là có rất nhiều hình ảnh trùng trong ký ức của nhau.

Nhưng đâu có dòng sông nào trở lại, phải không các anh, trôi theo ngàn xanh những hạt biển, bao giờ nữa dòng sông đưa đám lục bình quây quần trở lại với nhau trong ánh tím thơ ngây… Anh Tấn Khải, Toàn, Huy, Được, nhớ không, một góc trời Nha Trang, các anh đã có một người em gái, là tôi? Và các bạn Kim Anh, Hương, Hoàng, Dìn, Tường, Phong, Ngọc, Hiên, Hồng, chị Bích, giờ nhìn lên mảnh trăng thượng tuần có cảm thấy đó là ánh sáng ban sơ của mắt nhìn chúng ta thời thơ ấu? dù cho sợi thời gian dài đã mấy mươi năm, tôi tin thế, nếu có ngày chúng ta gặp lại và nhìn nhau…

Nắng chẻ xanh ngàn tia lá dừa đường vào Vĩnh Điềm, có mắt cười, giọng nói vui của một người anh bên ngoại, anh hiền lắm và tôi rất phục anh vì anh học rất giỏi, nhất là toán, là môn tôi sợ và dốt. Mẹ anh tần tảo nuôi con nên anh mơ ước một chiếc xe gắn máy hoài mà không có, nghĩ thương anh quá, tôi lấy một tờ giấy vẽ thành tờ bạc ghi số tiền đúng giá chiếc xe ấy, bảo anh cầm đi mua xe, anh cười với cái răng khểnh, nói, “đây là số tiền lớn nhất đầu tiên anh có.”

Anh Quế ơi, chưa ai chiều và nhịn em như anh, những buổi anh cặm cụi dạy em học toán, em đổ lười không chịu học, chỉ muốn nghe anh kể Tây Du Ký, vậy mà anh vẫn nhỏ lời dỗ dành, em nhớ con gió thổi heo hút trong cái hẻm nhỏ vào nhà anh, đâu nghĩ gió thời gian, gió cuộc đời thổi anh em mình xa nhau mấy chục năm trời, khi vừa gặp lại mới đây, chúng mình còn khóc được nhiều đến thế, thấy như biển Nha Trang dạt dào bao năm, đang vỡ sóng…
Trên con đường hò hẹn ấy…,

Tôi dừng lại bởi sắc hoa sầu đâu trước ngõ, nó còn có tên là soan, sầu đông. Những cánh tím nhỏ nhỏ ray rắt gió hiu biển Nha Trang. Lại là sắc tím. Ngay trong vườn nhà. Nhà ba mẹ tôi lúc này ở trên một con đường mới mở phía phải cuối đường Phước Hải, tên Lữ Gia, phải đi qua một Quân Lao, và ngôi chùa sư nữ Kiều Đàm, mới đến nhà. Con đường cao như một con đê, nhà cửa còn ít nên tôi nghe được cả luồng gió chạy, có lần tôi đã té xe đạp xuống vệ đường sâu khi những chiếc xe GMC chở lính Mỹ vượt qua, có lẽ tôi giật mình vì tiếng la hét của họ, mỗi lần nhìn vết sẹo té xe trên đầu gối là tôi nhớ đến Thu Hương, cô bạn ngày hai lượt cùng tôi đi học trên con đường thênh thang gió này. Dưới bóng cây sầu đâu thả những cánh hoa tím trắng, các bạn thường họp nhau những tối ăn chè và hát hò.

Vẳng lại rất xa. Đến nỗi như mơ hồ, tiếng đàn guitar của Thi, anh Khải, tiếng hát của Minh Tâm, Thu Hương, Nguyễn Được, tiếng cười nhỏ e ấp của Tuyết Mai, các bạn nhớ coi ngày đó tôi có ngâm thơ không. Tôi đã mê thơ Quang Dũng lắm mà.Âm thanh thời đó của chúng ta bay lên tàng cây sầu đâu rồi theo mỗi đứa một mảnh trời riêng… sầu ơi tan về đâu…

Nắng ấy là nắng tím mơ. Nắng dậy thì. Nắng im lặng bên cửa sổ nhìn hoa bay. Trăng mười sáu tròn con mắt đêm. Biển khẽ đi vào quỹ đạo mộng mơ.

Tôi và Thu Hương mỗi ngày đi bộ đến trường, đã có những bước chân ai theo ở đằng sau, ngày đó chưa có bài thơ Em Tan Trường Về của Phạm Thiên Thư để bạn hát tôi nghe nhỉ. Thế mà cũng nắng mưa một đoạn đường đưa đón, một thoáng con dốc đá lên Nhà Thờ Núi trao vội lá thư nói chuyện nhớ thương, tả tình tả cảnh hoa lá cành, ấy vậy mà gió vướng chút tơ. Nhưng tôi phải kể cho có ngọn ngành.

Một chiều, anh Khải, tôi cùng các bạn, dĩ nhiên là có người bạn đã giăng tơ kia, đi chùa núi leo lên đến Kim Thân Phật Tổ, tượng Phật mầu trắng sừng sững trên đỉnh núi, trời khá tối, chúng tôi gặp một bọn du đãng, chọc ghẹo tôi và Thu Hương, tôi sợ muốn chết, nhất là sợ đám con trai đánh nhau thì thế nào cũng có đổ máu, tôi nói với anh Khải tôi, thôi anh, mình chạy đi tụi nó dữ lắm, em sợ. Và thế là chúng tôi nắm tay nhau chạy, nói thế nào nhỉ, ừ, chạy nhanh hết sức có thể của tuổi 15, 16, chạy băng qua những ngôi mộ ở sườn núi. Có câu tuổi 17 bẻ gãy sừng trâu lận mà. Về đến nhà mới hoàn hồn. Hoàn hồn thì tỉnh người ra, và người bạn kia, chẳng phải là người hùng cứu người đẹp như trong xi-nê gì gì nữa, “mối tình” bốc hơi nhanh hơn hạt nước trên thềm nắng. Hôm nay ngồi nhớ lại tôi không khỏi bật cười cái tuổi mười sáu, dễ thương dễ ghét ấy.

Thu ơi, mi có nhớ không, con đường Phước Hải mòn bao guốc, phai bao nắng những chiếc áo dài trắng nữ sinh, có trưa ngồi lục cơm nguội ăn với sườn ram trong căn bếp nhỏ ở nhà mi, có chiều cùng nhau xách giỏ đi chợ sau ngôi chùa Kiều Đàm, mi bày cách lựa cá nục tươi, lại những buổi tối ngồi học bài cứ canh nhìn qua cửa sổ nhà nhau để xem đứa nào tắt đèn trước, thế là thức học đến khuya… này, Thu, nhớ cả đôi mắt buồn mơ màng của mi khi hát bésame, bésame mucho… cả hai đứa đều 16 tuổi như cô tác giả bài hát ấy, chưa hề tưởng đến một nụ hôn, thế mà cứ du dương hồn nhiên bésame… bésame…

Tuổi mười sáu được Nha Trang mớm cho cái ngát xanh của trời và biển, sóng cứ vỗ đều trên cát, gió cứ lộng những hàng dương…

Trên con đường hò hẹn ấy…,

Một ngày tôi bước lên một toa tầu để lại đôi mắt Nha Trang buồn thẫm trên ga. Trên con đường hò hẹn ấy, đã rêu phong bao cột mốc thời gian?

Nắng bây giờ là nắng ngọ. Nắng biết được chiều kia sẽ phai trên tóc… Nắng trôi theo con sông Cái chảy những dòng hẹn với biển xa. Đã hẹn đã hò, cũng ước cũng thề, thì dẫu con đường có dài, thời gian có mịt mù thế nào đi nữa cũng có lúc gặp nhau, nói cho sâu lắng đá vàng hơn, thì chúng mình sẽ tái ngộ, nối lại một đường tơ lơ lửng…

Nha Trang ơi, Giấc Mơ ơi. Từ lúc cất bước vào kiếp người là tôi đã bước lên một con đường mang tên Hò Hẹn. Và xa nơi tít tắp kia, cuối đường, thời gian sẽ trả lại cho tôi những gì nó đã lấy.

Cách đây một tháng, ngồi trong quán mì Triều Châu ở Santa Ana, anh chị Thành bảo, em viết một cái gì về Nha Trang cho đặc san đi, kỷ niệm một chuyện tình chẳng hạn. Tôi đã cười ú ớ, một chuyện tình ư? Ơ, nhờ vậy mà tôi có bài viết này. Suốt 16 năm đầu đời, tôi chỉ có một người tình duy nhất, Nha Trang, viết hoa một cách nắn nót, gửi trao. Cả hai đều thủy chung gắn bó. Tôi biết, khi tôi trở về, tôi sẽ về bằng nhịp đập trái tim 16 tuổi, và chàng, Nha Trang, vẫn sẽ vòng tay ấm ngày cũ đón tôi. Cả chàng lẫn tôi đều là hòn đá vọng, chờ nhau, trên con đường hò hẹn trẻ trung ấy.

Trên bước chân hôm nay, có bất chợt dừng lại, là lúc nghe được tiếng của biển, chiếc khăn lụa xanh trên con đường người bỏ dấu tôi tìm… Đó có phải là phút giây chạm được khói sương của cõi hẹn hò?


NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH

(Santa Ana, Tặng các anh em, bạn bè của tôi)

BOLERO CHO MÂY

Tôi đã chờ mây lâu lắm em
Mây bay ngang ngược mây im lìm
Mây buồn son phấn mây thiêm thiếp
Mây tít cao chiều mây cuối đêm

.Tôi ngồi đốt thuốc nghe mây hát
Sợ viết thơ tình mây sẽ ghen
Mây vẫn lững lờ trôi tít tắp
Đừng phụ tình mưa mây sẽ đen

.Trời cao xanh kệ mây sà thấp
Một chút mưa thôi ấm lạnh người
Mây trốn vào đâu tôi cũng biết
Vì mây thường dạt bốn phương trời

.Tôi chờ mây đến khi tàn thức
Khi cuồng phong dậy khắp biên cương
Mỗi khi mây trốn trong lồng ngực
Tôi ấp bàn tay lên khói sương

NGUYỄN HÀN CHUNG

ĐIÊU TÀN TÌNH

Củi lam em đốt trên ngàn
Gánh qua Hạ cũ tro tàn còn bay
Vườn xưa úa cuối đuôi mày
Bậu đem lòng bậu
thả bay gió đàng
Đàn bầu tiếng thở, tiếng than
Ai ca vọng cổ, em hàng lệ đau
Hắt hiu lửa bếp rầu rầu
Khói vương mùi tóc. Khói sầu đường ngôi
Áo bâu tà hứng mưa rơi
Vạt che ngực mở. Vạt ngồi quạnh hiu
Than lam se sắt cơm chiều
Em hong tình bậu
trên điêu tàn tình.

HẠ QUỐC HUY

ĐẤT TRỜI VI DIỆU

Mỗi tàn tạ là từng lời chia biệt
Lời tạ ơn trời đất cõi vô cùng
Là ân phúc nở màu hoa bất tuyệt
Là con đường đi thằng tới vô chung

Mỗi tàn tạ là hẹn lời tri ngộ
Là hẹn cùng MIỀN IM LẶNG mênh mông
Là thắp lại muôn vì sao rực nở
Là mở ra mầu nhiệm cõi hư không

Mỗi tàn tạ là mỗi lời nhắn gọi
Úa vàng kia là thắm biếc hoa vàng
Và sự sống ươm mầm từ hạt bụi
Từ nguyên sơ vi diệu buổi hổng hoang

Lê Văn Trung

BẢN LÃNH EM TÔI

Trọng em út sinh sau tôi một con giáp và cầm tinh con chuột như tôi, nhưng có lẽ thông minh hơn tôi . . . một chút.  Ngày nó lên ba, tôi thấy nó cầm cuốn sách học vần của Lâm (anh kế nó, năm tuổi) lật từng trang và đọc rạch ròi.  Tôi rất đỗi ngạc nhiên vì không biết nó học đọc lúc nào.  Hỏi ra mới biết nó xem anh học bài rồi nhớ nằm lòng và theo hình trong sách mà nói lại y chang chứ không hề biết đọc.  Tôi là người duy nhất trong nhà nhận ra tài năng khác thường của nó vì anh em tôi đứa nào cũng cố thu mình trong chiếc vỏ ốc đóng kín và sống riêng một mình để khỏi bị cha để ý tới.  Chúng tôi chỉ có một điểm chung – sợ bị cha đánh đập.

Trong đời, hai lần tôi phục Trọng sát đất vì đã làm chuyện tôi không làm nổi.  Lần đầu, năm em tôi 14 tuổi, khi cha đã về hưu trong tay không còn quyền hành hay tiền bạc, nhưng vẫn hay nổi cơn thịnh nộ bất chợt, thường ra lệnh vô lý, và đối xử với vợ con như thể là quân nhân dưới quyền.  Một buổi chiều tôi đi dạy về, mẹ đứng đón ở cửa và khóc kể Trọng bị cảnh sát bắt giam.

Hồi trưa cha ăn cơm xong, nhưng không đi ngủ trưa như thường ngày mà đi ra đi vào nôn nóng chờ người tới mời đi đánh bạc.  Sau khi chờ hơn một tiếng đồng hồ và biết sòng bạc không thành, cha bày chuyện đóng đinh treo hình trên tường để giết thì giờ.  Chỉ có mẹ và Trọng ở nhà, cha biểu nó lấy đinh và búa trong thùng đồ nghề của tôi và chỉ chỗ cho nó đóng.  Cha không biết, và Trọng không thể biết, là tường nhà đúc bằng bê-tông, muốn đóng đinh phải dùng đinh thép; đinh sắt thường chỉ làm vỡ mặt bê-tông mà không xuyên vào.

Nhà chúng tôi trong cư xá Bắc Hải, trước gọi là cư xá Sĩ quan Chí Hòa, đã được bộ Quốc phòng xây và bán trả góp cho cha.  Dù đó là căn nhà cuối cùng để sống đến hết đời, nhưng mỗi khi thua bạc cần tiền trả nợ, cha dụ ngon dụ ngọt mẹ bán đi rồi “ra ngoài thuê nhà có máy nước nóng ở cho sướng”; dĩ nhiên không đời nào mẹ chịu.  Khi Trọng đóng đinh vào tường, mặt bê-tông vỡ ra, đinh văng xuống sàn nhà, và cha tức giận chửi mắng khiến thằng bé luống cuống làm tường vỡ thêm.  Cha cáu tiết nắm tay lấy hết sức bình sinh cú mạnh vào đầu nó.  Đau thấu xương và trong một phút tức nước vỡ bờ, nó quay lại bặm miệng trợn mắt nhìn cha và giơ cây búa lên cao.  Không nói không rằng.

Mẹ nói cha miệng hùm gan sứa, đột nhiên thấy thái độ nổi loạn của Trọng liền thối lui, hối hả kêu xe ra chi cảnh sát nằm trên đường Hòa Hưng đi vào khám Chí Hòa, và yêu cầu bắt giam nó.  Cảnh sát đến nhà đưa nó về bót “câu lưu.”  Theo lệnh mẹ, tôi đến xin gặp vị đại úy trưởng chi, xuất trình chứng minh thư là giảng viên trường Đại học Kỹ thuật viện Đại học Bách khoa Thủ Đức, và xin lãnh Trọng về.  Ông ta cho biết nó chưa làm gì phạm pháp, cảnh sát chỉ tạm giữ nó để dằn mặt vì vị nể cấp bậc và chức vụ cũ của cha.  Mà dù nó phạm pháp đi nữa thì nó là trẻ vị thành niên, chính cha sẽ là người chịu trách nhiệm.

Tuy vậy, tôi làm đơn xin “bãi nại” nộp cho cảnh sát rồi về nhà giải thích với mẹ.  Mẹ năn nỉ ỉ ôi với cha, nhận lỗi con dại cái mang, và xin cha “tha tội” cho “thằng nhỏ trẻ người non dạ.”  Cha biết không có lối thoát nào khác hơn bèn làm bộ rộng lượng xiêu lòng và biểu tôi chở ra chi cảnh sát ký giấy “bãi nại.”  Trọng được “tha” về, không tỏ vẻ ngán sợ, và được tôi phục lăn.  Tôi không làm được như nó một phần vì sợ cha như sợ cọp và một phần vì những ràng buộc của văn hóa Khổng Mạnh, các bài học luân lý, và câu ca dao,

Công cha như núi Thái sơn,

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

Tôi khám phá ra trong nhiều tháng qua, Trọng không hề đến trường.  Buổi sáng nó dậy sớm lấy xe Honda PC chở chị là Bình ra chỗ đón xe lô lên Thủ Đức học; Bình là giáo sinh ban Anh văn trường Đại học Giáo dục viện Đại học Bách khoa Thủ Đức.  Sau đó, nó tha hồ sử dụng chiếc xe gắn máy, đi đâu cả ngày không ai biết, và chiều ra đón Bình về nhà.  Ngoài ra, một hôm mẹ kéo tôi ra nói riêng nhờ đưa nó đến phòng mạch bác sĩ quen để chữa bệnh phong tình; lúc đó nó 15 tuổi.

* * *

Chiều ngày 28 tháng Tư năm 1975, khi tôi đề nghị cả gia đình theo tàu Hải quân di tản ra khỏi Sài gòn, cha giận dữ bác bỏ và mắng xối xả, “Mi mần [làm] tầm bậy không chết bỏ xác ngoài biển thì cũng tù rục xương!” và cương quyết không đi.  Tôi và các em khóc sụt sùi lạy sống cha mẹ để tạ ơn sinh thành rồi từ biệt.  Chúng tôi đến đảo Guam, sang trại tỵ nạn Trại Pendleton ở nam California, và cuối cùng được bảo trợ về Bismarck, North Dakota.  Ở nhà, trong hai ngày liền, cha tức tối không ngớt chửi rủa tôi đã “đành đoạn bỏ cha bỏ mẹ ra đi.”  Sáng ngày 30, Sài gòn thất thủ, cha mới chịu nghe lời mẹ chạy ra bến tàu, lên thương thuyền Viễn Đông, và sang Hương Cảng tạm trú ở trại tỵ nạn Cửu Long.

Trong những ngày chờ đợi ở Trại Pendleton, tôi ra sức dạy Anh văn cho Lâm và Trọng để chuẩn bị cho hai em vào trường trung học Mỹ.  Hai đứa mê đi chơi hơn ngồi học; Lâm đá banh với bạn, còn Trọng làm gì không biết.  Khi bị tôi la rầy, Lâm biết lỗi im lặng, nhưng Trọng mím môi trả lời, tỏ ra là một thiếu niên có bản lãnh,

            “Anh khỏi lo cho em!  Em sẽ xin vào nhóm unaccompanied minors [trẻ vị thành niên không có người tháp tùng] là yên chuyện!”

Trọng biết tôi sẽ không bao giờ dám để nó tách riêng như thế nên thách thức để tôi xuống nước năn nỉ.  Và tôi năn nỉ nó thật!  Xuất trại ra Bismarck, tôi và Sang em kế có việc đi làm, Bình học trường đại học cộng đồng, và Lâm và Trọng học trung học – đứa lớp 11, đứa lớp 10.  Cha mẹ từ Hương Cảng sang trại tỵ nạn Đồn Chaffee ở Arkansas, và cha một mực muốn đi Texas ở với Triết, em kế Sang sang Hoa kỳ du học từ đầu năm 1972.  May cho Triết, em chưa ra trường, phải nghỉ học làm thợ tiện sinh sống, thuê apartment ở chung với bạn, và không đủ điều kiện bảo trợ cha mẹ.  Cha bấm bụng lên North Dakota nhập chung với anh em tôi, nhưng lòng vẫn oán hận tôi.

Trở lại địa vị chúa tể gia đình, cha xem tôi như kẻ hầu cận để cha sai sử và không bao giờ bỏ lỡ một cơ hội để hạ nhục.  Sáng mồng hai Tết Bính Thìn (1976), cha uống rượu say, đập phá đồ đạc trong nhà, và chửi bới “thằng con bất hiếu bất mục” đã “khinh cha chưởi tổ” và “đội con vợ lên tran mà thờ.”  Tôi và Quỳnh Châu sợ hãi, vội vàng thu dọn áo quần và vật dụng cá nhân, cho vào hai bao rác lớn và cái rổ đựng quần áo giặt, và mang chất lên xe.  Chúng tôi ra đi.

Từ đó, các em tôi kiếm cách ra khỏi nhà vào cơ hội sớm nhất.  Lần lượt, Sang dọn ra ở riêng, Bình đi Austin, Texas học cử nhân điều dưỡng, và Lâm vào nội trú trường đại học, chỉ còn Trọng ở nhà với cha mẹ.   Nó học rất giỏi và tốt nghiệp trung học sớm hơn một lục cá nguyệt.  Rồi giận cha bỏ nhà ra đi.  Tôi không biết chuyện Trọng bỏ đi cho đến khi cha cho gọi đến và biểu báo cáo với sở xã hội là gia đình (“ăn welfare”) của cha không còn có đứa trẻ vị thành niên là Trọng.  Thấy cha chỉ quan tâm về trách nhiệm người lãnh trợ cấp mà không một lời quan hoài đến nó, tôi ngao ngán “dạ dạ” cho xong chuyện mà không báo cáo.

Một năm rưỡi kế tiếp, nhiều người quen của gia đình gặp Trọng lang thang không cửa không nhà ở California, Texas, và Florida với thân tàn ma dại, đói khát, và nghiện ma túy.  Khi cuộc đời xuống tận đáy vực, Trọng tìm đến Bình ở Austin và tỏ ý muốn về North Dakota làm lại cuộc đời.  Là sinh viên nghèo xác xơ, Bình dốc túi tận dụng số tiền tối đa được phép mắc nợ trong thẻ tín dụng để mua vé máy bay cho nó.

Đồng thời ở Bismarck, tôi và ông bảo trợ ra tòa án quận gặp ông chánh án, trình bày hoàn cảnh Trọng, và xin lệnh tòa bắt nó đi cai nghiện.  Máy bay đáp xuống, Trọng vừa bước khỏi cầu thang thì bị hai vị cảnh sát quận áp giải thẳng tới trung tâm cai nghiện.  Trong sáu tuần lễ sống cô lập trong trung tâm, hằng ngày Trọng đi học lớp cai nghiện do các vị cố vấn tâm lý chỉ dạy.  Trong thời gian này, họ đòi hỏi gia đình phải “học” cùng với resident (“người cư trú,” tức là người cai nghiện) một tuần lễ.  Tôi nghỉ làm và đưa mẹ đến dự “tuần lễ gia đình” này.

Trọng được các vị cố vấn tâm lý tin tưởng, nồng nhiệt khen ngợi, và cho đặc ân về nhà ngủ một cuối tuần.  Ngay trong cuối tuần đó, nó đàn đúm với đám bạn giang hồ cũ và chơi ma túy vũ như cẩn.  Thì ra, nó có đủ mánh khóe để qua mặt các vị cố vấn tâm lý.  “Tốt nghiệp” khóa cai nghiện, nó về nhà cha mẹ ở ít lâu rồi ngựa quen đường cũ lại bỏ nhà ra đi.  Trước khi đi, nó lén lấy chi phiếu và giả chữ ký của cha rồi ra ngân hàng rút tiền.  Khi cha khiếu nại, ngân hàng kiểm chứng đoạn phim chụp hình nó nhận tiền tại quầy và đồng ý trả lại tiền cho cha.

Ngân hàng kiện Trọng về tội ăn cắp.  Nó bị bắt giam ở county jail (nhà giam quận) đợi ngày ra tòa.  Mấy đứa bạn giang hồ bèn dàn xếp cho nó vượt ngục; nó dùng drap trải giường nối lại làm dây thừng và chui qua cửa sổ leo từ lầu ba xuống đất.  Chân nó vừa chạm đất thì cảnh sát quận đã chờ sẵn.  Cuộc vượt ngục táo bạo được tờ Bismarck Tribune tường thuật, cùng với hình ảnh, trên trang nhất.

Trọng bị tuyên án sáu tháng tù giam ở penitentiary (nhà lao tiểu bang) North Dakota.  May mắn thay, sáu tháng mất tự do đã hoàn toàn chuyển đổi cuộc đời em tôi.  Mãn hạn tù, nó đi học ở trường Đại học North Dakota (UND) ở Grand Forks, nơi Lâm đang học kỹ sư điện.  Trọng vừa đi học vừa làm đầu bếp cho nhà hàng Tàu và học một lèo lấy luôn hai bằng kỹ sư – một về cơ khí, và một về điện toán – cộng thêm bằng Cao học Cơ khí.  Trong thời gian này, cha mất vì chứng liệt tim, nó về dự đám tang và được mẹ cho món tài sản duy nhất cha để lại là chiếc xe Plymouth Volaré cũ.  Ngày nó lãnh bằng tốt nghiệp, tôi đưa mẹ lên Grand Forks dự lễ.  Mẹ lấy khăn chặm nước mắt cười rạng rỡ.  Đó là lần thứ hai tôi thấy mẹ cười rạng rỡ như thế, lần đầu là ngày mẹ dự lễ tốt nghiệp kỹ sư của tôi.

Trọng đưa mẹ sang Goshen, Indiana làm lễ cưới Kiên Tính, cô bạn học chung trường tiểu học với nó ở Tuy Hòa.  Phía nhà trai chỉ có mẹ và vợ chồng tôi và bé Mạc con đầu lòng.  Sau một lục cá nguyệt dạy lại ở UND, Trọng dời đi Fort Collins, Colorado làm kỹ sư cơ khí cho một công ty chế tạo bộ phận điều chỉnh tốc độ máy phát điện có công suất lớn.  Ngày Kiên Tính sinh con, mẹ về ở với vợ chồng nó để giúp nuôi đứa con đầu lòng, một cô bé xinh xắn.

Con gái thứ nhì của Trọng chào đời ở Orlando, Florida vì nó dời về đây làm kỹ sư điện toán cho một công ty thầu cung cấp cho bộ Quốc phòng rất lớn.  Kiên Tính học nghề uốn tóc và sau vài năm hành nghề, mở tiệm làm chủ và làm ăn phát đạt.  Trọng mua đất hoang ở Chuluota thuộc ngoại ô Orlando, thuê ũi cây cối, phân lô và đặt hệ thống điện nước, bán lại cho bạn bè thân thuộc người Việt, và giữ lại một lô một mẫu Anh để xây căn nhà hơn 5,000 square feet (khoảng 470 mét vuông) cho mình.  Khu nhà Việt nam của nó nằm trên con đường ngắn mang tên “Vina Lane.”

Khi đời sống vượt quá ngưỡng cửa mà người Mỹ gọi là American dream (“giấc mơ người Mỹ”), Trọng nghỉ việc và đi học tiến sĩ cơ khí tại Đại học Trung tâm Florida ở Orlando.  Chương trình PhD của đại học Hoa kỳ đòi hỏi sinh viên phải dành trọn thì giờ cho việc học và phải nghiên cứu tại khuôn viên đại học – cả hai điều đều quá tầm tay của tôi.  Hai năm sau, Trọng trở thành Dr. Nguyễn đầu tiên của dòng họ.  Đó là lần thứ hai tôi phục em tôi.

Lần này, tôi phục Kiên Tính nhiều hơn.  Trong hai năm dài, gánh nặng gia đình con cái trút cả lên vai nàng.

Nguyễn Ngọc Hoa