Cố lý hành

phamngoclu

Chiều chết đuối trên sông ngờm ngợp
Nước đua chen đớp bọt nắng tàn
Đò qua sông đìu hiu bến đợi
Buồn rút lên bờ cây khai quang
Mây đổ xù lông như chó ốm
Trời bôi nhòe mặt ngóng đêm sang
Thôn ổ tiêu sơ gầy khói bếp
Đồng không mốc thếch lạnh tro tàn

Có biết ta về không cố lý ?
Mười năm chưa lạ mặt xóm làng
Sao phên giậu nghiêng đầu câm nín
Rơm rạ làm thinh chẳng hỏi han
Cổng khép rào vây vườn cỏ dại
Tường xiêu mái rách bóng nhà hoang
Ngõ vắng bàn chân như hụt đất
Tre già đang kể chuyện chôn măng
Nương rẫy đang phơi lòng dâu bể
Nói làm sao hết nỗi bàng hoàng ?
Khóc làm sao vừa lòng cố lý ?
Phải đây là cố lý ta chăng ?
Đâu bóng mẹ già sau khung cửa
Và những người em mặt trái soan
Đâu bóng chị hiền như hoa cỏ
Bên luống cà xanh liếp cải vàng !

Đất đá thở ra mùi u uất
Bốn bề hun hút rợn màu tang
Ai chết quanh đây mà cú rúc
Mà cơn gió lạnh réo hồn oan
Ai trong muôn dặm không về nữa
Cố lý mười năm mộng bẽ bàng
Cố lý mười năm ngày trở lại
Như ngày Lưu Nguyễn xuống trần gian !

Phạm Ngọc Lư(1972)

Trên tầng mây trắng

nguyentancu

Tôi bốc lên khỏi mặt đất buồn
Tôi bay lên khỏi bầu trời xám
Mười ngàn mét trên cao
Mười lăm giờ bay xanh mặt
Tôi nhớ em ở phía dưới kia
Mười lăm giờ bay . . . xuyên táo
Tôi nhớ em . . . tôi nhớ em

Đôi khi người ta sống và không biết làm gì
Ơ trên mặt đất kia đầy . . . giông bão
Đôi khi anh yêu em và không biêt làm gì
Ơ trong trái tim của anh … tràn ngập
Những cơn mưa và những cành hoa . . . héo
Em hiêu không ?

Khi ở trên cao , thật cao và thật xa
Anh thấy mình tồn tại – tội nghiệp – đến vô cùng
Anh không hiểu người ta bay như thế để làm gì
Xuyên qua nửa vòng trái đất
Và chỉ để nói . . . một câu
Anh nhớ em . . . anh nhớ em
Chỉ vậy thôi !

Mười lăm giờ bay đầy . . . khủng bố
Trái tim anh như quả bom . . . muốn nổ
Anh sợ nỗi nhớ sẽ gây sát thương
Cho hàng trăm hành khách
Anh sợ họ sẽ chết vì . . . nhớ
Ơ phía dưới bên kia mặt đất muộn phiền

Rồi thì anh cũng phải quay về thôi
Cũng mười lăm giờ bay
Ơ trên cao –cách xa- mười ngàn cây số
Nỗi nhớ như mây dưới ghế anh ngồi
Anh sẽ nói với em rằng :
Anh yêu em . . .khủng khiếp
Trái đất kia . . . khủng khiếp . . . vô cùng !

Nguyễn Tấn Cứ

Ngã ba

nguyenvanthien

Ngã ba sông hay ngã ba lòng
Lần cuối xa quê qua đò Ba Bến
Chuyến cuối sang ngang dòng định mệnh
Ai tiễn đưa, ai đứng khóc ven bờ?

Lưu lạc chợ đời đêm phố lạ nằm mơ
Giương cánh buồm trăng ngược nguồn sông quê mẹ
Thương thuyền giấy về đâu thời thơ trẻ
Nhớ tóc xưa buồn ai gội bến hoàng hôn

Khách thập phương mười năm bụi vương hồn
Thơ về hành hương qua đò Ba Bến
Mỏi rụng tay chèo bờ xưa chưa thấy đến
Núi sương mờ ai đợi dáng bồng con

Mười năm vin cửa dấu tay mòn
Cha đứng nhìn ngõ khuya xào xạc gió
Thắp mười năm chân tàn hương còn đó
Đếm từng đêm nguyện cầu mẹ khóc nhớ con xa

Ta mười năm sâu mắt ngóng quê nhà
Qua ngã ba sông rời đò Ba Bến
Gặp ngã ba đời liều đi thử đến
Trước ngã ba lòng quay quắt nhớ mong.

Nguyễn Vân Thiên

Pleiku đất đỏ

tonnuthunga

Trong trí nhớ của tôi, Pleiku là một thành phố đất đỏ, mưa lạnh và những người mẹ Ra Ðê đeo gùi hoặc cõng con trên đường ra chợ. Pleiku là mùi dầu nóng mẹ xức lên ngực tôi dưới mấy lần áo nỉ. Pleiku là chốn rừng xanh ngút ngàn thông và những con cọp đêm đêm lảng vảng trong cánh rừng sau nhà, tiếng cọp gầm văng vẳng trong màn đêm u tịch và huyền bí.
Sau mấy năm ở Huế, năm 1958 ba tôi đổi về làm Quận Trưởng quận Lệ Trung, ông dẫn gia đình nhỏ của mình gồm có mẹ tôi, bà Vú, hai chị em tôi và vài cô giúp việc lên miền cao nguyên. Họ hàng và người trong làng ngoài Huế lại thêm một lần xuýt xoa lo sợ cho chúng tôi vì đối với họ: Pleiku là chốn hùm thiêng, nước độc, ma Cà Rồng và mọi rợ đầy dẫy.
Ba tôi là người can đảm lắm, khi còn trẻ, ông chu du khắp miền Việt Bắc vì ông thích nhiếp ảnh và du lịch. Lập gia đình được một năm, lúc tôi vừa ra đời thì đất nước chia đôi, ông từ chối chủ nghĩa cộng sản, trốn chạy về miền tự do. Vì thế, ông không còn sợ gì nữa nhờ những kinh nghiệm gặt hái trong tuổi thanh niên của mình.
Từ ngày dọn lên Pleiku, bà vú bận bịu sắp đặt nhà cửa, phân phối công việc cho hai cô giúp việc, thêm phần săn sóc hai đứa trẻ và cả mẹ tôi. Mẹ tôi người ốm yếu, dễ đau bệnh và đang thai nghén nên lúc nào cũng nằm trên giường. Bà vú phải nấu sâm nhung, cao hổ cốt, ép nước thịt cho mẹ tẩm bổ hoài. Thỉnh thoảng có người đi săn về, ghé bán gạc nai cho mẹ, tôi thích lấy ngón tay vuốt ve những cái sừng nai non, lông tơ vàng nâu mượt như nhung.
Bà Vú dùng mấy cái sừng nai nấu thành một chất nhựa dẻo, màu nâu như mạch nha cho mẹ dùng hàng ngày. Tôi tưởng ngon, lấy chiếc đũa vích một chút để ăn vụng thì ra nó nhạt nhẽo và dở ẹt.
Căn nhà của chúng tôi nằm trên một cái sân rộng, phía sau nhà là bìa rừng. Từ ngoài đường nhìn vào, bên phải là dãy văn phòng Quận, bên tay trái là trại gia binh, những người lính trong trại này là những người có nhiệm vụ bảo vệ, canh gác cho khu vực chúng tôi, văn phòng của ba tôi và dinh Tỉnh Trưởng.
Hàng ngày, từ hàng hiên, tôi ngóng nhìn qua trại lính, thấy các bà vợ lính phơi áo quần, giặt giũ, nấu nướng, đốt rác… những đứa trẻ bên ấy chơi đùa rất vui, nhưng bà vú không bao giờ cho tôi ra nhập cuộc vì thế tôi không có bạn bè gì cả. Em Dung tôi mới vừa hai tuổi, cả ngày chỉ được chơi lẩn quẩn trong nhà với mẹ. Pleiku trong những năm ấy còn hoang vắng lắm, nhìn quanh toàn là rừng xanh và đất đỏ, cây muồng, cây thông cao ngất trời. Trên mảnh đất trơ trọi trong sân quận, chẳng có gì đẹp đẽ, trước sân nhà chỉ có một đám cỏ dại thật cao. Mỗi chiều, sau khi tắm gội, vì tóc còn ướt bà vú che cái khăn dài lướt thướt trên vai tôi, tôi ra đám cỏ đi dạo loanh quanh một mình, giả bộ làm nàng công chúa đi dạo trong vườn thượng uyển. Nàng công chúa nhỏ lúc ấy có những giấc mơ và hình ảnh gì trong tâm trí tôi không còn nhớ nữa, nhưng chắc là trong giấc mơ của cô có những đứa trẻ khác đến chơi đùa với mình.
Là con gái cưng của ba mẹ và bà vú nên tôi vòi vĩnh đủ điều. Ba thấy tôi buồn, dẫn ra phố mua cho con búp bê tóc vàng, mắt xanh, biết nhắm mắt, mở mắt. Một con búp bê nhập cảng rất đắt tiền mà mẹ tôi bảo rằng chưa có đứa con gái nào ở Pleiku có cả. Thế nhưng tôi cũng không chơi với búp bê, tôi lẩn quẩn đi theo bà vú và các cô người làm, xem họ nấu ăn, nghe họ kể chuyện ma cà rồng, chuyện cọp bắt người. Ma cà rồng thì tôi sợ lắm nhưng cọp thì tôi không sợ nhiều vì tôi thấy hoài. Ba tôi thích săn bắn nên ông thường tổ chức các cuộc đi săn và hay dẫn tôi theo. Tôi được giao cho một người đàn ông Ra Ðê bảo vệ, Ông ta để tôi ngồi trên cổ và nhắc cho tôi cúi rạp mình khi đi qua dưới các cành cây thấp. Có lần tôi thấy con cọp nhảy qua suối nước, tôi kêu lên thì nó đã chạy mất dạng. Lần khác, ba tôi đem về một con cọp đã chết, nằm dài sau thùng xe Land Rover. Chú tài xế nâng tôi lên để tôi vuốt ve con cọp, nó nằm hiền lành như đang ngủ. Mẹ tôi tin rằng nếu ăn thịt cọp thì sẽ được trở nên can đảm, dũng mãnh như cọp nên bà đã cho chúng tôi ăn một chút thịt cọp bằng cách phỉnh gạt tôi rằng đó là thịt bò.
Cạnh trường mẫu giáo tôi học, có một cánh đồng cỏ trống, lưa thưa vài cây đại thụ. Dưới tàng cây là chỗ thợ săn mổ cọp để lấy da. Bọn trẻ con chúng tôi tò mò chạy ra xem. Mùi cọp rất hôi thối khi bị mổ bụng, mùi hôi thối đó đuổi chúng tôi chạy trở về trường học, chả cần đợi mấy ông thợ săn la hét gì cả.
Năm ấy, đứa em trai đầu tiên của tôi ra đời, tôi không nhớ rằng mẹ tôi có thai, tôi chỉ nhớ ngày sanh em vì mẹ tôi sanh nó ở nhà, trong căn buồng nhỏ có tấm màn che khung cửa ra vào. Hôm ấy, tôi không được ai ngó ngàng đếm xỉa gì cả, vì ai cũng bận rộn với mẹ. Tôi ngồi ngoài hiên sau nhà, nhìn cây bông gòn đang trổ hoa và nhìn đám rừng xanh ngắt mênh mông xa xa. Cây bông gòn có nhiều trái khô, bụ bẫm nứt nẻ, phô ra ngoài đám bông tơ trắng xóa. Những ngày trời có gió là những ngày vui nhất của chúng tôi vì các bông gòn rơi xuống bay bay trong sân gạch, chúng tôi chạy đuổi theo những chùm gòn để dành cho mẹ nhồi gối. Ban đêm, khi ăn tối xong, cả nhà xúm lại nhặt hột gòn, để lại nhúm bông gòn mềm mại và mẹ may cho mỗi người một cái gối bông. Ba tôi thì được thêm một cái gối ôm tròn và dài mà chúng tôi hay giành nhau làm ngựa để cưỡi.
Ngồi mãi không thấy bông rụng, tôi lững thững vào nhà tìm mẹ, thấy đông người chộn rộn trong căn phòng nhỏ, tôi lẻn vào xem. Tôi không nhớ mình thấy được điều gì, nhưng những tháng ngày sau đó, tôi thường nắm tấm màn che cửa, xoắn tròn lại và khoe với mọi người rằng đó là cái cuống rún của em tôi. Ba tôi đặt tên ở nhà cho em là Ðoan Dương vì nó sinh vào ngày mồng năm, tháng năm âm lịch.
Năm 1959, tôi học lớp mẫu giáo cạnh nhà thờ chính tòa, ngôi thánh đường cũ xưa, màu đá xám. Tôi đi học mà chỉ mong cho tới giờ ra chơi. Mỗi ngày tôi hay cùng các bạn leo trèo quanh những bậc cấp hoặc các cột đá bên vách nhà thờ, chạy đuổi bắt, tập nhảy dây, chơi lò cò và cút bắt. Tôi ham chơi hơn ham học, biết vậy, ba tôi mướn thầy giáo đến nhà dạy kèm. Ðối với tôi đó là một cực hình ghê gớm trong hai giờ mỗi buổi chiều trong tuần
Mỗi buổi sáng, mẹ sửa soạn cho tôi đi học, mẹ thắt tóc tôi thành hai cái đuôi sam, xoa đầu nóng trên lưng trên ngực, mang vớ, mặc áo nỉ, áo mưa rồi tôi được cô giúp việc nắm tay dắt lên trường học. Ðường tôi đi học là con đường đất đỏ, hai bên rừng cây cao ngất đối với một đứa trẻ mới vừa năm tuổi. Trên đường thỉnh thoảng có người đi xe đạp, phần nhiều là trẻ con đi bộ cùng với những người Thượng quẩy gùi ra chợ. Trong gùi của họ đầy măng non, rau cải, bầu bí, mấy trái mít thơm tho và trái bầu khô đựng nước uống.
Ðàn ông Thượng chỉ mặc có cái khố, đeo cung tên trên vai vì thuở ấy họ chưa có súng ngựa trời như hiện tại. Ðàn bà đèo con nhỏ sau lưng, tay dẫn mấy đứa lớn hơn, cũng mang gùi như mẹ chúng. Họ mặc váy màu đen, áo che ngực, chân tay đeo kiềng đồng. Lũ bé con cũng đeo vòng ở cổ chân. Một hôm có người cho tôi một chiếc kiềng đồng, tôi đeo về nhà thì bà Vú tỏ ra sợ hãi lắm. Bà cho rằng tôi sẽ bị thư yểm bởi người Thượng nên bà lấy mất. Mấy cô giúp việc bảo tôi rằng mấy bà Thượng mặc váy để dễ đi tè, họ còn dang chân biểu diễn cách đi tè của đàn bà Thượng rồi cười khúc khích. Tôi chưa thấy bà Thượng nào đi tè ngoài chợ cả. Vả lại có làm như vậy cũng là chuyện thường tình. Muốn tìm ra cầu tiêu ở Việt Nam bây giờ cũng còn khó khăn huống chi chuyện năm mươi năm xưa!
Khi các quân nhân bắt đầu ra cầm giữ các chức vụ hành chánh thì cũng là lúc ba tôi được thuyên chuyển về Nha Trang. Người Quận Trưởng mới về thay thế ba là chú Tôn Thất Việt Hùng. Chú thím hay qua nhà thăm viếng ba mẹ tôi. Tôi chỉ nhớ là chú rất oai trong bộ áo trận và thím là một người đàn bà thật sang và đẹp. Trong giai đoạn chờ đợi giấy thuyên chuyển, ba tôi thuê một căn nhà ngay trước chợ. Nhà này nằm cạnh tiệm chạp phô bán sỉ cho các bạn hàng, trước tiệm có sân rộng tráng xi măng, chủ dùng để phơi mè, phơi đậu.
Dạo ấy ba tôi đang gây giống chó Berger, nguyên một gian phòng trống chỉ dành cho con chó cái, chị ta mới cho ra đời một bầy chó con, mắt chưa mở, bò lúc ngúc quanh con chó mẹ. Con chó cái hung dữ lắm, chỉ nghe lời ba tôi thôi, nên hàng ngày ba tôi phải mang thức ăn vào cho nó, mấy người làm ai cũng sợ bị chó cắn. Lũ trẻ con chúng tôi cũng chỉ lấp ló nhìn bọn chó con, xuýt xoa thèm muốn nhưng không đứa nào được đụng vào lũ chó quý của ba. Mỗi buổi sáng, bốn đứa trẻ con được ăn mỗi đứa một cái trứng gà luộc và uống một cốc sữa thì mỗi con chó con cũng được ăn một trái trứng gà sống trộn sữa. Chú Hùng nói đùa rằng: “Anh thật là công bằng, nuôi chó cũng giống như nuôi con”.
Khi chó lớn lên khoảng mấy tháng thì bạn bè của ba đến nhà xin về nuôi và dạy chúng nó giữ nhà. Ba chỉ giữ lại hai con chó đen tuyền cho mình. Ba cho tôi đặt tên cho chúng, Tôi gọi con chó đực là Kiki và con chó cái là Mimi, mẹ chúng nó tên là con Lou Lou. Tôi thích con Mimi vì nó mập mạp và hiền từ lắm. Tôi hay ôm ấp và chơi với nó; con Kiki dữ tợn và hay chạy theo chúng tôi trong lúc chơi đùa, có khi nó đẩy chúng tôi té trầy cả đầu gối.
Bây giờ ba mẹ có hai gái, hai trai, bà Vú già và hai cô người làm, hai con chó cái, một con chó đực. Vì ở ngay trước chợ nên bà Vú bảo vệ chúng tôi và các con chó một cách thận trọng. Bà sợ rằng nơi thị tứ, kẻ đi qua người đi lại, chúng tôi sẽ bị bắt cóc mất. Khi bà đi chợ, tôi hay đòi theo, bà nắm tay tôi thật chặt và không cho tôi đến gần mấy người thượng vì sợ “mọi ếm”, hoặc giả bà chỉ dọa tôi vì không muốn tôi chạy lăng quăng rồi đi lạc. Tánh tôi lơ đãng lắm, có lần trong học bạ bị cô phê: “Thông minh nhưng lơ đãng”. Tôi không đồng ý chút nào vì lời phê ấy, tôi cực kỳ tò mò và hay suy nghĩ vẩn vơ những gì tôi thích và cần biết; khác một cái là điều tôi thích và cần biết ấy nó không nằm trong qui luật của trường học, gia đình và xã hội đặt ra.
Với vấn đề trên, tôi nhớ đến câu chuyện vài năm trước. Khi mới lên Pleiku được mấy tháng, có người nhân viên trong quận đem tới nhà một cô người thượng chừng 16 tuổi, cùng tuổi với mấy cô giữ trẻ trong nhà. Ba mẹ đồng ý nuôi cô, trả lương tháng, dạy cho cô cách sống của người Việt. Mẹ và bà Vú dạy cô cách ăn uống, tắm rửa, may cho cô mấy bộ áo quần mới kiểu người Việt để giúp cô được hội nhập vào xã hội mới nhanh chóng hơn. Sau một tuần, cô bỏ nhà, chạy trốn về bản thượng. Bà vú bảo tôi rằng: “Nó không thích mặc quần nên không muốn ở với người Kinh”. Ngày còn bé, tôi tin tất cả mọi lời bà Vú dạy. Bây giờ tôi nhận ra rằng: cô bé ấy nhớ rừng, nhớ bản, nhớ mấy con heo, con gà, nhớ bếp lửa rơm, nhớ hũ rượu cần, nhớ những sườn đồi mây phủ, nhớ mùi hương của lá của hoa sau cơn mưa rừng dào dạt… ngàn nỗi nhớ như vậy, làm sao cô cam lòng khi bị giam hãm chốn thị thành.
Tôi có một con bạn láng giềng tên là Huê, nhà nó ở ngay sau căn nhà chúng tôi đang thuê, hai đứa trạc tuổi nhau. Mùa hè chơi lúc rúc suốt ngày, khi tại nhà tôi, lúc qua nhà nó. Mỗi khi mẹ nó hoặc bà vú ghé miệng qua hàng rào réo tên đứa này hoặc đứa kia để sai vặt hoặc về ăn cơm trưa, cơm chiều chúng tôi mới chịu rời nhau. Tôi thích qua nhà con Huê hơn là ở nhà mình, vì ba mẹ con Huê ít khi có nhà. Nếu chơi ở nhà tôi, bà Vú hay nhòm ngó và mấy đứa em tôi theo khuấy phá không chịu nổi. Nhà con Huê nghèo lắm, không có giường ngủ, cả nhà ngủ trên mấy chiếc chiếu trải dưới sàn xi măng và mùng giăng theo mấy sợi dây thả từ mấy cái kèo trên trần nhà. Khi ăn cơm, cả nhà ngồi quây quần dưới đất, quanh cái mâm. Tuy vậy nhà Huê rất sạch sẽ, sàn xi măng láng bóng và mát rượi, có nhiều lúc buồn ngủ, tôi nằm thiếp đi trên sàn nhà. Tuy vậy tôi không thích mẹ con Huê lắm vì bà ấy hay gọi xách mé tôi là “con nhà giàu”. Ba chữ này dày vò tâm trí tôi và làm tôi mang mặc cảm của người tội phạm. Dần dà tôi không qua nhà con Huê nữa, nó cũng không qua nhà tôi vì sợ bị chó cắn và bị bà Vú la chuyện dụ dỗ tôi đi ăn trộm mè. Hai đứa ngồi chơi búp bê, làm bánh đất sét, trao đổi đồ chơi… hai bên hàng rào, cho tới khi ba mẹ tôi dọn nhà về Nha Trang cuối mùa hè năm ấy.
Tôi hoàn toàn không nhớ chuyến dọn nhà về Nha Trang. Trí tưởng tôi bị chận đứng và vùi lấp một khoảng thời gian. Có thể sự đổi dời đã cho tôi một kinh nghiệm đau thương nào đó. Tôi chỉ nhớ các nhân viên quận, các bạn bè của ba mẹ, xoa đầu mấy bọn trẻ con và xuýt xoa:
-Sướng hỉ, về Nha Trang ngày mô cũng được ăn cá tươi!
Lạ thật, ăn cá thì có chi là sung sướng chớ? Ðối với tôi, đi săn cọp, săn nai và ăn thịt nai khô nướng trên lửa rượu cồn ngon hơn cá đến mấy mươi lần!!!
Sống trong thành phố biển mười sáu năm thì ba tôi mất tại Nha Trang, một năm sau ngày mất nước. Mẹ tôi mất tại California năm 2000. Tôi không còn ai để trả lời cho mình những câu hỏi muộn màng, tôi không còn ai trao lại cho mình những hình ảnh êm đềm của ngày thơ ấu nữa.
Ba mẹ của tôi giống như là một cuốn tự điển để tôi tra cứu về kỷ niệm, hình ảnh trong quá khứ của mình, nay đã bị đốt cháy mất rồi.
Bây giờ, dưới ngòi viết tôi, tôi chỉ còn ghi lại được một mớ kỷ niệm vụn vằn, một chút bụi đỏ của Pleiku trong ký ức.
Bài hát của tôi cho Pleiku không phải là “ Em Pleiku má đỏ môi hồng…” mà như thế này:
“ Em Pleiku da nâu mắt sáng,
buổi mai nào dạo dưới ngàn thông,
theo chân bước nhạc kiềng loảng xoảng,
về bản rồi em nhớ tôi không?
Em không nhớ nhưng mà tôi nhớ,
và một ngày tôi sẽ về thăm.”
Một ngày nào đó tôi sẽ về, vai đeo ba lô, tay cầm máy ảnh. Chưa chi mà lòng đã bùi ngùi, tiếc thương những ngày thơ ấu xa vời. Tôi còn nhận ra cái nhà xưa, con đường cũ, thánh đường im vắng hay không ? Có con hổ nào nằm chết dưới tàng cây, chờ người đến banh da, xẻ thịt? Có anh thượng nào vươn vai bắn nỏ? Có cô thượng nào mang gùi ra chợ? Chắc tôi sẽ không tìm ra được nữa vì tất cả chỉ là hoài niệm mà thôi!

TÔN NỮ THU NGA
(Tháng Giêng-2015)

503 NGƯỜI BỊ HÀNH QUYẾT KHI IS CHIẾM RAMADI, IRAG. CHỢT NGHĨ VỀ NƯỚC VIỆT.

josephnguyen

Cách đây chừng 3 tuần, người bạn làm bác sĩ ở Iraq vừa khóc vừa nói:
– Chết mất anh ơi!
Nghe hắn nói, giật mình nên hỏi vội:
– Con gái lại bị sao rồi hả?
Hỏi vậy vì cách đó hơn tuần tự nhiên con hắn bị đau bụng ỉa chảy mà nghi là ngộ độc thực phẩm. Cũng may hắn là bác sĩ, nên cũng xong. Thấy mặt trên skype mà đã khóc thì phân vân chỉ đoán chắc lại dính dáng đến cô con gái, chứ không biết chuyện gì.
Hắn nghe hỏi, dừng lại vuốt nước mắt rồi lại khóc. Nói trong tiếng nấc nghẹn:
– Ramadi thất thủ rồi anh. Hôm nay IS đã tràn vào. Nhà em bỏ lại hết, chạy đến thủ đô Baghdad.
– Có đem được gì không? Thiệt hại nhiều không?
– Có đem gì đâu anh. Dân Iraq tụi em nói vậy chứ dốt chuyện tích trữ tiền bạc lắm. Mất gần 2 triệu USD.
Nghe nói, chỉ biết thở dài. Biết hắn cả năm. Chả bao giờ hắn dấu chuyện gì nên biết nhà hắn là thuộc loại đại gia xứ này. Dòng họ có nhiều tòa nhà nằm dòng theo dòng sông Euphrates, dòng sông dài nhất và nhiều địa điểm nổi tiếng trong lịch sử phía Tây Châu Á. Gia đình hắn lại có mấy cái chợ buôn bán. Giờ chạy, bỏ lại hết. Trên người ngoài bộ quần áo thì mang thêm được chút tiền mặt bán hàng gom được.
Hắn than:
– Em chẳng biết chuyện không kích của liên quân có là biện pháp hay nhất không. Nhưng cứ như tình hình hiện nay thì càng không kích thì IS lại càng lan rộng. Hồi trước họ chỉ chiếm vài thành phố. Nay thì chúng lan tràn khắp nơi. Chúng không phải là Hồi Giáo mà là ma quỉ dưới hỏa ngục hiện hình. Nếu chúng đúng là Hồi Giáo thì em bỏ đạo thôi. Chả tin người có lương tâm và tôn giáo lại làm những chuyện thất đức như thế.
Ngày đó hai anh em ngồi tâm sự đến gần 2 tiếng. Trường y ở Ramadi phải đóng cửa. Sinh viên đã tùy nghi di tản. Cả thành phố như mới trải qua động đất: Tàn phá vì đạn pháo khắp nơi và cả biển người mà đa số là đàn bà con nít rồng rắn nhau rời thành phố trong tiếng khóc than vang trời. Chính phủ Iraq lúc đó vẫn nói trên truyền hình là thành phố vẫn an toàn. Nhưng những tay súng IS thì đã thấy xuất hiện trong thành phố. Cảnh sát và quân đội không thấy đâu để bảo vệ dân thường. Trong khi đó những hình ảnh hành hình xuất hiện khắp nơi. Thôi thì cứ chạy trước, tính sau.
Chuyện xảy ra 3 tuần rồi, mãi tối qua theo tin đài Mỹ thì Ramadi đã hoàn toàn thất thủ. IS hành hình ngay 503 dân thường bằng súng. Con số có thể cao hơn vì không chưa có một nguồn tin tình báo độc lập nào có thể kiểm chứng con số chính xác.
Sáng nay liên lạc liền anh bạn thì biết cả nhà đã an toàn ở Baghdad. Mỗi gia đình được trợ cấp lương thực và 1000USD/ tháng để sống. Trường y ở thu đô tạm sắp xếp cho các sinh viên trường y đi học lại để bảo đảm sẽ tốt nghiệp vào tháng 9 năm nay như lịch trình. Hơi ngạc nhiên là chính phủ Iraq cấp tiền, nên hỏi:
– Ai cũng được 1000/tháng hay chỉ gia đình em thôi?
Ahmed trả lời:
– Gia đình nào chạy loạn thì đều được cấp phát hết anh. Tại họ không bảo vệ được sự an toàn cho dân thì phải có nhiệm vụ lo cho họ chứ anh.
Nghe nói vậy thì trộm nghĩ đến đất Việt. CS bây giờ thì có khác chi IS, mà coi bộ còn ác hơn. IS chặt đầu, hay bắn người ta. Chết thì còn đỡ hơn cs hành hạ dân mình suốt bao nhiêu năm nay. Cả một dân tộc sống dở, chết dở. Đày đọa xác thân, khủng hoảng tinh thần, mất mát của cải … không sao mà kể xiết. Tụi IS tàn phá các kiền trúc cổ vì chúng ngu muội. Chứ cs nhà mình tàn phá mà còn hãnh diện gọi đó là bảo tồn. Những kiến trúc hàng bao năm nay giờ thành vài năm tuổi. Hồi ông Hồ làm cuộc tiêu thổ kháng chiến, vườn không nhà trống không biết bao nhiêu kiến trúc cổ vì thế mà ra tro bụi cả. IS còn trọng dụng những lính đánh thuê bằng gái đẹp, cuộc sống tương đối đầy đủ. Chứ cs thì ngay đồng chí cùng thuyền đồng hội chúng còn chém giết không tiếc tay. Số nhân sĩ trí thức vì chủ thuyết này mà vùi dập tài năng và kiến thức, không bút nào viết hết.
Nghe anh bạn kể chuyện vậy thì chỉ biết khuyên được câu nào cứ khuyên. Còn thì phải cầu nguyện và xin ý Chúa thôi. Lại ngẫm nước Việt mình đau khổ chả kém gì. Anh bạn còn biết Hồi Giáo là thế nào. Còn nói được câu: “Nếu Hồi Giáo mà như thế thì em chả tin để làm gì”. Cứ như nhân sĩ trí thức, đám bị tẩy não, người có quyền lợi với chính quyền … thấy đảng thối tha, mục rỗng thế mà cứ tin vào tài lãnh đạo sáng suốt của giới lãnh đạo hiện nay để giải quyết những vấn nạn của nước Việt thì nói thật bọn họ còn mông muội, u mê còn hơn mấy tín đồ Hồi Giáo nhiều.
Mỹ đang hứa sẽ lấy lại Ramadi cho chính phủ Iraq. Thôi thì cứ tạm tin là tình hình sẽ sáng sủa hơn trong tương lai gần. Chuyện này thì cũng y chang như mấy nhà ngoại giao Mỹ đang kêu gọi phe dân chủ ủng hộ VN trong việc gia nhập vào TPP vậy. Họ tin là vào TPP sẽ giúp Việt Nam có một nền kinh tế khỏe mạnh hơn, tránh phụ thuộc vào Trung Quốc. Nhưng liệu lần này thì chính quyền cs có thành thật trong những quyết tâm và cam kết tiến đến dân chủ, dân quyền. Hay như năm xưa họ ký Hiệp Định rồi vi phạm trắng trợn đến nỗi cả một dân tộc phải than khóc như anh bạn tôi khi thấy thành phố mình gắn bó rơi vào tay của quỷ dữ?
Chờ hồi sau sẽ rõ …
PS: Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (tiếng Anh: Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement – viết tắt TPP) là một hiệp đinh/thỏa thuận thương mại tự do với mục đích hội nhập các nền kinh tế thuộc khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Thỏa thuận ban đầu được các nước Brunei, Chile, New Zealand và Singapore ký vào ngày 03 tháng 06, 2005 và có hiệu lực ngày 28 tháng 05, 2006. Hiện tại, thêm 5 nước đang đàm phán để gia nhập, đó là các nước Australia, Malaysia, Peru, Hoa Kỳ, và Vietnam.

HAO NGUYEN

Đã dần im lặng II

phuonguy

Đã là rồi
những mê sảng cũ
vịn cành hoa xét nét hương nhàu
giữa gian dối kiếm điều chi cho thật?
bức bối tin nhau

đã là rồi
từng câu lừa gạt
mị chi em búp nhỏ trên cành
hóa phấn độc
ủ hương mầm gốc
để một chiều
tử nạn ngày xanh

đã xa chưa
xót xa ngày cũ
đã xong chưa
lầm lỗi điêu tàn
sao vờ vĩnh hoài điều cũ nát
họa mi buồn
tắc tiếng phong linh

ngày nắng ngọt lượm bão giông mùa hạ
liệm chôn đi mùa xuân đỏ đau lòng
giữa nườm nượp người xe tấp nập
anh về làm con sẻ lặng câm

PHƯƠNG UY

KÝ ỨC VỤN VỚI NHA TRANG

nguyenvi

Lạ lùng sóng dội Nha Trang
Nỗi nhớ nào cũng rộn ràng đẩy xô
Ngàn năm chưa cập bến bờ
Tóc dương rối níu tứ thơ lệch chiều
Hòn Chồng gánh chịu tin yêu
Phơi mình đếm sóng hát nghêu ngao tình
Lòng hoàng hôn dạ bình minh
Xưa sau vẫn chuyện thường tình thế nhân
Sóng thì khác cứ ân cần
Vỗ về bước mỏi xa gần thân sơ
Nha Trang ngày ấy…bây giờ…
Thùy dương cát trắng và thơ. Nao lòng…

NGUYÊN VI

Đêm Phan Thiết

trachantranhuuhoi

Hương ngồi trên bãi cát, nhìn mông lung ra biển. Thoáng trong gió, vẫn còn một cảm giác sợ sệt mơ hồ… Hình ảnh của Hiến hiện lên, dập dềnh, dập dềnh…theo cơn sóng. Những giọt nước mắt lại dâng lên mi… Những giọt nước mắt không ngừng chảy từ hai mươi chín năm nay!
Hai mươi chín năm. Kể từ ngày chị rời nơi đây với niềm hy vọng ít hơn nỗi sợ hãi! Niềm tin về một nơi có cái ăn, cái mặc, cuộc sống không phải lo toan từng bữa, từng ngày… Hạnh phúc được sống cùng Hiến, bên nhau mãi mãi, quá xa xăm mơ hồ, trong khi nỗi sợ hãi, bất an… thì hiện hữu thường trực trong lòng chị và cả Hiến. Nỗi lo lắng cho bản thân và cả cho nhau.
Hai mươi chín năm đơn độc, nuôi đứa con mà thượng đế đã hào phóng ban cho chị, không, cả Hiến nữa! Nó đã cho chị niềm hạnh phúc, cho chị niềm tin rằng Hiến vẫn sống bên mẹ con chị, cho chị nghị lực, để không buông xuôi trước những đa đoan, cô quạnh nơi xứ người!
– Hiến ơi, ổn rồi, ổn lắm rồi, con chúng ta đã kết hôn. Chỉ có niềm đau, nỗi buồn là không có anh đễ cùng nhau chung chia niềm hạnh phúc, Hiến ơi !
Gió biển cuốn ra khơi xa những lời thầm thì như tiếng thở dài của Hương…

oOo
Sau tiếng chuông, học sinh rời phòng học như một đàn ong, Hương uể oải nhìn buổi chiều buông xuống trên thành phố hắt hiu, một nỗi buồn lo lại đến ngập lòng chị mỗi khi đêm về. Những bước chân nghiêm nghị cố tạo, Hương bước qua cổng trường Hữu Nghị, nay đã là Phan Bội Châu, nhưng vẫn chưa ai quen với tên gọi này, hướng về nhà tập thể.
Bất giác, Hương quay lại, một gã cán bộ đội chiếc nón cối nhoẻn miệng cười:
– Hiến! anh, anh được tha à?
– Không, cứ đi tiếp đi. anh trốn trại! Có chỗ nào ngồi nói chuyện một lát không em?
– Về phòng tập thể của em?
– Đừng, kiếm cái xe nước mía nào khuất khuất chút, mình ngồi hay hơn.
Trời nhá nhem tối, băng qua chợ. Xe nước mía nào cũng vắng khách…Hiến kéo hai cái ghế con ra xa, dựa lưng vào tường rào một căn nhà phố, nhìn ra đường, cô bé mang đến hai ly nước mía còn sủi bọt, đặt lên một chiếc ghế khác…
– Họ cần một người biết tiếng Anh. Khỏi chung vàng!
– Em định cuối tuần này về đi thăm anh…
Đôi mắt Hiến rạng rỡ trên khuôn mặt ương bướng mà chị luôn muốn ghì lấy mỗi lần hai người gần nhau…
– Khi nào đi vậy anh ? anh có cùng chuyến không?
– Hai ngày nữa, cùng chuyến. Nghe nói cần thêm một người biết tiếng Anh, anh mừng quá!
– Liệu họ có đồng ý không?
– Phải đồng ý, cái hải bàn anh giữ mà.
Chiếc hải bàn mua bằng sáu chỉ vàng, qua hai chuyến đi không thành, anh vẫn chôn dấu được trước khi bị bắt. Nó là chiếc bùa hộ mạng của Hiến.
– Cũng những người cũ hả anh?
– Một số cũ, lần này có một tay vừa cải tạo về, làm việc có vẻ kỹ càng hơn. Mua bãi hai cây. Họ cho người ra tới trại giam Sông Cái liên lạc với anh.
– Cái nón cối này…
– Anh “chôm” của một tay cán bộ, bộ đồ này của một người trong nhóm cho.
Hương nhìn cái áo trắng cụt tay rộng thùng thình, cái quần kaki màu nâu và đôi dép râu màu đen… Nhìn chung, Hiến giống một cán bộ ngành Thương nghiệp hay Lương thực.
– Đêm nay anh ngủ đâu?
– Anh đinh thuê chiếu ngủ ở bến xe Phan Thiết, nhưng coi bộ không nên. Có thằng bạn ở bên thành đoàn, TNXP, nhưng cũng ngại cho hắn. Xuống Trường Y Tế Phong Nẫm cùng Lý thì phải giải thích này nọ về chuyện trốn trại. Anh rất ngại cô em họ lắm mồm này! Có lẽ anh ra Ga ngồi chỗ nào kín nhất, qua đêm. Em cứ về nhà tập thể như mọi khi.
– Ga đông người quen ngoài mình đi buôn lắm!
– Không lên tàu nên cứ tìm chỗ khuất mà ngồi… Có gì cũng dễ chạy!
– Em ở lại cùng anh được không?
– Không nên, các bạn ở tập thể trường thắc mắc.
– Tụi nó biết em hay xuống Lý, chắc nghĩ tối nay cũng vậy.
Hiến im lặng. Anh thèm được bên Hương biết bao nhiêu! Bốn tháng trong trại anh nhớ Hương đến quay quắt! Lần trước lâu hơn nhưng ở tận Bà Rịa, Hương lo lắng nhưng không biết ở đâu nên chẳng thăm, anh chấp nhận, cũng nhớ nhưng không bằng lần này! Hiến thở dài nắm tay Hương.
– Cũng được em ạ.
oOo
Khuất trong đám cây dại lúp xúp xa đường ray xe lửa, Hiến nằm nhìn lên trời cao với những vì sao lấp lánh, nỗi bất an cũng vơi dần…
Anh nhớ tới những ngày nào, khốn đốn từ những chuyện không đâu…
Sau 75, anh chấp nhận những đổi thay của Xã hội như một số Thanh Niên khác, cũng háo hức một cuộc sống mới. Một đất nước thanh bình không chiến tranh, không lệ thuộc vào ngoại bang…Anh tham gia Phong Trào Thanh Niên và làm phó bí thư chi đoàn, bên cạnh, nhờ có hai năm Đại học, anh được chỉ định làm Tuyên-Văn-Giáo thôn.
Nhiệt tình của anh vấp phải một chuyện nhỏ nhưng người ta cho là lớn. Anh bị nghi ngờ…
Khoảng tháng 10/75. Chủ trương xóa tàn tích văn hóa cũ: Dâm ô, đồi trụy và nô dịch, không lành mạnh…
Không sai, trong xã hội cũ, theo anh , bên cạnh những cuốn sách hay, vẫn có những cuốn sách mang nặng những nội dung không hay và nhảm nhí thậm chí tục tằn. Địa phương của anh trước đây có nhiều người đi làm sở Mỹ. Những cuốn Playboy, tranh khỏa thân… vẫn còn đâu đó trong dân. Không có giá trị bao nhiêu về nghệ thuật, tư tưởng….
Chiều hôm đó, anh có nhiệm vụ thông báo trên loa phóng thanh của thôn về chủ trương thu giữ và tiêu hủy sách cũ. Các thôn khác cũng như thế.
Sáng hôm sau, rất nhiều sách được người trong thôn mang đến nộp, có sự chứng kiên của Tuyên Giáo Huyện, địa phương của anh được đánh giá là thành phần Trí Thức nhiều nhất trong Huyện, trong Xã.
Hiến vui cười với những bà con bạn bè đem đến những cuốn truyện kiếm hiệp của Kim Dung, Hàn Giang Nhạn…Truyện trinh thám 007, Z.28 của “Người Thứ Tám”…Một số của “Người Khăn Trắng”, Dương Hà, Tùng Long …Trong đó có một số, anh không cho là đồi trụy, tuy nhiên, cũng không cần phải trả vì đa số cũng chỉ loại sách xem giải trí …
Khoảng gần trưa, một chiếc xe kéo tay mang đến một xe sách. Tất cả khoảng bảy thùng “các tông” lớn có nhỏ có. Anh nhận ra người kéo xe là con trai của Thầy giáo Lê Thanh Ninh. Thầy dạy Sử – Địa một trường Trung học ở Quy Nhơn, người đi theo là vợ của thầy, gương mặt cô ấy trông thật thảm hại:
– Thầy bị đau nên không đi được, cô đem sách đến nộp.
Hiến biết Thầy bị phổi nặng, nước da thầy đã chuyển qua xanh tái, kèm theo những tiếng ho khan từ hai tháng nay.
Hiền mở mấy thùng “các tông” xem qua. Một số tập san: Văn, Văn Học …còn phần nhiều là Tự Điển, sách Tham Khảo, Thế Giới Sử, Việt Sử… Một số tác phẩm văn học tiếng Anh, Pháp… Và cả những bản dịch Việt Ngữ …
Hiến bối rối thật sự vì khó phân định …
Có lẽ cũng thấy xót xa cho chồng, cô Ninh nói nghèn nghẹn:
– Thôi… cô về nghe em… Con ở lại kéo xe về sau…
Hiến chặn cô lại, nói:
– Khoan cô ạ, em thấy trong này có một số, có lẽ cô mang về cho thầy chứ không phải nộp!
Anh Tuyên Giáo Huyện, một cán bộ , nghiêm mặt:
– Không mang về được, nộp và tiêu hủy tất cả! Anh lấy quyền gì mà trả lại?
Hiến lôi ra mấy cuốn tự điển Hán-Việt, Anh-Việt và Pháp-Việt…Cuốn “Phong Lưu Đồng Ruộng” của Toan Ánh… bỏ lên bàn:
– Những cuốn này mà dâm ô đồi trụy và phản động ở chỗ nào?
Những năm học Đại Học, mấy cuốn sách này là mơ ước của anh, nó khá đắt!
Anh cán bộ quay qua mấy Du kích:
– Các anh cho vào trụ sở đi…Tất cả !
Nhân lúc Hiến đang đứng bên xe kéo, gã cán bộ đẩy chiếc ghế của anh ra sau, kéo chiếc ghế hắn đang ngồi qua chính giữa bàn. Hiến nghe nghèn nghẹn trong ngực, máu dồn lên mặt anh đỏ gay:
– Đồ…dốt !
Tiếng hét của anh làm tắt lặng hết mọi âm thanh! Không có ai dám nói với cán bộ Tuyên Giáo Huyện như thế cả…
Bước chân Hương nhẹ nhàng đến và tiếng nói nhỏ nhẹ làm Hiến trở về với thực tại:
– Anh chờ lâu không ? Em ghé nhà con bạn mượn ít tiền, bánh mì khá cứng, anh cố ăn nhé.
– Bạn em không nghi ngờ gì chứ ?
– Không đâu, nó có gia đình, biết em hay kẹt tiền giữa tháng mà.
Hiến thấy đói cồn cào, anh ăn ngấu nghiến ổ bánh mì cứng sửng, nhưng mùi vị ngòn ngọt của tinh bột làm anh có cảm giác khúc bánh mì ngon nhất từ trước tới nay, cả một ngày anh chưa có gì vào bụng!
Hương đưa khúc bánh mì mới ăn một phần cho Hiến:
– Anh ăn dùm em đi, em không nuốt nổi!
– Không, em phải ăn, anh chan nước mía vào cho em nhé, sẽ mềm hơn.
– Không, em mừng quá không ăn nổi!
Hiến cầm tay Hương, ghì lấy đầu nàng, nụ hôn nóng bỏng gắn lên môi, đôi môi khao khát vồ vập nhau với tất cả ngọt ngào nhung nhớ…Và rồi ..hai thân thể tan chảy trong nồng nàn yêu thương !
– Qua được, mình có làm đám cưới không anh?
– Có ai quen đâu mà đám cưới, chỉ có làm phép ở nhà thờ là đủ, ha em?
– Ừ nhỉ, em quên! à mà những người cùng chuyến sẽ dự lễ cưới tụi mình!
– Có thể, một số có đạo thôi…
– Lạy Chúa, cho lần này mình có…
Hiến ôm vai Hương, hôn lên tóc:
– Không lần này thì lần khác cũng sẽ có, anh thế này mà không có con sao?!
– Em muốn có ngay từ lần đầu, sẽ hạnh phúc hơn khi nghĩ đến hôm nay, nơi góc khuất của Ga này, trên thảm cỏ này!
– Ừ, sẽ có đó em, chúng ta yêu nhau mà!
– Em sẽ nhớ mãi đêm này: 21 tháng 5 năm 1984.
Lại một nụ hôn dài trong gió và mùi dầu hăng hắc của sân ga!
oOo
Trời tối như bưng. Nhóm của Hiến tập trung đủ 26 người trên bãi, chờ hơn một giờ rồi!
Bao lo âu nghi hoặc! Càng lo âu họ càng im lặng như nín thở, hướng mắt nhìn ra biển nguyện cầu, họ sợ bị bỏ rơi!
Hiến và Hương cũng cùng tâm trạng với họ.
Chừng 20 phút sau, ngọn đèn đỏ mờ mờ hiện ra cách xa bờ chừng 50m, xoay vòng làm hiệu. Hiến đáp lại bằng ngọn đèn pin cũng màu đỏ cầm trên tay…
Tất cả thở phào, Hiến nói vừa đủ cho mọi người nghe:
– Lội ra mau, ai có con dại thì cột chặt vào người, nhớ bịt miệng thật chặt khi nó khóc.
Điều này anh đã nói trước, thế mà lúc này cũng nhắc lại như một phản xạ tự nhiên!
Trên thuyền có tiếng nói rõ mà nhẹ:
– Người giữ hải bàn và người biết tiếng Anh lên trước đi.
Hiến trả lời cũng rõ và rắn:
-Tôi giữ hải bàn, tôi sẽ lên sau cùng.
Những bàn tay đàn ông kéo những người trong nhóm Hiến lên ghe, rất nhanh và êm thấm, anh đẩy lưng Hương, hai bàn tay cùng đưa ra đón hai người… Ghe chật, trong đêm tối, anh gặp ánh mắt thân thiện của “người mới cải tạo về”:
– Gọi mình là Phú.
– Tôi là Hiến, có lẽ nhỏ hơn anh! Bao nhiêu tất cả vậy anh Phú?
– 53 mạng lớn nhỏ.
Chiếc ghe chèo theo hướng ra biển, sóng vỗ nhẹ hai bên mạn ghe.
Hình như ai cũng thấy dấu hiệu của may mắn khi tiếng máy bắt đầu nổ. Chiếc ghe lao nhanh trên sóng, xa dần bờ yên tĩnh!
oOo
Đêm, ngày, rồi đêm và ngày… Đêm lạnh ngắt, ngày nắng như thiêu…
Những gương mặt đàn ông cũng như đàn bà phồng rộp, đỏ au… Lũ trẻ được trùm khăn kín mít, nằm trong lòng người thân như đã chết, những cơn sóng cao, nhồi con tàu như chiếc lá khô mỏng manh, hầu hết đàn bà tựa vào nhau lờ đờ… Có tất cả chín người đàn ông, nhưng sóng, gió và nắng làm họ rũ rượi như những bệnh nhân. Hương cũng ôm một cháu bé, con của một người có ba cháu nhỏ đi cùng, tựa vào chiếc thùng phuy đựng nước đặt giữa ghe, mặt và thân cháu bé đã mưng mủ nhiều chỗ!
Ngày thứ sáu, Phú kéo Hiến và hai người đàn ông còn khỏe mạnh khác, đến bên chỗ tài công, hét trong tiếng sóng và gió:
– Lương thực và nước gần cạn, hạn chế tối đa. Ai có con dại, lấy sẵn cho họ một bi-đông và dặn họ tiết kiệm, tránh đi lại nhiều.
Một người rụt rè:
– Chừng bao lâu nữa thì…
– Bốn năm ngày, nếu may mắn thì chúng ta có thể thấy Philippine , nhưng mong nhất là gặp một tàu ngoại quốc tử tế, hình như ra hải phận Quốc Tế rồi.
Niềm hy vọng lóe lên trên những gương mặt sầu thảm!
Sáng ngày thứ bảy, trời yên ắng hiền hòa! Những chú cá chuồn từ đâu xuất hiện lao vút qua ghe, một số con rớt vào ghe làm mọi người mừng rỡ!
Ngày sau lại, sóng gió lớn hơn, sẫm tối thì mưa. Những con sóng dữ dội chưa từng thấy nhồi chiếc ghe lên cao rồi lắc giật liên tục!
Phú thét lớn với Hiến trong khi tay ôm chặt cột cabin:
– Cột chặt dây vào mũi ghe rồi lần tới đây đi…
Phải ba lần Hiến mới hiểu Phú nói gì. Anh nằm soãi người kéo cuộn dây tói tìm đầu mối, khó khăn lắm mới cột được vào mũi ghe. Anh lần dây bò giữa ghe về phía Phú, vừa bò anh vừa hét cho mọi người bám chắc vào dây. Đoạn đường từ mũi ghe đến cabin như dài vô tận ! Khi Phú cùng Hiến đang cột dây vào thân chiếc cột, một con sóng cao kèm nhiều tiếng thét nổi lên, không thấy gì ngoài mưa và gió !
Gần sáng, sóng gió không còn hung dữ, Hiến và Phú hãi hùng nhìn cảnh tượng trên ghe. Hơn nửa số người biến theo cơn sóng gió, số còn lại nằm gọn giữa lòng ghe ngập nước, không thể phân biệt được ai còn sống và ai đã chết, hai thùng phuy nước uống lật nghiêng…Không thấy cả tài công, chiếc máy im re không động tỉnh!
Hiến đến bên Hương, có lẽ nhờ hai thùng phuy nước trống rỗng kèm hai bên nên Hương đã không văng xuống biển.
Phú gục đầu rên rỉ như một con thú. Vợ và hai đứa con gái không còn, đứa con trai nằm lịm bên anh! Không có ai, không có một cái gì trên mặt biển chứng tỏ rằng hơn ba chục con người vừa rớt xuống đó đêm qua. chỉ còn một số đồ đạc dập dềnh…
Ghe như đứng yên, nhồi theo từng con sóng. Không còn lương thực, không còn nước, nắng như thiêu… Hiến buông người nằm xuống bên Hương, bàn tay anh nắm chặt tay Hương, nỗi hối hận dâng lên trong lòng, trong đầu Hiến lóe lên một lời nguyện cầu khẩn thiết: “Lạy Chúa, Xin cứu giúp chúng con !”
oOo
Năm ngày trôi dật dờ …
Không một chiếc tàu nào đi ngang, mấy người chết bắt đầu bốc mùi thối! Phú và Hiến cùng ý nghĩ : “Cho họ xuống biển thôi !”. Trên ghe còn lại đúng 16 người, 16 cái thây bất động! Phú và Hiến gom họ vào trong cabin. Những con chim biển chao lượn trên bầu trời nắng chói, tấm bạt được căng ra hứng sương đêm…Phú và Hiến đến nhỏ từng giọt vào những đôi môi nứt nẻ !
Những con tép biển búng vu vơ, có con rơi vào ghe. Phú nhìn Hiến, cả hai bò đi nhặt rồi chia cho mọi người…
Những ngày sau, cả hai lên nằm trên cabin, cạnh chỗ căng bạt, cố gắng nhặt những con tép quý báu, bên dưới cabin, đã có thêm mấy cái xác bốc mùi !
Mọi hy vọng đều tan biến trong cái đói lã và khát bỏng cổ : “Bờ!”, đó là điều duy nhất còn lại trong những bộ não đã dại đi vì đói và khát!
Phú và Hiến cũng không còn sức, mặc cho những cái xác bốc mùi ! Người chết và người sống không còn phân biệt được nữa.
Sẫm tối, biển lại mưa! Phú và Hiến mừng đến dại người…Cả hai lăn hai cái phuy để giữa ghe hứng nước, nỗi mừng tăng thêm cho cả hai chút sinh lực. Sóng đánh vào chiếc ghe lắc lư, cả hai cố giữ hai cái phuy đang chao đảo. Hơn hai giờ mưa, hai cái phuy không cần phải giữ, đã đủ nặng để đứng yên. Biển tối đen và những cơn sóng.
Hiến lần đến bên Hương, cơn mưa và nước như phép mầu làm Hươn gượng ngồi dậy khi Hiến đến. Hiến ôm vòng qua người Hương lạnh ngắt, Hương thều thào vào tai Hiến:
– Có hứng được gì không anh?
-Có, gần đầy hai thùng em ạ.
– Anh Phú thế nào rồi?
– Còn sống, anh ấy đang ngồi với con.
Hiến nhớ đến hai con tép mò được hồi chiều, trong cái lỗ trũng gần bánh lái… Anh đứng lên chập choạng đi về sau ghe. Mưa và sóng vẫn giật từng cơn. Khi trở lại, một cơn sóng tràn lên ghe với cú lắc mạnh làm Hiến văng xuống biển. Hương thét lên hoảng hốt quay lại phía Hiến, nhưng một màu tối đen và mưa gió quất vào mặt. Hương gục xuống hai bàn tay nức nở:
– Hiến, Hiến…ơi!
Chỉ có sóng, gió, mưa và một màu đen của đêm.
oOo
Hương mở mắt, nhìn quanh, gắng ngồi dậy mà không được. Miệng và mũi chị cảm thấy mát lạnh, có cái gì như chiếc mặt nạ nhỏ chụp lên đó.
Một người phụ nữ mặc áo blouse, da ngăm đen, mập mạp, đến bên chị mỉm cười, nói một câu gì đó chị không hiểu. Bà ấy không nói tiếng Anh!
Người phụ nữ giảng giải thêm thật nhiều, nhưng chị chỉ đoán, có lẽ đây là Philippine vì nó được nhắc lại nhiều lần! Người phụ nữ nhẹ nhàng đặt bàn tay lên trán chị một lát, rồi vẫy tay cười hiền, rời khỏi giường.
Bốn ngày sau, Hương biết mình sống sót cùng hai cha con Phú và thêm ba người nữa. Tàu tấp vào Philippine rạng sáng hôm sau, khi cơn mưa vừa dứt.
Phép màu đã xảy ra, nhưng quá muộn màng ! Chị bật khóc:
– Hiến ơi, anh đâu rồi Hiến ơi !
Như một tia chớp lóe lên trong đầu, Hương đặt hai bàn tay lên bụng… Chị nhắm mắt nguyện

Trạch An-Trần Hữu Hội

GIỚI THIỆU SÁCH MỚI : NGÀY NẮNG , ĐÊM MƯA.

bia sach email (1)
MƯỜI BỐN TẢN VĂN LUNG LINH SẮC MÀU TÌNH YÊU VÀ HOÀI NIỆM. XIN TRÂN TRỌNG GIỚI THIỆU CÙNG CÁC ĐỘC GIẢ CỦA TƯƠNG TRI

Lời tựa : Nhà văn Vũ Thất
Lời bạt : Nhà văn Phạm Phú Minh
Lời cuối : Tôn Nữ Thu Dung

Tôi không biết chị đã dồn bao nhiêu tinh lực từ một thân xác bé nhỏ ngày ấy để học , viết , vẽ , chụp hình , thỏa mãn những khát vọng, đam mê của mình bên cạnh những công việc đã làm để gởi tiền về nuôi cả một đại gia đình còn ở lại Việt Nam trong suốt một thời gian dài .
Nhưng tôi biết , chính tình yêu đã làm chị trở nên như vậy : Mạnh mẽ, can đảm, cứng rắn nhưng cũng thật dễ mềm lòng, rơi nước mắt trước những bất hạnh của người khác.
Và tôi hiểu…hơn thế nữa , người đứng bên cạnh chị , dìu dắt , thương yêu để chị thành công trong cuộc sống : Anh Trần Tuấn , là phu quân của chị.
…”Không có gì mạnh bằng tình yêu và không có gì cô độc hơn khi bị mất tình yêu. Tuy người vũ nữ ấy hàng đêm múa may, quay cuồng quanh cây cột trong tiếng nhạc mê hồn, lòng cô vẫn trống vắng và hoài mong một tình yêu không cần đáp ứng từ đứa con thơ tật nguyền, bé nhỏ. Tôi hiểu vì sao cô từ chối , không chịu ký tờ giấy “No Code” * cho Angel. Chỉ vì cô bám víu vào niềm hy vọng rằng mai sau cô sẽ có người yêu mình với trái tim thanh khiết của một thiên thần.”( Người Vũ Nữ Múa Cột)
Chị viết vậy và nhiều lần viết tương tự vậy… bởi chị đã có rất nhiều người yêu chị bằng trái tim thanh khiết của một thiên thần.

Tôn Nữ Thu Dung

Cà Phê San Jose

luuthy

San Jose, xứ sở của Thung Lũng Hoa Vàng, của Silicon Valley, của Apple Ipod Iphone Ipad trái bôm trái táo lủng lỗ, của Yahoo, Google, Cisco, Ebay, Ebiết. Xứ sở của những nhà triệu phú trẻ tuổi, triệu phú bất ngờ từ trên trời rơi xuống. San Jose của giá nhà giá đất cao ngút trời xanh, lên từng ngày từng giờ, giành giựt nhau mà mua của thời hoàng kim Dot Com, Internet Bubble và Stock Market Option.

San Jose, thành phố lớn thứ ba của California, thành phố nhiều người Việt nhất nước Mỹ, thành phố với những cái mới nhất, sáng tạo nhất, khởi đầu nhất trong lãnh vực điện tử. Người Việt San Jose cũng vậy, sáng tạo và đi đầu, cứ hay đi tiên phong, cứ hay muốn đi đầu làm mới làm lạ, và cứ hay muốn gây sốc.

Cái mới nhất, lạ nhất, sốc nhất giờ này của người Việt San Jose là cái món cà phê.

Cà phê San Jose không thể tự chế biến ở nhà như nước mắm Houston, như bánh ít lá gai, bánh tráng Bình Định ở Little Saigon.

Cà phê San Jose cầu kỳ và mới lạ hơn nhiều.

Cà phê San Jose phải là thứ Made in USA thứ thiệt, không nhập từ Brazil, Chile, Colombia hay Việt Nam. Cà phê San Jose thật đậm mùi local, phải lựa hột vừa đúng tuổi mà còn tròn trịa. Rang cà phê cũng phải thật điệu nghệ, phải tuỳ hột tuỳ giống mà rang. Giống Việt Nam chỉ rang hơi vàng vàng, còn giống Nam Mỹ Latin thì bắt buộc phải rang thật nhiều lửa để hột cà phê nâu nâu rám nắng.

Rang cà phê San Jose ta không rang với bơ Bretel, không thêm tí muối, hay bỏ chút cau, thêm tí nước mắm, trộn chút bột bắp, cho phẩm màu hay thuốc kí ninh. Cà phê San Jose phải rang với tí nước hoa, khi thì Chanel N°5, khi thì Elizabeth Arden, khi thì Lancôme … tuỳ theo loại hột cà phê mà thêm hay bớt. Nói không có giỡn mà thiệt như thật, nhiều khi còn phải thêm tí mùi hôi nách.

Cà phê San Jose có nơi pha với một tí màng mỏng mỏng, nhẹ nhẹ nhàng nhàng, mơ mơ huyền mờ, ảo ảo thiệt thiệt không biết đâu mà rờ. Có nơi tuyệt chỉ pha cà phê nguyên chất, không màng miết gì cho rườm ra, cà phê thật nguyên chất đến nỗi không cần phải xay, cà phê cứ vậy để nguyên hột, nhìn thấy cả lớp da, để nguyên cành nguyên cuống, giơ cả núm hột cà phê.

Uống loại cà phê này cũng không phải là dễ uống. Cà phê San Jose đậm đặc, đậm đà, màu có hơi hơi đen đen, đôi khi lại vàng vàng nâu sậm có pha chút tí rêu. Uống cà phê San Jose uống phải uống bằng mắt, phải nhìn trừng trừng, phải liếc qua liếc lại đưa đẩy theo hột cà phê sóng sánh đong đưa. Càng uống càng phê, cà phê càng nóng không bao giờ nguội. Càng uống càng nóng rực, khói càng bốc lên, bốc ngùn ngụt, bốc ngút ngàn, bốc che mờ cả cặp mắt kính, mắt kính sẽ mờ mờ bao phủ như hơi sương. Chất caffeine trong cà phê San Jose đậm đăc đến mức tim sẽ đập mạnh, huyết áp sẽ tăng cao vùn vụt. Cà phê loại này kén khách, chỉ dành riêng cho khách hàng trẻ tuổi hoặc nếu tuổi có cao thì huyết áp bắt buộc phải dưới 160mmHg.

Cà phê San Jose đặc biệt chỉ có độc nhất vô nhị ở San Jose. Cà phê San Jose mang đi nơi khác là cà phê mất cả mùi vị, không còn hột cà phê nguyên chất, cà phê sẽ biến thành bột, pha loãng hoà tan với nước, cà phê càng uống càng nguội lạnh. Cà phê San Jose ra khỏi San Jose lại trở thành cà phê cổ điển, cà phê San Jose không còn là cà phê San Jose!

Muốn thưởng thức cà phê San Jose chỉ còn một cách độc nhất là ghé tới San Jose.

Du khách khắp nơi ùn ùn kéo về San Jose. Có kẻ từ xứ cao bồi Texas, xuống ngựa, bỏ Colt, Winchester ở nhà mà tới, người lặn lội từ Việt Nam xa xôi sang xứ Florida câu cá mập mà cũng bỏ cần xuống mà về, dân Massachusetts miền Bắc lạnh lẽo cũng quên béng luôn mây lang thang, rời xa cà kê dê ngỗng mà xuống, người bạn Hawaii Honolulu Aloha Olaha láng giềng cũng dứt khoát rời xa hủ nước mắm Qui Nhơn mà cùng đặt chân tới San Jose, ngồi nhâm nhi ly cà phê San Jose, vừa thưởng thức hột cà phê vừa ngâm lớn bài thơ:

“Cỏ non xanh rợn chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa
Lơ thơ tơ liễu buông mành
Chắt chiu từng sợi nắng chiều lã lơi
.

Mà cứ “Ngỡ lòng mình là rừng, Ngỡ hồn mình là mây”

PS: Cà phê San Jose giờ chỉ còn là chuyện đời xưa!

LƯU THY

(chôm từ bài viết của XYZ viết theo Hồ Sơ Điều Tra của LucCA, SJPD.)