CHỊ HAI

truongnghi

Cài nhanh then cửa, Lành chạy vội vô phòng tắm. Vục mặt vào lavabo để mặc cho nước xối xuống tóc xuống cổ, Lành đờ đẫn tìm kiếm sự tỉnh táo. Mệt đừ cả người, Lành thấy như ai đấy đang dần đang băm từng thớ thịt. Da mặt Lành cũng đang căng ra, hình như chúng muốn tiếp tay cùng những thớ thịt bên trong trương lên để biểu hiện sức săn chắc tuổi gái một con của Lành. Cái kiếp làm thợ ngành may quần quật với những việc chẳng nặng nề gì mà luôn ngốn lấy công sức con người khủng khiếp, nhưng đối với Lành chúng chẳng có ký lô gram nào cả, Lành mệt đừ, đơn giản chỉ vì suốt ngày ai gặp Lành cũng cứ ra rả một gọi Chị Hai, hai gọi Chị Hai.
Lúc nãy về vừa bước vào cổng, đang bù khú với Hoan ngoài sân, Bác Tư Sẹo chủ dãy nhà trọ cũng tiếp theo Hoan mà buông ra lời chào khác ngày thường :
– Nay tăng ca hay sao mà về muộn thế Chị Hai !
Với Hoan, thằng bạn cùng xóm học chung trường hồi nhỏ ngoài quê, lâu nay Hoan gọi Lành thế nào cũng được, Bác Tư mà gọi như vậy thì Lành làm sao chịu nổi. Nghe đâu ngày xưa Bác cũng là một tay anh chị đất Sài Gòn nầy. Vết sẹo trên mặt Bác Tư là dấu tích còn lại của một thời Bác lăn lộn với giới giang hồ Xóm Củi. Lành biết dân anh chị khi buông ra một lời là như cóc cắn. Cóc mà cắn là không khi nào nhả. Dân giang hồ tứ chiếng thời xửa thời xưa mà buông ra lời là như đinh đóng vào cột. Hình như có điều gì đó ẩn náu bên trong tiếng gọi Chị Hai của Bác Tư.
Lành hất mái tóc ra sau nhìn thẳng vào gương soi. Trong gương đôi mắt Lành long lanh chớp chớp nhưng vẫn chất chứa cái nhìn hồn hậu của một gái quê, đôi môi chín mọng vẫn tươi tắn nét nhu mì giống như tên của nàng, da mặt nàng trắng trắng hồng hồng, không đen đúa như hồi còn ở quê cắm đầu xuống ruộng dầm mưa dãi nắng…, Lành thấy Lành chẳng ra vẻ gì là một tay đàn chị của dân giang hồ cả. Lâu nay Lành cũng đâu có hành động nào gọi là thể hiện tính du côn du đảng đâu. Nhớ năm trước cũng ở dãy nhà trọ nầy, Lành đã từng ra tay quẳng một thằng trai ra cửa như quăng một con nhái – cái thằng là bạn trai của Gái Thoa trọ phòng bên làm cùng xưởng với Lành, hắn đến mè nheo với Gái Thoa, hằn học nã Gái Thoa đưa tiền cho hắn đi cá độ đá banh. Ra tay chút ngón nghề của gái Bình Định khi thấy chuyện bất bình thôi mà, có to tiếng gì đâu. Lành cài thế đẩy hắn bay ra cửa, nàng đanh giọng bảo đừng nên sống bám vào váy phụ nữ nữa, hắn lồm cồm bò dậy, lẳng lặng xách gói đi biệt cho tới tận bây giờ chẳng thấy mặt. Từ đó mọi người chung dãy nhà trọ, kể cả bạn làm cùng chung trong xưởng đều gọi Lành là Chị Hai. Nhưng hôm nay, đây là lần đầu Lành nghe tiếng gọi đó thốt ra từ Bác Tư Sẹo.
Lành dừng tay khăn đang lau khô mái tóc lắng nghe Bác Tư khề khà với Hoan ngoài sân :
– Qua nói thằng Hai mầy nghe. Thằng Hai mầy uống có cỡ nhưng mầy dở như con bọ nẹt. Đờn ông đờn yêng gì mà không dám nói tuốt ruột ra. Con Lành nó sống nó chết với người thế cô, dám ra mặt đòi chủ đáp ứng quyền lợi chung cho cả bọn. Nó đáng mặt Chị Hai, nhưng qua biết nó là người nhu mì, ít nói. Mở miệng ra là Thằng Hai mầy cứ gọi nó bằng chị Hai chị Ba thì làm sao nên việc.
Té ra mọi việc đều từ chỗ Hoan mà ra. Với Gái Thoa cùng mấy đứa làm chung xưởng, lâu nay Lành đã căn dặn kỹ là khi về nhà trọ không nên nói đi nói lại những gì Lành đã làm cho chúng ở công ty. Tội cho mấy con bé hồn nhiên ở miền Tây bỏ ruộng bỏ đồng lên bon chen cùng bụi bặm Sài Gòn, Lành biết chắc là lúc nào chúng cũng riu ríu làm theo lời nàng. Có lẽ Hoan đã biết chuyện Lành mấy hôm rồi nổi đình nổi đám đứng ra bảo vệ chị em đòi công ty không nên tăng ca quá mức, để rồi hôm nay rượu vào lời ra mà Hoan vui miệng kể lại cho Bác Tư ! Đàn ông khi có rượu vào là bép xép như phụ nữ. Rõ xấu !
Kể ra cũng tội cho Hoan, Hoan lúc nào cũng quanh quẩn bên cạnh với Lành. Từ ngày còn đi học, Hoan đã thầm để ý Lành nhưng không hiểu sao nàng chẳng chút mảy may rung động nào trước săn đón của Hoan. Ngày Lành nghỉ học giữa chừng vào Sài Gòn tìm việc, chẳng bao lâu Hoan cũng vào theo. Ngày Lành kết đôi với Sang, người đã đem lại chút ấm áp cho cuộc đời nàng, tiệc vui ngày cưới đơn sơ nơi xứ lạ cũng chỉ có mỗi mình Hoan dự chúc phúc chung vui. Ngày Lành sinh bé Tí Nị, Hoan lại cũng là người thay mặt Sang, người bạn đời vắn số của nàng mà lo cho nàng mẹ tròn con vuông giữa đất Sài Gòn. Năm trước về đây ở, Hoan cũng tìm đến thuê chung dãy trọ với Lành. Lành biết rõ Hoan muốn chăm sóc cả cuộc đời nàng, Hoan đeo đuổi nàng cho tới cùng, mặc cho Lành vẫn cứ xem Hoan chỉ là người bạn học, bạn cùng quê.
Có Hoan ở gần bên, nhiều khi nghĩ lại Lành thấy mình cũng phần nào đỡ tủi.
Ngày Lành được sinh ra chưa tròn năm, chưa biết đi chập chững thì ba của Lành phải đi chiến trường Tây nam. Ông đi biệt gần mươi năm mới trở về, không như bác Tấn, ba của Hoan chỉ mấy tháng sau là phải về cùng với đôi nạng gỗ. Ba Lành về là lăn ngay ra đồng, ông vứt bỏ mọi quan hệ chỉ chăm chăm với cán cuốc chuôi cày.
“Nghiệp nhà mình là dân làm nông, chẳng tranh giành cùng ai chi, cứ vui cùng với trời với đất vậy con”. Lành biết ba mình có niềm vui với từng lát đất đường bừa, vui dù phải ngửa mặt lạy trời trông mưa trông nắng, nhưng Lành hờ hững với lời khuyên của ba khi nàng xin vào Sài Gòn tìm việc. Ba Lành xuất ngũ về chẳng bao lâu là Lành có thêm mấy đứa em nhỏ. Nhà thêm người nhưng ruộng đất đâu có thêm, trong khi đó đất canh tác ngày cứ càng eo hẹp lại theo đà mở rộng khu dân cư hai bên đường lộ lấp ruộng bán đất cất nhà. Hẳn nhiên nhà hai bên đường lộ hình thành nên phố thị bán buôn chớ không dành cho nông dân ở đường nhựa. Trong xóm đã lác đác vài đứa bạn của Lành vô Nam làm thợ, tiền lương hàng tháng của chúng chắt chiu gởi về bằng ở nhà một mùa thu vô. Mỗi chiều nhìn mấy đứa em nhỏ lóc thóc tranh nhau lấy rơm bỏ vào chuồng cho bò ăn thêm, trời chưa sáng tỏ là mẹ đã phải dậy nổi lửa lo cho ba lót bụng ra đồng, Lành âm thầm ra gốc xoài sau nhà dấu đôi mắt đẫm ướt. Ngày ba của Lành đổ bệnh nằm mấy tháng trời, Lành quyết chí vô Nam. Làm nông bây giờ cả nhà đã thành nông thợ, đi xa cũng là làm thợ, Lành sẵn sàng rời xa mái trường dù chỉ hơn năm nữa là thi tốt nghiệp. Thản nhiên với quyết định. Lành tự biết quyết định như vậy là đã chấp nhận phần thua thiệt về mình, chấp nhận một thân một mình đương đầu với những rủi ro, những phản phúc của cuộc đời.
Đời thiệt lạ, ai cũng leo lẻo là xã hội nhiều thầy hơn thợ phải làm cái gì đó để giảm bớt lớp thầy đi, nhưng thật ra ai cũng muốn con mình phải làm thầy làm xếp chớ không muốn con mình đi làm thợ làm cu ly. Ai ai cũng tranh lấy phần hơn về mình, tận dụng mọi thế lực để con cháu mình đừng đứng trong lớp thợ, lớp làm thuê. Bạn của Cô Nguyệt làm Hiệu trưởng Đại học nào đó ở Sài Gòn, thằng con chỉ mới lớp 10 đã cho đi du học, làm như kiểu học ở đất nước nầy chỉ để đào tạo ra những đứa cu ly.
Cũng phải thôi, xã hội bon chen kỳ quái đã đẩy đưa mọi người phải tranh lo cho trẻ ngay từ lúc mới sinh ra nếu không muốn cho con cháu mình phải thua thiệt. Cô Nguyệt, cô giáo chủ nhiệm của Lành năm lớp 11, Cô sẵn sàng hưu non để vào trong nầy chăm nom cháu ngoại. Con gái Cô học đến nơi đến chốn nên có chỗ làm tốt ở trong nầy, Cô không muốn cháu mình phải tách xa mẹ, Cô cũng không muốn cháu mình gởi nhà trẻ lỡ đâu ăn phải “cháo ngủ” hằng ngày. Hôm Lành đến thăm Cô, Cô cười buồn :
– Nay nhà nhà đều đi làm Oshin. Cô đang là bà, đang là mẹ, đang là Thầy cũng phải nghỉ dạy đi làm Oshin đây Lành ạ.
Nghĩ đến đây Lành lại nhớ đến Tí Nị đang gởi cho ngoại ở quê. Lành thẫn thờ bước lại vòi hoa sen xả nước mặc cho nước xối tuôn ướt cả áo quần.
Hôm Tết rồi Lành về thăm nhà, thăm con. Tí Nị lẫm đẫm theo mấy Dì của nó chạy ra mừng Lành. Tí Nị nay đã đi đã chạy vững vàng, nó cũng ôm chầm lấy Lành ríu ra ríu rít như chim :
– Chị Hai dzìa, Chị Hai dzìa…
Lành đứng sững dưới vòi hoa sen chẳng buồn vuốt nước trên mặt. Lành nghe như có vị mằn mặn đang đọng ở khóe môi. Lành phải bôn ba nơi xứ xa, nàng có đứa con thơ dấu yêu, gặp con, được ở bên con mấy ngày nhưng chỉ để nghe tiếng con thơ gọi ngoại của nó là Mẹ…

PHAN TRƯỜNG NGHỊ

Một hôm thấy nắng vàng như là ngày xưa

dotrungquan

Một hôm thấy nắng vàng ngoài hiên
Nắng như là năm cũ
Một hôm thấy nắng vàng vừa lên
Vui buồn không biết nữa
Chỉ là nắng vàng thôi mà
Chỉ là em đùa thôi mà
Mà nắng vàng ơi, sao đùa tình tôi
sao đùa một hơi
sao đùa tí thôi
mà mười năm chẵn
Tôi như trái thông hiu quạnh
Lăn bất tỉnh phía chân đồi

Một hôm thấy nắng vàng quen quá
Quen như là ngày xưa
Sao em đùa dai thế?
Để hồn tôi cửa mục gió lùa
Một hôm thấy nắng vàng đâu đó
Một hôm thấy nắng trải dọc ven đường
Ồ, chỉ là dã quỳ một ngày thu hết nắng
Lộng lẫy niềm nhớ thương

Một hôm thấy mình chán quá
Đứng vô duyên bên đường.

Đỗ Trung Quân

Lời Quê Hương

trantrungdao

Xin đừng bỏ rơi tôi
Trong những ngày khốn khó
Nhọc nhằn vẫn còn đây
Niềm đau xưa còn đó

Người đi về hướng Ðông
Hồn tôi treo ngọn sóng
Trong đáy mộ mênh mông
Xác thân tôi lạnh cóng

Xin đừng bỏ rơi tôi
Trong giờ đang hấp hối
Tôi như ngọn đèn khuya
Lập lòe trong đêm tối

Người đi về hướng Tây
Hồn tôi mây viễn xứ
Máu rỉ dưới chân tôi
Gót chân đời lữ thứ

Xin đừng bỏ rơi tôi
Lời nguyền rơi nước mắt
Tôi như nhánh sông chia
Hai bờ đau ngăn cách

Người đi về hướng Nam
Tôi ngồi ôn quá khứ
Ôi thân thể của tôi
Ðang lõa lồ đau nhức

Xin đừng bỏ rơi tôi
Bao nhiêu rồi mất mát
Chưa thấy đủ hay sao
Những điêu tàn đổ nát

Xin đừng bỏ rơi tôi
Sao người bỏ rơi tôi
Xin đừng bỏ rơi tôi
Sao người bỏ rơi tôi.

TRẦN TRUNG ĐẠO

Người và quỷ

nguyendinhbon

Mới sinh ra, tôi là đứa bé khóc đêm rất dữ. Khóc ằng ặc từ đêm này qua đêm khác, đôi khi lại ré lên như thể bị một bàn tay vô hình nào đó cấu véo. Tròn hai tuổi tôi vẫn còn mang chứng bịnh ấy. Cho đến một hôm, ba tôi lặn lội đi tìm một người bà con xa, có chồng là pháp sư nổi tiếng và được ông ấy cho một lá bùa. Lạ thay, khi ba tôi đem đạo bùa ấy về đeo vào cổ tôi thì chứng khóc đêm ngỡ là bất trị kia bớt dần rồi dứt hẳn.

Sau đó vài năm, chiến tranh càng lúc càng diễn ra khốc liệt, gia đình tôi phải tản cư luôn để tìm một chốn an toàn. Trong cuộc hành trình chạy trốn đạn bom ấy, có lần ba tôi đưa cả gia đình ghé nhà người bà con kia. Lúc đó tôi vẫn còn nhỏ, chưa kịp hiểu và nhớ được gì nhưng sau này khi dần lớn lên, xa gia đình và xa hẳn nơi chôn nhau cắt rốn của mình tôi vẫn hoài nhớ quê hương qua những câu chuyện kể ngày xưa của ba mẹ tôi.

Mới sinh ra tôi là đứa bé khóc đêm rất dữ nhưng lớn lên tôi trở thành một kẻ mơ mộng vô phương cứu chữa…

*
Người con gái ấy một thời đẹp nhất vùng phố cổ và là con duy nhất của một ông chủ tiệm cao lầu. Mười sáu tuổi, nàng đã được nhiều gia đình danh giá, giàu có nhờ mối mai dạm hỏi. Thế nhưng, thật bất ngờ gia đình nàng nhận trầu cau của một… ông phù thủy đã ngoài tuổi bốn mươi và sau đám cưới nàng theo hẳn về quê chồng ở một vùng sơn cước. Quanh cái đám cưới hơi lạ đời ấy có biết bao nhiêu lời thêu dệt, đàm tiếu nhưng về quê hương chồng nàng vẫn tiếp tục là đầu đề cho bao câu chuyện ngồi lê đôi mách khác. Đàn bà đẹp thường là nạn nhân của chính mình là vậy. Ông ta dùng bùa để quyến rũ bà ấy, một đạo “bùa yêu”. Những người ưa tán chuyện bảo vậy và kể y như thật về chuyện thầy Tám (tên ông thầy phù thủy) đi xuống Hội An chữa bệnh điên, ghé ăn cao lầu và phải lòng cô con gái đẹp…

Không biết đúng sai thế nào nhưng dù gì, khi đã vang danh là pháp sư cao tay ấn nhất vùng, thấy Tám vẫn thuộc vào những người giàu có nhất vì tiền chữa bệnh điên thì đòi bao nhiêu mà chẳng được! Sống giữa cơ ngơi bề thế nhưng gần như biệt lập với xung quanh, nàng hoa khôi phố Hội nhanh chóng trở nên một thiếu phụ u sầu. Chồng nàng thường đi chữa bệnh xa, khi mười ngày, khi nửa tháng mới về, mà khi ông ở nhà thì cuộc sống của một pháp sư cũng rất khác biệt so với người thường. Sập tối là ông bắt đầu cúng, luyện đan, miệng lúc nào cũng lẩm bẩm đọc thần chú. Khi ngủ, ông ngủ một mình. Trên bộ ngựa bằng gỗ gụ – nơi mà với bàn thờ tổ là hai nơi không có người thứ hai được phép tới gần – luôn có ba cái gối săng (gối bằng gỗ) lớn. Ngủ, ông gối một cái còn hai cái đặt hai bên ngang với tầm tay. Cứ cách độ nửa giờ, một tiếng “đùng” thật lớn lại vang lên. Đó là khi ông nện gối săng xuống mặt phản ngựa để cảnh báo những tà ma quỷ quái nào đó đang lăm le lợi dụng giấc ngủ mà quấy nhiễu ông! Điều lạ là dù đôi tay hoạt động cách khoảng và liên tục như vậy, thầy Tám vẫn ngủ say, ngáy như sấm. Chỉ có những người lần đầu tiên đến ngủ nhờ – như gia đình tôi lúc tản cư- là hoảng hốt giật mình dù nằm tận nhà sau.

Ba năm đã qua, người thiếu phụ vẫn không sinh được cho ông đứa con nào mà ngày càng héo hắt như những bông hoa cắm trong chiếc bình thiếu nước. Rồi trong một chuyến đi chữa bệnh xa, ông dẫn một chàng trai lạ trở về và bảo ngắn gọn:

– Thằng nào siêng, tôi thuê nó về làm ruộng, làm công việc nhà!

Những lời xì xào lại chui rúc khắp nơi khi người thanh niên ấy về làm đầy tớ nhà thầy Tám. Anh ta cao lớn, da nâu bóng. Một thanh niên đẹp rắn chắc tiêu biểu cho những chàng trai vùng biển. Thế nhưng không ai tin đó là một thanh niên bình thường. Đó là một con quỷ! Không biết từ nguồn tin nào người dân bảo vậy. Đúng hơn là cái thể xác cường tráng, hấp dẫn kia chứa chấp một con quỷ thay cho linh hồn của người. Ông ta dùng thần thông để bắt nó về đây để làm đầy tớ không công nhưng rồi một ngày nào đó ông ta phải trả giá. Chỉ cần một chút sơ suất là nó sẽ vặn cổ. Hãy cứ trông cái cách nó làm hùng hục từ hừng sáng đến nửa đêm và cứ như vậy từ ngày này sang ngày khác không hề nghỉ ngơi cũng đủ biết. Chỉ có sức quỷ mới làm được như vậy! Và ánh mắt lúc nào cũng u uất, cũng căm thù một điều gì đó. Nhất định đó không phải là ánh mắt của một con người!

Những lời xì xầm ấy rồi cũng đến tai thấy Tám. Ông cười khà khà và nói với nhiều người, nửa như cố ý nửa như đùa:

– Đúng là đồn đại. Nhưng mà họ có lý! Dĩ nhiên chỉ có thầy Tám này mới có khả năng bắt và sai khiến quỉ mà thôi!

Và cũng không biết câu chuyện ấy đúng sai thế nào, nhưng về phần anh ta, con người – quỷ ấy chỉ biết làm việc và làm việc. Làm nhiều đến nỗi một tay đầy tớ siêng năng nhất của một bá hộ keo kiệt, tham công tiếc việc nhất chắc cũng phải vị nể. Cày ruộng, tát nước, xay lúa, giã gạo, bửa củi… không có việc gì mà anh từ nan, chỉ có một điều là rất khó mà nghe được từ cái miệng ấy một điều gì ngoài những tiếng “vâng dạ” ậm ự trong họng.

Thầy Tám vẫn đi “cứu nhân độ thế” để thu về những túi bạc lớn rồi từ đó sinh dần ra bao nhiêu là ruộng vườn, của chìm của nổi. Ông đi, mải miết như một nhà truyền đạo chân chính và hầu như ít chú ý đến người vợ trẻ đẹp mà ông “nhốt” giữa ngôi nhà to rộng của mình!

Đúng hơn, giờ đây người thiếu phụ ấy đã có thêm một người để sai bảo. Bao nhiêu năm đã trôi qua trong nỗi cay đắng mà nàng đem giấu rất sâu trong trái tim đã từng một thời sôi nổi. Rồi người thanh niên được cho là hiện thân của quỷ ấy về làm đầy tớ. Nhưng hắn chỉ là một cái bóng. Một cỗ máy hoặc một con bù nhìn được người chồng phù thủy của nàng phù phép để bắt phải hoạt động thì đúng hơn!

Nàng vẫn không biết gì về hắn, không biết cả tên. Khi ở nhà, muốn sai bảo điều gì thầy Tám chỉ gọi hắn là “mi” một cách khinh miệt. Đôi lúc nàng nhìn trộm hắn và tự hỏi: Tại sao hắn lại làm nhiều như vậy? Hắn không nói chuyện gì với bất cứ ai. Cả nàng, với chồng nàng và bà lão giúp việc. Thậm chí với cả con mèo, con chó hắn cũng lảng tránh. Buổi sáng, khi nàng thức dậy, hắn đã xong rất nhiều việc và chuẩn bị ra đồng. Đến nửa đêm, khi nàng chập chờn trong giấc ngủ khó khăn với những cơn ác mộng thì tiếng chày giã gạo của hắn vẫn còn đều đều, thậm thịch.

Có một lần, một lần duy nhất vào buổi chiều giáp Tết, tình cờ nàng bắt gặp hắn đứng bất động, mắt ngó mong về xuôi. Lúc ấy dù đứng phía sau nhưng nhìn cái cơ thể khỏe mạnh, rắn chắc hằng ngày giờ chùng lại trong một tư thế mong ngóng đến da diết nàng bỗng có một ao ước đến lạ kỳ là được nhìn vào mắt hắn. Ôi, ánh mắt ấy phải hoài nhớ, u uẩn lắm mới tạo được một cái dáng đứng thế kia? Nhưng khi nàng dợm nhớm chân, do quá nhạy cảm hắn đã quay lại, nhìn nàng hơi ngỡ ngàng rồi đi nhanh vào nhà sau.

Gần cả tháng sau, khi không có ai, nàng tìm đến hắn bên đống củi đang bửa dở và hỏi:

– Anh đang nhớ nhà lắm phải không?

Hắn làm như không nghe, vẫn giáng mạnh những nhát búa vào những thân củi gộc.
Nàng nhắc lại câu hỏi của mình một cách kiên nhẫn và hơi nặng giọng:

– Thưa bà, tôi không hiểu?
– Tôi hỏi có phải anh nhớ nhà, nhớ cha mẹ… vợ con không?
– Không, thưa bà!

Hắn trả lời cộc lốc và đứng dậy xếp những miếng gỗ vừa bửa đem vào bếp. Nhưng chính sự lẫn tránh của hắn đã thôi thúc nàng lao vào một cuộc phiêu lưu mà nàng chưa hiểu sẽ mang lại cho mình điều gì. Sự im lặng của hắn vừa như thách thức vừa như có gì thật đồng cảm!

– Tại sao anh tránh mặt tôi?

Câu hỏi ấy nàng đặt ra sau đó vài tháng trong lúc hắn đang cuốc vườn.

Hắn nhìn nàng khá lâu, tay nắm chặt cán cuốc. Nàng chịu đựng ánh mắt ấy và cảm thấy bạo dạn hơn bao giờ hết. Hắn nói một cách chậm rãi:

– Tôi là một con quỉ! Một con quỉ nô lệ thưa bà!
– Không! Anh nói dối! Tôi không tin. Đó chỉ là những lời đồn đại cố ý!
– Đó chính là sự thực!
– Nhưng dù anh là gì đi nữa tôi vẫn mến anh. Lão ta chỉ chiếm được thể xác này. Những gì còn lại là của anh!

Hắn bổ mạnh lưỡi cuốc xuống mảnh đất vườn khô cằn mùa hạn – Tôi không mơ đến điều đó. Một con quỷ tầm thường, không phải là quỷ vưong, quỷ quan mà là một con quỷ nô lệ thì không có quyền sở hữu bất cứ điều gì!

Hắn lại lặng lẽ bỏ đi và nàng bất lực nghe nỗi khát khao càng lúc càng cồn cào lên cùng với dòng nước mắt thương thân, thương hắn tuôn ra lã chã.

Sau lần nói chuyện ấy nàng không còn tìm cách tiếp xúc với hắn nữa. Tháng bảy đến. Đó là tháng duy nhất trong năm thầy Tám không đi chữa bệnh vì bận phải ở nhà cúng lớn. Thầy sẽ cúng ba đêm liền, bắt đầu từ ngày rằm, như một kiểu “khao quân”, mà “quân” ở đây chính là âm binh dưới tay thầy!

Buổi trưa trước khi vào cúng một ngày, thầy sửa soạn tắm gội thật sạch sẽ ở cái ao dành riêng cho mình. Nửa giờ sau thì biến cố xảy ra. Đang ở trong bếp cùng mấy người đàn bà hàng xóm vừa mượn sang làm giúp thì nàng nghe tiếng gọi vang:

– Bà chủ! Bà chủ!

Nàng kinh ngạc chạy ra. Hắn – người thanh niên – đầy tớ quỷ đang đứng ở sân trước, ướt từ đầu đến chân và mặt lạnh băng.

– Tôi đã giết chồng bà! Xác dưới ao. Bà vớt lên mà chôn!

– Tôi đã trả nợ xong, giờ tôi đi đây!

Hắn nói từng tiếng một, rành rẽ như đã suy tính trước. Nàng chết lặng, gần như không hiểu hắn nói gì. Khi hắn quay lưng, chạy vụt ra khỏi cổng, như có sức mạnh nào đó thôi thúc, nàng lao vụt theo, gào lên:

– Đừng bỏ tôi! Trời ơi! Đừng bỏ tôi!

Hàng xóm xúm lại. Họ vớt thầy Tám lên thì ông đã tắt thở. Khắp người trầy sướt, bầm dập chứng tỏ ông ta đã chống cự mãnh liệt trước khi chết.

Trên bờ ao còn nguyên vẹn bộ quần áo và những lá bùa hộ mệnh mà ông đã cởi ra trước khi tắm. Nhìn máu rỉ ra ở các lỗ khắp châu thân, người ta bàn tán:

– Sinh nghề tử nghiệp mà. Trước sau gì ông ta cũng bị con quỷ ấy giết!
– Cũng tại thầy Tám sơ suất. Hắn đã rình đúng ngay cơ hội khi ông ấy cởi hết bùa ra mới hành động!

Chẳng ai dám nghĩ đến chuyện truy lùng con quỷ ấy ngay cả chính quyền sở tại dù nó chưa chắc đã ra khỏi làng. Người ta chỉ còn có mỗi việc xúm đen xúm đỏ lại coi và bàn tán xôn xao khắp vùng suốt cả thời gian dài, ngay cả khi đã xong đám tang.

Căn nhà có quỷ ấy đóng cửa suốt từ đó. Bà giúp việc không dám ở nữa mà xin về, thậm chí người ta không còn dám đi trên những con đường gần đó. Mấy tháng sau, trong một dịp tình cờ, dân làng phát hiện ra căn nhà đã thành vô chủ. Không ai biết người thiếu phụ ấy đã đi đâu và từ lúc nào?

*
Hồi nhỏ tôi là đứa trẻ khóc đêm nhưng càng lớn tôi càng trở nên mơ mộng. Căn bệnh sau này thì vô phương cứu chữa nên chưa đến tuổi hai mươi tôi đã rời xa gia đình sống lang bạc khắp nơi. Thỉnh thoảng tôi có về nơi ba tôi đang sống và bắt gặp ông thường ngồi hoài nhớ về cố hương trong những buổi chiều vùng trung du miền Đông vàng óng nắng. Mỗi lần như vậy tôi lại nhớ và thắc mắc về câu chuyện người thiếu phụ xinh đẹp và bất hạnh ngày trước. Ba tôi thường bảo:

– Dù sao ta cũng phải về quê hương một chuyến. Ba mươi năm qua rồi!

Tôi hiểu nỗi nhớ trong lòng ông. Hiểu cả chữ “ta” như hàm ý bao gồm cả tôi trong ấy. Đó chính là tiếng gọi thôi thúc trong mỗi tâm hồn ly hương. Nhưng cũng thật bất ngờ, sau hơn ba tháng bặt tin nhà, tôi vừa mới nhận được thư ba tôi, ông viết:

“Ba đã về thăm quê. Ba có ghé chợ ăn cao lầu và gặp một chuyện rất thú vị. Con có còn nhớ là bùa con đeo thời thơ ấu? Đã ba mươi năm, ba thực không ngờ bà ấy vẫn còn sống và nhận ra ba. Nhưng đặc biệt người chồng bây giờ của bà ta… mà chuyện dài lắm. Nếu rảnh con thu xếp về với ba một thời gian…”

Tôi luôn có một túi xách nhỏ trong ấy bao giờ cũng có hai bộ đồ, một cái khăn và dụng cụ vệ sinh cá nhân. Ngay ngày mai tôi sẽ lên đường và rất có thể sau đó sẽ theo gương ba tôi về cố hương một chuyến.

NGUYỄN ĐÌNH BỔN

SAO NGƯỜI KHÔNG GỌI TÊN TÔI

truongdinhphuong

Sao người không gọi tên tôi
bằng tia lửa mắt
bằng đôi ngọn lòng?
bằng âm vực những đời sông
hay muôn lá đắng -phiêu bồng kiếp mây?
bằng giông bão cuả bàn tay
bằng muôn vía cỏ hồn cây gió ngàn ?
bằng lệ chát những cung đàn
bằng đêm côi cút đèn tàn bóng đau?
sao người cứ gọi tên nhau
bằng bờ môi thắm lợt màu thủy ngân?

Trương Đình Phượng

linh hồn

tranbangkhue

Tôi vừa nhìn thấy một đốm sáng bay lượn loanh quanh bên trong khu vườn thánh. Những giai điệu trầm đục từ đâu đó ngân lên rồi im bặt. Đốm sáng đó biến mất. Có thể nó đã tìm được nơi chốn khác để nương náu. Có thể nó cũng chẳng cần và muốn trở lại khu vườn nằm chĩn chện trên mặt đất, trong bóng đêm mờ tỏ kia nữa.
Trí não tôi mờ mịt, không thể nghĩ thêm được điều gì, ngoài những ám ảnh. Câu chuyện mà kẻ lữ hành hôm nọ dừng lại bên đường, hứa kể nốt cho tôi nghe chỉ còn là chót lưỡi đầu môi, bay theo gió tự hồi nào. Đến cả cái vẫy tay từ biệt cũng chẳng kịp nữa. Lão ra đi vội vã. Lão khuất dần sau dải nắng trưa đổ xuống thành một vệt đen dài lầm lũi. Cái bóng ấy tưởng chừng không thể nào tan đi được. Lão đi mất rồi, chẳng có bản thánh ca du dương thánh thót, hoặc bổng trầm lên xuống. Tôi biết điều đó. Tôi nghi ngờ những đốm sáng. Chúng chỉ như ngọn đèn dầu le lói, cháy leo lét phía sau màn đêm ở khu vườn thánh âm u. Chỉ có một bầu trời rực đỏ, chói lòa bao trùm lên toàn bộ cỏ cây, những mái tôn nóng rẫy bỏng rát khi tháng tư vừa chạm vào từng ngõ nhà, từng góc đường chảy nhựa, từng cái nhíu mày của một ông già đạp xích lô giữa phố.
Tòa tháp mang tên ánh sáng ngập ngụa vào buổi ngày đầy rẫy những thứ không thể nào định hình nổi. Tôi tưởng tượng ra thế. Và, thứ mà tôi hoặc không phải tôi đang nhìn thấy chỉ là cái mạng nhện đan bện vào nhau dày đặc như một mê cung quen thuộc đã được xây dựng từ lâu lắm rồi. Đôi mắt tôi mờ mịt nhắm tịt lại. Tôi nghĩ, nếu bịt cả hai mắt và lắng nghe bằng hai tai chưa chắc đã thấu cảm được thế giới, hay nhận ra được những luồng ánh sáng mờ ảo trong đêm tối, đâu đó quanh chỗ mà tôi đang ngồi, hoặc là nơi nào khác. Nhưng cũng có khi, tôi thấu cảm được. Đó là khoảnh khắc, như nốt trầm đũng nước ở mỗi khuông nhạc, khiến tôi đau đớn và xót xa ngập ngụa.
Linh hồn không hẳn là ánh sáng chói lòa, trong vắt, thanh khiết. Những linh hồn bị vấy bẩn, chúng thường tồn tại dưới dạng đùng đục hoặc mờ mịt đen đúa, khó tan dưới bầu trời. Tôi đã thấy những linh hồn nặng trĩu trong bóng đêm, trong khu vườn thánh. Đâu phải chết là hết. Mẹ tôi thường bảo: đừng bao giờ đánh mất linh hồn, đừng bao giờ tráo đổi linh hồn cho quỷ dữ. Tôi bướng bỉnh cãi mẹ: nếu như thể xác còn nhiều ham muốn đến thế, làm cách nào để người ta gìn giữ lấy linh hồn. Mẹ cười hiền, tay khuấy nồi cám lợn, không ngẩng đầu lên, chỉ thì thầm: linh hồn sẽ được cứu rỗi. Tôi ngước lên bầu trời đêm đầy sao, một vệt sáng vụt qua. Tôi bất chợt nghĩ đến nụ cười của bố trong giây phút hấp hối…
Thỉnh thoảng, linh hồn cũng làm một cuộc dạo chơi bằng cách hóa thành những đốm sáng lang thang, lúc mờ lúc tỏ, lúc lấp lánh đẹp như những vì sao trên bầu trời đêm. Nhưng có khi tôi phát hiện, đôi lúc nó lại đen đúa một màu buồn thảm, u uất. Linh hồn chưa được giải thoát. Linh hồn vẫn sống. Người ta cho rằng, chết mới về với cát bụi. Tôi nghe bạn nói: khi đang sống cũng có thể là cát bụi rồi. Vậy, tôi cả quyết, linh hồn nên về với cát bụi ngay khi còn sống.
Tôi lẩm bẩm tự hỏi. Ai dám nhốt những đốm sáng ấy lại, trừ phi chúng tự nguyện bị giam cầm. Chết chưa phải là hết. Thế giới này, chắc là, không chỉ có âm – dương, không chỉ có ranh giới của thể xác và linh hồn. Đừng đổ lỗi và quy kết bằng cách nghĩ rằng: ngoài chúng ta, ngoài cái bản thể sinh học tồn tại dưới dạng nào đó, thì còn có những thế lực siêu nhiên khác. Phải chăng, đôi khi chính chúng ta, lúc mệt mỏi và thờ ơ bên đời tấp nập, tạo ra nó bằng ảo tưởng, rồi từ đó sự thật tạc thành? Và sau đó, chính sự thật lại khiến ta luôn hãi hùng khiếp đảm.
Bỗng dưng, tôi nảy ra cái ý định muốn nhìn thấy những đốm sáng chập chờn, chỉ để xác minh điều mà tôi đang suy đoán liệu có đúng hay không? Tôi đến vườn thánh quen thuộc, chỉ duy nhất đêm nay thôi. Tôi đã thấy nó. Cái đốm sáng vừa kịp lóe lên, rồi bay vút vào không trung. Tan biến. Tắt lịm. Trả lại cho đêm sâu một bản giao hưởng u ám trong khu vườn đầy những thập giá đang chen chúc lẫn vào từng vuông cỏ.
Không chỉ có xác thịt mới chết. Linh hồn là thứ mà quỷ dữ thường khao khát nhất. Tôi biết là thế. Bởi lẽ, tôi đã thấy một đốm sáng khác biến thành luồng khói đen trong chớp mắt. Tôi nghe đâu đây có tiếng cười rờn rợn ma quái của người đàn bà có đôi mắt u tối vừa đi ngang bên ngoài vườn thánh. Nhà Chúa không phải linh hồn nào cũng được phép bước chân vào. Mặc dù Chúa vẫn luôn thong thả làm công việc quen thuộc của mình, cứu rỗi các linh hồn.
Dưới những ngôi mộ đá chỉ là xác thịt đang phân hủy hoặc đã thành mấy nhúm xương vụn. Tôi nghĩ thế và đứng dậy. Giọt nước mắt của mẹ trĩu xuống, nhưng ấm áp bao dung. Nụ cười của bố lấp lánh như vệt sáng vừa quệt ngang bầu trời đêm. Sự đơn độc níu lấy linh hồn trong vũ trụ thẳm sâu này và không cho phép nó biến mất vĩnh viễn.

Trần Băng Khuê

MƯỜI HAI GIỜ KHUYA

authiphucan

nỗi bất an chồm dậy
quá khứ bịt mắt
dòng máu luân lưu qua trái tim bầm dập

những kẻ đã đi qua đời tôi
đã vào cuối đường hầm
cuộc chia ly có trật tự

tiếng than khóc trên những nấm mồ
bao giờ cũng vậy
là khóc cho chính mình

tiếng gõ của đồng hồ
thắp nén nhang khuya
tôi gọi hồn ảo ảnh

thời khắc giữa hai miền
là cái chợp mắt bất chợt
cái ngáp nửa đêm

làm giật mình chiếc bóng . . .

ÂU THỊ PHỤC AN

Nhật ký mở lần thứ 141

tohai

XIN BÁI PHỤC DÂN LÀNG VĂN LẠI GIỎI… VÕ
HƠN MỌI DÂN NGHỆ MÀ LẠI…”SĨ” MỘT CỤC!

(Ngày 21/5/2015)
Đã mấy năm nay. mình ôm mấy cục thắc mắc lớn với “phe ta” mà không biết nên làm gì, viết gì để giữ được tinh thần “đoàn kết nội bộ”.
Đó là:
1- Chẳng hiểu nổi vì sao có khá đông các vị đảng viên có tên tuổi, đã ba lần chín lượt hết “kiến nghị” đến “kính gửi”cho các bác lãnh đạo cao nhất của đảng họ để yêu cầu:
a-/ Từ bỏ ngay cái mục đích xa vời “chủ nghĩa xã hội” “ đi không bao giờ đến” mà họ đang kiên trì dắt dẫn toàn dân vào con đường bế tắc, thua kém cả Lào và Căm đến nơi rồi đi!
b-/Nên đổi tên đảng, đổi luôn tên nước mà dùng những cái tên mà bác Hồ đã đặt khi khai sinh đất nước !
Tóm lại là phủ nhận con đường mà đảng các vị ấy đi đã sai bét và CẦN PHẢI THAY ĐỔI NGAY nếu muốn lấy lại uy tín trong dân chúng!
Có điều , không một vị nào dám đi tiên phong “xin rút lui khỏi cái đảng mà các vị ấy đã phủ nhận để làm gương lôi kéo cả trăm, ngàn, vạn….đảng viên khác”….như mình mơ ước!
2-/Chẳng hiểu nổi tại sao một số nhà văn mình rất thân quen đã dám đứng ra vận động thành lập “Văn đoàn độc lập”mà lại có chủ trương “cùng song song tồn tại, cùng thi đua cạnh tranh lành mạnh” với “ Hội Nhà Văn của đảng “ mà cái đảng toàn trị này lại có thể “cho phép” được sống sót để cùng “song song tồn tại” Một “chiến thuật” mà, cho đến hôm nay thì đã rõ: A25 đã “bắt bài” ngay từ đầu?
Nhưng cuối cùng, một trong hai nỗi ưu tư của mình đã được giải tỏa trước khi giã từ cuộc đời gần cả thế kỷ làm “văn nghệ nhi nhô” này đã đến
: 20 nhà văn thứ thiệt ,(tất cả đều gần như vào loại cả nước biết tên, thế giới biết mặt), đã thẳng thừng tuyên bố : Giã từ vĩnh viễn cái tổ chức “chính trị và nghề nghiệp”của Đảng vô sản nhưng lại đòi làm nghệ thuật như người có ăn học tử tế! Cái tổ chức được nuôi sống bằng tiền của dân để…..suốt đời không có được lấy một mẩu “tác phẩm xứng tầm thời đại” dù hàng năm,chi cả núi tiền treo giải “leo cột mỡ” hoặc…”liếm chảo” (như thời còn ông Tây Phú-Lãng-Xa treo giải cho dân chết đói may ra kiếm được bát cháo mỗi năm đến ngày quốc khánh Tây cát-tó-gi-giê-14/7), !Kèm với việc khen thưởng ba vạ hàng năm gây kiện cáo,là việc… phân phát bạt mạng đủ thứ danh hiệu (cũng kèm tiền ) để rồi…có dịp nội bộ lại vạch mặt nhau, lộ ra đủ kiểu bộ mặt vô lại bất tài, thậm chí “tỷ phú cơ hội” muốn mang danh “nhà văn” như Hoàng quang Thuận!
Nghĩa là cái hội mà nhiều người quá kinh tởm đã (hơi quá lời) khi gọi nó là “cái hội sọt rác!”. Vậy mà, những kẻ có quyền lực văn nghệ trong tay cứ vung tay làm liều theo đúng chỉ đạo của những kẻ chẳng viết nổi một câu văn nào bao giờ!
Cú đánh đầu tiên vào chân, thiện, mỹ….vào sự vùng lên “không chịu uốn cong ngòi bút” là việc phủ nhận sự đổi mới ….giả vờ của lãnh tụ cả đời hy sinh cho “kách mệnh” nên có hơi…ít học bậc nhất, nhì….Nguyễn văn Linh. Đó là việc phủ nhận toàn bộ nhũng tác phẩm được đánh giá cao cái thời chính ông Lĩnh văn Nguyên hô hào…” mị” văn nghệ sỹ “Hãy tự cứu mình trước khi….trời cứu”. Hậu quả là…..Tổng Biên Tập báo Văn Nghệ bị cách chức do cho đăng hàng loạt những bài “có hại cho đường lối văn nghệ của đảng”….??? Nào là: “Cái đêm hôm ấy đêm gì” của Phùng Gia Lộc., “Phẩm tiết” của Nguyễn Huy Thiệp…và nguy hiểm hơn cả là “Nỗi buồn chiến tranh” mà chính Tổng Biên Tập Nguyên Ngọc gọi là: “Thành tựu cao nhất của thời kỳ đổi mới” để rồi nhận lấy cái quyết định mồm “cách chức Tổng Biên Tập”…Tiếng tăm của :NỖI BUỒN CHIẾN TRANH” bay xa ngay từ những năm mới ra đời (1981) đến mức thế giới tư bản cũng hùa theo gọi “ Đó là tác phẩm viết về chiến tranh hay nhất” của cả thế giới”! Và Viện Hàn Lâm Thụy Điển thì đã đề nghị trao giải Nobel về văn chương!Ngay sau đó là hàng loạt nhà xuất bản nước ngoài đều cùng nhau, chẳng ai báo ai dịch và giới thiệu “Một phía Tây không có gì lạ” mới! Nổi bật là bản dịch “The sorrow of war” của của Frank Palmos…!.
Đến đây thì A25 không thể chịu được nữa rồi..Anh Trung tướng Dương Thông và thiếu tướng Khổng Minh Dụ phải vào cuộc thôi !Phải dập tắt mọi luận điểm khác biệt với “ý trên” : Không có đổi mới, đổi cũ gì về văn nghệ xất! Chính ông Võ văn Kiệt, người có tiếng là cởi..mở (tí ti) đã nói : “Dù kinh tế có 4,5 thành phần nhưng văn hóa-văn nghệ chỉ có một mà thôi!”
Còn ông chỉ đường “to” nhất và nắm quyền sinh sát cả từ tác phẩm đến sinh mệnh mọi văn nghệ sỹ thì vội uốn nắn: “Thời đại là thế nào hè?…Thực tế của ta bây chừ là rất đẹp,có thể nói là…tuyệt diệu .Tại sao các đồng chí ngại ghi chép hở?Thậm chí sao chép cũng đẹp!”(ghi chép của nhà văn Đào xuân Quý lời của Tố Hữu tại cuộc họp các nhà văn đảng viên tháng 6/1979)
Còn Tống Biên tập báo Lao Động Tống văn Công, ngay khi chưa “bị” mất chức và ra khỏi đảng cũng đã từng viết ngay trên báo đảng: “Cỗ xe báo chí trên con đường tự do, cần bao nhiêu tay lái?” Câu hỏi này chắc sẽ làm cho các quốc gia có nền báo chí tự do vô cùng kinh ngạc!
Anh Nguyên Ngọc cũng vấp bước trên con đường tự do ấy, chuyện báo Văn Nghệ chỉ là giọt nước tràn ly. Sau ngày đất nước thống nhất, nhà văn đã hy sinh cả tuổi trẻ, ấp ủ “Đề dẫn tự do sáng tạo những tác phẩm xứng tầm thời đại” nghĩ rằng, đã đến lúc nói to ước mơ cao cả đó với đồng nghiệp. Anh đã nhầm! Tiếng nói của quyền lực lập tức át giọng anh !
Còn có thể kể ra nhiều điều “bất trị đáng yêu ”khác của giới nhà văn chân chính và có lương tâm, biết tự trọng và tự ái nữa …mà các giới “sỹ” khác còn lâu mới có cái gan nói lên nỗi đau của cuộc đời làm văn nghệ theo chỉ dạo của những kẻ…”ngoại đạo”, thậm chí…..chuyên “phá đạo”bằng cách “tảng lờ” những hoạt động văn hóa gì mà họ cho là “vô thưởng vô phạt”,cố tình hay ngu dốt khuyến khích văn hóa-nghệ thuật đi vào những cái mà thế giới tư bản đã nôn ọe ra từ lâu,như “triển lãm lông và chim” của chính tác giả, như nghệ thuật…tự sắp đặt tác giả vừa đi ị vừa đọc sách cho khán giả thưởng ngoạn hoặc gần đây nhất một cuộc biểu diễn ca nhạc lấy tên vô cùng….bất cần đời… “.PHÁ!”. Tất cả đều…”xong ngay”miễn là không dính gì đến….. “chính trị”.(Họ đâu có biết những trò cởi truồng tự triển lãm , những thứ “destroy”(Phá!), “no future”(Không ngày mai) hoặc “vive sa majesté le bruit’(Hoan hô thánh thượng tiếng ồn) là sản phẩm của thời mồ ma những tay G.Morrisson,J&gt,Hendrix, Osborn, N.T.M ,các nhóm gangtarap…. đã bị lên án và vứt vô sọt rác từ những thập kỷ,70, 80 của thế kỷ trước rồi!
Cái số đông im lặng “không nói chỉ làm”(majorité silencieuse) này ,trong mọi giới không tồn tại bằng… chữ nghiã như các nhà văn , té ra nó lại đang có một ý nghĩa khá…bạt mạng : “Kệ mày muốn nói gì thì nói, việc tao, tao làm”! Kể ra thì cũng….là một chiêu võ khá độc …..
Chỉ tiếc rằng mọi sự “im lặng mà mần ăn” này nó đã cứ thế kéo dài và… thẳng tiến không có gì ngăn nổi! Hậu quả là hiện nay :Giá trị bị đảo lộn, hồn dân tộc đã dần biến mất…trên thị trường văn hóa-văn nghệ !Đẹp-Xấu, Giả-Thật, Đúng-Sai lẫn lộn đến mức người ta còn bào chữa cho sự tự do biểu lộ tình cảm khi khóc vì được nhìn thấy các ngôi sao Kpop hoặc hôn hít cái ghế mà các ngôi sao này vừa ngồi thì khác chi các cổ động viên bóng đá? Cũng vui buồn, cười khóc với cầu thủ mình yêu mến, vậy tại sao lại lên án lớp thanh niên của thời đại mới này???(Thảo luận công khai trên báo T.Trẻ rồi….không kết luận sau cả tháng trời)
Giữa cái tình hình ít chữ nghĩa để bảo vệ cho một nền văn nghệ tự do không bị ai giắt mũi,
Giữa cái tình hình mạnh ai tìm cách sống ,cách tồn tại riêng ,sáng tạo riêng mà không động chạm tới ai, một sự vùng lên của những nhà văn khi biết được ngón đòn chuyên chính đã được mang ra áp dụng trong cuộc gạch tên đi đại hội 9 lần này
Một số các nhà văn khả kính đã nổ những phát súng đầu tiên là công khai phủ nhận cái tổ chức vô lý, vô dụng và….vô duyên của cái “Hội chính trị và nghề nghiệp” mà họ đã trót chui đầu vào bấy lâu để rồi té ngửa ra rằng .. “không phải là hội viên để viết cho hay như các thứ “phức tạp”, “thoái hóa” Bảo Ninh, Hoàng Minh Tường, Nguyễn Duy, Nguyễn quang Lập,.. mà chỉ cần viết sao cho vui lòng mấy tay không biết viết! ”
Hoan hô! hoan hô những nhà văn đã xóa đi cho tôi “Nỗi buồn Hòa Bình”!
Riêng đối với các vị “không thích tuyên bố”, “không thích ầm ĩ”,.”không thích xì-căng-đan,” “kê-me-ít thứ thiệt” thì mình chỉ mong sao;
-Các vị cố gắng viết chim, hoa, lá, cá,… cái gì cũng được nhưng đừng làm gì có hại đến nhân cách ,lối sống và tư tưởng tình cảm của lũ con cháu chúng ta!
-Cũng đừng bắt chước bên Tầu, “phá thối cho nó thối đến mức phải vứt bỏ”(Vệ Vệ) bằng những thứ văn hóa “siêu tự do”kiểu loại sách ngôn tình như “Đồng lan cộng hôn” của Diệp Lạc Võ Tâm hay “Nở rộ” của Sói sám mọc cánh!…của nước bạn “đồng lý tưởng” đã được dịch và phổ biến ngon lành ở nước ta…
Tốt nhất là : “CỨ YÊN TÂM SỐNG BẰNG SỔ HƯU CỦA MÌNH” Không cần hoặc không thèm tham gia bất cứ cái gì gọi là hoạt động của cái Hội chính trị và nghề nghiệp của mình nữa !
Được thế cũng là ủng hộ cho các nhà văn đi đầu trong cuộc đấu tranh thoát khỏi sự cai quản toàn diện của cái gọi là đảng cộng sản VN lắm rồi!
Một lần nữa xin mở mũ cúi chào các nhà văn dũng cảm, khảng khái đáng kính của tôi! Mong sao con số 20 sẽ có thêm một con số 0 nữa thôi thì….chắc..những người chỉ huy tối cao mấy cái hội hè của họ,dù muốn hay không cũng phải xét lại cái sự tồn tại hay không tồn tại của những tổ chức vô tích sự mà chính họ đã sai lầm tạo ra và bao cấp nó đến tận ngày nay giữa lúc chính họ cũng đang loay hoay “đổi mới cơ chế” nhưng đang bí rì rì về lý luận lẫn thực tế của một xã hội nửa dơi nửa chuột này./.

TÔ HẢI

Trần Hoài Thư Và ‘Xa Xứ’

dangphuphong

 

10404203_780536348728180_8887881635005580515_n

“Xa Xứ”, thơ của Trần Hoài Thư do Thư Ấn Quán xuất bản là một tập thơ, trước hết: Đẹp. Tranh Bìa của Tống Phước Cường (cũng là một trong những họa sĩ như Thân Trọng Minh, Nguyễn Trọng Khôi, Đinh Cường…có tranh phụ bản cho tập thơ). Tập thơ in hoàn toàn bằng giấy láng, dày, tốt với 38 đoạn thơ cùng 38 phụ bản tranh màu. Tác giả đã rất công phu tìm , chọn 38 bức tranh rất ư liên quan đến 38 đoạn thơ trong tập. quả là một điều thú vị. Một tập thơ, hình thức hết sức công phu, trau chuốt, trình bày trang nhã. Tác giả in chỉ để tặng.
Trần Hoài Thư. Một khuôn mặt rất quen thuộc trong giới cầm bút của Nam Việt Nam từ thập niên 60, một thành viên trụ cột của nhóm Ý Thức. Anh là cựu sĩ quan và là cựu phóng viên chiến trường của QLVNCH. Tù cải tạo 4 năm. Vượt biển , định cư tại Hoa Kỳ 1980. Về hưu sớm, dành toàn thời gian cho việc sưu tập di sản văn học miền Nam , cơ sở Thư ấn quán và tạp chí văn học Thư Quán Bản Thảo. Anh đã xuất bản hơn hai chục tác phẩm thơ, văn. Có thể nói 38 đoạn thơ trong tập ( đoạn ngắn nhất là 2 câu, dài nhất là 8 câu) là 38 bài thơ cùng có tên là “Xa Xứ”. Nói một cách khác bài thơ “Xa Xứ” của Trần Hoài Thư dài 38 đoạn.
Gạt lệ, từ bỏ quê nhà, đối diện với may rủi. Rủi nhiều hơn may. Cho dù đến được với bến bờ tự do. Trần Hoài Thư cũng như những người yêu Việt Nam, vẫn bị cái rủi bao vây, khống chế. Đó là cái rủi của một con người bị mất quê hương
Từ bên này địa cầu, Trần Hoài Thư, luôn luôn mang nặng một nỗi buồn xa quê. Nỗi nhớ mang tên mưa, những cơn “mưa tối mặt”, liên quan đến sinh tử của người lính chiến:
“Tây Nguyên đèo ải ngăn sinh lộ
“Trăm đứa lên có mấy kẻ về
“Giày trận bám bùn mưa tối mặt”

( “Xa Xứ”, tr. 6”)
Nỗi nhớ mang tên cây như rễ cây đa cổ thụ “đâm lòng đất”:
Cây đa. Ngàn rễ đâm lòng đất
“Như tấm lòng người với Bồng Sơn
“Đa bám làng, tôi đi bám đất
“Đất và làng, thương quá quê hương….”

(Xa Xứ, tr.8).
Nỗi nhớ của anh còn mang tên nhiều thứ nữa. Những cái tên ấy đều mộc mạc chân quê. Như là : “cây chuối”, “con Bìm bịp”, “lúa Chiêm”…
Những lần hành quân, người lính chiến đang tuổi thanh niên, không thể không vấn vương trong lòng mái tóc của người con gái tuổi dậy thì trong vụ Chiêm vàng bát ngát.
Uống một cốc cà phê, nhớ bạn. Hình ảnh cái ly xây chừng của cà phê bít- tất bỗng sống dậy trong anh. Lặng lẽ nhưng sừng sững. Ảo ảnh nhưng chừng như tác giả có thể nắm bắt:
“Cốc xây chừng ta để lại Việt Nam
“Chắc sẽ nguội và đóng thành lệ đá”

(“Xa xứ”, tr. 20)
Cây chuối là hình ảnh của quê hương mình, tình cờ thấy nó ở vườn ai (!) bên đường, anh không khỏi bàng hoàng thảng thốt, dừng xe :
Bụi chuối nhà ai bên đường đã mọc
“Chuối mẹ chuối con, trời hỡi quê nhà!

(“Xa Xứ”, tr. 22)
Tình cờ hai kẻ xa xứ gặp nhau . Rủ nhau vào quán:
Hỏi em: em xa xứ
“Hỏi anh : anh xa nhà
“Mời em vào quán vắng
“Uống thêm màu mây xa.”

(“Xa Xứ”, tr. 36)
Đây là đoạn thơ hay nhất trong thi tập Xa Xứ.
“Em xa xứ/ Anh xa nhà/ Mời vào quán vắng”. Nếu để kể lể, chia sớt nỗi buồn lưu lạc thì chắc tác giả chẳng nói làm chi. Chỉ để “ Uống thêm màu mây xa”. Câu thơ như suối nguồn tuông chảy, làm ngập lụt cả không gian bằng nỗi nhớ vợi vời. Uống thêm màu mây xa là uống một thứ thuốc độc thơ mộng. Một lối tự tử tuyệt vời. Chữ “thêm” và chữ “xa” là 2 chữ đắc địa . Không gian của 4 câu thơ là không gian tuyệt đối tĩnh lặng cô đơn. Chao ôi, trống vắng của kiếp người như vậy có thể nói là cùng kiệt!
Cái tĩnh lặng cô đơn ở đây là chính do tự lòng mình mở ra dẫu cho đang đứng giữa phố xá đông người. Cảnh quang không tĩnh như trong bài Tĩnh dạ tư (1). Nó khiến ta nhớ đến bài Ức Đông Sơn:
“Bất hướng Đông Sơn cửu
“Tường vi kỷ độ hoa?
“Bạch vân hoàn tự tán
“Minh nguyệt lạc thuỳ gia?”.

Lý Bạch.

Dịch nghĩa(ĐPP): Nhớ Đông Sơn
Lâu không đến Đông Sơn
Hoa tường vi đã nở mấy lần?
Mây trắng hợp rồi tan
Trăng sáng lạc vào nhà ai?

Lý Bạch nhìn mây. Trần Hoài Thư uống mây. Cả hai bài thơ đều không đề cập đến nỗi nhớ, nỗi cô đơn nhưng đều gây cho người đọc bàng hoàng đến lặng người vì nỗi cô đơn cùng cực.
Trần Hoài Thư biết rõ mình “ đứng giữa nỗi buồn lịch sử” nên đành phải ngậm ngùi với thân phận mất mát dù thỉnh thoảng cũng muốn tìm “có exit nào để bớt cô liêu” (trg 58).. Nhưng, tất cả chỉ là chiêm bao:
“ … Ta về chứ đêm qua
“Ta vẫn về, rất thầm lặng thiết tha
.” (“Xa Xứ”, tr. 78)
Kẻ lưu vong mà cứ canh cánh bên lòng nỗi mất mát thì sẽ trở thành một người chung thân bất mãn. Hay ít ra là một kẻ mang bệnh trầm cảm. Mong nhà thơ chúng ta tìm được chỗ, nơi, chốn thoát thân.
____
ĐẶNG PHÚ PHONG

Chú thích:
(1)“Tĩnh dạ tư” của Lý Bạch.
Sàng tiền minh nguyệt quang
Nghi thị địa thượng sương
Cử đầu vọng minh nguyệt
Đê đầu tư cố hương.

.

.

Biếc phố

phamthienthu

Lắng nghe từng sợi mưa dài
Cơn mây xõa tóc bên ngoài hè xanh
Hạt nào biếc phố long lanh
Hạt nào cẩn ngọc trên nhành tay hương.
Lắng nghe ủ rũ con đường
Mùa thu lấp ló trên tường rêu hoang
Lắng nghe đôi ngọn lá vàng
Xạc xào như tiếng thời gian thở dài
Lắng nghe đôi cánh mày ai
Dường như đậm nét cảm hoài bâng khuâng
Lắng nghe hồn nhẹ lâng lâng
Cảm ơn! Từng sợi tóc bồng bềnh mưa.

Phạm Thiên Thư