NGƯỜI CHỒNG MỘT ĐÊM!

khuatdau

Năm ấy, tôi mười bảy tuổi. Ở đất Bình Định, tuổi đó đã có người đi lấy chồng. Như mẹ tôi, như cô tôi. Tệ lắm cũng đã có người đi dạm. Nhưng tôi thì chưa. Tôi đang học lớp bảy nên có nhiều mộng ước hơn mẹ và cô. Tôi chưa nghĩ ra người chồng tương lai của mình sẽ như thế nào, nhưng ít ra cũng hơn cha tôi và dượng tôi. Đó là những người đen đúa, tuy không đến nỗi xấu xí, nhưng ai cũng già trước tuổi. Quanh năm gần như chỉ mặc quần đùi để lộ đôi chân khẳng khiu mốc thếch. Đó là chưa nói tới cái bệnh sốt rét họ mang về từ rừng núi xa xôi sau khi đi làm nghĩa vụ dân công, tức là đem gạo muối tiếp tế cho bộ đội, hay đi tải đạn. Người nào mặt cũng tái mét, da dẻ vàng vọt như không còn một hột máu.
Thực ra, mẹ và cô tôi cũng chẳng hơn gì. Ai cũng một bộ đồ đen bạc phếch, cũng một búi tóc thiếu chải gỡ, trông xơ xác như một mớ râu bắp. Lũ con gái chúng tôi có khá hơn vì đang là tuổi dậy thì, tự nhiên da thịt hồng hào dù phải ăn uống kham khổ.
Năm lớp bảy là năm cuối cấp hai, bọn tôi được chọn đi dự trại liên hoan mừng chiến thắng ở Bồng Sơn. Cùng đi với chúng tôi còn có các cô gái chưa chồng trong hội phụ nữ. Vì đã hòa bình, chúng tôi được phép ăn mặc đẹp. Nghĩa là được đội nón trắng không phải quét bùn, được khoe chiếc kẹp mạ bạc óng ánh trên mái tóc. Ai khá hơn được mặc áo in hoa cổ tai bèo hay áo trắng khoét cổ trái tim. Chúng tôi ngắm lẫn nhau, khen lẫn nhau. Biết mình đẹp hơn khi nhìn vào mắt người khác, chứ cái gương tròn nhỏ như chiếc bánh bèo chỉ đủ để soi mặt thôi, làm sao thấy được toàn thân như khi đứng trước gương. Nhưng thế cũng đủ vui quá rồi, nhất là lần đầu tiên được đi xe cam nhông ray, chạy trên đường sắt êm như lướt đi trong gió.
Chúng tôi được bố trí ở những trại đã được dựng sẵn dưới bóng dừa. Cơm nước cũng đã có người lo. Trước mặt trại là một đống củi gộc xây hình tháp, hứa hẹn một đêm lửa trại cháy đến tận sáng. Phía bên kia, cũng là một dãy trại đã được dựng sẵn dành cho bộ đội. Họ cũng là những người chưa vợ được chọn từ các tiểu đoàn.
Thế là chúng tôi cứ việc vui chơi, nhảy múa, hát ca. Chúng tôi làm quen nhau thoải mái, cứ ưng ý là bắt cặp nhau mà không sợ bị phê bình này nọ. Ai, chứ với bộ đội trẻ trung mà được thân quen với họ, là ước mơ thầm kín của lũ con gái thời ấy.
Chúng tôi ở đó ba ngày vừa đủ cho trai gái bén hơi nhau. Rồi sau những màn nhảy xôn đố mì chân nọ đá chân kia, nhảy sạp cắc cắc bụp bên đống lửa hồng, tất cả lặng lẽ kéo nhau vào rừng dừa, nơi ánh sáng không còn rõ mặt, cứ mỗi gốc dừa là một cặp ngồi tỉ tê tâm sự. Rồi chúng tôi làm cái việc gọi là yêu nhau tại chỗ. Nếu ai đó không muốn thì cũng đành chịu, chứ biết thưa kiện ai.
Khi Mỹ đến, sau những trận đánh khốc liệt, bọn họ tràn vào các quán bar cũng là để mừng chiến thắng hay trút nỗi buồn thua trận trên thân xác của các gái bán bar mà thôi. Có điều họ phải trả tiền, mà tiền đô, còn bộ đội thì không ngay cả tiền tín phiếu như giấy vàng mã!
Rồi họ xuống tàu đi tập kết, mang theo những chiếc khăn do chúng tôi thêu làm kỷ niệm. Còn họ để lại cho chúng tôi một thứ nhiều hơn chiếc lược nhôm hay lược gỗ được cắt gọt công phu, một thứ có thể họ không ngờ là cái bào thai trong bụng mỗi đứa.
Rất nhiều đám cưới được tổ chức chớp nhoáng. Không hai họ, không đón đưa, chỉ có thủ trưởng đứng ra tuyên bố hai người là vợ chồng. Thế là xong, như cha đạo thay mặt Chúa Trời. Dẫu không mang thai họ cũng đã là những thiếu phụ mòn mỏi đợi chồng dù chỉ một đêm, nhưng có nghĩa vụ lo cho cách mạng ròng rã suốt hai mươi năm sau đó.
Tôi được mẹ cha hiểu ra cái trò mừng chiến thắng bằng cách cướp đi cái phần trinh trắng nhất của đời con gái họ, sau khi đã cướp lúa gạo vòng vàng bảo là để cho cuộc kháng chiến thành công, nên đã nén cái đau cái nhục xuống đáy lòng, cho tôi vào trốn ở Sài Gòn.
Từ một xứ nhà quê, lại là vùng Việt Minh, đến một thành phố giàu có đông đúc, tôi hết sức ngỡ ngàng. Nhưng rồi tôi cũng quen dần, người Sài Gòn xởi lởi, tốt bụng, có đủ chỗ cho tôi kiếm sống. Chỉ khổ là cái bụng mỗi ngày một to, lắm khi cũng phải lao đao vì nó. Tuy vậy, đến ngày sinh, cũng có người sốt sắng đưa tôi vào sinh ở nhà thương thí.
Bao nhiêu cực nhục rồi cũng qua đi. Ơn Trời, tôi sinh được một cháu gái. Đó là kết quả của mối tình một đêm bên gốc dừa!
Ngồi ngắm con ngủ, tôi cố nhớ chút gì gợi lại hình bóng của người đã cùng tôi tạo ra nó, nhưng không tài nào nhớ nổi. Tôi chỉ nhớ cái mùi mồ hôi anh ta, nhớ tiếng thở hào hễn và nhiêu đó cũng đủ làm cho tôi cảm thấy xấu hổ, tủi thân. Chiếc lược mà anh ta tặng tôi trở thành một kỷ vật đắng cay. Tôi không trách anh, cả tôi cũng không tự trách mình, tôi chỉ trách ai đó đã lợi dụng tình yêu cho dù là xác thịt để đạt tới những mục đích sâu xa của họ.
Cùng một lứa với tôi, những cô gái tươi non khi ấy, sau này đã là những người nuôi giấu cán bộ, đào hầm vót chông, mua thuốc trụ sinh, chuyển vũ khí bằng cách khoét rỗng ruột bí bầu nhét đạn hay lựu đạn vào, khi bị bắt dù bị đánh đập tra khảo đến thừa sống thiếu chết vẫn không chịu khai…Để đến khi hòa bình, nhiều người cũ hoặc làm ngơ coi như không biết, hoặc có biết cũng chỉ lén lút mà gặp nhau một lần rồi thôi, vì sau lưng họ còn có những người đàn bà xứ Bắc không dễ gì trả lại chồng. Thì thôi đành vậy, vui chỉ một đêm mà buồn khổ suốt cả một đời!
Sau ngày 30 tháng tư, như bao người miền Nam, hai mẹ con tôi cố sống lây lất qua ngày, chạy chợ trên bán chợ dưới, bị quản lý thị trường rượt đuổi như chó săn chuột.
Một lần tôi bị bắt, bị tịch thu mấy bao gạo mua từ ga Biên Hòa. Nếu tôi bỏ hết hàng họ mà “xéo đi” theo lệnh họ, thì tôi đã không phải bị giam ở trụ sở phường. Đằng này tôi gào khóc, chửi rủa, cào xé mũ áo nên họ tống tôi vào như một mụ điên. Sau cùng, họ bảo tôi phải viết kiểm điểm thành khẩn nhận lỗi đã xúc phạm cán bộ, họ mới chịu thả ra.
Thì viết!
Nhưng cái nỗi đau mất của, cái đói đang chực chờ khiến cho tôi cứ ngồi mãi mà chẳng viết được dòng nào, ngoài mấy chữ: Tôi tên là…
Lúc ấy có một người mặc đồ bộ đội không biết cấp bậc gì đi ngang qua, thấy tôi ngồi bên bàn với tờ giấy ở trước mặt liền chồm tới xem thử. Bỗng người ấy hỏi, chị tên thật đó à? Tôi nói, chứ chẳng lẽ tôi viết tên giả. Lại hỏi, chị quê ở Bình Định phải không? Tôi nói, ông định tống tôi về ngoài đó chứ gì? Ừ, tôi là gái Bình Định, theo chồng vào đây không được sao? Người ấy nói, đó không phải là việc của tôi. Giờ đã tối rồi chị về đi. Nhưng ngày mai chị nhớ đến đây gặp tôi. Có thể chúng tôi xét mà trả lại hàng cho chị. Nhớ nhé, chị phải tới không thì hỏng cả đấy.
Thế là sáng hôm sau tôi lại tới dù hy vọng rất mong manh. Lại thấy ông ta đứng đợi lù lù ở trên thềm. Ông ta ra hiệu cho tôi vào phòng. Dẫu sao nói chuyện với những người đứng tuổi như ông cũng dễ chịu hơn là với bọn lau nhau mới hùa theo cách mạng. Ông ta chỉ ghế mời ngồi, nhìn tôi, rồi kéo từ hộc bàn ra một quyển sổ. Ông đặt lên bàn, lại nhìn tôi kèm theo một nụ cười khá tử tế. Ông lấy từ trong sổ ra một tấm hình ố vàng đẩy về phía tôi. Đó là tấm hình chụp một anh bộ đội và một cô gái đứng bên gốc dừa.
Trông thấy tấm hình, tôi xây xẩm mặt mày, toàn thân lạnh cóng. Tôi nhớ lại những đêm ở Bồng Sơn, nhớ cái phút giây điên cuồng dại dột. Và sau đó là thấp thỏm lo cha mắng mẹ chửi. Rồi kinh hoàng khi nghĩ tới lúc Tây tiếp thu, chúng sẽ thọc lưỡi lê vào bụng những người vợ Việt Minh mà lôi đứa nhỏ ra ngoài!
Tôi nghe ông ấy hỏi: chị có biết hai người trong tấm hình này không? Tôi bặm môi một lúc rồi nói: không biết. Chị không nhớ cái đêm liên hoan trong rừng dừa hồi đó sao? ông lại xoáy thêm vào nỗi đau của tôi. Thế là bao nhiêu uất ức, bao nhiêu đắng cay, cô độc trong hơn hai mươi năm như một con sóng lớn sắp đập vào bờ, tôi muốn đứng dậy chồm qua bàn, nhìn sát vào mặt ông mà gào lên: nhớ chứ, nhớ ông đã làm gì tôi, đã hứa hẹn thề thốt rồi bỏ tôi mà đi đến hơn hai mươi năm, giờ về đây cướp mấy bao gạo của mẹ con tôi. Ông có biết tôi đã khổ như thế nào mới có được nó không? Ông biết tôi là ai sao không bảo lũ lâu la kia đem trả gạo lại cho tôi. Ít ra con ông cũng còn có được hột gạo mà ăn. Các ông vào đây cướp thì có chứ quản lý thị trường cái nỗi gì.
Tôi tức nghẹn, nhưng vẫn cố giữ bình tĩnh nói với`giọng rắn rỏi chính tôi cũng không ngờ: nếu tôi đến đây chỉ để ông tra hỏi như thế này thì tôi thấy không cần phải ở lại nữa! Khoan đã, ông cũng đứng lên nói, giờ, chị có thể đem mấy bao gạo về! Nhưng tôi trở nên cay nghiệt: đó không phải là gạo của tôi, mà là của cướp giựt. Các ông cứ nhập kho rồi chia nhau!
Tôi ra khỏi trụ sở phường, người lảo đảo cứ như say. Tôi đi tới đi lui, đi hoài cho đến khi mệt lã mới nằm dài trên một ghế đá ở công viên. Tôi nghĩ đến ngày mai, đến con tôi. Đã có lúc tôi muốn chạy đến trụ sở phường gặp ông ta, bảo rằng tôi biết hai người trong tấm hình đó. Tôi hình dung ra cảnh ông ôm choàng lấy tôi và cả hai cùng khóc. Ông sẽ bảo với mọi người trong cơ quan, đây là người vợ ông đã tìm lại được. Còn tôi sẽ bảo với con, đây là cha của con. Và cuộc đời của chúng tôi sẽ khác.
Nhưng chút tự trọng của một người đàn bà níu chân tôi lại. Ông hẳn đã biết tôi là ai vậy mà cứ vòng vo hỏi tới hỏi lui. Ngày ấy tôi đã mê muội đem dâng hết cả đời con gái cho ông. Giờ đây ông còn muốn tôi quỳ xuống nữa sao? Ông kiêu ngạo hay sợ đảng đến nỗi không dám nhận một con buôn làm vợ?!
Tôi đứng lên, lủi thủi một mình đi về nhà. Con gái tôi hỏi, không xin lại được sao mẹ? Tôi lắc đầu. Tôi nghe nó thở dài giống như tôi cách đây hơn hai mươi năm.
Từ đó tôi thôi chạy chợ, kiếm nghề khác để khỏi phải gặp ông. Lúc đó tôi 39 tuổi, con gái tôi 21. Cũng đã đến tuổi lấy chồng. Cầu trời cho nó không lấy phải người chồng một đêm!

Khuất Đẩu

Bài thứ tư

huytuong

4.
Thật. không muốn chép lại. bài
thơ hôm qua rớt sõng soài ngoài hiên
những lần chín đỏ cơn điên
chép tờ phỉ lạc xô nghiêng đất trời.
Không muốn viết. dẫu một lời
mặc cho nọc độc con người thấm qua…
Thinh lặng
từ đó
bước ra…

HUY TƯỞNG

TRÒ CHƠI CỦA NGƯỜI CHƯA LỚN

huynhhuuvo

Tôi vào quê hương bằng cuộn dây thép
Bằng vết chân cùn nhọn hoắt của cha
Theo những thông hào ươm đầy trái phá
Tôi đưa bàn chân cào cấu trên da

Tôi vào quê hương bằng xe traction
Chiếc xe chở đầy chất nổ ngàn cân
Tôi đặt nó lên xương sườn của mẹ
Thân mẹ a ha thân mẹ tanh bành

Tôi vào quê hương bằng đường nước mắt
Nước mắt bạn bè nước mắt anh em
Tôi lội tôi bơi mệt nhoài trong đó
Máu loang đầu tôi chảy xuống ruột mềm

Tôi vào quê hương theo nòng thép súng
Lửa cháy trong hồn máu chảy trong da
Trên da mặt tôi mọc lên cổ thụ
Cổ thụ sai oằn lựu đạn mortier

Tôi vào quê hương theo đoàn cải lương
Đứng lên làm hề đả đảo hoan hô
Lũ trẻ ngu ngơ cười phun nước bọt
Trên mặt mày tôi, dưới yếm, trên đầu

Tôi vào quê hương mang theo quà tặng
Carbine, thompson, garand, tiểu liên
Dành phát cho nhau mỗi thằng mỗi đứa
Dành phát cho nhau mỗi đứa một thằng

Rồi tôi rời bỏ thành đô
Chông chênh đá dựng hang dò dẫm quanh
Việt Nam rách nát tan tành
Quê hương máu mắt chảy quanh địa cầu

HUỲNH HỮU VÕ

Sài Gòn 1966

CHUYỆN KỂ TRÊN ĐỒI CAM

nguyenxuanhoang

1.

Cuối mùa hè rồi, tôi đem đứa con gái nhỏ xuống Cali. Thật ra, có lẽ tôi phải nói là dọn sang Cali mới đúng. Con tôi năm nay được tám tuổi. Bataan nói với tôi là con nhớ mẹ. Tôi hiểu điều đó nhưng đành chịu, không biết cách nào giải thích cho con.
Bataan là đứa con duy nhất của chúng tôi. Tôi lấy Nga cuối năm bẩy chín sau khi ở trại học tập cải tạo ra. Nga là em gái của một người bạn cùng trại tù với tôi. Anh ấy tên Ðông… Ðầu năm bẩy chín tôi bị đưa về Hàm Tân rồi được thả, còn Ðông bị đẩy ra Bắc.
Tôi đến thăm gia đình Ðông ngay khi ra khỏi tù. Ba má Ðông đã già. Ðó là một gia đình người Nam, rất Nam kỳ quốc. Lần đầu tiên gặp ba Ðông, tôi thấy ông mặc một bộ đồ bà ba trắng, đeo kính lão loại tròn như hai chữ O, thòng xuống sống mũi. Ông ưa nói chuyện thời sự thế giới và tình hình chính trị hơn là hỏi về con trai mình. Má Ðông thì rất ít nói. Bà chỉ lặng lẽ khóc khi dọn cơm cho tôi ăn và gợi tôi kể chuyện tù, thỉnh thoảng hỏi đôi câu về đời sống tù của Ðông. Bà nhắc những tật của Ðông như nói lắp, ưa cãi và làm biếng. Tôi cho bà biết Ðông tuy bệnh nói lắp vẫn còn, nhưng không phải là người ưa cãi. Anh ấy nhiều lúc im lặng như hòn đá. Còn cái tật làm biếng thì anh ấy nổi tiếng khắp trại. Ðông chỉ hay nói một câu mà tôi còn nhớ đời ”Cái ông gì gì đó cho rằng nếu phải nhổ một sợi lông chưn mà làm thay đổi cả thế giới thì ổng cũng không nhổ. Còn tao, thế giới nó đang thay đổi tao, mắc mớ gì tao phải nhổ lông chưn chớ!” Tôi được ăn một bữa cơm gia đình ngon không thể tưởng. Món mắm và rau của người Nam, tôi đã từng nhiều lần thưởng thức, nhưng chưa bao giờ tôi thấy ngon như hôm đó. Có lẽ thấp thoáng giữa câu chuyện trong tù- ngoài đời, tôi được hỗ trợ bằng đôi mắt trong sáng của Nga. Nga lúc đó mới mười tám tuổi, còn tôi đã ba mươi. Một tháng sau, chúng tôi lấy nhau.

2.
Ðầu năm tám mươi chúng tôi vượt biên. Vàng bỏ ra mua chuyến đi cho hai đứa là của gia đình Nga. Tôi có gì đâu. Cuộc hải trình rất là thuận buồm xuôi gió. Chúng tôi đến Phi Luật Tân, lên đảo Palawan, sau đó chuyển sang Bataan.
Tại đây Nga sanh cháu gái mang tên của trại tạm cư này. Chưa đầy một năm sau chúng tôi đi Mỹ. Người bảo trợ có bà con xa bên phía tôi. Nga chỉ muốn đi Mỹ, chớ không chịu đi Pháp, mặc dù Nga còn có mấy ông anh bà chị đi du học bên đó từ trước bẩy lăm.
Suốt gần bảy năm trời ở Virgina, tôi chỉ có một địa chỉ duy nhất, đó là căn nhà thuê trên đường Năm Mươi, thành phố Falls Church. Tôi làm đủ thứ nghề, nhưng không nghề gì ra nghề gì. Từ ”nghề” (tôi sợ mình lạm dụng chữ nghề này lắm) đi nhét giấy quảng cáo bán nhà cho một cơ sở địa ốc, cho đến ”nghề” thợ sơn, ”nghề” thợ điện vịn, ”nghề” lau chùi các cửa hàng trong khu thương xá người Việt, ”nghề” hầu bàn cho một tiệm ăn Tàu… ” nghề” gì tôi cũng làm. Tôi vẫn nghĩ bụng, tưởng đã chết rục trong tù, sống thế này đã là hạnh phúc lắm rồi! Chỉ có một điều cần làm là đi học ngay tiếng bản xứ thì tôi lười biếng. Có thể tôi vốn là thằng sợ chữ nghĩa. Từ nhỏ tới giờ tôi chưa bao giờ đọc hết một cuốn sách mà không ngủ gà ngủ gật. Nga trông cháu Bataan khi tôi đi kiếm tiền và khi tôi trở về mệt mỏi với những thứ công việc tay chân thì cô ấy giao cho tôi một công việc nhẹ nhàng khác là giữ con cho cô đi học. Nga học giỏi, đọc báo đọc truyện một cách say mê, nói tiếng Anh lưu loát, hội nhập đời sống Mỹ nhanh. Cô tốt nghiệp ngành điện toán về thảo chương trình. Ðó là Nga dịch ra cho tôi như vậy về chữ Computer Programmer.
Căn nhà chúng tôi ở ngó ra đường Năm Mươi. Ðó là một con đường khá nhộn nhịp. Nó chạy thẳng qua thủ đô Hoa Thịnh Ðốn, nơi mà tôi đã từng nghe tiếng khi còn ở Sài gòn. Hai cha con tôi lúc rãnh rỗi có dịp vào xem các viện Bảo tàng Mỹ thuật. Hoa Thịnh Ðốn vĩ đại với những tượng đài và cả lịch sử hình thành của nó. Con sông Potomac mùa đông đóng băng. Chim chóc đi lại trên đó như đi trên đất liền. Mùa thu ở Virginia thì khỏi nói. Nó còn đẹp hơn trong tranh vẽ nữa kìa.

3.

Nga là một người vợ dễ thương. Cô ấy ít nói. Tôi thích người đàn bà ít nói. Cô ấy lại dịu dàng, chiều chồng và thương yêu con. Bao giờ cũng vậy tủ lạnh nhà tôi đầy bia và đồ nhậu. Nga không bao giờ để tôi phải đòi hỏi một thứ gì. Mà thật ra tôi không biết mình muốn gì để mà đòi ngoài tình yêu của vợ con. Tôi đang có một đời sống thần tiên so với những ngày trong tù cải tạo. Tôi tự do đi đứng. Tôi lao động có tiền, dù là số tiền ấy hơi khiêm tốn. Tôi có trong tay một người đàn bà thông minh, xinh đẹp và dịu dàng. Và tôi còn có một đứa con gái ngoan. Bataan luôn miệng nói con yêu cha nhiều hơn yêu mẹ.
“Tại sao?”
“Không biết!”
Bataan trả lời bằng tiếng Mỹ, lên giọng xuống trầm êm tai lắm.
Sau cùng Nga cũng tìm được một việc làm ở bên Ði Xi. Một việc làm nhẹ nhàng nhưng lương bổng hậu. Người chủ đối xử với Nga khá tốt. Nga ăn mặc rất hợp thời trang. Tôi có cảm tưởng như mỗi ngày Nga một đẹp hơn. Cái cảm tưởng ấy càng làm tôi thấy mình hạnh phúc hơn.
Ở Hoa Thịnh Ðốn có nhiều người da đen nghèo. Mùa đông năm rồi, có một người da đen nằm chết cóng trong nhà lồng bằng sắt giữa một công viên đầy hoa ngay phía trước Tòa Bạch Ốc. Nhưng một số người Ðại Hàn và cả người Việt Nam nữa thì lại khá thành công về mặt thương mãi. Lương bỗng thì ai cũng rõ, Nga hơn tôi nhiều. Tay hòm chìa khóa cô ấy nắm hết. Ðôi khi Nga đùa nói với tôi lương anh không đủ cho em mua son phấn quần áo. Tôi chỉ biết cười.
Tôi đi lính năm hai mươi tuổi. Ở tù bốn năm, lấy vợ khi chẵn cái tuổi ba mươi. ” Tam thập nhi lập”, cha tôi hay nói như vậy. Nhưng tôi có ”lập” được cái gì đâu. Những ngày ra tù sống lông bông lêu bêu trên hè phố nhiều hơn là trong nhà. Không có ”hộ khẩu” không có công ăn việc làm. Tôi là kẻ sống ngoài lề xã hội mới. Công an phường đưa giấy cho tôi, bắt đi kinh tế mới. Kinh tế mới? Ðó là những căn chòi xác xơ, nằm bên một con kinh đào khô nước. Nhìn quanh quất tứ bề chỉ thấy khổ nhục. Ngay cả những nụ cười cũng chỉ là gượng mà thôi.
Gia đình Nga đã cho tôi một đôi đũa thần tiên là Nga. Tôi bỏ lại sau lưng cuộc chiến tranh mà tôi đã từng tham dự. Tôi xin Nga hai tháng một lần cho tôi đóng thùng quà gởi về cho Ðông hiện đang ở trong một trại cải tạo trong Nam. Nga không phản đối (tất nhiên Ðông là anh ruột cô ấy chớ đâu phải anh ruột tôi) nhưng cô ấy có vẻ không vui. Tôi thì tứ cố vô thân. Gia đình không còn ai. Cha mẹ tôi đã chết từ năm Bẩy Hai. Tôi còn một bà chị, nhưng chị đã biệt tích từ năm Bảy Lăm.

4.
Một buổi tối cuối tháng Tám, tôi từ sở làm trở về (tôi đang làm việc lau chùi một khu thương xá người Việt có tên là Eden), Nga đón tôi ở cửa. Cô ấy ăn mặc đẹp và gọn như một người chuẩn bị đi xa. Tôi ngạc nhiên lắm. Nếu có người nào tình cờ thấy hai chúng tôi có lẽ họ khó mà nghĩ chúng tôi là một cặp vợ chồng. Tôi xuề xòa quá. Mà không xuề xòa cũng không được. Ði lau chùi sàn nhà, cửa kính cho người ta mà ăn diện như làm thư ký văn phòng thì coi sao phải, nhưng rõ ràng là Nga ăn mặc đẹp hơn thường lệ. Mà thường ngày thì cô ấy cũng đã diện lắm rồi. Áo quần, giầy dép vòng đeo bông tai, nước hoa, không thứ nào có trên người Nga mà không phải loại khá đắt tiền. Hôm nay Nga như một người mẫu trong một buổi trình diễn thời gian.
“Em muốn nói chuyện với anh”
Nga đặt cả hai tay lên vai tôi, nhìn thẳng vào mặt tôi nói nhỏ nhẹ có phần âu yếm hơn thường lệ.
“Em làm gì mà quan trọng dữ vậy?”
Tôi hỏi mà vẫn không hiểu gì hết.
“Em có việc phải đi xa một thời gian”.
Nga nói như thể tôi và cô ấy chỉ là hai người chưa hề sống chung với nhau, chưa hề có với nhau một đứa con, chưa hề là vợ chồng.
“Ði xa? Mà em đi đâu?”
“Anh không cần biết em đi đâu. Mà anh muốn biết, em cũng không nói đâu”.
Tôi gỡ tay Nga ra, đến ngồi xuống ghế ở bàn ăn bên nhà bếp… Nga đến ngồi đối diện với tôi. Cô đưa tay lên coi đồng hồ.
“Chừng nửa giờ nữa em sẽ lên phi trường Dulles. Anh sẽ không hỏi gì em, phải không?”
Tôi còn biết hỏi gì.
Nửa giờ sau có tiếng chuông cửa, Nga bật dậy. ” Bataan đang ngủ, anh đừng làm con thức. Anh trông con giùm em”.
Nga ôm mặt tôi hôn nhẹ nhàng như một người em gái hôn anh.
Như vậy đó chúng tôi chia tay.

5.
Cali đang mùa Thu.
Hồi đầu tháng Chín, khi hai cha con tôi vừa đặt chân tới Cali, trời nóng dễ sợ. Tôi nghĩ chắc là mùa hè sắp đến, nóng một trận chia tay để đi vào mùa Thu. Nhưng dân Cali thì nói khác. Họ cho rằng Cali sắp động đất. Bao giờ cũng vậy trước khi có động đất đều có một trận nóng dữ dội như vậy. Nó báo hiệu cơn thiên tai mà người dân Cali sẽ phải gánh chịu, vì sự phồn thịnh quá đáng của nó.
Ðộng đất đối với dân Cali là một người khách không được mời, nhưng người chủ nhà biết rõ là họ đang phải chờ đợi. Bởi vì trước sau gì ông khách quý ấy cũng sẽ đến.
Mấy bữa nay thực sự là Cali đang đi trong mùa Thu.
Buổi sáng đôi khi có sương mù, đôi khi có chút mưa phùn rẩy nhẹ bụi nước trên đầu trên tóc. Ðêm… đôi lúc trời mù sương lái xe phải mở to mắt lên mà nhìn nếu không muốn bị tai nạn hay bị lạc đường. Trời sáng trưng mà tôi còn bị lạc đường, nói chi là lái xe trong sương mù.
Bataan đã đi học. Tôi vừa xin được một việc làm cắt cỏ do một ông người Việt làm chủ. Bạn tôi bây giờ là những người Mễ. Cũng như tôi, tiếng Anh họ dở lắm. Tôi tin là nghề cắt cỏ có thể ở với tôi lâu được. Ít ra là lâu hơn thời gian tôi sống với Nga.
Những giờ rãnh rỗi tôi thường dẫn Bataan ra chợ Việt Nam lượm báo biếu đọc. Tôi thấy người Việt ở đây giàu có quá. Hơn trên Virginia, Hoa Thịnh Ðốn và Maryland nhiều. Tôi cũng biết thêm nhiều tin tức về Việt Nam. Tôi hi vọng Ðông đã ra khỏi tù cải tạo, và sẽ được đi Mỹ định cư theo một thỏa ước nào đó giữa Hoa Thịnh Ðốn và Hà nội.
Trong giấc mơ, Bataan thường kêu mẹ ơi, mẹ ơi. Tôi thì không thấy gì hết. Tôi nghĩ rằng Nga đang hạnh phúc ở một nơi nào đó với một người nào đó. Người nào có được trong tay một người đàn bà kiểu đó mà không hạnh phúc! Nhiều lúc ngừng tay cắt cỏ, tôi giật mình tự hỏi không biết tôi đang ở đâu và có thiệt là tôi đã từng có một người đàn bà sống chung mà xã hội gọi là vợ không?
Buổi sáng dậy sớm, nhìn Bataan còn ngủ say trên giường, tôi thấy sao nó giống Nga cách gì. Tôi tự an ủi mình là tôi đâu có mất gì. Tình yêu vợ đã mất, nhưng tình yêu con đã thay vào. Trước kia hai người sống với nhau, bây giờ cũng vẫn hai người. Biết đâu chừng, nếu Nga còn sống trong nhà, lại thừa ra một người chăng. Vả lại, từ ngày chia tay đến nay, tôi không hề nhận được thư từ hay điện thoại gì của Nga. Nhiều khi tôi nghĩ hạnh phúc làm người ta mất trí nhớ. Quên như Nga không chừng cô ấy hạnh phúc. Tôi không mong cô ấy gọi tôi. Yêu người nào là muốn điều tốt cho người đó. Chỉ có nỗi đau khổ và bất hạnh mới làm Nga nhớ đến hai cha con tôi.
Tôi đâu có muốn vậy. Dù sao đôi khi tôi vẫn nghĩ là sống như thế này vẫn hơn. Nhưng mà Cali mấy hôm nay nóng thiệt là nóng. Không chừng động đất tới nơi.

Nguyễn Xuân Hoàng
Tháng Tám 1986

THỦY TINH TAN VỠ (tt)

tonnuthudung

CHƯƠNG 5 :

-Diệp , con có nghĩ là ba mẹ đã lầm khi ở lại không ? Con có trách ba mẹ không ?
Trong cơn sốt váng vất , tôi nghe văng vẳng những lời mẹ nói. Câu ấy mẹ đã hỏi không biết bao nhiêu lần kể từ lúc ba mất đi… mẹ đã coi tôi như chỗ dựa , tội nghiệp mẹ quá yếu đuối để dựa vào một con nhóc luôn mượn chiếc vỏ ốc cứng để che giấu chút thân mềm như tôi … Tôi cố gắng ngồi dậy , tựa lưng vào chồng gối cao. Cả tuần rồi tôi bị những cơn nóng lạnh của sốt rét luân phiên hành hạ. Trong cơn sốt tôi vẫn mơ thấy những vòng tròn màu đỏ cam nhảy múa… tôi thấy mình lạc vào một vườn cây trái thơm ngon , thấy mình vẫy vùng trong biển nước xanh mát rượi để rồi giật minh thảng thốt khi rơi xuống một vực sâu thăm thẳm tối đen… Đôi khi tôi còn nghe trong thinh lặng tiếng dương cầm… Đô mi nô… Đô mi nô … Đô mi nô…
-Mẹ , con không muốn nghĩ gì cả.
– Con có muốn vượt biên với gia đình Hoàng không ???
Tôi không thể trả lời câu hỏi ấy . Một lần , trên lầu 3 của trường Cao Đẳng , khi nhìn xuống mặt biển phẳng lặng như một tấm gương soi bao la , Hoàng đã nói :
-Mùa này đi êm lắm đó Diệp. Nhưng dễ bị lộ. Hôm nọ ba Hoàng ứng tiền mua ghe , dầu, thực phẩm xong , họ lặng lẽ bỏ đi không nói với mình một tiếng .
– Hôm nào có chỗ nhắn Diệp nhé , để Duy đi , mẹ Diệp chỉ còn có mấy cây không đủ cho đi cả đám .
Gia đình Hoàng là nơi chúng tôi tin cẩn , khi mẹ nói điều ấy , tôi thấy lòng bình an… tôi chỉ là một đứa con nít thôi, không thể lao vào những trò chơi sinh tử… Tôi thở nhẹ nhàng khi quàng công việc này lên vai một người đáng kính như ba Hoàng…
-Mẹ đã nghĩ kỹ rồi . Con và Duy cần đi trước để học , mẹ và mấy đứa nhóc chờ chị Ngạn bảo lãnh, hoặc sau này con và Duy sẽ tiếp tục tìm đường cho bọn nhỏ .
Tôi nhìn lên những bức tranh trên tường… Adamo đứng bên chiếc dương cầm nâu bóng, cây anh đào mảnh khảnh trong khu vườn tuyết trắng, “đêm nguyệt vỡ “ của Duy với những bóng sáng chập chờn của các màu vàng đậm nhạt khác nhau… theo tôi , đây là bức tranh tuyệt vời nhất xưởng vẽ của Duy.
Một điều gì đó đè nặng lên trái tim tôi ngột ngạt, đau đớn… Mẹ tôi thật can trường dù cái vẻ ngoài yếu đuối … Có người thương con chỉ muốn giữ lại cạnh mình … Có người khác lại bắt lòng mình đau đớn chia xa… Ba tôi mất đi là tử biệt , chúng tôi đi xa là sinh ly . Hai nỗi bất hạnh lớn lao nhất của đời người mẹ tôi đã giải quyết rất sáng suốt và bình thản. Tôi im lặng, tôi là con của những người bất khuất , tôi không thể hèn nhát dù lòng tôi kêu gào đau đớn. Tôi sẽ không còn thấy mẹ và các em nữa , ở một nơi quá xa làm sao chúng tôi cùng chia sẻ những buồn rầu , căm giận khi Lưu về nói : Họ không chịu ký lý lịch cho em chị Diệp ơi ! Sẽ không còn những buổi tối quây quần trong phòng khách rộng thênh thang nghe Tùng hát và rơi nước mắt qua giai điệu người di tản buồn… Rồi gì nữa , gì nữa ??? Hai mắt tôi cay xót . Mẹ tôi rời phòng , bà không nói gì thêm , không nhìn tôi, những bóng sáng chập chờn in trong đôi mắt bà lóng lánh . Bên kia xưởng vẽ , Duy đang cưa khung, tiếng cưa chạy đều đều trên gỗ và tiếng Duy nói lớn :
-Lưu ơi , đo giùm anh chiều dài tấm “Neizche”
Tiếng đàn êm ả trong điệu Valse chầm chậm , rồi tiếng Lưu :
– Dẹp cái ông Neizche của anh lại đi , em đang tập cho Tùng bài Dòng Sông Xanh , nó chuẩn bị đi hội diễn .
Và tiếng Ngô vòi vĩnh :
– Cái Active đổi qua Pasive này khó quá em không thèm làm nữa đâu !
Tôi dụi mặt vào chiếc gối, tôi không thể hèn nhát được. Tôi phải đi vì tương lai của tôi và các em tôi.

CHƯƠNG 6:

-Diệp sẽ không từ giã ai chứ ?
Tôi nhìn Duy đăm đăm :
-Duy không tin chị ?
Duy khoác tay :
-Không phải , nhưng đó là vấn đề sinh tử của nhiều người , Diệp hiểu không ???
Duy nhỏ hơn tôi chưa đầy 1 năm nên nó không bao giờ gọi tôi bằng chị … Đi đâu chung mọi người đều tưởng tôi em nó. Lúc nào nó cũng tỏ ra người lớn hơn tôi , kệ nó … Tôi cắn môi , hơi bực mình :
-Chị sẽ không từ giã ai hết.
-Kể cả anh Cao ?
Tôi cười :
– Duy chẳng biết cái quái gì hết mà cứ lên mặt. Anh Cao cùng đi với mình , rõ chưa ? Anh Cao cùng ba Hoàng lo mấy cái chuyện dưới ghe.
Duy thản nhiên :
-Càng tốt.
-Có anh Cao , mẹ tăng phần tin tưởng và giao tụi mình cho anh Cao quản lý vì ba Hoàng quá bận rộn nhiều việc khác
-Người lớn coi bói nói Diệp rất hạp tuổi anh Cao chỉ tiếc một điều là Diệp không thương gì anh Cao cho lắm !
Tôi nhăn mặt :
-Đừng nhiều chuyện , nhóc tì
– Không , Duy nói đúng sự thật , Diệp không thương anh Cao nên khi nhà anh ấy cho mẹ mượn tiền để chung cho Lưu thì mẹ không thể mượn.
Tôi níu vai Duy , hối hả :
-Cái gì , Duy nói rõ ràng đi. Chị không hiểu gì hết.
Duy hất tay tôi:
– Đau vai Duy , Đừng để móng tay nhọn hoắc vậy …
Tôi cáu kỉnh :
-Mày cứ đùa hoài.
-Chứ gì nữa, nghe mẹ nói không có tiền cho Lưu theo , mẹ anh Cao đòi ứng 3 cây coi như đóng phần của Diệp, mẹ đâu dám nhận.
-Trời ơi , sao lại không nhận? Mày cũng không có ý kiến gì với mẹ sao ? Mày ngu quá vậy !!!
Duy nhìn tôi, mắt nó ẩn những tia trách móc nặng nề :
-Có 2 lý do : thứ nhất mẹ không thể lợi dụng người khác để đoạt phần lợi về mình … thứ hai mẹ không muốn ép buộc Diệp vì một món nợ… Còn Duy , Duy ý kiến cái nỗi gì ? Duy chỉ biết rất rõ một điều : Mình có thể nghèo hơn ai hết nhưng mình vẫn rất đàng hoàng , trong sạch và tư cách.
Tôi lặng người đi, tôi đã hiểu vì sao ba tôi yêu thương Duy nhất . Ở nó nổi bật cái tính cách của ba tôi : quá trong sạch , quá kiêu hãnh , quá tự hào… Cái truyền thống gia tộc kết tinh rực rỡ ở nó. Đức tính “ vì người khác “ của nó mạnh mẽ quá đỗi … Tôi im lặng , tiêng đàn của Lưu từ phòng khách vẳng ra bao bọc quanh tôi dịu dàng êm ả . Mẹ tôi và Duy xử sự đúng hay sai , một lần nữa tôi bức rức…. Có sao đâu , chỉ 3 cây vàng có gì đáng kể mà mẹ không dám nhận. Sao mẹ lại trong sạch một cách vô lý như vậy … Rồi chúng tôi sẽ trả lại mà. Cao không thể ràng buộc tôi bằng vật chất , chúng tôi đã lớn lên bên nhau , chúng tôi xuất thân cùng một điểm … Chúng tôi sẽ cùng nhau trên một con đường dài …
-Đừng tức giận , Diệp…
-Không , tao không tức giận , tao chỉ căm thù cái nghèo . Tại sao ngày xưa ba không tham nhũng , không ăn hối lộ để bây giờ mình đỡ khổ ???
Duy đứng lên , ánh trăng 13 chiếu vào mắt nó một nỗi buồn đau khó tưởng :
-Diệp không hiểu cả những điều Diệp nói .
– Đúng , tao không hiểu , có thể mẹ và mày sẽ xấu hổ vì tao… nhưng bằng mọi cách tao sẽ dẫn Lưu theo . Để rồi mày sẽ biết .
Khi tức giận những lời nói của tôi vô cùng độc địa, để rồi nước mắt tôi rơi ra khi thấy mình càng xa dần những giáo điều tốt đẹp . Nhưng hãy đợi đó đi , tôi sẽ trở thành nết na , hiền lành , thùy mị khi tôi muốn mà … đợi đó đi !!!

Tôn Nữ Thu Dung

THU XA NGƯỜI

tranhoaithu

Một người đi phương Bắc
Một người về phương Nam
Lá rừng thu chưa vàng
Sao nghe buồn vời vợi

Một người đi để lại
Một người về sẽ mang
Mang gì , một mùi hương
Quyện trong từng mắc xích

Người đi về dưới đó
Ta đi lên trên này
Mùa thu lá chưa bay
Mà đau thêm nội cỏ

Rừng lá vàng, tía ,đỏ
Phiêu du, hề phiêu du
Mùa thu ơi mùa thu
Ta trở về chốn cũ

Cầu xưa dài vô tận
Gió lộng lọt đầy xe
Sợi tóc người hôm qua
Mùi hương người bỏ đó

Chờ ai, chờ ai đấy?
Mà sầu lên rừng cây
Mùa thu lá chưa bay
Mà hồn ta heo may.

Trần Hoài Thư

Ðoạn kết của bài vọng cổ

tranhuudung

Từ là từ phu tướng
Tiếng kêu thấu trời xanh
Ngọn đèn dầu bốc khói tù mù
Trong túp nhà lá xiêu vẹo ven sông
Dạ cổ hoài lang
Giọt đàn kìm rơi thanh thoát
Rót nỗi buồn vào tận đêm sâu
Bác Sáu Lầu nhấn chữ đàn đứt đoạn cuộc tình
Xóm chài vắng
Trăng hiện ra bao nỗi hoang đường ám ảnh
Người nghệ sĩ dân gian cứu chuộc niềm hi vọng
Thả bay đi bầy đom đóm thắp sáng nghĩa vợ chồng
Trên những khúc sông Cửu Long ngoằn ngoèo trườn đi
Câu vọng cổ số phận bập bềnh / dề lục bình phiêu bạt
Mang hơi thở rập rờn vùng đất hồi sinh
Quay vòng theo những mạch nguồn nước mới.

Trần Hữu Dũng

CƯỠI NGỌN SẤM19

cuoingonsam

richardbotkin
Chương 14

Trở lại Việt Nam

Bước sâu vào trong năm 1971, sinh viên các trường đại học Mỹ tiếp tục biểu tình phản đối chiến tranh song song với những vấn đề bất công khác có thật hay do họ cảm nhận thấy như vậy. Từ đỉnh cao sức mạnh với 543.400 quân đạt được vào tháng Tư năm 1969, sự nôn nóng của Tổng Thống Nixon muốn thoát ra khỏi vùng Đông Nam Á đã đưa con số binh lính xuống còn 430.000 vào cuối năm 1969. Mười hai tháng sau chỉ còn 280.000 quân ở lại. Điều đáng khuyến khích, ít nhất là trong một khía cạnh chừng mực nào đó, là nỗ lực Việt Nam hóa chiến tranh đã làm giảm đi số người Mỹ bị thiệt mạng. Số lượng TQLC bị chết đã hạ từ 4.634 trong năm 1968 và chỉ còn chưa tới phân nửa của số đó vào năm 1969. Năm 1971 tổng cộng chỉ có 41 TQLC bị chết tại Việt Nam. Đối với tất cả những người nào không tham gia vào cuộc chiến hoặc bị kẹt trong các trại tù của kẻ địch thì Việt Nam chỉ còn là một ký ức đau thương, dù mới gần đây thôi.

Cho đến tháng Bẩy năm 1971 thì đơn vị cuối cùng của lực lượng bộ binh TQLC chính quy đã rời khỏi Việt Nam. Vào cuối tháng Mười Hai chỉ còn dưới 160.000 người Mỹ ở lại trên đất nước này, mà chưa đầy một ngàn trong số đó là TQLC.

Trong lúc chương trình Việt Nam hóa chiến tranh của Tổng thống Nixon đang được quảng cáo rộng rãi và đang tiến triển tốt đẹp thì binh đoàn TQLC Hoa Kỳ cố gắng quay lại với “sinh hoạt bình thường” và chú tâm vào những cam kết toàn cầu khác của họ – ở mọi nơi và mọi chỗ. Đối với các TQLC trước 1965 và sau 1971 thì “sinh hoạt bình thường” có nghĩa là nhận nhiệm vụ một lần nữa tại Okinawa – nơi được nhắc đến một cách vừa trìu mến vừa mỉa mai là cái “Tảng Đá.” Đối với Gerry Turley mới vừa được thăng cấp Trung tá thì bây giờ đã đến lúc ông phải thi hành chu kỳ nhiệm vụ một lần nữa trong một năm trời tại “Tảng Đá” rồi.

Khi thảo luận về các cơ hội phục vụ hiện đang có sẵn cho một quân nhân với khả năng và cấp bậc như Gerry, viên sĩ quan điều hành báo cho Gerry biết về một chỗ trống tại Việt Nam. Đó là đơn vị Cố vấn TQLC, một tổ chức với nhiệm vụ chính là cung cấp các sĩ quan cố vấn quân sự về bộ binh và pháo binh cho nhiều tiểu đoàn khác nhau của TQLC Việt Nam. Họ đang cần một nhân vật thứ hai vào vai trò chỉ huy phó với danh xưng là “Phụ tá Cố vấn trưởng TQLC.” Nếu Gerry chịu thì có thể nhận công việc này.

Gerry lập tức liệt kê trong đầu một danh sách nên và không nên cho mỗi địa điểm. Đối với cả Việt Nam lẫn “Tảng Đá” ông vẫn phải xa Bunny và mấy đứa nhỏ trong một năm, dù gì đi chăng nữa.

Làm việc ở Okinawa có những tiện nghi tân thời của nó: ông có thể được ăn ngon, được ngủ những nơi sạch sẽ, chơi với những bạn bè TQLC ông đã quen và kết thân với những người mới. Ông sẽ tương đối an toàn. Ông chắc sẽ có một công việc không nguy hiểm đến tính mạng, nếu so sánh với nhiệm vụ trước đây tại Việt Nam. Những lúc không đi làm ông có thể tập thể dục, đọc sách, nghỉ ngơi hay làm việc nhiều hơn nữa vì không có ai chờ đợi ông vào ban đêm.

Làm việc tại Okinawa cũng không hẳn là một cuộc đi dạo mát. Vào cuối năm 1971, binh đoàn TQLC Hoa Kỳ, cũng như các ngành quân sự khác, đã bị vấn nạn kỳ thị chủng tộc và tệ nạn ma túy tràn lan. Cuộc cách mạng văn hóa khởi đầu từ nhiều năm trước đã lây qua binh đoàn TQLC với những hậu quả kinh khủng, liên tục và chưa có cách nào giải quyết được. Một số vấn đề nghiêm trọng về chỉ huy đã được bộc lộ ra mà Gerry và các đồng đội TQLC thuộc thế hệ trước, chỉ mới vài năm trước đây đã không tưởng tượng ra nổi.

Sử gia nổi tiếng kiêm bình luận gia, Đại tá TQLC hồi hưu Robert Heinl, Jr., trong tháng Sáu năm 1971 đã nhận xét về những vấn nạn đang xảy ra trong các ngành quân sự và tuyên bố là tình hình hiện nay đã chứng minh rằng “tinh thần phục vụ của quân đội đang ở vào mức thấp nhất trong lịch sử đất nước.”

Nếu đi Okinawa, Gerry sẽ rơi vào trọng tâm của vấn đề và với phong cách của mình, ông sẽ tình nguyện dấn thân vào những nhiệm vụ khó khăn nhất. Nếu có một cái gì đó bị hỏng thì Gerry Turley sẽ làm tất cả những gì mà ông Trời cho phép để sửa chữa nó. Giả sử nếu có một chức vụ như “Sĩ quan chống bạo động chủng tộc và kiểm soát ma túy của Sư Đoàn 3 TQLC Hoa Kỳ” thì Trung tá Turley sẽ giơ tay nhận nhiệm vụ đó ngay, không phải vì ông muốn làm điều đó, nhưng vì đó là chuyện đáng phải làm.

Đơn vị cố vấn cho TQLC ở Việt Nam là một tổ chức tương đối nhỏ; non sáu mươi người và hầu hết được điều động đi hỗ trợ cho chín tiểu đoàn Bộ binh và ba tiểu đoàn Pháo binh của TQLC Việt Nam. Nhiệm vụ chỉ huy phó có lẽ sẽ liên quan đến các vấn đề tiếp vận và thủ tục giấy tờ, có thể sẽ ra ngoài chiến trường một chút nhưng không đáng kể, và có thể thỉnh thoảng bị gián tiếp nằm trong tầm đạn của kẻ địch.

Điều mà mọi người trong giới sĩ quan TQLC đều biết rõ là các quân nhân phục vụ trong vai trò cố vấn cho các tiểu đoàn TQLC Việt Nam đều là những sĩ quan đại úy và thiếu tá, bộ binh cũng như pháo binh thuộc thành phần khá nhất, xuất sắc và hoàn hảo nhất của binh đoàn TQLC Hoa Kỳ. Tại Việt Nam sẽ không có thời gian cho các vấn đề như ma túy và kỳ thị chủng tộc chen vào. Mặc dù các đơn vị Mỹ không còn tác chiến nữa, “Việt Nam hóa chiến tranh” có nghĩa là VNCH phải chiến đấu chung lưng sát cánh với các cố vấn quân sự. Là nhân vật thứ hai chắc chắn ông sẽ không phải đích thân điều động binh sĩ vào chốn hiểm nguy, nhưng khả năng chỉ huy, chuyên môn về quản trị và kinh nghiệm bản thân có thể sẽ giúp ích phần nào cho những người trực tiếp cầm súng. Tương tự như hồi ông tham gia toán trinh sát nhỏ trong những năm đầu tiên tại Việt Nam, bằng trực giác, ông nhận ra ngay là gia nhập vào cái nhóm chiến sĩ đặc biệt này sẽ là một công tác có nhiều vinh quang. Ông chỉ cần phải thuyết phục bà vợ Bunny rằng đó là một quyết định đúng nhất. Không biết là Bunny có tin ông ta hay không nhưng ông tin chắc là nàng sẽ cam tâm chấp nhận quyết định của ông.

Gia đình Ripley giữa hai chu kỳ nhiệm vụ tại Việt Nam

Chắc hẳn đã có một điều thần kỳ gì đó xảy ra tại Radford, Virginia. Chẳng lẽ chỉ vì cách nấu nướng của Verna Ripley hay lề lối dạy con của Bud Ripley? Tuy không phải là trường hợp duy nhất nhưng chắc chắn không phải là gia đình người Mỹ nào cũng có thể tự hào và dứt khoát cho ba đứa con trai đi chiến đấu tại Việt Nam trong cùng một thời điểm cả. Điều mà cả ba đều sống sót trở về mới là một phép lạ không nhỏ chút nào.

Sau khi hoàn tất thời gian học tại Trường Tác Chiến Đổ Bộ AWS (Amphibious Warfare School) ở Quantico, đồng thời cũng mãn hạn nhiệm vụ bắt buộc và buồn nản là làm sĩ quan hậu sự tang lễ tại Tổng Hành Dinh TQLC, sự may mắn lại đến với anh chàng đại úy trẻ tuổi nhưng chững chạc cùng với đại gia đình của anh. Được chọn làm một sĩ quan trao đổi với Hải quân Hoàng gia Anh, sự nghiệp của John Ripley thực sự như diều gặp gió.

Mối quan hệ giữa đại đơn vị TQLC Hoa Kỳ và binh đoàn TQLC Hoàng Gia Anh nhỏ bé hơn nhưng lâu đời và truyền thống nhất thế giới có lẽ là một sự liên quan huynh đệ đặc biệt và chân thành nhất giữa hai tổ chức quân sự thuộc hai quốc gia khác nhau trong lịch sử cận đại. Với tầm vóc nhỏ hơn, TQLC Hoàng Gia Anh là một đơn vị chuyên biệt về bộ binh giống như lực lượng trinh sát TQLC hay Biệt động quân Hoa Kỳ vậy.

Một sĩ quan TQLC Hoa Kỳ muốn được chọn làm nhiệm vụ này cần phải có quá trình chỉ huy không một chút tì vết cũng như một thể lực dồi dào tới mức tuyệt đối. Phục vụ trong TQLC Hoàng Gia Anh đòi hỏi người sĩ quan trao đổi phải hoàn tất một khóa huấn luyện về Biệt kích hết sức nghiêm ngặt và nguy hiểm đến thể xác. Mặc dù các khoá sinh đã được tuyển lựa kỹ lưỡng trước rồi nhưng chỉ có tính gan lì, trí tuệ sắc bén, lòng quyết tâm không bao giờ bỏ cuộc dù dưới điều kiện huấn luyện khắt khe ghê gớm, và cũng phải có một chút ít may mắn mới bảo đảm cho người đó qua được khoá học.

Tuy có nhiều ngón nghề kỹ thuật mà John đã khám phá ra trong suốt thời gian học với các biệt kích tương đối mới mẻ nhưng hầu hết cũng chỉ là những điều củng cố và nhấn mạnh thêm các bài học giá trị mà anh đã từng học trong trường Biệt động quân và trường đời tại Việt Nam. Anh không hề ngờ rằng chính những tài năng đó sẽ sớm trở thành hữu ích cho bản thân anh sau này.
Mặc dù quá trình huấn luyện ban đầu cũng như các nhiệm vụ được bổ nhiệm sau này đều rất khó khăn về thể lực cũng như về tinh thần – người Anh cũng rất chú trọng về chiến lược “có mặt tại khắp mọi nơi” như người anh em Hoa Kỳ – nhiệm vụ của gia đình Ripley, khi John chưa được bổ nhiệm đi đâu, rất nặng phần trình diễn và đòi hỏi một sự cố gắng lớn trong lãnh vực giao tiếp. Khi John phải đi huấn luyện về chiến tranh mùa đông tuốt trên Na Uy, đi học về tác chiến trong sa mạc tại Aden, hay chiến đấu trong rừng rậm tại Malaysia, thỉnh thoảng trong điều kiện chiến trường thực thụ, thì Moline luôn luôn phải thực hiện một cái gì đó để tạo hay duy trì mối liên hệ ngoại giao thân thiện với bạn bè người Anh quốc chủ nhà.

Gia đình Ripley chờ đợi sự ra đời của đứa con thứ ba khi họ vừa đến. Thomas, đứa con trai thứ hai được sinh ra tại Anh quốc tiếp theo sau cô chị nhỉnh hơn một chút là Mary. John và Moline không thể nào tìm thấy hạnh phúc ở nơi nào hơn thời kỳ làm việc tại đây. Họ đều hiểu rằng nếu John sống sót đủ lâu thì những người bạn họ kết thân được trong chu kỳ nhiệm vụ đặc biệt này sẽ là những người bạn thâm giao nhất.

John Ripley là mẫu sĩ quan TQLC Hoa Kỳ trẻ điển hình không cần phải nghỉ ngơi lâu giữa các kỳ nhiệm vụ khó khăn mà lại còn cảm thấy cuồng tay cuồng chân nếu không được hoạt động và thử thách. Được viên sĩ quan điều hành bắt liên lạc trong khi đang phục vụ với người Anh, John biết có một cơ hội được trở lại Việt Nam với nhiệm vụ cố vấn quân sự cho TQLC Việt Nam. Hiện nay giai đoạn tái phối trí cho tất cả các đơn vị tác chiến của TQLC Hoa Kỳ đang rời bỏ Đông Nam Á sắp hoàn thành. Anh hăm hở nhận ngay những thách thức của nhiệm vụ cố vấn vì đó là cách duy nhất còn được hoạt động thật sự.

Từ xứ sở Anh quốc cổ xưa họ trở về Virginia, chỉ vừa đủ thời gian để sắp xếp cho Moline và mấy đứa trẻ được ở gần ông bà nội trong lúc anh vắng nhà. Trong giai đoạn chuyển tiếp này thì tai họa đã xảy đến với đại gia đình Ripley.

Thiếu Tá Mike Ripley, 33 tuổi, lớn hơn cậu em John một năm và thêm vài tháng, đã gia nhập vào TQLC qua chương trình Sinh viên Sĩ quan Hàng không (Aviation Officer Candidate – AOC) trong khi John còn đang là một học viên tại Học viện Hải quân. Giống như hai đứa em mình, Mike là một thanh niên có thể lực đặc biệt, và có được sự phối hợp tốt giữa tay và mắt cùng nhiều tài năng cần thiết khác để điều khiển các máy bay có kỹ thuật cao.

Đầu tiên là anh được chỉ định lái A-4 – loại chiến đấu cơ tấn công một chỗ ngồi cải tiến của Hải quân và TQLC Hoa Kỳ, thường được sử dụng để yểm trợ tầm gần cho bộ binh. Sau khi trở về từ các phi vụ chiến đấu tại Việt Nam, anh được chọn vào chương trình phi công bay thử của Hải quân và TQLC đóng tại Patuxent River, Maryland.

Trong giới hàng không, phi công bay thử thường được coi là những người tuyệt giỏi. Không những họ phải là mẫu người cứng rắn về thể lực, mà sự hoạt động liên tục và vấn đề sống chết còn thường tùy thuộc vào khả năng phán đoán cấp kỳ các yếu tố phức tạp khác nhau và từ những thông tin lặt vặt riêng lẻ đúc kết lại thành những giải pháp thích đáng nhất. Ngoài ra, làm phi công bay thử đơn giản là một việc làm nguy hiểm, và điều này dĩ nhiên làm tăng thêm sức hấp dẫn của nó.

Thiếu tá Mike Ripley, đã lập gia đình và là cha của ba đứa trẻ chưa đầy 6 tuổi, sắp bước vào sự nghiệp của một viên phi công bay thử đầu tiên của TQLC trong chương trình nghiên cứu khai triển chiến đấu cơ tấn công AV-8A Harrier VSTOL cho Binh đoàn. VSTOL – tên tắt của “Cất cánh và hạ cánh theo chiều thẳng đứng hay dùng phi đạo cực ngắn” (Vertical/Short Take-Off and Landing) – là một kỹ thuật mới tinh vào đầu thập niên 1970 và chiếc máy bay trong bước đầu lại gặp phiền phức do nhiều trở ngại lớn trong việc vận hành, mà những trở ngại này chỉ có thể được giải quyết bởi biết bao cơ man về nhân sự trong những chuyến bay được thực hiện bởi những phi công bay thử tài ba và dạn dĩ, can đảm nhất.

Khái niệm căn bản của chiếc Harrier, nếu có thể đạt được các mục tiêu của chương trình đề ra, sẽ thích hợp một cách lý tưởng cho sứ mạng chiến đấu viễn chinh của binh đoàn TQLC Hoa Kỳ. Lý do là vì chiếc này có khả năng cất cánh và đáp xuống bằng đệm hơi cho nên sẽ giảm thiểu tối đa nhu cầu phải có những hàng không mẫu hạm lớn với máy phóng dùng hơi nước, hay những đường băng bằng bê tông dài trên đất liền. Trên lý thuyết, những chiếc Harrier có thể được đưa vào sử dụng trên bất kỳ các chiến hạm nào có bãi đáp đủ cho trực thăng cất cánh và hạ cánh xuống được. Trên đất liền những chiếc này có thể núp trong tàng cây rồi bay ra để tung những đợt tấn công chết người và tiêu diệt kẻ thù trong những khu vực trống trải tương đối nhỏ và bằng phẳng.

Nếu chiếc Harrier được sử dụng tối đa tiềm năng của nó, sự lệ thuộc vào một hạm đội để bảo vệ TQLC trong những đợt đổ bộ trên một bãi biển ở một nơi đang tranh chấp sẽ giảm đi rất nhiều. Các hạm trưởng hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ rất thích cái ý tưởng không phải vào gần các bãi biển đổ bộ để bảo vệ các TQLC đang tiến vào bờ trong những cuộc xung đột trong tương lai nữa, nhất là từ khi hiểm họa hải quân Xô Viết manh nha trỗi dậy. Các nhà kế hoạch của TQLC thì rất vui có thêm một sức mạnh là chiếc Harrier có thể được dùng để yểm trợ tầm gần hay đóng một vai trò tấn công sâu trong lòng địch.

Chiếc AV-8A Harrier có rất nhiều điều hứa hẹn. Tuy nhiên trước khi đạt được tất cả những lợi ích đó thì vẫn còn một danh sách dài thật dài các vấn đề cần sửa chữa để chiếc máy bay có thể xứng đáng với sự đầu tư được bỏ ra. Tuy nhiên ngay trong thời điểm này của chương trình triển khai thì đáng buồn thay nó lại là một mối đe dọa lớn cho các phi công hơn là cho các kẻ thù mà nó sẽ được sử dụng để chống lại sau này.

Cuộc điều tra sơ khởi, rồi sau đó được xác định lại bởi một cuộc điều tra chính thức và chi tiết hơn trong vụ tai nạn làm thiệt mạng Thiếu tá Mike Ripley đã cho biết là trong khi thực tập bắn hỏa tiễn vào một mục tiêu ngay trong vùng vịnh Chesapeake bên cạnh sông Patuxent, chiếc Harrier đã không còn điều khiển được nữa khi Mike kéo máy bay lên cao sau một đợt nhào xuống bắn mục tiêu. Điều an ủi duy nhất là người chồng và cha của ba đứa nhỏ đã chết ngay khi chiếc máy bay đâm xuống mặt nước trong cái buổi sáng ngày 18 tháng Sáu 1971 đó.

Định mệnh đã an bài như thế. Một tang lễ với đầy đủ nghi thức danh dự quân đội cho Thiếu tá Mike Ripley được tổ chức trong vòng 24 tiếng đồng hồ trước khi Đại úy John Ripley có lịch trình đi Việt Nam. Cả đại gia đình Ripley, nhất là Bud và Verna, rất đau khổ khi phải nói lời vĩnh biệt với một người con và có thể sẽ phải vĩnh biệt một đứa thứ hai trong một thời gian ngắn như vậy. Với lệnh thuyên chuyển của John Ripley đi Việt Nam, trước mắt họ lại có thêm 12 tháng trời hoang mang nữa. Nhưng tiếng gọi của Tổ quốc luôn luôn phải được đáp ứng.

Bình, trong khoảng thời gian đó

Huệ Tân kém Lê Bá Bình bẩy tuổi, ra trường trung học vào năm 1964 và ngay lập tức đã gia nhập vào không quân Việt Nam (VNAF). Nhu cầu phát triển nhanh chóng của tất cả các ngành phục vụ trong quân đội và khả năng Anh ngữ của anh đã giúp anh nhanh chóng thăng tiến lên cấp bậc Thượng sĩ vào năm 1968. Tân làm việc cho Văn Phòng Tùy Viên Quốc Phòng (DAO) trong vai trò liên lạc viên.

Gia đình Tân ở ngay bên cạnh nhà của Bình, chỉ băng qua con hẻm nhỏ thẳng góc với đường Hai Bà Trưng là con phố chính chạy qua Tân Định. Lúc còn nhỏ, anh chơi thân với một cậu em cùng cha khác mẹ của Bình, nghịch những trò giống nhau, cùng chơi các trò chơi mà Bình cũng đã chơi chỉ vài năm trước đó.

Vào cuối năm 1968 và đầu năm 1969 Tân thường ở nhà cha mẹ khi “đại ca” Bình về thăm. Theo lề lối thông thường hàng xóm với nhau, họ ngồi hàng giờ tại phòng khách, nhà nào cũng được, nhâm nhi trà và tán gẫu về những đề tài mà thanh niên ở đâu cũng thích bàn cãi như vậy.

Trong công việc của mình tại DAO, Tân đã có cơ hội để tiếp xúc với người Mỹ và anh cũng gặp họ ở khắp nơi khi đi làm nhiệm vụ cho đơn vị Không Quân. Giống như Bình là người đã từng đi học ở Quantico, Tân cũng thích và tò mò để ý đến người Mỹ. Cả hai đều có thể bỏ qua những ảnh hưởng tiêu cực mà người Mỹ mang theo họ qua đây, một điều mà không phải tất cả người Việt Nam nào đều nghĩ như vậy. Tuy thế, Tân và Bình vẫn không thể nào hiểu nổi tại sao Hoa Kỳ lại có thể gởi con em họ qua chiến đấu và chết để đánh đuổi Cộng sản ra khỏi Việt Nam.

Tân khoái trêu chọc “đại ca” Bình rằng người yêu mới của anh – đến đầu năm 1969 thì rõ ràng là Bình sẽ lấy Bành Cầm nếu anh không bị tử trận trước – đẹp quá mức so với anh. Đó là Tân đã hiểu rõ nhân tình thế thái, những người đàn ông có quyền uy thường ưu tiên mua được lòng các giai nhân. Và trước 1968, điều hiển nhiên như mặt trời mọc đối với những ai đã từng quen biết hay nghe nói về Đại úy Bình đều phải công nhận ông ta là một người đầy uy quyền.

Lần nào về nhà Bình cũng đều ngồi xe jeep riêng có tài xế, đàng sau có ít nhất là hai, đôi khi ba “tà-loọc” hay vệ sĩ. Dường như lúc nào Bình cũng đang dưỡng thương, một vài vết thương chiến trận nào đó mà anh không muốn nhắc hay biết đến. Bình không bao giờ nói về bản thân mình hay về những gì anh đã làm. Khi anh thả bộ một mình trong ngõ hẻm để đi thăm hàng xóm, thì các đệ tử hay tài xế của anh mới huyên thuyên với gia đình và bạn bè anh về những câu chuyện thần kỳ và dũng cảm của vị tiểu đoàn trưởng. Mọi người ở Tân Định, đặc biệt là những ai ở gần nhà thời niên thiếu của Bình thì chia sẻ và truyền tụng lại các mẩu chuyện về chiến công của người anh hùng thần tượng Lê Bá Bình của họ.

Khác với người Mỹ, đối với Lê Bá Bình và các chiến hữu kỳ cựu của anh, họ không hề có dự tính ngắn hạn, không bao giờ có chuyện chấm dứt nhiệm vụ, cũng như không có nghỉ ngơi thật sự. Khi Gerry Turley, John Ripley, George Philip hay tất cả các chiến sĩ Hoa Kỳ khác thi hành nhiệm kỳ thứ hai, thì họ vẫn có thời gian hay công tác xen kẽ giữa đó. Trong khi đó thì Lê Bá Bình vẫn còn ở đâu đó trong nỗ lực giúp đất nước của mình hầu thắng cuộc chiến này.

Đúng là Quân lực VNCH vào cuối thập niên 1960 đã đủ lớn mạnh và thiện chiến để gởi một số sĩ quan đi thụ huấn các trường huấn luyện trung và cao cấp tại Hoa Kỳ. Thậm chí có một số sĩ quan TQLC Việt Nam được đi học trở lại tại Quantico khi đã đeo cấp bậc Đại úy và Thiếu tá rồi. Bình không thuộc vào nhóm đó. Anh bị kẹt lại vì chính sự thành công, tài năng và khả năng chỉ huy của anh đã khiến anh phải ở lại với Tiểu đoàn 3 trong thời gian đó.

Cuộc thắng cử của Richard Nixon vào tháng Mười Một 1968 đã kèm theo nhiệm vụ vào đầu năm sau là phải thực hiện lời hứa Việt Nam hóa chiến tranh của ông. Trong khi toàn bộ binh chủng TQLC và một số đơn vị Quân lực VNCH có thể cho là họ chưa thực sự lâm trận vào cuộc chiến nhưng các cử tri Hoa Kỳ ngày càng mệt mỏi với sự đầu tư mà cho tới nay vẫn chỉ mang lại quá ít lợi ích thiết thực.

Gần năm năm qua Việt Nam đã chiếm gần hết mục tiêu của chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ. Trong các khu vực khác của thế giới, lợi ích chiến lược của Mỹ đã gần như bị bỏ quên. Sự phát triển của học thuyết Nixon nhằm tìm cách tập trung trở lại các tài nguyên quốc gia trong chiều hướng thích hợp cho những nhu cầu toàn cầu, trong khi đó thì thực sự tách ra khỏi Đông Nam Á, bằng cách cung cấp và đào tạo các lực lượng VNCH để họ tự chống lại quân xâm lược miền Bắc.

Đối với Bình và mỗi người Việt Nam nào có liên quan đến chung cuộc của cuộc chiến đấu cho đất nước, họ không muốn phải nhìn xa hơn thế và không màng đến ảnh hưởng của Liên Xô tại Âu Châu, Nam Mỹ hay Bắc Á. Tất cả những gì quan trọng, ngoại trừ những quyết định chính trị xảy ra tại Washington có khả năng ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn viện trợ cho Việt Nam, đều xảy ra tại khắp bốn Vùng Chiến Thuật của VNCH.

Ngay từ những ngày đầu Cầm đã quen phải sống xa Bình suốt những khoảng thời gian dài, họa hoằn lắm mới được ngắt quãng bởi vài lần ghé thăm nhà, không thường xuyên và không báo trước từ một góc nào đó xa xôi nhất của đất nước. Mối duyên tiền định vợ chồng của hai người ngay từ đầu có lẽ sẽ không có điều gì bất ngờ xảy đến… nếu Bình vẫn còn sống mãi.

Tình cảm nẩy nở gữa Bình và Cầm vừa có tính cách tân thời, lại vừa phong kiến nhưng có có lẽ theo nề nếp cũ nhiều hơn. Bình là một người con biết vâng phục, hiếu thảo và cũng rất kính mến bà mẹ vợ tương lai của mình. Cầm là một cô gái hiếu hạnh và ân cần. Những lần hẹn hò và viếng thăm của họ trong những lần Bình về thăm luôn luôn được canh chừng và giám sát. Đối với Bình thì sau khi đã trải qua chiến trận và thấy được những sự tồi tệ của nó thì giữ đạo hiếu làm con mang lại cho anh sự an bình và thanh thản.

George Philip, trong khoảng thời gian đó

Đối với dân chuyên nghiệp, được gọi một cách trân trọng hay bị coi thường là “chung thân” thì trở về từ Việt Nam khác hẳn với với người lính theo truyền thống lịch sử Hoa Kỳ. Lính quân dịch hay tình nguyện chỉ một nhiệm kỳ vào quân ngũ, đi Việt Nam, hồi hương, và sau đó cố gắng hội nhập lại đời sống thường trải qua những kinh nghiệm đón tiếp khác hẳn.

Những người như Gerry Turley và John Ripley, khi họ quay về từ Việt Nam, được hòa nhập ngay lập tức vào một tổ chức đã công nhận họ, nuôi dưỡng họ và tránh cho họ đến một mức độ nào đó về các thực tế phũ phàng về những sự thay đổi trong cái xã hội lớn hơn. Họ vẫn còn giữ được niềm tự hào của đời quân ngũ, và tuy không nói ra nhưng vẫn còn một sự tôn trọng thật sự về hệ thống quân giai giữa các chiến binh đã từng chịu đựng khó khăn gian khổ trong thời gian đi chiến đấu.

Trong thế giới dân sự và trong cuộc chiến này, không có diễn hành đón mừng nào, không có những vòng tay ôm nồng ấm hay vỗ vào lưng để tỏ lời cảm ơn, chẳng ai hỏi chuyện bằng những cách có thể biểu lộ sự kinh ngạc hay khâm phục dành cho những người đã phục vụ trong quân ngũ. Đối với nhiều người đã đáp lời sông núi, kinh nghiệm Việt Nam là một điều phải bỏ qua đằng sau, vứt nó đi, đóng kín lại rồi quên nó đi.

Đối với những thanh niên như George Philip, sinh ra để phục vụ nhưng vẫn còn quá trẻ để được gọi là “chung thân,” chưa có một người vợ để khẳng định mình là một mẫu đàn ông trong cái văn hóa đã lớn lên từ thuở nhỏ; do đó họ có một cái cảm giác lúng túng, một cái gì đó day dứt không rõ vị trí của mình ở đâu khi trở lại trong cái thế giới này.

Sau một tháng nghỉ phép, George trở về nhận nhiệm vụ mới tại trường Sinh viên sĩ quan OCS tại Quantico ở miền Đông. Anh chẳng có gì khó khăn lắm để nhận ra ở khắp chốn cái cảm giác khó chịu và ác cảm của đất nước đối với chiến tranh Việt Nam và đặc biệt là đối với những người mà họ cho là thuộc giới quân nhân chuyên nghiệp.

Bất chấp dư luận chung của cả nước, đối với George thì được làm Trung đội trưởng sinh viên sĩ quan trong cái chương trình 10 tuần tại OCS là một công việc khá thích thú. Mặc dù có sự kiện là vào cuối mùa hè 1969 có 500.000 thanh niên nam nữ tham dự lễ hội Woodstock tại White Lake, New York – hầu hết trong số họ đều cực lực phản đối chiến tranh – nhưng trong quan điểm của anh khi làm việc tại Quantico, George mừng là vẫn có một số lớn thanh niên ước ao được trở thành sĩ quan TQLC trong một cuộc chiến càng lúc càng gây nhiều sự tranh cãi. Vì nhu cầu cần các sĩ quan thiếu úy còn cao nên trường OCS phải hoạt động tối đa. Chỉ trong vòng một năm trời mà George đã giúp hoàn thành được bốn lớp khóa sinh OCS.

Trước khi tốt nghiệp tại Annapolis vào năm 1967, George đã dành khá nhiều thời gian với bạn bè đồng khóa đi chơi bời vui vẻ trong các quán ba và quán rượu sinh viên ngay trong vùng đại học Washington và những khu quanh đó. Trở lại chốn xưa vào cuối mùa hè 1969 và tìm kiếm lại những thú vui cũ của hai năm trước nhưng chỉ mang lại một sự cay đắng trong lòng.

Ngay trong cái quán đầu tiên mà George và một tay trung úy bạn bước vào khi mới trở lại Washington D.C. là một sự nhắc nhở thô bạo về những sự thay đổi đã xảy ra từ cái thuở huy hoàng trước. Vì chỉ có hai người mang mái tóc nhà binh cho nên họ nổi bật lên. Mặc dù không có ai dám nói thẳng với họ điều gì nhưng sự thù nghịch thì lộ hẳn ra. Sau khi uống vội mỗi người một lon bia, George quay lại cảnh cáo người bạn: “Thôi mình đi thôi. Mình không còn thuộc chốn này nữa…”

Hành quân với Tiểu đoàn 3

Lúc người Mỹ chính thức nắm vai trò chủ động khi tiến hành cuộc chiến Việt Nam vào năm 1965, họ đã thay đổi hoàn toàn các phương cách hành động. Tác chiến theo lối của người Mỹ, dựa trên quan điểm của đồng minh VNCH, giống như Texas đối với phần còn lại của Hoa Kỳ. Cái gì cũng lớn hơn và có vẻ vĩ đại hơn. Cách Mỹ đánh nhau là luôn luôn tìm những trận đánh quyết định, gần như là huy hoàng, với các đại đơn vị sử dụng tối đa hỏa lực dựa vào một nguồn tiếp vận vô tận. Cách họ sử dụng quân đội, nhất là các sĩ quan chỉ huy từ cấp tiểu đoàn đến cấp sư đoàn, nói lên quyết tâm tìm kiếm và giành chiến thắng bằng cách nào nhanh nhất.

Mỗi đợt tham chiến ở Việt Nam kéo dài 12 tháng đối với quân đội và 13 tháng cho TQLC. Hầu hết các sĩ quan chỉ được giao quyền chỉ huy trong một nửa thời gian tại Việt Nam, do đó khuynh hướng tự nhiên đối với những người ở vị trí chỉ huy này là lùng sục để đụng độ với kẻ thù, đánh bọn chúng những đòn quyết định để đời càng nhanh càng tốt.

Về phía người Việt thì có một điều không được hoàn toàn công bằng khi nói là cấp chỉ huy quân sự VNCH đã không tích cực, và theo cách nói của người Mỹ, không tìm cách “xác định vị trí, tiếp cận, và tiêu diệt” kẻ thù trong mọi cơ hội có được. Sự không đồng bộ về văn hóa cùng với những hạn chế về tiếp vận và nguyên vật liệu đã làm các phương pháp theo đuổi chiến tranh kiểu Việt Nam khác hẳn so với cách được huấn luyện và ưa chuộng bởi phương Tây.

Song song với việc người Mỹ để ý đến sự kém xông pha của đồng minh miền Nam Việt Nam thì các lãnh đạo chính trị và quân sự của VNCH cũng bị lúng túng khi Hoa Kỳ ngày càng có vẻ cố chấp trong thái độ cho rằng chiến lược phòng ngự là cách tốt nhất để tiến hành chiến tranh. Thậm chí cha của Bình, người đã khuyên người con trưởng của ông gia nhập TQLC để một ngày nào đó có thể tham gia vào việc giải phóng quê hương cũ gần Hà nội, vẫn mong trong một tương lai không xa lắm sẽ có những cuộc tấn công trên bộ nhằm giải cứu miền Bắc thoát ra khỏi áp bức của Cộng sản.

Lấy kinh nghiệm đã có một triệu Hồng quân Trung Cộng vượt sông Áp Lục vào tháng Mười Một 1950 khi lực lượng của Tướng MacArthur tiến hơi sâu vào lãnh thổ Bắc Triều Tiên, giới lãnh đạo chính trị Hoa Kỳ đã tự nhủ rằng, nếu muốn tránh cho Xô Viết và Trung Cộng không nghĩ đến chuyện đưa quân vào thì Hoa Kỳ nên giới hạn các cuộc bộ chiến trong phạm vi lãnh thổ của VNCH mà thôi. Dĩ nhiên là bọn Cộng sản Liên Xô và Trung Cộng rất vui và đã khuyến khích cũng như khai thác lối suy nghĩ đó.

Trong khi Cộng sản Việt Nam quan niệm tất cả những gì gọi là Đông Dương thuộc Pháp ngày trước là một chiến trường rộng lớn và hợp pháp thì Hoa Kỳ đã chọn giới hạn các nỗ lực trên bộ trong phạm vi biên giới của VNCH. Người Mỹ còn tự thuyết phục rằng khả năng cơ động dồi dào và hỏa lực của họ dư sức để bù đắp vào các hạn chế về địa dư, và Cộng sản cuối cùng rồi sẽ phải hoặc bỏ cuộc hoặc ngồi vào bàn đàm phán sau khi đã mất quá nhiều quân lính.

Một loạt thử thách mà các lực lượng vũ trang VNCH đã phải đối phó từ năm 1954 luôn luôn đáng kể. Với sự kiện là người Mỹ vào cuối năm 1968 muốn chuyển giao phần lớn trách nhiệm chiến đấu cho người đồng minh nhỏ bé thì các vấn đề này lại càng nghiêm trọng hơn nữa. Một trong những hậu quả không dự tính trước của việc người Mỹ lãnh phần lớn công việc đánh đấm từ 1965 là cấp chỉ huy Quân lực VNCH, trong nhiều trường hợp, đã ỷ lại quá đáng vào ân nhân Hoa Kỳ. Sự phát triển các đức tính trừu tượng nhưng vô cùng quan trọng trong nghệ thuật chỉ huy, chẳng hạn như sự chủ động, sáng tạo, và khả năng chuyên nghiệp đã bị hạn chế trong khi lẽ ra phải được tăng cường và khuyến khích. Sự lệ thuộc vào hỏa lực yểm trợ mà chỉ có quân đội Hoa Kỳ có thể cung cấp được lại là một yếu tố không thể tránh khỏi.

Cùng với các trở ngại về kỹ thuật mà Quân lực VNCH mắc phải lại còn các vấn đề lớn hơn nữa về tệ nạn tham nhũng, niềm tin về chính trị và khả năng chiến đấu nói chung. Hình ảnh của Quân lực VNCH qua truyền thông phương Tây là kết tụ của sự bất lực, kém hiệu quả, và thậm chí trong nhiều trường hợp đã có những đơn vị bội phản được điều hành chỉ để phục vụ cho lợi ích của những ông quan tướng thực chất là những lãnh chúa thời đại mới không hơn không kém.

Từ ngày thành lập của quốc gia vào năm 1954, máu của những chiến sĩ trẻ và TQLC trong các đơn vị miền Nam Việt Nam đã bị đổ ra quá nhiều trong công cuộc bảo vệ đất nước.

Lòng dũng cảm và tài ba khi chỉ huy không bao giờ thiếu trong các đơn vị tinh nhuệ như TQLC, Nhẩy Dù, Biệt Động Quân và Lực Lượng Đặc Biệt. Nơi các sư đoàn bộ binh chính quy còn lại, bao gồm khoảng 90 phần trăm của Quân lực VNCH thì phẩm chất không được đồng nhất. Điều chắc chắn là có những vị tướng đã khích lệ được binh lính với tinh thần chiến đấu cao và xông xáo. Tuy nhiên đã có quá nhiều trường hợp mà tinh thần gia đình trị, tham nhũng, huấn luyện chưa tới mức và chỉ huy yếu kém đã dẫn đến sự sa sút về tinh thần và hiệu quả kém cỏi.

Tiểu sử của TQLC Việt Nam

Ngay từ khởi đầu, TQLC Việt Nam là một tổ chức không hề có chuyện bê bối và tham nhũng. Bị bắt buộc sau ngày thành lập là phải phát triển, thích nghi hoặc bị đào thải cho nên TQLC đã trở thành một sự pha trộn tinh hoa phát xuất từ tinh thần thượng võ Đông và Tây. Trong vòng năm năm từ khi được hình thành, nhiều sĩ quan trẻ của đơn vị đã được thường xuyên gởi đến Quantico để học tại Trường Căn Bản, chung với các thiếu úy người Mỹ mới ra trường. Còn các hạ sĩ và thượng sĩ trẻ nổi bật nhất thì cũng được gởi đi học để trở thành các huấn luyện viên quân đội.

Đến tháng Sáu 1959 thì TQLC và đơn vị ưu tú và trung thành về chính trị tương tự là Sư Đoàn Nhẩy Dù (cả hai binh chủng lúc đó vẫn còn ở cấp số lữ đoàn) được chỉ định làm lực lượng tổng trừ bị chiến lược cho quốc gia. Với những áp lực nổi loạn ngày càng tăng của Cộng sản thì binh chủng TQLC tự nhiên phải lớn mạnh theo cả hai khía cạnh quy mô và tầm vóc. Tiểu đoàn bộ binh đầu tiên được thành lập vào năm 1954 và cho đến 1960 thì phát triển thành bốn tiểu đoàn. Vào năm sau, với sự trợ giúp của các cố vấn TQLC Hoa Kỳ, một lữ đoàn được thành lập, bao gồm một tiểu đoàn pháo binh và các đơn vị yểm trợ nhỏ hơn để giải quyết các vấn đề về chỉ huy, kiểm soát và tiếp liệu khác nhau.

Khoảng cuối năm 1968, TQLC có tám tiểu đoàn bộ binh được chia thành ba lữ đoàn. Với quân số tương đương với ba trung đoàn, binh chủng TQLC được chính thức công nhận là sư đoàn. Hạ tầng cơ sở về tiếp vận cũng được tăng cường để duy trì các nhu cầu ngày càng cao trên chiến trường. Theo kế hoạch thì sẽ có thêm một tiểu đoàn bộ binh thứ chín để hoàn chỉnh lữ đoàn 3 khi đã tuyển mộ và huấn luyện đủ quân số. (Một lữ đoàn trên căn bản là một trung đoàn cộng thêm một số đơn vị phụ thuộc để tăng cường hiệu năng chiến đấu. Một trung đoàn thường có ba tiểu đoàn. Trong trường hợp của TQLC Việt Nam, một lữ đoàn có ba tiểu đoàn bộ binh, một tiểu đoàn pháo binh và một loạt các đơn vị yểm trợ nhỏ khác. Thoạt tiên khi TQLC thành lập được ba lữ đoàn, các đơn vị này được đánh số là Lữ đoàn 147, 258 và 369. Lữ đoàn 147 ban đầu bao gồm tiểu đoàn 1, 4 và 7, v.v… Sau một thời gian, các tiểu đoàn được hoán chuyển giữa bộ chỉ huy của ba lữ đoàn, vì vậy tiểu đoàn 1 thỉnh thoảng đi với hai lữ đoàn khác v.v… nhưng tên gọi của lữ đoàn thì vẫn giữ nguyên).

Mặc dù TQLC Việt Nam cũng giống như TQLC Hoa Kỳ về các mặt như sự dũng mãnh khi chiến đấu, tiêu chuẩn cao về kỷ luật và chỉ huy, nhưng những sự khác biệt không phải là ít. Binh đoàn TQLC Hoa Kỳ được người dân Mỹ biết đến như là một ngành truyền thống, khó khăn và khắc khổ nhất trong bốn ngành của quân lực Hoa Kỳ. Sự khắc khổ này có vẻ đã lỗi thời trước những sự thay đổi của xã hội đang xảy ra. Trong khi đó thì các quy tắc về ứng xử chính thức cũng như mặc nhiên được công nhận theo kiểu võ sĩ đạo đã được chấp nhận và sử dụng rộng rãi trong phạm vi nhỏ hẹp của TQLC Việt Nam khiến cho người anh em TQLC Hoa Kỳ có vẻ không khắt khe bằng.

Các vấn đề liên quan đến tội phạm và mất danh dự được giải quyết một cách nghiêm khắc trong nội bộ TQLC, nhất là nếu vi phạm trong khi chiến đấu. Hình phạt về thể xác đối với các loại tội phạm hay vi phạm kỷ luật được thực hiện ngay ở cấp tiểu đoàn hoặc thấp hơn. Nếu một hành vi tội lỗi thật sự nghiêm trọng thì hình phạt tử hình được thi hành bởi đích thân tiểu đoàn trưởng trước sự có mặt của tất cả các TQLC của đơn vị. Quyền lực gần như là tuyệt đối được trao cho cấp chỉ huy quân sự đã cho phép sự thi hành công lý cấp thời đối với những tội phạm nào được coi là nghiêm trọng.

Nhiều hơn bất cứ một ai khác, tính khí, phong cách chiến binh và uy tín tuyệt đối của các TQLC đã được thấm nhuần, truyền bá, thấm sâu, truyền tụng, và khuyến khích phần lớn do một vị sĩ quan có tầm nhìn xa trông rộng đã nhận lãnh vai trò chỉ huy từ khi đơn vị mới thành lập và sau đó đã trở thành vị tư lệnh đầu tiên từ năm 1960. Bắt đầu là một sĩ quan cấp úy mới tinh khôi của một đơn vị tuần giang để rồi cuối cùng phát triển thành binh chủng TQLC Việt Nam, Lê Nguyên Khang là người được coi là đúng người, đúng lúc và đúng việc. Ông là một trong những người miền Bắc di cư sau này được thăng tiến vào những vị trí quyền lực của chính quyền VNCH. Tài chỉ huy xuất sắc của thiếu tướng Khang và viễn kiến của ông về vấn đề TQLC cần phải phát triển ra sao, đã được cộng thêm với lòng hận thù Cộng sản khắc sâu trong tâm hồn.

Những nỗi khó khăn mà tướng Khang và binh chủng TQLC Việt Nam gặp phải, tuy thực sự có vẻ to lớn, nhưng không đến nỗi đáng kể như của Quân lực VNCH do bởi cơ cấu này lớn hơn nhiều nên không có phẩm chất đồng đều giữa các sĩ quan và binh sĩ. Trở ngại lớn nhất trong việc cải thiện thành công toàn bộ tổ chức cho tất cả các lực lượng VNCH trên chiến trường chính là khuynh hướng dựa trên sự tôn trọng cứng ngắc vào quyền hành.

Các quan niệm Khổng giáo lâu đời như lòng kính trọng các trưởng lão và cấp trên đã giới hạn nhiều đến các sáng kiến cá nhân và sự tự do phát biểu ý kiến. Tính “sùng bái lãnh tụ” chỉ có lợi khi mà mọi chuyện đi vào chiều hướng thuận lợi cho đơn vị nhưng lại phụ thuộc quá nhiều vào thiên tài quân sự của người chỉ huy. Khi các điều kiện chiến trường chuyển biến thì luôn luôn cần phải có sự thay đổi trong các kế hoạch đã được thiết lập và đã được thực tập trước khi lâm trận. Một khi chiến trận được bày ra thì sự linh động lúc hành động thường bị cản trở bởi nhu cầu phải có sự chấp thuận rõ rệt của cấp trên trước khi thực hiện những sự thay đổi cần thiết và các quyết định quan trọng. Trong tất cả các trường hợp thường xuyên xảy ra chuyện phải mất quá nhiều thời giờ khiến các mạng sống và phương tiện quý giá bị thiệt hại. Trùng hợp với các hệ thống chỉ huy theo quân giai cứng ngắc là các vấn đề về sĩ diện và giữ thể diện, một khái niệm mà người cố vấn Hoa Kỳ rất khó mà coi trọng khi sự thành bại của công tác đang nằm trên cán cân.

Một điểm yếu quan trọng khác đã trở thành cấp bách hơn khi binh chủng TQLC tiếp tục đảm nhận một phần trách nhiệm chiến thuật lớn hơn từ các đơn vị Hoa Kỳ tại Vùng I Chiến Thuật, và khi họ chuyển lối tác chiến từ cấp tiểu đoàn riêng rẽ lên cấp lữ đoàn (ba tiểu đoàn), là sự cần thiết phải huấn luyện và thực hiện tốt hơn các trách nhiệm tham mưu cho các chiến dịch quân sự tinh vi hơn. Nhiều điều có tính cách thông thường và thuộc về bản chất thứ hai của các sĩ quan quân đội đào tạo từ các quân trường chính quy, chẳng hạn như sự quan trọng của các chương trình bảo quản một cách có hiệu quả quân trang quân dụng, không hẳn là rõ rệt dưới chế độ “tôn sùng lãnh tụ” theo lối cổ. Sự thiết yếu phải phát triển các bộ phận phối hợp có hiệu quả và các thủ tục căn bản về vận hành để các phần hành chánh (S1), tình báo (S2), hành quân (S3) và tiếp vận (S4) có thể phối hợp nhịp nhàng với nhau một cách có hiệu quả, và vận dụng được tối đa cơ hội thành công của chỉ huy trưởng ngoài chiến trường là những điều mà cố vấn quân sự Mỹ phải rất khó khăn lắm mới truyền đạt nổi cho phía VNCH.

NỬA SAY

dulehue

Kẻ sĩ say-lưng chừng
Tiện dân say- buông thả
Quan lại say-đau dân
Người tình say-duyên vỡ

Và ta say chiều nay
Bên quán đời hiu quạnh
Già nua còn mơ mộng
U mê ngấm trong lòng

Đời hơn một nửa say
Tình quá chưa ngàn dặm
Mắt em còn ruỗi rong
Ta ngậm ngùi tăm tối

Mấy thuở làm trượng phu
Một lần ai Phạm Thái
Tóc em vật vờ bay
Thoáng qua đời chua chát

Đôi khi ta chán ta
Xảo quyệt còn lơi lỏng
Để nghiêng hồn vớ vẩn
Rụng xuống môi em hồng

Phải xua cho hết tình
Chừ heo may thiếu gió
Không dư gợi mùa thu
Môi ai cười khốn khó

Em không biết ta say
Khi mặt trời vừa tắt
Ta say từ lâu rồi
Thuở nào khi lạc dạ

Nguòi không là cây cỏ
Sao ẩm ướt ngày đông
Cây sầu đông trước mặt
Lạnh trơ cành hư không.

Kim Vô Vọng

TÔI ĐANG MƠ…GIẤC MƠ DÀI…

luuthy

11863363_884354278286613_5870090782760208539_n

-You, tối qua tui mơ thấy một giấc mơ dài… You muốn tui kể hông?
-Kể đi!
-Hôm qua hỏi, You hông trả lời, giờ You mới nói kể đi. Ừ, giờ thì tui kể, mà tui quên gần hết rồi… Đại khái là tui mơ thấy hơn mấy chục triệu đứa con nít Việt Nam xuống đường tuần hành biểu tình đòi quyền được có tương lai, chúng cầm khẩu hiệu “WE ARE THE FUTURE”… Con nít khắp nước túa ra đường, ra ngõ, ra phố xá, ra công viên, ra khắp nơi…Tất cả phóng viên nhà báo khắp thế giới cũng túa ra đường tới sân bay đáp chuyến sớm nhất sang Việt Nam săn tin làm phóng sự.
“Con nít VN làm chính trị, tạo lịch sử, khiến lịch sử phải sang trang...” Mấy nhà báo nước ngoài viết như vậy.
Thế rồi Obama lên tiếng, Merkel can thiệp, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc kêu gọi, và tất cả nhi đồng thế giới đều túa ra đường ủng hộ nhi đồng Việt Nam.
Những người lớn Việt Nam cũng túa ra đứng hai bên đường. Túa ra đứng hai bên đường để… You biết để làm gì hông?
-Hông.
-Hông hả? Những người lớn Việt Nam túa ra đứng hai bên đường để chụp hình đám nhỏ nhi đồng.
-Chụp hình để làm chi hả?
-Chụp hình để đưa lên facebook. Ai viết được thì viết, viết ít thì vài dòng, viết nhiều thì nhiều chục dòng, rồi dùng tấm hình chụp làm hình minh hoạ. Ai không viết được thì đưa tấm hình chụp mấy đứa nhỏ có cái bản mặt mình đang selfie bên cạnh.
-Đưa lên facebook để làm gì hả?
-Đưa lên để câu like với câu còm, để ta với friend cùng nhau “tranh luận”…

Lưu Thy Nguyễn