TRÊN DÒNG HỒI ỨC XANH

tranvannghia

Cởi chiếc áo mù sương choàng về bên đó
Để khỏi mũi lòng đêm chẳng có ai qua
Ngọn đèn nhà em trêu ngươi ,
cứ mãi nhập nhoà
Lủi thủi tôi về ,
vấp nỗi đau tủi hờn nằm lì trước ngõ

Mùì hoa mồ côi lang thang trong gió
Chở giấc mơ tìm
xao xác giảng đường mưa
Trên lối dốc qua lá thả nhớ gọi mùa
Những trái thông già đâm ngón tay đau nhói
Sóng sánh về đâu
bao điều chưa dám nói
Phố đời lặn lội bóng lơ ngơ
Quán ,cà phê từng giọt lanh tanh
nhoè xám mặt hồ
Tôi gửi mối tình
chòng chành về phía ngọn đồi
có ngôi trường và tháp chuông cao cổ kính
Có ga xe lửa buồn
nằm mơ một thời xa còn bịn rịn
Mong mỏi một lần nghe tiếng còi qua
Đâu còn chuyến tàu nào
đưa tôi trở lại thành phố
có sương , có thác, có hoa
Có em , một người con gái
Và còn có tôi hong tình
trên thảm cỏ đời mê dại
Điên nhớ nụ hôn hoá đá hôm nào
Hằn sâu vết dao
Bàng hoàng đêm trăng vỡ

Cởi chiếc áo mù sương đem choàng về nơi đó
Chỉ còn ngôi nhà lạnh dấu vôi phai
Chỉ còn bên rào vời vợi ngón tay ai
Chỉ còn tôi tìm về
hồi ức xanh
loanh quanh
con đường chiều cư xá.

TRẦN VĂN NGHĨA
Phan Rang

thơ nhỏ

npphan

1.
áo người
tắm mộng vườn trăng
trời sơ khai
dậy
tình bằng cỏ hoa
sánh vai bước
mộng giang hà
tay che nhật nguyệt
hồn ta lũng sầu

2.
nến hồng
thắp ngọn kiêu sa
quỳnh hương ảo diệu
nửa xa
nửa gần
đất trời
một thoáng thanh tân
ta nằm
nghe
mộng trăm năm
gọi về

3.
cúi đầu
ta khóc hồn trinh
nhánh hoa tóc buộc
chút tình lãng quên
em xưa
ảo ảnh hai miền
bước chân bỏ lại
trời thiêng
ngậm buồn

NP phan

THỦY TINH TAN VỠ (tt)

tonnuthudung

CHƯƠNG 3 :

-Đó là một thảm kịch , cháu hiểu không Diệp … Một thảm kịch mà chúng ta sẽ phải giải quyết một cách hết sức hợp lý hợp tình…
-Cháu không cần hiểu gì hết . Ba cháu sắp được thả rồi … ba cháu gởi thư về nè bác
-Lâu lắm mới thấy cháu vui, nhưng cháu dùng từ “thả “ là không ổn rồi … Học tập xong thì về chứ có ai bắt bớ giam cầm gì đâu mà “thả “, cháu.
-Bác có đến những trại cãi tạo bao giờ chưa ??? Đến bất ngờ thôi chứ không phải kiểu quan lớn vi hành ??? Cháu đã từng chui rúc trong rừng tìm thăm ba cháu khi chưa được phép thăm nuôi…
Ông đặt bàn tay to lớn lên tóc tôi , vỗ nhè nhẹ :
-Bình tĩnh kể bác nghe .
( nhiều người phục ông ở tài dân vận … ông đã lấy lòng được một con bé đa nghi ,thủ thế và khó chịu như tôi.)
Tôi chớp mắt , cố giữ mình không khóc , tôi nghĩ mình đã cứng rắn chai lì đi nhiều lắm . Im lặng ,tôi nhớ lại những gì xảy ra cách đây 8 tháng mà vẫn còn hiển hiện rõ ràng như mới hôm qua.
…Từ con đường mòn xuống núi , một dòng người xiêu vẹo nương trong bóng chiều nhập nhoạng … Như đám tàn quân chiều trận mạc/ Khoác chiến bào che giấu vết thương … những chiếc áo lính trở nên rộng thùng thình , bạc phếch màu hoang phế … Những vết thương đâu thể che giấu trong những đôi mắt mõi mòn tuyệt vọng… mà cần chi che giấu ??? Tôi níu chặc tay người đàn bà vừa quen trong chuyến đi này , hốt hoảng :
-Sao chẳng thấy ba em đâu cả chị ơi ! hay còn đường nào khác nữa ?
– Chờ chút đi em . Chỉ có một đường thôi , đi từng đội một …
Người đàn bà vừa nhìn thấy chồng buông tay tôi , chạy ùa tới . Tôi ngơ ngác đứng lại một mình . Một người đàn ông lớn tuổi rời đoàn , đến cạnh tôi :
-Cháu tìm ai ?
-Ba cháu , ông TTD, trước chỉ huy Trung Tâm Huấn Luyện Công Chức ở Nha Trang . Chú có thấy ba cháu không ?
– Có chứ , ba cháu đi sau cùng đó . cháu về Nhatrang cho chú gởi lá thư,
Ông đặt khúc gỗ xuống , lấy trong túi ra một lá thư nhàu nát , vuốt ngay lại , trao tôi… Tôi mở ba lô cất vào cẩn thận … những lá thư được đưa về cho người thân bằng mọi cách …những tin tức rất mơ hồ đến tay người nhận trãi qua những quãng thời gian rất xa…
Có ai vỗ vai tôi , tôi giật mình đứng thẳng người lên , hét lớn :
-Ba , trời ơi , ba.
Nước mắt tôi ràn rụa chảy…Tôi tưởng mình không còn vắt ra một giọt nước mắt nào nữa sau 2 ngày chui rúc tuyệt vọng trong rừng… Tôi ôm chặt lấy ba tôi , hít hà đánh hơi ông như con chó con hệt những ngày thơ ấu … Không còn mùi xì gà La Habana thơm thơm , không còn mùi cognac nồng nồng , không cả mùi hương gỗ của những lần ông đi rừng về nữa … Chỉ là mùi chua của mồ hôi , mùi khét của nắng đốt , mùi nồng của một loại thuốc lá rẻ tiền… nhưng tôi vẫn được bao bọc bởi một mùi hương yêu thương tuyệt đối …Tôi rúc vào ông để tìm một hạnh phúc , một niềm hy vọng được chở che như ngày xưa , để tôi có thể dõng dạc tự hào : tôi không hề sợ ai khi có ba tôi bên cạnh !!! Chiếc rựa trên vai ông đè nặng vai tôi đau điếng…ông ném chiếc rựa xuống đất , dịu dàng :
-Can đảm lên , nhóc con. Nước mắt đâu mà nhiều vậy , ướt hết cả áo ba rồi.
Tôi không ngừng nức nở…tôi muốn kể chuyện này chuyện nọ cho ba nghe nhưng không thể nói khi đang khóc tức tưởi . Ba tôi hỏi :
-Mẹ và tụi nhỏ sao rồi ???Con đem gì nhiều vậy ??? Xách nặng giỏi quá ta !
Tôi chùi mặt vào vai áo ba chua lét :
-Mẹ đem thuốc tension ,thuốc lá , thức ăn khô và tiền … con cố đem nhiều thứ để ba dùng .
Ba tôi cười :
-Con gái ba giỏi quá , chỉ có điều là mít ướt quá đi ! Duy làm gì ở nhà vậy con?
– Nó đi làm thủy lợi ở Đồng Tròn ba ơi , hôm nó về tay chân rướm máu vì chưa quen cầm cuốc,
Nói xong tôi thấy mình ngu và lanh chanh kinh khủng . Duy là cậu trưởng nam yêu quý của ông . Ông vẫn so sánh để chọc cho tôi giận hồi còn ở nhà : Nhất nam viết hữu , thập nữ viết vô… Tôi ân hận vì đã dại dột nói điều không nên nói , tôi lén nhìn mặt ông dò xét … nhưng ông rất thản nhiên , bất cứ tình huống nào ông cũng thản nhiên và chấp nhận :
-Để nó cực khổ cho quen con à . Con lớn nhất nhà , phải giúp mẹ để ý bọn nhỏ học hành nghen con .Tôi cắn môi :
-Ba ơi , ba học tập có sao không ???
Hiểu ý tôi , ông cười, những vết chân chim ở cuối đuôi mắt nheo lại hiền lành :
-Không sao , ba ở trại chung với mấy chú , mấy anh trong trung tâm …toàn người nhà cả đó mà…
Để chứng thực lời nói đó, người đàn ông đứng chờ ba tôi nãy giờ tiến tới …đó là anh Thiện , người vẫn đi cạnh ba tôi từ ngày trước , anh nhìn tôi , xót xa :
– Diệp theo người ta về chứ lạc đó . Lúc nào bọn anh cũng bên ba .
Ba vuốt tóc tôi , dịu dàng :
-Về đi con , chắc tết ba sẽ về.
Ông quay lưng đi, anh Thiện cúi xuống lượm chiếc rựa ông quên nhặt … Bóng hai người dềnh dàng đi trong chiều âm u … những sợi nắng quái rơi rớt trên từng đám cây rừng đe dọa một đêm mưa tầm tả …Ước chi ba tôi quay lại một lần , nhưng ông không hề quay lại … tôi ngồi xuống , khóc nức nở , cho đến khi người đàn bà mới quen đến dẫn tôi về :
– Nín đi , tháng sau chị sẽ dẫn em đi nữa … Mình phải ra khỏi rừng nhanh sợ mưa …
(Nhưng tôi đã không gặp lại chị thêm một lần nào nữa dù chị cho địa chỉ … khi tôi tới thì nhà chị đã bị tịch thu vì vắng chủ… chị dẫn con đi vượt biển… tôi vẫn cố tìm lại chị qua tin tức người quen nhưng vẫn biệt tăm …)

CHƯƠNG 4 :

Tôi không thể tưởng tượng nỗi là ba tôi đã ra đi , vĩnh viễn ra đi…Không một tin tức nào cho đến khi tôi được gọi đến Bệnh Viện Tỉnh để ký giấy mang ba về nhà chôn cất !!!
Lý do ghi trong hồ sơ bệnh án : huyết áp cao , đứt mạch máu não …
Mấy anh cùng tổ của ba theo về bệnh viện nói : Ông không uống thuốc nữa …
Tôi không hiểu được … tôi chai cứng cảm giác từ ngày ấy . Những cái chết thật phi lý …
Những cái chết sau khi tàn cuộc chiến …
Những cái chết tức tưởi trong hòa bình …
Cũng xong một kiếp người …
Điều an ủi lớn nhất là đám tang ông đông đến nỗi dân phòng phải xuống giữ an ninh trật tự và ghi tên từng người đi đưa đám… nhưng chẳng ai dám làm khó dễ gì khi có sự hiện diện của ông bà chính ủy… Chắc ba tôi lại mỉm cười như ngày nào khi đưa cho tôi bài thơ ông viết :
Học tập ba đêm đã hiểu rồi
Từ nay phú địa thế là thôi
Công danh sự nghiệp cò ngay cánh
Một phút cơ đồ chó quỵt đuôi
Giận vợ còn ham đài các mãi
Buồn con vẫn giữ tác phong chơi
Biết rày sớm liệu đeo đuôi nghé
Đến nỗi nào tiêu vốn lẫn lời …

Tôi không hiểu được …Tôi nghĩ rằng không còn nỗi đau nào lớn hơn…

Vĩnh biệt ba và những ngày tươi đẹp …

Chuyện kể của một gã lang thang

dotrungquan

đấy là một ngày nào đó của một năm nào đó
người đàn ông trờ thành kẻ không nhà
tự nguyện
dù hắn có cửa nhà

hắn là thi sĩ ngốc nghếch
quen nói
trăng là trăng
mây là mây
gió là gió
không thể là gì khác

hắn không biết đánh bạc
ngôi nhà tự bao giờ trở thành nơi cờ bạc bịp
thế là hắn vui vẻ ra đi
đấy là một ngày nào đó của một năm nào đó
thế kỷ gần hết
còn hắn gần chết
hắn vẫn thản nhiên nói : ai mà không đi đời
nhưng cờ bạc bịp thì ta xin thôi
đã quá đủ trong ngôi nhà này

lửa
mồ hôi
máu
chia lìa
đói khổ
chòi lá dựng xong thì bão tố
lửa âm ỉ trong xương dưới những mộ phần
biển rã mục đêm xuống tàu định mệnh
sum họp nơi này
nơi kia ly tan

ngôi nhà ấy như phạm lời bùa chú
nên mồ hôi sôi vầng trán cha già
nên trẻ thơ ra đời trong lửa đạn
lưng mẹ như vòm trời úp trọn phong ba

ngôi nhà ấy như khoảnh vườn hoang dại
cây đau thương không hạt cũng đâm chồi
hạt nghi kỵ không gieo mà đậu quả
những dấu chân trôi góc bể chân trời

đấy là ngày nào đó của một năm nào đó
người đàn ông làm một kẻ không nhà
lầm lũi gập mình trên sỏi đá
bới tìm trong định mệnh
một chồi hoa

ĐỖ TRUNG QUÂN

CƯỠI NGỌN SẤM 18 : MỸ LAI

cuoingonsam

richardbotkin

Chương 13

Mỹ Lai

Cuộc thảm sát hơn ba trăm thường dân vô tội tại ngôi làng nhỏ Mỹ Lai, một hành động ghê tởm nhất kể từ thời của các cuộc chiến tranh chống lại người da đỏ gần một trăm năm về trước lại gây nên bởi một đơn vị bộ binh Hoa Kỳ, đã xảy ra vào ngày 16 tháng 3 năm 1968. Biến cố này xảy ra trong phạm vi Vùng I Chiến Thuật một vài tuần trước khi George Philip đến. Mặc dù sự việc đã không được công bố với dân chúng Mỹ cho đến năm 1969 nhưng nó đã trở thành nguyên nhân đình đám cho tất cả những người phản đối sự tham gia của Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam.

Đối với những người được thông tin một cách sai lạc hay họ cố tình không chịu tìm hiểu, chữ “Mỹ Lai” đã trở thành một tĩnh từ có tính cách diễn tả, một biện pháp mà mọi người cho rằng đó là phương cách mà giới quân sự thường sử dụng để hoạt động và thực hiện các cuộc hành quân. Trên thực tế, cuộc thảm sát tại Mỹ Lai là kết quả của sự yếu kém trong vai trò chỉ huy của một số đơn vị thuộc Sư Đoàn Americal và là một điều sai lầm, hoàn toàn đối nghịch với đường lối tiến hành các cuộc hành quân tác chiến.

Sự kiện tại Mỹ Lai thật ra chỉ là một trang sách phụ so với sách lược của Việt cộng, một sự lặp lại, ở một quy mô nhỏ hơn rất nhiều, của các hành động của quân đội Bắc Việt tại Huế vừa rồi, hoặc những chuyện xảy ra thường xuyên trong các cuộc tổng công kích của Cộng sản vào những năm 1972 và 1975. Tất cả những điều này đã làm cho sự kiện Mỹ Lai trở thành gần như vô nghĩa nếu so về số lượng tuyệt đối và sự độc ác tàn bạo.

Các tin tức trong nước và quốc tế, tuy sự kiện về Mỹ Lai chưa được tiết lộ, cũng không được khích lệ lắm trên quan điểm chính trị của người Mỹ. Xung đột về chủng tộc và các cuộc biểu tình phản chiến liên tục và quá nhiều ở các trường đại học trên toàn quốc đã làm chuyển hướng, làm loãng và tiêu tan đi quyết tâm của chính phủ đã có từ trước nhằm chấm dứt chiến tranh bằng một sự chiến thắng truyền thống nào đó.

Vụ chiếc tầu USS Scorpion (SSN-589) – một chiếc tầu ngầm xung kích nguyên tử – bị đắm một cách bí ẩn vào ngày 22 tháng Năm đã gây bối rối lớn cho Hải quân Hoa Kỳ nói chung và Toán Công Tác Thầm Lặng (Silent Service) nói riêng. Chưa đầy năm năm sau khi bị mất chiếc USS Thresher (SSN-593) và ngay tức thời sau khi chiếc USS Pueblo bị vây bắt, sự mất mát của chiếc Scorpion chỉ là một sự kiện phụ trội làm giảm sút thêm niềm tin của công chúng vào tiềm năng phục vụ của quân đội.

Việc chiếc USS Scorpion bị chìm là mối quan tâm lớn cho các cấp cao nhất của chính quyền và giới quân sự. Vụ này xảy ra chỉ khoảng 10 tuần sau khi chiếc tầu Xô Viết K-129 bị mất, một chuyện mà công chúng Hoa Kỳ không hề biết, và có những câu hỏi được đặt ra là liệu chiếc Scorpion đã bị đánh chìm bởi hành động thù địch hay thật sự là bị hỏng máy móc? Có khi nào người Nga đã hiểu lầm rằng chiếc K-129 đã bị tấn công bởi một tiềm thủy đĩnh hay lực lượng chống tầu ngầm nào đó của Hoa Kỳ, thành thử họ đã tấn công chiếc Scorpion để trả đũa chăng? Đó là câu hỏi mà Tổng thống và các cố vấn của ông đã đặt ra mặc dù vấn đề này không thể công bố ra ngoài được.

Ngay cả việc, dù đã có một số lượng lớn quân Bắc Việt và Việt cộng bị giết và bị bắt trong cuộc tấn công tết Mậu Thân, nhưng những người Mỹ trước kia vẫn tin tưởng vào lời tuyên bố của các nhà lãnh đạo cho rằng đã thấy được ánh sáng ở cuối đường hầm thì nay càng lúc họ càng thấy có quá nhiều rối rắm xảy ra. Ý chí quốc gia phải tiếp tục đầu tư xương máu và tài sản đến tận mạng vào Đông Nam Á đã nhạt dần đi. Quyết định của Tổng thống Johnson từ chối lời yêu cầu của Đại Tướng Westmoreland về việc cho bổ sung hai trăm ngàn binh sĩ và sự không tỏ thiện chí trong việc gọi thêm quân trừ bị cho thấy sự do dự của ông. Vấn đề này đã không tránh khỏi sự chú ý của các lãnh đạo ở Hà Nội, Bắc Kinh, và Moscow.

Việc Robert Kennedy bị bắn sau khi thắng cuộc bầu cử sơ bộ trong kỳ tranh cử Tổng Thống tại California vào buổi tối ngày 5 tháng 6 và cái chết của ông vào sáng sớm hôm sau đã khép lại mãi mãi hoài vọng luôn ấp ủ của nhiều người Mỹ, đặc biệt là những người phản chiến, hầu có thể trở lại những ngày tháng dường như là huyền diệu trong nhiệm kỳ tổng thống của ông anh trai.

Vào cuối tháng Sáu, cuối cùng căn cứ Khe Sanh đã chính thức được đóng cửa và bị bỏ phế. Ngày 1 tháng Bẩy, Đại tướng Westmoreland chuyển giao nhiệm vụ Chỉ Huy Yểm Trợ Quân Sự tại Việt Nam (MACV) lại cho Đại tướng Creighton Abrams. Đại tướng Westmoreland lên làm Tham mưu trưởng quân đội. Sự ra đi của ông khỏi vùng Đông Nam Á sau bốn năm nắm quyền chỉ huy cũng – ít nhất là trong thời khắc đó – đã làm tiêu tan đi hết các kế hoạch trọng yếu tấn công thẳng ra miền Bắc bằng các lực lượng bộ binh, tấn công vào các sào huyệt của Cộng sản bên Lào hay vào hệ thống hạ tầng cơ sở vĩ đại của con đường mòn Hồ Chí Minh

Nuôi dưỡng con quái vật

Khi Gerry Turley kết thúc thành công chu kỳ nhiệm vụ đầu tiên tại Việt Nam với tư cách là một sĩ quan Trung đoàn và sau đó là sĩ quan hành quân và Tiểu đoàn phó của tiểu đoàn 3, Sư đoàn 7 TQLC Hoa Kỳ; và khi John Ripley bàn giao quyền chỉ huy của Đại đội Lima, có thể nói là họ đã chiến thắng. Hay ít nhất là Turley và Ripley, cùng tất cả các TQLC khi chung sức với nhau đã nghĩ như vậy. Nhìn dưới bất cứ khía cạnh nào mà đầu óc người Mỹ hay người phương Tây có thể lý luận được thì đều thấy là người Mỹ đang chiến thắng tại Việt Nam. Ngày qua ngày rồi tháng qua tháng đã có thêm nhiều đồng đội bị hy sinh. Nhiều người khác nữa bị thương trầm trọng. Nhưng cũng trong những ngày tháng đó, trong những trận đánh hầu hết không có tên gọi, họ đã chiến đấu rất dũng cảm, đôi khi uyển chuyển nhưng không bao giờ chịu thua, và đã giành lấy vinh quang trong mỗi lần đụng độ. Trong tất cả những lần ra trận. Ít nhất là họ đã trở về nhà, trong lòng tin tưởng họ đã chu toàn nhiệm vụ, tin chắc là những sự hy sinh đều có giá trị và chiều hướng cuộc chiến đang thuận lợi cho họ.

Mùa xuân Praha

Mùa Hè năm 1968 không thể gọi là “Mùa Hè của tình yêu, phần hai”* nổi. Trong giai đoạn này của cuộc chiến, với những cuộc nổi loạn lan rộng về chủng tộc và biến động xã hội mà phần lớn có vẻ như được gắn liền với sự mục ruỗng thấy rõ của các chính sách ngoại giao và đối nội Hoa Kỳ, thật khó mà còn nhớ nổi là nước Mỹ không phải là nguồn gốc phát sinh duy nhất của tội ác. Các trang nhất trên báo, và tin tức truyền hình đều thiếu vắng tin tức về các cuộc đàn áp thực tế đang diễn ra tại một số quốc gia độc tài cảnh sát trị.

Sự gia tăng chậm rãi nhưng liên tục về các lợi ích tất nhiên của nền Tự Do và kinh tế tự do đang được thúc đẩy ở khắp mọi nơi tại Châu Á ngoại trừ Trung Cộng và Bắc Triều Tiên cũng không được tường trình đầy đủ. Trung Hoa Quốc Gia, Hồng Kông, Singapore, Nam Hàn, Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Philippines, và đặc biệt là Nhật Bản, không ở đâu là không có vấn đề, nhưng tất cả đã cho thấy những dấu hiệu của sự tăng trưởng về kinh tế và sự phát triển của những nước không theo chủ nghĩa cộng sản.

Hầu hết người dân Nhật Bản đã vượt qua thời đại của “ba báu vật” (máy giặt, tủ lạnh và truyền hình đen trắng) và đang tiến vào thời kỳ “ba chữ C” (Car/Xe hơi, Color television/Truyền hình màu, và Cooler-Air conditioner/Máy lạnh-Máy điều hòa). Các nền kinh tế khác nhỏ hơn đang cố gắng bắt theo sau. Một khi đã được tiếp xúc với những tiện nghi của nền Tự Do và đạt mức sống căn bản cao hơn thì rất khó mà quay đầu ngược trở lại.

Cùng lúc đó và gần như không ai ở phương Tây để ý đến là sự thù hận ngày càng lớn giữa hai nước đàn anh chính của Bắc Việt. Đến tháng Tư năm 1968 Liên Xô đã bắt đầu điều động một phần ba lực lượng bộ binh tác chiến đấu hầu chống lại một lực lượng tương đương của Mao Trạch Đông cũng đang trải dọc theo đường biên giới chung dài bốn ngàn dặm. Thật không may cho Lê Bá Bình, George Philip, và tất cả các chiến hữu có liên quan là các chính trị gia Hoa Kỳ đã thiếu khả năng trong việc khai thác thuận lợi từ sự rạn nứt giữa hai cường quốc đỏ này.

Trong hơn hai mươi năm, “nữ thần” Tự Do đã bị cố tình nhốt chặt vào trong cái bình thần bởi Hiệp ước Warsaw – đưa ra bởi Liên Xô – tại những nơi như Hungary, Ba Lan và Đông Đức. Các nỗ lực để phá vỡ luôn luôn bị nghiền nát, bị áp đảo bởi cảnh sát và quân đội. Bấy giờ, vào mùa Hè năm 1968, các sinh viên Tiệp Khắc đã bị nhiễm con “vi trùng” tự do và dường như bệnh dịch này được truyền qua những người khác trong dân chúng và họ bắt đầu đứng lên đòi hỏi một sự thay đổi. Để đè bẹp căn dịch này, các thầy thuốc Liên Xô đã đề ra một toa thuốc mạnh là 600.000 quân lính và hàng ngàn chiến xa – một lực lượng đông hơn quân số của Hoa Kỳ tại Việt Nam trong cùng thời điểm, hay bất kỳ lúc nào – để chữa con bệnh.

Phải mất ba tuần liều thuốc kiểu Liên Xô mới có hiệu quả trong việc “chữa bệnh” cho bệnh nhân. Hàng ngàn người Tiệp Khắc vô tội, hầu hết là tay không hoặc nếu có võ trang thì chỉ có các vũ khí thô sơ đã bị tàn sát mà không có một cơ quan truyền thông nào tường trình lại. Giống như các hành động giết người của quân Bắc Việt tại Huế chỉ sáu tháng trước đó, sự kiện này cũng chẳng gây ra sự bất mãn tại Hollywood và cũng chẳng có một cuộc biểu tình để lên án các hành động của Liên Xô tại bất cứ một khuôn viên Đại học nào đó tại Hoa Kỳ.

Trong khi đó, trở lại chiến trường – tháng Chín 1968

Đại đội Bravo và phần còn lại của 1/26 tiếp tục đụng trận trên khắp Vùng I Chiến Thuật và chuyển quân như những con cờ đến những nơi mà những người quyền hành ở trên cao quyết định họ cần có mặt tại chỗ nào trọng yếu nhất. Giống như trước đây, các cuộc hành quân không bao giờ kết thúc. Khác với hầu hết các binh sĩ đã biết chính xác họ còn bao nhiêu ngày nữa trong chu kỳ nhiệm vụ của họ, George Philip còn chưa khởi đầu đồng hồ đếm ngược thời gian để hồi hương.

Tính chất và cường độ tác chiến bao gồm những cuộc đụng độ nhỏ với súng cá nhân cho tới các trận đánh lớn mà cả Tiểu đoàn phải tham gia vào. Đó là những lúc mà George chứng kiến được là trong hầu hết các trường hợp, mọi chuyện có vẻ ăn khớp với nhau, sự phối hợp các loại vũ khí với nhau như không quân và pháo binh (và hải pháo nếu các chiến hạm ở gần bờ), mọi bộ phận đều cố gắng hết mức để yểm trợ cho bộ binh, y chang như những gì “quảng cáo” trong trường Huấn Luyện Căn Bản.

Trong suốt thời gian đại đội Bravo ở ngoài chiến trường, thường thì những kỳ nghỉ ngắn ngủi lại trở nên là giai đoạn đáng nhớ nhất. Với sự đều đặn và vật vã trong suốt thời gian lăn lội trong rừng bụi, ngoại trừ những lần đụng độ lớn hay có chuyện xấu xảy ra cho đồng đội thân cận, những gì còn lưu lại trong hồi ức của một người chiến binh là những điều nhỏ nhoi, thỉnh thoảng lại là những điều hay, có khả năng phá vỡ được cái nhịp đều đặn thường ngày.

Không rõ vì lý do gì đối với thiếu úy George Philip, và cũng giống như những ngày khi họ được lệnh di chuyển đi từ nơi này qua nơi khác bởi các ông thần vẽ kế hoạch hành quân, có một hôm họ đang làm việc ở một nơi nào đó thuộc phía Nam của Đà Nẵng rồi, không một lời giải thích, lại được lệnh lên xe vận tải bốc thẳng từ chiến trường về hậu cứ tại Đà Nẵng.

Luôn luôn là một sự bất ngờ khi trở về từ mặt trận, được trở lại với những người còn sống, còn thở, được tiếp xúc với những tên TQLC chưa bao giờ ra ngoài chiến trường, những tay được nhận thư từ hằng ngày, được “ị” trong nhà cầu đàng hoàng, được tắm rửa đều đặn, được mua sắm tại PX hay được đi phố với các “em.” Những tên này được ngủ trên giường tử tế và thường xuyên được ăn mỗi ngày hai bữa nóng với trái cây thật sự cùng bánh mì và sữa tươi. Nhóm TQLC rừng rú, những tay TQLC thứ thiệt gọi bọn này là bọn REMFs (Rear Echelon Mother F…s). Bọn này rất dễ nhận ra. Họ đi giày bốt láng bóng và quân phục phẳng phiu còn mới tinh. REMFs thường mày râu nhẵn nhụi và béo tốt hơn nhóm đồng đội bụi đời thiếu thốn bơ sữa và thức ăn. Nhóm TQLC thứ thiệt thường vừa có cảm giác bực mình ra mặt nhưng đồng thời cũng thầm ganh tỵ với bọn REMFs đó.

Vào cái ngày mà George và hầu hết các sĩ quan Bravo khác đến Đà Nẵng thì trạm dừng chân đầu tiên của họ là một trụ sở câu lạc bộ sĩ quan tại thành phố này. Giống như vừa trở về sau vài tuần ngoài mặt trận, mà họ đã như vậy, mình mẩy hôi hám mùi rừng rú và mồ hôi đã thấm vào tận da thịt và quân phục, họ bị dính chấu như dân da đen lọt vào phòng họp của bọn KKK và bị đối xử đúng y như vậy.
Sau khi sắp hàng và mỗi người chất đầy đĩa thức ăn của mình với một khối lượng không thể nào ăn hết nổi, sau khi đã thưởng thức vài ly sữa tươi mát lạnh và “Bug Juice” ** lúc đang sắp hàng, rồi lại rót đầy thêm ly trước khi tìm chỗ ngồi, xa bọn REMFs, nhóm George Philip nhận ra một điều khá đặc biệt.

Trong vô số những chuyện căn bản mà các chàng trai trẻ bị thiếu thốn do phải lặn lội hằng tuần trong những khu rừng già và các đồng lúa hôi hám cùng khắp Việt Nam là cái niềm vui thật đơn giản được ngắm nhìn và nói chuyện với một phụ nữ Hoa Kỳ bằng xương bằng thịt.

Những gì có sẵn cho các binh lính và TQLC ngoài tiền tuyến về phương diện liên hệ với phụ nữ tại Việt Nam, nếu đàng hoàng thì bọn REMFs đã dành mất rồi. Họ chỉ thường có cơ hội giao dịch với vài “bà má” luống tuổi để họ dọn dẹp chỗ ở hay giặt giũ quần áo, hoặc nếu có thân mật hơn chút nữa thì là một cuộc trao đổi tình dục có thể đưa đến chuyện bị mắc một vài chứng bệnh xã hội nào đó. Còn khả năng được tiếp xúc với một hay nhiều phụ nữ Hoa Kỳ, các nữ y tá, tiếp viên hàng không, phóng viên, hay bất kỳ lãnh vực nào luôn luôn là một chuyện đáng nhớ bởi vì nó ít khi nào xảy ra.

Ngay lúc George và các sĩ quan khác của Đại đội Bravo đã vào bàn rồi và anh nhìn lên thì chợt bàng hoàng khi thấy ba người phụ nữ. Những phụ nữ người Mỹ. Họ là nhóm y tá Hồng Thập Tự Hoa Kỳ “Búp Bê Donut,” có lẽ đang làm việc cho “USO” (United Service Organizations), và dường như muốn bước về hướng các sĩ quan của đơn vị Bravo đang ngồi.

Mang thức ăn cho họ và ngoan ngoãn đi theo sau là ba anh chàng sĩ quan cấp úy REMFs mặt mũi nhẵn bóng, quần áo ủi hồ phẳng phiu. Những tay này chưa nhận ra nhóm của George. Anh ra hiệu cho đồng đội chú ý, ngưng ăn uống để ngắm cái phép lạ đang diễn ra. Cả toán sĩ quan Bravo đồng loạt thẳng lưng lại và sửa soạn cho một cuộc tiếp chuyện văn minh, bất kỳ kiểu nào cũng được. Cả bọn ý thức được là bề ngoài và tình trạng vệ sinh của họ còn thiếu sót đáng kể nhưng họ tin vào sự độ lượng vượt mức của các kiều nữ “Florence Nightingale” thời đại mới này. Vào thời điểm này của chu kỳ nhiệm vụ, họ sẵn sàng làm bất cứ thứ gì để tạo sự chú ý của nữ giới. Nhóm “búp bê Donut” không hẳn tuyệt đẹp như tài tử Ann Margret nhưng thời gian dài lặn bờ lặn bụi đã làm cho tiêu chuẩn của gã đàn ông sút giảm nhiều lắm. Trang bị đầy đủ các thứ và y phục cần thiết, ít nhất họ là phụ nữ.

Phút chờ mong ngắn ngủi thật là tuyệt vời. George Philip cảm thấy mình như một cậu bé lớp bẩy phải lòng cô nữ sinh trung học trong toán múa “cheerleader.” Tất cả chỉ xảy ra trong vòng một vài giây đồng hồ thì thực tế phũ phàng chụp xuống. Bọn REMFs nhận ra sự hiện diện của các sĩ quan Đại đội Bravo nên đột ngột dẫn nhóm “búp bê Donut” đi qua khu vực khác, lịch sự hơn trong câu lạc bộ. Thật là một sự bẽ bàng. Nhóm sĩ quan Bravo tiếp tục ăn uống lại, miệng lẩm bẩm những lời nhận xét khác nhau nhưng cùng một nghĩa chung là “bọn chó đẻ REMFs…”

Mặc dù chẳng ai bàn tán gì nhiều về độ thâm niên của các thiếu úy nhưng khi George bắt đầu thời kỳ sáu tháng của anh với tư cách sĩ quan đề lô của B 1/26, thì anh đã trở thành một TQLC khá dày dạn kinh nghiệm, ít nhất là theo tiêu chuẩn của người Mỹ. Bởi đã sống sót được từng ấy thời gian nên đối với các lính mới nên anh đã là hàng trưởng lão. Kinh qua hàng chục lần xáp trận rồi nên chẳng có chuyện gì có thể làm anh giao động được nữa. Anh có thể bung ra trong nháy mắt một khối lượng hỏa lực khủng khiếp gieo rắc sự chết chóc và tàn phá một cách chính xác. Anh đã ghi nhận lời khuyên của Đại tá Helmer, đã áp dụng nó và truyền lại cho những người khác.

Vào tháng Chín năm 1968 George Philip, anh bạn Matt Dillon, và nhiều người khác trong nhóm kỳ cựu TQLC của Đại đội Bravo bị mắc một chứng bệnh ngoài da trong rừng rậm – một loại bệnh kỳ cục chưa ai biết là thứ gì, chỉ tấn công ngoài da, đặc biệt là những vùng nhậy cảm. Cách chữa trị đúng duy nhất là phải từ giã Việt Nam và đến một nơi nào đó an lành hơn như quê nhà chẳng hạn.

Mặc dù có những cơ hội được ăn uống thả dàn như trong câu lạc bộ sĩ quan Đà Nẵng nhưng hiện nay George chỉ cân nặng vào khoảng từ 120 tới 125 cân Anh, sụt khá nhiều so với 150 cân trước kia, tuy lúc đó anh vẫn bị coi là gầy. Bề ngoài của George bây giờ trông khá giống một trong những ông già vừa thoát ra khỏi trại Đức quốc xã Auschwitz hay Buchenwald vào giữa năm 1945. Toàn thân anh được bôi vàng bởi một thứ kem gì đó đáng khả nghi mà các y sĩ quân đội hay dùng để chữa tất cả các loại bệnh ngoài da. Nếu mẹ anh mà thấy được bộ dạng anh bây giờ ra sao thì chắc bà sẽ bị đứt gân máu mất.

Trở lại Pháo đội Alpha 1/13

Vào khoảng giữa chu kỳ nhiệm vụ 13 tháng, theo thông lệ đối với các sĩ quan pháo binh, đã đến lúc George phải thuyên chuyển về lại pháo đội trọng pháo. Nhiệm vụ này tuy không hẳn là dễ dàng gì nhưng thật khác xa, không khắc khổ và nguy hiểm như thời gian nửa chu kỳ đầu nhiệm vụ lặn lội trên các con đường mòn và ruộng lúa với đám lính bộ binh.

Tháng 12 năm 1968 là một cái mốc đã đánh dấu tháng thứ 45 kể từ khi TQLC Hoa Kỳ đổ bộ lên bờ biển Việt Nam và bắt đầu các nỗ lực đánh lớn của Hoa Kỳ tại Đông Nam Á.

Vào tháng thứ 45 trong cuộc nội chiến Hoa Kỳ, miền Nam Hoa Kỳ đang trên bờ của sự sụp đổ. Tướng William Tecumseh Sherman, tay sát nhân đối với dân miền Nam mà tên tuổi xấu xa vẫn còn được nhắc mãi đến một trăm năm sau ở dưới lằn ranh Mason-Dixon, đang tụ tập quân lính tràn xuống Georgia và sau đó nhanh chóng chuyển qua các tiểu bang Carolinas, tiêu diệt hết mọi thứ trên đường tấn công của hắn.

45 tháng sau khi Hoa Kỳ tuyên chiến với Đức vào tháng Tư năm 1917, “cuộc chiến để chấm dứt tất cả các cuộc chiến” đã diễn ra hơn hai năm rồi. Người Mỹ đang sửa soạn để hưởng một sự thịnh vượng chưa từng có bao giờ và múa may theo các điệu Jitterbug và Charleston suốt cho đến thập niên 1920 đầy sinh động.

45 tháng sau khi Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng, Hoa Kỳ đang chuẩn bị để “bắn phát súng ân huệ” bằng cách thả trái bom nguyên tử “Fat Man” xuống Hiroshima và “Little Boy” xuống Nagasaki. Chán chiến tranh rồi, người Mỹ lại một lần nữa hướng về hòa bình – điều mà sau đó tỏ ra là hoang tưởng và không thực tế – bằng cách tiêu xài hết tiền bạc dành dụm được trong chiến tranh vào những thứ được sản xuất bởi một nền kỹ nghệ đã thoát ra khỏi các sự trói buộc trong thời chiến.

45 tháng sau khi các chiến xa T-34 do Liên Xô viện trợ lăn bánh lần đầu tiên vào Seoul, hiệp ước ngưng bắn đã có hiệu lực được chín tháng rồi.

45 tháng sau khi khởi đầu cuộc chiến tại miền Bắc Á Châu, ca sĩ Bill Haley và ban nhạc Comets đã thâu xong bản “Rock Around the Clock.”

Khi năm 1968 sắp kết thúc, ngay cả với việc quân Bắc Việt và Việt Cộng đã chết chồng lên nhau như củi khối, cũng không có bằng chứng nào khả dĩ để người Mỹ tại hậu phương nghĩ rằng phe ta đang thắng thế trong trận chiến này khi nó đang đi vào một cái năm đẫm máu và tốn kém nhất trong suốt cuộc chiến tranh. Mặc dù đã nỗ lực tối đa trong suốt 12 tháng đó, chỉ cần liếc vào bản đồ là thấy chẳng có gì thay đổi khá hơn. Các cuộc đụng độ vẫn xảy ra khắp nơi trên toàn cõi Việt Nam Cộng Hòa. Cả nước bắt đầu mệt mỏi thấy rõ vì sự cam kết đã chỉ mang lại một kết quả cay đắng. Nếu như quân Bắc Việt và các lực lượng còn lại của Việt Cộng có mất tinh thần chiến đấu hay không thì với cấp bậc của George Philip và đồng đội, họ cũng không thể biết được.

Cuộc sống vẫn tiếp diễn/Bình gặp Cầm/Cuộc chiến của người cha

Trong những tháng tiếp theo thời gian phục vụ tại cầu Bình Lợi, tiểu đoàn 3 và tất cả các đơn vị lưu động khác của TQLC Việt Nam tiếp tục nhận nhiệm vụ ở bất cứ nơi nào cấp trên quyết định rằng sự hiện diện của họ là khẩn thiết nhất. Tuy nhịp độ hành quân khá lộn xộn nhưng ai nấy cũng đều tuân theo một phương pháp và thông lệ nào đó.

Lợi dụng những khoảng thời gian ngắn lúc Tiểu đoàn 3 luân chuyển về Thủ Đức nhằm tái trang bị và bổ sung quân số, Đại úy Bình tranh thủ nhanh chóng về nhà thăm gia đình và bạn bè. Giống như mọi lần và theo lệnh cấp trên, anh luôn luôn đi với một toán vệ sĩ và tà-loọc bây giờ đã cảnh giác hơn đối với sự nguy hiểm rình rập sau biến cố Tết Mậu Thân vừa qua. Sự hiện diện và đi lại của anh khiến cho hàng xóm vừa cảm thấy nghiêm trọng, lại vừa yên tâm hơn vì nhiều gia đình cũng có con em đang phục vụ trong quân ngũ.

Đối với những người Mỹ chỉ thấy chiến tranh trên truyền hình hoặc đọc về nó trong các tập san và báo chí, nhận thức của họ về cuộc sống thường nhật ở Việt Nam gần như không thể nào hiểu nổi. Với hầu hết những người này, mọi miền đất nước dường như tràn ngập VC và lính Bắc Việt, dày đặc các nhà sư Phật Giáo chỉ tìm cớ để châm lửa vào bộ tăng bào màu vàng nghệ của họ. Những đường phố chính trong thành phố thì đầy rẫy những tên bán dạo lừa đảo và gái điếm. Chuyện mạch sống vẫn trôi như từ trước tới nay chỉ được biết đến bởi những người đang sống thực tế trong đó. Và rồi cuộc sống, trong mọi hướng đi và trong mỗi chu kỳ, vẫn diễn ra đều đặn với chỉ một vài thay đổi nhỏ.

Lễ cưới Yến, em gái của Bình vào ngày 17 tháng 11 năm 1968 đặc biệt đáng ghi nhớ đối với vị đại úy TQLC dày dạn trận mạc này. Yến làm việc trong văn phòng kế toán của Trung Tâm Buôn Bán PX quân đội Hoa Kỳ từ năm 1966. Trong số các bạn bè thân nhất của cô, Bành Cầm là một phần tử trong cái nhóm nhỏ phụ nữ trẻ hấp dẫn và đang tuổi cập kê. Giống như mọi cô em hãnh diện về anh của mình, Yến đã liên tục ca ngợi lòng tốt và sự hào hùng của ông anh mình với Cầm từ nhiều tháng trước khi đám cưới. Bình hầu như lúc nào cũng phải đi hành quân xa còn mẹ của Cầm vẫn giữ lề lối xưa thành thử họ chưa có cơ hội nào để được chính thức giới thiệu với nhau. Đám cưới của Yến đã tạo một cơ hội hay nhất. Phần còn lại, như họ vẫn thường nói, chỉ là duyên số.

Mặc dù chiến thắng ở Đông Nam Á có vẻ khá mơ hồ, không phải tất cả mọi thứ vào tháng Mười Hai năm 1968 đều báo động sự sụp đổ của văn minh Tây phương. Đất nước đã thật sự vui mừng khi thủy thủ đoàn chiếc USS Pueblo được trở về, những người mà đã phải chịu đựng suốt cả 11 tháng trời dưới sự tra tấn và hành hạ trong tay bọn Bắc Triều Tiên.

Mặc dù quân đội Hoa Kỳ có vẻ bị lún sâu vào các bãi sình lầy và ruộng lúa tại Việt Nam nhưng vụ phóng phi thuyền Apollo 8, lần đầu tiên con người tiến hành bay vào quỹ đạo của mặt trăng đã đánh dấu tính ưu việt về khoa học kỹ thuật của Hoa Kỳ. George Philip và một số ít đồng đội TQLC đã nghe được tin này qua hệ thống truyền thanh của quân đội Hoa Kỳ vào ngày Giáng Sinh, tức chiều hôm trước Giáng Sinh tại quê nhà. Họ nghe được những lời chào mừng Giáng Sinh bất ngờ của ba phi hành gia Apollo 8 cách xa hằng trăm ngàn dặm từ trong cái phi thuyền tý hon của họ.

Trong lần phát sóng có lẽ đã được chú ý nhiều nhất lúc bấy giờ, các phi hành gia William Anders, Jim Lovell, và Frank Borman mỗi người đọc một đoạn ngắn từ cuốn “Sáng-thế Ký” (Genesis) của Cựu Ước. Anders bắt đầu:

Đối với tất cả những người trên trái đất phi hành đoàn Apollo 8 chúng tôi có một thông điệp muốn gởi đến các bạn: Ban đầu Ðức Chúa Trời dựng nên trời đất. Vả, đất là vô hình và trống không, sự mờ tối ở trên mặt vực; Thần Ðức Chúa Trời vận hành trên mặt nước. Ðức Chúa Trời phán rằng: Phải có sự sáng; thì có sự sáng. Ðức Chúa Trời thấy sự sáng là tốt lành, bèn phân sáng ra cùng tối.

Lovell đọc tiếp:
Ðức Chúa Trời đặt tên sự sáng là ngày; sự tối là đêm. Vậy, có buổi chiều và buổi mai; ấy là ngày thứ nhứt. Ðức Chúa Trời lại phán rằng: Phải có một khoảng không ở giữa nước đặng phân rẽ nước cách với nước. Ngài làm nên khoảng không, phân rẽ nước ở dưới khoảng không cách với nước ở trên khoảng không; thì có như vậy. Ðức Chúa Trời đặt tên khoảng không là trời. Vậy, có buổi chiều và buổi mai; ấy là ngày thứ nhì.

Borman kết luận:

Ðức Chúa Trời lại phán rằng: Những nước ở dưới trời phải tụ lại một nơi, và phải có chỗ khô cạn bày ra; thì có như vậy. Ðức Chúa Trời đặt tên chỗ khô cạn là đất, còn nơi nước tụ lại là biển. Ðức Chúa Trời thấy điều đó là tốt lành. (Genesis 1:1-1:10)

Và từ phi hành đoàn Apollo 8, chúng tôi xin chấm dứt với lời chúc một đêm ngủ ngon, chúc may mắn, một mùa Giáng Sinh vui vẻ, và xin Thiên Chúa ban ơn cho tất cả mọi người… tất cả nhân loại sống bình yên trên trái đất.” (nguồn: NASA, Wikipedia).

Thật khuya trong đêm Giáng Sinh hôm đó, George ngồi bên ngoài hầm chỉ huy nhìn lên mặt trăng đã gần tròn, mơ màng như các thanh niên trẻ vẫn thường làm. Anh nghĩ về những người thân, về các anh chị em, về chiến tranh, về các đồng đội mà anh đã thấy là họ ngã xuống hoặc bị thương. Anh nghĩ thật kỳ lạ là gần nửa triệu thanh niên Mỹ đang chiến đấu ở Việt Nam trong những hoàn cảnh thô sơ nhất trong khi có ba người khác thì đang bay vòng quanh mặt trăng. Thật là vô ích nếu anh cố hiểu những gì không thể hiểu nổi. Anh miên man suy nghĩ thêm, suy nghĩ mãi rồi trở vào hầm trú ẩn.

Giống như các TQLC đã quá bận rộn đánh nhau với quân Bắc Việt đến nỗi không nghe được lời phán tháng Hai của Walter Cronkite rằng họ sắp bị khốn khổ tại Khe Sanh tới nơi rồi, thật cũng là một điều hay là hầu hết các binh sĩ tại Việt Nam đã tránh không phải nghe đến kết quả một cuộc thăm dò năm ngoái cho thấy là nhân vật mà các sinh viên đại học tại Hoa Kỳ hâm mộ nhiều nhất lại là Che Guevara. Năm 1968 đã sắp chấm dứt, George Philip vừa được thăng cấp lên Trung úy, vậy mà mỗi lúc liên tưởng đến những gì đã xảy ra và có thể sẽ xảy ra, anh đều trở lại tâm trạng trước kia, khi anh vẫn thường nghĩ rằng “đây không phải như là cuộc chiến của cha mình.”
__________________________________________________________

* Mùa Hè năm 1967, mệnh danh là “Mùa Hè của Tình Yêu,” đã được liên kết chặt chẽ với phong trào hippy và phong cảnh của San Francisco, và đã trở thành bất tử bởi mùa hội Monterey Pop Festival năm 1967 cùng với các bài hát như “San Francisco – Be Sure to Wear Some Flowers in Your Hair” của Scott McKenzie.

** Bug Juice – cái tên dùng để mô tả loại nước uống có pha mùi như kiểu Kool-Aid thường được phân phát trên tầu, trong các câu lạc bộ, ngay cả cho binh lính ngoài mặt trận nữa trước khi có kỹ thuật làm các loại thức uống có ga. Bug Juice về căn bản chỉ là nước đường có màu nhân tạo. Bug Juice cũng là tên của một loại thuốc đuổi muỗi chứa trong những lọ nhựa nhỏ mà các TQLC và binh lính gắn lên nón sắt bằng những sợi băng cao su.

Screen Shot 2015-06-03 at 9.18.31 AM

MƠ THÀNH MÂY TRẮNG

hacthanhhoa

Ngày đi đời xế thu tàn
Buồn trông theo ngọn gió vàng qua sông
Tôi ngồi đốt lửa chiều trông
Khói bay trắng khắp mùa đông trong rừng
Xanh từ hạt máu rưng rưng
Xuống vô cùng những đêm từng lá rơi
Hừng đông nguyệt vội xa rồi
Biển qua và bóng mặt trời lên cao
Trong tôi trăm mảnh lụa đào
Nhịp buồn của cánh dơi vào hoàng hôn
Với em cũng ánh trăng suông
Lòng ơi chưa mãn một cơn đau dài
Từ trên đỉnh sóng tình phai
Mơ thành mây trắng bay ngoài khói sương

HẠC THÀNH HOA

RONG TRÂU.

rong trâu

( Một câu chuyện đồng quê )

Lúc đó tôi đã được hơn gần 10 tuổi đang học lớp ba. Và đang được trong kỳ nghỉ hè. Tôi học chung một lớp với Long, người con kế của chú ba Mận, ở cùng trong vuông đất với nhà bà Nội của tôi (1). Nhà Long có một chuồng trâu nuôi khoảng năm con lớn nhỏ. Thường thì nhà của Long mướn người khác đưa trâu đi ăn. Những tháng hè thì Long tự dẫn trâu đi ăn. Tôi thì từ nhỏ lớn lên thích chơi đủ thứ trò chơi của tụi con trai như đá dế, thả diều, bắn chim, câu cá… Và mặc dù đã theo mấy đứa khác đi ra bưng(2) nhiều lần để bắt cá, nhưng chưa bao giờ tôi được đi rong trâu.
Tháng trước tôi có ngõ lời với Long cho tôi đi theo rong trâu vì sắp được nghỉ hè. Và chiều hôm qua, gặp nó đang lúc lùa trâu vô chuồng Long nói với tôi là ngày mai đi rong trâu với nó. Tôi rất vui mừng và về nhà gặp Ông Bà Nội xin phép. Vì là mùa hè nên Ông Bà đồng ý ngay và tôi cũng không quên nhờ Bà nội đánh thức dùm (quên nói vơí các bạn tôi là cháu đích tôn nên được ông bà cưng chìu nhất nhà). Thằng Tuấn, đứa em cô cậu đòi đi theo chơi. Nhưng vì em còn nhỏ nên Bà Nội không cho đi. Đêm đó nằm trên bộ ván gõ (3) mà tôi cứ thao thức trằn trọc khó ngủ. Cứ mong cho trời mau sáng để được đi chơi. Rồi con buồn ngủ chợt đến lúc nào và tôi thiếp đi mà không hay biết …
Thoáng nghe tiếng bà nội văng vẳng bên tai và chân mình bị lay mạnh. “Dậy. dậy đi con”. Bà vừa lắc chân tôi vừa gọi. Tôi thức dậy, vươn vai và leo xuống khỏi bộ ván gõ. Vừa đánh răng, súc miệng xong là tiếng gỏ năm cái “boong, boong …” của cái đồng hồ treo trên cây cột nhà báo cho tôi biết đã đúng năm giờ sáng. Bà nội đã dậy sớm chuẩn bị cho tôi một gói cơm mo cau (4), vài trái dưa leo và một ít muối tiêu. Vừa lúc đó thì Long cũng vừa bước vô ngạch cửa vồn vã nói : “ Chào bà Tư”; Nhìn thấy tôi nó hỏi liền: Vũ ơi! Xong chưa mậy? Xong rồi, tôi vừa đáp vừa quay qua hướng bà nội nói: Thưa bà, con đi. Bà tôi vừa buông tiếng: Ừa! Tôi liền vội bước lên gian nhà trên để chào ông nội thì không thấy ông đâu cả. Tôi hỏi bà, bà tôi cho biết là ông đã đi uống cà phê từ sáng sớm. Bà tôi vừa đưa túi đệm đựng cơm và móc trong túi áo bà ba cho tôi thêm tờ giấy bạc hai đồng có hình ông Tổng Thống Ngô đình Diệm. Tôi bước xuống nhà dưới kế bên bồ lúa lấy cái đụt( giỏ để đựng cá). Vừa đi vừa chạy theo qua đến nhà Long; thì thấy nó đi đang đến bên chuồng trâu, rút chốt cổng, và kéo cánh cửa bằng tre cho mấy con trâu đi ra. Con trâu đầu đàn là con trâu đực tên Chảng, to lớn với hai cái sừng cong vút, kế đó là con trâu mẹ cũng to lớn và hình như đang có mang nên tướng đi trông thấy nặng nề chậm chạp. Hai con trâu đực, một con độ hai năm tuổi, tên Kui một con khác hơn một tuổi tên Cò vì da nó hơi trăng trắng, và một con nghé cái mới mua độ sáu tháng tuổi. Mùi phân trâu hòa lẫn mùi nước đái bay lên ngai ngái xông vào mũi. Tôi phải quay đầu né tránh sang một bên. Long đem theo cái gàu bằng nhôm trái sáng . Khi lùa bầy trâu đến ngã ba đường xuống bến gần nhà ông Năm Sái, thì tôi đã thấy nhiều đàn trâu từ mấy ngã đường cùng hòa nhập nhau để đi xuống hướng bến cây Dừa. Tôi gặp vài thằng bạn học cùng lớp như thằng Sơn, thằng Tùng cũng dẫn trâu đi ăn. Tiếng la í é của những anh chàng chăn trâu kêu gọi mấy con trâu bỏ bầy vào vuông rào những nhà hai bên đường để ăn lá mía hay lá đậu phọng.. Tiếng quất roi bằng nhánh trúc vào đít trâu nghe kêu đét, kèm tiếng chửi thề ỏm tỏi… Tiếng gọi nghé ngọ, nghé ngọ của những con trâu mẹ gọi những con nghé còn mãi mê ngơ ngác rong chơi không chịu đi theo bầy…
Những tiếng chân sầm sập của bầy trâu làm tung từng đám bụi đỏ mịt mù bay theo từng cơn gió của một buổi sáng hòa theo tiếng gà gáy rộ của những anh chàng gà trống. Khi chúng tôi xuống đến bến cây Dừa, tôi nói với Long chờ tôi và vội chạy tạt vào quán cóc của bà Hai để mua cái gì đó ăn sáng.Trong quán thì rất đông người, tiếng nói chuyện rôm rã. Trên cái bàn dài lớn hình chữ nhật. Người thì ngồi trên chiếc ghế dài gọi là con ngựa, áo vắt trên vai nhâm nhi cái xây chừng đen, tay cầm cái bánh tiêu nhúng vào ly cà phê ; người khác thì ăn hủ tiếu với những lát thịt xá xíu màu đỏ trên mặt những lá xà lách. Một nhóm ba người, mới sáng sớm đã nhâm nhi bên xị đế và mấy hột gà ung, uống vô kêu ót.ót. Nhăn mặt xong thở ra: khè. khè! Tôi vội mua bốn cái bánh dừa và bịch kẹo đậu phọng rang, loại trên mặt có tráng một lớp đường vàng như mạch nha hết hai đồng bạc mà bà tôi đã cho. Bước ra khỏi quán thì thấy có hai anh đi đặt trúm(5) hay đi câu đêm mặt mũi bơ phờ. Họ ngồi chồm hổm bên cạnh mớ đồ đi câu và đang cho tay vào giỏ bắt ra mấy con cá trê vàng mập mạp đưa cho mấy chị bạn hàng,là người mua cá đem ra chợ bán kiếm lời. Họ đang mặc cả giá với nhau.
Tôi chạy ra xuống mé sông thì thấy Long vẫn còn cho đàn trâu chờ tôi. Đưa Long bốn cái bánh dừa và bịchj kẹo. Vừa đưa tay lấy bánh Long vừa nói: Mầy đi theo cỡi con trâu mẹ. Xong nó bỏ bánh và bịchj kẹo vào cái gầu bằng nhôm rồi máng lên sừng trâu. Vừa đi theo đàn trâu, tôi vừa đưa mắt nhìn theo Long coi nó làm gì để mà bắt chước…

Nước sông đang dâng lên, mênh mông tràn đầy cả hai bờ. Tiếp giáp giữa ngã ba sông và bến cây dừa là những dãy cát, người dân trong làng đến đây xúc cát chở về xây nhà năm này qua năm nọ mà cát không bao giờ vơi.
Đàn trâu đã bắt đầu lội nước, Long ngồi trên lưng con Chãng, nó lội đi phăng phăng . Nắm đuôi con trâu mẹ nó kéo tôi đi một hồi, rồi tôi đưa bàn tay vuốt nhè nhẹ lên lưng và thì thầm như ngầm muốn nói với nó cho tôi leo lên lưng. Xong tôi leo lên lưng nó. Mới sáng sớm ngâm mình dưới nước da gà nổi lên cùng mình, lội theo đàn trâu một hồi cảm thấy bớt lạnh vì quen dần. Trên mặt sông hơi nước bốc lên thoang thoảng, lững lờ chầm chậm như còn lưu luyến không muốn rời xa. Hai bờ sông đầy những lùm mây dóc(6), trâm bầu, mù u… từ từ lui lại phía sau. Đàn trâu đang bơi về phía hướng Láng Chà. Mặt trời đã ló dạng từ phía xa xa, những ráng mây màu vàng rực rỡ hừng lên từ phía chân trời, vài đám mây xám nhỏ lãng đãng trôi. Một bầy cò trắng độ hơn chục con sãi cánh dài hình chữ V đang bay về hướng Tây, có lẽ chúng đã ăn đêm trên cánh đồng nào đó bây giờ bay đi tìm chổ ngủ. Bầy trâu lội sát bờ sông nên tôi nhìn thấy nhiều trái bình bát chín vàng!( mấy trái này mà hái đem về dú vào lu gạo vài ngày xong dầm với nước đá đập nhuyễn trộn đường cát ăn là hết xẫy!).
Nhiều hàng cây mua,trái chín tím chiếm cả một khoảng đất dài ( trái sim rừng, tôi thích ăn những trái mua này, rất ngọt, ăn nhiều mặt đỏ hừng hừng như ăn cơm rượu nếp nhưng cái lưỡi thì tím ngắt!). Trên bờ lác đác từng nhóm người vác cộ đập lúa, người thì gánh hai cái thúng, bên trong lỉnh kỉnh như ấm nước, bánh ú hay khoai lang nấu, xôi đậu để đãi những người cắt, phụ đập lúa ăn giậm(7). Tiếng nói cười, trêu chọc vang cả một góc trời. Cuối cùng khoảng chừng một tiếng sau đàn trâu cũng lội đến chỗ để cho ăn. Đó là một vạt trống có nhiều cỏ mọc cao và trên đám ruộng những gốc rạ màu nâu sậm, đã mọc lên những chùm lúa non xanh mơn mởn. Đàn trâu bây giờ tự do ăn lúa non. Cuối đám ruộng là một đàn trâu khác cũng đang ăn. Trên lưng chúng một vài con cò trắng nhàn nhã rĩa lông. Đàn trâu đó của thằng Dứa cũng học cùng lớp ba, nhà ở ấp Ba dưới dốc.
Tôi và Long đem bánh dừa ra ăn. Mùi nếp bay lên mũi thơm lừng khi lớp vỏ bằng lá dừa được bóc ra(8). Những hạt đậu đen béo ngậy và tiếng nhai sựt sựt của những miếng cơm dừa nạo. Hai thằng ăn chớp nhoáng hết hai cái bánh. Tôi cảm thấy còn muốn ăn thêm cái nữa! Long bước về hướng góc ruộng tìm chỗ vạt nước trong, đưa tay vốc lên môt bụm nước. Tôi cũng bước tới tìm một chỗ để uống. Nước ruộng hay sông uống vào mát lịm và ngọt. Đôi khi cũng chua chua vì có những chổ nhiều phèn(độ PH cao).
Nắng đã lên cao gần chếch đỉnh đầu. Long đưa mắt quan sát một vòng đàn trâu xong buột miệng nói với tôi: Mình đi bắt cá! Nước trong ruộng không còn nhiều chỉ hơn gang tay (vì người ta đã xã bọng )(9). Long đi dọc theo bờ ruộng, tôi đi theo sau lưng nó. Thỉnh thoảng nó dừng chân dậm mạnh xuống bờ đất, miệng bậm môi lại bật ra tiếng kêu: “Bập. bập”. Nó giải thích với tôi rằng: “Nếu có cá thì nó sẽ bị động và tức thả bong bóng lên mặt nước”. Long cứ vừa đi vừa dậm dọc theo bờ ruộng cho đến gần góc thửa ruộng. Nó dậm chân xong thấy chỗ này cá thả nhiều bong bong, nên nói với tôi: Mình bắt cá ở đây! Và nó đưa tay chỉ một khoảng không gian cho tôi và nói: “Mầy làm bờ bao từ đó tới đây”. Tôi lội xuống, cách bờ ruộng khoảng 15 mét, đưa tay xuống xắn chung quanh gốc rạ thành từng khối đất đấp thành bờ cao hơn mặt nước khoảng gần gang tay. Long từ đàng kia cũng móc gốc rạ và đấp bờ chạy dần về phía hướng vị trí của tôi. Hai thằng thi nhau đấp bờ bao xem thằng nào làm nhanh hơn.
Khoảng nửa giờ sau thì bờ bao đã được làm xong. Long leo lên bờ lấy cái gàu nhôm xuống và bắt đầu tát nước . Tôi vào thay vị trí khi thấy trán của nó rịn mồ hôi và thấm mệt. Hai thằng cứ thay nhau tát cho đến khi nước chỉ còn xâm xấp. Theo đường nước chảy về hướng của chúng tôi đã thấy nhiều con cá lội ngược nước. Long nói đó là cá rô. Trong lúc tôi khom lưng tát nước thì Long lội chung quanh thấy chỗ nào dòng nước chảy yếu thì nó dùng hai tay vẹt sình bùn để cho đường cho nước chảy nhanh hơn. Nắng đã lên chếch qua đỉnh đầu. Cái nóng bắt đầu hừng hực và gay gắt. Mồ hôi nhể nhại ướt cả chiếc sơ mi đang mặc. Long đã đi mò từng vũng nước cạn. Một con cá rô gần bằng ba ngón tay bị nó bắt dơ lên và nói: “Vũ, mầy coi con cá rô này mập quá chừng. Chắc nó đang có trứng đó!”. Sau đó nỏ bỏ con cá vào cái đụt mà nó cột ngang bụng bằng sợi mây dóc. Một con cá lóc vuột khỏi tay nó phóng sang bên kia bờ bao kêu cái “tủm”. Thằng Long buộc miệng chửi thề: Mẹ nó! tao mới vừa đụng nó đã phóng mất, con này bự lắm đó ! Tôi ngưng tát và đưa mắt nhìn theo đường nước chảy, thấy một con cá rô đang lóc ngược dòng nước cách tôi một khoảng không xa. Tôi buông gàu tát và bước nhanh về hướng nó. Nghe tiếng động nó chúi xuống bên cạnh gốc rạ. Tôi rón rén bước nhẹ đến và xòe hai bàn tay úm vào xuống gốc rạ. Ngón tay tôi đã đụng trúng và nó đã nằm gọn trong lòng hai bàn tay. Đã có kinh nghiệm từ trước nên tôi nhẹ nhàng dùng ngón tay cái và ba ngón kia bấu chặt vào mang nó, nếu không bấu chặt như vậy nó vùng mình thì những vây gai sẽ chém xốc vào tay chảy máu! Tôi bước đến và bỏ nó vào đụt. Long bảo tôi khoan bắt cá vội mà hãy tát nước thêm một chút nữa.Vì nếu không tát cạn nước thì mấy con cá lóc dễ phóng đi lắm. Chừng mười phút sau sình đã lộ ra nhìn thấy gốc rạ. Theo đường nước sình mấy con tép bạc quẫy mình di chuyển chậm chạp, một vài con cá sặc trắng cũng trườn mình đi về hướng chỗ trũng . Thấy đã cạn nước Long lên tiếng: Vũ, mầy đi bắt được rồi đó.
Tôi bước ngược dòng nước lên, mò từng gốc rạ một, vì cá thường ẩn nấp vào những chỗ gốc rạ hay gốc cây( nếu là ở sông rạch). Độ khoảng chừng mười gốc rạ tôi mò trúng một con cá, tôi nhẹ nhàng tìm cách để cho cái đầu nó lọt vào bên trong lòng bàn tay, nếu nó có vùng mình để thoát thân thì không thể nào vượt qua nổi mười ngón tay như cái nôm bao bọc. Đưa lên mặt nước thì ra là một con cá tràu(9) lớn gần bằng cườm tay của tôi. Tôi đem cá về phía Long để bỏ vô đụt. Lúc đó Long cũng bắt được thêm vài con cá rô và mấy con tép bạc. Nắng đã lên quá cao, khi mò xong những gốc rạ cuối cùng thì hai đứa tôi đã quá mệt và đói bụng quá. Nhìn vào đụt thì thấy đã bắt khá nhiều cá gần nửa giỏ. Tổng cộng được năm con cá tràu, cá rô, cá sặc lủ khủ. Hai thằng bước xuống con rạch nhỏ rửa tay và mặt qua loa và cũng không quên nhúng giỏ cá cho ra bớt sình; rồi tìm một chỗ bóng mát dưới gốc cây trâm sắn to lớn. Long xuống trở lại ruộng, đi về phía những đống rơm quơ một ôm nhỏ. Nó bẻ hai nhánh cây bình bát, tuốt hết lá và bẻ hai đầu chỉ còn lại hơn hai gang tay. Thò tay vào đụt bắt hai con cá tràu ra. Đập mạnh từng con vào gốc cây trâm. Chỉ một cái vung tay hai con cá giãy bạch bạch vài cái rồi từ từ ngay đơ cán cuốc. Nó cầm con cá lên xỏ que vào miệng xuyên suốt gần thủng qua bên kia. Con cá kia cũng như vậy. Cấm hai que cá xuống bờ ruộng, hai con cá chết chổng ngược đầu xuống. Nó lấy rơm quấn chung quanh chúng rồi lấy que diêm ra. Xoẹt. xoẹt. Hai tia lửa bùng cháy lên nó châm vào hai cột rơm nhỏ. Rơm khô gập lửa bén cháy ngay tức khắc. Hai ngọn đuốc cháy phừng phừng. Nó không để cho rơm cháy tàn, nó luôn tay chêm thêm rơm vào. Tôi vội bước đến cái giỏ cá, đưa tay vào đụt lôi ra hai con tép bạc lớn gần bằng ngón tay trỏ. Tôi thảy chúng vào ngọn lửa. Tay tôi bẻ một nhánh cây mua, tuốt hết lá làm que để khều lửa và không cho con tép bị cháy. Chừng khoảng hơn 5 phút sau, Long không chêm thêm rơm nữa. Nó đợi cho tàn ngọn lửa. Nó lấy rơm chà xung quanh những lớp vỏ cá cháy đen. Mùi cá khét lẫn mùi thơm của thịt cá làm tôi cảm thấy đói quá xá, tôi thấy nước bọt ứa ra trong cổ họng mình.
Hai đứa tôi đem mo cơm muối tiêu bày ra trên mặt đất. Tôi đưa nó một con tép đã chín đỏ. Tôi lột vỏ con tép và bỏ vô miệng. Thịt nó rất ngọt. Mùi thơm của tép hoà lẫn mùi cháy khét của vỏ tép. Long cầm con cá tay nó bẻ ngang đầu cá. Bên trong ruột cá bốc khói. Nó tay vừa bẻ từng miếng cơm bỏ miệng, tay kia nhúng miếng ruột cá vào muối tiêu rồi ăn ngon lành. Nó lấy trái dưa leo cắn nghe rốp rốp. Còn tôi trông thấy nó ăn ruột cá còn máu đỏ đỏ như vậy bụng cảm thấy ghê ghê… Nhưng sau đó cũng lại bắt chước nó, lấy ruột cá chấm muối tiêu. Vị ngọt của ruột cá lẫn vị đắng của mật cá. Đầu tiên nhai không mạnh miệng sau đó chất ngọt của ruột cá làm tôi ăn ngon hơn. Hai thằng ăn ngấu nghiến nen chỉ một thoáng mo cơm đã hết sạch. Hai thằng ăn no căng bụng. Ăn xong, Long và tôi lại đi kiếm chỗ nước ruộng trong mà vốc nước uống. Tôi nói với nó Tao vơí mầy đi hái mây dóc về bắn ống thụt. Long bảo: Mầy đi hái đi. Tao phải ở đây coi chừng trâu. Ờ! vậy thì tao đi đây. Tôi đi ngược về phía hướng về làng. Đi qua mấy thửa ruộng chừng hơn trăm thước thấy mấy trái bình bát lớn màu vàng om nắm kề sát mé sông. Tôi bước men xuống bờ sông, tay vịn mấy cành cây lớn, lần tuột xuống mé nước. Nhờ nó nằm khuất mé sông nên không ai hái. Chứ trên đường bờ đê đã không còn đến tay mình. Tôi hái được hai trái lớn hơn lòng bàn tay. Leo lên bờ và đi về những hàng cây trâm. Tôi đưa mắt tìm và thấy một cây trâm lão trái nhiều và chín đen. Tôi leo lên cao, đưa mắt nhìn thấy từng chùm trái to chín đen, tôi lựa mấy trái to háibỏ vào miệng ăn. Vị ngọt bùi thấm vào cổ họng . Trái này ngon và hột nhỏ. Vì không có đem bao để đựng nên tôi lấy cái nón lưỡi trai đựng chúng. Hái hết nhánh này tôi chuyền qua nhánh khác. Chừng độ hai mươi phút sau tôi đã hái đầy cái nón. Sau đó tôi đi đên mấy cây mù u leo lên. Mây dóc là một loại dây leo nên thường bò trên những hàng cây to. Tôi bẻ từng nhánh liệng xuống đất. Chẳng bao lâu tôi đã bẻ khá nhiều. Nghĩ cũng đã đủ nên tôi leo xuống. Tôi lượm những nhánh mây xếp lại thành bó, tôi lấy một sợi mây dài cột chúng lại. Bây giờ nào là bình bát nào là nón trái trâm và một ôm mây dóc. Nhiều quá không biết cách nào xách cho hết nên tôi nghĩ ra một cách là cởi áo ra. Tướt mây dóc cột hai cái tay áo lại rồi bỏ cái nón đựng trái trâm và bình bát vô. Cột chéo hai như hình chữ nhân. Vậy là tôi có thể xách chúng dễ dàng. Hai tay xách mây dóc và bọc trái cây tôi rảo bước về hướng Long. Nó nhìn thấy tôi đem đồ về buột miệng khen: mầy hái giỏi quá Vũ; và nó cũng khoe tôi nó mò bắt thêm được một xâu cá. Mặt trời đã hạ xuống dần . Ánh nắng không còn gay gắt nữa. Tôi và Long ngồi xuống gốc cây trâm và mở bịch kẹo đậu phọng ra ăn. Tôi vói miệng kêu Dứa qua ăn kẹo cho vui. Mùi thơm của kẹo mạch nha đậu phọng nhai thật dòn và béo ngạy. Nghe nói kẹo này từ Trãng Bàng, nơi trồng nhiều đậu và ngon nhất tỉnh Tây Ninh. Ba thằng ăn một chốc hết 10 miếng kẹo! Lại vốc nước ruộng uống một bụng. Gió bắt đầu thổi mạnh, những tiếng lao xao của hàng cây trâm, tiếng chim cúm núm đâu đó kêu vang “ kum.kum”. Long nói là nước đang lớn.Trên con đê người ta đang gồng gánh trở về. Từng nhóm chín mười người. Có người vác trên vai một bao lúa mới nước còn chảy xuống vai, tay kia cầm một xâu cá. Thanh niên nam nữ cười nói trêu ghẹo nhau. Long nhìn trời và nói với tôi: Thôi, tới giờ mình lùa trâu về. Nó cầm cái đụt lội xuống ruộng về phía con Chãng, đưa tay nắm vàm (10) dẫn đi. Tôi gom bọc áo và mớ mây dóc cũng xuống theo và lùa con trâu mẹ. Mấy con trâu con thấy vậy cũng lửng thửng bước theo. Thằng Dứa cũng lùa trâu đi sau.
Đàn trâu trở lại chỗ cũ nơi lúc sáng đã đi lên (người ta chỉ cho phép lùa trâu đi lên xuống cùng một chỗ; như vậy trâu không đạp bể bờ đê).
Tôi máng bọc áo và mớ mây dóc lên sừng con trâu mẹ rồi leo lên lưng nó. Đàn trâu bơi đi một khoảng đếười chết đuốin ngã ba vàm thì gặp mấy uàn trâu khác cũng bơi về. Mấy người này là dân chăn trâu mướn kỳ cựu. Đi làm mướn từ nhỏ, vì nhà nghèo nên chẳng có được học hành. Da họ đen bóng, tướng tá vạm vỡ. Long nói họ coi trâu lâu năm nên có phép thần thông. Dân làng cúng đồ ăn trên bè cho những người chết đuối. Khi thấy bè đồ cúng trôi trên sông, mấy người chăn trâu mở miệng kêu là chiếc bè quay vô bờ đến chỗ họ ngay. (Phải chăn trâu trên 10 năm mới linh ứng)
Ngồi trên lưng trâu mình trần, gió thổi lạnh quá nên tôi tụt xuống ngâm mình dưới nước cho ấm. Thấy con trâu Kui đang bơi ở phía sau nên tôi tụt xuống rời con trâu mẹ bơi về phía nó. Tôi leo lên lưng nó ngồi thì nó không chịu cứ hết trở bụng phồng qua bên này rồi trở qua bên kia nên tôi bị rớt lại xuống nước không ở trên lưng nó được. Thấy tôi vẫn bám leo lên lưng nó hoài nên nó liền lặn một cái mất tăm… chỉ thấy những bong bong nước từ dưới sâu bung lên mặt vỡ tan! Thế là tôi đành phải buông nó ra và bơi về phía con trâu mẹ.
Phía tuốt đàng sau, đàn trâu của thằng Dứa vẫn còn bơi theo. Bên kia sông cũng có nhiều đàn trâu khác cũng đang rong về. Tiếng hú gọi nhau, tiếng cười nói xen lẫn tiếng chim kêu vang vang…Một chiếc ghe tam bản chở đầy những bao lúa, be ghe lấp liếm mặt nước vì ghe chở khẵm(chở nhiều quá trọng tải), âm thanh của động cơ máy chạy bằng dầu cặn kêu vang đinh tai, làm lổ tai kêu o o và phả khói đen mù mịt…Những lọn sóng cuồn cuộn lan tỏa ra hai bên sông chạy đánh vào mặt mấy con trâu. Làm chúng phải lắc đầu và khịt mũi vì nước!
Trên bờ đê một nhóm hai hoặc ba người vác đồ đi cắm câu đêm đi ngược ra bưng. Đoàn người trên đê vẫn cười nói vui vẽ sau một ngày cực nhọc trên đồng ruộng.
Khi đàn trâu về đến bến cây dừa, ánh sáng của mặt trời đã tắt, những đám mây xám đen đang kéo về phủ kín bầu trời. Trên không từng đàn chim rủ nhau bay đi ăn đêm. Tiếng chim gọi bầy hoà cùng tiếng người trong một cảnh hoàng hôn vội vã.Trên bến nhiều ghe chở lúa cập vào. Thanh niên phụ nhau vác những bao lúa chất lên trên những chiếc xe bò. Những con bò mộng vạm vở thư thả nhai những lọn rơm tươi; nước dãi chảy ra hai bên khóe miệng. Đi ngang quán bà hai đã đóng cửa từ chiều. Đàn trâu của thằng Dứa đi rẽ sang ngã khác về hướng dốc.
Về đến nhà thì đã lên đèn. Lùa đàn trâu vô chuồng, Long kéo cửa tre và gài chốt. Nó bước ra trước sân nhà nó. Nó lấy giỏ cá và phân chia làm hai. Của nó thì nó bỏ cá trong cái gàu nhôm. Tôi được hai con cá tràu( cá lóc nhỏ hơn cườm(cổ) tay, người dân dịa phương kêu là cá tràu. Mấy con cá rô và mấy con cá sặc.
Đem cá về nhà khoe với Bà nội. Bà cười và nói ngày mai bà sẽ kho cá rô cá sặc với củ nghệ. Còn cá tràu thì nấu canh chua lá giang. Bây giờ con đi tắm lẹ lên, cả nhà chờ con về ăn cơm đó! Mấy đứa em thấy nón trái trâm chín đen liền nói: Cho em với, anh Vũ cho em ăn với. Bà nội bảo: Để ngày mai hẳn ăn. Bây giờ lo ăn cơm trước! Mấy đứa em gái mặt xị xuống nũng nịu dường như muốn khóc!
Tôi đưa mấy trái bình bát và nói: “Mấy em đem vào dú ở khạp gạo; khi nào chín anh sẽ dầm đường và nước đá cho mấy em ăn”.
Vào buồng tắm vừa xối nước vừa nghĩ đến ngày mai tôi sẽ lựa chặt tầm vông để làm mấy cây ống thụt mới cho tôi và thằng Tuấn. Chắc chắn nó sẽ thích cây ống thụt hai gắp bắn trái mây dóc này lắm…(11) và rồi tưởng tượng đến món cá rô kho nghệ và canh chua lá giang mà nước bọt trong miệng muốn tươm ra…

(Thành phố Portland, Lập Xuân )
VŨ HỒNG TRUNG

TB: Câu chuyện này viết theo kiểu hồi ký nên còn rất nhiều thiếu sót. Bây giờ nhà nông người ta đã dùng máy cày thay trâu nên ít nuôi trâu hơn.
Mong rằng đây là một câu chuyện giải trí làm cho bạn thích thú thêm về khung cảnh đồng quê Việt Nam ngày trước.

Chú thích:
-Rong Trâu: đưa trâu đi ăn bằng đường sông. Không thể dẫn trâu đi trên bờ, vì trâu quá nặng, đi sẽ đạp bể đường đê, hoặc sẽ ăn lúa ( những đám lúa chưa kịp gặt ).
-Nhà Ông Bà Nội: Tôi không nhớ rõ là sống với nhà Ông Bà Nội từ lúc nào. Nhưng có lẽ là từ lúc có trí nhớ (4,5 tuổi ). Nhà cất đàng sau nhà Bà Hai Ui, là chị em bạn dì với bà Nội. Nhà cất theo chử đinh ba gian lợp tranh. Cột kèo bằng cây dầu vuông, kê chân cột bằng đá xanh. Vách ván không bào quét dầu nhớt. Cửa lá sách. trước sân có trồng một hàng cau và mỗi gốc cau có trồng dây trầu để bà nội hái ăn. Có một cây mít nghệ múi dầy khi chín rất thơm ngon. một cây xoài thanh, hai cây trứng cá, hai cây ổi sẻ trái nhỏ, ruột đỏ chín rất thơm và ngọt(nơi đây thường là nơi tụ tập của mấy con chim hoành hoạch đến ăn ổi chín). Đàng sau nhà là một khoảng sân có trồng một hai bụi tre Tàu và Mạnh Tông(để hái măng); và một hàng tre tầm vông làm ranh giới, vuông đất sát mé đường xe bò sau nhà. Nhà có ông bà Nội và cô út Ngọc, có chồng là Trung úy lính Công binh. Họ có ba người con, một trai tên Tuấn được 6 tuổi và hai gái tên Phượng 4 tuổi, Lan 3 tuổi. Dượng út nhà có chiếc xe hiệu Citroen kiểu traction, màu đen. Thỉnh thoảng chở gia đình đi Cấp/VũngTàu hay Long Hải tắm biễn. Ông Bà có 06 mẫu ruộng cho người ta thuê. Mỗi năm đến mùa lúa chín, có người đánh xe bò đi thâu bằng lúa đem về đổ vào bồ dự trữ.
-Bưng: vùng đất thấp trũng làm ruộng trồng lúa nước, gần sông để có nguồn nước quanh năm; có thể cấy ba bốn vụ lúa một năm. Khác với ruộng gò, chỉ có nước vào mùa mưa; ruộng gò sau khi gặt lúa người dân còn trồng thêm các loại hoa màu khác như dưa leo, cà chua hay đậu phọng, thuốc lá tùy theo vùng.
-Ván gõ: Nhà quê thường trang trí phía nhà trước bằng bộ ván gõ. Gõ đỏ là một loại gỗ quý thường dùng đóng bàn ghế hay tủ thờ, tủ đựng quần áo…Mùa hè ngủ trên bộ ván này rất mát.Nhà giàu thường xài bộ ván gõ hai miếng ghép lại dầy cở một tấc (10cm). Đặt nằm trên hai con ngựa hình chữ A cũng bằng gỗ tốt.
-Mo cau: Buồng cau khi trổ có một lớp vỏ bọc phía ngoài gọi là mo. Cái này sử dụng rất bền. Người nhà quê lấy cái mo này làm quạt (Thằng Bườm có cái quạt mo…) hay dùng để gói cơm đem theo đi câu cá hay làm ruộng. Bà nội tôi thường lấy cơm nóng bỏ vào bao bồng bột( bao bằng vải dầy thường đựng bột làm bánh mì) nhồi cơm cho dẽo sau đó dùng mo cau gói lại. Cơm ăn rất ngon dẽo và dai.
– Đặt (ống) Trúm: Một cách bắt cá hay lươn, người ta dùng một thân tre già dài khoảng một thước tây. Dùng que sắt nung đỏ dùi lủng thông qua các mắt tre (đốt tre). Một đầu người ta làm hom bằng tre hay sắt để cá lươn chui vào mà không ra được. Người ta dùng mồi để bên trong ống( là những con trùn chỉ trộn thính hay ruột gà thúi để bắt lươn); đặt ống trúm chỗ gần đường nước ra vô của ruộng hay gốc rạch nước. Cá trê và lươn thường ăn vào ban đêm.
-Mây dóc: Một loại dây leo lá trông giống cây mây rừng. Trái có từng chùm màu xanh lớn hơn đầu đủa một chút; chúng thường mọc ngoài bưng.Trẻ con thường hái chúng bắn ống thụt. Loại này bắn trúng da rất rát hơn loại bằng giấy ngâm nước. Và rất thông dụng vì có thể bắn liên tục với cách làm những ống đạn ghép hai ống. Còn đạn giấy một gần bắn có một viên. Nhưng mây dóc thì có mùa còn giấy ngâm nước thì lúc nào cũng có!
-Ăn giặm: Nhà nông thường đãi ăn nửa buổi cho những người phụ họ vần công. Tùy theo mỗi gia đình, có khi họ đãi ăn xôi gà cho vụ đập lúa hay khoai lang nấu cho những vụ nhổ cỏ lúa. … Họ không lấy tiền mà tính công như công nhổ cỏ hay công cấy lúa cho nhau. Ví dụ: anh nợ tôi hai công nhổ cỏ. Lần sau anh phải nhổ (nhà nông thay phiên nhau phụ giúp nhau công việc như cấy lúa, nhổ cỏ cho tôi hai ngày công để trừ lại… họ gọi là vần công)
-Người ta gói bánh bằng lá dừa nên gọi là bánh dừa.
-Bọng: giống như một ống cống nhưng làm bằng cây. Thường là cây dừa chết ( cây dừa ngâm dưới nước không bị mục nát). Người ta đẽo bên trong cho rỗng. Đặt bọng dừa nằm ở dưới giữa thửa ruộng và con rạch để lấy nước ra vô.
-Vàm (trâu): Người ta dùng một sợi dây gai cột vòng quanh cổ con trâu. Từ cổ, cột một sợi dây khác xuyên qua hai lỗ mũi nó rồi cột trở lại phía bên kia cổ. Người ta muốn nó đi đâu nắm dây vàm kéo nhẹ. Nó sẽ đi theo vì dây kéo ngang lỗ mũi làm nó đau nên phải tuân theo.
Tôi có người bạn người Min ở TP Portland này cũng chạy xe taxi (ở VN gọi là đồng bào dân tộc người Dao, họ sống trên miền thượng du Bắc Việt như người H’ Mong). Tôi kể câu chuyện này cho bạn tôi. Bạn tôi cũng biết chơi ống thụt này, cũng bắn bằng giấy ngâm nước và trái mây dóc. Nhưng bạn tôi kêu là trái Ton Ton.

ống thụt làm bằng tre tầm vông và trái mây dóc.
images (1)

Vĩnh Biệt Nguyễn Bắc Sơn

tranvanle

Mỗi lần qua Tà Dôn tôi nhớ Nguyễn Bắc Sơn. Bây giờ Sơn không còn, Tà Dôn còn sừng sững…

Coi như ngày gió lộng, Nguyễn Bắc Sơn ra đi, chỉ thấy bụi bay về dài theo quốc lộ một…

Tà Dôn vẫn còn sót, những đám mây ngày xưa, hồi đó Sơn làm thơ ,gửi cho tôi, Thiện Giáo…

Năm sáu tám (1968) rào rạo ,tiếng cuống rạ cuối mùa. Tôi đọc những bài thơ, âm thầm rồi xếp cất…

Thơ của Sơn hay thật… nhưng mà như lạc loài, tội nghiệp những người trai, hành quân, vào động đĩ…

Năm bảy hai (1972) có thấy, tập thơ Sơn ra đời (*), tôi có cuộc chuyển dời: về trường xưa lớp cũ…

Cuối cuộc đời quân ngũ, Sơn và tôi xa nhau, đến khi vào Sông Mao, hỏi thăm Sơn, không thấy…

Tôi nghĩ Sơn đã chạy, về cõi nào thật xa. Thôi, trong cõi ta bà, đứa nào giữ hồn nấy…

Đỉnh Tà Dôn, núi ấy, mỗi lần tôi đi qua, kiếm đường ra biển xa, nhớ Sơn, không đứng lại…

Tôi đi và đi mãi, mới nghe tin, tin buồn: Sơn đã lìa cõi dương, Sơn ngàn thu yên ngủ…

Từng câu thơ, những dấu… chấm chấm…tôi chào Sơn. Nếu còn ngang Tà Dôn, tôi chào Sơn như vậy…

Trần Vấn Lệ

(*) Tôi chưa hề gặp Nguyễn Bắc Sơn lần nào trong các năm 1967, 68, 69; lúc đó tôi đóng quân ở Thiện Giáo, mật khu Tam Giác, Nguyễn Bắc Sơn thuộc Sư Đoàn 23, ban Tiếp Liệu, căn cứ chính ở Sông Mao, hậu cứ ở đồn Trinh Tường (Phan Thiết). Sơn chơi thân với em rễ tôi, Phạm Thụy Cầu, làm việc ở Phòng I Tiểu Khu Bình Thuận. Hễ về Phan Thiết công tác thì Sơn hay ghé nhà tôi ở chơi với em tôi, tôi không có dịp nào về phép để gặp Sơn dù có cả tháng tôi nằm ở Quân Y Viện Đoàn Mạnh Hoạch. Năm 1972, Sơn gửi lên Đà Lạt tặng tôi tập thơ đầu tay, Chiến Tranh Việt Nam Và Tôi, tôi đọc mà buồn buồn, nhiều người như Doãn Quốc Sĩ, Võ Phiến, Chu Tử…“ca ngợi” Sơn, tôi hồi âm cảm ơn và cũng khen cho phải đạo. Khi tôi đi Cải Tạo, hơn một năm đầu ở trại Sông Mao, trại G 3, Tổng Trại Tù Binh 8, hỏi thăm Sơn không thấy…vì Sơn không thuộc diện phải đổi đời. Tôi nhớ Sơn nhiều lắm qua những địa danh Sơn hay nhắc trong thơ, đại đội 2/300 của tôi từng đóng đồn Sara dưới chân núi Tà Dôn, bị xóa sổ vì thất thủ năm 1967 khi tôi chưa đáo nhiệm. Đại Đội tôi thường phối hợp hành quân với ĐĐ 2/754 đóng ở Nora, cũng dưới chân núi Tà Dôn. Đại Đội tôi cũng có khi phối hợp với ĐĐ 2/442 đóng ở Kim Ngọc, gần Sara. Trên đường công tác của Sơn thì hoặc bằng trực thăng băng qua đỉnh Tà Dôn hoặc bằng ghe đi dọc bờ biển ra Phan Rí Cửa (nhiều năm trước 30 – 4 – 1975, con đường Quốc Lộ I bị cắt). Núi Tà Dôn ở phía Bắc Phan Thiết, phía Nam có núi Tà Cú, năm 1955 Tổng Thống Ngô Đình Diệm (từng làm Tuần Vũ Bình Thuận thời Pháp Thuộc) quyết định cắt tỉnh Bình Thuận ra làm hai, phần có núi Tà Dôn là Bình Thuận, phần có núi Tà Cú là Bình Tuy, nghe nói tại Tổng Thống Diệm không thích một vùng đất có hai ngọn núi Tà. Từ năm 1980, em rễ tôi, Phạm Thụy Cầu nằm một chỗ sau tai nạn lao động, ở Đà Lạt, Sơn có hỏi thăm…Sơn mất ngày 4 tháng 8 năm 2015 tại Phan Thiết, tôi thấy có nhiều người phân ưu, tôi thì chỉ có bài thơ Vĩnh Biệt Nguyễn Bắc Sơn, gói ghém một chút tình xưa dù chưa hề giáp mặt.

THỦY TINH TAN VỠ

tonnuthudung

CHƯƠNG MỘT :

Hoàng buông chiếc cuốc , gạt những giọt mồ hôi trên trán, tiếng loa phóng thanh vang vang khắp nông trường:” đã đến giờ nghỉ giải lao , yêu cầu các giáo sinh…”. Hoàng nhún vai , gọi :
-Ê , cho chút nước đi Diệp.
Tôi đưa chai nước cho Hoàng :
-Đang mệt , uống ít thôi , bệnh đó.
-Mệt gì , toát mồ hôi đôi chút cho ra vẻ vậy thôi… Lao động rèn gian khổ chứ có phải lao động tăng gia sản xuất đâu !!
-Chứ không phải rán phấn đấu để vào Đoàn ha ?
Hoàng cười thật hiền , chúng tôi thân nhau từ thời thơ ấu nên Hoàng luôn nhường nhịn tôi ,nhưng vẫn thích chọc ghẹo để tôi giận hờn cho vui
– Phấn đấu cái con mẹ gì , Diệp ?
Hoàng có đôi mắt sắc , đẹp và tàn nhẫn nhưng nụ cười thật dễ thương đã hóa giải tất cả những điều tàn bạo trên khuôn mặt …
-Chiều nay Diệp báo bệnh ở nhà đi , coi bộ đuối rồi đó.
-Thôi đi , Diệp có làm gì đâu mà đuối. Báo bệnh hoài thì đừng hòng ra trường , thiếu sức khỏe người ta đuổi học !
-Bỏ , đuổi thì đuổi , cái trường khốn kiếp … cao đẳng với thấp đẳng …
– Nói nhỏ thôi , tụi nó nghe được thì mệt đó .
Hoàng im lặng nhìn tôi…như thầm trách sao Diệp hèn nhát vậy ….Hoàng đâu biết chung quanh Hoàng , chung quanh tôi , những kẻ thường ngọt ngào bè bạn vẫn luôn rình rập để hòng hạ bệ một giáo sinh xuất sắc như Hoàng , một tài hoa khiến cả trường ngưỡng mộ … Xui cho tôi , lúc nào cũng được Hoàng binh vực che chở nên tôi cũng bị… quy về một bọn cùng Hoàng…
Nắng chói chang trên bãi đất, từng vồng đất cứng khô được xới lên ngay hàng thẳng lối nhờ những” nông dân thứ thiệt” học cùng một khối với chúng tôi ở Sông Cầu , Tuy An như anh Võ Xuân Quang , lớp trưởng …hay Tấn Móm , Tấn Cận … ( mặc dầu vẫn bị nói lén sau lưng : đồ địa chủ … nhưng dù sao vì có dính dáng đến ruộng đồng nên quý vị ấy rất có …hoa tay để lớp tôi không bị ám ảnh bởi câu chuyện dưới cờ vào mỗi đầu tuần). Nhiệm vụ được giao hằng ngày là mỗi người trồng 200 gốc sắn , tôi đi lao động , chỉ đội một chiếc mũ lưỡi trai nâu , nắng chiếu mới một ngày đủ cho cái mặt đỏ như say rượu , Anh Quang lượm đâu một cái nón rách , dùng rựa gọt mấy chỗ te tua thành một chiếc nón trẻ em nhỏ xíu , lấy dây dù thắt cho một chiếc quai… mang về cho tôi đội , Hoàng lấy sơn đen vẻ lên một dấu hiệu hòa bình… những ngày lao động ở Suối Dầu ấy , ai cũng trằm trồ chiếc nón lá của tôi rất đặc biệt , xứng đáng trưng bày ở viện bảo tàng… Anh Quang giao :
-Hoàng , Khanh , Tấn , tao. Mỗi đứa trồng cho nó 50 gốc , để nó có thời gian viết tin , đọc tin . Tụi bây có muốn lớp mình kỳ này “ văn võ song tàng “ nữa không hả ???
Ai cũng đồng ý điều đó , anh Quang đáng mặt lớp trưởng , anh hay bênh vực bọn… con nhà ngụy chúng tôi…Sau này khi ra trường , tôi bị đưa về nơi tận cùng của Tỉnh , lại bất ngờ gần nhà anh … em gái anh dạy chung trường nên rủ tôi về nhà ở … tới phiên em gái anh ( ỷ dân địa phương ) chẳng thèm sợ ai , lại ra tay nghĩa hiệp bênh vực những khi tôi bị phê bình chỉ trích oan ức ở trường.
(Anh Quang chết trong một trận lũ khi bơi thuyền qua sông cứu mấy đứa học trò.)
Bù lại những công việc lao động tay chân nặng nhọc . Buối sáng tôi leo lên một chiếc xe bò bất kỳ nào đó ngất ngưởng đi ngang , tay ôm tập giấy , tay vịn thùng nước …ung dung đến nơi lao động . Các bạn dậy đi từ sáng sớm , tôi phải nấu nước , chờ nguội rồi mới …lên xe đi sau.
Thấy tôi từ xa , anh Quang réo :
– Ê con nhóc , kể tiếp Thần Điêu Đại Hiệp cho anh nghe.
Khi vui , tôi kể tiếp , khi buồn ,mặt tôi như đi đưa đám ma …tôi tìm một gốc cây mát mẻ , ngồi xuống với thùng nước. Dùng chiếc nón lá xinh xắn quạt lấy quạt để vì nóng . Tôi nhờ “văn hay chữ tốt “ nên được ngồi một chỗ … chờ nghe báo cáo để viết bản tin nóng mỗi ngày . Cứ đến 5 giờ chiều là tôi phải đọc trên loa phóng thanh : a lô… a lô hôm nay chương trình phát thanh của chúng ta bắt đầu bằng bản tin trong ngày … Bạn Võ Tấn Khanh đã xuất sắc vượt chỉ tiêu v.v… ( đôi khi … nè Hoàng chuẩn bị hát Em ở nông trường em ra biên giới …) Hoàng hay vừa giỡn vừa thật , nửa khen nửa chê :
– Diệp thật giỏi việc nước, đảm việc nhà , khiêm tốn ,thật thà ,dũng cảm… Diệp có biết câu nói này không : “ Một thế hệ chỉ có thể giáo hóa để trở nên tốt từ khoảng 18 đến 25 tuổi. Quá tuổi đó thì chỉ là bỏ đi “ Diệp mới 19 tuổi, còn dư sức nhờ các thầy cô của trường Cao Đẳng Sư Phạm “ giáo hóa để trở nên tốt “ được…
Tôi lườm Hoàng:
-Thôi im đi. Diệp chỉ 19 tuổi trên pháp lý , nhưng tự thâm tâm Diệp cảm thấy mình già dặn tới 190 tuổi , vậy thì Diệp cũng là một thứ A lost Generation rồi còn gì !!!

CHƯƠNG 2 :

Duy trải tấm giấy khen trước mặt tôi , lúc ấy tôi đang thả hồn cùng Holden Caufield trên cánh đồng xanh bất tận với giấc mơ BẮT TRẺ ĐỒNG XANH:
-Này , Diệp lại được giấy khen nữa đó ha ?
-Ừ , Duy nhặt ở đâu vậy ??? Vất đi.
-Sao lại vất ? Diệp học thật giỏi , đạo đức tốt và lao động thật cừ khôi…
Biết nó chọc nhưng tôi vẫn cáu kỉnh , Duy là em kế tôi , sau nó còn 3 đứa con trai nữa , tôi sống giữa một bầy con trai từ nhỏ nên thiếu hẵn nét dịu dàng thùy mị…( chỉ trừ khi tôi muốn đóng vai yểu điệu tiểu thư …) Salinger bỗng hết còn hứng thú…
Duy bỏ học nộp đơn đi làm khi thi rớt Đại Học , Lý lịch kiểu nhà tôi không rớt mới là chuyện lạ ( trừ tôi với những cơ may hiếm hoi khó hiểu )… Qua nhiều cơ quan , nhà máy , công ty , nó được gọi đi công tác thủy lợi ở Đồng Tròn, ném nó ra đời khi 18 tuổi mẹ tôi không an tâm chút nào , nhưng chẳng biết làm sao … Kệ đi , như tôi … rồi cũng tập bon chen để sống sót…
Khi tôi vào Cao Đẳng Khóa 2 , bạn bè tôi rất ngạc nhiên vì hồ sơ lý lịch cá nhân của tôi đã được thông qua một cách nhẹ nhàng… Ai dám nói cuộc đời thiếu những cơ may ???
…Trong một dịp bất ngờ , tôi quen với ông chính ủy bộ chỉ huy quân sự tỉnh Phú Khánh . Bộ đội 100% từ thời kháng Pháp. Người Bình Định. Chơn chất .Thật thà . Dễ thương …Tôi không nhìn lầm người bao giờ (…Mới đây , về NhaTrang… khi đi thăm mộ một người quen cũ , tôi bất ngờ đứng trú mưa trên hiên của một ngôi mộ lớn , sang trọng như một ngôi biệt thự … tôi tò mò đến nhìn tấm bia … Cái tên của ông đập vào mắt tôi , bàng hoàng , Tôi lại mất một người có thể gọi là bạn tốt … mà bao nhiêu năm rồi tôi không nhớ đến )
Ông không bao giờ nói chuyện chính trị với tôi , hoặc có nói thì cũng bằng cái giọng vô thưởng vô phạt rất dễ nghe.Câu chuyện diễn ra trong thư viện tỉnh , khi tôi đến tìm một vài quyển sách.
-Này cháu , Lumpen protetariat có nghĩa là gì ???
Ủa , có lẽ ông cán bộ này thử nắn gân mình sao chớ , nhè giai cấp tiểu tư sản mà hỏi về giai cấp vô sản …
Nhưng tôi vẫn nhỏ nhẹ hiền lành… thú thật tôi cũng hơi ái ngại khi tìm đọc Herman Hesse trong cái thời buổi này
-Dạ , có thể dịch là giai cấp vô sản lưu manh… Lumpen có nghĩa là Áo rách .
-Cháu giỏi quá , cháu học Đức văn hả ???
-Dạ không ,ông thầy dạy nhạc của cháu người Đức nên cháu biết chút ít thôi…
Tim tôi nhói lên một chút , tôi nhớ chiếc dương cầm gỗ mun trong phòng học .Thầy J. với mái tóc bạc phơ cúi xuống uốn nắn từng ngón tay tôi… Chính thầy đã truyền cho tôi lòng mến mộ Goeth và Hẻman Hesse cuồng nhiệt này … một thoáng , rồi thôi . Ông ta cầm mấy quyển sách tôi đang lựa ra , hỏi :
-Herman Hesse là ai thế cháu ???
-Một ông nhà văn . Bác nghe này :”und allem weh zum Trotze bleib ich Verliebt in die verruckt welt “
-Thật hay , nhưng nó có nghĩa là gì vậy cháu ???
-Dù bị đau đớn quằn quại tôi vẫn thiết tha yêu thương trần gian điên dại này…
-Ồ cháu giỏi quá , trước kia cháu học ở đâu ?
– Dạ , Đại Học Duyên Hải .
– Nhatrang có mấy trường ĐH sao cháu không học tiếp ???
– Cháu đã từng nộp đơn nhiều lần nhưng bị loại.
Vấn đề lý lịch cá nhân đang nhạy cảm nên ông hiểu ngay mà không hề đắn đo khi nói :
-Bác sẽ can thiệp , cháu muốn thi vào trường nào ???
– Cháu chỉ thích đi dạy nên muốn học Cao Đẳng Sư Phạm Nhatrang.
– Được mà , bác sẽ giới thiệu cháu vào Cao Đẳng .
Ai mà dám từ chối lời giới thiệu của một ông chính ủy chỉ huy quân sự chứ . Tôi nghiễm nhiên trở thành sinh viên CĐSP không cần thi cử, lại có lời gởi gắm nên trường khá biệt đãi tôi.
Mẹ chưa hết mừng vì tôi thì Duy bỏ việc . Nó về nhà vào một đêm khuya. Từ Đồng Tròn về NhaTrang phải đi bộ 10 km mới ra ga Chí Thạnh đón chuyến tàu đêm… Nó tháo ba lô , móc túi đưa mẹ tôi 60 đồng :
-Tiền công tác phí , tiền truy lãnh mấy tháng hợp đồng . Còn 18 ký gạo con để lại cho tụi trong đội rồi . Con bỏ việc
Mẹ hoảng hốt :
-Chết rồi , sao bỏ việc vậy con ?
-Cái tụi khốn kiếp.
Mẹ tôi im lặng nấu mì cho nó ăn. Tôi cười :
-Biết mùi rồi ha ! Kể đầu đuôi chị nghe coi !
– Ông bà tụi nó , không biết từ đâu mà tụi nó nghe đồn khi sinh Duy ông nội từ Huế ra Quy Nhơn mướn một gánh hát lên Pleiku biểu diễn 3 ngày để mừng ông có cháu đích tôn… Rồi cứ mỗi bữa ăn cơm tập thể , tụi nó lại hỏi : nuốt gì xuống hả cậu ấm… Mẹ kiếp , tụi nó còn khám phá ra lúc ba làm tỉnh trưởng thời ông Diệm mà Duy đếch khai trong lý lịch. Mẹ nó chớ … đi đào mương cuốc đất thì vinh dự chó gì mà khai quận trưởng với tỉnh trưởng ???
Tính Duy điềm đạm nhất nhà , là con trai nhưng nó không hề dùng các loại tiếng đệm như vậy bao giờ… nay môt loạt tiếng đệm như pháo nổ làm tôi rất ngạc nhiên . .. thì ra chú nhỏ phải giải thoát bực tức bằng ngôn ngữ… Mẹ cười :
– Thôi , từ từ rồi tìm việc khác.
Duy nhún vai , nhóc Lưu nãy giờ ngồi hóng chuyện buông thỏng hai tiếng rất nhẹ nhàng :
-Mẹ kiếp .
Tôi trừng mắt :
-Ê mày còn nhỏ , đừng có chửi thề mà bị đòn.

Tôn Nữ Thu Dung ( NhaTrang, 1979)

Thơ gửi bạn thơ

huetrung

Thôi! cũng chỉ là những người bình thường
Chứ có mang đâu sắc màu thần thánh
Mà cứ muốn hóa thân thành trăm mảnh
Để mảnh nào cũng sáng cũng thơm hương

Ta về đây cùng câu chữ yêu thương
Cũng là góp chút gì cho cuộc sống
Dẫu rét ngọt hay những ngày nắng nóng
Ta vẫn vui vui khai ý, mở đường

Có lẽ nào mãi cay đắng khôn nguôi
Bát canh còn khi vị chua, vị ngọt
Vẫn nhịp đập của bến bờ hi vọng
Thanh âm nào cứ vồn vã trong tôi

Viết nữa đời thơ để tặng bạn ngày thơ
Gõ cửa ước mơ, đóng khung vào khao khát
Ánh sáng không màu dựng cho đời bảy sắc
Vì yêu nhau ta hóa đẹp tự bao giờ!

Huệ Trung