MẸ

Cứ Ngỡ Mẹ Về
Tưởng như bước nhẹ mẹ về
Nhưng không- gió tạt bên lề cỏ thưa
Bồi hồi nghe tiếng rơi- mưa
Vòng xe thổ mộ, nắng trưa úa vàng
Mẹ về hay bóng sương tan
Hắt hiu bóng đợi, khói ngang tầm nhìn
Bờ lau, mặt nước hồ in
Bóng con hốc hác dưới nghìn dặm sâu…

Ngày Về
Hơn mười năm con về thăm lại
Đường cheo leo đá dựng ngang đầu
Quê vẫn nghèo mẹ vai áo rách
Ngày trở về nặng trĩu nỗi đau

Bên vách rạ khói chiều quanh quẩn
Chiếc mo cau mẹ gối đầu giường
Mưa có dột khi mùa bão tới
Gió có làm đổ giậu mùng tơi?

Con không về biết ai lợp lại
Mái nhà mình gió thốc quanh năm
Ngày phố thị con đâu hề biết
Nắng vàng soi vào chỗ mẹ nằm!

Con về đây xin đời thứ lỗi
Cắn hạt cơm như nuốt nỗi đau
Sữa mẹ nuôi thơm hương đồng lúa
Khói quê nghèo lẫn với hương cau

Hiu Hắt
Trong giấc ngủ con mơ thấy mẹ
Mười năm rồi từ lúc xa quê
Cứ lẩn quẩn trong vòng cơm áo
Lòng vẫn mong có một ngày về

Con mơ thấy cánh đồng trươc ngõ
Ánh nắng chiều rụng dưới bờ cau
Mẹ đứng đó tóc là mây trắng
Trong mong chờ có lẫn nỗi đau

Mảnh vườn hoang mái nhà xơ xác
Mười năm rồi nhìn quãng trời xa
Con đâu biết nỗi buồn của mẹ
Hắt hiu như sông nước quê nhà

Rừng trung du mùa này chắc lạnh
Khóm mai xưa còn nở hoa vàng?
Chiều mẹ có còn ra đầu ngõ
Đợi con về dưới bóng sương tan?

Phạm Thanh Chương


VU LAN

Rằm tháng Bảy hoặc ngày mười lăm tháng Tám dương lịch, tương tự như người Hoa và Việt, người Nhật Bản hành lễ Ubon hay Obon, còn gọi là Bon hoặc Urabon. Trong dịp lễ này họ còn cử hành thêm lễ Toro Nagashi tức là lễ thả đèn trên sông để cầu nguyện cho kẻ quá cố.
Nguồn gốc của lễ Ubon hoặc Vu Lan phát xuất từ Phật Giáo Trung Hoa, truyền qua Nhật Bản từ đầu triều đại Meiji. Tôn giáo Á Đông, tin tưởng rằng linh hồn của tổ tiên và người quá cố trở về nhà trong ngày hội Vu Lan. Thức ăn, hoa quả, nhang đèn được bày biện trước bàn thờ, danh từ Nhật Bản là Butsudan, để cầu nguyện cho sự an lạc thiên thu. Đèn giấy treo trước nhà hướng dẫn linh hồn về đoàn tụ. Trong khu vực Hiroshima, đèn màu thắp lên cạnh các nấm mộ lâu năm, đèn trắng dùng cho những người mới qua đời trong vòng một năm.

Ubon là một trong hai dịp lễ quan trọng trong năm đối với người Nhật. Hầu hết các cơ quan hành chánh và cơ sở thương mại đóng cửa nghỉ phép vào ngày mười ba đến mười lăm tháng tám. Nhiều người đi làm xa được chủ cho về thăm gia đình để cùng nhau trẩy hội Vu Lan.
Trong những ngày đầu, ngoài việc đi thăm mộ và cúng giỗ, người Nhật Bản còn có tục lệ nhảy múa gọi là Bon Odori để chào đón linh hồn tổ tiên. Nhiều nơi, vào ngày cuối của tuần lễ Ubon, vào mỗi hoàng hôn dân chúng thả đèn xuống sông hoặc biển, họ tin rằng linh hồn thân nhân sẽ đi theo ánh đèn về miền cực lạc.
Lần này đến Honolulu, tôi ngẫu nhiên khám phá rằng mình đang viếng Hawaii trong tuần lễ Ubon. Từ đầu tuần, bắt đầu sáu giờ rưỡi chiều, các vũ công Nhật bản mặc Kimono và Tabi, hát múa vinh danh tiền nhân trước khách sạn Hawaiian Regent. Đây là lần thứ bảy khách sạn này bảo trợ chương trình lể Urabon. Vào đêm mười lăm tháng tám, tối chủ nhật, chương trình rước đèn hoa bằng thuyền độc mộc bắt đầu vào lúc tám giờ tối tại kênh đào Alawai. Tại đây, một ngàn cái đèn giấy sẽ được thả xuống nước.

Lòng tôi hân hoan mở hội, hy vọng được thấy một đêm Hawaii huyền diệu, bí ẩn với những ánh đèn lung linh trên dòng nước, được nghe tiếng Hạ uy cầm reo trong gió, tiếng lá dừa ngả nghiêng xào xạc và nhất là mùi thơm dịu dàng phảng phất của hoa sứ, một kỷ niệm của Hawaii tôi luôn luôn cưu mang lưu luyến. Năm ngoái, tôi về Huế, được đi thuyền trên sông Hương, nghe ca Huế và thả đèn hoa đăng, lòng còn mang nhiều kỷ niệm thật là êm đềm, nên tôi rất mong được hưởng thêm một kinh nghiệm mới. 
Sáu giờ chiều, sau khi ăn tối thật nhanh tại International Market, tôi vội vã vác ba lô máy ảnh lên lưng, băng qua ngã sau chợ, đi bộ tới kênh đào Alawai. Con đường tráng xi măng dọc theo bờ kênh rất tiện cho bộ hành dạo mát, trên lề đường hoa sứ trắng, hồng tỏa hương êm dịu theo làn gió thoang thoảng. Những cây dừa cao vút nghiêng bóng trên bờ nước và phượng vĩ vẫn còn hoa rực rỡ làm hồn tôi man mác nhớ những kỷ niệm tuổi học trò áo trắng ngày xưa.
Đang tìm chỗ an tọa để chờ màn đêm rơi xuống, tôi chợt thấy một đoàn thuyền độc mộc từ hướng cầu McCully chèo ngược dòng kênh. Trên mỗi chiếc thuyền là một cái đèn giấy trang hoàng diêm dúa, gắn kỹ lưỡng trên một tấm ván lớn, đặt thăng bằng ngang lòng thuyền. Ba cô gái trẻ người địa phương chèo ngược dòng nhanh nhẹn. Thấy tôi chụp ảnh trên bờ các cô chậm tay nhìn lên. Tôi gọi:
-Cho tôi chèo thuyền với!
Cô nhìn tôi:
-Bà có mái chèo không?
Tôi lắc đầu, tiếc thầm bị cơ may dang dở. Mấy cô nói: Sorry, rồi chèo thuyền đi mất. Từ địa điểm hành lễ, tiếng chiêng trống trỗi lên vang dội, kinh cầu bằng Nhật Ngữ và Anh Ngữ, mặc dù đây là đại lễ Phật Giáo nhưng tôi có nhận ra thêm những lời kinh Công Giáo. Khi đọc danh sách của tử sĩ tôi nghe lời cầu nguyện cho nạn nhân chiến cuộc trong các cuộc đại chiến, nhất là những linh hồn uổng tử tại Hiroshima, Nagasaki và Pearl Harbor. Sau nghi lễ tế bái, các đoàn vũ công múa trống, múa đèn. Tôi ở bên bờ sông đối diện, trời lại nhá nhem tối nên không thấy được tất cả những chi tiết hành lễ. Lúc này, tất cả các lồng đèn đều được thắp sáng trên các thuyền độc mộc, tụ tập phía tôi đứng. Bên kia sông, cả ngàn cái đèn giấy đã lung linh ánh nến. Biết rằng phải chụp ảnh đêm, không đèn chớp nên tôi dùng loại phim nhậy sáng, thay đổi tốc độ và khẩu độ khác nhau để hy vọng có tấm hình đẹp. Tôi miệt mài bấm hết ba mươi sáu tấm để rảnh tay thực hiện mưu đồ mới của mình.

Chụp hình xong, cất máy gọn gàng vào ba lô, tôi quan sát các chiếc độc mộc quanh mình. Các anh chị chèo đò lúc này đang nghỉ ngơi, uống nước và ăn tối. Biết rằng nếu tôi kiếm được cái mái chèo thì cơ hội lên ghe của tôi sẽ trăm phần hy vọng. Nhìn thấy một chiếc thuyền đôi chở cái đèn lồng màu hồng thật lớn, chèo bởi sáu anh chàng Hawaiian da đen bóng, sau thuyền họ đem thêm mấy cái mái chèo. Tôi mon men bước đến làm quen và xin chèo thuyền với họ. Sau vài phút ngẫm nghĩ, một anh gọi qua chiếc thuyền bên cạnh xin phép giùm cho tôi được lên thuyền vì thuyền này chỉ có hai tay chèo và anh ta đưa tay rút mái chèo cho tôi mượn. Anh chèo đò trên chiếc thuyền mới hỏi tôi:
-Bà có biết chèo không? 
Tôi do dự chả biết trả lời như thế nào nhưng đánh bạo nói dốc:
-Tôi rất thông minh, cần vài phút thực tập là tôi chèo được ngay!
Anh đưa tay chỉ tấm ván giữa thuyền.
– OK, bà ngồi đây.
Bây giờ nhìn kỹ lại thấy chiếc thuyền sao mỏng manh quá làm bụng tôi bắt đầu đánh lô tô. Biết rằng với tấm thân bồ tượng này, nếu tôi trèo không khéo thế nào cũng lọt xuống sông, làm lật thuyền và làm trò cười cho du khách đang ngồi hai bên bờ. Sau vài giây ngẫm nghĩ, biết rằng sông không sâu lắm, tôi lội đại xuống sông, mang cả giày, trù tính rằng nếu rủi ro tôi có bị lật thuyền thì trước sau cũng ướt, chi bằng bị ướt chút chút trước cho quen. Nước bên hông thuyền chỉ ngang đùi, tôi chỉ sợ cho túi máy ảnh đầy phim và dụng cụ đắt tiền nên nâng lên cao, đặt cẩn thận trong lòng thuyền trước khi nhảy vào thuyền. Người đàn ông trung niên ngồi đầu mũi thuyền tên là Sandy, thấy tôi cầm mái chèo, anh cười khì bảo rằng tôi cầm ngược. Da mặt tôi rất dầy từ khi trở thành nhiếp ảnh gia nên tôi không cảm thấy ngượng ngùng chi cả, tôi bảo anh:
-Anh dạy cho tôi cách chèo cho đúng để tôi khỏi làm lật thuyền nhé.
Anh ta chỉ tôi cách cầm chèo và cách vận động các bắp thịt vai và hông, cách chuyển hướng thuyền rồi bảo:
-Khi nào tôi chèo bên phải thì bà chèo bên trái.
Thì ra chèo thuyền còn dễ hơn là đạp xe đạp, mấy hôm trước, ngày nào tôi cũng đi bơi mà chẳng thấy tay chân mỏi mệt chi cả nên hôm nay tôi cảm thấy khỏe và tự tin. Cuối thuyền, cậu thanh niên trẻ mới mười sáu tuổi tên Mike, người Mỹ trắng, sinh tại Hawaii nên da cũng ngăm ngăm đen vì hay đi trượt sóng. Mike muốn qua học đại học Colorado sau khi tốt nghiệp trung học. Anh Sandy đã hơn năm mươi tuổi, mang dòng máu Hawaii và Trung Hoa, ngày xưa khoảng năm 1970 anh ta đi lính qua Việt Nam. Hai người tỏ ra rất thân thiện, tử tế và vui vẻ.
Bên bờ công viên, buổi tế lễ kết thúc, một hàng ca sĩ và vũ công mặc quốc phục Nhật Bản bước sát bờ nước, hai tay cầm đèn, múa lòng vòng và hát lên những lời ca thật trầm buồn êm dịu. Tiếng ca như làn gió nhẹ mơ hồ trên mặt nước, như cánh bướm lượn trên hoa, như tiếng mẹ ru ơi hời buổi trưa hè vắng…
Từng chiếc độc mộc bắt đầu lìa bến, đến phiên thuyền chúng tôi di chuyển, thấy Sandy dùng mái chèo đẩy thuyền tôi cũng bắt chước anh. Chúng tôi chèo thuyền qua bờ sông đối diện. Bên này các vị có nhiệm vụ gắn đèn, buộc vào đuôi thuyền của chúng tôi một hàng đèn giấy, ít nhất là năm mươi chiếc. Một anh nhìn sát mặt tôi cười:
-A, có một du khách!
Trong cuộc lễ này, các người chèo thuyền thường là người bản xứ nên anh ta có vẻ ngạc nhiên thích thú khi thấy khuôn mặt lạ. Tôi cười và đáp:
-Một du khách can đảm, vì đây là lần đầu tiên tôi được chèo thuyền!
Anh đẩy thuyền ra dòng nước sâu mỉm cười:
-Have a good time!
Tôi sung sướng vui vẻ cám ơn anh ta và chèo ra giữa dòng. Tay tôi cầm cái bơi chèo, khuấy vào nước mát, bên tai gió hiu hiu thổi, tiếng ca vương vấn trầm bổng trong không gian đưa thuyền nhè nhẹ trôi. Trên trời trăng lưỡi liềm, tinh tú long lanh vằng vặc, giải Ngân Hà rạng rỡ trên cao, chia phôi tình Ngưu Lang Chức Nữ. Trước mặt tôi, thành phố Honolulu đã lên đèn, nhìn những cửa sổ cao ốc đèn sáng, tôi liên tưởng đến những cái đèn lồng, không khác mấy những ngọn đèn vuông vức chạy theo chúng tôi sau lưng thuyền.
Bờ kênh phía đường Alawai du khách đứng ngồi ngổn ngang chiêm ngưỡng cuộc diễn hành, đôi khi chúng tôi bơi gần bờ, du khách vỗ tay vang dội để khích lệ, tôi khoái chí cười toe toét đưa mái chèo lên vẫy giống như một quán quân vô địch làm Mike cười nắc nẻ. Qua một đoạn khác, phía gần sân golf, một bầy thanh nữ hát hò có vần có điệu, cổ võ vang lừng thật là vui.
Gần cầu McCully du khách bắt đầu thưa thớt, chúng tôi im lặng chèo qua khúc kênh tối, chợt tôi nghe tiếng kinh tụng trầm bổng rì rào phát ra từ bờ cỏ. Tiếng kinh dìu dặt thê lương, buồn như tiếng niệm ngâm nga cầu cho linh hồn về miền cực lạc. Một cụ già tay cầm tràng hạt, cúi đầu miên man tụng niệm. Lòng tôi chợt cảm thấy dày vò bởi một nỗi ai oán khó tả, không khác với nỗi buồn khi tôi đứng trên đài tưởng niệm Arizona, nghĩ đến những chiến sĩ trẻ bằng tuổi con mình đã hy sinh vì tổ quốc. Tôi cũng thì thầm một lời cầu nguyện cho những linh hồn quá cố được trôi về một cõi bình an, như những chiếc đèn lồng lặng lờ trôi về bến mới.

Thuyền cập bến, sau khi giúp Sandy và Mike kéo mũi thuyền lên bờ, tôi cám ơn và từ biệt. Vòng qua cầu Mc Cully, tôi lên phố để về lại Kuhio Beach, lòng cảm thấy đầy sinh khí và vui sống. Nhìn quanh, so với cả mấy chục ngàn du khách tôi cảm thấy mình thật may mắn vì được trải qua một kinh nghiệm thật thích thú. Trong đêm nhiệt đới thơm nồng hương hoa sứ, tôi thả bộ trên hè phố Honolulu, ngửa mặt lên trời đón nhận những giọt mưa ngâu đang nhẹ nhàng rơi.

Tôn Nữ Thu Nga (1996)
PS: Bài này viết cách đây khá lâu, nhưng hàng năm, đến mùa này, Hawaii vẫn giữ tục lệ tổ chức lễ Obon. Thế nhưng vì đại dịch Covid 19, năm nay tất cả các lễ hội đều phải hủy bỏ để bảo vệ sức khỏe cho cộng đồng. Hy vọng trong tương lai, Obon sẽ được tổ chức lại tại Nhật Bản và Hawaii Islands.
Nếu có một ngày trong tương lai, chúng ta có dịp nhìn lại các nấm mộ mới trong năm 2020 của các nạn nhân Covid 19, bạn nhớ treo lên một lồng đèn trắng hoặc cài lên áo mình một đóa hoa hồng trắng để tưởng nhớ vừa mẹ mình và cả những người đã xa lìa thế giới để qua cõi vĩnh hằng.

Ảnh tư liệu của Tôn Nữ Thu Nga ( 08/16/20)

TÊN CỦA GIỐNG LOÀI

Khi bạn có thể âm thầm bỏ ra 2,5 triệu USD để mua quốc tịch mới, ngay cả khi bạn đang có một vị trí cao hơn người khác về mặt chính trị, kinh tế, xã hội, có nghĩa là:

– tài sản của bạn, vốn có được từ khả năng quan trọng nhất là Cao cấp lý luận chính trị, ít nhất là phải nhiều gấp 10 số đó, hoặc nhiều lần hơn nữa.

– vị trí đại biểu Quốc hội của bạn chỉ có thể là bù nhìn hoặc là tay sai, vì mục đích lớn nhất không phải vì tiếng nói của nhân dân mà vì quyền lợi thầm kín của bạn đang theo đuổi.

– trong lòng của bạn không hề kính trọng đất nước mà bạn đã sinh ra và lớn lên, và coi thường luôn cả chế độ mà bạn đang tham gia. Nó chỉ là một cái chảo nóng sôi quyền lợi, mà bạn chọn len vào, rồi luôn mưu tìm một lối thoát khác bí mật cho mình.

– thu nhập khổng lồ mà bạn có được, chỉ mô tả rõ rằng bạn đã và đang đào bới và đục khoét trong đất nước, bao gồm của cả những người già yếu và những đứa trẻ khốn khổ cùng tiếng nói với bạn, để bạn sớm rời bỏ họ ra đi.

– trong một đất nước độc tài chuyên chế về ý thức chính trị, để có một vị trí cao hơn đồng bào mình, giàu có hơn đồng bào mình, chỉ có thể là lừa dối chính bản thân, lừa dối ngay cả hệ thống chính trị mà bạn đang thề phụng sự cho nó, và lừa dối luôn cả cha mẹ, vợ, con cái… bằng ngôn luận trơ trẽn phổ biến của loại sâu mọt: phấn đấu hy sinh cho đời sau.

– khi bạn tìm thấy một đường dây mua quốc tịch mới giá cao như vậy, ắt là phải có mai mối hoặc tìm kiếm từ những đường dây bí mật nào đó, thì thào giữa các quan chức với nhau. Điều đó có nghĩa là không chỉ có riêng mình bạn là người cẩn thận chuẩn bị chọn một quốc tịch để lưu vong khi cần.

– bạn chỉ là một kẻ vô danh trong số những người có thể mua quốc tịch với giá 2,5 triệu USD. Vậy còn những kẻ ở vị trí cao hơn, lừng danh hơn, thì tài sản và các quốc tịch sẽ như thế nào?

– bạn không phải là người đầu tiên trong hệ thống quan chức đầu tiên bị tìm thấy, đang giấu một chiếc phao cứu sinh trên chiếc tàu mục ruỗng, tức đã từ lâu bạn không còn một niềm tin nào vào hành trình của chiếc tàu đó. Vậy thì bạn và những người như bạn, vẫn ca hát nhảy múa trên chiếc tàu mục ruỗng đó, át cả những tiếng khóc oan trái, bất công, giữa tín ngưỡng bị chà đạp, nhân quyền bị bóp nghẹt… bạn là giống loài gì?

TUẤN KHANH

Tranh Marc Chagall
(The Juggler, 1943)

CON BUỒN MẸ CÓ VUI?

CON BUỒN MẸ CÓ VUI

Gõ lấy thân lép kẹp
Như gõ vào áo quan
Đất trời đà khép mắt
Buồn hơn thuở hồng hoang.
.
Những đồng tiền mẹ rót
Lăn qua kẽ tay mòn
Hạnh phúc nào còn sót
Lọt thỏm giữa đời con.
.
Tiêu xài da thịt Mẹ
Nến tắt. Gió là con
Con là quân đổ đốn
Yêu Mẹ như thù con.
.
Gõ chiếc thân lép kẹp
Như gõ vào áo quan
Nào cười như xé ruột
Xin cười cho mẹ vui
Ôi cười như xé ruột
Xin cười cho mẹ vui.
.
Con cười như gỗ ván
Giữa đất trời trống huơ
Con cười như vết đạn
Chết sững giữa cơn mơ.
.
Gõ chiếc thân lép kẹp
Như gõ vào áo quan
Con cười như gỗ ván
Xếp vó giữa gò hoang.
.
Con cười như vết đạn
Chết sững giữa cơn mơ.

Phương Tấn

(Trong tập thơ: THƯA MẸ)




Mưa Tháng Tám

Làm sao mà anh biết em ơi
Mưa từ phương nam hay phương bắc
Gió Sài Gòn xa lơ- xa lắc
Thổi tạt tình anh thuở hẹn hò

Ướt áo em – mưa ướt một thời
Bàn chân nhỏ lấm lem bùn đất
Nhớ quá đỗi khi em đứng khóc
Giữa con đường tháng tám mưa tuôn

Có ai về ngõ hẻm anh thương
Nơi mối tình em vừa mới lớn
Nơi áo núi – quần sông ra trận
Tháng tám mưa – anh biệt kinh kỳ

Mấy mươi năm trời làm chia ly
Sầu đong đầy trong đôi mắt biếc
Mấy mươi năm anh còn tiêng tiếc
Nụ hôn vội vàng lúc tiễn đưa

Có ai về ngõ hẻm ngày xưa
Tháng tám mưa hoài không dứt hột
Rằng – bể dâu anh còn sống sót
Gặp lại nhau mưa đã cuối mùa

Gặp lại nhau em hết buồn chưa ?
Tuổi mười sáu đi vào quá khứ
Quận tư – bến đò Long Kiểng cũ
Qua rồi mùa tan tác quê hương

Linh Phương

Bài Ca Của Người Du Tử (Du Tử Ca)

Tôi đậu cử nhân Luật năm 1971. Ít lâu sau thì xin được vào tập sự tại văn phòng của một vị luật sư khá nổi tiếng bạn thân với bố vợ tôi. Làm luật sư tập sự thì nhàn, đồng lương tương đối cũng khá. Hàng tuần, đi làm về tôi thường tới Trung tâm văn hóa Nhật ở đường Phan Ðình Phùng học thêm tiếng Nhật. Học cho biết vậy thôi, nghề luật sư không đòi hỏi phải biết tiếng Nhật. Sau ba năm tập sự, tôi thi đậu và được Luật sư đoàn công nhận luật sư chính thức, cho phép treo bảng đồng, lập văn phòng riêng.

Chưa đầy một năm sau thì tôi thôi không làm luật sư nữa mà cũng thôi không đi học tiếng Nhật, bởi vì các trung tâm ngoại ngữ đã đóng cửa. Tôi trông nom con cái cho vợ tôi đi dạy, thỉnh thoảng cũng kiếm ăn được chút đỉnh do liên lạc với các trung tâm dịch vụ pháp lý. Người ta đưa các đơn từ, giấy má tiếng Nhật hoặc tiếng Anh đến, chúng tôi dịch phụ. Tiền bạc trung tâm tính toán rất tốt nhưng cũng chẳng được bao nhiêu.

May sao thời kỳ mở cửa, nhờ chút ngoại ngữ tôi nộp đơn xin được vào làm trong một khách sạn kiêm nhà hàng sang trọng. Tôi giữ chân tiếp đón khách, mời họ ngồi vào bàn, ghi những món họ muốn dùng, báo cho nhà bếp biết rồi các cô tiếp viên bưng ra. Tiền lương đỡ lắm, đã vậy mà mỗi cuối tháng chúng tôi còn được thưởng thêm, vợ tôi có vẻ yên tâm lắm.

Một hôm ông giám đốc khách sạn cho người gọi tôi lên văn phòng ở trên lầu. Ông chỉ chiếc ghế trước mặt trong căn phòng lạnh bảo tôi ngồi rồi cầm gói thuốc ba số năm trên bàn mời tôi hút:
– Anh quản lý nói anh biết nói tiếng Nhật ?
– Vâng. Thưa ông giám đốc, ngày trước tôi có học tại trung tâm Nhật ngữ vài năm, giao dịch cũng đỡ nhưng bỏ lâu không xài nên đã quên nhiều.
– Bây giờ còn sử dụng được chứ ?
– Vâng, có lẽ tạm được.
– Vậy thì tốt. Công việc tôi cần nhờ anh là thế này anh Trình ạ…
Ông ngắt ngang câu chuyện, với tay lên chiếc giá ở phía bên cạnh lấy hai chiếc cốc cao cẳng bằng pha lê rồi mở một chai Champagne của Pháp, rót ra hai ly, đặt trước mặt tôi một ly: Mời anh !
– Xin cám ơn ông giám đốc.
– Cứ uống đi mà. Chúng ta làm hết chai này, vừa uống vừa nói chuyện…
Ông này là tay sành sỏi, điệu nghệ. Bây giờ ông mới mở cái món bài tủ là rút trong ngăn kéo ra một gói Dunhill ‘black label’ mới tinh còn nguyên xi chưa bóc giấy bóng, gỡ giấy kiếng, bảo tôi dụi điếu thuốc ‘ba số’ vào chiếc gạt tàn rồi lịch sự cầm cả gói chìa về phía tôi, mời tôi hút.
– Champagne Pháp phải đi đôi với thuốc Ăng-lê mới tốt !
– Vâng, thưa ông giám đốc.
– Nào, mời anh !
– Không dám, mời ông giám đốc.
Chúng tôi nâng ly. Khốn khổ, rượu Champagne dù loại ‘chính hiệu’ của Pháp hoặc thuốc lá Dunhill ‘black label’ đi nữa đối với một luật sư như tôi cũng đâu có lạ. Vậy mà bây giờ sao tôi thấy nó ngon thế, cứ mát cả ruột! Nhưng cũng sờ sợ, phải có chuyện gì ông giám đốc mới ‘ưu ái’ với tôi đến thế !
– Bên công ty du lịch họ báo cho chúng ta biết khách sạn chúng ta sắp đón một vị khách quan trọng. Ông này người Nhật, muốn đích thân sang xem xét, ký kết hợp đồng về các máy móc điện tử hay chế tạo linh kiện điện tử gì đó tôi không biết rõ. Họ nhờ chúng ta… Nói thật ra là họ chỉ thị chúng ta phải biệt đãi với khách. Phải dùng mọi cách làm thế nào khách được vừa lòng.
– Thưa ông giám đốc, chúng tôi vẫn tiếp đãi hết sức lịch sự với mọi khách hàng.
– Ðúng thế, tôi hiểu. Nhưng theo tôi biết, ông giám đốc này hình như hơi già nên rất khó tính. Ví dụ trên công ty họ báo ông ta chỉ dùng tiếng Nhật, không dùng bất cứ một thứ tiếng nào khác. Ngoài ra, có lẽ cũng vì tuổi tác, tính nết ông ta cố chấp, khắc khổ, không thích giao thiệp với mọi người.
Xương sống lưng tôi lạnh toát. Tôi hiểu ông giám đốc khách sạn đang muốn đề cập chuyện gì. Quả nhiên, ông ta kết luận: – Tôi đã bàn tính với ông quản lý. Trường hợp này ta phải dùng tới một người tương đối lớn tuổi, có căn bản học vấn – nghĩa là dùng người trí thức đàng hoàng chứ không thể đưa ra mấy cô chiêu đãi viên trẻ đẹp hoặc vài nhân viên thông dịch tiếng Anh tiếng Nhật bình thường. Anh đồng ý với tôi chứ ?
(Ðồng ý cái khỉ khô! Tôi là anh bồi khách sạn chứ là cái quái gì mà đồng ý với không đồng ý).
– Thưa ông giám đốc, tôi nghĩ cũng đúng.
– Xét trong khách sạn, anh phù hợp với các điều kiện đó. Tôi chỉ định cho anh làm công tác mới giúp đỡ khách sạn. Nếu anh tranh thủ được cảm tình của ông ta, chẳng những khách sạn có hoa hồng riêng cho anh mà bên đầu tư cũng có phần thưởng. Họ hứa như vậy. Còn nếu không tranh thủ được…
Ông ta bỏ lửng song tôi hiểu. Có thưởng thì phải có phạt. Nếu tôi loạng quạng, không làm nên cơm cháo sẽ bị mất việc, ở nhà nấu cho vợ dễ như chơi. Tình hình như vậy, biết nói cách nào bây giờ ?
– Thưa ông giám đốc, tôi không giám nghĩ tới việc được thưởng nhưng sợ tiếng Nhật lâu không xài, tôi quên mất nhiều…
– Ðược, nhớ tới đâu dùng tới đó. Anh cứ yên tâm, tôi sẽ đích thân trông coi việc này và sẵn sàng cung cấp cho anh mọi phương tiện, kể cả tài xế và nhân viên khuân vác hành lý cho khách nếu cần. Dứt khoác chúng ta phải tranh thủ bằng được cảm tình của ông ta.
– Vâng, thưa ông giám đốc, tôi sẽ cố gắng.
Tôi dợm đứng dậy. Ông giám đốc ngăn lại, lục các giấy tờ trên bàn: – À này, họ cho tôi biết tên ông ta là Kwann Tae Palms… Quái, cái giấy tôi bỏ đâu mất rồi?.. À đây… Anh nhớ cho rõ, chỗ nào tôi cũng ghim sẵn người của ta, sẵn sàng hậu thuẫn cho anh một cách tốt đẹp. Anh đã có đồ vét, cravát… chưa nhỉ ?
– Thưa có.
– Vậy thì tốt. Anh cầm giấy này xuống phòng kế toán bảo cô thủ quỹ tôi quyết định ứng trước cho anh hai tháng lương. Ðây, giấy tạm ứng đây. Nếu công việc tốt đẹp sẽ tính vào tiền thưởng.
– Vâng, cám ơn ông giám đốc.
Tôi đi, tay cầm mảnh giấy. Kỳ lạ, tại sao ông ta lại tên Kwann Tae Palms, chẳng giống với Nhật chẳng giống với Tàu? – Riêng cái họ – Palms – thì giống với Mỹ. Theo tôi hiểu, người Nhật tên họ thường là Watanabe, Saburo, Yamamoto, Fuda, Fudo, Honda, Yamaha, Suzuki .v.v… Ngay đến cái tên cũng khó hiểu thế chẳng trách ông ta già, khó tính, lẩm cẩm, cố chấp, chỉ nói tiếng Nhật, không thèm nói tiếng Anh tiếng Pháp. Ôi, tôi mất việc dễ như chơi!

Hôm sau, tôi và anh phụ tá được chiếc xe du lịch màu trắng mới tinh gắn máy lạnh đưa ra phi cảng, đón ông giám đốc Nhật tận chân cầu thang máy bay. Ðây là ngoại lệ. Theo tôi hiểu, đáng lẽ chúng tôi chỉ được đón ở phía trong, sau khi ông ta đã làm thủ tục, khám xét, trình các giấy tờ.

Sau cái liếc mắt ‘ra hiệu ngầm’ của cô tiếp viên phi cảng, tôi sửng sốt: ông giám đốc Nhật trông còn trẻ, chỉ trạc ngoài bốn mươi ngang với tuổi tôi, nét mặt già dặn có thể nói là rất có duyên, nước da ngăm ngăm đen, mắt hai mí trông nhanh nhẹn tháo vát chứ không ‘một mí’ như mắt người Nhật hay người Ðại Hàn. Ðặc biệt, ông ta ăn mặc theo kiểu khách du lịch, áo sơ mi ca rô sọc chìm, quần jean, áo bỏ trong quần với sợi dây xanh tuya to bản bằng da cá sấu, giầy Adidas màu trắng. Chà chà, tôi thấy ông ta đẹp trai quá, không già lão, ‘khó tính’ một chút nào hết.

Anh phụ tá đỡ giùm chiếc va ly trong khi tôi cúi đầu thật thấp theo kiểu người Nhật, nghĩa là cứng đong đong như khúc gỗ bị bẻ gẫy, chắp tay trước ngực và cố ‘nặn’ ra từng tiếng Nhật:
– Kôn ni chi wa, y ô ku i ras shai ma shi ta. Hi ji ma shi te ? (Xin kính chào ngài, chúng tôi rất vui mừng được tiếp đón ngài. Thưa ngài đi đường bình an chứ ạ?)

Ông ta ngớ người nhìn tôi, nhíu mày suy nghĩ như cố nhớ lại điều gì. Sau đó ông ta nhún vai, quyết định trao chiếc cặp Xăm-xô-nai cho cô tiếp viên xách giúp, rồi cũng chắp tay, cúi đầu thật thấp chào lại:
– Kônnichiwa! Yôku irasshaima****a! (Xin kính chào ông! Tôi rất vui mừng được gặp gỡ ông!)

Giọng ông ta nhanh và mạnh, tất nhiên thông thạo như… tiếng mẹ đẻ chứ không ỳ ạch như tôi. Tôi đoán rằng tôi nói ‘hay’ quá nên thấy ánh mắt ông ta có gì vui vẻ, tinh nghịch pha lẫn nụ cười. Tôi lại hăng hái ‘nặn’ tiếp và tự giới thiệu:
– Wa ta shi wa Trinh de su, ho te ru Y… y a dô zo yo ro shi ku! (Thưa ngài, tôi tên là Trình, nhân viên khách sạn Y… rất sung sướng được cử đến đây đón tiếp ngài !)

Nét mặt ông giám đốc Nhật vui hẳn lên, ông mỉm cười nhìn tôi sau đó cũng tự giới thiệu:
– Watashi wa ‘Kwann’ desu, dôzoyoroshiku! (Thưa ông tôi tên là Kwann, rất sung sướng được cử đến đây gặp ông)
Tiếng Nhật dùng ý giống như tiếng Việt hay tiếng Tàu, nhân xưng đại danh từ ‘tôi’ và ‘chúng tôi’ nhiều khi dùng chung với nhau, những tiếng như ‘irasshaima****a’ và ‘yoroshiku’ vừa có nghĩa là đón tiếp lại vừa có nghĩa là gặp gỡ, tùy câu sử dụng. Hừ, lạ thật, tôi là anh bồi khách sạn chứ có phải là một VIP nào đâu mà ông ta nói rất sung sướng được ‘cử’ đến đây ‘gặp’ tôi? Ngoài ra tôi để ý thấy những câu ông ta dùng đều… bắt chước tôi y chang nhưng thu gọn lại, nhanh và thông thạo hơn. Tại sao ông ta chọc ghẹo tôi với ánh mắt hóm hỉnh như vậy? Tôi nói tiếng Nhật có gì sai sót chăng?

Kiểm tra và làm thủ tục tại khu hải quan tương đối đơn giản do có ‘người của ta’ xong, chúng tôi ra xe. Ông giám đốc Nhật đi lầm lối khác, tôi đưa tay lễ phép:
– Kô chi ra e dô zô! (Xin mời ngài đi lối này!)
Ông khách giật mình ngửng lên, vui vẻ:
– Arigatô, zogaimasu! (Vâng, xin cám ơn)

A, bây giờ thì ông ta không ‘bắt chước’ tôi nữa. Tôi thấy có cảm tình với ông ta. Rõ ràng là ông ta mau mắn, lịch duyệt, không già nua, khắc khổ như ông giám đốc khách sạn đã cho biết.

Anh tài xế đã đợi sẵn bên cạnh chiếc xe, vội vàng mở rộng các cửa mời mọi người lên và xếp va ly vào phía đằng sau. Ông giám đốc ra hiệu cho tôi ngồi bên cạnh ông ta, anh phụ tá ngồi bên trên với tài xế, sau đó xe chuyển bánh lướt êm, máy lạnh mát rượi.

Xe chạy qua cổng Phi Long, vị khách luôn luôn nhíu mày nhìn những tấm bảng quảng cáo ‘vĩ đại’ có vẻ suy nghĩ.. Cặp mắt ông ta đăm chiêu, tò mò nhìn từng gốc cây, từng ngôi nhà lớn hiện đang xây cất ở hai bên đường Nam kỳ khởi nghĩa tức Công Lý cũ, không hiểu ông ta thấy nó thế nào so với bên Nhật.

Tôi nhẹ nhàng lấy gói ba số 5 và chiếc hộp quẹt ga mới tinh mang dấu hiệu Công ty du lịch Việt Nam, lễ độ mời khách:
– Ip pon i ka ga de su ka ? (Xin kính mời ngài hút thuốc ?)
Ông ta giựt mình quay lại, nhíu mày khe khẽ lắc đầu:
– Kekhô desu, arigatô! (Không, tôi không muốn hút, xin cám ơn!) Ðoạn, không hiểu nghĩ sao, ông ta cầm gói thuốc, ngắm nghía hồi lâu rồi bỗng ngửng lên nhìn tôi:
– Do you usually smoke this kind of Three Fives cigarette?

Ôi chao, vậy thì ông ta cũng nói tiếng Anh chứ đâu phải chỉ dùng tiếng Nhật một cách cố chấp? Tôi sung sướng quá bèn khẽ lắc đầu, buột miệng nói như cái máy:
– Oh no, sir, we don’t.
Ông ta hỏi tại sao, tôi đáp ‘because… ‘rồi cũng chẳng biết because… như thế nào nữa, bèn trả lời thành thật:
– Because this kind of cigarette is more and more expensive than our salary, out of our ability.

Vị khách bật cười, rồi tự nhiên ông ta cười lớn khẽ vỗ vai tôi thân mật như một người bạn. Tiếng Anh ông ta dùng còn thông thạo hơn cả tiếng Nhật mẹ đẻ của ông ta:
-‘Ồ, ông bạn thân mến, ông bạn nghèo lắm phải không?’.
Tôi lắc đầu:
– ‘Không, tôi không quá nghèo nhưng cũng không nghĩ rằng tôi giàu. Chúng tôi tiết kiệm tiền bạc’.
Vị khách trẻ gật đầu lia lịa:
– ‘Vâng, vâng, tôi hiểu. Tôi cũng có một vài người bạn Việt Nam ở hoàn cảnh của ông. Thỉnh thoảng tôi có gửi quà sang tặng họ’.
Chà, tay này được quá, người Nhật mà biết hoàn cảnh của người Việt Nam, thỉnh thoảng gửi tiền sang tặng, thật đúng kẻ có lòng.

Xe chạy ngang qua cửa Nhà khách Thống Nhất, bên trái là Nhà thờ Ðức Bà. Vị khách ngắm nghía ngôi nhà thờ lớn nhất miền Nam, gật đầu có vẻ vừa lòng. Sau đó tự nhiên ông ta hỏi tôi:
– ‘Tôi đoán trước năm bảy lăm ông bạn là một luật sư?’. Tôi giật mình kinh ngạc:
– ‘Vâng, trước đây tôi theo ngành luật. Nhưng tại sao ngài lại biết điều đó?’. Ông ta cười trả lời:
– ‘Tôi biết những điều người khác không biết’.

Xe về tới đường Ðồng Khởi và từ từ táp vào lề trước khách sạn. Các cô tiếp viên ra đón, xách giùm va ly cho khách. Ðích thân ông giám đốc cùng nhiều người khác dẫn vị quý khách lên lầu, giới thiệu từng ưu điểm của căn phòng hạng nhất, sang trọng.

Lúc tôi xuống, ông giám đốc đứng nán lại chờ ở chân cầu thang, thân mật vỗ vai tôi:
– Khá quá, cậu được việc quá. Tôi đã nghe báo cáo đầy đủ. Từ nay tôi cử cậu đặc trách bám sát ông ta. Công việc đâu đấy xong xuôi, tốt đẹp tôi sẽ trích số tiền hoa hồng thưởng cho cậu và cả bên công ty đầu tư nữa. Tôi không quên đâu.
– Vâng, xin cám ơn ông giám đốc.

Kể từ hôm ấy, tôi luôn luôn đi kèm với vị khách Nhật. Hình như đối với tôi, ông ta cũng có chút biệt đãi. Mỗi lần tới công ty đầu tư hoặc thăm các cơ sở, máy móc thiết bị của người Nhật, gặp gỡ ban giám đốc các cơ quan, lẽ ra tôi phải ngồi phía sau lưng như một thông dịch viên, ông ta giới thiệu tôi là một người bạn luật sư, bảo tôi ngồi bên cạnh và luôn luôn xem xét, bàn bạc với tôi. Người nước ngoài họ khôn lắm, dưới con mắt của một luật sư, tôi thấy rõ có những điều mới nhìn mình tưởng họ dại, sự thực họ nhường một bước để nhảy một trăm bước. Trong khi đó, về phía bên mình, tôi không nói rằng họ dại nhưng tôi nói họ lanh. Lanh một cách khôn ngoan vặt, tiến một bước theo kiểu ‘thắng lợi tinh thần’ trong A.Q. Chính Truyện của Lỗ Tấn, sau này sẽ thiệt một trăm bước hay nhiều hơn. Toàn những ông thầy dùi cấp dưới, láu cá vặt mà cứ tưởng mình thông minh làm ‘cố vấn’ mà thôi. Quan hệ quốc tế không thể dùng các bộ óc láu cá vặt. Phải có kiến thức, phải có trí tuệ. Nếu không, được lợi về sợi dây thong thì sẽ mất cả con trâu. Gặp trường hợp đó tôi chỉ im lặng. Tôi không có quyền được góp ý kiến. Tất cả đều biết tôi chỉ là anh bồi khách sạn, nể khách nên họ cho tôi được ngồi cùng bàn một cách khiêm tốn, tất nhiên không được quyền góp ý kiến.

Một lần thấy họ ‘khôn ngoan’ quá, tôi kể cho vị khách nghe một đoạn trong Tam Quốc Chí – một tác phẩm cổ điển lớn của Trung Quốc rất quen thuộc với người Việt Nam: Tào Tháo dàn gần một triệu quân trên sông Trường Giang định chiếm Ðông Ngô. Chu Du, đại tướng Ðông Ngô muốn dùng hỏa công để phá quân Tào nhưng lại sợ các chiến thuyền Tào rời rạc, chạy kịp, đốt không hết được; bèn nhờ Bàng Thống xúi cho thuyền Tào kết lại với nhau. Giữa lúc ấy, quân Tào không quen thủy thổ, say sóng. Tào Tháo hỏi kế. Bàng Thống ‘xúi khôn’ là nên dùng vòng sắt kết các thuyền lại từng mảng, lót ván bên trên người ngựa đi được, quân sẽ hết bệnh. Tháo mừng lắm, nghe lời. Ra tới bờ sông, Thống bị một người nắm áo giữ lại: ‘À anh này gớm thật, dám xúi Tào Tháo kết thuyền cho Chu Du đốt! Tháo nó ngu, bộ anh tưởng chúng ta hết người không ai biết mưu kế của anh hay sao?’ Bàng Thống giựt mình nhìn lên, thấy đó là Từ Thứ. Rồi tôi kết luận:
– Ðất nào cũng có kẻ sĩ. nước nào cũng có kẻ sĩ. Chẳng qua chúng tôi không được sử dụng phù hợp khả năng như bên các ông. Xin ông đừng nghĩ chúng tôi hết người.

Ông ta nhíu mày:
– Có, tôi hiểu. Và tôi nghĩ đó là một trong những điều đáng buồn. Chúng tôi muốn làm ăn một cách cân xứng, không muốn ‘đốt’ ai cả. Nhưng quy luật làm ăn, nếu họ tự đốt thì họ phải chịu.

Vị khách lâu nay gần như chỉ nói tiếng Anh, không nói tiếng Nhật.
Một lần khác, ông ta mua tặng tôi một chiếc đồng hồ Seiko five giá bốn mươi lăm đô, tức gần năm trăm ngàn đồng Việt Nam. Tôi cười nói đùa:
– Ðây là ‘phần thưởng’ cho sự im lặng của tôi?
Ông ta cũng cười, lắc đầu:
– Không đúng. Dù không thưởng thì các ông vẫn đứng ngoài rìa, giữ vai trò của người im lặng, không cần phải thưởng.
– Vậy thì tôi đã có đồng hồ của tôi rồi.
– Nó đã cũ, nên dùng đồng hồ mới. Hãy tặng chiếc cũ cho một người bạn nào nghèo của ông nếu họ cần tới.
– Vâng, xin cám ơn, tôi sẽ làm như vậy.

Công việc ký kết hợp đồng tiến triển tốt đẹp. Tôi nhận được phong bì ‘ứng trước’ do ông giám đốc khách sạn trao. Ông bảo tiền hoa hồng dành cho tôi khá hơn, tính theo ngoại tệ, ông ứng trước một phần để tôi xây xài. Trên nguyên tắc, nếu chúng tôi giới thiệu được khách cho khách sạn thì được hưởng năm phần trăm, kêu là tiền huê hồng, tính theo tổng số tiền phòng các ngày khách đã ở trong khách sạn. Ðằng này tôi không giới thiệu nhưng ông giám đốc cũng tính theo tỷ lệ đó, coi như tiền thưởng. Làm ở những chỗ có đô la ra vô thì sướng thế đấy, toàn những món bất ngờ mà mình được hưởng chứ tôi có công gì đâu. Ðồng thời ông cũng cho tôi, biết còn hai ngày nữa, tức sáng thứ Hai, ông khách sẽ lên máy bay về nước.

Hôm đó là chiều thứ Bảy, một buổi chiều thành phố thật đẹp. Mọi việc đã xong xuôi, vị khách Nhật hình như hơi rảnh. Ông nhìn qua khung cửa kính, có vẻ suy nghĩ và bảo tôi:
– Ông bạn luật sư thân mến ( ông vẫn nói tiếng Anh, không dùng tiếng Nhật) Tôi sắp về nước. Tôi nghe nói người Việt Nam có món ‘thịt cầy’ (dog meat) ngon lắm. Nếu ông bạn vui lòng hướng dẫn tôi đi thưởng thức được thì tôi rất lấy làm sung sướng.

Tôi ngạc nhiên trợn tròn mắt:
– Dog meat? Theo.. theo ý ông nói, đó…đó là món..’Thịt của con chó ?’
Ông ta mỉm cười:
– Ðúng vậy, ‘thịt của con chó’, nếu tôi không lầm.
Ðoạn, ông ta nói tiếp:
– Theo tôi hiểu, nhà văn Trung Quốc Lin Yuyang (Lâm Ngữ Ðường) có lẽ cũng thích món ‘thịt của con chó’ nên ông ta viết một truyện ngắn rất nổi tiếng lấy tên ‘Tướng Quân Thịt Chó’, tôi có đọc qua.

Ối giời ơi, thế này thì chết. Tôi như từ trên trời rơi xuống đất. Mặc dầu gốc dân Thái bình Thái lọ, rất khoái cái món ‘nai đồng quê’ nhưng tôi giải thích cho ông khách oái oăm biết rằng thường thường các quán ‘nai đồng quê’ không phải là những nhà hàng sang trọng, nếu chúng tôi dẫn khách đến đấy, lỡ có chuyện gì xảy ra thì sẽ bị cho nghỉ việc.
– Tất nhiên, ngoài món ‘dog meat’, chúng tôi còn có các đặc sản khác như ếch chiên bơ, cua rang muối, rắn xào lăn v.v… rất ngon, chúng ta nên đến đấy thì tốt hơn.
Ông ta gật đầu:
– Cũng được. Nhưng chỉ có ông với tôi đi thôi. Và tôi lái xe.

Ối giời đất ơi, lại nguy hiểm nữa. Tôi báo cáo với ban giám đốc. Ông quản lý lắc đầu lè lưỡi:
– Chết, ông ấy có biết đường đâu mà lái ? Người nước ngoài mà lái xe trên đường phố Sài Gòn thì coi như tiêu luôn sinh mạng. Thôi, ông Trình cố nói kheo khéo giành lấy tay lái.

Tôi lái xe. Ông giám đốc Nhật ngồi bên cạnh cứ tủm tỉm cười vì nghe tôi kể lại những lời của ông quản lý. Chúng tôi tới quán Thanh Sơn ở đường Nguyễn Cư Trinh. Ðây là hậu thân của quán Ba Thừa ở đường Bùi Viện ngày trước. Thanh Hải, Ba Thừa trước đây thường rất nổi tiếng với món la-de đặc – la-de ướp lạnh đến mức tự nó đông lại, phải vỗ vỗ đáy chai cho chảy ra, không phải bỏ đá – và những món đặc biệt miền Nam như cua rang muối, ếch chiên bơ như đã kể trên.

Chúng tôi đang ăn, ông khách Nhật luôn luôn gật đầu tấm tắc khen ngon thì bọn trẻ bán thuốc lá, bán vé số nghe tiếng nước ngoài bèn bu lại mời mua. Ông ta lấy một gói ‘ba số’ và đưa tờ năm đô la.
– Nô, nô, cái này năm chục ngàn, cái này có mười mấy ngàn, hổng đủ tiền thối !
Ông ra hiệu cho cả, tụi nó mừng rỡ ‘thánh kiu’ rối rít rồi kéo nhau đi. Một đứa khác tới trễ không được chia phần bèn để cả xấp vé trước mặt ông, tý tay như nằm nửa người trên bàn mời mua bằng được. Ông lắc đầu.
– Ông này sắp về nước không mua vé số đâu em ạ.
Cậu thanh niên chạy bàn hình như con trai ông bà chủ tiệm đi ngang bèn ‘bợp’ nhẹ cho nó một cái, đuổi nó ra ngoài. Ối cha, lúc nó đứng dậy, khuỷu tay loạng quạng thế nào đụng phải đĩa lươn um, hất ráo xuống quần tôi. Nóng thì không nóng nhưng bẩn. Nhòe nhoẹt. Tôi bực quá đâm gắt:
– Thấy mẹ người ta..Ðã bảo mà ! Làm thế nào bây giờ ?
Nhà hàng đem thau nước ra lau giùm. Xong, ông khách mỉm cười, im lặng ngồi hút thuốc lá. Cái mặt tôi lúc đó chắc ‘dễ thương’ quá. Ông hỏi:
– Bạn vừa mới nói ‘th-ay me’ (thấy mẹ). Vậy ‘th-ay me’ là gì ? Một tiếng lóng hay một câu chửi ?
Trời đất, đang bực, đến bố tôi cũng không biết ‘thấy mẹ’ là một tiếng lóng hay một câu chửi. Tôi trả lời đại ‘thấy mẹ’ là… ‘see mother !

Ông ta lắc đầu:
– No, it isn’t. In Vietnamese, ‘thấy mẹ’, it means…
Tôi giật mình. Hai tiếng ‘thấy mẹ’ ông ta phát âm tiếng Việt rất chuẩn… y như người Việt. Tôi ngạc nhiên:
– Do you understand Vietnamese ?
Ông ta mỉm cười, gật đầu:
– Yes, I know very well. Because…
Rồi như không nín cười được nữa, ông ta bỗng cười sằng sặc và… tuôn ra một tràng tiếng Việt pha lẫn tiếng chửi:
– Bởi vì tao là một thằng người Việt trăm phần trăm không có tí ti máu nước ngoài nào hết. Cái thằng ngốc ! Tao với mày học với nhau hằng bao nhiêu năm ở Chu Văn An mà máy không nhận ra tao. Rõ thật !…

Một tia sáng chợt thoáng qua trong óc tôi:
– Cậu… cậu là thằng Quân đen ?
– Chứ còn đứa nào vào đây nữa!
– Hèn chi…
– Hèn chi cái gì ?
– Tớ hơi ngờ ngợ, trông cậu quen quá, ngay từ lúc đầu mới gặp cậu ở chân cầu thang máy bay.Thì ra…
– Thì ra ‘cố nhơn’ phải không? Còn tớ, vừa trông thấy cậu tớ nhận được liền.
– Xin lỗi, tại tớ yên trí cậu là một tay giám đốc người Nhật. Hơn nữa cậu lấy tên Kwann Tae Palms…
– Dễ lắm, cậu nhớ tên tớ là gì không ? – Phạm Thế Quân. Lúc nhập quốc tịch Mỹ tớ đùa nghịch đổi cái tên Quân Thế Phạm thành Kwann Tae Palms chơi chơi cho vui, chỉ có vậy thôi không có gì khó.
– Cậu quốc tịch Mỹ, không phải quốc tịch Nhật ?
– Ừ. Vợ tớ người Nhật.

Quân kể cho tôi nghe: Hồi đó học xong Kỹ sư Phú Thọ, hắn được bổ đi làm kỹ sư công chánh tại một tỉnh miền Trung xa lắc. Ngày 30 tháng 4, gặp tàu, hắn nhảy sang Mỹ, vừa đi làm vừa cố gắng học về ngành điện tử. Trong trường hắn học có một cô nữ sinh viên người Nhật, hai bên quen nhau, thương nhau, sau khi tốt nghiệp bèn làm đám cưới. Hắn leo dần lên được chức phó giám đốc của một công ty Mỹ. Vợ chồng hắn có đứa con gái đầu lòng, bố mẹ vợ hắn viết thư giục thu xếp đem con về chơi bên Nhật. Té ra bố vợ hắn là một nhà tư bản, tổng giám đốc một công ty lớn có nhiều chi nhánh ở Nhật cũng chuyên về điện tử. Bây giờ vợ chồng hắn đã có đứa con thứ hai – con trai – rất xinh và hiện hắn đang làm giám đốc một công ty chi nhánh cũng nằm dưới quyền ông già…
– Ông bố vợ tớ lớn tuổi nên cẩn thận lắm cậu ạ. Cử tớ sang Việt Nam nhưng lại sợ tớ người Việt, phía bên này sẽ ỷ y, bởi vậy ông ra lệnh cho tớ phải nói toàn tiếng Nhật và đánh tiếng rằng ‘ông giám đốc’ đã già nên rất khó tánh.
– Tớ hiểu. Người nước ngoài họ vẫn thận trọng như vậy.

Hắn cười hề hề:
– Tiếng Nhật thì tớ cũng tà tà như cậu vậy thôi, do vợ tớ dạy. Sang bên này gặp cậu, tớ mừng lắm. Không ngờ sau bao nhiêu năm, hai thằng chó chết tụi mình gặp nhau…
– Cậu tạo sự nghiệp bằng hai bàn tay, không phải là một thằng chó chết.
– Chó chết chứ sao lại không chó chết ? Một đời du tử…

Gương mặt hắn hơi buồn. Hắn khẽ thở dài:Tớ xin lỗi cậu về việc làm mặt xa lạ, bữa nay mới bày chuyện ‘dog meat’ để gặp riêng cậu. Từ hôm gặp cậu tớ rất mừng, đinh ninh thế nào cũng sẽ nhờ cậu một việc…
– Chuyện gì ? Tớ sẵn lòng.
– Như cậu biết đấy, tớ còn một bà mẹ già. Năm nay bà cụ tớ đã tám mươi mốt tuổi, đôi mắt đã lòa, ở với ông anh cả tớ ở Nam Ðịnh ngoài Bắc. Tớ thương mẹ tớ lắm.
– Có, tớ hiểu. Làm con thì ai cũng thương cha mẹ.
– Cám ơn cậu. Ngày trước gia đình tớ cũng nghèo như gia đình cậu. Bà cụ tớ thắt lưng buộc bụng, lai xai lưới xưới buôn bán mấy trái cam trái quýt với đứa em gái tớ ở chợ Bà Chiểu, nuôi tớ ăn học. Tớ mới tốt nghiệp, có thể nói là chưa báo hiếu gì được, đến lúc hữu sự thì lại nhảy đi sống lấy một mình không biết gì đến mẹ. Ðiều đó tớ rất ân hận. Cách đây mấy năm tớ có viết thư về quê liên lạc được với ông anh cả tớ. Từ đấy tớ luôn gửi quà và tiền về để gia đình ông anh có phương tiện phụng dưỡng mẹ tớ. Nhưng tiền bạc là một chuyện mà tình cảm gia đình lại là một chuyện khác.
– Cậu nghĩ rất đúng. Rồi sao nữa ?
– Tớ định nhờ cậu đem một món tiền khá lớn ra Bắc đưa cho ông anh tớ, giúp đỡ ý kiến ông ấy sửa sang nhà cửa, xây lại ngôi từ đường khang trang đẹp đẽ theo ý muốn của bà cụ, và nói với cụ rằng tớ hứa nội trong năm tới thế nào cũng thu xếp đem vợ con về Việt Nam thăm mẹ.
– Ðược.
– Tớ đã nói với tay giám đốc khách sạn là nhờ cậu ra Hà Nội xem xét giùm tớ tình hình giấy tờ ngoài ấy ra sao, có cần gì sửa chữa không. Tay giám đốc rất đồng ý. Việc đó rất dễ, với con mắt một luật sư cậu chỉ liếc qua là biết liền có khi còn hơn tớ nữa. Rồi cậu sẽ liên lạc với tớ sau. Nhưng chuyện chính là về Nam Ðịnh, tớ giữ kín không cho ai biết. Khoảng chín giờ sáng mai tớ đem tiền đến nhà cậu, ở chơi một ngày, tụi mình chuyện trò thật kỹ. Cậu nắm vững mọi việc rồi là sáng thứ Hai tớ lên máy bay về Nhật. Bà cụ cậu vẫn khỏe chứ ?
– Cám ơn cậu, bà cụ tớ còn nhưng năm nay đã bảy mươi chín, kém bà cụ cậu hai tuổi, không được khỏe lắm. Thỉnh thoảng cụ vẫn nhắc cậu Quân không biết bây giờ ở đâu, tớ nói có lẽ bên Mỹ.
– Thế này nhé, lát về cậu đưa tớ ghé vào chào cụ một chút rồi mai tớ đến. Cậu vẫn ở Tân Ðịnh?
– Ừ.

Hôm sau hắn tới. Buổi chiều, ăn cơm xong, hắn ngồi một mình ngoài hiên trên lầu bên thành lan can. Nhà tôi vắt hai ly cam tươi bưng ra. Hắn mỉm cười nhìn tôi, khe khẽ lắc đầu:
– Chị cẩn thận giống hệt nhà tôi ở bên Nhật… À này, Trình, cậu còn nhớ bài ‘Du tử ngâm’ của Mạnh Giao ngày trước cụ Tú Anh dạy tụi mình hồi lớp Ðệ thất Ðệ lục ở Chu Văn An không nhỉ ?
Tôi cười:
– Nhớ chứ ! Không thuộc, không viết ra chữ, cụ mắng muốn chết. Ðứa nào mà chẳng nhớ…
Tay hắn đang cầm cây que. Hắn gõ nhè nhẹ lên chiếc song sắt trên thành lan can và đọc khe khẽ:
Từ mẫu thủ trung tuyến
Du tử thân thượng y
Lâm hành mật mật phùng
Ý khủng trì trì quy
Thùy ngôn thốn thảo tâm
Báo đắc tam xuân huy
(Sợi chỉ trong tay mẹ hiền
May thành chiếc áo trên thân người con du tử
Lúc con ra đi mẹ khâu thật kỹ
Vì sợ lâu ngày con chậm trở về
Nào ai dám nói một tấc lòng của cỏ
Có thể báo đáp được ánh dương của ba tháng xuân ?)

– Mỗi lần nhớ tới bài thơ ấy tớ lại ứa nước mắt, cậu ạ.
– Chuyện, thơ Ðường. Ngay đến cụ Nguyễn Du cũng còn phải mượn ý viết thành câu thơ trong truyện Kiều: ‘Dám đem tấc cỏ báo đền ba xuân’ huống chi tụi mình !
Hắn thở dài:
– Ở bên Nhật, hễ bận thì thôi, cứ lúc nào rảnh đầu óc tớ lại miên man nghĩ tới hình ảnh ba mẹ con tớ lúc mới di cư vào Nam. Ông cụ tớ mất sớm hồi gia đình còn ở ngoài Bắc. Mẹ tớ một thân một mình tần tảo nuôi tớ ăn học. Con Chi, em gái tớ (chắc cậu đã biết), lúc ấy hãy còn nhỏ mới lên bốn; còn tớ lên sáu. Khổ lắm. Mẹ tớ trước bán bánh cuốn, sau bán trái cây ở chợ Bà Chiểu. Lúc tớ thi đậu vào lớp đệ thất trường Chu Văn An là lúc mẹ tớ đã dành dụm được chút đỉnh, không phải bữa đói bữa no vậy mà như cậu thấy, trong túi tụi mình hàng ngày đi học chẳng có đứa nào có lấy một xu. Thỉnh thoảng bà cụ tớ hay bà cụ cậu cho một đồng thì hai đứa mình chia nhau uống chung một ly nước mía. Bà cụ tớ quý cậu lắm. Nay hai mắt cụ đã lòa…
– Có, tớ biết. Hôm ông anh cả vào chơi đón cụ ra Bắc, tớ có đi tiễn. Ông anh mua vé tàu hỏa Thống Nhất, ghế ngồi, bảo sẽ xuống ga Nam Ðịnh. Thấy đông người quá, trong tàu chật như nêm cối, ghế cứng mà lại phải ngồi ba ngày ba đêm không được nhúc nhích, tớ chảy nước mắt. Cụ cũng khóc, đưa hai tay quờ quạng sờ mặt tớ và nói sẽ chẳng bao giờ có dịp gặp lại…
Quân chớp mắt, hắn cúi mặt như cố che giấu một cái gì đó đang dâng lên trong cổ họng, sau khẽ thở dài nói nhỏ với tôi:
– Tớ chỉ lo mẹ tớ mất trước khi tớ về, cậu ạ. Ra ngoài ấy cậu nhớ lạy mẹ tớ một lạy, xin cụ tha thứ cho tớ và nói, năm tới thế nào tớ cũng về thăm mẹ, càng sớm càng tốt.
– Ðược, cậu cứ yên tâm.
– Ðược ngồi ăn cơm với cụ và vợ chồng cậu tớ cảm động lắm. Tớ mong được tự tay xé thịt gà để riêng ra đĩa, tiếp vào bát cho bà cụ tớ cũng giống như cậu. Mẹ tớ hai mắt đã lòa…

Thế rồi sáng thứ Hai, hắn lên máy bay về Nhật thì sáng thứ Ba tôi ra Hà Nội. Tôi đi xe lửa, vé nằm, loại tàu nhanh hai ngày hai đêm, không đi máy bay vì tính tôi quen tiết kiệm. Những lúc ngồi bên cửa sổ ngắm cảnh núi non hùng vĩ của vùng đèo Ngang, đèo Hải Vân, đầu óc tôi cứ vương mang nghĩ tới hình ảnh lúc hắn lên máy bay.

Chúng tôi đưa tiễn, hắn giơ tay chào tạm biệt ‘Sayônara !’. Rồi trong lúc mọi người không để ý, hắn kín đáo chắp tay lạy về phía tôi một lạy. Tôi hiểu ý nghĩa của cái lạy đó nên chỉ gật đầu cho hắn yên tâm và giơ tay chào tạm biệt: ‘Sayônara!’. Bây giờ tôi có bổn phận đem cái lạy đó ra Bắc, cùng với lời dặn hắn sẽ trở về. Và đầu óc tôi cứ miên man nghĩ đến bài ca của người du tử:
Từ mẫu thủ trung tuyến
Du tử thân thượng y…

Người con nào thì cũng thương mẹ. Tôi yêu bài thơ đó lắm.

Thái Phương (1993)

Nhật Ký Tháng Tám

Tạm biệt những ngày vàng thu thương nhớ
Tạm biệt tiếng chim hoang vắng lưng đèo
Mùa trái chín nồng nàn hương thơ dại
Lối em về chong chóng cỏ trôi theo.

Tạm biệt nắng, tạm biệt mưa vườn cũ
Tạm biệt em mắt biếc thuở xa vời
Khăn áo lụa cuối đường bay lơ đãng
Chiều thênh thang lồng lộng gió mình tôi.

Tạm biệt dòng sông, vầng trăng huyền hoặc
Tạm biệt môi hôn thuở ấy xuân thì
Ai gõ cửa mở về khung trời vắng
Tôi nghẹn ngào đánh đổi cuộc ra đi…

Tôn Nữ Thu Dung

QUÀ TẶNG MÙA THU

Anh gởi tặng một khoảng trời đầy gió
Mùa thu về lãng đãng ở trên cao
Một chút nắng phớt hồng đôi gò má
Chút mưa thơm cho môi ấy ngọt ngào

Anh gởi tặng quãng đường thu đầy lá
Chút mây bay che nắng lúc em về
Trong cặp vở sao bỗng dưng nằng nặng
Đôi bướm vàng khô ép đã ngủ mê

Anh gởi tặng những ngày thu mưa bụi
Một chút buồn len lén dưới hàng mi
Một chút gió vừa đủ bay tà áo
Nỗi nhớ nào quấn quít bước em đi?

Và gởi tặng chút cỏ hoa đồng nội
Làn hương thơm chùm hoa bưởi sau hè
Hãy khe khẽ nâng giùm anh nhè nhẹ
Đừng vô tình hương ấy sẽ phai đi.

Phạm Thanh Chương

VIẾT GIỮA MÙA ÔN DỊCH

GIÀ, RỒI SAO NỮA?

Già rồi chết, chứ trăng với sao gì nữa!

Ừ, thì chết, nhưng chết ra làm sao, chết rồi đi về đâu?

Cái chuyện này chưa biết à nghen, chưa chết sao biết được, với lại ai mà không sợ chết, nói tới cái bộ xương có cánh tay cầm lưỡi hái, sợ lắm!

Sáng trưa chiều tối, lúc này thấy nó cứ lẻo đẻo đi theo như hình với bóng, cái hơi lạnh của nó tỏa ra mù mịt còn hơn cảnh sát dã chiến thả hơi cay nữa kìa, nhưng mà trước sau gì chẳng chết, thôi thì thử nói một lần này rồi sẽ tịt luôn.

Chết là hết thở, không học trường y ai cũng biết. Chết dễ ợt, nhắm mắt xuôi tay thế là xong.

Nhưng cũng chưa xong, còn phải dọn dẹp cái thân tứ đại kia nữa chứ.

Nghe nói, ở vùng núi Hy mã lạp sơn, có một sắc dân, chết không chịu chôn mà lại khiêng lên núi để nuôi lũ chim kền kền.  Cả ngàn con chim trời sinh ra chỉ để ăn xác thối làm sạch môi trường cứ bay lượn trên cao hóng mỏ ra chờ, đợi lũ người sống kia gào khóc chán chê, bỏ ra về, chỉ loáng một cái, chúng phủ thành một đống đen kịt, rồi chỉ trong chớp mắt là lóc sạch cả thịt da phèo phổi, chỉ để lại bộ xương trắng hếu, thêm lưỡi hái và đôi cánh nữa là thành thần…chết.

Một bước thành thần, cũng hay!

Nhưng một vài bộ lạc ở châu Phi còn hay hơn. Những lão già cúp bình thiết như tui, con cháu không nuôi nổi nữa, thế là cụ được mời leo lên cây, rồi cả bọn cùng nhảy múa loạn xạ, chọc quê hả mồm nhíu mũi, làm đủ cách kể cả cầm gậy thọc đít, miễn sao cho cụ rơi xuống, thì lạy chúa tôi, coi cụ như con nai con hoẵng vừa săn được, cả nhà hay cả xóm được no nê (và ngon miệng) một bữa!

Trường hợp nhảy múa hoài mà cụ không rớt xuống thì lại được đem về nuôi, nhưng hiếm khi lắm, gần như không có bao giờ.

Thực là nhanh gọn và tiện lợi. Người chết không để đức mà để thịt cho con cháu, phụ tử tình thâm của xứ đói là như vậy. Đừng chê cười họ man di mọi rợ. Cái nước Tàu có đến những 5000 năm văn minh kia, trong thời kỳ đại nhảy vọt, nhà này đổi con cho nhà kia, để ăn cho đỡ chết đói. Văn minh ở chỗ họ không nỡ hay không dám ăn thịt con mình mà thôi. Còn ăn kiểu gì thì khỏi phải nói, không ai chế biến thức ăn ngon bằng người Tàu, nhất là món thịt người rất quý hiếm.

Ở nước Nhựt, xứ sở ưa harakiri, trong những làng quê nghèo, người già phải biết chọn cách chết sớm nhất để bớt một miệng ăn cho con cháu. Truyện được một nhà văn Nhựt kể lại cảnh anh con trai cõng mẹ lên núi để mẹ nằm chờ chết. Bà cụ rất can đảm, bảo anh con trai đừng quay đầu nhìn lại để mẹ được chết trong lúc tuyết đang rơi là hạnh phúc. Trong khi một lão cùng làng sợ quá tìm cách xuống núi trong sự khinh ghét của mọi người,

Ở nước ta, chỉ có Lục Vân Tiên cõng mẹ, hết chạy ra đến chạy vô, chạy hoài hụt hơi cũng dám chết lắm đó, nhưng nếu thế thì cũng đáng mặt là trai thời trung hiếu làm đầu! Ở Tàu (lại Tàu!), Quách Cự chôn con để cha mẹ sống cũng được vinh danh trong nhị thập tứ hiếu (tội giết người mà được khen, đúng là luật của Tàu)!.

Còn nhiều cách chết lắm! Chết trong đồn công an bằng sợi dây thun nè, (sợi dây thun mà sao siết được cổ tới chết nhĩ, chắc là chết vì nuốt dây thun kiểu như gà)/ Rồi chết có thưởng của Hồi giáo cực đoan nữa nè! Quấn thuốc nổ quanh người, rồi đến chỗ có đông bọn tư bản rẫy chết kích nổ, sau khi tan xác pháo chẳng những được lên thiên đàng mà còn được thưởng đến những bốn mươi cô con gái Ả rập mắt đen và to, đẹp không chịu được lại còn trinh, thế thì ai mà không ham chết kể cả Tây mùi lỏ!

Còn chết rồi đi về đâu, thì mấy ai mà biết được. Sống gửi thác về, ông bà tôi thường nói chết là về quê kiểng, kiểu như đi xa về thăm nhà, hay Việt kiều yêu nước về thăm quê hương. Cái khúc ruột ngàn dặm đó (dài đến nỗi có thể quấn quanh trái đất mấy chục vòng), giờ không nên hát bài nối vòng tay lớn nữa mà là hát bài “nối khúc ruột dài”,mới hợp lòng dân ý đảng, lâu nay nó đóng cục đóng hòn (như táo bón) vì nhớ nhung, giờ nở bung ra sướng khỏi chê.

Các nhà văn và thơ hậu hiện đại thì bảo là đi về thế giới người hiền, ý chê cái thế giớt này ô trọc và hung dữ quá.

Thực ra, nói thế cũng chỉ là cách nói để bớt sợ khi nghĩ tới cái chết mà thôi. Phật và Chúa còn khôn hơn nữa, các ngài vừa dụ khị vừa đe nẹt. Đứa nào nghe theo lời ta làm điều thiện thì được lên Thiên đàng, đứa nào không chịu nghe, làm điều ác thì phải xuống địa ngục. Thiên đàng, hay cõi trời Đâu Suất, không làm cũng có ăn, còn địa ngục chẳng những phải ăn dòi mà còn bị cưa xẻ, bị lửa thiêu cháy nhưng không chết (sao lọa vậy cà?).

Nói là vậy chứ có ai ở thiên đàng hay địa ngục trở về đâu mà biết rằng láo hay thiệt. Thôi thì nói như Bùi Giáng. Rằng “ngày sẽ hết, tôi sẽ đi dù chưa biết đi đâu”.

Ở cõi trần, ông đã Sài Gòn Chợ Lớn đôi nơi/ đi lên đi xuống đã đời du côn*. Thì chết rồi ông vẫn tiếp tục đi, dù hình hài không nhứt thiết phải là một ông già khùng vác cây đu đủ đeo đủ thứ lon múa nhảy ở cầu chữ Y hay cầu NhịThiên đường. Có thể là một hạt bụi âm thầm nhớ đất quê, cũng có thể là chút ánh sáng lập lòe trên lưng con đom đóm. Đi đâu thì cũng chỉ trên trái đất này mà thôi, nơi có gái mọi, có chuồn chuồn bươm bướm và những em dê trắng dê vàng.

Bỡi sao? Bỡi vì ông không thành thần, không thèm gặp cụ Mác cụ Lê, không thèm 40 cô gái trinh, mà chỉ thèm đã đời du côn thôi. Ông chắc chắn sẽ đi vào văn học và ở mãi trong đó chứ không chịu ra. Có điều, ông luôn mang theo cây gậy (du côn mà), các “nhà phê bình” mác xít đứng trên lạp xường giai cấp hay phê bình dóc tổ và láo xược, coi chừng ông phang cho một gậy u đầu!

Khuất Đẩu

Viêt trong mùa ôn dịch

*chớ nhầm chữ đi này với chữ đi khách của các em mà mang họa vào thân!

*Phụ chú chữ già

– già dê, già dịch: già mà cứ láng cháng bên gái trẻ.

– già gân: chỉ cụ Trần văn Hương, cựu thủ tướng VNCH, đi làm bằng xe đạp. Nổi tiếng với câu thơ: Ngồi buồn gãi háng dái lăn tăn.

– già mồm, già họng: cải bướng, sai vẫn cứ cãi. Gái đĩ già mồm

– già khú, già khú đế: quá già

– già si cốc đế, già cúp bình thiết, già hết thuốc chữa, già quá cỡ thợ mộc: đồng nghĩa quá già.

-già mà ham: như già dê, già mắc dịch

-già không chịu chết: rủa sả mấy cs già

-già sao cho sướng: tên tác phẩm của Đỗ Hồng Ngọc

-già rụng răng, già hết răng: tả chân

-già teo chim: tả thực

CHẾT LÀ HẾT, THIỆT HÔN?

Nói vậy chớ không phải vậy!

Đành rằng chết rồi, như Bác nằm trong lăng kia, có biết gì nữa đâu, nhưng quanh Bác còn có 5 triệu đảng viên, hàng triệu thanh niên yêu nước và cháu ngoan bác Hồ. Có nghĩa rằng, chết vẫn chưa hết và không bao giờ hết, vì hãy còn nhiều chuyện, rất nhiều chuyện của người ở lại, tức là người sống. 

Mà những người ở lại thì có biết bao nhiêu chuyện để nói, để hỏi, để thưa, để xin ý kiến, để đàm tiếu…

Như Bác có bao nhiêu tên thiệt và tên giả, có bao nhiêu người yêu, bao nhiêu vợ, bao nhiêu người đêm khuya đem chất tươi vào tẩm bổ cho Bác? Ngay cả phòng nhì của Pháp và điệp viên bí mật của Mỹ cũng không biết chắc.

Thôi thì coi như bí mật quốc gia, nói tới lảm gì cho giảm tuổi thọ (một ngày một giờ lúc này của tôi rất quý).

Giờ hãy nói chuyện tầm phào, kiểu nói láo mà chơi nghe láo chơi của Bồ Tùng Linh vậy.

Đúng là chết vẫn chưa hết chuyện. Nóng hôi hổi lúc này là con virus của Vũ Hán. Nó gây ra biết bao nhiêu cái chết, khiến cho bánh xe tiến hóa của thế giới trật đường ray, nằm chình ình một chỗ.

Người đầu tiên nhìn thấy mặt con quỷ bảy màu đó, là bác sĩ Lý Văn Lượng. Lúc đầu nhà nước Tàu lôi ông ra tòa đòi kêu án vì tội phản bội tổ quốc (rất đúng người đúng tội vì tổ quốc Tàu nói láo còn ông nói thiệt), sau đó rủa sả ông không tiếc lời. Khi ông chiến đấu một mình với nó đến mệt phờ rồi cuối cùng thua cuộc phải vào nhà thiêu xác, thì nhà nước liền quay ngoắc 180 độ,  ca ngợi không hết lời là đại anh hùng! (tiếc gì hai tiếng anh hùng mà không ban khen, ông mà còn sống, dám “chốn” được sang các nước tư boản, là Tập Cận Bình và bè lũ tiêu tán đường ngay)!

Một ngàn năm sau, cái chết của ông cũng chưa hết chuyện để nói! Riêng tôi, cái chết của ông, một lần nữa nhắc nhở cho nhân loại tiến bộ hiểu rằng, chế độ cọng sản, là tổng hợp của đế quốc La mã, của phong kiến Tàu, của Đức quốc xã, quân phiệt Nhật, độc tài Liên xô, tàn bạo và ngu dốt của Mao Trạch Đông, tức là tất cả những cái ngu cái ác nhất của nhân loại không chịu tiến bộ.

Chưa hết chuyện vì cuộc chiến giữa cái ác, cái xấu với cái tốt cái thiện vẫn còn tiếp diễn muôn đời.

Ở nước ta, nhiều cái chết lảng xẹt nhưng rúng động dư luận, tức là ầm ĩ, có thể kể Nguyễn Bá Thanh, Trần Đại Quang. Một người vừa được trao phương bảo kiếm để trừ gian diệt ác, chỉ mới dọa chém tuốt nhưng chưa kip chém đã ngỏm cù đeo, là tại sao?

Một người ngồi ghế chủ tịch nước đang béo tốt phương phi bỗng tái xanh tái mét, yếu đến nỗi cầm dùi đánh trống khai giảng cho học trò mà run lên run xuống, chết trong sự nghi hoặc và tức tối đến nghẹn ngào. Cái ghế bỏ trống nhẽ ra để bà phó lên ngồi theo như thông lệ quốc tế, thì không nói không rằng, cụ tổng nhích cái đít chai cứng vì ngồi trên ngôi cao quá lâu, sang ngồi cho nó đủ bộ bình tích, thế nà thế lào?!

Ngược lại có những cái chết không một tiếng vang, như chết trong đồn công an bằng sợi dây thun, chết khô chết héo bên cạnh đống đơn cao như núi của những người bị cướp mất đất mất nhà, hay chết trên tàu cá vì bị tàu của “nước lạ” đâm chìm!

Có những cái chết cay đắng mà cũng có những cái chết thật buồn cười. Như chết vì già mà ham, ham đây là ham gái chứ không phải ham ăn. Còn chết như thế nào, bộ dạng ra sao, ăn mặc chỉnh tề hay trần truồng vì bị lột sạch cả nghĩa đen và nghĩa bóng, thì xin miễn bàn vì đó cũng là bí mật quốc gia.

Có những cái chết để lại hậu quả nghiêm trọng. Chị bạn tôi kể rằng, một sáng đến thăm mộ chồng vừa mới mất, thấy có bó hoa đặt bên mộ, hỏi mấy đứa con, có đứa nào đến thăm mộ ba hay không, chúng bảo không, thế là lòi ra ngay cái con bồ lâu nay thò thụt dấu diếm. Thôi, từ nay đã có người thăm viếng rồi, tôi tới làm chi nữa cho nó tủi cái thân già!

Tai hại chưa, chết rồi mà vẫn chưa hết chuyện! .

Một ông bạn khác, lúc sắp chết kêu vợ lại gần để thành thật khai báo, rằng, anh lỡ dại đã có một đứa con riêng, khi anh chết, em làm ơn làm phước chăm sóc giùm, thương yêu nó vì dẫu sao đó cũng là giọt máu của anh…chị vợ tức nghẹn họng nhưng cố bấm bụng nhận lời. Thế mà trời xui đất khiến sao đó, anh lại sống nhăn răng. Thế là mời anh go out ra khỏi nhà tôi ngay, đi theo con đĩ nào thì đi cho khuất mắt!

Gần chết mà khủng khiếp như thế huống gì chết thiệt.

Nhưng nói gì thì nói, chết đau đớn nhất và buồn nhất vẫn là con chết trước mẹ (không ai cõng) và mẹ chết trước con (không ai cho bú).

Sau cái chết, chuyện đáng nói, đáng buồn và đáng sợ nhất, theo tôi là những cái mộ, những cái lăng. Có những ngôi mộ tốn hàng chục tỷ đồng, lộng lẫy như một biệt điện, có cả tivi, tủ lạnh xalon cho người chết sử dụng như lúc còn sống. Đến ngày giỗ, ngoài việc đốt cả tỷ đô la âm phủ, còn đốt cả xe hơi, tài xế, con hầu bằng giấy.

Lăng, thì ông vua nào chẳng có lăng. Nhưng qua bao dâu bể hưng phế, chỉ còn lại ở nước ta các lăng của triều Nguyễn. Lăng của Tự Đức nổi tiếng không phải vì đẹp, mà vì những khổ cực dân và lính phải chịu, đến nỗi làm loạn, còn để lại trên bia miệng với hai câu ca dao.  Vạn niên là vạn niên nào/ Thành xây xương lính hào đào máu dân!

Lăng Hồ Chí Minh vừa hện đại vừa hùng vĩ, bao quanh bằng đá quý chọn từ mọi miền của đất nước, đẹp đến nỗi được gọi là bài thơ bằng đá. Để giữ cho cái thân tứ đại của Bác khỏi bị thối rữa, có cả một đoàn chuyên viên kỹ thuật của Liên xô, và cả một trung đoàn tinh nhuệ để canh giữ giấc ngủ nghìn thu của Bác, tốn sơ sơ mỗi năm trên dưới vài trăm triệu đô la!

Vừa rồi, quốc hội có người ăn gan hùm đề nghị biến lăng thành bảo tàng, đưa xác đi chôn hay đốt theo như di chúc của Bác. Nhưng, tất cả lại rơi vào sự im lặng rất đáng sợ, vì không còn ai dám nói nữa và vị dân biểu không rõ còn sống hay đả chết một cách không bình thường như Trần Đại Quang, Nguyễn Bá Thanh.

Với tôi, chết chắc cũng chưa hết chuyện, dù chỉ là một công dân hạng hai chẳng đóng góp chút gì cho quôc gia dân tộc, thì xin đừng xây mộ hoành (bánh) tráng, (nói chơi chứ tiền đâu xây), mà hãy đốt như đốt rác cho khỏi mất vệ sinh, chút tro còn lại thì xin rải trên mồ mẹ, coi như con của mẹ lại nằm trong lòng mẹ, là đủ rồi. Mong lắm thay!

Khuất Đẩu

Viết trong mùa ôn dịch

ÁO XƯA

Áo xưa dù nhàu

Cũng xin bạc đầu

Gọi mãi tên nhau

Trịnh Công Sơn

Áo xưa là áo cũ, chứ không phải áo của vua quan triều Nguyễn ngày xưa, bày ra khoe cho Tây mũi lỏ lé mắt coi chơi. Cũng không phải chiếc áo của anh dân quê hôm qua tát nước đầu đình/ bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen/ em được thì cho anh xin/ hay là em để làm tin trong nhà. Lại càng không phải chiếc áo yêu nhau cởi áo cho nhau/ về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay!

Đó chỉ là những chiếc áo đơn sơ bình thường của những người thân trong gia đình và của chinh tôi đã mặc trong những ngày tháng cũ.

Cha tôi mất sớm, nên tôi không nhớ ông mặc gì: áo trắng, áo nâu, áo vạt hò hay áo sơ mi, chỉ nhớ có mỗi chiếc áo dài lương đen ông mặc một lần khi cúng khai tâm cho tôi.

Cúng khai tâm là cái lễ của những người ngày xưa học chữ nho. Đến thời chữ quốc ngữ, vì ông và cha tôi đều biết chút ít chữ nho nên vẫn giữ lễ để mở cái tâm đang đóng kín của tôi ra, như cách những người làm tượng khai quang điểm nhãn hay vẽ mắt sau khi đóng xong thuyền. Cũng nghiêm trang trịnh trọng lắm. Nghe đâu cha mẹ tôi trước đó không được “gần” nhau, còn tôi được cúp tóc ca rê, tắm rửa sạch sẽ, thay áo mới, đứng trước bàn thờ bày giữa sân lạy ba lạy, chẳng biết lạy thần gì chỉ thấy trước mặt một con gà luộc tươm mỡ đang nằm bẹp trên một cái đĩa to tướng, cùng với mấy tô cháo và đĩa xôi giữa làn khói nhang trầm đang uốn éo bay lờ đờ.

Rồi tôi được ăn nguyên một cái đầu gà nhổ còn sót lông, nuốt luôn cả 2 con mắt đang trợn trừng đến phát sợ, để học cho được sáng trí và mau tấn bộ. Còn cha tôi, áo dài cũng đã cởi, đang ngồi uống rượu cùng ông tôi và bạn của ông.có chòm râu dài tới ngực. Dường như họ đang cầm cái chân gà không phải để nhậu mà để coi xem thần phán thế nào trên mấy cái ngón cong nhiều hay cong ít đó, mà đoán định được tương lai học vấn của tôi. Có lẽ đó là cái chân của con gà ăn quẩn cối xay hay bị què, nên chuyện học của tôi chẳng đi đến đầu đến đũa, cứ lẹt đẹt gần chót bảng!

Mấy tháng sau, cha tôi bệnh thương hàn mà ngày đó chưa có thuốc chữa, ông tôi chỉ biết xì xụp lạy cầu xin tổ tiên cứu giúp, còn bà tôi thì niệm quán thế âm bồ tát xin phù hộ, nên ông không qua khỏi! Chiếc áo để lại cho ông tôi mặc trong những dịp tết, cúng giỗ hay cúng đình. Áo lương đen rất mỏng và thưa, nếu chỉ mặc một mình nó thôi thì người khác thấy cà da lẫn thịt (kiểu như quý bà quý cô sành điệu bây giờ mặc áo xuyên thấu! may mà không có mốt quần xuyên thấu!) Chiếc áo mỏng quá, sợ rách không giặt nên bị dán nhấm càng lúc càng nhiều, đến một lúc nào đó không thể mặc được nữa, bà tôi đem cất kỹ trong rương, coi như kỷ vật của đứa con trai duy nhất.

Chiếc áo quen thuộc thường ngày của ông tôi lại là một chiếc áo bành tô của hải quân Pháp, được ông anh họ có một bà vợ đầm lai, khi tản cư về làng, cho. Áo dệt bằng len thô trộn với tóc, dày gấp chục lần áo lương, mùa hè mặc rất xót, nhưng mùa đông lại rất ấm. Áo có cả chục hạt nút bằng đồng đen xỉn, mỗi hạt đều có hình mỏ neo.

Ông mặc chiếc áo đó từ năm 1945 đến 1965 vẫn chưa rách. Nó chỉ bị đốt cháy cùng với ngôi nhà. Sau đó, khi làng bị đốt trụi biến thành vành đai trắng, ông lén trở về và bị trực thăng bắn chết bên hàng dậu. Phải chi còn chiếc áo ấy đắp lên mình, chắc ông đỡ lạnh khi phải nằm dưới mộ sâu!

Chiếc áo mà tôi lúc nào nhớ tới cũng muốn khóc, là chiếc áo của mẹ tôi. Đó là chiếc áo dài mẹ mặc khi gặp thầy hiệu trưởng, lúc mẹ từ Quy Nhơn vào Ninh Hòa, thăm con. Một chiếc áo thâm đen đơn sơ, hai tà có may hai đường xếp nếp vì đang còn chịu tang ông.

Lúc ấy mẹ trẻ lắm vì hơn con chỉ 18 tuổi, cả trường cứ tưởng là chị cả của con. Chiếc áo đơn sơ quá, dù lúc ấy mẹ đủ tiền để mua một chiếc áo đẹp hơn.

Mẹ là người đàn bà khổ cực nhất trên đời mà con được biết. Cha con chết lúc em mới 3 tháng tuổi, con nghe mẹ gào chứ không khóc, rồi mẹ thảy em cho con bồng, tập buôn tập bán, chạy chợ trên xuống chợ dưới, kiếm từng hạt cơm manh áo để nuôi chúng con.

Có lần mẹ đi chợ về, trông thấy con bế em vụng về như mèo tha dưa cải, mẹ đã quăng cả gánh hàng, nhào tới bế em, mẹ thì khóc còn em và con đều cười toe vì em có sữa và con có quà!

Một lần khác, chưa kịp vào nhà mẹ đã hối “múc cho mẹ gáo nước, đi con”. Cầm gáo nước, mẹ uống như người sắp chết khát, nước vừa chảy vào miệng mẹ vừa chảy trên ngực áo cũng đang ướt vì căng sữa, trong khi lưng mẹ cũng ướt đẫm mồ hôi vì phải chạy trên đường xa dưới cái nắng đổ lửa.

Chiếc áo bạc màu ấy, không chỉ một mà rất nhiều vì cả đời mẹ tôi luôn mặc như thế, và lúc này đây tôi đang khóc vì đang viết về những chiếc áo xưa cũ của mẹ.

Một chiếc áo khác, cũng rất đơn sơ, là áo của bà tôi. Áo nhuộm màu nâu, tay áo dính vôi và nhựa cau, vì bà thường lau miệng khi ăn trầu. Chiếc áo ấy làm tôi vui mà cũng nhiều khi làm tôi sợ, mỗi khi bà leo cau bẻ buồng và bắt chim sáo cho tôi. Trên cao tít, cái dáng mong manh của bà in lên nền trời xanh, là hình ảnh xúc động nhất thường hiện ra trong những giấc mơ của tôi.

Từ khi con trai chết, bà gần như chìm khuất dưới sắc màu toàn là nâu: áo nâu quần nâu, khăn bịt đầu cũng nâu, một màu nâu mộc mạc thật buồn.

Tôi cũng hãy còn giữ một chiếc áo sơ mi, nút xương bò nhưng dệt bằng tơ tằm, gọi là đũi, rất chắc. Đó là chiếc áo được may bằng máy chứ không may bằng tay như áo mặc thường ngày. Bà đã đem bao nhiêu kén do bà nuôi đổi cho người ươm tơ để lấy đũi về may áo cho tôi, khi tôi thi đậu vào lớp 5 tức là lớp 6 cấp hai bây giờ. Kiệt Tấn được mẹ may cho chiếc quần có hai túi trông cũng le lói lắm, tôi thì áo đũi nhuộm nâu, cũng rất sang chảnh đâu có thua gì.

Đây đúng là áo xưa vì đũi lúc nào cũng nhàu nhò, hãy còn được vợ tôi cất kỹ để khoe với mấy đứa cháu nội.

Vợ tôi cũng có một chiếc áo mà tôi rất thích, áo lụa màu tím than, mặc trong dịp vợ chồng cùng được mời đi họ trong lễ cưới cháu trai một người bạn. Ngày ấy, ba vòng chưa bằng nhau, nàng 50  xúng xính bên một ông chồng già 60, trông cũng nhỏ nhắn dễ thương, nhiều người cứ tưởng lầm là gái Huế.

Không phải áo của Bác, cũng không phải áo của hoàng hậu Nam Phương, nên chẳng chiếc áo nào được cho vào viện bảo tàng. Chỉ có trái tim tôi coi như một bảo tàng tư nhân sống, được cho vào một cách nâng niu đầy thương nhớ thương mà thôi.

Khuất Đẩu

Viết trong mùa ôn dịch

LẠI NÓI CHUYỆN XƯA!

Sống mãi đến cái xuân thứ tám mươi không còn xanh nửa, tôi mới nhận ra đươc điều này. Ấy là, càng đi gần tới chỗ không muốn tới mà vẫn cứ phải tới, là cõi tử, chân không muốn bước thêm chút nào nữa, chỉ muốn đứng quay đầu nhìn lại. Mà quay đầu thì chẳng còn chuyện gì để nói ngoài chuyện ngày xưa.

Không phải ngày xưa chúng mình yêu nhau, mà là những ngày còn bé, có khi còn nhồng nhỗng cỡi truồng tắm mưa.

Như chiều nay, sau những ngày nắng như có khói, bỗng dưng một cơn mưa không báo trước, lặng lẽ trút xuống. Mưa mà không có một chút gió, nên hạt mưa rơi theo chiều thẳng đứng (mượn tên một cuốn phim), hạt mưa dài có lẽ đồng  đều nhau, căng từ trời cao xuống đất, lúc nào cũng song song, như sợi vải mắc trên khung cửi, một khung cửi khổng lồ, mà thợ dệt chính là thợ trời.

Cho nên phải nói là quá đẹp, đẹp ở ngoài trời và đẹp ở trong lòng. Tiếc là hạt mưa rơi thẳng trên mặt đường nhựa, bắn tung tóe, chứ không mưa như mưa trong lòng tôi ở quê nhà.

Sân nhà bằng đất, nên hạt mưa rơi xuống làm đất mềm ra, một lúc sau nổi bong bóng. .

Trời mưa bong bóng bập bồng

Mẹ đi lấy chồng con ở với ai?!

Lúc nhỏ, chưa có nỗi sợ nào bằng sợ mẹ (lỡ dại!) bỏ con đi lấy chồng. Những chiếc bong bóng cứ hiện ra rồi vỡ toang như giọt nước mắt của con. Cũng có lúc, giống nước sôi vì con đang tức sôi máu khi nghĩ tới những người đàn ông dám cướp mẹ.

Chưa bao giờ mẹ có ý định đi lấy chồng dù khi cha mất, mẹ mới có 23 tuổi và con nhớ răng mẹ đen, tóc mẹ dài, da mẹ trắng, phải nói là còn trẻ và đẹp. Vậy mà tôi vẫn cứ sợ và ghét những người đàn ông không phải là cha tôi mà lại láng cháng muốn tôi kêu bằng cha. Bọn họ cứ thậm thò thậm thụt, đứng cửa trước chờ cửa sau, hỏi mua thứ này bán thứ nọ, có kẻ mon men cho món này tặng món kia định mua chuộc cái thằng nhỏ cứng đầu là tôi. Cái tiếng “dượng” thật dễ ghét và càng ghét hơn khi có thêm cái tiếng “ghẻ” dơ dáy kèm theo.

Mưa êm như thế này, mà mưa trên nhà lá mái, người nằm trong nhà chẳng hề hay biết. Chỉ có lũ trẻ, trong đó đầu têu là tôi cùng với bọn trẻ hàng xóm ùa ra tắm mưa.

Không gì thích bằng được tắm dưới một cơn mưa mùa hạ, mưa như có hàng ngàn cái vòi sen cùng mở một lúc, nước ngập đầy sân tha hồ mà lăn mà lộn. Có thêm tiếng sét càng vui hơn nữa, cả bọn đều nhảy dựng lên la hét rồi ù té chạy vào nhà.

Bọn con gái đương nhiên không dám tắm truồng, chỉ ngồi trên thềm thò cẳng xuống hứng nước từ giọt tranh hay hái lá thi nhau thả thuyền.

Những chiếc thuyền màu xanh tự bơi tự lái theo dòng nước, có lúc nhanh lúc chậm, cuối cùng ngập ngừng đôi chút rồi buông mình xuống một chỗ thấp hơn, xoay tít trước khi cuốn theo dòng nước chảy xiết đổ ra vườn. Lá đứa nào rơi xuống trước là thắng cuộc đua.

Mưa sẽ ngon hơn, ấm hơn nếu lúc ấy được mẹ hay bà dúi cho một củ khoai lang lùi trong bếp tro nóng. Và béo hơn nữa, thơm ngon hơn nữa, nếu được một cuốn bánh xèo!

Cái tiếng reo nức nở chào nhau của mỡ và bột khi gặp nhau trên khuôn nóng nghe mới tuyệt làm sao. Xèo! Hơn cả hai, hơn cả hế lô. Huế, đặt tên cho con gái tên người nào cũng lạ và đẹp, nhưng đặt tên cho món bánh bằng bột trộn tôm thịt rán mỡ heo là “khoái” nghe điệu đà mà không mấy hấp dẫn. Đọc theo giọng miền nam là “phái” nghe càng tệ hơn nữa, sao bằng “bánh xèo”, chưa ăn đã nghe nước miếng tươm ra đầy miệng rồi.  

Mưa tạnh, cả sân vườn bỗng dậy mùi thơm của cây lá và hương nước mưa. Tôi nói hương nước mưa là nói thật chứ không phải làm văn chương. Vì sao à? Vì mặt sân đang nóng gặp nước mưa, hơi bốc lên ngùn ngụt, mùi của đất, của rơm rạ, có cả mùi hương của cau hương của bưởi thì gọi chung là hương nước mưa cho nó gọn.

Cùng lúc, nổi lên bản hòa âm của oàng ương, ếch nhái và dế mèn. Một bản hòa âm không có nhạc trưởng, mạnh đứa nào đứa nấy chơi, lộn tùng phèo nhưng mà vui, ồn ào một cách rất chi là dễ chịu.

Âm thanh ở quê nhà còn có tiếng võng đưa kẽo kẹt, tuy không ngọt ngào nhưng đong đưa nũng nịu dể làm mình, dù không được ai đưa cũng muốn ngủ. Nghe kẽo kẹt bỡi hai đầu dây nghiến vào gỗ như hai thân tre cọ vào nhau, chứ không phải sột soạt như những chiếc võng nilon núp dưới các lùm cây ở các ngã ba sung sướng.

Buổi xế chiều nghe tiếng xay lúa rào rạo êm êm cũng rất dễ muốn ngủ, thì cứ ngủ đi, một lúc sau sẽ có tiếng chày giã gạo nện thình thịch vào cối gọi mình dậy.

Đến chiều là tiếng cơm sôi trong bếp, rồi mùi thơm của rau lang luộc, mùi cá kho hâm đi hâm lại vẫn cứ thấy ngon, và bữa cơm chiều của nhà nghèo được dọn ra trên chiếc nia đặt giữa sân, rồi tiếng nhai nhót nhép, tiếng húp rột rột, giữa những tiếng heo kêu ụt ịt, tiếng nghé ngọ của trâu bò về chuồng.

Tiếng cơm sôi quê mùa thế đấy cũng đã bước vào văn chương mà không cần phải qua hội nhà văn.

Giang hồ? ta chỉ giang hồ vặt

Nghe tiếng cơm sôi cũng nhớ nhà!

(Phạm Hữu Quang)

Già, tai đã nghễnh ngãng nhưng sao tiếng gì của ngày xưa nghe cũng thật hay. Phải chăng vì trong cái nghe ấy còn có chút ngậm ngùi vì biết đâu chiều nay hay sáng mai, không bao giờ còn nghe được nữa.

Rồi mắt mờ, nhưng vẫn thấy được hàng cau đứng trước nhà như những “liền anh” hát quan họ đội dù đứng đón “liền chị”. Những hàng cau thẳng đuột, thanh mảnh, theo tôi là đẹp hơn cả những hàng tre hay hàng dừa. Thôn Vỹ Dạ nếu không có những hàng cau nắng mới lên, thì đã không có những vần thơ dễ thương của Hàn Mặc Tử. Và cau cũng đi vào văn học, rồi lau lách đìu hiu của Phan Huy Vịnh, rồi lá ngô đồng, vàng rơi, vàng rơi thu mênh mông của Bích Khê…

Bến cũ hay bến xưa với cô gái chèo đò, nhớ sao là nhớ. Rồi xe thổ mộ với tiếng nhạc ngựa nhỏ thưa tràng đạc tiếng còn vọng âm của Huy Cận, Và về mái nhà xưa trông như nấm nhà buồn, để nghe tiếng hú hồn mê oan, của Phạm Duy…

Ôi chao, ngày xưa với nhà xưa, làng xưa, bến xưa, người xưa, áo xưa…những âm “xưa” nghe như tiếng mưa thu thánh thót của Đặng Thế Phong, buồn và đẹp xiết bao!

Sợ rằng, nói thêm một âm xưa nào nữa sẽ phải khóc, nên tôi xin dừng lại.

Khuất Đẩu

Viết trong mùa ôn dịch

MÊ LÀ SAO?

MÊ CÁI GÌ?

NÓI THỬ NGHE CHƠI!

(Viết vì nhớ Kiệt Tấn)

Chữ “mê” đứng một mình ên, như cô bé bên bờ Cửu Long giang (truyện của Lữ Kiều), cô thèm đi đôi guốc mới mua, nhưng thẹn thùng nên lén chị ra bờ sông chỉ để…rửa chân. Rất hiền và rất dễ thương.

Vậy mà khi thêm đầu và thêm đuôi, thì chữ “mê”lại trở nên rắc rối. Kiểu như cô nàng bỗng dưng cởi áo ra rồi mặc áo vào, phơi cả lưng và ngực giữa đất trời bao la, chắc chắn ngòi bút của nhà văn bác sĩ phải một phen bối rối.

Thêm đầu thì có si mê, đam mê, đê mê, ba chữ này nghe rất đã, ai mà chẳng ham, nhưng gây mê để lên bàn mổ, thì xin đừng.

Thêm đuôi, như mê mẩn, mê man,  mê mệt…có vẻ như dẫn ta vào đường tình, không phải tình yêu mà tình…dục.

Thời muốn đẻ bao nhiêu có sức cứ việc đẻ, có một lão nông miền Trung đặt tên con như vầy:

Mai/Tao/Lên/Chơi/

Mê/Say/Quên/Dìa.

Cũng có “kế hoạch” đấy chứ. Tám đứa, vừa đủ 2 câu thơ bốn chữ, thì dừng!

Không như bây giờ, nhà nước vận động kế hoạch hóa gia đình, áp phích treo đầy đường:

GIA ĐÌNH/

HAI CON VỢ/

CHỒNG HẠNH PHÚC!

Nình ông quá đã, (được những hai con vợ, sao không đã!) nhưng nình bà thì quá thua thiệt, xuống đường biểu tình phản đối là cái chắc.

Đem chữ “mê” đặt tên con, xem ra cũng chỉ là chuyện nhỏ. Nhạc sĩ Nhật Ngân trong bản nhạc để đời Một mai qua cơn mê, cứ tưởng là mê tình, không ngờ là mê muội vì hai miền nam bắc, suốt bao nhiêu năm cứ lao đầu vào húc nhau. Đấy mới thiệt là chuyện lớn, vì cuộc chiến vừa qua đúng là một cơn mê dài, quá ngu!

Bản nhạc được viết năm 1971, giữa lúc sắp ký kết hòa đàm Paris, nên ông mơ ước một mai hòa bình “sẽ bay đi muôn phương, sẽ hái trái đem cho mọi nhà”.

Tưởng là tỉnh táo, không u mê, hóa ra bé cái nhầm. Hòa ước ký vừa ráo mực, miền bắc liền phang tới tấp cho miền nam sụm bà chè, rồi đưa cả ngàn thi sĩ, văn sĩ và nhạc sĩ vào tù!

Tản Đà hỏi: Dân hai nhăm triệu ai người tỉnh? Có nghĩa rằng suốt đêm dài Pháp thuộc, nhiều người cứ mãi ngủ mê không chịu thức dậy. Giờ 5 triệu đảng viên, được bao nhiêu người tỉnh ngộ bỏ đảng CS? Lèo tèo, chưa đếm đủ mười đầu ngón tay! Nhưng một vài người rất đáng ngưỡng mộ.

Một người là nhạc sĩ Tô Hải, còn đươc gọi là Tô Hèn vì loạt bài ông tự thú Tôi là thằng hèn, vừa chửi mình vừa chửi đảng rất chi là phản động.

Một người nữa, là nữ nghệ sĩ Kim Chi. Bà nổi tiếng không phải vì đóng phim Cô gài Sài Gòn đi tải đạn mà vì từ chối cái rụp danh hiệu “cao quý” nghệ sĩ nhân dân mà thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng muốn ký tặng. Bà bảo tôi xấu hổ mắc cỡ khi có tên ông ta treo trong nhà. Ngon hết sẩy, chịu chơi hết sẩy. Mới đây, dù đã trên thất thập, vẫn cưới một cụ ông trên bát thập cũng bỏ đảng là tiến sĩ Mạc vân Trang. Hai người, tuy “ đã hết gân rồi còn tái giá”* vẫn được con cháu và cộng đồng mạng chúc mừng rối rít.

Nói vậy, chứ gọi cuộc chiến là cơn mê cũng chưa to chuyện bằng thêm chữ “gái” sau chữ mê!

Mê gái! Không ngờ cái đuôi “gái” này lại dài như đuôi sao chổi Halley, nó làm cho một nửa nhân loại sáng lấp lánh, còn một nửa thì tối sầm vì tím ruột bầm gan. Bài này chỉ xin nói về nửa đám nhân loại có thằng tôi trong đó.

Đúng là “chuyện bây giờ mới kể”!

Kể rằng, cái thằng tôi lúc học lớp ba trường làng, một hôm trời không nắng cũng không mưa, giữa lúc gió đồng vi vu thổi vào lớp hoc, tiếng thước kẽ thầy giáo gõ lên bàn kêu bom bóp, bỗng có một giọng con gái thỏ thẻ (và trọ trẹ nữa), dạ, trò ni đi trễ, xin thầy tha cho!

Chẳng những ông thầy nổi tiếng hung dữ (chứ không ác) quắc mắt ra nhìn, mà cả bốn chục thằng con trai hỉ mũi chưa sạch cũng trố mắt mà nhìn theo! Người bị nhìn dữ dội là một thiếu nữ chừng 13, 14 tuổi, chị của một đứa học trò tản cư chạy giặc từ Huế vào, mới học được mấy ngày. Nghe vậy, thầy cụp mắt xuống, phẩy tay cho cậu em vào. Cả lớp cũng cụp mắt theo, nhìn vào vở.

Vậy thôi. Thầy vô tư, cả lớp cũng vô tư, nhưng cái thằng tôi thì không vô tư! Suốt cả buổi học tôi cứ ngẩn ngẩn ngơ ngơ, đến nỗi bị thầy giáo đến bên cạnh nhéo tai mấy cái đau thấu trời, mới chịu tỉnh ra.

Mấy ngày sau cũng vậy! Vở sách lem luốt, chữ viết như cua bò! Suýt chút nữa bị thầy đến nhà “mắng vốn”.

Hóa ra là tại cô nàng! Không phải vì cái giọng nói trọ trẹ, mà vì mái tóc nghiêng nghiêng và đôi mắt “buồn viễn xứ khôn khuây”! Vậy là mê gái đứt đuôi con nòng nọc rồi, nói cho văn vẻ là tương tư!

Trời ạ, chưa đến mười tuổi mà đã biết tương tư. Cái bệnh này còn đáng sợ hơn cả covid 19, vì theo khảo sát của các nhà khoa học, trong số hơn 15 triệu sinh linh trên trái đất bị con covid nó hành, chưa có sinh linh nào dưới 10 tuổi bị dương tính cả.

Nhưng mà, bệnh tương tư không do virus, nên cách trị cũng khác hẳn và dễ ợt. Chỉ cần cha tôi bắt nằm úp mặt xuống phản gõ, thẳng cánh đánh 5 roi quắn đít là khỏi bệnh ngay. Tiếc thay và cũng mừng thay, ông đi làm mã tà ở cõi âm nên tôi cứ thoải mái mà mang cái bệnh ngọt ngào đó tới lúc học cấp hai.

Cũng một mái tóc nghiêng nghiêng và giọng nói trọ trẹ, nhưng không phải của học trò mà là của cô giáo, (thế mới bỏ mẹ!) Cô ấy vừa mới ra trường, lại đang fall in love một thầy giáo cùng trường, nên “mắt cô ướt và tóc cô mềm như mây mùa đông”.

Là gái Huế, vừa đoan trang (giả bộ) lại vừa diện ngầm với áo tím than và khăn quàng trắng, trông cô thướt tha yểu điệu làm sao, nên cái thằng oắt con là tôi, chết một cửa tứ, bị cô hớp mất hồn. Cha tôi dẫu có sống lại cũng khó mà chữa khỏi bệnh. (vì tôi dại gì mà khai báo, trường cũng đâu biết mà cách ly bằng cách đuổi học).

Bệnh cứ âm ỉ bên trong khiến tôi cứ mơ mơ màng màng, ngồi trong lớp mà cứ tưởng đang bay lơ lửng giữa trời cao, rồi lại nhẹ nhàng rơi xuống như lá mùa thu. Mới lỏm bỏm tiếng Anh, nhưng tôi bỗng hiểu thế nào là fall in love và thầm phục người Anh đặt tên đúng chóc!

Thế rồi, một hôm bỗng dưng cô vào lớp với mái tóc phi dê xoăn tít như râu bắp, chắc là sắp lấy chồng. Ôi chao, trời sập cũng không làm tôi kinh hãi bằng.

Trước, cô thanh cao đài các bao nhiêu, giờ cô nặng nề trần tục bấy nhiêu!

Trước, mắt cô ướt, tóc cô mềm, giờ mắt cô khô tóc cô gãy!

Tôi buồn hắt buồn hiu, không phải vì cô sắp lấy chồng, mà vì từ đây lớp học không còn ấm áp như bếp lửa chiều đông nữa!

Nhưng may quá, cũng từ đó tôi khỏi bệnh!

Thời của tôi là vậy đó, mấy anh chàng mê gái trông là biết liền. Cứ xem cái cách anh ta đi lờ đờ, điên không ra điên khùng không ra khùng, lục trong túi chẳng có một đồng xu teng, mà chiều nào cũng đi bát phố (giờ là shopping), cứ đi tới đi lui, đi lên đi xuống, mỏi chưn thì vào hàng sách, giả bộ coi quyển này lật quyển kia,  chỉ để chờ một tà áo, một mái tóc, rồi xớ rớ đứng gần người sắp gieo mầm bệnh, là đủ sướng đến tê cả người!

Phải nói, thằng con trai nào mới lớn cũng đều mắc bệnh mê gái cả, không mê là coi chừng pê đê, tệ hơn nữa bị gọi là cù lần. Bệnh này không quý phái sang chảnh như bệnh tim, nhưng vẫn  rất đáng được một lần trong đời thử mang bệnh, cho ai đó nổi ghen tức chơi

Nổi danh mê gái (già), mê đến nỗi phát điên phát khùng là thi sĩ Bùi Giáng. Nào Marilyn Monroe, nào mẫu thân Kim Cương, mẫu thân Phùng Khánh. Gọi mẫu thân kính cẩn đề huề, vì các nàng đẹp thì có đẹp, nhưng chắc không hiền, láng cháng coi chừng bị oánh cho bầm mặt. Nhưng khi chỉ một mình, thì ông gọi “em ơi, em đẹp vô cùng/ vì em có cái lạ lùng bên trong”. Cái gì lạ lùng bên trong đó chỉ có ông hiểu và Trời hiểu mà thôi. (vậy nên nói nhỏ, ông khôn bỏ mẹ, điên gì mà điên).

Một thi sĩ mê gái rất mực thanh tao, là Hoàng Trúc Ly, làm thơ rất ít nhưng lại được nhiều người biết tiếng. Có thể ông mê nhiều nường, nên chẳng dại gì mà gọi tên nường nào, chỉ biết rằng nhờ mê gái mà ông để lại cho đời những câu thơ tuyệt hay. Như:

Tôi đứng bên này bờ dĩ vãng/ Trông về con nước ngại ngùng xuôi/ Những người con gái bên kia ấy/ Ai biết chiều nay có nhớ tôi?!

Hay là: Ô hay con gái bay nhiều quá/ Những cánh tay mềm như cánh chim.

Tiếc rằng, anh đau gan, anh yếu phổi, đi lớ ngớ bị xe tông, bỏ lại mẹ già không ai cõng!

Lại một chàng trẻ ranh, nhờ mê gái mà nổi danh thi sĩ, là Nguyễn Tất Nhiên. Mới học đệ tam (lớp 10) mà đã yêu điên yêu dại cô bạn gái cùng lớp. Thơ chàng, được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc, trở thành những bài tình ca bất hủ.

Cái bệnh mê gái của chàng, mê đến chết, nên có thể gọi chàng là Trương Chi thời hiện đại, còn Mỵ Nương là người con gái tên Duyên.

Bệnh mê gái cũng đâu có tha những nhà sư chưa thoát tục. Như Phạm Thiên Thư, dù khoác áo nâu sồng, vẫn cứ mê mải theo chân Ngọ về rồi làm thơ ướt át suốt cả đêm, tu mà như thế đến Phật Thích Ca cũng phải chịu thua.

Các nhạc sĩ thì khỏi phải nói, mê gái có từ trong máu, không mê gái thì không cách gì làm ra nhạc được. Nhạc đây là nhạc tình. Trịnh Công Sơn mê Diễm viết Diễm xưa, mê Thanh Thúy viết Ướt mi,…Vũ Thành An mê đến mấy chục nường, biết gọi tên ai, thôi thì không gọi tên cho chắc ăn, Không tên số một, Không tên số hai… đến Không tên cuối cùng! Nhờ thế, các nường “bỏ anh em đi” đều lẩm nhẩm hát thầm, trong khi đức ông chồng nằm bên cạnh cứ ngáy khò khò, chẳng biết trời trăng gì ráo!

Nhà văn đương nhiên lại càng mê gái hơn. Như Đoàn Thế Nhơn mê cô vợ tên Viễn Phố, bèn lấy bút hiệu là Võ Phiến. Rồi Mai Thảo yêu tiếng hát và người hátThái Thanh, chung tình đến nỗi đến chết vẫn chỉ yêu một người có “tiếng hát vượt thời gian” mà thôi.

Nhưng mê gái như Kiệt Tấn thì đến cả tổ sư G.Marquez ở Nam Mỹ cũng phải gọi bằng ngài, tức Don Kiệt! Cứ thấy gái là mê, tôi mê gái thì học dở còn ngài càng mê càng học giỏi, thế mới lạ. Từ gái quê bồng em, bán nước mía, đến gái phố thị đài các kiêu sa, từ gái nhà lành đến gái đĩ, từ gái ta đến gái tây, từ gái viết sai chính tả tùm lum đến gái thuộc thơ J. Prévert, từ gái không điên đến gái điên…, ngài mê tuốt. Không cần biết xấu đẹp sang giàu, có gái là mê, không mê chết sướng hơn!

Còn nửa nhân loại kia thì sao? Gái có mê trai không? Có đấy! Mà mê bạo hơn, điên dại hơn, ngu muội hơn. Mê nghiêng mê ngửa, mê đứng mê ngồi, mê như bị bỏ bùa.

Một nàng Thôi Oanh Oanh cha chết chưa chôn còn để nằm trong hòm, mà mê Trương Quân Thụy ở Mái Tây đến nỗi dám sai nữ tỳ mang cả chăn chiếu sang chung chăn với chàng. Ngày xưa mà như thế, phải nói là gan cùng mình! Mê đến thế không còn gọi là dại trai nữa,  mà phải nói là chết vì trai!

Lại thêm một gái góa tên Trác văn Quân, chưa hết tang chồng cũng đã bỏ nhà theo trai vì mê tiếng đàn của Tư mã Tương Như!

Nổi đình nổi đám nhất là Vương Thúy Kiều,

vừa mới gặp Kim Trọng mà “tình trong như đã”, nên tuy kín cổng cao tường vẫn lén dòm sang bên kia nhà, rồi đó ra vườn dạo chơi, giả bộ đánh rơi chiếc trâm cài tóc trên cây!

(sao lại rơi trên cây mà không rơi trên cỏ, ấy là để chàng Kim dễ nhìn thấy, có cớ mà làm quen! Vẽ đường cho hươu chạy còn oan nỗi gì!).

Mới quen buổi sáng bên hàng dậu, mà  buổi tối  đã “băng lối vườn khuya một mình”, thì chỉ thua mỗi Thôi Oanh Oanh là không dám mang chăn gối theo mà thôi!

Đó là chuyện mê trai của các người đẹp xưa, còn chuyện mê trai của các người đẹp nay, thì dẫu có cho kẹo tôi cũng không dám nói, vì sợ bà chủ tịch Gia hội và “nhóm lợi ích” của bà!

Chỉ có điều, trộm nghĩ (tức là nói trộm đờn ông mí nhau ) rằng, thì là, xem ra, mê gái hay dại gái, nửa đám nhân loại “vinh dự có tôi đi hàng đầu”kia, cũng chỉ làm đẹp cho dời, chứ có làm chết thằng tây đen nào đâu.

Nào thơ hay như Hoàng Trúc Ly, nào nhạc mê đắm bao thế hệ như Phạm Duy, Trịnh Công Sơn… nào tranh của L. Da Vinci với nụ cười bất tuyệt của La gioconda … chứ mê trai hay dại trai thì sao nào, dù không hại đời cũng hại nhà, như Thôi Oanh Oanh, Trác Văn Quân, bằng không thì hại mình như Thúy Kiều! Mười lăm năm mà sao không tan tác khi phải “thanh lâu hai lượt thanh y hai lần”, nên các cụ xưa cấm con gái xem Thúy Vân Thúy Kiều, cũng đâu có sai!

Sau chữ “mê” còn dài đến cả cây số. Như mê bài bạc, mê đánh số đề, mê xóc đĩa, mê xì phé, mê xì ke, mê mua sắm, mê nhà lầu xe hơi, mê địa vị chức tước, mê quyền lực, mê võ thuật, mê bóng đá, mê chơi games,…còn nhiều thứ mê lắm.

Thôi thì mê gì cũng được, ít nhiều trong mê đều có ngu, có dại, nhưng mê cọng sản thì đáng đem bắn bỏ chứ không “cải tạo” gì được, vì đó là cái mê ngu nhất, dại nhất, chẳng những hại riêng một người, mà còn hại đến nhiều người, chẳng những không lợi nhà mà còn hại nước, phải không phe ta, hả ngài Don Kiệt?!

Khuất Đẩu

Tháng bảy, mùa ôn dịch

*Đã hết gân rồi còn tái giá là vế một câu đối của bà hàng phở nạ dòng. Tức là hết phở gân rồi chỉ còn phở tái và giá sống thôi. Được một ông sồn sồn đối lại nhưng không chỉnh: thì đem xíu quách nhậu cùng anh.

Còn Chỗ Nhớ Quanh Đây

buổi trưa khát nước,chim khan hót
ta vợi nắng ngoài kia tưới cây
khô gẫy nhánh đời bao tuổi trước
chợt mát ơn em giọt tiếng ngày…

ta ngỡ mình thôi không tiếc nữa
gom ngày xanh lại thả mây trôi
mai kia chợt tiếng sông xa gọi
còn nhớ quanh đây một chỗ ngồi…

ta giữ giùm em giây phút ấy
tiếng buồn chim gọi khan giấc trưa
cẩm cù em hái tay tròn đoá
ta ngồi đếm mãi những âm xưa…

rồi có hôm nào ta nhớ biển
bãi ghềnh hun hút gió mưa mau
sóng vỗ trăm năm đầu đã bạc,
ta còn đá cuội vẫn xanh nhau…

Hoàng Uyển Văn