VIẾT GIỮA MÙA ÔN DỊCH

GIÀ, RỒI SAO NỮA?

Già rồi chết, chứ trăng với sao gì nữa!

Ừ, thì chết, nhưng chết ra làm sao, chết rồi đi về đâu?

Cái chuyện này chưa biết à nghen, chưa chết sao biết được, với lại ai mà không sợ chết, nói tới cái bộ xương có cánh tay cầm lưỡi hái, sợ lắm!

Sáng trưa chiều tối, lúc này thấy nó cứ lẻo đẻo đi theo như hình với bóng, cái hơi lạnh của nó tỏa ra mù mịt còn hơn cảnh sát dã chiến thả hơi cay nữa kìa, nhưng mà trước sau gì chẳng chết, thôi thì thử nói một lần này rồi sẽ tịt luôn.

Chết là hết thở, không học trường y ai cũng biết. Chết dễ ợt, nhắm mắt xuôi tay thế là xong.

Nhưng cũng chưa xong, còn phải dọn dẹp cái thân tứ đại kia nữa chứ.

Nghe nói, ở vùng núi Hy mã lạp sơn, có một sắc dân, chết không chịu chôn mà lại khiêng lên núi để nuôi lũ chim kền kền.  Cả ngàn con chim trời sinh ra chỉ để ăn xác thối làm sạch môi trường cứ bay lượn trên cao hóng mỏ ra chờ, đợi lũ người sống kia gào khóc chán chê, bỏ ra về, chỉ loáng một cái, chúng phủ thành một đống đen kịt, rồi chỉ trong chớp mắt là lóc sạch cả thịt da phèo phổi, chỉ để lại bộ xương trắng hếu, thêm lưỡi hái và đôi cánh nữa là thành thần…chết.

Một bước thành thần, cũng hay!

Nhưng một vài bộ lạc ở châu Phi còn hay hơn. Những lão già cúp bình thiết như tui, con cháu không nuôi nổi nữa, thế là cụ được mời leo lên cây, rồi cả bọn cùng nhảy múa loạn xạ, chọc quê hả mồm nhíu mũi, làm đủ cách kể cả cầm gậy thọc đít, miễn sao cho cụ rơi xuống, thì lạy chúa tôi, coi cụ như con nai con hoẵng vừa săn được, cả nhà hay cả xóm được no nê (và ngon miệng) một bữa!

Trường hợp nhảy múa hoài mà cụ không rớt xuống thì lại được đem về nuôi, nhưng hiếm khi lắm, gần như không có bao giờ.

Thực là nhanh gọn và tiện lợi. Người chết không để đức mà để thịt cho con cháu, phụ tử tình thâm của xứ đói là như vậy. Đừng chê cười họ man di mọi rợ. Cái nước Tàu có đến những 5000 năm văn minh kia, trong thời kỳ đại nhảy vọt, nhà này đổi con cho nhà kia, để ăn cho đỡ chết đói. Văn minh ở chỗ họ không nỡ hay không dám ăn thịt con mình mà thôi. Còn ăn kiểu gì thì khỏi phải nói, không ai chế biến thức ăn ngon bằng người Tàu, nhất là món thịt người rất quý hiếm.

Ở nước Nhựt, xứ sở ưa harakiri, trong những làng quê nghèo, người già phải biết chọn cách chết sớm nhất để bớt một miệng ăn cho con cháu. Truyện được một nhà văn Nhựt kể lại cảnh anh con trai cõng mẹ lên núi để mẹ nằm chờ chết. Bà cụ rất can đảm, bảo anh con trai đừng quay đầu nhìn lại để mẹ được chết trong lúc tuyết đang rơi là hạnh phúc. Trong khi một lão cùng làng sợ quá tìm cách xuống núi trong sự khinh ghét của mọi người,

Ở nước ta, chỉ có Lục Vân Tiên cõng mẹ, hết chạy ra đến chạy vô, chạy hoài hụt hơi cũng dám chết lắm đó, nhưng nếu thế thì cũng đáng mặt là trai thời trung hiếu làm đầu! Ở Tàu (lại Tàu!), Quách Cự chôn con để cha mẹ sống cũng được vinh danh trong nhị thập tứ hiếu (tội giết người mà được khen, đúng là luật của Tàu)!.

Còn nhiều cách chết lắm! Chết trong đồn công an bằng sợi dây thun nè, (sợi dây thun mà sao siết được cổ tới chết nhĩ, chắc là chết vì nuốt dây thun kiểu như gà)/ Rồi chết có thưởng của Hồi giáo cực đoan nữa nè! Quấn thuốc nổ quanh người, rồi đến chỗ có đông bọn tư bản rẫy chết kích nổ, sau khi tan xác pháo chẳng những được lên thiên đàng mà còn được thưởng đến những bốn mươi cô con gái Ả rập mắt đen và to, đẹp không chịu được lại còn trinh, thế thì ai mà không ham chết kể cả Tây mùi lỏ!

Còn chết rồi đi về đâu, thì mấy ai mà biết được. Sống gửi thác về, ông bà tôi thường nói chết là về quê kiểng, kiểu như đi xa về thăm nhà, hay Việt kiều yêu nước về thăm quê hương. Cái khúc ruột ngàn dặm đó (dài đến nỗi có thể quấn quanh trái đất mấy chục vòng), giờ không nên hát bài nối vòng tay lớn nữa mà là hát bài “nối khúc ruột dài”,mới hợp lòng dân ý đảng, lâu nay nó đóng cục đóng hòn (như táo bón) vì nhớ nhung, giờ nở bung ra sướng khỏi chê.

Các nhà văn và thơ hậu hiện đại thì bảo là đi về thế giới người hiền, ý chê cái thế giớt này ô trọc và hung dữ quá.

Thực ra, nói thế cũng chỉ là cách nói để bớt sợ khi nghĩ tới cái chết mà thôi. Phật và Chúa còn khôn hơn nữa, các ngài vừa dụ khị vừa đe nẹt. Đứa nào nghe theo lời ta làm điều thiện thì được lên Thiên đàng, đứa nào không chịu nghe, làm điều ác thì phải xuống địa ngục. Thiên đàng, hay cõi trời Đâu Suất, không làm cũng có ăn, còn địa ngục chẳng những phải ăn dòi mà còn bị cưa xẻ, bị lửa thiêu cháy nhưng không chết (sao lọa vậy cà?).

Nói là vậy chứ có ai ở thiên đàng hay địa ngục trở về đâu mà biết rằng láo hay thiệt. Thôi thì nói như Bùi Giáng. Rằng “ngày sẽ hết, tôi sẽ đi dù chưa biết đi đâu”.

Ở cõi trần, ông đã Sài Gòn Chợ Lớn đôi nơi/ đi lên đi xuống đã đời du côn*. Thì chết rồi ông vẫn tiếp tục đi, dù hình hài không nhứt thiết phải là một ông già khùng vác cây đu đủ đeo đủ thứ lon múa nhảy ở cầu chữ Y hay cầu NhịThiên đường. Có thể là một hạt bụi âm thầm nhớ đất quê, cũng có thể là chút ánh sáng lập lòe trên lưng con đom đóm. Đi đâu thì cũng chỉ trên trái đất này mà thôi, nơi có gái mọi, có chuồn chuồn bươm bướm và những em dê trắng dê vàng.

Bỡi sao? Bỡi vì ông không thành thần, không thèm gặp cụ Mác cụ Lê, không thèm 40 cô gái trinh, mà chỉ thèm đã đời du côn thôi. Ông chắc chắn sẽ đi vào văn học và ở mãi trong đó chứ không chịu ra. Có điều, ông luôn mang theo cây gậy (du côn mà), các “nhà phê bình” mác xít đứng trên lạp xường giai cấp hay phê bình dóc tổ và láo xược, coi chừng ông phang cho một gậy u đầu!

Khuất Đẩu

Viêt trong mùa ôn dịch

*chớ nhầm chữ đi này với chữ đi khách của các em mà mang họa vào thân!

*Phụ chú chữ già

– già dê, già dịch: già mà cứ láng cháng bên gái trẻ.

– già gân: chỉ cụ Trần văn Hương, cựu thủ tướng VNCH, đi làm bằng xe đạp. Nổi tiếng với câu thơ: Ngồi buồn gãi háng dái lăn tăn.

– già mồm, già họng: cải bướng, sai vẫn cứ cãi. Gái đĩ già mồm

– già khú, già khú đế: quá già

– già si cốc đế, già cúp bình thiết, già hết thuốc chữa, già quá cỡ thợ mộc: đồng nghĩa quá già.

-già mà ham: như già dê, già mắc dịch

-già không chịu chết: rủa sả mấy cs già

-già sao cho sướng: tên tác phẩm của Đỗ Hồng Ngọc

-già rụng răng, già hết răng: tả chân

-già teo chim: tả thực

CHẾT LÀ HẾT, THIỆT HÔN?

Nói vậy chớ không phải vậy!

Đành rằng chết rồi, như Bác nằm trong lăng kia, có biết gì nữa đâu, nhưng quanh Bác còn có 5 triệu đảng viên, hàng triệu thanh niên yêu nước và cháu ngoan bác Hồ. Có nghĩa rằng, chết vẫn chưa hết và không bao giờ hết, vì hãy còn nhiều chuyện, rất nhiều chuyện của người ở lại, tức là người sống. 

Mà những người ở lại thì có biết bao nhiêu chuyện để nói, để hỏi, để thưa, để xin ý kiến, để đàm tiếu…

Như Bác có bao nhiêu tên thiệt và tên giả, có bao nhiêu người yêu, bao nhiêu vợ, bao nhiêu người đêm khuya đem chất tươi vào tẩm bổ cho Bác? Ngay cả phòng nhì của Pháp và điệp viên bí mật của Mỹ cũng không biết chắc.

Thôi thì coi như bí mật quốc gia, nói tới lảm gì cho giảm tuổi thọ (một ngày một giờ lúc này của tôi rất quý).

Giờ hãy nói chuyện tầm phào, kiểu nói láo mà chơi nghe láo chơi của Bồ Tùng Linh vậy.

Đúng là chết vẫn chưa hết chuyện. Nóng hôi hổi lúc này là con virus của Vũ Hán. Nó gây ra biết bao nhiêu cái chết, khiến cho bánh xe tiến hóa của thế giới trật đường ray, nằm chình ình một chỗ.

Người đầu tiên nhìn thấy mặt con quỷ bảy màu đó, là bác sĩ Lý Văn Lượng. Lúc đầu nhà nước Tàu lôi ông ra tòa đòi kêu án vì tội phản bội tổ quốc (rất đúng người đúng tội vì tổ quốc Tàu nói láo còn ông nói thiệt), sau đó rủa sả ông không tiếc lời. Khi ông chiến đấu một mình với nó đến mệt phờ rồi cuối cùng thua cuộc phải vào nhà thiêu xác, thì nhà nước liền quay ngoắc 180 độ,  ca ngợi không hết lời là đại anh hùng! (tiếc gì hai tiếng anh hùng mà không ban khen, ông mà còn sống, dám “chốn” được sang các nước tư boản, là Tập Cận Bình và bè lũ tiêu tán đường ngay)!

Một ngàn năm sau, cái chết của ông cũng chưa hết chuyện để nói! Riêng tôi, cái chết của ông, một lần nữa nhắc nhở cho nhân loại tiến bộ hiểu rằng, chế độ cọng sản, là tổng hợp của đế quốc La mã, của phong kiến Tàu, của Đức quốc xã, quân phiệt Nhật, độc tài Liên xô, tàn bạo và ngu dốt của Mao Trạch Đông, tức là tất cả những cái ngu cái ác nhất của nhân loại không chịu tiến bộ.

Chưa hết chuyện vì cuộc chiến giữa cái ác, cái xấu với cái tốt cái thiện vẫn còn tiếp diễn muôn đời.

Ở nước ta, nhiều cái chết lảng xẹt nhưng rúng động dư luận, tức là ầm ĩ, có thể kể Nguyễn Bá Thanh, Trần Đại Quang. Một người vừa được trao phương bảo kiếm để trừ gian diệt ác, chỉ mới dọa chém tuốt nhưng chưa kip chém đã ngỏm cù đeo, là tại sao?

Một người ngồi ghế chủ tịch nước đang béo tốt phương phi bỗng tái xanh tái mét, yếu đến nỗi cầm dùi đánh trống khai giảng cho học trò mà run lên run xuống, chết trong sự nghi hoặc và tức tối đến nghẹn ngào. Cái ghế bỏ trống nhẽ ra để bà phó lên ngồi theo như thông lệ quốc tế, thì không nói không rằng, cụ tổng nhích cái đít chai cứng vì ngồi trên ngôi cao quá lâu, sang ngồi cho nó đủ bộ bình tích, thế nà thế lào?!

Ngược lại có những cái chết không một tiếng vang, như chết trong đồn công an bằng sợi dây thun, chết khô chết héo bên cạnh đống đơn cao như núi của những người bị cướp mất đất mất nhà, hay chết trên tàu cá vì bị tàu của “nước lạ” đâm chìm!

Có những cái chết cay đắng mà cũng có những cái chết thật buồn cười. Như chết vì già mà ham, ham đây là ham gái chứ không phải ham ăn. Còn chết như thế nào, bộ dạng ra sao, ăn mặc chỉnh tề hay trần truồng vì bị lột sạch cả nghĩa đen và nghĩa bóng, thì xin miễn bàn vì đó cũng là bí mật quốc gia.

Có những cái chết để lại hậu quả nghiêm trọng. Chị bạn tôi kể rằng, một sáng đến thăm mộ chồng vừa mới mất, thấy có bó hoa đặt bên mộ, hỏi mấy đứa con, có đứa nào đến thăm mộ ba hay không, chúng bảo không, thế là lòi ra ngay cái con bồ lâu nay thò thụt dấu diếm. Thôi, từ nay đã có người thăm viếng rồi, tôi tới làm chi nữa cho nó tủi cái thân già!

Tai hại chưa, chết rồi mà vẫn chưa hết chuyện! .

Một ông bạn khác, lúc sắp chết kêu vợ lại gần để thành thật khai báo, rằng, anh lỡ dại đã có một đứa con riêng, khi anh chết, em làm ơn làm phước chăm sóc giùm, thương yêu nó vì dẫu sao đó cũng là giọt máu của anh…chị vợ tức nghẹn họng nhưng cố bấm bụng nhận lời. Thế mà trời xui đất khiến sao đó, anh lại sống nhăn răng. Thế là mời anh go out ra khỏi nhà tôi ngay, đi theo con đĩ nào thì đi cho khuất mắt!

Gần chết mà khủng khiếp như thế huống gì chết thiệt.

Nhưng nói gì thì nói, chết đau đớn nhất và buồn nhất vẫn là con chết trước mẹ (không ai cõng) và mẹ chết trước con (không ai cho bú).

Sau cái chết, chuyện đáng nói, đáng buồn và đáng sợ nhất, theo tôi là những cái mộ, những cái lăng. Có những ngôi mộ tốn hàng chục tỷ đồng, lộng lẫy như một biệt điện, có cả tivi, tủ lạnh xalon cho người chết sử dụng như lúc còn sống. Đến ngày giỗ, ngoài việc đốt cả tỷ đô la âm phủ, còn đốt cả xe hơi, tài xế, con hầu bằng giấy.

Lăng, thì ông vua nào chẳng có lăng. Nhưng qua bao dâu bể hưng phế, chỉ còn lại ở nước ta các lăng của triều Nguyễn. Lăng của Tự Đức nổi tiếng không phải vì đẹp, mà vì những khổ cực dân và lính phải chịu, đến nỗi làm loạn, còn để lại trên bia miệng với hai câu ca dao.  Vạn niên là vạn niên nào/ Thành xây xương lính hào đào máu dân!

Lăng Hồ Chí Minh vừa hện đại vừa hùng vĩ, bao quanh bằng đá quý chọn từ mọi miền của đất nước, đẹp đến nỗi được gọi là bài thơ bằng đá. Để giữ cho cái thân tứ đại của Bác khỏi bị thối rữa, có cả một đoàn chuyên viên kỹ thuật của Liên xô, và cả một trung đoàn tinh nhuệ để canh giữ giấc ngủ nghìn thu của Bác, tốn sơ sơ mỗi năm trên dưới vài trăm triệu đô la!

Vừa rồi, quốc hội có người ăn gan hùm đề nghị biến lăng thành bảo tàng, đưa xác đi chôn hay đốt theo như di chúc của Bác. Nhưng, tất cả lại rơi vào sự im lặng rất đáng sợ, vì không còn ai dám nói nữa và vị dân biểu không rõ còn sống hay đả chết một cách không bình thường như Trần Đại Quang, Nguyễn Bá Thanh.

Với tôi, chết chắc cũng chưa hết chuyện, dù chỉ là một công dân hạng hai chẳng đóng góp chút gì cho quôc gia dân tộc, thì xin đừng xây mộ hoành (bánh) tráng, (nói chơi chứ tiền đâu xây), mà hãy đốt như đốt rác cho khỏi mất vệ sinh, chút tro còn lại thì xin rải trên mồ mẹ, coi như con của mẹ lại nằm trong lòng mẹ, là đủ rồi. Mong lắm thay!

Khuất Đẩu

Viết trong mùa ôn dịch

ÁO XƯA

Áo xưa dù nhàu

Cũng xin bạc đầu

Gọi mãi tên nhau

Trịnh Công Sơn

Áo xưa là áo cũ, chứ không phải áo của vua quan triều Nguyễn ngày xưa, bày ra khoe cho Tây mũi lỏ lé mắt coi chơi. Cũng không phải chiếc áo của anh dân quê hôm qua tát nước đầu đình/ bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen/ em được thì cho anh xin/ hay là em để làm tin trong nhà. Lại càng không phải chiếc áo yêu nhau cởi áo cho nhau/ về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay!

Đó chỉ là những chiếc áo đơn sơ bình thường của những người thân trong gia đình và của chinh tôi đã mặc trong những ngày tháng cũ.

Cha tôi mất sớm, nên tôi không nhớ ông mặc gì: áo trắng, áo nâu, áo vạt hò hay áo sơ mi, chỉ nhớ có mỗi chiếc áo dài lương đen ông mặc một lần khi cúng khai tâm cho tôi.

Cúng khai tâm là cái lễ của những người ngày xưa học chữ nho. Đến thời chữ quốc ngữ, vì ông và cha tôi đều biết chút ít chữ nho nên vẫn giữ lễ để mở cái tâm đang đóng kín của tôi ra, như cách những người làm tượng khai quang điểm nhãn hay vẽ mắt sau khi đóng xong thuyền. Cũng nghiêm trang trịnh trọng lắm. Nghe đâu cha mẹ tôi trước đó không được “gần” nhau, còn tôi được cúp tóc ca rê, tắm rửa sạch sẽ, thay áo mới, đứng trước bàn thờ bày giữa sân lạy ba lạy, chẳng biết lạy thần gì chỉ thấy trước mặt một con gà luộc tươm mỡ đang nằm bẹp trên một cái đĩa to tướng, cùng với mấy tô cháo và đĩa xôi giữa làn khói nhang trầm đang uốn éo bay lờ đờ.

Rồi tôi được ăn nguyên một cái đầu gà nhổ còn sót lông, nuốt luôn cả 2 con mắt đang trợn trừng đến phát sợ, để học cho được sáng trí và mau tấn bộ. Còn cha tôi, áo dài cũng đã cởi, đang ngồi uống rượu cùng ông tôi và bạn của ông.có chòm râu dài tới ngực. Dường như họ đang cầm cái chân gà không phải để nhậu mà để coi xem thần phán thế nào trên mấy cái ngón cong nhiều hay cong ít đó, mà đoán định được tương lai học vấn của tôi. Có lẽ đó là cái chân của con gà ăn quẩn cối xay hay bị què, nên chuyện học của tôi chẳng đi đến đầu đến đũa, cứ lẹt đẹt gần chót bảng!

Mấy tháng sau, cha tôi bệnh thương hàn mà ngày đó chưa có thuốc chữa, ông tôi chỉ biết xì xụp lạy cầu xin tổ tiên cứu giúp, còn bà tôi thì niệm quán thế âm bồ tát xin phù hộ, nên ông không qua khỏi! Chiếc áo để lại cho ông tôi mặc trong những dịp tết, cúng giỗ hay cúng đình. Áo lương đen rất mỏng và thưa, nếu chỉ mặc một mình nó thôi thì người khác thấy cà da lẫn thịt (kiểu như quý bà quý cô sành điệu bây giờ mặc áo xuyên thấu! may mà không có mốt quần xuyên thấu!) Chiếc áo mỏng quá, sợ rách không giặt nên bị dán nhấm càng lúc càng nhiều, đến một lúc nào đó không thể mặc được nữa, bà tôi đem cất kỹ trong rương, coi như kỷ vật của đứa con trai duy nhất.

Chiếc áo quen thuộc thường ngày của ông tôi lại là một chiếc áo bành tô của hải quân Pháp, được ông anh họ có một bà vợ đầm lai, khi tản cư về làng, cho. Áo dệt bằng len thô trộn với tóc, dày gấp chục lần áo lương, mùa hè mặc rất xót, nhưng mùa đông lại rất ấm. Áo có cả chục hạt nút bằng đồng đen xỉn, mỗi hạt đều có hình mỏ neo.

Ông mặc chiếc áo đó từ năm 1945 đến 1965 vẫn chưa rách. Nó chỉ bị đốt cháy cùng với ngôi nhà. Sau đó, khi làng bị đốt trụi biến thành vành đai trắng, ông lén trở về và bị trực thăng bắn chết bên hàng dậu. Phải chi còn chiếc áo ấy đắp lên mình, chắc ông đỡ lạnh khi phải nằm dưới mộ sâu!

Chiếc áo mà tôi lúc nào nhớ tới cũng muốn khóc, là chiếc áo của mẹ tôi. Đó là chiếc áo dài mẹ mặc khi gặp thầy hiệu trưởng, lúc mẹ từ Quy Nhơn vào Ninh Hòa, thăm con. Một chiếc áo thâm đen đơn sơ, hai tà có may hai đường xếp nếp vì đang còn chịu tang ông.

Lúc ấy mẹ trẻ lắm vì hơn con chỉ 18 tuổi, cả trường cứ tưởng là chị cả của con. Chiếc áo đơn sơ quá, dù lúc ấy mẹ đủ tiền để mua một chiếc áo đẹp hơn.

Mẹ là người đàn bà khổ cực nhất trên đời mà con được biết. Cha con chết lúc em mới 3 tháng tuổi, con nghe mẹ gào chứ không khóc, rồi mẹ thảy em cho con bồng, tập buôn tập bán, chạy chợ trên xuống chợ dưới, kiếm từng hạt cơm manh áo để nuôi chúng con.

Có lần mẹ đi chợ về, trông thấy con bế em vụng về như mèo tha dưa cải, mẹ đã quăng cả gánh hàng, nhào tới bế em, mẹ thì khóc còn em và con đều cười toe vì em có sữa và con có quà!

Một lần khác, chưa kịp vào nhà mẹ đã hối “múc cho mẹ gáo nước, đi con”. Cầm gáo nước, mẹ uống như người sắp chết khát, nước vừa chảy vào miệng mẹ vừa chảy trên ngực áo cũng đang ướt vì căng sữa, trong khi lưng mẹ cũng ướt đẫm mồ hôi vì phải chạy trên đường xa dưới cái nắng đổ lửa.

Chiếc áo bạc màu ấy, không chỉ một mà rất nhiều vì cả đời mẹ tôi luôn mặc như thế, và lúc này đây tôi đang khóc vì đang viết về những chiếc áo xưa cũ của mẹ.

Một chiếc áo khác, cũng rất đơn sơ, là áo của bà tôi. Áo nhuộm màu nâu, tay áo dính vôi và nhựa cau, vì bà thường lau miệng khi ăn trầu. Chiếc áo ấy làm tôi vui mà cũng nhiều khi làm tôi sợ, mỗi khi bà leo cau bẻ buồng và bắt chim sáo cho tôi. Trên cao tít, cái dáng mong manh của bà in lên nền trời xanh, là hình ảnh xúc động nhất thường hiện ra trong những giấc mơ của tôi.

Từ khi con trai chết, bà gần như chìm khuất dưới sắc màu toàn là nâu: áo nâu quần nâu, khăn bịt đầu cũng nâu, một màu nâu mộc mạc thật buồn.

Tôi cũng hãy còn giữ một chiếc áo sơ mi, nút xương bò nhưng dệt bằng tơ tằm, gọi là đũi, rất chắc. Đó là chiếc áo được may bằng máy chứ không may bằng tay như áo mặc thường ngày. Bà đã đem bao nhiêu kén do bà nuôi đổi cho người ươm tơ để lấy đũi về may áo cho tôi, khi tôi thi đậu vào lớp 5 tức là lớp 6 cấp hai bây giờ. Kiệt Tấn được mẹ may cho chiếc quần có hai túi trông cũng le lói lắm, tôi thì áo đũi nhuộm nâu, cũng rất sang chảnh đâu có thua gì.

Đây đúng là áo xưa vì đũi lúc nào cũng nhàu nhò, hãy còn được vợ tôi cất kỹ để khoe với mấy đứa cháu nội.

Vợ tôi cũng có một chiếc áo mà tôi rất thích, áo lụa màu tím than, mặc trong dịp vợ chồng cùng được mời đi họ trong lễ cưới cháu trai một người bạn. Ngày ấy, ba vòng chưa bằng nhau, nàng 50  xúng xính bên một ông chồng già 60, trông cũng nhỏ nhắn dễ thương, nhiều người cứ tưởng lầm là gái Huế.

Không phải áo của Bác, cũng không phải áo của hoàng hậu Nam Phương, nên chẳng chiếc áo nào được cho vào viện bảo tàng. Chỉ có trái tim tôi coi như một bảo tàng tư nhân sống, được cho vào một cách nâng niu đầy thương nhớ thương mà thôi.

Khuất Đẩu

Viết trong mùa ôn dịch

LẠI NÓI CHUYỆN XƯA!

Sống mãi đến cái xuân thứ tám mươi không còn xanh nửa, tôi mới nhận ra đươc điều này. Ấy là, càng đi gần tới chỗ không muốn tới mà vẫn cứ phải tới, là cõi tử, chân không muốn bước thêm chút nào nữa, chỉ muốn đứng quay đầu nhìn lại. Mà quay đầu thì chẳng còn chuyện gì để nói ngoài chuyện ngày xưa.

Không phải ngày xưa chúng mình yêu nhau, mà là những ngày còn bé, có khi còn nhồng nhỗng cỡi truồng tắm mưa.

Như chiều nay, sau những ngày nắng như có khói, bỗng dưng một cơn mưa không báo trước, lặng lẽ trút xuống. Mưa mà không có một chút gió, nên hạt mưa rơi theo chiều thẳng đứng (mượn tên một cuốn phim), hạt mưa dài có lẽ đồng  đều nhau, căng từ trời cao xuống đất, lúc nào cũng song song, như sợi vải mắc trên khung cửi, một khung cửi khổng lồ, mà thợ dệt chính là thợ trời.

Cho nên phải nói là quá đẹp, đẹp ở ngoài trời và đẹp ở trong lòng. Tiếc là hạt mưa rơi thẳng trên mặt đường nhựa, bắn tung tóe, chứ không mưa như mưa trong lòng tôi ở quê nhà.

Sân nhà bằng đất, nên hạt mưa rơi xuống làm đất mềm ra, một lúc sau nổi bong bóng. .

Trời mưa bong bóng bập bồng

Mẹ đi lấy chồng con ở với ai?!

Lúc nhỏ, chưa có nỗi sợ nào bằng sợ mẹ (lỡ dại!) bỏ con đi lấy chồng. Những chiếc bong bóng cứ hiện ra rồi vỡ toang như giọt nước mắt của con. Cũng có lúc, giống nước sôi vì con đang tức sôi máu khi nghĩ tới những người đàn ông dám cướp mẹ.

Chưa bao giờ mẹ có ý định đi lấy chồng dù khi cha mất, mẹ mới có 23 tuổi và con nhớ răng mẹ đen, tóc mẹ dài, da mẹ trắng, phải nói là còn trẻ và đẹp. Vậy mà tôi vẫn cứ sợ và ghét những người đàn ông không phải là cha tôi mà lại láng cháng muốn tôi kêu bằng cha. Bọn họ cứ thậm thò thậm thụt, đứng cửa trước chờ cửa sau, hỏi mua thứ này bán thứ nọ, có kẻ mon men cho món này tặng món kia định mua chuộc cái thằng nhỏ cứng đầu là tôi. Cái tiếng “dượng” thật dễ ghét và càng ghét hơn khi có thêm cái tiếng “ghẻ” dơ dáy kèm theo.

Mưa êm như thế này, mà mưa trên nhà lá mái, người nằm trong nhà chẳng hề hay biết. Chỉ có lũ trẻ, trong đó đầu têu là tôi cùng với bọn trẻ hàng xóm ùa ra tắm mưa.

Không gì thích bằng được tắm dưới một cơn mưa mùa hạ, mưa như có hàng ngàn cái vòi sen cùng mở một lúc, nước ngập đầy sân tha hồ mà lăn mà lộn. Có thêm tiếng sét càng vui hơn nữa, cả bọn đều nhảy dựng lên la hét rồi ù té chạy vào nhà.

Bọn con gái đương nhiên không dám tắm truồng, chỉ ngồi trên thềm thò cẳng xuống hứng nước từ giọt tranh hay hái lá thi nhau thả thuyền.

Những chiếc thuyền màu xanh tự bơi tự lái theo dòng nước, có lúc nhanh lúc chậm, cuối cùng ngập ngừng đôi chút rồi buông mình xuống một chỗ thấp hơn, xoay tít trước khi cuốn theo dòng nước chảy xiết đổ ra vườn. Lá đứa nào rơi xuống trước là thắng cuộc đua.

Mưa sẽ ngon hơn, ấm hơn nếu lúc ấy được mẹ hay bà dúi cho một củ khoai lang lùi trong bếp tro nóng. Và béo hơn nữa, thơm ngon hơn nữa, nếu được một cuốn bánh xèo!

Cái tiếng reo nức nở chào nhau của mỡ và bột khi gặp nhau trên khuôn nóng nghe mới tuyệt làm sao. Xèo! Hơn cả hai, hơn cả hế lô. Huế, đặt tên cho con gái tên người nào cũng lạ và đẹp, nhưng đặt tên cho món bánh bằng bột trộn tôm thịt rán mỡ heo là “khoái” nghe điệu đà mà không mấy hấp dẫn. Đọc theo giọng miền nam là “phái” nghe càng tệ hơn nữa, sao bằng “bánh xèo”, chưa ăn đã nghe nước miếng tươm ra đầy miệng rồi.  

Mưa tạnh, cả sân vườn bỗng dậy mùi thơm của cây lá và hương nước mưa. Tôi nói hương nước mưa là nói thật chứ không phải làm văn chương. Vì sao à? Vì mặt sân đang nóng gặp nước mưa, hơi bốc lên ngùn ngụt, mùi của đất, của rơm rạ, có cả mùi hương của cau hương của bưởi thì gọi chung là hương nước mưa cho nó gọn.

Cùng lúc, nổi lên bản hòa âm của oàng ương, ếch nhái và dế mèn. Một bản hòa âm không có nhạc trưởng, mạnh đứa nào đứa nấy chơi, lộn tùng phèo nhưng mà vui, ồn ào một cách rất chi là dễ chịu.

Âm thanh ở quê nhà còn có tiếng võng đưa kẽo kẹt, tuy không ngọt ngào nhưng đong đưa nũng nịu dể làm mình, dù không được ai đưa cũng muốn ngủ. Nghe kẽo kẹt bỡi hai đầu dây nghiến vào gỗ như hai thân tre cọ vào nhau, chứ không phải sột soạt như những chiếc võng nilon núp dưới các lùm cây ở các ngã ba sung sướng.

Buổi xế chiều nghe tiếng xay lúa rào rạo êm êm cũng rất dễ muốn ngủ, thì cứ ngủ đi, một lúc sau sẽ có tiếng chày giã gạo nện thình thịch vào cối gọi mình dậy.

Đến chiều là tiếng cơm sôi trong bếp, rồi mùi thơm của rau lang luộc, mùi cá kho hâm đi hâm lại vẫn cứ thấy ngon, và bữa cơm chiều của nhà nghèo được dọn ra trên chiếc nia đặt giữa sân, rồi tiếng nhai nhót nhép, tiếng húp rột rột, giữa những tiếng heo kêu ụt ịt, tiếng nghé ngọ của trâu bò về chuồng.

Tiếng cơm sôi quê mùa thế đấy cũng đã bước vào văn chương mà không cần phải qua hội nhà văn.

Giang hồ? ta chỉ giang hồ vặt

Nghe tiếng cơm sôi cũng nhớ nhà!

(Phạm Hữu Quang)

Già, tai đã nghễnh ngãng nhưng sao tiếng gì của ngày xưa nghe cũng thật hay. Phải chăng vì trong cái nghe ấy còn có chút ngậm ngùi vì biết đâu chiều nay hay sáng mai, không bao giờ còn nghe được nữa.

Rồi mắt mờ, nhưng vẫn thấy được hàng cau đứng trước nhà như những “liền anh” hát quan họ đội dù đứng đón “liền chị”. Những hàng cau thẳng đuột, thanh mảnh, theo tôi là đẹp hơn cả những hàng tre hay hàng dừa. Thôn Vỹ Dạ nếu không có những hàng cau nắng mới lên, thì đã không có những vần thơ dễ thương của Hàn Mặc Tử. Và cau cũng đi vào văn học, rồi lau lách đìu hiu của Phan Huy Vịnh, rồi lá ngô đồng, vàng rơi, vàng rơi thu mênh mông của Bích Khê…

Bến cũ hay bến xưa với cô gái chèo đò, nhớ sao là nhớ. Rồi xe thổ mộ với tiếng nhạc ngựa nhỏ thưa tràng đạc tiếng còn vọng âm của Huy Cận, Và về mái nhà xưa trông như nấm nhà buồn, để nghe tiếng hú hồn mê oan, của Phạm Duy…

Ôi chao, ngày xưa với nhà xưa, làng xưa, bến xưa, người xưa, áo xưa…những âm “xưa” nghe như tiếng mưa thu thánh thót của Đặng Thế Phong, buồn và đẹp xiết bao!

Sợ rằng, nói thêm một âm xưa nào nữa sẽ phải khóc, nên tôi xin dừng lại.

Khuất Đẩu

Viết trong mùa ôn dịch

MÊ LÀ SAO?

MÊ CÁI GÌ?

NÓI THỬ NGHE CHƠI!

(Viết vì nhớ Kiệt Tấn)

Chữ “mê” đứng một mình ên, như cô bé bên bờ Cửu Long giang (truyện của Lữ Kiều), cô thèm đi đôi guốc mới mua, nhưng thẹn thùng nên lén chị ra bờ sông chỉ để…rửa chân. Rất hiền và rất dễ thương.

Vậy mà khi thêm đầu và thêm đuôi, thì chữ “mê”lại trở nên rắc rối. Kiểu như cô nàng bỗng dưng cởi áo ra rồi mặc áo vào, phơi cả lưng và ngực giữa đất trời bao la, chắc chắn ngòi bút của nhà văn bác sĩ phải một phen bối rối.

Thêm đầu thì có si mê, đam mê, đê mê, ba chữ này nghe rất đã, ai mà chẳng ham, nhưng gây mê để lên bàn mổ, thì xin đừng.

Thêm đuôi, như mê mẩn, mê man,  mê mệt…có vẻ như dẫn ta vào đường tình, không phải tình yêu mà tình…dục.

Thời muốn đẻ bao nhiêu có sức cứ việc đẻ, có một lão nông miền Trung đặt tên con như vầy:

Mai/Tao/Lên/Chơi/

Mê/Say/Quên/Dìa.

Cũng có “kế hoạch” đấy chứ. Tám đứa, vừa đủ 2 câu thơ bốn chữ, thì dừng!

Không như bây giờ, nhà nước vận động kế hoạch hóa gia đình, áp phích treo đầy đường:

GIA ĐÌNH/

HAI CON VỢ/

CHỒNG HẠNH PHÚC!

Nình ông quá đã, (được những hai con vợ, sao không đã!) nhưng nình bà thì quá thua thiệt, xuống đường biểu tình phản đối là cái chắc.

Đem chữ “mê” đặt tên con, xem ra cũng chỉ là chuyện nhỏ. Nhạc sĩ Nhật Ngân trong bản nhạc để đời Một mai qua cơn mê, cứ tưởng là mê tình, không ngờ là mê muội vì hai miền nam bắc, suốt bao nhiêu năm cứ lao đầu vào húc nhau. Đấy mới thiệt là chuyện lớn, vì cuộc chiến vừa qua đúng là một cơn mê dài, quá ngu!

Bản nhạc được viết năm 1971, giữa lúc sắp ký kết hòa đàm Paris, nên ông mơ ước một mai hòa bình “sẽ bay đi muôn phương, sẽ hái trái đem cho mọi nhà”.

Tưởng là tỉnh táo, không u mê, hóa ra bé cái nhầm. Hòa ước ký vừa ráo mực, miền bắc liền phang tới tấp cho miền nam sụm bà chè, rồi đưa cả ngàn thi sĩ, văn sĩ và nhạc sĩ vào tù!

Tản Đà hỏi: Dân hai nhăm triệu ai người tỉnh? Có nghĩa rằng suốt đêm dài Pháp thuộc, nhiều người cứ mãi ngủ mê không chịu thức dậy. Giờ 5 triệu đảng viên, được bao nhiêu người tỉnh ngộ bỏ đảng CS? Lèo tèo, chưa đếm đủ mười đầu ngón tay! Nhưng một vài người rất đáng ngưỡng mộ.

Một người là nhạc sĩ Tô Hải, còn đươc gọi là Tô Hèn vì loạt bài ông tự thú Tôi là thằng hèn, vừa chửi mình vừa chửi đảng rất chi là phản động.

Một người nữa, là nữ nghệ sĩ Kim Chi. Bà nổi tiếng không phải vì đóng phim Cô gài Sài Gòn đi tải đạn mà vì từ chối cái rụp danh hiệu “cao quý” nghệ sĩ nhân dân mà thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng muốn ký tặng. Bà bảo tôi xấu hổ mắc cỡ khi có tên ông ta treo trong nhà. Ngon hết sẩy, chịu chơi hết sẩy. Mới đây, dù đã trên thất thập, vẫn cưới một cụ ông trên bát thập cũng bỏ đảng là tiến sĩ Mạc vân Trang. Hai người, tuy “ đã hết gân rồi còn tái giá”* vẫn được con cháu và cộng đồng mạng chúc mừng rối rít.

Nói vậy, chứ gọi cuộc chiến là cơn mê cũng chưa to chuyện bằng thêm chữ “gái” sau chữ mê!

Mê gái! Không ngờ cái đuôi “gái” này lại dài như đuôi sao chổi Halley, nó làm cho một nửa nhân loại sáng lấp lánh, còn một nửa thì tối sầm vì tím ruột bầm gan. Bài này chỉ xin nói về nửa đám nhân loại có thằng tôi trong đó.

Đúng là “chuyện bây giờ mới kể”!

Kể rằng, cái thằng tôi lúc học lớp ba trường làng, một hôm trời không nắng cũng không mưa, giữa lúc gió đồng vi vu thổi vào lớp hoc, tiếng thước kẽ thầy giáo gõ lên bàn kêu bom bóp, bỗng có một giọng con gái thỏ thẻ (và trọ trẹ nữa), dạ, trò ni đi trễ, xin thầy tha cho!

Chẳng những ông thầy nổi tiếng hung dữ (chứ không ác) quắc mắt ra nhìn, mà cả bốn chục thằng con trai hỉ mũi chưa sạch cũng trố mắt mà nhìn theo! Người bị nhìn dữ dội là một thiếu nữ chừng 13, 14 tuổi, chị của một đứa học trò tản cư chạy giặc từ Huế vào, mới học được mấy ngày. Nghe vậy, thầy cụp mắt xuống, phẩy tay cho cậu em vào. Cả lớp cũng cụp mắt theo, nhìn vào vở.

Vậy thôi. Thầy vô tư, cả lớp cũng vô tư, nhưng cái thằng tôi thì không vô tư! Suốt cả buổi học tôi cứ ngẩn ngẩn ngơ ngơ, đến nỗi bị thầy giáo đến bên cạnh nhéo tai mấy cái đau thấu trời, mới chịu tỉnh ra.

Mấy ngày sau cũng vậy! Vở sách lem luốt, chữ viết như cua bò! Suýt chút nữa bị thầy đến nhà “mắng vốn”.

Hóa ra là tại cô nàng! Không phải vì cái giọng nói trọ trẹ, mà vì mái tóc nghiêng nghiêng và đôi mắt “buồn viễn xứ khôn khuây”! Vậy là mê gái đứt đuôi con nòng nọc rồi, nói cho văn vẻ là tương tư!

Trời ạ, chưa đến mười tuổi mà đã biết tương tư. Cái bệnh này còn đáng sợ hơn cả covid 19, vì theo khảo sát của các nhà khoa học, trong số hơn 15 triệu sinh linh trên trái đất bị con covid nó hành, chưa có sinh linh nào dưới 10 tuổi bị dương tính cả.

Nhưng mà, bệnh tương tư không do virus, nên cách trị cũng khác hẳn và dễ ợt. Chỉ cần cha tôi bắt nằm úp mặt xuống phản gõ, thẳng cánh đánh 5 roi quắn đít là khỏi bệnh ngay. Tiếc thay và cũng mừng thay, ông đi làm mã tà ở cõi âm nên tôi cứ thoải mái mà mang cái bệnh ngọt ngào đó tới lúc học cấp hai.

Cũng một mái tóc nghiêng nghiêng và giọng nói trọ trẹ, nhưng không phải của học trò mà là của cô giáo, (thế mới bỏ mẹ!) Cô ấy vừa mới ra trường, lại đang fall in love một thầy giáo cùng trường, nên “mắt cô ướt và tóc cô mềm như mây mùa đông”.

Là gái Huế, vừa đoan trang (giả bộ) lại vừa diện ngầm với áo tím than và khăn quàng trắng, trông cô thướt tha yểu điệu làm sao, nên cái thằng oắt con là tôi, chết một cửa tứ, bị cô hớp mất hồn. Cha tôi dẫu có sống lại cũng khó mà chữa khỏi bệnh. (vì tôi dại gì mà khai báo, trường cũng đâu biết mà cách ly bằng cách đuổi học).

Bệnh cứ âm ỉ bên trong khiến tôi cứ mơ mơ màng màng, ngồi trong lớp mà cứ tưởng đang bay lơ lửng giữa trời cao, rồi lại nhẹ nhàng rơi xuống như lá mùa thu. Mới lỏm bỏm tiếng Anh, nhưng tôi bỗng hiểu thế nào là fall in love và thầm phục người Anh đặt tên đúng chóc!

Thế rồi, một hôm bỗng dưng cô vào lớp với mái tóc phi dê xoăn tít như râu bắp, chắc là sắp lấy chồng. Ôi chao, trời sập cũng không làm tôi kinh hãi bằng.

Trước, cô thanh cao đài các bao nhiêu, giờ cô nặng nề trần tục bấy nhiêu!

Trước, mắt cô ướt, tóc cô mềm, giờ mắt cô khô tóc cô gãy!

Tôi buồn hắt buồn hiu, không phải vì cô sắp lấy chồng, mà vì từ đây lớp học không còn ấm áp như bếp lửa chiều đông nữa!

Nhưng may quá, cũng từ đó tôi khỏi bệnh!

Thời của tôi là vậy đó, mấy anh chàng mê gái trông là biết liền. Cứ xem cái cách anh ta đi lờ đờ, điên không ra điên khùng không ra khùng, lục trong túi chẳng có một đồng xu teng, mà chiều nào cũng đi bát phố (giờ là shopping), cứ đi tới đi lui, đi lên đi xuống, mỏi chưn thì vào hàng sách, giả bộ coi quyển này lật quyển kia,  chỉ để chờ một tà áo, một mái tóc, rồi xớ rớ đứng gần người sắp gieo mầm bệnh, là đủ sướng đến tê cả người!

Phải nói, thằng con trai nào mới lớn cũng đều mắc bệnh mê gái cả, không mê là coi chừng pê đê, tệ hơn nữa bị gọi là cù lần. Bệnh này không quý phái sang chảnh như bệnh tim, nhưng vẫn  rất đáng được một lần trong đời thử mang bệnh, cho ai đó nổi ghen tức chơi

Nổi danh mê gái (già), mê đến nỗi phát điên phát khùng là thi sĩ Bùi Giáng. Nào Marilyn Monroe, nào mẫu thân Kim Cương, mẫu thân Phùng Khánh. Gọi mẫu thân kính cẩn đề huề, vì các nàng đẹp thì có đẹp, nhưng chắc không hiền, láng cháng coi chừng bị oánh cho bầm mặt. Nhưng khi chỉ một mình, thì ông gọi “em ơi, em đẹp vô cùng/ vì em có cái lạ lùng bên trong”. Cái gì lạ lùng bên trong đó chỉ có ông hiểu và Trời hiểu mà thôi. (vậy nên nói nhỏ, ông khôn bỏ mẹ, điên gì mà điên).

Một thi sĩ mê gái rất mực thanh tao, là Hoàng Trúc Ly, làm thơ rất ít nhưng lại được nhiều người biết tiếng. Có thể ông mê nhiều nường, nên chẳng dại gì mà gọi tên nường nào, chỉ biết rằng nhờ mê gái mà ông để lại cho đời những câu thơ tuyệt hay. Như:

Tôi đứng bên này bờ dĩ vãng/ Trông về con nước ngại ngùng xuôi/ Những người con gái bên kia ấy/ Ai biết chiều nay có nhớ tôi?!

Hay là: Ô hay con gái bay nhiều quá/ Những cánh tay mềm như cánh chim.

Tiếc rằng, anh đau gan, anh yếu phổi, đi lớ ngớ bị xe tông, bỏ lại mẹ già không ai cõng!

Lại một chàng trẻ ranh, nhờ mê gái mà nổi danh thi sĩ, là Nguyễn Tất Nhiên. Mới học đệ tam (lớp 10) mà đã yêu điên yêu dại cô bạn gái cùng lớp. Thơ chàng, được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc, trở thành những bài tình ca bất hủ.

Cái bệnh mê gái của chàng, mê đến chết, nên có thể gọi chàng là Trương Chi thời hiện đại, còn Mỵ Nương là người con gái tên Duyên.

Bệnh mê gái cũng đâu có tha những nhà sư chưa thoát tục. Như Phạm Thiên Thư, dù khoác áo nâu sồng, vẫn cứ mê mải theo chân Ngọ về rồi làm thơ ướt át suốt cả đêm, tu mà như thế đến Phật Thích Ca cũng phải chịu thua.

Các nhạc sĩ thì khỏi phải nói, mê gái có từ trong máu, không mê gái thì không cách gì làm ra nhạc được. Nhạc đây là nhạc tình. Trịnh Công Sơn mê Diễm viết Diễm xưa, mê Thanh Thúy viết Ướt mi,…Vũ Thành An mê đến mấy chục nường, biết gọi tên ai, thôi thì không gọi tên cho chắc ăn, Không tên số một, Không tên số hai… đến Không tên cuối cùng! Nhờ thế, các nường “bỏ anh em đi” đều lẩm nhẩm hát thầm, trong khi đức ông chồng nằm bên cạnh cứ ngáy khò khò, chẳng biết trời trăng gì ráo!

Nhà văn đương nhiên lại càng mê gái hơn. Như Đoàn Thế Nhơn mê cô vợ tên Viễn Phố, bèn lấy bút hiệu là Võ Phiến. Rồi Mai Thảo yêu tiếng hát và người hátThái Thanh, chung tình đến nỗi đến chết vẫn chỉ yêu một người có “tiếng hát vượt thời gian” mà thôi.

Nhưng mê gái như Kiệt Tấn thì đến cả tổ sư G.Marquez ở Nam Mỹ cũng phải gọi bằng ngài, tức Don Kiệt! Cứ thấy gái là mê, tôi mê gái thì học dở còn ngài càng mê càng học giỏi, thế mới lạ. Từ gái quê bồng em, bán nước mía, đến gái phố thị đài các kiêu sa, từ gái nhà lành đến gái đĩ, từ gái ta đến gái tây, từ gái viết sai chính tả tùm lum đến gái thuộc thơ J. Prévert, từ gái không điên đến gái điên…, ngài mê tuốt. Không cần biết xấu đẹp sang giàu, có gái là mê, không mê chết sướng hơn!

Còn nửa nhân loại kia thì sao? Gái có mê trai không? Có đấy! Mà mê bạo hơn, điên dại hơn, ngu muội hơn. Mê nghiêng mê ngửa, mê đứng mê ngồi, mê như bị bỏ bùa.

Một nàng Thôi Oanh Oanh cha chết chưa chôn còn để nằm trong hòm, mà mê Trương Quân Thụy ở Mái Tây đến nỗi dám sai nữ tỳ mang cả chăn chiếu sang chung chăn với chàng. Ngày xưa mà như thế, phải nói là gan cùng mình! Mê đến thế không còn gọi là dại trai nữa,  mà phải nói là chết vì trai!

Lại thêm một gái góa tên Trác văn Quân, chưa hết tang chồng cũng đã bỏ nhà theo trai vì mê tiếng đàn của Tư mã Tương Như!

Nổi đình nổi đám nhất là Vương Thúy Kiều,

vừa mới gặp Kim Trọng mà “tình trong như đã”, nên tuy kín cổng cao tường vẫn lén dòm sang bên kia nhà, rồi đó ra vườn dạo chơi, giả bộ đánh rơi chiếc trâm cài tóc trên cây!

(sao lại rơi trên cây mà không rơi trên cỏ, ấy là để chàng Kim dễ nhìn thấy, có cớ mà làm quen! Vẽ đường cho hươu chạy còn oan nỗi gì!).

Mới quen buổi sáng bên hàng dậu, mà  buổi tối  đã “băng lối vườn khuya một mình”, thì chỉ thua mỗi Thôi Oanh Oanh là không dám mang chăn gối theo mà thôi!

Đó là chuyện mê trai của các người đẹp xưa, còn chuyện mê trai của các người đẹp nay, thì dẫu có cho kẹo tôi cũng không dám nói, vì sợ bà chủ tịch Gia hội và “nhóm lợi ích” của bà!

Chỉ có điều, trộm nghĩ (tức là nói trộm đờn ông mí nhau ) rằng, thì là, xem ra, mê gái hay dại gái, nửa đám nhân loại “vinh dự có tôi đi hàng đầu”kia, cũng chỉ làm đẹp cho dời, chứ có làm chết thằng tây đen nào đâu.

Nào thơ hay như Hoàng Trúc Ly, nào nhạc mê đắm bao thế hệ như Phạm Duy, Trịnh Công Sơn… nào tranh của L. Da Vinci với nụ cười bất tuyệt của La gioconda … chứ mê trai hay dại trai thì sao nào, dù không hại đời cũng hại nhà, như Thôi Oanh Oanh, Trác Văn Quân, bằng không thì hại mình như Thúy Kiều! Mười lăm năm mà sao không tan tác khi phải “thanh lâu hai lượt thanh y hai lần”, nên các cụ xưa cấm con gái xem Thúy Vân Thúy Kiều, cũng đâu có sai!

Sau chữ “mê” còn dài đến cả cây số. Như mê bài bạc, mê đánh số đề, mê xóc đĩa, mê xì phé, mê xì ke, mê mua sắm, mê nhà lầu xe hơi, mê địa vị chức tước, mê quyền lực, mê võ thuật, mê bóng đá, mê chơi games,…còn nhiều thứ mê lắm.

Thôi thì mê gì cũng được, ít nhiều trong mê đều có ngu, có dại, nhưng mê cọng sản thì đáng đem bắn bỏ chứ không “cải tạo” gì được, vì đó là cái mê ngu nhất, dại nhất, chẳng những hại riêng một người, mà còn hại đến nhiều người, chẳng những không lợi nhà mà còn hại nước, phải không phe ta, hả ngài Don Kiệt?!

Khuất Đẩu

Tháng bảy, mùa ôn dịch

*Đã hết gân rồi còn tái giá là vế một câu đối của bà hàng phở nạ dòng. Tức là hết phở gân rồi chỉ còn phở tái và giá sống thôi. Được một ông sồn sồn đối lại nhưng không chỉnh: thì đem xíu quách nhậu cùng anh.

Comment

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s