XIN LỖI,

tonnuthudung

Xin về tạ lỗi cùng trăng.
Một mi ngoan
một môi gần
thế thôi.
Xưa làm mây dạt cuối trời.
Lỡ nghiêng xuống
nhận
…một lời đong đưa.
Xin về tạ lỗi cùng mưa.
Hiên người lạnh quá
gió lùa thênh thang.
Xin về tạ lỗi
…đa đoan.
Đưa nhau nghìn dặm…
trần gian
mịt mù…
Xin về  tạ lỗi mùa thu.
Chiếc xương lá mục còn ru tình buồn…

Tôn Nữ Thu Dung

BUỔI SÁNG ĐÀ LẠT 1

dungkqd

Giấc mơ chưa kịp bay đi
Màn sương nhón chân níu lại
Nắng chạm vào em thủy tinh
Mặt trời hình như ái ngại.

Con ngựa ăn cỏ trên đồi
Thời gian dừng chân đứng đợi
Con chuồn chuồn nhỏ ngủ quên
Trên cành thông khô năm ngoái.

Gió là một lượt ngàn thông
Giọt sương vỡ trên lá biếc
Đà Lạt choàng chiếc khăn voan
Hoa dại cài trên áo cưới.

Những đóa hoa quỳ tàn vội
Nhường bước cho mặt trời lên
Núi đồi vẫn cứ ngủ yên
Kéo cho dài giấc mộng đẹp.

DŨNG KQD
Đà Lạt 1988

NGƯỜI ĐỐT SÁCH

tranthitrucha

Thuyên cố leo lên các bậc cấp ở tháp canh thứ năm của Vạn Lý Trường Thành, trời se lạnh nhưng mồ hôi cô túa ra như tắm. Những người đi cùng tour với Thuyên đã dừng lại ở tháp canh thứ ba và đi xuống, chỉ còn lại anh hướng dẫn viên, Thuyên và một ông lão. Ông lão vừa đi vừa tâm sự với Thuyên :
“Bất đáo trường thành phi hảo hán, con à! Ông phải đi để biết sức mình tới đâu. Con là con gái mà cũng giỏi nhỉ?”
“Dạ, con cũng nghĩ như ông, phải ráng đi cho biết.”
Ông lão cười khà khà:
“Ông già vậy chứ chưa bao giờ đau ốm con à. Mỗi bữa ông ăn ba bát cơm đầy, ngủ một giấc đến sáng rồi ra đồng. Cả đời ông chưa đi đâu xa, đây là lần đầu, cũng nhờ thằng con làm ăn khấm khá cho ông được đi.”
Lên tới tháp, hai ông cháu không còn sức để nói nữa, chỉ nhìn nhau thở dốc và cười ngầm ý như muốn đầu hàng. Xuống tới mặt đất, mọi người đang đứng chờ, những người bạn của Thuyên cười toe toét:
“Thuyên cố trèo lên cho cao mà thua bọn này, bọn này đã có huy chương công nhận là anh hùng chinh phục Vạn Lý Trường Thành nè.”
Cô bạn của Thuyên đưa ra chiếc mề đay nhỏ xíu kèm theo giấy chứng nhận bằng chữ Trung Quốc, rồi cả bọn rũ ra cười trước con mắt ngơ ngác của Thuyên và ông lão nông dân:
“Muốn có huy chương chứng nhận là anh hùng chinh phục Vạn Lí Trường Thành phải tốn hai trăm tệ đó bạn ạ, thích thì lại đằng kia mà mua về loè thiên hạ.”
Ông lão lắc đầu ngầy ngậy:
“Ông cháu ta không cần con ạ, đừng để nó lừa lấy tiền của mình…”
“Dạ, con cũng nghĩ như ông. Dù sao đi nữa ông cháu ta vẫn là người chinh phục được Vạn Lí Trường Thành cao nhất trong đoàn này ông ha?”
Ông lão cười khà khà, thật sảng khoái. Mọi người chuẩn bị lên xe để đi đến địa điểm mới. Bỗng chuông điện thoại của Thuyên rung lên, tiếng anh Hàn như nghẹn lại:
“Thuyên ơi! Đăng mất rồi!… Em đang ở đâu?”
Tự dưng Thuyên không thấy buồn mà thấy thật chán nản. Cảm xúc đau buồn của mình đã chai cứng rồi sao? Mình nhẫn tâm vậy sao?! Anh Đăng có phải là người thân của mình không?!…Con người ấy đã gắn bó với mình cả một thời thơ ấu nghèo khổ, vậy mà giờ đây đã trở thành xa lạ với mình đến vậy. Kí ức chông chênh, hụt hẫng lại trở về với Thuyên.

Ngày đó, bom đạn chiến tranh đã tàn phá khốc liệt quê hương Thuyên. Chẳng có đêm nào anh em Thuyên được trọn vẹn một giấc ngủ. Mỗi đêm khi chìm trong giấc mơ ngọt ngào cũng lúc ba me Thuyên đánh thức mấy anh em và đưa xuống hầm ẩn nấp. Sáng thức dậy mắt vẫn cay xè vì giấc ngủ không tròn. Sân trường im vắng, thầy cô không đến, vài đứa học trò chân đất ngồi trong hiên trường dõi mắt ngóng trông, tiếng chiêm chiếp của bầy chim sẻ rời rạc, u buồn.

Cuối cùng, ba me đành mua một ngôi nhà nhỏ ở thị xã cho anh em Thuyên ra đó ăn ở học hành, còn ba me vẫn ở lại quê. Anh Hàn là con trai lớn trở thành quyền huynh thế phụ. Tất cả em út răm rắp nghe lệnh anh như lệnh lính. Công việc bếp núc có người dì bà con xa với me lo.
Mỗi tuần, cứ chiều thứ bảy ba lại chở me trên chiếc xe Honda dame 50 ra thành phố thăm con với lương thực và tiền bạc.
Anh em Thuyên đã có đôi mắt biết đợi chờ, mong ngóng từ ngày đó. Ánh mắt ấm áp của cha, bàn tay dịu dàng của mẹ và những món quà đơn sơ như bát đường đen, đậu đỏ, con gà , con vịt, trái bí , bó rau… được ba me thu hoạch được từ ngôi vườn cũ quê nhà là nỗi khao khát của anh em Thuyên.

Vậy mà anh Hàn lại dắt về hai anh em người bạn, cùng ăn, cùng ở với anh em Thuyên trong những ngày thiếu thốn đó. Anh Hàn chỉ giải thích với ba me: “Đăng học cùng lớp với con, nhà Đăng ở xóm nhà chồ ngoài biển, đã bị bão lũ cuốn sạch. Ba me Đăng đã về lại quê. Hai anh em Đăng không thể bỏ học dở chừng…”. Me chép miệng lắc đầu: “Anh em con đã đông rồi, ba me lại không thể ở gần các con…Thôi thì khéo ăn no, khéo co ấm, biết làm sao bây giờ…”

Tuổi thơ của anh em Thuyên là những chiều buồn thức dậy sau giấc ngủ trưa, them thuồng những món quà vặt mà trẻ con hàng xóm chán chê. Sự thiếu thốn làm những đứa em trai của Thuyên ủ rũ trong góc nhà, ít cười ít nói.
Mấy anh em chỉ còn tìm kiếm niềm vui trong những cuốn sách. Thói quen đọc sách đến đam mê này được thừa hưởng từ ba. Tủ sách khổng lồ của ba được chuyển từ vùng quê bom đạn về ngôi nhà nhỏ ở thành phố. Ba đọc sách và giữ sách rất kĩ. Ông luôn uốn nắn con cái từ tư thế ngồi đọc, cách đọc đến cách chọn sách để đọc… Riêng những cuốn sách tiếng Pháp ố vàng được ông giữ gìn cẩn thận là anh em Thuyên không được đụng đến (đụng đến cũng thua vì đứa nào cũng dốt đặc tiếng Pháp, trong khi ba nói tiếng Pháp như…Tây). Trong khi mấy anh trai ngày đêm nghiền ngẫm Tam Quốc Chí, Thuỷ Hử thì Thuyên thì đắm mình trong sách Tự Lực Văn Đoàn với những Khái Hưng, Nhất Linh… Quà sáng ít ỏi được anh em Thuyên chắt chiu dành dụm để mua sách. Hạnh phúc nhất là lúc chờ đợi ở nhà sách vào những ngày cuối tuần, giữa tháng, cuối tháng để cầm trên tay tờ tuần báo hoặc bán nguyệt san còn thơm nồng mùi giấy mực in. Hình vẽ của ViVi, Đinh Tiến Luyện… rạng ngời ở trang bìa làm Thuyên nhìn như bị thôi miên. Thuyên sống trong thế giới lung linh của thơ văn và bắt đầu mơ mộng, tập sáng tác… Thế giới của sách đã giúp anh em Thuyên quên đi những thiếu thốn cuộc sống tình cảm và vật chất, giúp Thuyên vơi đi nỗi buồn nhớ quê nhà, làm nên tiếng cười rúc rich của bầy em khi chúi mũi vào các tập truyện tranh Thạch Bích Sơn, Tintin, Chú Thoòng.

Trước ngày kết thúc chiến tranh, anh Đăng biệt tích.
Cái xóm nhỏ của Thuyên đã hoàn toàn thay đổi, những người giàu có chức quyền bỏ nhà cửa, tài sản chạy và trở về với mất mát buồn phiền, những người nghèo khó ở lại thì bỗng dưng giàu có, hớn hở… Cuộc đời đã thay đổi… nhưng trong ngôi nhà của Thuyên vẫn thế… vẫn u buồn, cô độc và thiếu vắng…
Và chuyện buồn hơn là người chồng của dì từ Bắc trở về sau hai mươi năm xa cách. Ngày đầu tiên khi ông xuất hiện với bộ đồ bộ đội bạc màu, chiếc ba lô xộc xệch thảm hại, nước da xanh tái, không một chút oai hùng của người chiến thắng, dì khóc nức nở… Đêm đó, đứa em trai áp út (vốn được dì cưng chiều nhất và thường ngủ với dì như mẹ) khóc vì không có dì bên cạnh. Nó nhìn gườm gườm ông ấy như nhìn kẻ thù.
Ông ấy với dì một tháng rồi ra Bắc. Đứa em trai của Thuyên thở ra nhẹ nhõm…Tội nghiệp nó, ba tháng sau ông ấy trở lại, không phải một mình mà với một bầu đoàn thê tử. Một cô vợ trẻ măng như con gái ông ấy và bốn đứa con lóc nhóc, ba trai một gái… Nhà Thuyên chật ních người, ba đứa con trai chen nhau ngủ với anh em Thuyên, còn cô vợ trẻ và cô con gái ở chung trong căn phòng nhỏ của Thuyên. Cô ta không ngủ, cứ ngồi bên bàn học của Thuyên và khóc suốt đêm. Lần đầu tiên Thuyên cảm nhận về nỗi đau của người đàn bà lâm vào cảnh lấy chồng chung. Không khí trong nhà như ngạt thở. Có hai người mắt lúc nào cũng đỏ hoe là em trai của Thuyên và cô vợ trẻ. Rồi bầu đoàn thê tử kéo nhau đi, kéo luôn cả dì…
Dì rất khó tính thường hay bắt ne bắt nẹt Thuyên vì tội không chịu phụ với dì trong việc bếp núc, vậy mà ngày cuối cùng dì cầm tay Thuyên khóc: “Dì đi rồi, Thuyên đi học về chịu khó cơm nước cho mấy anh em, Thuyên sẽ vất vả đó! Nhưng con gái lớn rồi phải quán xuyến việc nhà nghe con!”
Đứa em trai của Thuyên khóc ri rỉ bỏ ăn bỏ uống gầy rộc người.

Vậy là hết những buổi chiều mơ màng với sách, bài vở chồng chất, cơm phải nấu, nhà phải quét, chén bát phải rửa, áo quần phải giặt… Lúc đó Thuyên mới thấy nhớ và thương dì. Anh em trai Thuyên chẳng ai giúp được gì cho Thuyên, chỉ có người em trai của anh Đăng phụ giúp với Thuyên công việc nhà, chẳng những thế hắn còn giúp Thuyên làm bài, vẽ bản đồ địa lí, giải những bài toán khó… Hắn học hơn Thuyên hai lớp, học không giỏi nhưng chịu khó. Những quyển sách cũ của Thuyên hắn tỉ mỉ ngồi đóng gáy lại rất đẹp. những bộ tập san Tuổi Hoa, Tuổi Ngọc, Thằng Bờm… hắn ngồi xếp lại theo số thứ tự và đóng thành bộ.
Thuyên bắt đầu vào tuổi dậy thì con gái, những buổi trưa ngủ dậy, má tự nhiên ửng hồng, môi mọng đỏ và mắt trong veo… bọn con trai liệng thư vào sân nhà như lá rơi, sợ anh trai la mắng Thuyên nên sáng nào hắn cũng dậy sớm nhặt vội vàng đem vào cho Thuyên. Hắn trung thành và tận tuỵ, Thuyên nhờ gì cũng làm tới nơi tới chốn. Thấy Thuyên cười là mặt hắn rạng ngời.
Một ngày chủ nhật, Thuyên về quê thăm ba me và xin tiền, lương thực cho tuần tới. Ba me bận nên đã hai tuần không ra thăm con cái, nhà hết veo gạo và tiền chợ. Thời đó, từ thị xã về quê có hai chục cây số mà đi rất vất vả, Thuyên phải đi bộ gần năm cây số ra bến xe, chen lấn để trèo lên được chiếc xe lam hoặc xe buýt. Tuy vậy, niềm vui được trở lại quê nhà làm tan biến bao nhiêu nhọc nhằn. Rồi chuyến trở về thị xã thì càng nhọc nhằn hơn với gạo khoai sắn rau bí lỉnh kỉnh cộng thêm tâm trạng buồn bã tiếc nuối khi rời xa ba me.
Khi Thuyên về đến nhà, trời đã nhá nhem. Trong bóng tối của hoàng hôn, Thuyên nhìn thấy hắn đang ngồi gục mặt bên hiên nhà với những bao tải đầy giấy vụn. Hắn nhìn Thuyên với đôi mắt sợ hãi:
“Thuyên ơi, anh Đăng…”
Thuyên xáo tung những bao tải đựng cả một tủ sách được gia đình tích góp từ lâu đời giờ đã tan nát thành giấy vụn, rồi oà khóc tức tưởi. Hắn ngồi im như thóc nhìn Thuyên, khổ sở như chính hắn là người gây ra.
“Thuyên à, anh Đăng nói đây là văn hoá đồi truỵ, phải đốt đi! Ngày mai ảnh sẽ đem đến cho Thuyên những quyển sách có nội dung lành mạnh, trong sáng.”
Thuyên không kìm lòng được nữa, hét lên:
“Anh em nhà ông biến hết đi, tôi không cần nữa gì hết! ”
Những ngày sau đó thật buồn, Thuyên lặng lẽ làm công việc nhà sau giờ những giờ đi học về. Em trai Đăng len lén nhìn Thuyên với đôi mắt buồn rầu e ngại.
Rồi một ngày hắn bỏ hết sách vở , áo quần vào ba lô dọn đến ở nhờ nhà một người bạn chờ kết quả thi đại học.

Nhưng ngôi nhà của anh em Thuyên vẫn là nơi hò hẹn của Đăng và cô bạn gái, con của một ông tướng, từ Hà Nội vào. Cô gái đó có đôi mắt to trô trố và giọng nói lảnh lót như sáo, chưa bước tới ngõ đã nghe tiếng cười. Họ hẹn hò, trò chuyện, tự tình trong ngôi nhà chỉ toàn trẻ con rất thoả mái tự nhiên như nhà của họ. Không những thế thỉnh thoảng cô gái ấy còn dắt về một nhóm bạn gái có giọng nói ríu rít y chang cô ta, rồi gán ghép một cô trong nhóm ấy cho anh trai của Thuyên. Ông anh Thuyên từ nhỏ học trong ngôi trường chỉ toàn con trai, con gái chỉ thấy từ xa, lỡ thích một bóng dáng áo dài trắng nào ở trường nữ, chỉ biết lặng lẽ lẽo đẽo theo saunhững buổi tan trường mà chẳng dám nói một lời. Bây giờ lại có một cô gái dạn dĩ bên cạnh, anh trai Thuyên như trúng mũi tên của nàng bắn ra rất nhanh, nàng gia nhập vào cuộc sống của gia đình như một thành viên chính thức…
Nhưng rồi một ngày nàng cuốn tất cả những bộ áo quần còn mới của Thuyên và tiền chợ một tháng của mấy anh em cất trong tủ nhỏ và biến mất…Thuyên lại thêm một lần khóc tức tưởi. Đứa con gái nào lớn lên trong thời buổi khó khăn, áo quần, vải vóc thật khan hiếm thì mới hiểu được tâm trạng Thuyên lúc đó. Rồi tiền chợ cho cả một tháng của mấy anh em biết giải quyết làm sao?! Anh trai của Thuyên buồn bã an ủi: “Thôi em, đừng tiếc làm gì, quên cô ấy đi!”

Cuộc sống trôi qua thật nhanh trong khốn khó!
Anh em Thuyên cũng lần lượt lập gia đình và rời xa ngôi nhà của thời thơ ấu.
Nhưng đã thành thói quen cứ chiều 30 tết là tự tìm về ngôi nhà để quây quần bên nhau. Không biết có điều gì níu kéo mà lúc nào có mặt Đăng, dù bây giờ anh ấy đã thành nhân vật quan trọng có chức quyền.
Bao giờ Thuyên cũng cố ý ngồi ở góc khuất và tránh mặt Đăng.
Có lần Đăng cầm ly rượu đến bên Thuyên cười nói :
“Anh mời Thuyên để anh em mình xoá bỏ giận hờn cũ.”
Thuyên lạnh lùng:
“Tôi không có gì để giận hờn với anh.”
“Thôi bỏ qua chuyện cũ đi em, Nga Mỹ còn bắt tay nhau, vậy mà anh em mình cứ chiến tranh hoài.”
“Tôi đã cố quên nhưng không quên được. Điều duy nhất mà tôi nhớ là trên thế giới này có hai kẻ đốt sách, đó là Tần Thuỷ Hoàng và anh!”
Đăng tái mặt , lặng lẽ đi ra hiên nhà ngồi hút thuốc.
Kể từ đó không bao giờ anh quay về ngôi nhà của anh em Thuyên.
Thuyên được biết qua bạn bè, anh được đề bạt một chức vụ cao trong nghành thông tin văn hoá ở Sài Gòn và đưa vợ con vào đó sinh sống.

Buổi trưa im vắng bên đồi cỏ khô cháy, trời xanh đến nhói buốt, một đàn bò gầy gò gặm ngon lành từng vạt nắng, Thuyên và hắn lặng ngồi bên nấm mộ của Đăng mới đắp còn nồng mùi hương khói. Giọng hắn buồn buồn kể lể:
“Anh Đăng đã nhờ anh đưa đi chợ sách cũ để tìm lại những quyển sách ngày xưa anh ấy đốt của Thuyên, chưa thực hiện được điều đó thì anh mất, mỗi lần nhắc đến Thuyên anh ấy buồn và ân hận lắm, Thuyên à!”
Mắt Thuyên cay xè
“Sao anh ấy mất đột ngột vậy?”
“Anh ấy chẳng sung sướng gì đâu, tự vẽ bùa cho mình đeo và chiếc bùa ấy đã thành nỗi bi kịch cho chính anh.”
“Vì sao? Anh ấy cưới được cô gái anh ấy yêu và có địa vị, giàu sang kia mà?”
“Cô ấy và lý tưởng mà anh ấy theo đuổi là nỗi đau khổ dằn vặt anh ấy cho đến phút cuối cùng. Cô ấy và những người bạn hành hạ anh ấy đến điêu đứng vì thói học làm sang, đua đòi rượu ngoại, nhà hàng, vũ trường… Anh ấy không phải chìu một cô vợ mà chìu luôn năm cô như vậy, nếu không về nhà khó mà sống yên. Ngày cuối cùng anh Đăng đi công tác xa, cô ấy cũng giận dỗi làm mình làm mẩy. Trên đường đi anh ấy ngạt thở vì suy tim, tài xế đưa vào một bệnh xá địa phương gần nhất và gọi điện cho cô ấy bằng máy của anh Đăng, cô ấy giận dỗi không thèm bắt máy. Anh ấy tái tím và tắt thở ngay ở đó không kịp cứu chữa, tài xế phải gọi cho con trai anh ấy. Khi con trai khóc: “Mẹ ơi , ba mất rồi!” . Cô ấy vẫn tưởng anh doạ nên hét lên: “Ba mày làm sao mà chết được, ổng phải sống mà trả nợ cho tao!”

Thuyên bật khóc.
Nước mắt thật nhiệm mầu, nó cuốn trôi tất cả giận hờn, oán trách.
Thế hệ chúng ta đã sinh ra trong một thời điểm đáng thương nên trái tim chúng ta có quá nhiều mảnh vá, phải chăng vì vậy mà chúng ta biết bao dung trong đau đớn?!…

Trần thị Trúc Hạ

Tiền kiếp.

168807_100929973382920_1708358960_n

Ta không biết có bao nhiêu tiền kiếp
Mà đêm đêm gặp mãi những người xưa.
Thật chẳng hiểu hình hài đà chuyển tiếp.
Sao duyên xưa bóng cũ vẫn chưa rời?

Những người xưa xiêm y là óng mượt
Ôm tỳ-bà, tay vuốt phím tơ ngông.
Thơ ý trải một dòng tình não nuột.
Trăng sao êm đứng lặng giữa trời nồng.

Gió trong ta
Sấm trong ta.
Nợ trần ai dễ gì ai thoát khỏi.
Tầng mây chảy,
Suối tình không gốc ngọn.
Thác là khói.
Sương là sông.
Mỹ nhân chập chờn hơi thở sóng!
Bụi trần không là tội lỗi.
Tinh khiết không là thánh thần.
Ta đi lơ lửng
Chẳng xác thân.
Một nửa mảnh linh hồn
Cùng con tim nóng hổi,
Trong cõi trần tục lạnh lùng.

Hằng vài mươi thế kỷ
Trời đất chỉ mình ta!
Bước chân đi ngàn vàng không giữ nổi.
Tình vương phi,
Ly rượu chuốt giải sầu.
Trướng gấm, phòng the
Màn lụa rủ.
Phong kín hương xuân…
Tiếng ai bước quay về ru ta ngủ.

Núi Việt, đất Ngô
Trời Tần, biển Hán.
Vạn quốc đều là bạn
Nam-Man, Tây-Di cùng vỗ bụng vui cười.

Một thanh kiếm dưới trăng,
Một bầu rượu trên hồ.
Một kỳ nữ bên suối.
Một dòng thơ như rồng cuốn lưng trời.
Tiếng khúc khích đùa vui bầy tiên nữ
Tiếng sạt xào quận chúa thoát xiêm y.
Dòng thơ trắng khuyên vành môi thắm đỏ.
Nhịp phách giòn ôm gọn bước lưu ly.
Những ngày xưa Ta có là Phạm-Lãi
Cùng Tây-Thi lướt sóng dạt buồm xanh?
Có lẽ nào Ta đã là Khắc-Chung phá ải,
Cứu Huyền-Trân Công chúa khỏi Chiêm-Thành?
Cũng có thể Ta đã là kẻ cuồng ngông Phạm-Thái
Yêu Quỳnh-Như trên sóng rượu ngang tàng.
Những cung phi Tấn, Tần, Hán, Sở
Những mỹ nhân Ðinh, Lý, Lê, Trần.
Những tao nhân mặc khách Minh, Ðường.
Chẳng hò hẹn, lại cùng Ta hội ngộ!

Ta, lãng tử
Ngàn năm chưa có một,
Ôm u hoài lưu luyến những người xưa.
Những vóc dáng,
Bóng hình,
Những nụ cười,
Hơi thở.
Vẫn quanh đây
Trong máu nóng tình đầy.
Xiêm y rủ,
Rộn ràng trong cốc rượu.
Thịt da tê,
Ðầu lưỡi ngát men xuân.

Trong tiền kiếp
Gặp nhau đà mấy bận?
Bây giờ nào còn nhớ
Ai trước ai sau!
Vạn năm rồi, ngàn đêm lẻ
Phút bên nhau…

Theo tiếng bước
Gót hài non nhỏ lệ.
Ta quay về.
Từ đó mãi xa nhau.

Lưu Trọng Tưởng

PHÚT TÌNH LẠNH CAO NGUYÊN

maiviet

Sao lại là Prenn mà không nơi nào khác
Để tôi đừng bâng khuâng cụm mây khói lưng đèo
Em nơi nào mà tiếng ve lạc mùa còn râm ran hàng phượng tím
Mang nỗi chạnh lòng tiếc nuối đi theo
Sáng nay hoa quỳ nở cho tôi quắt quay màu điên điển
Nắng phương Nam rót lụa áo em vàng
Điệu lý qua cầu ru sóng hoàng hôn nhịp nhàng mái chèo sông Hậu
Dắt lòng tôi theo con nước đến trăng tàn
*
Sau lại là Lang Bian mà không nơi nào khác
Để hồn tôi đừng rụng xuống tiếng thông buồn
Em về đâu bỏ mặc cành mimosa thầm đợi
Con dốc hẹn hò – con dốc lạnh mềm sương
Mưa núi chiều nay có điều gì nhắc tôi về lại miền sông nước
Mùa cá lên bông nở trắng – hương tràm
Thương giọng hát miệt vườn tình tang tiếng đờn phím lõm
Câu vọng cổ buồn nấn níu cõi trời Nam
*
Sao lại là hồ Xuân Hương mà không nơi nào khác
Để tôi đừng ngồi soi đáy mắt tìm trông
Người đi rồi cốc cà phê chỉ còn mùi hương trong ký ức
Đà Lạt bốn mùa – như chỉ có mùa đông
Sương mù đêm nay thả trôi giấc mơ tôi về chợ huyện
Ở Cao Nguyên sao cứ nhớ Đồng Bằng
Cá lội biển Nam – chim bay trời Bắc
Nên tôi với cuộc tình còn mãi phía ly thân.

MAI VIỆT

Võ Phiến, một vài chung quanh.

 dangphuphong

Ông Võ Phiến  gọi Nguyễn Mộng Giác là một người “thàng”(hậu) (1). Ông Nguyễn Mộng Giác cũng gọi Võ Phiến là “thàng” (2). Và, hai ông định nghĩa thàng như sau:

Nguyễn Mộng Giác: “Thàng” không phải là hiền. “Thàng” là một chữ định hình, chứ không định tính. Người thàng, là người ít nói, tránh né những tranh chấp rắc rối, sẵn sàng chịu phần thua thiệt để giữ hoà khí, cố giữ bề ngoài đơn giản lùi xùi để không bị ai xem là kẻ quan trọng. Người thàng có thể hiền lành vì không dám làm việc dữ. Nhưng người thàng cũng có thể có những phản ứng bất ngờ dữ dội khi đột nhiên không thể chịu đựng được mãi sự thua thiệt. Người ta bảo người thàng hay cộc.” (Đặc san Tây sơn –Bình Định,1999)

Và Võ Phiến: “Thàng là chữ riêng của người Bình Định, và cũng là chữ riêng để mô tả người Bình Định. Thàng cũng nói là thàng hậu; thàng hậu nghiã gần như hiền hậu, nhưng còn đi xa hơn hiền hậu nữa kia, vì nó có khả năng mô tả, hiền hậu thì không. Hiền hậu, thực thà là một đức tình, một nết hay; thàng hậu còn là một vẻ người hiển hiện ra bên ngoài, trông rõ mồm một. Người thàng, thàng từ tiếng cười giọng nói, nét mặt, thàng đi. Mà người thàng thì trời ơi, trong trí nhớ của tôi, tôi mường tượng mọi người Bình Định đều thàng hết: anh Ba, chị Bốn, ông Bảy, bà Năm, cô Tư, cậu Tám vv… Hết thảy, không ai là không thàng. Muôn người như cùng một vẻ, một giọng.”(Võ Phiến viết tựa cho Cuốn Ngựa Nản Chân Bon của Nguyễn Mộng Giác.).

Chữ Thàng, trước hết, là chữ của người Bình Định, nếu tính vào thời điểm 2015 này thì “thàng” đã thành chữ cổ. Thuở thiếu thời (thập niên 1950) tôi thỉnh thoảng nghe song thân tôi dùng chữ “thàng” để nói về một người nào đó trong thôn xóm.  Tôi hiểu  lơ mơ “thàng” có nghĩa là hiền, là… thàng. Sau đó do việc di chuyển chỗ ở, tuy rằng chỉ ra tỉnh lỵ, tôi không còn nghe ai dùng chữ thàng nữa. Rồi chữ thàng biến mất trong mớ chữ nghĩa lơ tơ mơ của tôi. Cho đến khi tôi đọc Võ Phiến, Nguyễn Mộng Giác, nhất là thời gian ở hải ngoai, chữ thàng được hai ông định nghĩa  thật rốt ráo, đến cho dù không phải là người Bình Định cũng có thể hiểu rõ ràng “ thàng” và “người thàng “ là như thế nào. Và, chữ thàng cũng được giới văn học thường xử dụng  để chỉ 2 ông Nguyễn và Võ.

Ông Nguyễn thì thật sự là dòng họ Nguyễn.  Còn họ Võ của ông Võ Phiến thì không phải vậy. Ông, tên  khai sinh là Đoàn Thế Nhơn, vì yêu cái tài sắc, cảm cái tấm lòng đôn hậu của vợ ông là bà Võ Thị Viễn Phố, từ bút hiệu Đắc Lang ( Những đêm đông viết năm 1943 đăng trên báo Trung Bắc Chủ Nhật.) ông đã nói lái Viễn Phố thành Võ Phiến làm bút danh cho đến cuối đời. Tôi ngờ rằng khi nói lái ông Võ Phiến đã bị lợn cợn khi Viễn Phố lái ra sẽ thành Vỗ Phiến nghe nó không ra làm sao cả. May quá! Có cứu tinh đây rồi. Bà Viễn Phố họ Võ. Vậy thì  cứ việc thẳng tay ném đi cái mũ. Thành ra Võ, lại là họ của nàng cũng là họ của chàng.  Khéo thay chữ nghĩa! Hai người mãi mãi bên nhau và chỉ một. Dẫu rằng ông ăn cơm hoài cũng ngán nên cũng đi ăn đôi lần phở, chuyện ấy cũng chẳng sao, chẳng chết thằng Tây nào, mà ngược lại mối tình với Viễn Phố càng thêm bền vững. Tôi thật sự xúc động khi nhìn tấm hình ông bà mỗi người một bên đẩy chiếc senior walker cùng đi bách bộ. Keo- sơn- gắn- bó là đây.

Giới văn nghệ sĩ gọi thêm ông một cái tên “Ông già tinh quái”. Nhưng tại sao là “ông già”?. Chỉ khi ông già rồi mới viết văn “tinh quái” hay sao? Tôi e rằng không phải vậy. Chất “tinh quái” của Võ Phiến đã có từ lâu. Từ lâu lắm lận. Từ Người tù (1955), Dung (1956), Lỡ làng (1956), Anh em (1957), Thác đổ sau nhà, Lẽ sống (1958)…. Từ : Anh Bốn Thôi, chị Lộc, Ba Thê Đồng Thời,  ông Tú Từ Lâm, Hữu….

Lại một phen chữ nghĩa! Cái này phải tôn Võ Phiến là bậc thầy. Ông cứ nhẩn nha viết. Bắt người ta phải hút theo chữ nghĩa “ chẻ sợi tóc làm tư, làm tám” của ông. Lâu lâu, cắc cớ đưa ra những ý tưởng làm độc giả giật mình, phải đọc lại lần nữa, rồi giật mình lần nữa (không khỏi cười mỉm thích thú ):“ Cái ông này thâm thật, tài  thật”. Tinh quái, trước hết là tinh tế. Ông nhìn sự việc thật tinh tường qua ngòi bút điêu luyện, làm chủ vấn đề sự kiện. Điều này người đọc dễ dàng nhận ra ở những bài tạp bút, tùy bút của ông. Còn quái thì sao? Ông Võ Phiến có “quái” không? Thiệt là khó! Tôi xin nhón nhóm chữ: “suy đoán vu vơ” của ông dùng để khiêm tốn bày tỏ ý kiến của mình, Suy đoán vu vơ “quái” là không phải bình thường, là lạ, nhưng không phải là quái dị. Còn gì nữa nhỉ. Ờ, phải có cái hậu là vui, qua quá trình soi thấu sự uyên thâm. Như vậy” ông già tinh quái “ ở đây chỉ cho sự uyên bác, thâm trầm, hóm hỉnh lấy được sự kính nể từ nhiều người khác. Nếu cần thêm một chút mắm muối, tôi có thể mượn đoạn văn của Võ Phiến để cho ý của mình đậm nhạt: “Nghề viết văn loay hoay một cách …cảm động. Riêng người Việt lại còn mối cảm kích đối với cái ngôn ngữ của mình sử dụng… Hơn sáu mươi năm trước thường đọc lang thang, môt hôm tôi gặp bài “Đợi Thơ” của Hồ Dzếnh. Lời lời hoa mỹ, câu nào câu nấy chật ních những địa danh xa xôi, mơ hồ, mộng ảo, tôi mê tơi, “ngâm” đi “ngâm lại”:

(…) Tô Châu lớp lớp Phù kiều
Trăng đêm Dương Tử mây chiều Giang Nam
Rạc rời vó ngưa quá quan
Cờ treo ý cũ mây dàn mộng xưa
Biển chiều vang tiếng nhân ngư
Non xanh thao thiết trời thu rượi sầu
Nhớ thương bạc nửa mái đầu
Lòng vương quán khách nghe màu tà huân (…)”

Lời không hiểu mấy, ý không rõ mấy, nhưng mặc kệ: tôi thích, mê tơi. Tôi có chú ý đến mấy tiếng “non xanh thao thiết”. “Thao thiết” ám ảnh tôi. Xanh thao thiết là xanh cách nào? Không biết đích xác, nhưng tôi cho đó là một chữ  tài tình, đúng với màu núi “nọ”(?)…”. (Viết lách, trong Cuối Cùng, Võ Phiến)

Cũng từ đoạn văn trích trên nó điển hình cho cách Võ Phiến đã đưa ngôn ngữ nói thành ngôn ngữ viết thật tài tình. Không biết cơ man những “câu nào câu nấy chật ních”, “tôi mê tơi” nằm trong các tác phẩm của ông.

Lại nữa, Võ Phiến, cũng làm thơ lai rai. Một phần nhỏ nhưng không kém phần quan trọng trong sự nghiệp văn chương của ông. Cũng cái cách nhẩn nha, dùng những câu thơ như câu nói một cách tài tình, rồi “ Rụp, Rụp” (tên một bài tùy bút của Võ Phiến)  giáng một câu xanh dờn, đem cái ý buồn có, vui có, thản nhiên có, ngộ nghĩnh có, triết học có…. Xin giới thiệu bài thơ, không biết có phải là cuối cùng của đời ông hay không, nhưng nó nằm ở trang cuối cùng trong tập tạp bút tên là Cuối Cùng do Thế Kỷ 21 xuất bản năm 2009, nói về cái cuối cùng của kiếp người: “Trông lên chỉ gặp bầu trời là quen.

Mộc Mạc

Xưa từng có xóm có làng
Bà con cô bác họ hàng gần xa
Con trâu, con chó, con gà
Đàn cò, lũ sẻ, đều là cố tri.
Múa may mãi chẳng ra gì
Mỗi lâu thêm một cách ly rã rời.
Thân tàn đất lạ chơi vơi
Trông lên chỉ gặp bầu trời là quen.
Tôi là người Bình Định nên ưa ông cũng chỉ là chuyện thường. Tôi có chắc một điều  là người miền Bắc, miền Nam cũng rất yêu, thích ông. Tôi cũng chắc rằng nếu có người dịch toàn bộ tác phẩm ông ra tiếng nước ngoài, họ cũng sẽ thích ông . Giống như người Việt thích Stefan Zweig qua những bản dịch của ông.

Tôi không có ý định bước vào văn nghiệp của Võ Phiến. Chỉ một vài, thật ít, chung quanh ông. Mà thôi!

ĐẶNG PHÚ PHONG

 

PHÂN ƯU

12039515_1033513883335790_7396955425592080965_n

NHÀ XUẤT BẢN TƯƠNG TRI và TUONGTRI.COM thông báo:
Cô Nguyễn Thị Sương (Sương Nguyễn, Tố Chân), một tác giả của chúng tôi, một người thân của chúng tôi đã từ trần ngày thứ bảy 3/10/2015
-Thứ tư 7/10, 3 PM, lễ nhập quan và phát tang.
-Chủ Nhật 11/10, 1 PM, di quan và hỏa táng.
Thăm viếng từ thứ sáu tới thứ bảy (9am-9pm) Nhà Quàn Vĩnh Phước Winford 8514 Tybor Drive, (Gessner@S59), Houston, TX 77074.
Không nhận vòng hoa và phúng điếu.

(Các bạn có thể đọc những truyện ngắn khác làm đau nhói của tác giả SƯƠNG NGUYỄN tại https://tuongtri.com/
-Được phước
-Má tôi
-Nguyệt áo đỏ
-Những giọt mưa
-Đá xanh
-Phản hồi và liên tưởng
-Nước mắt chảy xuôi
-Chuyển nghiệp
-Cho thuê phòng v.v…)
TUONG TRI đau buồn vĩnh biệt chị.

Coi xong rồi bỏ

phamhoainhan

Xét rằng:
Các tin nhắn, message gởi qua điện thoại, máy tính đều được lưu trữ. Đây là một điều cực kỳ nguy hiểm. Bởi vì có lưu trữ nghĩa là có tồn tại. Có tồn tại nghĩa là có thể bị phát hiện. Bị phát hiện nghĩa là không còn riêng tư, bí mật.

Bà xã cầm điện thoại của mình, thấy trên đó có tin nhắn của bồ nhí: Bi kịch. Điện thoại bị chôm, đối thủ trong kinh doanh phát hiện những thông tin chiến lược của mình trên đó: Tai họa. Mấy thằng bạn mất dạy giả bộ mượn điện thoại của mình, lén đọc tin nhắn riêng tư trên đó rồi rêu rao tùm lum: Thô bỉ. Chưa kể thời buổi này bọn hacker đông hơn quân Nguyên, ai biết nó hack dữ liệu của mình lúc nào để… đòi tiền chuộc.

Nghe nói rằng:
Để giải quyết tình thế ấy, chàng nhóc Evan Spiegel bên Mỹ đã cho ra đời ứng dụng Snapchat, nhắn tin đọc xong xóa liền. Tan biến vào cõi hư vô, không lưu trên máy ta, không lưu trên máy bạn, cũng không giữ trên máy chủ.

Sáng kiến có vẻ như đi ngược về thời tiền sử này lại tỏ ra hay quá, khiến nhiều người khoái quá, tới nỗi nhóc Zuckerberg của Facebook đòi mua với giá 3 tỷ đô, nhưng nhóc Spiegel hông thèm bán.

Cũng nghe nói rằng:
Ở Việt Nam ta, Mobifone vừa noi gương Snapchat bên Mỹ, cho ra đời dịch vụ Safe Text. Nhắn tin xong, đọc xong là xóa luôn. Nghe đâu một số vị có bồ nhí đang rất quan tâm sử dụng.

Hai Ẩu nghiệm thấy rằng:
Cho dù là Safe Text hay Snapchat thì cũng không có gì chắc ăn. Nhà mạng cũng không tin được, có chắc là họ giữ bí mật thông tin cho mình không, hay là có ai yêu cầu thì họ xả cảng liền? Snapchat nói rằng nó xóa luôn tin nhắn trên máy chủ, nhưng ai biết rằng đó là nói thiệt hay nói xạo?

Tóm lại là nếu trao đổi thông tin qua trung gian một người thứ ba là không bảo đảm an toàn.

Cho nên Hai Ẩu có sáng kiến mới rằng:
Sáng kiến này an toàn hơn cả Snapchat, do đó dĩ nhiên là có giá trị hơn. Để biểu thị sự khiêm tốn của mình, Hai Ẩu sẽ bán đấu giá sáng kiến với giá khởi điểm rất bình dân: 1 tỷ USD thôi! (quá rẻ so với 3 tỷ đô mà Facebook đòi mua Snapchat!)

Sáng kiến đó là: Khi muốn trao đổi thông tin chi thì quăng phứt cái điện thoại đi, chỉ kề tai nói nhỏ thôi. Không thông qua trung gian nào hết, tuyệt đối giữ bí mật.

Hai Ẩu đã thử nghiệm sáng kiến như sau:
Hai Ẩu trao đổi thông tin với một người phụ nữ bằng phương pháp kề tai nói nhỏ. Sau đó còn tăng cường độ bảo mật bằng cách dặn dò: Đừng nói cho ai nghe!

Sau đó chẳng bao lâu, những điều Hai Ẩu nói được… cả làng biết! Sao kỳ vậy ta? Tính bảo mật đã được đặt cao đến mức tối đa rồi kia mà!

Đất trời lồng lộng, chẳng lẽ không có gì giữ bí mật được sao ta?

PHẠM HOÀI NHÂN

ĐÃ DẦN IM LẶNG 5

phuonguy

Đôi khi cầm níu sự an bài cũng là ảo tưởng, tự tại là khái niệm không thành thật khi ngày qua ngày trong mê sảng. mùa lá vỡ bên thềm khuya cũng không xóa tan được sự im lặng. em cũng chỉ đến nhẹ như cơn gió rồi đi. khi những hoài nghi không dồn thành cơn bão lớn. thì sự lừa dối tất yếu mãi mãi không suy biến giữa cuộc đời.

tôi đã cầm mình như cầm nhánh rong phiêu bạt trong trần ai. đừng đổ mọi lỗi lầm cho định mệnh. em là ai mà tự ví mình là cuồng tố. cơn hoang tưởng ngày xưa đừng nuôi day dứt đến tận giờ.

đôi khi sự lừa bịp đã hợp thức hóa thành sự thật trước mỗi cơn mơ.vực trầm luân hiện hữu mà không ai tránh khỏi. anh đã từng mị mê đắm đuối. khóa trước án chung thân một cõi thề bồi.

đã có những giấc mơ thức giấc vào mỗi tinh sương. trong khắc giao thoa vẫn thấy mình bé mọn. tiếng kêu cầu từ lòng sâu không vọng. để mỗi ngày qua dưới xích sắt lạnh lùng

đôi khi nghe xương da mình khát giữa lao lung. gió giật mùa không ngăn được ngày tàn héo.khúc cỏ biến âm trên ngàn muôn nẻo , vắng xuân thì là hủy diệt hết yêu thương.

anh đã từng nghe tiếng khóc của những con đường. đôi bàn chân không nhớ hết từng ngõ phố. đã đi qua nhau bao lần chắc gì em đã nhớ. hà huống chi có những tình yêu ta chưa gặp mặt bao giờ?

đôi khi giữa trưa hè như trưa này anh thèm được tự do mà hát trong mơ.

Phương Uy

LỊCH SỬ KHÔNG PHẢI ĐỂ HẬN THÙ.

nguyentancu

Và chắc chắn phải để nó đi vào quên lãng
Và cũng chắc là đừng nên bao giờ nhớ tới
Đừng thù hận những kẻ đã làm ta đau khổ
Đừng khóc than khi mọi chuyện đã xong rồi

Lịch sử không phải để hận thù
đương nhiên Không thể nào khác được
khi bóng đêm đã được phủ một màu cờ
Khi ánh sáng đã được trùm lên màu gian dối
Như một bức tranh được quét lên một lớp sơn ngu xuẩn
Chỉ muốn được bung ra khi vết thương vẫn chưa khép miệng
Khi lịch sử chỉ muốn rên lên
vì những cơn đau vẫn mím chặt
Vì những oan khiên đòi phải được trả lời

Những kẻ thủ ác thường phủi tay
Khi đã làm xong những gì chúng muốn
Nghĩa là phải tự nhiên như một cốc nước trà
Chúng được súc miệng sau một chầu rượu thịt
Đã được tiết canh sau những đợt “cải cách” rợn người

Chúng đòi phải được lãng quên
Được từ bi như một tên giết người buông đao trước cửa Phật
Chúng nói lịch sử là chuyện tự nhiên sau khi đã đè ra cưỡng hiếp
Chúng đã được sinh ra như một sinh linh không cần ai thừa nhận
Chúng tự đặt tên cho tương lai cho ngày mai hôm nay và mãi mãi
Chúng bảo hãy quên đi đau thương đừng thù hận
Chúng nói giỡn như đùa chơi
Hãy quên đi… quên đi quá khứ
“lịch sử là không / Không phải để hận thù” ???.

NGUYỄN TẤN CỨ