TÔI CƯỚI VỢ

thaiquocmuu

Hồi học lớp đệ tứ (lớp 9 bây giờ), tôi có đọc đâu đó truyện ngắn tựa là “Lấy vợ miền quê”, của tác giả nào tôi quên. Tôi rất khoái truyện ngắn nầy và định bụng lớn lên mình cũng “lấy vợ miền quê” như tác giả kia. Nói thì hơi xấu hổ, vừa đậu Tú Tài phần hai, lúc đó tôi mới 18 tuổi tây, tức 19 tuổi ta, mà tôi đã…”muốn vợ”! Con trai mà “muốn” chuyện gì thì thường vòi vĩnh với mẹ, như chiếc xe đạp, đồng hồ, quần áo mới, kể cả chiếc solex cáu cạnh tôi đang chạy, mà chỉ hàng “thiếu gia”… ở tỉnh như tôi mới có.
Những thứ đó tôi đều manh dạn nói với mẹ, và lần nào cũng vậy, mẹ tôi không cần suy nghĩ mà “ô kê” liền. Còn cái vụ “muốn vợ” nầy, tôi có miệng mà chẳng thốt nên lời! Tôi định bụng lúc nào mẹ vui và khi chỉ có hai mẹ con ở nhà thì tôi “tâm sự” liền. Mẹ lúc nào lại không vui! Vả lại tôi là con một trong gia dình, chỉ cần ba tôi đi uống cà phê hay đi đâu đó thì có biết bao nhiêu dịp… may!
Thế mà khi thấy mẹ ngồi, tôi vừa xề lại thì bao dũng khí đã tiêu tan! Bao lần như vậy, dường như bà để ý, giọng ngọt ngào cố hữu:
– Gì đó con trai cưng? Muốn gì nữa phải không?
Lúc đó tôi chỉ cần một “gờ-ram” dũng khí, thêm một tiếng “vợ” sau tiếng “muốn” của me tôi thì đòn cân cục diện đâu lại vào đấy rồi.
Đàng nầy tôi lại nhút nhát, rụt rè! – Điều nầy, vốn không phải là bản tính của tôi:
– Dạ… có “muốn” gì đâu mẹ!
Trả lời xong tôi thấy ấm ức, giận mình sao quá yếu gan! Thì may thay, vợ chồng anh hai Trân tới chơi. Anh với tôi là chú bác ruột tôi. Hai Trân là con trai trưởng của bác hai, còn cha tôi đến thứ chín, nên ảnh nhỏ hơn cha tôi chẳng bao nhiêu. Anh rất vui tính, cởi mở, lẹ làng, sốt sắng. Cái gì cũng chịu hoạch toẹt, không chịu úp úp mở mở, nên có khi hơi lố lố. Vậy mà tôi lại quý mến anh ở điểm nầy nhất, mới lạ!
Chưa chào hỏi mẹ tôi, anh nhìn tôi bôm bốp:
– Đậu (Tú Tài ) rồi hả mậy? Là người lớn rồi, cưới vợ được rồi đó nghen!
Thuở đó đậu Tú Tài cũng oai lắm, kiếm việc làm dễ như chơi. Trong thân tộc có người đậu tú tài là niềm hãnh diện chung. Nghe anh nói, tôi khoái chí tử, nhưng cũng làm bộ:
– Mới bây lớn mà có vợ gì anh ơi!
– Sao lại “bây lớn”? Hồi tao cỡ mầy là con cu biết gáy rồi. Mầy hỏi chú chín….
Chị hai thúc mạnh vào hông chồng:
– Nói bậy không hà! Thím chín kìa!.. Chú nó còn nhỏ…
– Nhỏ nhỏ cái gì? Cỡ tuổi nó tôi có con rồi!
Tôi mỉm cười, thấy thích anh lạ! Anh hai quay sang mẹ tôi:
– Thím chín! Em lớn rồi nghen thím. “Nam đại bất hôn như liệt mã vô cương”đó thím. Em nó đẹp trai, học giỏi, nhà giàu, mà thím không chịu cưới vợ cho nó là có ngày có người bồng cháu nội về cho thím nuôi đó!
Chị hai nạt:
– Nói bậy không hà! Cái tật không bỏ!
Anh hai nói chuyện thường chêm vào mấy câu chữ nho, những lần đó tôi cũng bực mình, vì có câu tôi cũng không hiểu nghĩa rõ ràng.
Câu anh vừa nói tôi hiểu, xem ra nó cũng hay đó chứ! Còn chị hai, là người phụ nữ nết na, đẹp lại hiền, hay kìm chế chồng những khi anh quá trớn. Đặc biệt lần nầy tôi lại thấy chị hơi… quá trớn!
Mẹ mỉm cười:
– Biết nó chịu không mà cưới?
Tim tôi đập thình thịch. Không ngờ diễn tiến lại thuận lợi như vậy. Mẹ nói thế tức là nếu tôi “chịu” thì mẹ cưới chứ gì? Ôi con đường… cưới vợ sao mà hanh thông như vậy!
Anh hai quyết liệt:
– Sao lại hổng chịu thím? Hỏng lẽ nó muốn vợ nó lại la làng lên sao? Hồi trước con muốn vợ, con cũng đâu dám nói cho má con mà phải nhờ chú chín mở hơi giùm. Thím quên rồi sao?
Quay qua tôi, anh dịu giọng:
– Nè cưng, anh hai hỏi thiệt nghen, cưng có muốn cưới vợ không?
Phải nói là nhờ anh hai mà lòng tôi tràn dũng khí. Tôi quyết không bỏ lỡ cơ hội. Chỉ cần tôi nói một tiếng “muốn” là bài toán có đáp số ngay, và bao nhiêu đè nén trong lòng bấy lâu chắc chắn giờ đây tan biến! Nhưng như vậy xem phàm phu quá! Tôi cười cười, đợi cho mọi người chờ một lát, thần khẩu xui tôi phát ra một câu quá tuyệt vời:
– Thì hồi trước anh hai sao thì giờ em vậy thôi!
Mọi người cười rần và mang ý nghĩa khác nhau. Tôi cười cho… đở mắc cở. Chị hai cười xòa góp phần vui; anh hai cười ngất, cười sặc sụa của người thích chí; còn mẹ thì cười hiền hòa, sung sướng, lấy tay áo chậm hai khóe mắt rưng rưng. Tôi thấy thương mẹ vô cùng, sà vào lòng mẹ. Dù là một cậu tú, nhưng với mẹ, tôi vẫn thường thích mẹ vuốt ve như thuở lên ba. Mẹ vò tóc tôi, nói với anh chị hai:
– Bây thấy hôn? Nó làm còn như nhỏ lắm vậy!
Mẹ hỏi tôi:
– Bộ con có để ý bạn gái nào ở trường hả?
Tôi lắc đầu. Mẹ bảo:
– Vậy thì mẹ biết ai mà cưới cho con?
Anh hai nhanh nhẩu:
– Thì làm mai! Hồi trước chú chín cũng vậy, con cũng vậy. Có ai thương yêu ai trước đâu? (liếc sang chị hai) Chừng về ở chung cũng khoái thấy mồ…
Anh phủi bàn tay chị hai định nhéo vào hông anh:
– Vậy chớ hỏng phải sao?
Rồi quay sang tôi, anh lại ngọt ngào và xôm tụ:
– Nè, bây giờ em chưa quen ai phải không? E hèm! Hồi trước anh cũng vậy thôi. Có sao? Nhưng em phải cho thím chín và anh chị hai đây biết mẫu người em ưng thế nào thì ở đây mới kiếm cho em được chứ! Thí dụ, hồi trước anh ra tiêu chuẩn là phải vừa đẹp, vừa hiền, vừa có chút học vấn. Em thấy hôn, chị hai đúng bon tiêu chuẩn đó, Anh thấy là khoái liền. Hề hề…!
Tôi thấy mặt chị hai đỏ lên vì sung sướng:
– Nói không biết mắc cở….
Sẵn đà, tôi tiếp:
– Mà phải ở miệt vườn nữa em mới chịu.
Anh hai có vẻ cụt hứng, còn mẹ thì có vẻ vui:
– Phải đó à bây, con gái ở vườn nó nết na, thùy mị, giỏi giang.
Anh hai cười. lại xông xáo:
– Trúng tủ bả rồi! Mà cũng dễ thôi! Thím bán tạp hóa lớn, mối mang miệt vườn biết bao nhiêu, nhờ họ mối lái giùm.
Chị hai:
– Sao hăng hái dữ! Mai mốt anh hai chịu lạy đó nghen!
– Tất nhiên! tất nhiên!
Thói thường người ta tin tưởng vào những gì mình hy vọng, và sợ mất những gì mình có. Mẹ đã xong rồi, còn ba thì sao? Ba thường hay chìu ý mẹ dù đôi khi ý mẹ có đôi chút ông chẳng hài lòng, nhưng đó là những việc nhỏ đời thường, còn đây là “hôn nhân đại sự”, liệu ba có còn chìu mẹ hay không?
Ngày hôm sau, tôi thấy ba có vẻ khác khác – vậy là mẹ nói với ba rồi! Ba ít nói, có chiều nghĩ ngợi. Khi giáp mặt tôi, ba mỉm cười khó hiểu. Phúc hay là họa đây!
Rồi ngày tôi chờ đợi cũng đến. “Phái đoàn” gồm ba mẹ, anh chị hai và tất nhiên có vai chánh là tôi. Thật khó tả được bao cảm xúc bồn chồn lo lắng, hồi hộp, đủ thứ lộn xộn trong lòng tôi. Mẹ tôi cứ dặn dò đủ mọi việc, hết chuyện nọ tới chuyện kia, đến nỗi khó mà nhớ hết; còn anh hai thì cứ lải nhải bên tai “bình tỉnh, bình tỉnh, đừng có run”.
Nhà ông nhạc tôi (tạm gọi vậy) ở xã Ngũ Hiệp, cách thành phố Mỹ tho 30 cây số về hướng tây. Chợ Ngũ Hiệp nằm bên kia sông, muốn qua phải nhờ một phà nhỏ. Từ chợ, theo lời bà mai, chúng tôi phải đi bộ thêm gần ngàn mét nữa. Nghe vậy anh hai nói với tôi:
– Như vậy là “vườn trong vườn” rồi phải không cưng? Tiêu chuẩn một đạt hai trăm phần trăm rồi hén!
Chị hai cau mặt:
– Cái ông nầy lúc nào cũng đùa được.
Thật vậy, đây là vùng trù phú đất đai, cây lành trái ngọt. không biết cơ man nào là cây trái quả mọng trĩu cành! Cam, bưởi, sa bô, dừa, vú sữa, nhãn, chôm chôm… nhất là sầu riêng cây nào cây nấy chân tay đeo đầy nghẹt quả, theo gió thơm lừng. Bà mai chỉ tay về căn nhà ngói kiểu xưa (kiểu “chữ đinh”) nói:
– Nhà đó đó.
Tất cả dừng lại “hội ý”. Mẹ khẩn trương thấy rõ, lại dặn dò:
– Nhớ những gì mẹ dặn nghen con!”
– Dạ!
Anh hai cũng thì thào:
– Nhà cất kiểu nầy mà gặp ông già củ tỏi thì mệt lắm à nghen!
Chị hai nạt nhỏ:
– Ông lo cái miệng ông đó. Vô đó nói bậy đi!
Bà mai vô trước, mẹ sửa lại áo quần tôi chưa xong thì có người ra mời vào. Giờ phút nầy tôi càng thấy tình mẫu tử bao la như thế nào. Mẹ hồi hộp như sắp bước vào nơi hang hùm nọc rắn không bằng, lại điệp khúc “Nhớ nghe con!” lại phát ra!
Vừa vào cỗng, tôi bị hốt hồn vì hơn hai chục cặp mắt, đủ hạng tuổi, nhiều nhất là trẻ em chăm chú vào tôi, một bà trạc tuổi mẹ có lẽ thông cảm được điều ấy, bèn rầy đám nhỏ:
– Nè, mấy đứa làm gì tụ tập lại đây dữ vậy? Có đi hết không?
Đám trẻ tản đi vài bước rồi bẽn lẽn đứng nhìn.
Phòng khách được bài trí hai bàn. Bàn giữa gồm ba mẹ tôi, bà mai, ông bà nhạc và hai vị cao niên. Bàn bên có anh chị hai tôi và bốn người bên gái cùng trang lứa.
Phần tôi nghe lời mẹ là không được ngồi, mà đứng sau ghế cha mẹ, hai tay xếp lại để dưới bụng (nếu đã mời trà xong), tư thế y như lính hầu ở phủ huyện, hay các thái giám ở cung đình hầu hạ đức vua!
Theo cách nói chuyện… lại có dịp đứng trước nhạc phụ mẫu; tôi biết ông bà là người cởi mở, dễ tính. Câu chuyện của hai “sui” càng lâu càng khởi sắc tốt đẹp. Dần dà khách khí không còn, mà như đã quen nhau từ trước vậy.
Bỗng Ông nhạc gọi:
– Con hai đâu, châm trà mới đi con!
Một tiếng “dạ” thảnh thót không kém Điêu Thuyền thời Tam Quốc từ nhà dưới vọng lên làm tim tôi rộn ràng. “Phái đoàn” nhà trai ai cũng hồi hộp chờ đợi. Bởi ai cũng biết bảo “châm trà” chẳng qua là lời nói khéo cho con mình ra chào để nhà trai “coi mắt” đó thôi!
Mẹ quay lại nhìn tôi mỉm cười, thầm bảo ”hãy xem kỹ vì thời gian không lâu”. Tôi chưa kip mỉm cười với mẹ thì rèm hoa lay động, một kiều nữ vận bộ bà ba, không phấn không son mà má phấn môi hồng.Tóc dài phủ long gọn gàng bởi chiếc kẹp vàng có đính bông hồng chói lọi. Thoạt trông, tôi giật nẩy người, đến nỗi bố vợ nhìn thấy. Đợi giai nhân chăm trà xong, ông vội bảo:
– À quên nữa, cháu qua bên ngồi uống nước, hay cứ ra ngoài dạo cho thoải mái.
Mẹ lại quay ra tôi, nhướng mày, thầm bảo “hãy đi đi con”, vì thực ra, ông nhạc cũng ngầm ý cho tôi và vợ tôi gặp nhau để “tìm hiểu”, dù thời lượng ít oi, nhưng nếu tri túc ắt tiện túc mà thôi! Mọi sự đều được người lớn sắp xếp có bài có bản và, có màn có lớp hẳn hoi!
Không khí bên ngoài thực thoãi mái. Nhiều loại cây trái lớn nhỏ thi nhau che rợp ánh mặt trời làm mát rượi cả một không gian rộng. Vài tia sáng yếu ớt cố gắng chen vào đất tạo thành những đóm trắng lưa thưa đây đó tựa rãi hoa. Mùi sầu riêng thơm lừng. Hàng sa-pô thẳng tắp trái nặng sai oằn. Mấy nhánh ổi cho trái bóng láng no tròn, rục mềm rơi rụng tứ tung, tỏa hương thơm bát ngát. Chim hót líu lo, bướm vờn thẳng cánh. Đàn ong tranh nhau hút mật của trăm ngàn hoa đủ sắc đủ màu. Rõ ràng là vùng đất lành thừa mứa cây lành trái ngọt.
Bên sau một giọng êm đềm:
– Biết người ta ưng hay không mà dám đi hỏi vậy?
Tôi quay lại, thì ra là vợ tôi, (tạm gọi vậy), mà cũng là Vi, người đã làm tôi kinh ngạc đến đánh thót cả người khi nãy!
Vi là bạn học cùng lớp với tôi hồi năm đệ tứ. Hồi đó lớp đệ tứ được xem là cái “móc” của sự chia tay. Bởi con trai, nếu thi rớt thì cha mẹ thường cho nghỉ để học nghề, còn thi đậu (cấp bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp) thì cũng mỗi người một hướng đi: Vào sư phạm hoặc ngành nghề nào đó, hoặc học tiếp ba năm nữa để lấy Tú Tài rồi lên đai học. Con gái thì ít người được học đến chốn đến nơi. Rớt hay đậu cũng thường bị cha mẹ cho nghỉ mà lo phụ việc nhà, viện lẽ con gái “học cao” khó có chồng! Vi cũng nằm trong số phận nầy. Bởi vậy cuối năm đệ tứ, chúng tôi thường trao nhau lưu bút, mọi người đều nắn nót tuồng chữ cho trang mình thường tặng cả ảnh, dán vào giữa trang viết, dưới đề:
“Thương nhau mới tặng ảnh nầy,
Để làm kỷ niệm những ngày xa nhau’
Dù cho ảnh có phai màu,
Cũng đừng xé bỏ mà đau lòng người!”

Không biết bốn câu thơ ấy là của tác giả nào, sáng tác tự bao giờ, mà đến nay, thỉnh thoảng tôi lại thấy sau bức ảnh ”tặng nhau” của các em cũng có đề như vậy.
Hơi lạc đề, nhưng nói thêm cho vui: Hồi đó tôi cũng có quyển lưu bút, tất nhiên khi ai nhận thì cũng nắn nót từng chữ và giữ sạch sẽ như nói ở trên. Khi tôi đưa cho thằng Nhứt, ngày sau nó trả (thường thì vậy), nó viết vào trang đôi mấy chữ tổ bố: “Lưu niệm làm cái xê bình phương gì?” (2), rồi láu cá ký tên giáp cả hai trang giấy!
Tôi xem giận run. Cự nó. Nó cười: “Để sau nầy mầy nhớ tao”.
Tôi nghe cũng xìu lòng. Quả thật, đến giờ, nó là người tôi nhớ nhất. Và đến ngày cuối, chúng tôi tổ chức tiệc liên hoan cuối khóa tại lớp. Văn nghệ xung quanh các bài hát về “mùa chia tay”, “tạm biệt”, “nỗi buồn hoa phượng”… Tôi có sở trường ngâm thơ, ngâm hai bài thơ Đường luật, bài đầu của thầy H.C, giáo sư sử địa (3), bài nầy tôi chỉ nhớ hai câu cuối:
“…
Rồi đây nếu chẳng sau mùa phượng,
Tất cũng mai kia ở chợ đời!”

Và bài họa của tôi:
“Việc cũ, ngàn sau vẫn đổi dời.
Chút tình tâm huyết nói sao vơi?
Luyến lưu kẻ ở đôi dòng lệ,
Tiếc nhớ người đi một góc trời
Chín tháng vui buồn trong một lớp,
Vài giây ly biệt rẽ ngàn khơi,
Đường mây một kẻ hanh thông bước,
Một kẻ lang thang giữa chợ đời!
(Thơ Kha Tiệm Ly)

Đám con gái mắt đỏ hoe, có đứa khóc thành tiếng. Chúng tôi lai tặng quà lưu niệm cho các bạn “nghỉ luôn”. Tôi tặng Vi cái kẹp tóc bằng vàng 14 (tôi là… “thiếu gia” mà! Vàng hồi đó rẻ lắm, đàn bà con gái chẳng thấy ai đeo, có đeo thì cũng sơ sài, đeo nhiều mắc cở, bị coi là “quê”; không thấy ai đeo cục cục như giờ. Vi tặng lai cho tôi cây bút Pilot nắp vàng, loại cao cấp nhất thời ấy.
– Sao không trả lời?
Vi nghiêm trang như thuở nào, tôi hơi chột dạ:
– Thật lòng tôi không ngờ mình đi hỏi cưới Vi. Đã bao năm rồi, vả lại lúc đó mình còn nhỏ cả mà!
– Bộ mấy năm qua không nhớ chút gì về Vi sao?
– Vẫn nhớ về người bạn nhỏ hiền lành, nhiều nước mắt.
Vi vừa đưa tay rút cây viết trên túi áo tôi, vừa nói:
– Xin lỗi nghe, cho Vi mượn.
Rồi xoay cán viết, nhìn những dòng chữ khắc trên ấy, Vi có vẻ xúc động:
– Vẫn còn giữ của Vi à?
Tôi không đáp, nhìn hai rèm mi chơm chớp, tôi thấy Vi đẹp não nùng. Tôi nắm lấy tay Vi:
– Không ngờ lại gặp lại Vi. Chẳng phải không có duyên số hay sao? Vi đồng ý nhé!
Vi tủm tỉm cười:
– Nếu em không ưng thì sao?
– Thì anh về, nhưng xin gởi trái tim anh lại.
Lại cười:
– Rõ là thi sĩ! Em đã đồng ý từ khi bà mai nói chuyện với ba mẹ, đâu phải đến bây giờ.
– Không biết mặt làm sao ưng?
Vi kéo mái tóc về phía trước ngực:
– Khờ quá đi! Mọi người ở đây ai không biết con trai một của tiệm tạp hóa Vạn Phát, chứ em thì rành lắm. Vị “công tử” ấy còn tặng cho em chiếc kẹp xinh đẹp nầy nữa phải không?
Trên đường về, mẹ luôn miệng với ba:
– Con nhỏ xem nết na và lịch sự ghê ông há?.
Lại lo ngại:
– Hổng biết nó có ưng thằng con trai cưng tôi không nữa?
Nãy giờ tôi lặng thinh, nhớ lại những lời nói của Vi mà thấy lòng hân hoan lạ. Nhưng thấy mẹ cứ lo lắng mãi, tôi mói nói:
– Chắc ăn rồi mẹ ơi! Mẹ đừng lo!
Mẹ nghi ngờ. Anh hai nói:
– Hồi nãy ngoài vườn tụi nó nói chuyện, chỉ cần khi về, đá lông nheo một cái là kể như xong. Thím lo gì!
Ba châm vào:
– Hồi trước bả cũng vậy, sao bả mau quên quá!
Không biết mẹ đánh hay phủi bụi cho ba::
– Cha già mất nết!
oOo
Thế là chậm lắm khoảng một tuần, mươi ngày tôi đều đến tham nhạc gia, nhạc mẫu. Ba mẹ vợ tôi đều nhân hậu, nghiêm khắc với con cái nhưng xem chừng ”dễ” với thằng rể tương lai.
Trước khi đi, ba tôi dặn. Con đến đó thấy cái gì làm được thì làm, chứ đừng lấy mắt ngó là không được! Ngày xưa trước khi cưới, phải làm rể ba năm: Chẻ củi, vác lúa, cày bừa, làm đủ thứ nặng nhọc, chứ chẳng phải chơi đâu!
Nhưng tôi biết cái gì mà làm, mà phụ? Lần đầu đến, tôi thấy ba vợ tôi đang chài cá, thấy tôi sựng rựng, ông hiểu ý, nói:
– Con đứng chơi, ba vãi vài chài nữa ba vô.
Thế coi sao được! Đợi mỗi khi ba kéo chài lên, tôi phụ gỡ cá, mà có được đâu! Tôi đụng tới con nào thì con ấy giãy rồn rột, rách cả tay, có khi phóng lại xuống mương; trong lúc ông bỏ vào giỏ lia lịa như bỏ đá vào vậy!
Một lần thì thấy ông đang chiết nhánh cây, cái nầy tôi càng mù tịt, nhưng cũng có việc làm là… đưa dây cho ba tôi cột “bầu”; cái công việc không cần người phụ tá!
Ba vợ tôi rất điệu đời, ông thường bảo vợ tôi dắt tôi ra vườn xem có “cái gì nó thích thì hái nó ăn”. Tôi biết ba tạo điều kiện cho chúng tôi chuyện trò. Ông dư hiểu, bởi nói tiếng là thăm cha mẹ vợ, nhưng chủ yếu của chàng rể tương lai nào cũng là thăm… vợ cho đở nhớ mà thôi. Nếu không, tại sao mỗi lần đến thăm mà cha mẹ vợ đi vắng thì chàng rể lại hớn hở trong lòng!?
Vườn nhà vợ tôi đủ loại cây nên có trái quanh năm, chúng chen chút nhau nên chỉ cách hơn mười thước là không thấy dáng người. Tôi có cảm tưởng như hoàng tử gặp công chúa trong rừng vậy! Đến hàng dừa tơ, quày ôn trĩu trái màu vang rực, sai oằn đụng tới mép mương, Vi đưa tôi dao, bảo:
– Chặt dừa uống nhé!
– Trái nào đây?
– Thì tùy chọn
Khổ sở lắm tôi mới đem được hai trái dừa rời quày được. Dùng dao chặt phần đầu có cuống. Dao bén ngót mà tôi phạt năm bảy nhát liền mà vỏ dừa chỉ dập dập, trầy trầy, tung mấy miếng văm! Vi cười khoe hai hàm rang đều như hạt bắp:
– Để nô tì giúp cho, thưa công tử!
Giành lấy dao, Vi chỉ phập ba nhát nhẹ nhàng mà vỏ dừa tách ra từng mảng lớn, nhát thứ tư, nhẹ hơn, chạm vào gáo, Vi thuần thục lách nhẹ lưỡi dao, để lộ phần “cái” trắng bóc mịn màng, bao quanh phần nước sóng sánh trong veo! Một tay đưa dừa cho tôi, tay kia chỉ chỉ vào trái dừa bảo:
– Chặt dừa phải chặt đầu lớn nầy nầy, Lưỡi dao phải để hơi xiêng. Ai đời ở trên bổ xuống… 90 độ. Làm sao đứt được?
Lợi dụng tôi nắm lấy cổ tay tròn trịa mịn màng của Vi, ghé mũi xuống hít một hơi dài. Vi vẫn để yên nhưng bặm môi:
– Có thấy con dao ở đây không thì bảo?
Rồi cùng cười, tôi hít mũi chọc:
– Còn ngọt hơn cả nước dừa!
Đến địa phận chuyên canh sầu riêng. Ôi! hàng hàng thẳng tắp. Không biết cơ man nào là trái đậu trên cành! Toòng teng nhỏ to đủ cở, lủng la, lủng lẳng tầng thấp tầng cao, xem vô cùng ngoạn mục. Tôi hỏi:
– Nghe nói sầu riêng chỉ rụng về đêm, phải không?
– Sao lạ vậy?
– Thì … trời khiến để đừng bể đầu người!
Vi cười ngoặt ngoẽo:
– Sao trái dừa vẫn rụng ban ngày? Bộ trái dừa không làm bể được đầu người? Chủ vườn nòi vậy để cho mấy thằng ăn trộm không dám lẻn vào đó thôi!
Rồi chỉ vào phía trước, bảo:
– Có hai trái rụng kìa! Anh lại lượm đi! Coi chừng nó “bịch” một cái là hết có vợ đo.o..ó!
Tôi nhìn lên, thấy hàng trăm trái lòng thòng, gai tua tủa, giống như những quả chùy của các võ tướng ngày xưa. Nói dại, nếu nó mà”phịch” xuống một cái như lời Vi nói thì dù không bể đầu, thì mặt mũi chắc cũng khó coi! Dợm chạy đi, bỗng luồng gió quái ác từ đâu lùa tới, bèn chột dạ, tôi dừng lại. Vi cười ngất:
– Coi vậy mà cũng sợ mất vợ hén!
Tôi chữa thẹn:
– Vậy chớ vợ như Tây Thi thì chết sao dành!
Má Vi càng đỏ thêm, nắm tay lại giá giá vào tôi:
– Cái tật nịnh…….
Tôi vừa dặt hai trái sầu riêng xuống thì Vi bảo:
– Tách ra đi!
Nói đoạn lại bờ rào tìm hái những nhánh bông. tôi lui cui lấy dao chặt phình phịch vào đầu lớn trái sầu riêng, dao cũng để xiêng một góc mà xem ra vỏ sầu riêng còn dai hơn cả vỏ dừa. Thật tình, sầu riêng tôi ăn có hàng trăm nhưng mỗi lần đều được mẹ bóc sẵn bỏ vào tủ lạnh, nên có biết gì đâu!
Tôi lật qua, lật lại, chợt nhớ tới cái vỏ sầu riêng mẹ bóc xong đâu có trầy trụa, hay mất một góc đàng đầu trái, mà xem ra nó còn nguyên vẹn giống như một chiếc xuồng! Tôi sửa lại rồi dùng dao bổ theo chiều dọc, cũng chẳng ăn thua! Mệt, tôi định gọi cầu cứu, thì Vi đã đứng sát bên tôi bụm miệng cười tự lúc nào…
Rõ ràng là Vi biết tôi không làm được mà cố chọc chơi! Bèn ngồi xuống, lấy dao, vừa làm vừa dạy đời:
– Hồi nãy em bảo công tử “tách” ra chứ có bảo “chặt” đâu mà làm như bửa củi vậy? Đây nè, chỗ nầy lúc nào cũng có một khe hở. Chỉ cần để mũi dao vào đây rồi dùng đòn bẩy Ạc-Shi-Met là xong. Làm rể kiểu nầy mất vợ như chơi.
Tôi bá lấy cổ Vi:
– Giỏi quá, để anh thưởng cho một cái.
Vi nhắm mắt, lắc đầu quầy quậy:
– H..ô..ông..!
Đợi khi tôi “chụt” xong, Vi mới mở mắt ra, chỉ tay vào vỏ sầu riêng, nói:
– Cái vỏ sầu riêng nầy mà vô mặt thì còn hơn té thùng đinh nữa đó!
Lần nào cũng có chuyện tương tự như vậy, thử hỏi sao tôi không khoái về thăm… ông bà nhạc?
Gần tới ngày cưới, tội nghiệp Vi gầy thấy rõ. Sau nầy tôi mới biết, là con gái trưởng trong gia đình, Vi lo lắng sắp xếp mọi thứ, lại nghĩ tới ngày theo chồng, xa mẹ bỏ em nên đủ thứ tình cảm ray rức trong lòng. Vậy mà trò chuyện với tôi một hồi, mặt hoa lại rạng rỡ, nói nhỏ cho tôi vừa nghe, như một chuyện gì quan trong lắm:
– Làm rể mà lỏng nhỏng không động móng tay, cứ đeo sát con gái người ta hoài không sợ bà con họ nói sao?
Ba vợ tôi thường bảo tôi: “Con ở chợ không quen việc ở vườn. Con cứ về thăm, khỏi làm gì hết, đừng ngại, cứ coi như ở nhà con”.
Tôi đem lời nầy nói cho vợ nghe, rồi châm thêm:
– Vậy chứ anh có việc gì để làm?
– Em chỉ cho. Gần tới ngày cưới rồi, phải có củi để nấu chứ! Hay là anh chịu khó ra chẻ một mớ….
– Ở đâu?
Vi chỉ tay về một hàng củi được chất ngay ngắn từng ô một, dài chừng… vài chục mét, khúc nào khúc nấy cở bắp đùi… voi. Tôi chột dạ:
– Chẻ hết sao?
Vi làm mặt nghiêm:
– Ừa!… thì tới đâu hay tới đó! Ngày còn dài mà!….
Tôi xách búa đi mà tác phong rời rã như Hạng Võ tại bến Ô Giang! Nhưng muốn ăn phải lăn vào bếp, muốn cưới được vợ thì phải bửa củi, cày bừa… Thì ra lời ba tôi nói chẳng sai, bằng chứng là tôi cũng không ngoại lệ!
Tôi cởi áo sơ mi máng trên cành bưởi, còn lại chiếc áo thun ba lổ trắng tinh, vốn là mô đen của con nhà giàu mới có áo lót bên trong. Dù là “công tử”, nhưng tôi thường tập tạ nên bắp thịt coi cũng ngon lành. Tôi đếm thầm: Một, hai, “phập!”; một, hai “phập!” Có cái “phập” làm củi vỡ ra, có cái “phập” thì búa lại dính khắn vào củi, gỡ ra cũng tróc vải trầy vi! Khi độ mệt đã choáng váng mặt mày, nhưng còn đủ để nhận được tiếng ông nhạc ở sau lưng:
– Bây làm cái gì vậy?
Tôi quay lại chào ông bà vừa đi xóm về, rồi trả lời với giọng điệu của người vừa lập nên công trạng:
– Dạ, vợ con biểu chẻ củi để khi đám cưới có mà xài!
– Thôi, thôi! Bây “bị” nó rồi! Đi vô! Đi vô uống nước con!
– Dạ, để con chẻ thêm một mớ nữa, ba!
– Củi nầy ba để bán cho lò bánh mì, đâu cần chẻ! Còn củi dùng cho đám cưới thì để trong nhà kho kia, có xài mười đám cũng không hết!
Bà nhạc lắc đầu:
– Cái con nhỏ nầy…
Vào nhà bà nhạc rầy Vi:
– Chồng của mầy nó không quen làm việc nặng. Xúi dại rũi nó trợt chân trợt cẳng thì sao?
Bà nhạc dùng tiếng “chồng mầy” tôi thấy ấm áp lạ lùng! Còn vợ tôi thì chúm chím cười, còn liếc qua tôi với ánh mắt còn bén hơn… lưỡi búa, lại chu đôi môi đỏ ao chế nhạo.
Thế là bao mệt mỏi trong tôi biến mất tiêu!
Phải nói trong đời thường, về sự thông minh, lúc nào vợ cũng hơn tôi một phép. Khi về làm dâu vợ tôi đã chứng minh đầy đủ điều đó. Ngoài sự hiếu thảo với cha mẹ chồng, vợ tôi còn nhiều đức tính như nhân hậu, cần kiệm…
Thuở đó, ở thành phố “nhà giàu” mới có tủ lạnh (ti vi chưa có), còn dưới quê thì tuyệt đối không, bởi có điện đâu mà xài! Nên những ngày đầu, tủ lạnh đối với vợ tôi là một phát minh khoa học lớn lao, nó đủ công năng, nên có cái gì cũng “thồn” vô trong đó. Có lần mẹ tôi mở tủ lạnh, rồi nói với vợ tôi:
– Tô mắm nêm nầy, con đừng có để vào đây, nếu không tất cả cái gì trong nầy đều có mùi mắm nêm hết.
Chỉ chờ có dịp nầy, tôi cười hí hí:
– Trái cây mà có mùi mắm nêm ăn càng ngon chứ sao mẹ?
Mẹ cười, còn vợ tôi cứ đem cái sở trường là bắn nửa mắt vào tôi.
Tôi khoái chí, nói theo kiểu đá banh thì “gỡ” được một, nhưng dường như chỉ có một mà thôi!
Khi con chúng tôi đã lớn, tuổi có thể về quê thăm ngoại một mình, thế mà một tối cả nhà xem ti vi, không phải nhằm đoạn hài mà vợ tôi cười ngất. Con hỏi, “sao tự nhiên mẹ cười?” Một lát vợ tôi mới trả lời được:
– Mẹ thấy bộ tướng ông thái giám đứng khúm núm kia giống”mấy thằng cha“ lần đầu coi mắt vợ quá!” Hi! Hi!
Biết bị xỏ ngọt nhưng tôi biết gì hơn ngoài làm…thinh! May sao đến chương trình quảng cáo, quảng cáo tủ lạnh, tôi nói tỉnh bơ:
– Tủ lanh đời mới coi bộ tốt à nghen! Nó tự khử mùi, dù “mấy con mẹ” ở vườn có để mắm nêm vô đó cũng không sợ hôi. Ha! Ha!…
Tức thì vành tai tôi bị kéo ra cả thước, tiếp theo là một giọng tru tréo, muốn nổi da gà:
– Trời..u.u..i! Chuyện cũ nhắc hoài! Nhắc hoài!
Vậy đó, “chuyện xưa” thì vợ tội nhắc được, còn “chuyện cũ” tôi nhắc thì như bị muốn nhai xương!
Có vợ miệt vườn, miệt quê là vậy đó!

THÁI QUỐC MƯU

Tối Nhìn Đồng Hồ, Uống Cà Phê Với Học Trò

12122449_10207500141559424_7979557059721741411_n

Đồng hồ con nhanh, đồng hồ thầy chậm
Thời gian còn dài, con thích đi nhanh
Thời gian ngắn dần nên thầy đi chậm
Chậm, nhanh cũng là những chuyến vòng quanh.

Đồng hồ hai kim, chỉ giờ chỉ phút
Con là kim phút quay rất nhiều vòng
Thầy là kim giờ từ từ từng chút
Không còn nhiều vòng cho cuộc long đong.

Đồng hồ của con là đồng hồ mới
Mặt đồng hồ đẹp, sáng bóng như gương
Đồng hồ của thầy hình như hơi tối
Mặt kính mờ mờ như phủ hơi sương.

Đồng hồ của con, thầy nhìn rất thích
Xinh xắn mỹ miều trông rất có duyên
Đồng hồ của thầy kêu đều tích tích
Con muốn nghe hoài điệp khúc bình yên.

Con uống với thầy cà phê buổi tối
Thầy uống với con chén đắng cuộc đời
Hình như ngoài kia đêm về rất vội
Một ánh sao khuya mọc ở cuối trời.

Cà phê của con vừa thơm vừa ngọt
Cà phê của thầy vị đắng không tan
Dù là ngọt thơm hay là đắng đót
Cũng là hương đời, vị của trần gian.

Tách cà phê con vẽ hình rất đẹp
Có lá có hoa và lắm trái tim
Tách cà phê thầy những vòng tròn khép
Như chúng đang chơi một cuộc trốn tìm.

Đứng lên ra về, để quên trên ghế
Vũng tối nhạt nhoà, vết tích thời gian
Cả thầy và con đem gì về thế?
…Đem ánh sao khuya một tối êm đềm.

Quyên Di

12088435_10207438618501386_623427938873182173_n
12088368_10207438619221404_6751875370569637427_n

thân ý

10735644_826194720769236_378143114_n (1)

tất nhiên là biển xanh
biển xanh như mầu mắt
mầu mắt em nhìn tôi
như nghìn thu trong vắt

em thấy tôi dường như
dường như đùa trong nắng
tất nhiên là tương tư
lúc ngồi trong đêm vắng

tất nhiên lời em nói
tôi nghe trên lá cây
nghe qua ngày cũ mới
gió núi hát trên mây

tất nhiên tôi trộm đạo
ngồi đọc kinh vỉa hè
lại múa khi đứng dậy
tôi mặc những không che

tất nhiên em là biển
bão đến xô đời tôi
tôi nghiêng và tôi ngã
tôi tìm lại thân tôi

Ngô Yên Thái

Xin Chào Ðà Lạt

hoaikhanh

tặng Bùi Giáng và Phạm Công Thiện

em ở đó với bầu trời mây núi
mùa đông sương rờn trên má hoa đào
linh hồn ta mấy mươi mùa của suối
lạnh vô cùng không biết tự phương nao

chân ta bước trên con đường trở lại
một lần xưa vi vút gió đầu cành
sâu dưới đó lối mòn khe suối vắng
bóng của mùa khẽ động tiếng lanh canh

ôi đồi thông những chiều nghiêng nhớ nắng
lòng ta trôi chiều cũ dưới chân đèo
gió heo hút dường nghe niềm u hận
em đi rồi ta vẫn đứng nhìn theo

màu áo đó phất phơ màu vĩnh biệt
bay về đâu xin còn lại linh hồn
để ta giữ những chiều sương ám phủ
của một đời luân lạc kiếp tha hương

rồi thôi hết đất sẽ là vĩnh viễn
bông hoa kia nở trên xứ điêu tàn
tay yếu đuối ta sẽ còn nắm lại
những lời gì xưa đã hết âm vang …

HOÀI KHANH

Đọc “Ráng Chịu” của Trạch Gầm

dinhlamthanh

Đối với Trạch Gầm, chỉ có hai cái đáng quý và đáng nhớ trong đời anh: Bạn và Rượu. Hai lãnh vực nầy tuy xa nhưng mà gần, vì uống rượu thì phải có bạn mà gặp bạn thì cần phải có rượu ! Rượu và Bạn được Trạch Gầm trang trọng nhận làm hành trang kể từ lúc anh bước chân vào quân trường Thủ Đức, rồi theo chân anh trên khắp các nẻo đường đất nước. Và cho đến ngày nay, đối với anh, vẫn còn là một cái gì trang trọng và đáng quý nhất đời. Đọc “Vụn Vặt” những người yêu thơ Trạch Gầm sẽ cảm thông được thế nào là “tình huynh đệ” của những ai đã một thời chiến đấu bên nhau, cũng như để tưởng nhớ những chiến hữu đã an nghỉ trong lòng đất hay đang còn lây lất dưới chế độ cộng sản “Vụn Vặt” là những kỷ niệm tình người, được Trạch Gầm dệt thành thơ với lối gieo vần ân tình và giản dị.

Trạch Gầm dùng chữ “Vụn Vặt” làm tựa đề cho tập thơ đầu tay, có lẽ do bản tính khiêm tốn của anh, nhưng tôi cho đó những giòng thơ lớn và chân tình phát xuất từ con tim… vì nó bộc lộ tấm lòng bao la của anh đối với tình yêu quê hương, với bạn bè đồng đội, và cũng trong đó, chính là nỗi uất ức của một người lính đã tức tưởi bỏ súng giữa đường…
Hơn một năm sau anh cho xuất bản tập thơ thứ hai. Lần nầy Trạch Gầm mượn hai chữ “Ráng Chịu” để làm đề tài cho 85 bài thơ và 8 bản nhạc do Quang Lãng, Nguyễn Hữu Tân, Hoa Sông Kiên, Quốc Anh và Yên Ly phổ nhạc. Đặc biệt trong tập thơ nầy, nhiều bài anh viết từ năm 1966 (Tuổi Trẻ Bây Giờ Là Quê Hương), 1970 (Không Đề – Nói Với Người Tình Tuổi Dưới 20 – Viết Từ Lai Khê)… không ngoài mục đích ca ngợi quê hương đất nước, tình yêu thầm kín của tuổi thanh xuân đồng thời nói lên cái thân phận con người trước và sau một cuộc chiến tương tàn.
Ta có một ngày… một ngày ngồi khóc
Ta có một ngày gãy đổ ước mơ
Mười năm lính tưởng đâu là sỏi đá
Ai có ngờ lại ngồi khóc như mưa
… …
Thân lính trận, nhận lịnh gì không nhận
Nhận lịnh đầu hàng…rời rã tai ương
Hồn chinh chiến chỉ còn trơ thân xác
Thân xác không hồn…điếng ngắt cô đơn
… …
Thôi chia tay, mà về đâu đã chứ
Mất hết cả rồi…mất dễ như chơi
Lịch sử sang trang…sang trang lịch sử
Mất cả vinh quang, mất cả ngậm ngùi

Mỗi lần nhắc đến quá khứ anh đều đề cập đến rượu và những người bạn đã một thời cùng chia sẻ sống chết với nhau. Nhưng những ai quen biết đều thấy tội nghiệp cho Trạch Gầm: Rượu lúc nào vẫn còn đó nhưng anh chỉ được phép ngồi nhìn mà thôi :
Xin lỗi mầy, ừ tao xin lỗi
Một giọt bây giờ tao uống không vô
Cái gan tao đã thành gan phá lấu
Mầy không tin, cứ nhậu…ngon ơ !

Bốn câu thơ trên trong bài “Ngồi Nhìn Bạn Bè Uống Rượu’”mà Trạch Gầm đã đọc cho tôi nghe lúc anh vừa viết xong, trong một đêm, khi hai đứa nằm dài giữa salon tại nhà ở Anaheim. Nghe đọc, tôi không can đảm nhìn vào mắt anh, dù dưới ánh đèn đỏ trên bàn thờ Cụ Bà thân mẫu của anh, tôi vẫn thấy những giọt nước mắt cứ theo lời thơ tuông xuống. Tôi rùng mình và lòng bỗng dưng chùng lại. Những hình ảnh chia sẻ “ngụm rượu tình nghĩa” với đồng đội trong những lúc ngồi chờ giặc dưới giao thông hào đang hiện về trước mắt và làm tôi bật khóc…
Ngày xưa, mầy tới đâu, tao tới đó,
Nhắc lại à…mà nhắc lại làm chi
Mình rượt giặc, giặc rượt mình…tung tóe
Khi quay về lại chan chát…cụng ly

Ly mầy, ly tao, ly cho thằng chết
Thằng chết rồi mình uống thế được sao
Lính bọn mình toàn những tay hào kiệt
Xô lệch trời đất, xô lệch thương đau

Làm quan, nghèo, mình chơi bằng rượu đế
Lại cợt đùa uống nước mắt Quê Hương
Nước mắt Quê Hương, uống sao cho hết
Ngập núi, ngập rừng ngập cả gió sương

Đã chết rồi giờ tao lại muốn sống
Sống để nhìn chung cuộc một trò chơi
Mầy còn sức cứ mình ênh ngồi uống
Ly cuối, dành cho… thân phận ngậm ngùi.

Xong bài thơ, cả hai đều qua một đêm thức trắng trong tố ấm gà trống nuôi con. Chúng tôi không nói gì thêm, yên lặng và buồn cho vận nước, cho số phận con người cũng như cuộc đời nổi trôi của những kẻ tha phương không có ngày về. Rồi những lần gặp gỡ tiếp theo, anh không được phép uống nhưng ngồi nhìn bạn bè nâng ly, có thể cảnh nầy giúp anh sống lại một thời sống chết với bạn bè đồng đội :
Uống đi mầy cứ làm thêm vài chén
Nhớ đừng say, còn nghĩ đến anh em
Những thằng bạn của một thời chinh chiến
Đổi mạng mình… để lấy sự bình yên
… …

Mầy nhắc trước hay là tao kể trước
Mỗi dấu giày mình khép một mùa xuân
Bù Đăng, Phó Bình, Suối Ngô, Xóm Được
Mười ngón tay, cứ mất từng thằng
Rồi giữa đường gãy cánh, bạn bè thất lạc nhau, kẻ vô tù, người ra đi…
Súng trên tay bỏ xuống
Rõ ngu hơn người ngu
Rồi ôm nhau khóc lóc
Còn rủ nhau vô tù…
Hai chữ “Ráng Chịu”, có lẽ anh dùng để tự an ủi cái thân phận thiệt thòi của tuổi trẻ trước vận nước đảo điên, trước cuộc chiến khốc liệt hay để vỗ về những người bạn đã nằm xuống, chết gục trong tù, chìm sâu dưới biển hay dở sống dở chết nơi đất khách quê người…rồi hôm nay được gì hay chỉ còn lại những niềm đau bất tận :
Với Quê Hương, ta một đời ráng chịu
Người thương ta rồi…cũng ráng chịu theo
Lỡ yêu tính năm vài tuần…níu kéo
Chụp giựt không bằng mà vẫn cứ yêu
……
Ta vào lính, bài học đầu ráng chịu
Cứ thi hành, muốn khiếu nại, làm sau
Mỗi một mạng…đổi đuợc vài ba phút
Chiến trường đau, ngập lút, lút cả đầu
……
Cứ ráng chịu. Tin có ngày mai đẹp
Bỏ nụ cười người vào túi rong chơi
Ta xin cả những gì người thua thiệt
…đốt từng trang. Thắp sáng lại cuộc đời

Trang nhật ký người lại thêm nước mắt
Ráng chịu te tua, ráng chịu tận cùng
Bọn ta sống, sao Quê Hương lại mất
Xót xa nầy…còn ráng chịu nổi không
…..
Và “Ráng Chịu” cũng có thể là một nuối tiếc những gì mà con tim thời loạn hằng ước mơ nhưng phải buộc lòng giã vờ làm kẻ ngây-thơ-vô-tình để chấp nhận khoác lên vai món nợ núi sông ! Rồi quả đất tròn, ước mơ trở về nhưng cuộc đời đã rẽ làm đôi, đầu tóc đổi màu… thôi thì đành “ráng chịu” !
Hồi mới quen
Em bảo ta đừng bao giờ xin lỗi
Cắm đầu yêu thì làm gì nên tội…
Một trăm năm có rảnh phút nào đâu
Ta hẹn lung tung, hẹn lần hẹn lữa
Đời ta xuôi ta có lắm bạn bè
Những thằng bạn chia cả trời khói lửa
Chân đạp mòn cả vạn sơn khê…

Có lẽ vì thế mà anh đã vuột mất tình yêu…Cho đến một ngày :
Đêm ngồi nghe em hát
Rối bời sương Cali
Tóc thời gian bạc trắng
Em mang buồn…giấu đi
… …
Cứ hờn anh em nhé
Bằng gợi nhớ đau thương
Anh xa rời cuộc chiến
Như…một chuyện hoang đường

Rồi Trạch Gầm đành phải thú nhận :
Anh kể em nghe tháng ngày phiêu bạt
Đốt đuốc quạnh hiu, tìm kiếm mỏi mòn
Phân nửa mặn nồng lạc từ ký ức
Tặng cho cuộc đời…vượt suối trèo non

Cuộc sống nơi quê người và nguồn yêu thương duy nhất của anh, bây giờ chính là :
Sáng vào trường…
Con ăn hamburger, hot dog
Chiều về nhà…
Con ăn rau luộc chấm tương
Ngồi cùng cha, con ngồi tận Quê Hương
Việt Nam mình…
Một ngày bỏ đi, một đời thương nhớ
Đất Mỹ tư do, cửa đời rộng mở
Con muốn hụt hơi…
Chạy tìm kiếm tương lai
Con đủ khôn ngoan, ôm trọn tháng ngày
Như lòng con…
Vẽ vời trăm điều mơ ước
Rau luộc chấm tương
Cha mong con còn nhớ được
Con có một đoạn đời…
Rất nghiệt ngã, rất đau thương
Đầu óc chết khô
Lúc con đứng giữa thiên đường
Cái thiên đường tối thui của bọn người cộng sản
Con đủ kiến thức chưa,
Hãy soi gương thân phận
Đổi được màu da không đổi được tâm hồn
Cũng thời gian nầy, con cười
Nhưng tại Quê Hương,
Việt Nam mình, bằng tuổi con…
Có triệu người đang khóc
Cha không giải bày, nhưng con hiểu được
Ai bạn, ai thù, ai mở cửa lầm than
Tại sao cha con mình…
Thành những kẻ lưu vong

Xếp tập thơ lại vì cảm thấy đôi mắt hơi cay. Trước mắt tôi, Trạch Gầm với cái điếu cày mà giờ đây anh xem như bình rượu để an ủi trong những ngày còn lại. Đặt “Ráng Chịu” lên ngực và cố dỗ giấc ngủ nhưng những lời thơ của anh vẫn ám ảnh tôi như muôn ngàn tiếng thở dài của người lính bị buộc phải buông súng giữa đường một cách nhục nhã.

ĐINH LÂM THANH
(Paris)

Số mạng.

trachantranhuuhoi

– Chú Trứ có tin con người ta sống hay chết đều do số mạng không?
Tiếng gió rít từng hối trên ngọn dương liễu bên ngoài cùng với cơn mưa rã rich giữa khuya, trong biệt giam tối và lạnh làm cho câu hỏi của Tưởng như có gì huyển hoặc xa vời.
Tưởng lớn hơn Trứ chừng sáu tuổi, bị tội buôn, trộm và mổ bò lậu, lãnh án ba năm, ở trong Trại giam Phan Thiết hai năm nay rồi. Gần đây, bắt được một vụ trộm bò ở Ninh Thuận, khai ra có lên can với Tưởng trong những vụ trước. Anh lại bị đưa về Ninh Thuận để làm việc.
Tưởng không hề trộm bò, anh chỉ chuyên mổ bò và là bò của Hợp Tác Xã. Trong căn phòng nhỏ cỡ bốn mét vuông, một đêm anh có thể mổ sáu con, các mối chở xương và thịt đi, sáng ra là đã được dọn sạch phi tang. Tưởng ở chung phòng biết giam với Trứ cả tháng nay.
– Ý anh là sao?
– Nghĩa là khi cái số mình chưa tận, thì cho dù có bỏ trong lu, lấy búa tạ mà đập thì cũng không chết!
Trứ cười, anh cũng thường nghe nói đến số mệnh, không riêng gì chuyện sống, chết, mà giàu nghèo, sang hèn, sướng khổ…đều có số định sẵn. Nghe thì nghe thế nhưng do tuổi tác còn trẻ, anh ít quan tâm. Giờ đột nhiên nghe hỏi, chẳng biết sao mà trả lời:
– Tôi có nghe nói nhiều nhưng vu vơ, mơ mơ hồ hồ, bản thân thì mới hai sáu tuổi đầu chưa có gì gọi là kinh nghiệm về chuyện này nên nói không tin thì không phải, mà tin một cách chắc chắn cũng không!
– Tôi thì tôi tin vì ngay chính bản thân tôi, mấy lần tưởng tiêu đời rồi nhưng cuối cùng vẫn cứ sống nhăn!
– Có ai đó bỏ anh vô lu mà đập bằng búa tạ à?!
– Hà hà, bỏ vô lu thì chưa, nhưng bắn và bỏ cho chết đói thì có rồi!
– Anh Tưởng kể đi.
– Ừ, thì kể.
oOo

– Chừng hai mươi ngày sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, tôi mới hai mươi hai tuổi. Hồi tới tuổi lính, tôi vào Địa Phương Quân, binh nhì, bốn năm lính, tôi trình diện ủy ban quân quản với cấp bậc hạ sĩ. Không biết chọn lựa theo công tội thế nào mà có một sồ cho học tập tại nhà, một số phải đi tới trại.
Hôm tập trung trình diện, cán bộ quân quản thông báo đi cải tạo, học tập chính sách và đi ngay, ai cũng hoảng là lo. Cán bộ nói là trại gần, thân nhân sẽ đem đồ dùng đến sau. Hai bộ đội chính quy cùng hai thằng du kích, người trong xã, dẩn đám ngụy quân, ngụy quyền chúng tôi chừng ba mươi lăm người lên trại, cách nhà chừng mười cây số, đi hàng một. Lính gồm những thằng tre trẻ như tôi, một vài người hơi lớn chừng bốn mươi, bồn lăm. Các bác được gọi là ngụy quyền thì lớn hơn, già không hà, gồm trưởng thôn, mấy ông trong ban đại diện xã…
Đi được chừng năm cây số thì bác trưởng thôn quay lại xin nước uống. Anh lính đi sau bác không có, tôi may có cái bình hai lít mẹ tôi đưa cho hồi sáng, tôi đưa cho anh lính chuyền cho bác. Uống thì phải dừng lại, bác ấy đang dốc cái bình lên miệng thì thằng du kích, nó cũng là người trong xã nhưng thoát ly đâu từ lâu nên lạ, tống một báng súng ngay bụng làm bác ấy gập người xuống, cái bình rơi ra xa, tôi bước tới cúi xuống đinh nhặt thì bị nó cho một đá ngay mông chúi người tới trước. Tuy là lính Địa Phương Quân, một binh chủng thuộc loại hiền nhưng tôi ba gai cũng chẳng thua ai. Máu bốc lên đầu, định chụp cây súng của nó nhưng Bác trưởng thôn và mấy anh em ôm tôi lại…Tụi tôi đi tiếp nhưng nó cứ hầm hè, còn tôi thì chẳng ngán, lườm lại nó. Một bộ đội chính quy đi lên ngang nó rồi bảo nó đi lùi ra sau, anh ta đi vào vị trí của nó. Chiều thì đến trại. Rất đông người đến trước đã dựng lều lán lúc nào rồi, vùng này mất an ninh từ lâu, thỉnh thoảng đơn vị tôi có vào hành quân và choảng nhau nơi này.
Chúng tôi được chia ra, chiều tối, khi các tổ đến trước đi lao động về, sắp hàng điểm danh rồi chúng tôi cùng theo họ vào lán trại, tôi cùng hai người nữa, vào một tổ mới mà tổ trưởng là một người cao to, da đen, có vẻ là sĩ quan chế độ cũ. Mấy người mới chúng tôi được nằm gần nhau, Bác thôn trưởng cũng được chia ở cùng tôi. Lán vẫn còn rộng rinh, chắc là còn nhiều người sẽ đến.
Sáng ra, tôi cùng những người mới đi làm việc với những anh em đến trước. Chiều về, lúc sắp hàng điểm danh trước khi vào lán, tôi thấy thằng du kích hôm trước đi nhìn từng người, hắn thấy tôi và bác trưởng thôn đúng gần nhau, mắt hắn trường trừng nhìn tôi rồi lặng lẽ đi về cuối trại.
Tối lại, nằm bên tôi, bác thôn trưởng, lúc này tôi đã biết tên bác vì khi điểm danh nghe hô Trương Quang Cần. nghiêng qua thì thầm:
– Cháu nên tách xa bác ra, bác sợ cháu bị liên lụy!
– Sao vậy bác?
– Thằng du kích đó, nó thù bác, sẽ kiếm cách trả thù.
– Vì sao nó thù bác?
– Nó là cháu bên vợ bác, cha nó chết sớm, lêu lỏng ăn chơi chẳng chịu học hành làm ăn gì. Cách nay chừng hai năm, cảnh sát bắt nó vì tội đánh lộn, phá phách trong quán bida. Mẹ nó đến khóc lóc nhờ bác, bác đến Cuộc cảnh sát khuyên lơn nó, cũng hăm he cho nó sợ rối bảo lãnh cho nó về. Mấy ngày sau, nó cùng hai thằng bạn giữa đêm vào nhà đánh bác rồi phá phách lung tung. Bác chưa làm gì thì cả ba thằng biến mất. Nó nghỉ là bác đã cho cảnh sát bắt nó!
Cuộc cảnh sát cho biết là chúng vào rừng theo Việt Cộng.
Tính tôi ngang, đã vậy tôi cũng không ngán, cứ ở gần bác Cần. Gia đình thăm nuôi có gì chúng tôi gom lại ăn chung. Bác nhắc lại hoài chuyện tách xa bác nhưng tôi gạt ngang:
– Ngán gì bác, chẳng lẽ nó bắn chết mình!
Tưởng đâu chừng một tháng hay tháng rưỡi chi là được về, ai dè hơn hai tháng vẫn chưa nghe động tỉnh gì. Vài ngày lại có một số lên xe đi đâu đó, phần nhiều là sĩ quan, công chức cấp cao. Bác Cần nghe nói là những người đó bị đưa ra Bắc.
Một hôm đi lao động về, bác Cần ham hái rau sam nên tụt lại sau, tôi ngờ ngợ có chuyện nên quay lại tìm, đúng lúc thằng du kích chận bác lại, nó ngó trước ngó sau rồi thoi vào bụng bác làm bác gập người xuống, mớ rau văng tung tóe. Tôi chạy nhanh đến, không thấy nó cầm súng nên lao vào đạp nó một đạp từ sau lưng, nó ngã chúi lên người bác Cần, thì ra nó bỏ cây súng xuống gần đó để đánh bác Cần bằng tay, nó lăn qua chụp cây súng nhưng bác Cần kịp ôm chân nó hét:
– Chạy lên ban chỉ huy trại đi.
Tôi chạy nhưng nó vùng dậy được, vừa bắn nó vừa hô:
– Trốn trại, trốn trại…
Chỉ cách không đầy mười lăm mét, nó vừa chạy vừa nhắm thẳng vào tôi mà bắn, tôi cắm đầu chạy về phía trại chỉ huy. Cả tràng đạn AK đi đâu mất tiêu, tôi chẳng bị gì cả. Trong lán chỉ huy chạy ra mấy bộ đội chính quy, gọi là cán bộ quản giáo, người có súng, người tay không. Tôi đưa hai tay lên trời, dừng lại trước họ. Bác Cần cũng vừa chạy đến, bác cũng đưa hai tay lên đầu. Thằng Du kích chạy đến chỉ vào tôi
– Báo cáo thằng này trốn trại.
Trại trưởng, một bộ đội lớn tuổi, lệnh đưa hai chúng tôi và cả thằng du kích vào trại chỉ huy.
Mấy bản tường thuật, kiểm điểm của tôi và bác Cần giống nhau. Chúng tôi được cho về trại. Nhưng ba ngày sau, tôi được gọi lên rồi bị dẫn ra ruộng dưa. ở đó có một cái chòi trơ trọi. Tôi hơi lo, không biết họ định làm gì!
Một thằng du kích và một bộ đội, cả hai đều có súng, không có thằng du kích thù tôi nên cũng hơi yên tâm.
Chờ một lúc lâu, có hai thằng du kích nữa, vác đến một cái gì bằng gỗ, lần này thì có thằng du kích đó. Tôi được đưa vào lều, bên trong tối om. Một tên du kích bảo tôi nằm xuống, tôi nằm sấp úp mặt xuống thì nghe bảo nằm ngửa ra. Tôi nằm ngửa ra, một thằng kéo khúc gỗ tới bỏ hai chân tôi vào hai lỗ hai bên, thằng kia bỏ một khúc gỗ khác chồng lên hai chân tôi khít vào hai lỗ, một thanh sắt thọc ngang bên trên rồi khóa lại bằng ổ khóa to. Tôi đoán đây là cái mà các anh em ở trại thường gọi là cùm.
Trước khi đi, tên bộ đội nói:
-Anh bị kỷ luật, bỏ ý định trốn trại đi, cứ chấp hành cho tốt sẽ được tha.
Tôi hoang mang, băn khoăn, lo đủ điều. Tôi không mang theo được gì kể cả tấm chăn!
Tôi thử uốn người ngồi dậy nhưng hai lỗ cùm cao quá, hổng hai chân lên nên chỉ gồng người được một lát là phải nằm lại. Sau này tôi biết là cái cùm, mới được toán thợ mộc làm và tôi là người đầu tiên bị cùm!
Trưa hôm đó, không có ai cho tôi cơm nước gì, chiều tối, có người đem một túm cơm gói trong bịch nilon, miếng cá khô và một chai đựng nước đến. Tôi đói, ăn hết túm cơm mà vẫn còn đói. Ngày sau, khoảng trưa thì người đó mang cơm đến, anh ta bỏ túi nilon cơm và một can chừng hai lít nước xuống sát bên hông tôi rồi nói:
– Ông Cần chuyển trại đi nơi khác rồi!
– Đi đâu?
– Không biết!
Vốc cơm ăn, lòng băn khoăn không biết bác Cần chuyển đi đâu, có bị như mình không?!
Ngày sau, không có ai đem cơm đến cho tôi và những ngày sau nữa, tôi đói lả người. mắt tôi hoa lên, chập chờn nhiều ý nghỉ và hình ảnh trong đầu. Tôi thấy mẹ tôi, chị tôi vừa chạy vừa la “ Tưởng ơi Tưởng, con đâu rồi, con đâu rồi!!!”.
Thỉnh thoảng tôi tỉnh lại, với lấy cái chai nước dốc vào miệng, cái chai không còn giọt nào, cái can nhựa còn một ít, tôi uống cầm chừng, không nhớ được là mấy ngày như thế. Đến khi cái can cũng hết nước, tôi đái vào can rồi uống từng ngụm nhỏ, không hề thấy khai, cứ ngậm cho thấm từ từ…
Tôi không còn phân biệt được ngày hay đêm và không ăn mấy ngày rồi. Có lần tôi tỉnh dậy vì như có ai cào vào chân tôi, ngay giữa háng. Nằm một lát tôi nghe tiếng gà gáy rồi tục tác. Trong đầu tôi thoáng qua ý nghỉ là con gà hoang nào vào đẻ ?!.
Con gà bươi một hồi rồi nằm im, đúng là con gà đẻ, ngay giũa háng tôi. Khi nó bay đi rồi, tôi sờ xuống, một cái trứng mềm còn nóng. Muốn lấy ăn ngay nhưng tôi nhớ lại, người ta nói là con gà khi vào đẻ lại, thấy trong ổ không có trứng thì đi tìm ổ khác hoặc không đẻ nữa. Người nuôi gà khi nào cũng chừa một hoặc hai cái trong ổ, tôi cố nhịn không dám ăn, rồi mê đi…
Con gà lại vào đẻ, khi sờ xuống thấy hai cái trứng tôi biết mình mê đi một ngày. Tôi thò tay lấy một cái trứng đưa lên miệng, gỏ vào răng rồi hút, cả cái trứng tót vào họng,chỉ còn chút nhầy nhầy tanh tanh ở lưỡi!
Con gà đều đặn đẻ như thế, tôi không đếm được là bao nhiêu ngày.
Cho đến một hôm, tôi mơ hồ nghe tiếng người xôn xao, hình như nhiều người, đỡ tôi dậy, tháo cùm rồi khiêng tôi đi…Tôi phải vào trạm xá vì lưng tôi đã bị lầy, da tróc từng đám!
Tưởng kể đến đây thì ngồi dậy, anh lấy cái ráy tai tự chế mà trong tù ai cũng có, xoáy tai mình kêu rồn rột. Tôi hỏi:
– Anh có biết vì sao họ bỏ đói anh không?
– Họ không bỏ đói mà là họ quên !
– Tôi bị kỷ luật, phần cơm của tôi vẫn chia về toán, bác Cần lấy cơm rồi nhờ người đưa đến cho tôi, khi bác chuyển đi, không còn ai nhớ đến tôi! Lúc mẹ và chị tôi lên thăm, trại mới nhớ lại. Nếu mẹ và chị tôi không lên thăm hoặc thăm trể đi vài ngày, chắc là tôi tiêu rồi vì con gà đã ngưng đẻ hai ba ngày trước! Sau này mới biết tôi không ăn cơm mười một ngày, trong thời gian đó, con gà cho tôi tám cái trứng!
Tôi tin vào số mạng là vậy, nếu con gà không vào đẻ, hay đẻ xa tôi chừng mét rưỡi thì tôi không sống nỗi tới ngày mẹ tôi vào thăm. Số tôi chưa tận!

oOo
Ngoài biệt giam vẫn mưa, gió vẫn thổi, thỉnh thoảng lùa vào phòng từ ô cửa trên cao, tôi nằm im ngẩm nghỉ về sự trùng hợp lạ kỳ của chuyện con gà đẻ.
Hồi lâu, anh Tưởng lên tiếng hỏi:
– Chú ngủ rồi à?
– Chưa!

Sài Gòn, tháng 9 năm 2015.
Trạch An – Trần Hữu Hội

SUY NIỆM TRẮNG

truongdinhphuong

Có lẽ người không biết
Nỗi buồn sinh ra trước tôi một ngày
Hôm ấy trời đầy gió
Lũ lá cúi đầu xếp hàng đưa tang mùa thu
Tôi rời bụng mẹ
Vừa lúc gã mùa đông đặt chân vào thành phố
Hôm ấy trần gian co quắp
tinh người nép sau những tà áo ấm…
Cha tôi vốc yêu thương thả vào nồi cháo cám
Đôi tay gầy khuấy loãng âu lo
Tôi nằm trên manh chiếu chằng chịt vết sẹo thời gian
Toe miệng cười
Mẹ tôi gom muôn nỗi đắng cay
Chôn vào mắt bão đáy lòng
Dùng những sợi tơ từ trái tim đằm thắm
kết nên những mầm xanh về một mùa xuân xa vợi xa vời
Ầu ơ ru tôi…
Ba mươi năm bao chuyến tàu chở tôi đi qua những sân ga vui buồn/được mất
Mẹ tôi còng lưng
cho đời tôi đứng thẳng
và cha tôi đã nhập vào đội ngũ những vì sao trên bầu trời xa tắp
tài sản để lại cho tôi là những bài học làm người…
Chiều nay trời đầy gió
Tôi và nỗi buồn tương ngộ
Hai đứa ngồi trên tháp chuông cuộc đời
Gom những giấc mơ vẽ hình hài cổ tích
Có lẽ người không biết…

Trương Đình Phượng

MẮT XƯA

vungocgiao

ta về tìm lại người
phố xưa đầy xác lá
nắng xưa vẫn vàng hanh
nghe sầu dâng tê giá

ta về tìm lại ta
ngõ xưa mờ sương khói
vườn xưa chim đã bay
nửa đời chừng mê mỏi

ta về nhìn lại người
tóc xưa chìm bóng lá
tình xưa mòn mỏi mong
mắt chôn cùng cõi lạ

ta về nhìn lại ta
rong rêu đầy thân thể
trái tim héo trên môi
và , nỗi sầu ngạo nghễ

ta về thấy lại người
mắt xưa đầy bóng tối
hồn ủ ê héo hon
thở hương mùa hấp hối

ta về thấy lại ta
là người trên thánh giá
cô đơn – và , cô đơn
trong tận cùng nghiệt ngã
…….
thôi , người hãy ngủ đi
ta về cùng ngày tháng
một đời có hề chi
trong thinh không lãng đãng

vũ ngọc giao

MÈO MAO VÀ CÁI TPP

khuatdau

Hơn 6000 năm trước, tổ tiên của mèo Mao chỉ rình bắt chuột ở hai bờ sông Hán. Cho dù rất thèm cá, nhưng chưa bao giờ dám mò ra biển lớn. Loài mèo vốn dĩ rất sợ nước.
Ngày nay, khi đã biết ăn bánh bao nhân thịt người, uống rượu mao đài (có pha máu) thì sợ gì nước. Mao tân vương liền hạ lệnh cho miêu dân xuống biển bắt cá.
Nhưng thuyền thì bé chỉ như chiếc lá tre, lưới thì nhỏ như chiếc mùng rách, không cách gì bắt được cá lớn. Đó là chưa kể tàu thuyền đánh bắt xa bờ của mèo Đôrêmôn và mèo Tom đi lại như mắc cửi. Chưa nói tới gió bão, chỉ cần tàu thuyền của chúng lượn sát bên hông là cũng đủ chìm rồi.
Muốn ăn cá đâu có dễ! Thục đạo nan! Thục đạo nan! Còn khó hơn đường vào đất Thục.
Vậy thì phải sắm tàu to và lưới rộng. Rồi vẽ ra đường chín đoạn và cái lưỡi bò, coi biển đông như cái ao nhà, luyện tập thuần thục trước khi ra biển lớn. Kế sách bày xong, Mao tân vương bèn nằm duỗi cẳng trên giường nệm lò xo, cùng với các miêu nữ chân dài mà lắc lư con tàu đi.
Có biết đâu rằng, mèo Tom sô cô la cũng đang xây mộng big cat, muốn trở thành vua sư tử. Suốt 5 năm qua, mèo Tom vừa rửa xong cái nhục tháp đôi, vừa âm thầm tính kế cắt bớt nanh vuốt của mèo Mao.
Thế nên, vừa qua tại Atlanta, mèo Tom và Đôrêmôn cùng với sư tử biển Singapore, hổ Mã Lai, chuột túi kanguru, gấu trắng bắc cực và nhiều loài giống khác trong đó có chuột Á Nàm, tung tấm lưới cực kỳ lớn rộng có tên gọi là TPP. Lưới giăng từ bắc xuống nam, chạy dọc suốt hai bờ đông và tây của biển Thái Bình, sát ngay cửa ngõ nhà Mao, cứ như thiên la địa võng.
Bảo rằng tạo điều kiện thuận lợi để cùng nhau đánh bắt tôm cá, kỳ thực là chúng hợp tung liên hoành để nhốt Mao vào rọ. Từ đây chúng mặc sức vẫy vùng, chia chác nhau nguồn hải sản vô tận.
Mao tân vương đấm ngực gào rú trên sóng truyền hình. Thế này thì đường chín đoạn nát bét ra rồi, còn cái lưỡi bò vừa mới thò ra cũng bị cắt cụt, giờ chỉ còn lại cái lưỡi mèo nhỏ xíu!
Chẳng lẽ mèo lại hoàn mèo?!
Trước đây, Mao tiên vương, tự xưng là người cầm lái vĩ đại, nhưng cũng chỉ lái tàu gỗ trên đất liền; mấy lần cố sức đại nhảy vọt cũng đâu nhảy bằng kanguru; tự cho là đã lên mặt trăng cả ngàn năm trước, nhưng cũng chỉ là trong mộng, trong khi mèo Tom bay lên đó cắm cờ. Từ dưới đất nhìn lên, dù không có gió, cờ của mèo Tom vẫn hiên ngang kiêu hãnh, khiến Mao tiên vương tức muốn hộc máu như Chu Du. Cái nhục đó Mao tiên vương di ngôn đời con đời cháu phải trả. Thế mà, giờ đây lũ mèo Tom lại rào kín biển, loại mình ra khỏi cuộc chơi, cái nhục này xem ra còn to hơn cả nhục cắm cờ.
Ngó tới ngó lui, nhìn trước trông sau, Mao tân vương quả là tứ bề thọ địch. Ngoài biển lớn thì bị cái TPP vây ráp, trong đất liền thì gấu Misa, khỉ Anan và sói đồng hoang rượt đuổi. Lại thêm lũ nội thù, nào là chuột khổng lồ ở Tân Cương, vây cánh của Giang, Hồ ở Bắc Kinh, Thượng Hải. Ngay cả thằng chuột chù Á nàm, bao nhiêu năm rét run bò lê xin tha tội chết, nguyện đời đời làm tôi tớ cũng đâm ra trở cờ, theo bám đuôi mèo Tom và Đôrêmôn mà giở giọng hỗn láo. Giờ chỉ còn mỗi con chuột Un ăn củ sâm béo trục béo tròn là tâm phúc. Nhưng nó cứ “em chả” “em chả” đòi cho bằng được cái bấm ngòi nổ bom nguyên tử như bấm game, không khéo rồi chết cả lũ.
Cái giấc mộng đại miêu của Mao tân vương khi mới lên ngôi to là thế, giờ bỗng xẹp lép như bong bóng xì hơi. Vương chỉ còn biết nói cứng: “Thì hãy đợi đấy!” Và tự nhủ rằng, quân tử trả thù hai mươi năm cũng chưa muộn (tăng gấp đôi).
(Mèo chuột ký sự)
Khuất Đẩu

THU HÁT CHO NGƯỜI

phamkhanhvu

Dòng sông nào đưa người tình đi biền biệt
Mùa thu nào cho người về thăm bến xưa
Hoàng hạc bay bay mãi bỏ trời mơ
Về đồi sim ta nhớ người vô bờ …
(Thu Hát Cho Người – Vũ Đức Sao Biển)
Từ mùa thu năm ấy, đến nay cũng đã nhiều năm. Tôi một mình trở lại Shenandoah, vùng đồi núi yên tĩnh của tình yêu. Tôi bước đi, hát nhỏ cho tôi, và cho anh nghe bài hát ấy, bài hát mà Duy đã hát những ngày chúng tôi lang thang với nhau trên vùng đồi núi này. Bây giờ, một mình tôi bước đi.
Tôi yêu Duy ngay từ những ngày đầu tiên bước vào ngưỡng cửa đại học. Anh học năm cuối, và học rất giỏi. Một năm sau Duy đã xác định tình yêu của chúng tôi bằng một nụ hôn nồng nàn, ấm áp trong một góc vắng của quán cafeteria trong trường. Anh là con một của cha mẹ anh, và là niềm vui duy nhất của mẹ anh, khi cha anh qua đời lúc anh còn rất nhỏ. Bà yêu anh đến nỗi có lần tôi đã nghĩ rằng bà ghét tôi, ghen với tôi, và sau này chắc là tôi sẽ phải gặp khó khăn nhiều lắm để trở thành con dâu của bà. Thật sự thì ngày đầu tiên khi Duy dẫn tôi đến nhà giới thiệu, bà đã lịch sự chào tôi với một vẻ mặt nghiêm nghị, không cười.
Sự thu hút của Duy nằm trong đôi mắt, đôi mắt đen, sâu thẳm và như biết nói, khi anh nhìn tôi. Lớn hơn tôi chỉ 4 tuổi, nhưng Duy có cái vẻ điềm tĩnh và xử sự như một người lớn chững chạc, trái với tánh tình hơi bồng bột và lãng mạn của tôi. Duy yêu thích cảnh thiên nhiên rừng núi và đặc biệt là Shenandoah, một tặng phẩm của trời đất ban cho Virginia, thung lũng núi đồi với rừng cây bạt ngàn bát ngát khi vào thu, những con đường ngoằn ngoèo xuyên qua rừng cây rực rỡ sắc mầu, đẹp như một bức tranh, anh nói vậy. Chúng tôi thường lái xe chạy vào vùng rừng núi này những ngày nghỉ học hay những ngày lễ, vì nhà của chúng tôi chỉ cách nơi đây khoảng hơn 1 giờ đồng hồ.
Có một lần nghỉ học Duy chở tôi đến Shenandoah. Hôm ấy Duy mặc quần short xám và áo T shirt Polo màu vàng nhạt, đeo mắt kính đen vì trời nắng, khi bước lên xe anh tôi đã cảm giác một cái gì đó rất lạ trong lòng tôi. Tôi có cảm giác Duy đã là của tôi, chỉ một mình tôi, và trong giây phút tôi có ý muốn chiếm đoạt anh cho riêng mình, tôi không thể nào rời mắt nhìn anh và tay tôi trên cánh tay trần rám nắng của anh. Duy không tỏ ra một thái độ gì khác. Tôi cố ý nhẩn nha chỗ này chỗ kia cho tới chiều, càng gần buổi chiều lòng tôi càng xúc động. Tôi thì có tà ý, còn Duy thì trong sáng, sự trong sáng hấp dẫn như một trái cấm. Tôi ôm anh trong rừng thu vàng úa và gió lộng, tôi nhắm mắt lại, thì thầm:
– Duy ơi, em yêu anh.
Duy hôn lên tóc tôi:
– Anh yêu em, bé con.
Nhưng tôi không chịu ngừng ở đó. Bóng chiều đã dần tàn phai trong khu rừng vắng, người qua lại cũng vắng vẻ, và chúng tôi đang ở giữa một khoảng rừng dày, tôi nhìn xuống tấm đệm chúng tôi mang theo để trải ngồi. Tôi vít đầu Duy xuống và hôn lên môi anh, đôi môi Duy ấm và ngọt như một quả táo, hơn thế nữa, tôi kéo anh ngã xuống tấm đệm. Duy ngã theo tôi, anh ôm tôi trong vòng tay rắn chắc, nhưng khi bàn tay tôi mò mẫm kéo chiếc áo T shirt của anh ra, thì anh nắm tay tôi lại:
– Như Ý, đừng em, phải giữ…
Tôi vừa giận vừa xấu hổ, tôi khóc:
– Em yêu anh, em không muốn giữ gìn với anh, có gì là tội lỗi đâu, rồi mình cũng cưới nhau mà.
Duy kéo tôi nằm ngửa ra trên tấm đệm, thì thầm vào tai tôi:
– Mình nằm chơi thế này là được rồi, đừng khóc.
Anh xoay người lại, quàng tay ngang người tôi, hôn tôi. Tôi cảm thấy miệng mình đắng, tôi hờn giận quay mặt đi tránh cái hôn của anh. Duy điềm tĩnh nằm ngửa mặt nhìn lên bầu trời chiều, những con chim thinh lặng của núi rừng đang chập choạng gọi nhau về tổ. Khi anh gọi tôi đi về, tôi im lặng đi bên cạnh anh không nói một lời, trong lòng ngổn ngang những suy nghĩ. Hai ngày sau đó tôi không gọi, mà anh cũng chẳng gọi, đến ngày thứ ba chịu không nổi, tôi gọi:
– Em muốn nói với anh là em không cố ý hôm đó, em không phải như vậy.
Duy cười trong điện thoại:
– Anh hiểu mà, anh không nghĩ em vậy đâu.
Tôi hiểu Duy từ đó, và không dám có ý định tái diễn lại điều đó một lần nữa. Nhưng Duy cũng rất tế nhị, anh không rủ tôi đi đâu vào những khung cảnh vắng vẻ trong những thời gian tăm tối. Những khi cần anh chỉ giúp thêm về toán, tôi lại nhà anh, tôi và anh ngồi trong căn phòng nhỏ dưới lầu, mở cửa. Và tôi cẩn thận, ý tứ vì biết là đâu đó, trong nhà, đôi mắt của mẹ anh vẫn âm thầm theo dõi tôi. Nhưng tôi yêu và kính phục Duy hơn. Tình yêu của chúng tôi lớn dần theo ngày tháng, tôi cũng dần lớn lên, cũng bớt dần những tính khí ngông cuồng, bồng bột của tuổi trẻ.
Thời gian qua, tôi ra trường, và đi làm. Có nhiều ngày tôi nhận thấy Duy có những sự thay đổi. Anh có vẻ mệt mỏi, ngơ ngác, im lặng nhiều hơn, không hoạt bát như mọi khi, anh gầy đi. Anh không đi cùng tôi đến những phòng tập thể dục nữa. Ngồi bên tôi, đôi khi anh chìm vào những suy nghĩ miên man rất lâu. Tôi lo lắng, tôi hỏi:
– Anh có bệnh gì không”
– Thường nhức đầu, cảm thấy mất sức. Duy trả lời. Có lẽ anh hơi bị pressure vì công việc bề bộn và khó khăn ở sở thôi.
Tôi cũng không chú ý nhiều lắm. Có một ngày, tôi không nghe anh gọi. Duy có thói quen gọi cho tôi sau khi đi làm về. Thường anh muốn gặp tôi một chút ở quán cà phê trước khi về nhà. Nhưng hôm đó tôi chờ cho đến tối. Đến tối thì tôi gọi anh, cell phone của anh off. Tôi gọi số nhà. Khá lâu tôi nghe tiếng người ở đầu giây bên kia, mẹ của anh:
– Duy nó đi làm về và bị mệt, bác đang nấu cháo cho nó, cháu có thể đến chơi.
Khi tôi đến thì Duy đang ngồi trên chiếc ghế rộng vành ở phòng khách. Khuôn mặt anh hơi xanh nhưng bình thường. Tôi hỏi:
– Anh bị bệnh sao vậy”
– Khi lái xe về gần nhà anh tự nhiên thấy choáng váng phải lấy qua lane emergency ngồi nghỉ mệt một lát. Vừa thấy đỡ anh vội lái về nhà nhưng vừa về đến nhà lại bị choáng lần nữa, bây giờ thì đỡ rồi.
Tôi nắm tay anh như để chia xẻ. Anh cũng siết chặt tay tôi. Chúng tôi ngồi cạnh nhau. Thấy anh có vẻ mệt tôi khuyên anh vào phòng nghỉ và từ giã. Tôi đi vào phòng anh, kéo mền đắp lên ngưòi anh, hôn lên trán anh, nói nhỏ:
– I love you, sweetheart.
Duy chỉ mỉm cười và nhắm mắt lại.
Ngày hôm sau anh nghỉ làm một ngày đi bác sĩ, và trong khi chờ đợi kết quả thử máu anh đi làm lại. Tôi nghĩ là anh bị mệt bình thường. Một tuần lễ sau ngày đó, mẹ anh gọi tôi, tôi hơi ngạc nhiên vì bà rất hiếm khi làm điều này:
– Như Ý, bác muốn gặp riêng cháu, hơi gấp. Bác có chuyện muốn nói với cháu.
Bà hẹn gặp tôi ở nhà, hôm ấy bà nghỉ làm. Tôi phải xin phép nghỉ làm để đến gặp bà. Bà là một người phụ nữ mà tôi kính mến, mặc dù thời gian đầu yêu Duy tôi đã có một cái nhìn không thiện cảm về bà. Bà lịch sự rót nước mời tôi, và khi bà quay lại trên ghế, tôi nhìn thấy vẻ bất an trên khuôn mặt bà:
– Gần đây Duy nó có nói chuyện gì với cháu không”
– Thưa không, tôi đáp. Đó là chuyện gì vậy bác”
Bà nhìn thẳng vào mắt tôi:
– Nó có bao giờ nói với cháu về chuyện cưới hỏi hay là bệnh tật …
Tôi cũng nhìn thẳng vào bà:
– Thưa có, cách đây khoảng 3 tháng Duy có nói ý định đó với cháu và cháu đồng ý, nhưng ảnh còn một môn cuối để xong cái Master, và hẹn sau khi ảnh thi xong sẽ bàn chi tiết hơn … Còn bệnh thì ảnh nói không có gì, chỉ pressure thôi …
Bà đứng dậy, đi chậm trong phòng, như cố dằn những xúc cảm mà tôi có thể nhìn thấy, đang biến chuyển trên khuôn mặt bà. Tôi cảm thấy sợ hãi một cách mơ hồ:
– Thưa bác, có chuyện gì vậy”
Bà nhìn chăm chăm vào mặt tôi, hỏi từng chữ rời:
– Cháu có biết nó bệnh gì không”
– Thưa không. Sự sợ hãi trong lòng tôi tăng dần.
Bà bước tới, nắm tay tôi. Tôi biết có chuyện chẳng lành. Tôi đứng dậy, nắm tay bà:
– Sáng hôm nay văn phòng bác sĩ gọi lại cho bác, nói về kết quả thử máu của Duy. -Bà ngừng lại mấy giây, cố nén xúc động.- Bác rất thân với bác sĩ, ông ta nói với bác trước khi báo cho Duy biết. Nó có những triệu chứng của bệnh … ung thư máu.
– Trời ơi. Tôi kêu lên, cảm thấy khó thở.
– Bác đã nghi ngờ, và sợ hãi, nhưng sự thật vẫn là sự thật.
Bà khóc, những giọt nước mắt lặng lẽ chảy xuống má. Tôi đứng chết lặng, trong giây lát không biết mình phải làm gì, hầu như tê điếng… Mãi một lúc sau, tôi mới cất tiếng được, nhưng vừa mở miệng là nước mắt tôi chảy ra, tôi nghẹn ngào:
– Duy có biết kết quả thử nghiệm chưa bác”
– Chưa cháu à, và đó là lý do mà bác muốn gặp… con trước.
Bà thay đổi cách gọi tôi, và tôi đủ thông minh để biết rằng bà cần nơi tôi một sự giúp đỡ:
– Bác cần con làm gì cho Duy không” Con sẵn sàng làm, con yêu anh ấy.
Chỉ cần nói đến đó là tôi bật ra khóc nức nở. Bà mẹ cũng òa lên khóc. Chúng tôi ôm nhau khóc, tuyệt vọng, không biết mình phải làm gì. Khi cơn xúc động vơi bớt, chúng tôi ngồi xuống và nói chuyện với nhau.
Chiều hôm sau đó, tôi gọi cho Duy và nói rằng sẽ đến nhà thăm anh. Anh có vẻ vui vẻ hơn:
– Very good. Mẹ anh đi thăm dì Tâm ở Richmond đến chiều mai mới về. Anh đang ở nhà một mình cô đơn đây. Anh sẽ nấu cái gì cho em ăn.
Tôi cảm thấy muốn khóc:
– Anh có khỏe chưa mà bày đặt nấu ăn” Để em ghé tiệm mua đồ đem đến ăn luôn.
Duy vui vẻ:
– Không sao, hôm nay anh thấy khỏe hơn. Đồ ăn chuẩn bị hết rồi, em đến là có ăn ngay.
Khi tôi đến, Duy đã chuẩn bị sẵn. Trên cái bàn ăn nhỏ thường ngày của hai mẹ con hôm nay có thêm hai cây nến mầu tím và bình hoa với hai đóa hồng vàng đơn giản. Đứng trong bếp, Duy nháy mắt:
– Sao, romantic không” Phụ anh mang đồ ăn ra bàn đi cưng.
Tôi cố gắng để giữ thái độ bình thường, tôi cũng vui vẻ:
– Nghe anh nói em cũng vội ghé chợ mua một chai champagne để uống chút chút cho romantic đây.
Bữa ăn chưa xong, tôi lấy tay nhấn nhấn vào hai bên thái dương, nói nhỏ:
– Tự nhiên em cảm thấy chóng mặt quá, có lẽ vì uống champagne không quen. Em có thể vào phòng anh nằm nghỉ mệt một chút không”
Duy hơi ngần ngừ, nhưng anh nói:
– Được, để anh vào dọn lại giường một chút. Phòng anh bê bối lắm, đừng có cười nghe.
Anh đỡ tôi vào giường, kéo mền đắp cho tôi và kéo cái ghế ngồi bên cạnh. Anh nói:
– Có cần anh giúp gì không”
Tôi nhắm mắt lại, một giọt nước mắt lăn ra:
– Nằm xuống đây với em.
Duy nhìn tôi chăm chăm:
– Sao em khóc, em có chuyện gì buồn” Có buồn gì anh không”
Tôi run rẩy:
– Nằm xuống đây, đừng hỏi gì cả.
Duy ngoan ngoãn nằm xuống bên cạnh tôi. Tôi đưa tay lên tắt ngọn đèn vàng trên cửa. Căn phòng rơi vào bóng tối mờ, chỉ còn một vệt sáng từ hành lang hắt vào. Như Ý, Duy kêu lên nho nhỏ. Tôi khóa miệng anh lại bằng đôi môi tôi đã ướt đẫm nước mắt, tôi ôm siết lấy anh, siết chặt.
Cho đến bây giờ, tôi cũng không biết lý do vì sao mà hôm ấy Duy đã không từ chối. Có lẽ là định mệnh. Anh hơi chậm chạp nhưng ôm choàng tôi lại, quấn tôi lại trong vòng tay rắn chắc của anh, trườn người lên, và đôi môi anh bắt đầu di chuyển trên mặt tôi và từ từ xuống dưới cổ. Bàn tay anh cũng di chuyển trên thân thể tôi, tôi đáp ứng anh bằng tất cả tình yêu và sự mong đợi, và anh đi vào trong tôi một cách vụng về, nhưng sôi nổi, mạnh mẽ cho đến khi chúng tôi tan vào trong nhau. Trong giây phút hoan lạc ấy, nước mắt tôi tràn ra ướt đẫm cả gối. Tôi thì thào: Duy ơi, em yêu anh. Và Duy cắn chặt vành tai bên trái tôi…..
Khi nằm trở lại trên giường, Duy nắm chặt tay tôi, nói rất nhỏ:
– Anh xin lỗi…
Tôi nắm bàn tay rươm rướm mồ hôi của anh đặt lên ngực:
– Đừng xin lỗi. Chính em muốn điều này mà…
Một tuần sau, mẹ Duy gọi tôi đến. Tôi biết việc gì. Khi tôi đến, Duy đang nằm trên giường, nhìn trừng trừng lên trần phòng, khuôn mặt trắng bệch như sáp. Bà mẹ khóc, tôi khóc, và tôi thấy nước mắt Duy trào ra. Đó là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng tôi nhìn thấy anh khóc. Bác sĩ nói là anh chỉ còn vài tháng … Đây là chứng ung thư máu cấp tính hiếm hoi.
Ngay sau khi bác sĩ báo tin, thì sức khỏe Duy xuống thật nhanh. Anh phải vào nhà thương. Tôi xin nghỉ làm việc để chăm sóc anh. Tôi nói rõ cho ba mẹ tôi biết, ba mẹ tôi đồng ý để tôi làm việc đó. Có khi tôi, có khi mẹ anh, có khi cả hai, chúng tôi cố làm mọi thứ để Duy vui, nhưng khi anh quay đi thì chúng tôi khóc, khóc não nề, không thể kìm chế được.
Tôi thường ngồi im lặng bên anh hàng giờ khi anh mệt mỏi nhắm mắt sau những thử nghiệm, nước mắt chảy ra như không bao giờ ngưng lại được. Người ta cố gắng chạy chữa nhưng Duy như một ngọn đèn tàn dần.
Hai tháng sau anh chỉ còn là một bộ xương, điều duy nhất còn tinh anh trên khuôn mặt hốc hác là đôi mắt, đôi mắt sâu thẳm như biết nói mà không nói gì nữa. Duy nhìn tôi với ánh mắt câm lặng mà điều đó càng làm cho lòng tôi tan nát.
Buổi chiều hôm đó trước khi vào nhà thương, tôi ghé nhà để đón mẹ anh, và cũng để báo một tin cho bà. Tôi nắm bàn tay gầy xương xẩu của bà, đã ốm hơn rất nhiều từ ngày anh ngã bệnh, bà chỉ còn là một chiếc bóng:
– Mẹ, lần đầu tiên tôi gọi bà. Mẹ cho phép con gọi là mẹ. Mẹ ơi, con đang mang trong lòng giọt máu của anh Duy.
Bà ôm tôi, lặng lẽ khóc. Tôi cũng khóc lặng lẽ, đó là điều mà chúng tôi đã nói chuyện với nhau ngày ấy. Bà nói:
– Bác chỉ nói ước vọng của bác, còn thì tùy con. Con còn một đời sống, con hãy tự quyết định. Duy thì không còn thời gian nữa. Nếu như Trời thương, thì …
Tôi đã quyết định, một phần vì bà, nhưng phần lớn là cho tôi. Vì tôi yêu Duy hơn cả cuộc sống, nếu mà tôi có thể chết thế cho anh, tôi cũng sẵn sàng, thì có điều gì không làm được. Tôi đã hồi hộp khi tháng đầu trôi qua mà không thấy gì, rồi tháng thứ hai, tôi đến bác sĩ. Ông nói với tôi: chúc mừng cô khi thấy tôi cười mà nước mắt chảy ràn rụa trên má.
Tôi hỏi bà:
– Mẹ nghĩ rằng con có nên báo cho anh Duy biết tin này không”
Bà cũng suy nghĩ:
– Để xem, rồi mẹ cũng phải qua nhà để xin lỗi ba mẹ con.
– Không sao đâu mẹ, con đã nói với ba mẹ con rồi. Ba mẹ con rất thương anh Duy. Ba mẹ con chấp nhận hết.
Những ngày cuối cùng của Duy là những ngày thật đen tối. Sự biết trước càng làm cho lòng đau đớn hơn, như người tử tội chờ đợi ngày hành quyết. Buổi sáng hôm đó, anh mở mắt ra, rất tỉnh táo, anh nắm tay tôi, nhìn vào mắt tôi, thì thào:
– Hình như em có điều gì dấu anh phải không” Hãy nói cho anh biết.
Mẹ anh cũng đang ngồi đó, bà gật đầu. Tôi run rẩy:
– Anh, em có thai, anh có một đứa con …
Đôi mắt Duy sáng lên, từ trong hốc mắt chảy ra một giọt nước mắt, chỉ một giọt nước mắt, anh siết bàn tay tôi lúc nào cũng nằm trong lòng tay anh:
– Vợ của anh …
Tôi cúi xuống trên ngực anh, nước mắt tôi chảy ướt chiếc áo bệnh viện anh đang mặc.
Anh dần dần rơi vào cơn hôn mê. Tôi, mẹ anh và cha mẹ tôi ngồi bên cạnh cho đến khi anh ra đi một cách thanh thản. Người y tá giữ tôi lại không cho tôi ngã nhào vào người anh. Mẹ anh thì quỵ xuống đất, mẹ tôi phải ôm bà lại, cả hai khóc thổn thức.
Tôi bình tĩnh hơn ngày đưa anh ra nghĩa trang. Tôi biết tôi có bổn phận giữ gìn giọt máu của anh. Tôi sinh cho anh một đứa con trai, và dọn vào ở chung với mẹ anh để cho bà gần gũi với cháu nội, ở ngay trong căn phòng của anh, như một người vợ không bao giờ cưới. Chúng tôi ra mộ anh hàng ngày, hàng tuần, rồi hàng năm qua…
Tôi ít khi nào dám trở lại Shenandoah, nhưng hôm nay tôi đã trở lại một mình. Mùa thu Shenandoah đẹp và buồn như một giấc mộng. Toàn khung trời nhuộm vàng bao la xa khuất.
Tôi đậu xe ở nơi trước kia Duy đã từng đậu khi chở tôi đến, tôi đi lại nơi mà có lần tôi muốn cám dỗ Duy rơi vào cơn mê tình ái. Tôi ngỡ như Duy đang đứng đâu đó, quần short, áo T shirt mầu, trẻ trung, khỏe mạnh và trong sáng như một thiên thần không có cánh. Tôi hát thầm bài hát mà anh từng hát cho tôi nghe. Tôi nhớ Duy chảy nước mắt, tôi nói với anh:
– Anh ơi, em trở lại đây, để nói với anh rằng tạm biệt anh, sáu năm đã qua rồi kể từ ngày ấy. Ngày mai em sẽ từ giã tiểu bang này để theo người chồng mới đi về một tiểu bang khác. Tiểu Duy sẽ ở lại với bà nội cho bà còn thấy anh. Rồi em sẽ trở lại đón con ngày nào đó. Tha thứ cho em vì em không thể nào sống mãi với hình ảnh anh trong lòng, em sẽ héo mòn mà chết.
Tôi quỳ xuống, thổn thức khóc. Lá vàng bay trong trời.
hoàng hạc bay
bay mãi bỏ trời mơ
về đồi sim
ta nhớ người vô bờ

thu hát cho người,
thu hát cho người,
người yêu ơi …
Khi cho xe chạy trở ra, tôi nói thầm trong dòng nước mắt: Shenandoah, tôi sẽ trở lại. Shenandoah, chờ tôi …

PHẠM KHÁNH VŨ