Chả thua chi cổ tích

nguyentri

Khi một kẻ bị mất của mắt họ tối lại. Màu tối ấy sẽ hằn lên nét căm hận khi bị gài độ phải chuộc. Nếu ta trả lại thì ngay lập tức ta hưởng được ánh reo vui trong mắt họ. Đố mày lúc đó thằng được trả lại cái bị mất và thằng trả cái lượm được ai sướng?

Quá nửa đêm Dũng mới về đến nhà. Nghe động, bà chị xuống giường, bước qua cái thân thể bèo nhèo bởi ma men hành của ông chồng ra mở cổng cho em trai. Không phải Hạnh – vợ của ông bèo nhèo – giận hay ghét chồng chi cho cam, uống đến độ không tắm, lăn ra gạch men ngủ luôn thì đáng để đánh đòn chứ giận vẫn còn nhẹ lắm.

Nhưng cuối tháng, lương mới lĩnh anh em rủ rê không tới bến e mang tiếng sợ vợ. Chẳng qua bèo nhèo nặng quá, những sáu mươi lăm ký lô, làm sao mà cô lôi lên giường cho được? Thứ nữa, mấy đức ông chồng cứ lợi dụng cái gọi là giao tiếp với đối tác, lúc nào cũng mút chỉ cà tha, không say không về.

Kẻ say. Dù là say bia, hương hublon khi bật nắp thì thơm lắm, nhưng vào bụng rồi tỏa ra mồm thì hôi hoắc không ai chịu nổi. Ngủ dưới sàn kể cũng tốt.

Hạnh vừa ló đầu đã thấy cô em dâu – vợ Dũng – đang ở cửa phòng riêng:

– An ngủ đi để chị mở cho.

Cô gái tên An cười cầu tài, lí nhí cảm ơn rồi xoa cái bụng đã lum lum nhìn chị chồng làm thao tác mở cửa. Rờ mốt cho cửa cuốn chạy lên, lại rờ mốt cho cửa kéo chạy vào không một tiếng động. Ở cái thời mà Đạo Chích nếu sống lại phải gọi trộm làng nhàng xứ ta bằng thầy thì hai lớp cửa e chả ăn thua. An trở lại phòng còn Hạnh thẳng ra sân mở cổng cho em trai:

– Mày – Hạnh nói khi tra chìa vô ổ khóa – Vợ thì bầu bì, nhậu đến giờ này mới về là sao? Lương tâm mày bị chuột cắn rồi hả?

– Thông cảm chị Hai. Bữa nay sếp đãi từ chối không xong.

– Nói với con An hai chữ thông cảm chớ tao thì thông không nổi. Anh rể mày nằm một đống như chết giờ tới phiên mày. Trộm vô nhà này là trúng mánh lớn.

Dũng cho xe vào nhà. Kể cũng bảnh. Bốn người những bốn SH. Với những người tốt nghiệp sự học ở dạng khá giỏi, làm đúng ngay công việc mình thích tại các công ty lớn thì đi xe đẹp ở nhà tiện nghi là tất yếu. Và những ngày lĩnh lương anh em có hò ra tới Huế âu cũng là sự thường. Nhưng mấy bà vợ trẻ, chưa con như Hạnh, bầu bì như An thì đừng có mơ chuyện xỉn đến quắc là thường.

– Ngủ rồi hả em? – Dũng hỏi.

An quay mặt vô vách cứ như cô say lắm giấc điệp. Chồng thò tay lên vai vợ nhưng bị hất ra. Sau đó An kéo chăn lên tận đầu. Men bia nhiều quá nên Dũng cũng thiếp đi.

Sáng ra Dũng lấy lòng bà chị và cô vợ trẻ bằng cách phóng xe lên chợ thị trấn, mua đủ thứ trên trời dưới đất để có bữa thịnh soạn cho ngày chủ nhật. Mua tờ báo, ghé quán cà phê làm ly đen đá.

Lúc về Dũng bị cảnh sát giao thông chỉ gậy tấp vô lề. Anh chạy quá tốc độ cho phép trong khu dân cư.

Thò tay vào túi quần anh phát giác ra cái bóp đã không tại cái chỗ mà nó phải yên vị. Mở cốp xe, cũng không. Không một mảnh giấy, kể cả tùy thân. Đương nhiên xe bị tạm giữ.

Việc đầu tiên Dũng có thể làm được là gọi điện cho An. Anh hỏi nhưng biết là cái bóp không hề có ở nhà. Hỏi hú họa vậy thôi. Vì khi mua tờ báo anh đã móc bóp trả tiền. Anh để chỗ tiền dư vào túi trên. Không. Là câu trả lời của An. Ông anh rể hỏi qua điện thoại:

– Mày đang ở đâu?

– Em đang ở ngã ba Lộc. Anh đón em về với, xe bị tạm giữ rồi.

Anh chồng vẫn bèo nhèo bởi áo quần chưa thay đưa em vợ về. Lạy thánh Ala, đến lúc này hắn mới vệ sinh răng miệng. Đợi bèo nhèo xong công đoạn này cũng nửa tiếng. Nhưng chả ai còn bụng dạ nào để ăn với chả uống. Tuy nhiên Hạnh cũng pha cho hai gã đàn ông cà phê đen nóng, hai cái sữa nóng cho hai chị em:

– Làm sao mất?

– Chắc bị móc túi thôi – Dũng trả lời.

– Chắc với lép – bèo nhèo nhấm nhẳn – mày bị mấy thằng xì ke chợ thị trấn dàn cảnh rồi. Mất cái gì trong đó.

– Hai cái bằng lái của em với An, hai cà vẹt, hai thẻ ATM, một ít tiền.

– Sư bố cái bọn xì ke – bèo nhèo chửi thề – Bây giờ cái xe bị tạm giữ cho đến khi làm lại giấy tờ là mục luôn trong nhà giữ xe của công an huyện. Chưa nói tới xe xịn là tụi giữ xe cho người vô làm thịt nguyên con.

– Em nghe nói tụi cò có thể lấy xe ra được miễn chung đậm một tí.

– Với điều kiện phải có giấy tờ xe… Để tao hỏi thằng bạn bên hình sự huyện coi sao.

Ngay lập tức bằng hữu cũ thuở đi học có mặt ngay tắp lự. Nói chung là chủ nhật nên ai cũng rảnh rỗi. Gặp nhau đấu láo kể cũng vui. Giúp bạn tí chút còn vui hơn. Hình sự huyện là trung úy chứ không ít. Anh rất tinh thông vụ mất giấy tờ xe:

– Để tôi phôn cô em gái đang bên đài phát thanh huyện thông báo mất và xin chuộc lại. Chú em mày báo cáo cho cụ thể để phát thanh. Bọn ma túy chuyên sống bằng móc túi không bỏ mấy vụ hời này đâu. Nội trong chiều nay, trễ lắm là sáng mai chúng sẽ điện cho chuộc. Yên tâm. Cho nó năm trăm là xong hết. Còn cái xe, hiệu gì? Biển số bao nhiêu để tôi nói với mấy anh em bên giao thông thả ra.

Điện thoại gọi cho cô em bên phát thanh. Chắc em phải xinh lắm vì giọng nói sao mà mượt và ngọt như mía lùi. Rằng tôi tên… có đánh rơi… Ai nhặt được xin liên hệ… Xin cảm ơn và hậu tạ. Trong khi chờ đợi ta làm ly đen cho tỉnh táo mà đi nhận xe và giấy tờ về. Vui lên, chả có mất đi đâu mà tính đường làm lại. Mà muốn làm lại cũng nhiêu khê lắm. Mà sao giấy tờ của bà xã lại gộp chung một ví?

– Dạ. Bà xã có bầu nên đi làm em đèo luôn cho chắc. Hôm nọ thấy để giấy tờ trong cốp nên em cất luôn – Dũng văng tục – Thiệt tình mấy thằng móc túi này hay thật. Nó lấy lúc nào em không biết gì luôn.

– Móc mà cho mày biết thì lấy gì có thầy có vua.

Anh hình sự trấn an cô vợ trẻ rằng bọn xì ke không vất giấy tờ xuống cống đâu em ơi. Đâu có ai ngu mà vất của, với lại trên đời này chả ai khôn qua tụi nó. Bộ mặt đang héo và rủ như lá chuối khô của cô vợ bầu tươi lại khi điện thoại từ bên giao thông báo với anh hình sự cho người đến lấy xe về. Anh hình sự Ok sẽ cho lính tới liền. Thật là chả chi hơn thân và thế. Quen biết với người có tí quyền kể cũng hay.

Bèo nhèo mở tủ lấy ra chai uýt-ky bờ-lắc-goai (Black and White). Gì cũng là bạn từ hồi đi học làm mấy ly cho sảng khoái. Ba cái rượu Mỹ không uống nhiều được đâu nghe. Say chết luôn đó. Bèo nhèo nói:

– Năm trăm như ông nói liệu tụi nó chịu không?

– Năm trăm là nhiều rồi.

– Lỡ tụi nó đòi thêm thì sao anh? – cô Hạnh hỏi.

– Để anh nói cho em nghe. Đương nhiên là tụi nó chê năm trăm rồi. Giấy tờ cả hai chiếc tay ga SH thêm đủ thứ trời ơi. Nó sẽ đòi thêm. Anh cũng mong nó đòi để có cớ lôi về hình sự huyện cho ra luôn cái vụ móc túi.

– Không hiểu à? Anh nhặt được, tôi biếu anh năm trăm uống nước là quá tốt rồi, anh lấy cớ gì để đòi thêm? Nó mà mở miệng thêm là có hành vi tống tiền em hiểu không? Nhưng anh chắc chắn bọn này sẽ đòi. Xưa nay luôn vậy. Tâm lý người bị mất ngại làm lại vì tốn nhiều thời gian, thêm triệu bạc vẫn rẻ và nhanh hơn nhiều lần.

Hình sự nói tiếp sau khi chiêu một ngụm uýt-ky:

– Vụ này để tôi giải quyết cho. Mong nó khó dễ là tôi có cớ lôi về nhận diện toàn bộ dân hai ngón của thị trấn này.

Hình sự kết luận cứ như là đã có hẹn với đối tác rồi:

– Thằng Dũng ngồi một bàn. Tôi và anh kiếm cái góc nào đó trong quán theo dõi. Du côn mà mè nheo thì mày khoát tay ra hiệu nghe.

– Em đi với – cô Hạnh nói.

– Em cũng đi – cô bầu cũng xin theo.

– Ok. Đi hết cho vui.

Đúng lúc đó điện thoại trong tay Dũng báo cuộc gọi đến. Một số máy không có trong danh bạ.

– Mở loa ngoài cho tất cả cùng nghe. Bọn nó chứ không ai đâu. Tôi đã nói mà…

Một giọng ồ ề vang lên:

– Alô… Tui vừa nghe phát thanh báo anh bị mất giấy tờ. Tui lụm được nè. Anh ở đâu? Đến nhà tui cho xin lại.

Hình sự chủ động:

– Cám ơn anh lắm. Nhà anh ở đâu? Hay là mình có thể gặp nhau ở một quán cà phê nào đó được không anh?

– Cũng được. Quán nào đó tùy anh chọn, nhưng mà xà quần trong thị trấn này thôi nghe.

– Vâng. Anh đến quán Dạ Thảo ở ngã tư…

– Rồi. Tui biết quán đó. Mấy giờ?

– Hai giờ chiều nay được không anh?

– Ok.

Lính của hình sự chạy tay ga của Dũng đến tận nhà sau cú phôn lệnh của anh. Hai chồng chở hai vợ. Hình sự rề Future-Neo dẫn đầu chạy đến trà đình Dạ Thảo lúc một giờ ba mươi. Vợ chồng Dũng một bàn. Vợ chồng bèo nhèo và hình sự một bàn khác. Nguy cho xì ke móc túi quá con ơi. Không khéo là tạm giam hai bốn tiếng về tội tống tiền. Ít thì cảnh cáo nhiều là truy tố. Mà cái ngữ móc túi cũng nên nhốt đi cho rồi. Đúng không?

Đồng hồ treo tường của trà đình kém năm phút đến số hai thì ngoài quán trờ đến một Wave Tàu không thể cà là mèng hơn. Nó cũng nham nhở như chủ nó vậy. Một trung niên xám xám, áo quần xộc xệch. Mặt mày đen đúa và râu ria. Cái mặt này không nghiện hút thì đem đầu hình sự chặt đi – hình sự nói nhỏ vào tai bèo nhèo vậy.

Bèo nhèo gật gật. Cả cô Hạnh cũng rùn vai chun mũi, mắt ra chiều kinh dị. Kinh nhất là cái bêrê nâu hắn đội đầu. Tóc tai xù ra bởi cái mũ trùm không kín. Nhìn du côn không tưởng được.

Xì ke móc túi ngồi xuống bàn. Hắn giở bêrê ra lau… mặt. Tóc tai chừng đã lâu không hớt được dịp bung ra. Bà bầu trồ mắt nhìn, trời ạ, ghê chết đi được bọn bụi đời dưới đáy. Chả đợi sẹc via hay tiếp tân, xì ke móc túi gọi:

– Một cái đen nóng nghe chủ quán, bình trà nóng luôn.

Vậy rồi hắn hoa tay múa chân miệng nói vô hồi kỳ trận. Tất nhiên chỉ có hai vợ chồng Dũng An nghe. Ba tay còn lại xa quá nên chả hiểu mô tê gì. Ba đôi mắt chỉ thật sự căng ra khi bụi đời thò tay vô túi áo móc cái ví thả xuống bàn. Sau đó vừa tợp cà phê vừa chiêu trà hắn lại luyên thuyên. Cả ba kẻ ém quân đợi thời cơ chả hiểu vì sao hai vợ chồng trẻ không nói chi. Hình sự quyết định:

– Để tôi qua xem thử ra sao.

Đúng lúc ấy Dũng ngoắc tay.

– Ai đây? – Xì ke móc túi hỏi khi cả bọn đã yên vị. Dũng trả lời:

– Dạ… đây là anh và chị của cháu.

Hình sự hỏi, mắt lườm lườm nhìn móc túi:

– Sao rồi?

Móc túi trả lời:

– Thằng này gặp tao chớ gặp thằng khác là thúi goắc rồi. Tao ghé quầy báo thấy cái bóp nằm một đống. Lý ra tao đưa cho bà bán báo trả giúp, ngặt cái lúc đó bả đi ăn sáng, mấy đứa đệ tử thì tình thiệt là xin thưa em hổng dám tin. Biết thế nào bây cũng nhờ phát thanh nên nghe là tao liên lạc liền. Mày kiểm tra lại đi.

Hình sự móc bóp:

– Con gửi chú năm trăm uống nước…

– Bà mẹ nó… Hai trăm đôla Mỹ với hai tờ năm trăm trong bóp tao còn không thèm. Chú em mày biết không? Tao từng bị cái vụ này nên hiểu lắm tâm trạng kẻ bị mất. Đã mất tiền còn phải chuộc tốn thêm lời cảm ơn nó đau hơn hoạn. Chỉ có bọn xì cọc lâm vô thế cùng mới táng tận lương tâm. Chú em mày có bao giờ nhìn thấy được niềm vui trong mắt kẻ khác chưa? Chắc cũng có nhưng không ấn tượng lắm đâu.

Khi một kẻ bị mất của mắt họ tối lại. Màu tối ấy sẽ hằn lên nét căm hận khi bị gài độ phải chuộc. Nếu ta trả lại thì ngay lập tức ta hưởng được ánh reo vui trong mắt họ. Đố mày lúc đó thằng được trả lại cái bị mất và thằng trả cái lượm được ai sướng?

Hình sự ngớ người:

– Dạ…

– Khì khì khì… cả hai thằng đều sướng. Nhưng nếu không nhận một thù lao nào cho mình thì hơn cả sướng, thằng trả lại ngập tràn trong hạnh phúc. Tao nói chắc tụi bây không hiểu đâu. Vì phải kinh qua mới hiểu được. Mà thôi tao đi đây. Tụi bây trả giúp tao ly đen nghe. Tạm biệt.

Cả năm nhìn theo bụi đời bêrê nâu.

Nguyễn Trí

MƯA PHI TRƯỜNG

nguyenlienchau

Tiễn nhau nhằm buổi mưa mù
Dòng buồn thấm ngược từ từ vào ta
Chậm thế nào – cũng phải xa
Mới non hạnh ngộ đã già tiễn đưa
Tiễn nhau nhằm buổi mù mưa
Đã thừa căn dặn vẫn chưa yên lòng
Trò đời cách núi trở sông
Thương lẻ loi lạc đám đông xứ người
Tiễn nhau phi cảng xám trời
Chưa xa đã ngóng tinh khôi ngày về
Hai phương ba bãi bốn bề
Một chân tình níu “lời thề cỏ may”
Tiễn nhau nhằm buổi trời đày
Hình như mưa rớt hột ngay mắt mình…

NGUYỄN LIÊN CHÂU

Túy Hoài

phamngoclu

Uống cạn mươi ly
Nhớ quên rồi cũng hết
Trời buổi chiều bỗng dưng mù mịt
Đầu ta như khói bốc miên man
Lòng lênh đênh lạnh buốt sông Hàn

Cơn say nào cao vút Hải Vân
Ta bay vèo… mây gió lâng lâng
Xôn xao trời thu tung tăng hoàng diệp
Mênh mông ngàn thu rụng rời thương tiếc

Ô hô !

Ngươi có – ta không
Ta còn – ngươi mất
Thoắt bóng thoắt hình
Chập chờn hư thực
Chưa say, ném hồ trường qua biển Bắc
Yên ba tan tành im bặt
Hương quan gờn gợn mù tăm
Say rồi, tung chén rượu xuống trời Nam
Trời Nam ào ào mưa ngây ngất
Giang hồ lênh láng sóng lên men
Say rồi,
Nhớ tuổi quên tên
Xót lòng trông cây nhớ cội
Phải ngươi ba chìm bảy nổi
Bắt ta mười kiếp long đong
Mây có – gió không
Tình câm – thơ điếc
Giai nhân còn mà anh hùng hết
Chưa mùa đông sao tóc xanh rơi bạch tuyết
Ngũ thập rồi tay trắng xóa bạch vân
Ô hô !

Thiên địa vô cùng
Uống say mà khóc Đặng Dung – Thuật hoài !

Khóc rồi,
Đập nát cơn say
Hốt nhiên bừng bừng hào khí
Vươn vai nhập thân hào sĩ
Dậm chân nổi gió Đông – Đoài
Cởi chim hồng nhạn mà bay
Theo trăng qua Đằng Vương các
Thâu lại hồ trường nơi biển Bắc
Nhặt lên chén rượu cuối trời Nam
Chơi hết tháng ngày chưa tương đắc
Tung hê cơm áo bất phùng thời

Uống nữa ngươi ơi
Một ngàn ly một lần xin cạn
Ấm lạnh sông Hàn ơi !
Chỉ còn ngươi…
Chỉ còn ngươi soi bóng ta thôi…

Phạm Ngọc Lư

MÈO MAO ĐỊNH XƯNG BÁ

khuatdau

Đây là lũ mèo già chẳng những hóa cáo mà còn muốn biến thành đại hổ để xưng hùng xưng bá, oai trấn giang hồ. Mèo không ăn chuột sống, nhất là chuột chù, chỉ ăn bánh bao ( có nhân thịt người) và uống rượu Mao đài. Vì vậy, người ta gọi chúng là mèo Mao.
Mèo Mao tự cho mình là con Trời, suốt bao nhiêu năm ra oai với lũ chuột Phiên ở phía đông và chuột Á Nàm ở phía nam, bắt bọn chúng lên núi đào củ sâm, xuống biển mò ngọc trai, lên rừng tìm sừng tê để luyện thuốc trường sinh bất tử. Nhưng với mèo Đôrêmôn ở xứ sở mặt trời mọc, chẳng những chúng đã không thèm chịu mệnh, lại còn đuổi mụ mèo cái Từ Hy chạy bán sống bán chết, rồi bắt hàng ngàn miêu nữ bó chân yểu điệu về làm nô lệ tình dục. Hỡi ơi làm nô lệ tình dục cho mèo máy thì máy còn bể xú páp, huống hồ là các miêu nữ bằng xương bằng thịt! Thật đau lòng và nhục nhã.
Mao tân vưNơng liền hạ lệnh, bất kể mèo trắng mèo đen, hễ mèo nào bắt được chuột đều phải sung vào quân ngũ, ngày đêm ra sức tinh luyện võ mèo, để phục thù rửa hận. Võ mèo thời hiện đại, ngoài 36 ngón của Tôn Võ tử còn phải có đủ hải lục không quân, nên Mao tân vương đã chẳng ngại tốn kém, vừa mới huênh hoang mua sắm tàu sân bay, đã lại thổi trộm cát làm đường băng để xây mẫu hạm không thể đánh chìm.
Mao tân vương lớn tiếng đòi chia đôi thiên hạ với mèo Tom, nếu không thì cũng chia ba cùng với mèo Đôrêmôn.
Bên kia biển, mèo Đôrêmôn lượng sức mình, biết rằng cái món võ mèo của Mao chẳng ra gì so với món võ sĩ đạo ngàn năm thâm hậu, nhưng quân số của chúng đông đến cả tỷ, chuyên lấy thịt đè người, khó mà đương cự một mình, nên đã ngoéo đuôi khắng khít với mèo Tom, lúc này đã hiện nguyên hình là big cat đại vương, tức là vua sư tử. Nhị vị vua mèo này còn vỗ về o bế lũ chuột Á Nàm, cốt mượn sân nhà sát vách mèo Mao để khi hữu sự liền đánh tập hậu, biến chúng thành tiểu hổ mà đưa lên bàn nhậu.
Trước thế hợp tung liên hoành, Mao vương đành phải nhũn để tìm cách ly gián. Theo quỷ kế của Việt Câu Tiễn năm xưa, Mao vương định dâng cho mèo Tom những miêu nữ chân dài mà cả thế giới trông thấy đều thèm rỏ dãi trong cuộc diễu binh vừa qua. Chắc mẫm thế nào mèo Tom cũng trúng kế, nên trong cuộc sang thăm nhà mèo Tom vừa rồi, Mao vương không cười mà vẫn híp mắt.
Nhưng mèo Tom lúc này, không phải là mèo trắng ưa vỗ đùi nữ thực tập sinh lả lướt ngày nào, mà là mèo sô cô la, trên đời chỉ ưa duy nhất một con mèo đen lông quăn chính hiệu mà thôi, nên mặt nó cứ tỉnh bơ ra cái điều lừa được ai chứ đừng hòng lừa được ta. Chẳng những thế, mèo Tom còn nhỏ nhẹ bảo rằng, “ngài thò chân quá xa rồi đấy, cái biển đông đầy tôm cá là của bá tánh đại đồng chứ không của riêng gì ngài. Hãy liều liệu mà thụt chân vào kẻo không kịp hối”.
Đúng lúc ấy, con Trời chính hiệu từ La mã sang chơi, được mèo Tom và vợ trải thảm đỏ chào đón như một hoàng đế, trong khi Mao vương chỉ được dẫn đi loanh quanh rồi bỏ mặc đứng đó như trời trồng.
Vừa hận, vừa quê, Mao vương bèn âm thầm lẻn về, tự an ủi rằng: “thôi hãy bày cuộc vui với các miêu nữ, còn mèo Tom và Đôrêmôn, thì hãy đợi đấy, quân tử trả thù mười năm vẫn chưa muộn!”.
(Mèo chuột ký sự)

5/9/2015
Khuất Đẩu

RỒI CŨNG QUÊN THÔI …

tranvannghia

Rồi cũng chỉ là bèo mây trôi dạt
Em theo về nơi ấy phố mù sương
Những mất mát đuổi hoài không níu được
Dẫu lạ quen,tôi còn một con đường

Có hoa nở bên ngày xanh biếc nụ
Con bướm vàng lơ lửng ghé rào xưa
Gió tương tư ngập ngừng vương gót cũ
Đem ngẩn ngơ hứng rát vết roi khờ

Tôi tìm lại giữa bóng chiều xuôi ngược
Áo xuân thì đâu thắm nổi hoàng hôn
Mối tình si , em ném ngoài cửa lớp
Nén cơn đau ngất lịm phía sân trường

Nhắc một thuở để còn thương mấy thuở
Chuyến tàu xa không trở lại đêm này
Tôi gửi mộng qua hàng trăm cây số
Chỉ mong tìm hơi ấm giữa vòng tay

TRẦN VĂN NGHĨA

NIÊN THIẾU

duyenanh

Thuở ấy mây non với gió mềm
Nắng vừa ấm để mọng môi em
Nụ hôn mừng tuổi ngon như tết
Anh bảo em rằng mới tháng giêng

Tiếng trống đình vang tự sớm mai
Xuân em còn hứa hẹn lâu dài
Hồn nhiên thức trắng đêm tam cúc
Anh bảo em rằng qua tháng hai

Bước nhẹ trên đường quê ngát hoa
Dẫn em coi hát dưới trăng ngà
Khi về hương bưởi thơm trong tóc
Anh bảo em rằng sang tháng ba

Sông nhỏ đềm êm nước lững lờ
Soi hình hai đứa rất nên thơ
Giận vì con gió làm bay tóc
Anh bảo em rằng tới tháng tư

Ít quá một ngày hai bận thăm
Thiếu dâu héo hắt cái thân tằm
Chửa chiều đã ngỡ sao quên mọc
Anh bảo em rằng đến tháng năm

Anh bảo em nhiều nhớ hết không
Những lời tháng sáu có mưa giông
Những câu tháng bảy heo may lượn
Tháng tám tình xanh tháng chín hồng

Em vỡ lòng yêu cuối tháng mười
Chiếc hôn tháng một cháy bùng môi
Tháng mười hai gọn vòng tay ấm
Đó lúc hồn anh biết rã rời…

DUYÊN ANH
1975

Nhạc Sĩ Phạm Duy Qua Đời

tranvanle

Qua đời là Đi Qua Khỏi Cõi Đời, là Đi Ra Khỏi Cõi Đời, là Từ Trần,…là Chết!
Hàng chữ Nhạc Sỹ Phạm Duy Qua Đời là tựa đề một bản tin hàng ngày của đài phát thanh BBC phát đi từ Thủ Đô London, nước Anh, sáng sớm ngày Chúa Nhật 27 tháng Giêng năm 2013. Tôi xin ghi lại đây toàn văn bản tin đó:

Cập nhật: 08:54 GMT – chủ nhật, 27 tháng 1, 2013

Nhạc sỹ Phạm Duy được cho như một trong những người đã kiến tạo nên nền tân nhạc Việt Nam
Người nhạc sỹ lớn của nền tân nhạc Việt Nam, Phạm Duy, vừa qua đời tại TP Hồ Chí Minh ở tuổi 93, các nguồn thân thiết với gia đình ông cho biết.
Nhà thơ Đỗ Trung Quân cho BBC hay ông được tin nhạc sỹ qua đời vào buổi trưa Chủ nhật 27/1. Có nguồn tin nói ông ra đi trong bệnh viện.
Nhạc sỹ Phạm Duy có tiền sử bệnh tim và từng qua hai lần giải phẫu tim.
Ông Đỗ Trung Quân không giấu nổi nghẹn ngào: “Tôi thực sự rất xúc động khi nghe tin ông (Phạm Duy) qua đời”.
“Ông là một trong những nhạc sỹ đã tạo nên diện mạo nền âm nhạc Việt Nam.”
Các tác phẩm âm nhạc của Phạm Duy đã kết hợp được những nét của âm nhạc cổ truyền, dân ca, với các trào lưu phong cách hiện đại.
Ông từng nói trong một cuộc phỏng vấn với BBC: “Tôi nghĩ rằng tôi là người Việt Nam, nếu tôi muốn được gọi là một nhạc sỹ Việt Nam, thì tôi phải làm nhạc dân ca. Đó là chuyện rất giản dị”.
“Tôi phải khởi sự sáng tác của tôi bằng những bản nhạc mang tinh thần Việt Nam và với chất liệu của Việt Nam nữa.”
Mới tháng trước, con trai lớn của nhạc sỹ Phạm Duy, ca sỹ Duy Quang, cũng qua đời tại Mỹ.
Vợ của ông là ca sỹ Thái Hằng, bà qua đời năm 1999.

Tài năng lớn
Nhạc sỹ Phạm Duy sinh ngày 5/10/1921. Tên thật của ông là Phạm Duy Cẩn.
Không chỉ là tác giả của một khối lượng đồ sộ các sáng tác, ông còn là nhà nghiên cứu âm nhạc lớn, với công trình khảo cứu về âm nhạc có giá trị.
Phạm Duy bắt đầu con đường âm nhạc trong vai trò ca sỹ. Ông từng tham gia kháng chiến chống Pháp, nhưng sau bỏ vào sống trong vùng Pháp chiếm ở Hà Nội, rồi di cư vào Nam sau khi chia cắt hai niềm Nam Bắc Việt Nam.
“Tôi phải khởi sự sáng tác của tôi bằng những bản nhạc mang tinh thần Việt Nam và với chất liệu của Việt Nam nữa.”
Nhạc sỹ Phạm Duy
Sau sự kiện 30/4/1975, khi ông vượt biên sang Hoa Kỳ. Các ca khúc của ông bị cấm ở trong nước một thời gian dài.
Việc ông trở về Việt Nam định cư năm 2005 đã gây ra nhiều tranh cãi.
Kể từ đó, một số ca khúc của ông mới bắt đầu được phép phổ biến ở Việt Nam. Tuy nhiên cho tới nay, mới khoảng 1/10 số bài hát của ông được biểu diễn ở trong nước.
Trong cuộc trao đổi với BBC, nhạc sỹ kỳ cựu thừa nhận ông từng có giai đoạn sáng tác tuyên truyền trong các giai đoạn chiến tranh, nhưng cho rằng ông chỉ làm như vậy vì yêu nước.
“Lẽ tất nhiên bổn phận của chúng tôi là thế. Bổn phận của người nhạc sỹ khi đi theo kháng chiến, thì phải dùng cái đàn của mình để xưng tụng cuộc kháng chiến.”
“Ngoài những bản nhạc về tình ái, hay về những chuyện khác, thì những bản nhạc có tính chất gọi là tuyên truyền đó thực ra cũng là những bản nhạc yêu nước thôi. Đừng nói là tuyên truyền hay không tuyên truyền.”
Nhạc sỹ cho rằng âm nhạc của ông đa dạng và luôn biến đổi vì thân phận và tâm trạng của ông luôn “vui buồn” và “trôi nổi” theo vận nước.

*

Tôi mở nhiều báo điện tử trong nước, đọc được tin nhạc sĩ Phạm Duy đã qua đời. Thế là không còn nghi ngờ gì nữa. Một ông già chín mươi ba tuổi, hơn tháng trước vừa ôm ngực khóc cái chết của đứa con đầu lòng bạo bệnh, ông già không chịu đựng nổi và ngã bệnh. Con cháu đưa ông vào bệnh viện tại Sài Gòn, các bác sĩ tận tình chăm sóc nhưng không sao cãi được số trời: Phạm Duy – một Nhạc Sĩ Tài Danh của Việt Nam trải dài hai Thế Kỷ qua – đã trút hơi thở vào buổi xế trưa ngày Chúa Nhật. Khi Việt Nam ngày Chúa Nhật thì bên Mỹ đang còn ngày Thứ Bảy. Tin nhạc sĩ Phạm Duy qua đời, các đài phát thanh Mỹ, Pháp, Úc đều đưa tin sớm, các báo Việt Ngữ, các đài Phát Thanh, Truyền Hình Việt Nam ở ngoài nước sau đó cũng loan tin, không cần dè dặt. Có nhiều người mong Phạm Duy chết liền ngay khi ông “quay đầu về núi”, về với nước Việt Nam Cộng Sản, năm 2005, ông không chết năm đó… thì có ngày cũng phải chết thôi! Không ai đặt ra chuyện “Nghĩa Tử Nghĩa Tận” với Phạm Duy vì người ta ghét Cộng Sản, Phạm Duy “quy hàng” Cộng Sản là làm nhục cho người “Quốc Gia”. Mới thấy sớm nhất có bài báo của ông Nguyễn Thiếu Nhẫn, người còn có bút danh Lão Móc, đăng trên vài báo mạng. Ông Nguyễn Thiếu Nhẫn hoàn toàn không thương tiếc gì cái tài, cái danh của nhạc sĩ Phạm Duy. Một bài khác, không biết có lên mạng chưa, nhưng phóng vào hộp thư e mail của tôi, thì có vẻ ngậm ngùi. Bài này của nhạc sĩ Châu Đình An, tác giả nhạc phẩm nổi tiếng Đêm Chôn Dầu Vượt Biển. Tôi xin chép luôn bài đó để bạn đọc đọc, rồi nghĩ sao thì tùy:

Đây, bài viết của nhạc sĩ Châu Đình An.

Phạm Duy: Còn Gì Đâu Trong Cuộc Được Thua

Tháng 4 năm 1981 tôi bước chân xuống phi trường Los Angeles, California trong bỡ ngỡ của một “dân giả quê mùa” lần đầu tiên đặt chân đến thành phố sầm uất nổi tiếng của Hoa Kỳ. Đang long ngóng thì có tiếng reo “A! đây rồi…”. Một người đàn ông ăn bận giản dị, chân đi dép và mái tóc hoa râm đến bên tôi “Phải An không?”.

Tôi nhận ra nhạc sĩ Phạm Duy, ông dẫn tôi đến bên chiếc xe Buick cũ đời 1977 màu cam nhạt, cất hành lý vào khoang xe và trực chỉ về nhà ông ở Midway City, Quận Cam Cali.
Trên đường đi từ Los Angeles đến Midway City vào khoảng gần 1 tiếng lái xe, ông hỏi thăm tôi về cuộc sống mới đến Mỹ ra sao, và một vài chi tiết thân thế long đong của tôi. Quen biết ông qua sự giới thiệu của cựu dân biểu VNCH Nguyễn Văn Cội, và khi tôi gửi đến ông 10 ca khúc để nhờ ông giúp thực hiện một băng nhạc Cassettes. Những bài nhạc tôi viết từ trại tỵ nạn Hồng Kông cho đến khi qua định cư ở Kenosha, Wisconsin Hoa Kỳ vào tháng 10 năm 1980. Trong đó có những bài như Đêm Chôn Dầu Vượt Biển, Tâm Động Ca, Như Những Lời Ca Thép, Trại Tù Chữ S, Sẽ Có Sáng Mai Này, Như Một Lời Thề Nguyền…

Khi nhận được 10 bài nhạc, ông đã nhanh chóng hồi âm sau hai tuần lễ và một cuộc nói chuyện với ông dẫn tôi đến Los Angeles, mà tôi đâu biết đã bắt đầu đưa tôi bước chân vào giới nghệ thuật. Qua thư trao đổi, ông khen nhạc tôi có nét lạ của một người vừa vượt thoát từ Việt Nam sau 5 năm dưới chế độ cộng sản, và ông nhận lời đứng ra làm Producer, nghĩa là nhà thực hiện và sản xuất cho băng nhạc đầu tay trong đời sáng tác của tôi.

Bước chân vào căn nhà xinh xắn ở Midway City, tôi được chào đón bởi bà Thái Hằng, phu nhân của ông với một nụ cười hiền hậu, bà vui vẻ, dễ thương ân cần hỏi han và chỉ tay trên vách phòng ăn một bức hình tôi ở đấy. Ngạc nhiên thì bà bảo là “bác trai dán hình cháu để nhận diện đi đón cho dễ, mấy em ở nhà cứ thì thầm với bác là, có lẽ đây là con rơi hay sao mà bố lo lắng ân cần quá!” Mà cũng dễ nghi lắm, vì khuôn mặt tôi và Duy Minh có phần giống nhau lắm. Tôi cười và cảm thấy gần gũi ngay với không khí gia đình ông bà Phạm Duy. Đến chiều Duy Quang đi làm về, lịch thiệp trong quần Jean và áo sơ mi trắng, nụ cười hiền hậu, Duy Quang thiện cảm chào tôi. Chúng tôi bắt tay nhau và Quang hỏi đã ăn uống gì chưa rồi không đợi tôi trả lời anh đưa tôi ra xe bảo là đi uống cà phê và thăm phố Bolsa cho biết cộng đồng mình. Mặc cho bà Thái Hằng căn dặn là chiều về ăn cơm cả nhà.

Đó là những kỷ niệm đầu tiên của tôi với gia đình nhạc sĩ Phạm Duy mà tôi còn nhớ. Đến chiều về, cả nhà đông đủ, lần đầu tiên tôi dự bữa cơm gia đình gồm có ông bà Phạm Duy và các con Quang, Minh, Hùng, Cường, Hiền, Thảo, Đức, Hạnh, 10 người ăn và thêm một miệng mới nữa là tôi. Bữa cơm rất ngon vì vui, và từ lâu tôi chưa hề có cái không khí gia đình, thân mật, ấm cúng.

Là một gia đình nghệ sĩ, các con của nhạc sĩ Phạm Duy nói chuyện thoải mái, đùa cợt với bố mẹ, nhưng vẫn có sự kính phục. Đây là một gia đình Bắc Kỳ chính hiệu có truyền thống và nề nếp. Cho dù 4 chàng con trai (Quang, Minh, Hùng, Cường) và 2 cô con gái (Hiền, Thảo) đã trưởng thành, nhưng vẫn ở chung với bố mẹ. Nhà nhỏ, nhưng ngăn chia nhiều phòng, có phòng thì hai người, chỉ riêng Duy Quang có riêng một phòng lớn là cái gara để xe trưng dụng thành phòng ngủ, và Duy Cường có một phòng riêng vì bận làm hoà âm cho nhạc. Ngoài công việc đi làm thường ngày, nhạc sĩ Phạm Duy và các con vẫn dựng lại ban nhạc The Dreamer và mỗi cuối tuần chơi nhạc tối thứ sáu, thứ bảy tại vũ trường ở Quận Cam thời bấy giờ.

Tôi ngụ lại nhà nhạc sĩ Phạm Duy suốt thời gian hai tuần lễ thực hiện thu âm cho dĩa nhạc, phải nói là ông rất chu đáo về tổ chức, ngày nào thu thanh ai hát, xem lại bài nhạc, xem lại hoà âm, và cuối cùng, trong tay chúng tôi có dĩa master nhạc Châu Đình An, và thời bấy giờ Master băng rất to, đến hai dĩa băng nhựa nặng tay.

Nhạc sĩ Phạm Duy liên lạc với hoạ sĩ Hồ Đắc Ngọc vẽ cho tôi cái bìa băng Cassettes, chở tôi đến nhà in AnNam của ông Lê Ngọc Ngoạn để xem giá cả và ấn loát, những buổi đi làm việc như thế chỉ có ông và tôi trên chiếc xe cũ của ông băng qua những con đường trong sương mù buổi sáng, và trong xe thì luôn phát ra các ca khúc mới toanh của tôi. Bạn tưởng tượng xem, tôi hạnh phúc và ngây ngất như thế nào bên một nhạc sĩ lừng lẫy nghe nhạc của tôi mới ra lò.

Ông còn thủ bút viết cho tôi những lời sau:
“Nhạc Châu Đình An vì có nội dung rất tích cực, hy vọng sẽ là người đại diện cho những ai vừa vượt thoát từ Trại Tù Chữ S, sẽ có ngày trở về dựng cờ Quốc Gia trên đất nước thân yêu”. Ký tên Phạm Duy

Ông không ngần ngại khen ngợi nhạc tôi viết hay, và ca khúc của tôi nhan đề Tâm Động Ca do Thái Hiền trình bày đã làm ông xúc động rưng rưng khoé mắt, lời bài hát tôi viết sau 5 năm tả tơi trong chế độ mới từ 1975 đến 1980:

“Khóc cho người ở lại Việt Nam
Một tiếng khóc thương cho đồng loại
Một tiếng khóc thương em khờ dại
Một tiếng khóc nhăn nheo mẹ già
Có tổ quốc, mà không có quê hương
Có đồng bào mà sao xa lạ
Có Việt Nam mà tôi mất đâu rồi
Có giòng sông mà con nước khô cạn
Có tình yêu mà không có bè bạn
Đứng bên này bờ biển đại dương
Nhìn chẳng thấy quê hương chỗ nào
Nhìn chỉ thấy thêm thương đồng bào
Lời tổ quốc trong tim dạt dào
Và nghe tiếng trong tôi thì thào
Giọt nước mắt lưu vong chợt trào
Tạm biệt
Tổ quốc thương yêu…
Của tôi”
(CDA 1980)

Ông xúc động và chắt lưỡi thốt lên “hay lắm!” không những vì giòng nhạc tôi mà còn vì giọng con gái ông là Thái Hiền cao vút kết thúc câu tạm biệt tổ quốc thương yêu của tôi. Đến bây giờ, tôi vẫn còn nhớ một hình ảnh của nhạc sĩ Phạm Duy ngồi sau tay lái chiếc xe và nỗi rung động thiết tha với quê hương đang đau khổ. Cứ thế, hằng ngày, những câu chuyện ông kể, từ đời sống âm nhạc của ông, lộ trình vượt thoát đến Mỹ, và đến nỗi đau đớn dày vò suốt bao năm tháng dài khi 4 người con trai còn kẹt lại quê hương. Ông cũng kể là cả hai ông bà in roneo, loại giấy copy để đóng thành tập nhạc dạy đàn guitar do Phạm Duy biên soạn để bán kiếm tiền sinh sống, và nhận lời đi hát dạo cho cộng đồng người Việt phôi thai hình thành. Ban nhạc gia đình với Phạm Duy, Thái Hằng, Thái Hiền, và Thái Thảo, ông luôn nghĩ là mình không lúc nào quên được cách để kiếm tiền, hầu có phương tiện tìm cách cứu thoát Quang, Minh, Hùng, Cường còn lại quê nhà. Bà Thái Hằng còn cho tôi biết, những ngày bận rộn sinh kế thì thôi, còn khi về đến nhà, là ông Phạm Duy nằm dài ra thừ người, đau đớn, ray rứt với 4 người con trai mà ông đang suy tính tìm đủ cách để đoàn tụ.

Ở đây tôi muốn nói đến tình yêu con quá sức nơi nhạc sĩ Phạm Duy, cả nhà 10 miệng ăn, và từ khi còn ở Việt Nam qua đến Mỹ, nhất nhất do bàn tay của ông làm ra, từ viết nhạc, viết bài và làm những việc liên quan đến âm nhạc để nuôi sống gia đình. Các con của ông dựa vào ông, chỉ vì yêu quá, săn sóc và lo lắng thái quá, do vậy đã dẫn đến tình trạng sau này, là ông đánh đổi tất cả sự nghiệp âm nhạc tiếng tăm, để chọn một lối thoát kinh tế cho các con khi về sinh hoạt trong một nước Việt Nam do cộng sản cai trị.

Đây là một sự thực mà ít ai hiểu được.
Trong email với nhà báo Hoàng Lan Chi, khi chị đề cập về thái độ và lời nói của ông trong các cuộc phỏng vấn của báo chí “lề phải” trong nước, đã dấy lên sự phản ứng bất bình của cộng đồng hải ngoại, về những bức ảnh ông cầm tấm thẻ “chứng minh nhân nhân”, “chứng minh hộ khẩu”, tôi đã trình bày cho chị về những điều tôi biết, và nhà báo Hoàng Lan Chi, một người quen biết với gia đình ông.

Chế độ Việt Cộng và nhạc sĩ Phạm Duy chơi “game” với nhau, cả hai lợi dụng nhau, và cả hai đều có đường tính toán khác nhau. Chắc chắn một điều là Phạm Duy không thể nào theo cái gọi là chủ nghĩa cộng sản, và ông đã nhận ra chế độ hiện nay ở Việt Nam, không còn thứ cộng sản của thời Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, mà là cái vỏ bọc cộng sản che chắn cho cái thực chất là chế độ tư bản đỏ, độc tài toàn trị và cái ruột chính vẫn là mô hình tư bản kinh tế, hay rõ hơn là tham nhũng, bán tài sản quốc gia làm giàu cho các lãnh tụ và phe cánh. Ông Phạm Duy chọn một lối đi như tôi đã nói ở phần trên là, lối đi kinh tế cho các con của ông sau này, mà nhìn phiến diện đó là sự thoả hiệp dễ nhạy cảm phát sinh ra sự chê trách, chống đối từ phía cộng đồng người Việt quốc gia, cái nôi đã cho ông hít thở, phát triển gần như toàn diện sự nghiệp âm nhạc của ông. Do vậy, người ta giận dữ cũng chỉ vì tiếc cho ông, một tài năng, một biểu tượng văn hoá còn sót lại của Việt Nam Cộng Hoà.
Tôi đoan chắc là chỉ vì quá yêu thương các con, ông đã chọn về Việt Nam trong chế độ độc tài hiện hữu để có ba việc:

Thứ nhất: Cái chết của vợ là bà Thái Hằng đã làm ông hụt hẫng năm 1999, dù ai nói ra sao về cuộc đời tình ái phiêu lưu thêu dệt của người nhạc sĩ, nhưng, có lần ông cho tôi nghe ca khúc “Nắng Chiều Rực Rỡ” mà ông bảo là viết riêng cho bà, vì cả ngàn ca khúc của ông chưa có bài nào viết cho bà. Trong đó có câu “thế kỷ này, đang trong nắng ban chiều. Cho lòng mình bâng khuâng nhớ nhau”. Ông bắt đầu cô độc thực sự sau ngày bà ra đi.

Thứ hai: Người già cô độc, và đơn chiếc, dễ tủi thân mủi lòng, nếu ông mất sớm vào khoảng 70 tuổi thì thôi không có chuyện nói đến, và bây giờ Phạm Duy vẫn là thần tượng, nhưng ông sống đến trên 80 tuổi mà quê hương với ngày về thực sự vẫn xa vời vợi, chế độ cộng sản chưa sụp đổ như bao người trông chờ, không biết đến bao giờ quay trở lại cố hương. Ông mất sự kiên nhẫn, ông muốn về một lần rồi nhắm mắt xuôi tay ở cái quê hương khốn khổ đã cho ông nếm trải nhục vinh rồi ra sao thì ra.

Thứ ba: Sau hết là cuộc sống các con, khi ông chết rồi con mình sẽ ra sao, chẳng ai có nghề nghiệp cố định, chẳng ai có bằng cấp gì cả, chỉ hoàn toàn sống bằng âm nhạc của chính ông dạy dỗ, tạo dựng. Và môi trường hải ngoại thì không đủ điều kiện để các con sinh sống, làm thầy thì không được, làm thợ thì khó, do vậy, ông lợi dụng chính sách gọi là “nghị quyết 36” hoà giải dân tộc để trở về, mở đường máu tồn tại và nuôi sống “âm nhạc của ông và các con”, bất chấp sự phản đối, bất chấp, ông biết là người ta sẽ thất vọng vì sự sụp đổ hình ảnh thần tượng nghệ sĩ quốc gia nơi ông.

Người nghệ sĩ Việt Nam đứng giữa hai lằn đạn của hai chiến tuyến khác nhau trong mọi thời kỳ, dù chiến tranh hay hoà bình hiện nay. Và người nghệ sĩ trong một giây khắc xúc cảm rất dễ trở nên yếu đuối. Vì tâm hồn không yếu đuối, không thể là nghệ sĩ.

Cái còn lại, tôi nghĩ xa hơn, một khi tâm hồn chúng ta yếu đuối, cần có nơi nương tựa, cần có nơi chở che. Cộng đồng hải ngoại là nơi để nương tựa, nơi để thở than và mong nhận che chở. Dù sao thì, cộng đồng chúng ta ở hải ngoại khi thương thì hết lòng, khi ghét thì hết tình. Ngay như bản thân tôi về ở Orlando, Florida hơn 20 năm qua, chuyên làm kinh tế, nghĩa là lo đi làm ăn, mà vẫn không yên, tôi hiểu con người ta, chỉ có một thiểu số có sự ganh ghét, đố kỵ, chụp mũ và thiếu sự cảm thông. Do vậy, không riêng gì ông Phạm Duy, mà còn nhiều nữa, cộng đồng nói chung, đôi khi vì quá nhiệt tình, quá sôi nổi, quá bức xúc vì chế độ cộng sản Việt Nam, do vậy vô tình đã thiếu sự khoan dung, thiếu sự che chở, không có trái tim bao dung che chở, nương tựa cho những nhà văn hoá, chính trị, tôn giáo. Cuối cùng, chỉ xô đẩy người ta sống theo cách sống của họ là bất chấp, và họ trở thành ích kỷ. Điều này đã xảy ra ở các hiện tượng Nguyễn Cao Kỳ, Thích Nhất Hạnh và bây giờ là Phạm Duy.

Ông Phạm Duy đã nằm xuống, nhắm mắt xuôi tay suốt 93 năm làm con người sống thở trên cõi đời này. Chắc chắn là các báo lề phải trong nước sẽ có nhiều bài “vinh danh” ông, ca ngợi sự nghiệp âm nhạc và con người ông. Chế độ cộng sản hiện nay luôn nhận vơ cho mình những khuôn mặt lớn của văn học nghệ thuật, từ Văn Cao, Trịnh Công Sơn và bây giờ là Phạm Duy là người của họ, là những kẻ thành danh do bởi chế độ, hoặc là tài sản chung của đất nước. Bởi vì có mất mát gì đâu, khi một cái “Game” mà chế độ lúc nào cũng là kẻ thắng bởi vì cầm quyền ban phát “xin và cho”.

Đây là một bài học cho giới làm nghệ thuật một khi thoả hiệp trong một trận đấu “Game”.

Ở sao cho vừa lòng người
Ở rộng người cười, ở hẹp người chê!

Châu Đình An

*

Một Bản tin của Đài Phát Thanh BBC, một bài viết của nhạc sĩ Châu Đình An, tôi nghĩ đây là hai bài “đại diện” tỏ bày lòng yêu thương và quyến luyến nhạc sĩ Phạm Duy. Nói “đại diện” tức là tôi có cảm nghĩ rằng có nhiều người không ghét Phạm Duy đến nỗi phải căm thù. Tôi chép đủ hai bài đó, xin Đài BBC và nhạc sĩ Châu Đình An cho tôi ké vào vài giọt nước mắt…

Tôi thật buồn tôi khi tôi nhớ lại vào năm 2005, khi biết tin nhạc sĩ Phạm Duy chính thức trở về, tôi có viết một bài rất nặng lời dành cho người phản bội. Tôi hứa với độc giả báo Văn Nghệ Tiền Phong là tôi sẽ không bao giờ nhắc nữa đến cái tên Phạm Duy. Sở dĩ tôi viết được bài báo đó vì tôi “lượm lặt” được một số chuyện không tốt của Phạm Duy:

1, Chuyện trai gái lẳng lơ: Trước năm 1975, ở Sài Gòn, nhạc sĩ Phạm Duy bị báo chí móc lò về chuyện trăng hoa, bậy bạ, nhảm nhí, mà ba chuyện nổi cộm là: Phạm Duy “cua” ca sĩ Khánh Ngọc, Phạm Duy léng phéng với ca sĩ Julie (người sau này là con dâu của Phạm Duy) và…Phạm Duy từng khoe đã qua tay hai trăm cô gái.

Chuyện thứ nhất, tôi hỏi một số bạn làm báo kỳ cựu, được biết: báo chọc Phạm Duy…cho bõ ghét!

Chuyện thứ hai, chính tôi gặp Julie trong một buổi Ra Mắt Sách của Bác Sĩ Nguyễn Xuân Quang tại Orange County, California, tôi hỏi vài người lớn tuổi, chịu chơi một thời Sài Gòn, tôi bị la: “Người ta nói bậy đó. Trước khi lấy Duy Quang, Julie là học trò của Phạm Duy, ông dành cho cô này nhiều cảm tình và chăm sóc tận tình, nên mang tiếng… kiểu khách quan!

Chuyện thứ ba, là chuyện nhạc sĩ Phạm Duy khoe với ai, ở đâu, không biết, nhưng có một ký giả hỏi Phạm Duy có thật vậy không, Phạm Duy cười và bảo người phóng viên kia nếu muốn biết rõ hơn thì nên hỏi thẳng bà Thái Hằng, vợ của Phạm Duy!

Còn các chuyện khác… cũng nặng mùi xú uế lắm, nghe mà phát tởm, nhưng qua bài viết của ông Nguyễn Thiếu Nhẫn thì tôi “bổ ngửa”. Chuyện “dậy” mà nào phải “dậy”. Toàn là Oan Ôi Ông Địa, không hà!

Chuyện với Giáo Sư Lê Hữu Mục tại Canada đúng là chuyện phịa của một nhà trí thức có tên tuổi! Giáo Sư Lê Hữu Mục “méc” với ông Nguyễn Hữu Nghĩa, Chủ Nhiệm Báo Làng Văn rằng-thì-là Phạm Duy khoe với “tui”: Tất cả các bản nhạc Hay của mình, Phạm Duy đều làm ở trong cầu tiêu! Khi nghe được chuyện này )lùm xùm trên các báo chợ hồi ấy), Phạm Duy đã phân bua: “Tôi không hề gặp và nói chuyện như vậy với Giáo Sư Lê Hữu Mục, tôi sẽ đi kiện đòi bồi thường danh dự”.. Vì…không thấy Phạm Duy kiện tụng gì, ai cũng yên chí là…đúng như vậy! Mà nói chí tình: Phạm Duy có tiền đâu để kiện ai. Sống ở Mỹ, đáo tụng đình…là chết, hơn nữa muốn kiện người ta thì phải coi họ có tiền để đền cho mình không! Chuyện này thiệt hay “giả ngộ” thì miễn bàn. Chính trên tờ báo Làng Văn có lần đăng một bài thơ dài, tác giả là tôi, chửi bới tục tỉu cô Trương Anh Thụy và Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích ở Virginia, mà tình thật tôi nào có quen hay biết gì hai vị này bao giờ! Sau này tôi “vỡ nhẽ”, chính danh thủ phạm là họa sĩ / thi sĩ Nguyễn Hữu Nhật ở Na Uy, người giữ mục Chém Đá trên báo Làng Văn làm ra và ký tên tôi…Tôi không yêu cầu báo Làng Văn đính chính…bởi tôi chẳng muốn dây dưa chuyện ruồi bu, dơ dáy đó.

Chuyện đáng “kinh hãi” là báo Ép Phê của ông Trần Trung Quân ở Pháp in hình Phạm Duy đứng chung với Đại Sứ Việt Cộng và lu loa lên là Phạm Duy chầu rìa Cộng Sản. Phạm Duy không đọc báo này nhưng có người gặp Phạm Duy đưa tờ báo cho ông thấy, ổng hoảng hồn và viết thư cho ông Trần Trung Quân. Báo Ep Phê đăng ngay bài Cải Chính và Xin Lỗi Nhạc Sĩ Phạm Duy! Việc Phạm Duy oan không ai cần biết, người ta chỉ “đồ” thêm những gì thiên hạ đồn đãi. Ác chi mà ác thế! Nhân sinh tính bản ác, nói theo Tuân Tử nghĩ cũng không ngoa vậy!

Hai mẩu chuyện trên đây tôi thấy trong bài của ông Nguyễn Thiếu Nhẫn. Ông Nguyễn Thiếu Nhẫn cứ thuận tay viết dài dài về những gì ông “bất mãn” với Phạm Duy và lờ đi, chẳng sao! Phạm Duy sống đã câm trước bao nhiêu tiếng xấu, chết rồi thì càng câm luôn! Hỡi ơi một kiếp người!…

Năm 2005 là năm không xưa lắm, tôi “hung hăng” con bo xít, bây giờ tự thấy mình hư! Tôi cúi đầu xin lỗi nhạc sĩ Phạm Duy. Tôi, hồi đó, năm 2005, tôi “quyết định” quên hẳn quá khứ tôi từng gặp Phạm Duy ở Việt Nam – khi thì Đà Lạt, khi thì Sài Gòn, tôi cứ viết cho “sướng” tôi, cho hả “căm hờn”, cho…có một bài báo cập nhật tin thời sự.

Năm 1959, tôi học trường Việt Anh ở Đà Lạt, ngồi trong lớp giờ Việt Văn của Thầy Tam Ích Lê Nguyên Tiệp, nghe tiếng gõ cửa, tôi đứng dậy ra mở. Một người đàn ông tầm thước, tóc bạc, quăn, tôi thưa: “Xin phép hỏi Bác, bác cần gì ạ?”. Người đó đáp: “Bác là Phạm Duy, con thưa với Thầy Tam Ích cho Bác gặp Thầy một phút”. Tôi đến bàn thầy giáo thưa lại với Thầy tôi, ông lật đât ra bắt tay nhạc sĩ Phạm Duy và bảo nhạc sĩ Phạm Duy lên Văn Phòng đợi mười phút nữa tan trường…

Một lần nữa, cũng tại Đà Lạt, đâu hình như năm 1962, nhạc sĩ Phạm Duy đi cùng với một nhạc sĩ Mỹ, thuê Hội Trường Hòa Bình trình diễn Mười Bài Tâm Ca. Tôi có đi dự. Khoảng hai ngàn khan giả rất “chịu” các nhạc phẩm đậm chất Tình Người của Phạm Duy nhất là bản Giọt Mưa Trên Lá, hầu như ai cũng ứa nước mắt…Trên sân khấu, Phạm Duy thật đẹp lão và hiền hòa, nói năng tao nhã; người bạn Mỹ của Phạm Duy cũng nói tiếng Việt và hát Tâm Ca…

Lần cuối cùng tôi gặp nhạc sĩ Phạm Duy ở Việt Nam vào năm 1969, tại Cư Xá Chu Mạnh Trinh Sài Gòn. Lần đó, tôi đi công tác Sài Gòn, bạn tôi nhờ cầm thư khẩn xuống trao cho nhà văn Hoàng Hải Thủy. Tôi chỉ là người đưa thư, không cần nêu tên, Tôi gõ cửa nhà nhà văn Hoàng Hải Thủy và làm xong bổn phận. Tôi ra về, giữa chừng, trước khi ra cổng cư xá Chu Mạnh Trinh thì thấy nhạc sĩ Phạm Duy đi vào, tôi chào: “Thưa Bác Phạm Duy!”. Ông dừng lại, chào lại tôi và đến vỗ vai tôi: “Anh là ai mà sao biết Bác?”. Tôi đáp: “Thưa con là đứa học trò mở cửa lớp gặp Bác khi Bác lên Đà Lạt tìm Thầy Tam Ích, Bác nhớ không ạ?”. Nhạc sĩ Phạm Duy cười thật “đẹp”: “Nhớ rồi! Lâu quá cháu nhỉ, cháu bây giờ chắc không còn là học trò?”. “Vâng, cháu đã đi dạy gần chín năm nay…”. Nhạc sĩ Phạm Duy đó, trước tôi thế đó. Sao tôi lại mù vào năm 2005 nhỉ? Tôi vừa hư vừa tệ! Lậy Trời cho tôi mù mãi. Tôi thật tình sẽ khiếp hãi khi nghe ai chửi mắng tôi từ nay khi đọc những dòng tối viết về một người vừa mất!

*

Thập niên 1981, tôi cải tạo về, quần áo xơ xác, người tôi đi thăm đầu tiên là Má tôi, tôi sợ mình về nhà thì hết đi đâu dễ dàng. Tôi đi rất nhiều chặng xe mới về gặp Má tôi được, phần thì người ta không niềm nỡ với người rách rưới, phần tôi có ít tiền (trại thả tôi chỉ cho có ba chục, tôi eo sèo thêm được hai chục nữa, vị chi là năm chục). Phương tiện đi lại khó, thấy người rách rưới càng không muốn giúp. Má tôi đã bỏ phố về ruộng. Tôi vào mới tới hiên nhà, Má tôi bước ra, hai Mẹ Con giống nhau như đúc: Nghèo Xác Xơ. Má tôi mặc áo bao cát, tôi thì mặc áo bà ba đen có vài miếng vá trên vai…. Tôi nhớ một bài hát của Phạm Duy: Ngày trở về có anh bước lê trên quãng đường đê….Mẹ lần mò ra trước ao nắm áo người xưa ngỡ trong giấc mơ…

Nhạc Sĩ Phạm Duy ơi… ông chết đi ở tuổi nào thì cũng vẫn là một người còn trẻ. Trẻ như anh thương binh kia… Tôi vừa nghe xong mấy bài rất tình của ông… và nhìn tấm ảnh ông thời ông còn là chàng trai Hà Nội, trước năm 1953. Thương ông quá chừng…

TRẦN VẤN LỆ

CON NGƯỜI THẬT CỦA PHẠM DUY

images (4)
Lời nói đầu
Nghĩa tử là nghĩa tận. Trước một “nhân vật của quần chúng” (a person of the public) vừa nằm xuống, giữ im lặng là thái độ nghiêm chỉnh nhất. Nhưng sự ra đi của Phạm Duy là một ngoại lệ. Nhiều người khen qúa độ. Nhiều người chê qúa lời. Nhiều người muốn khen, chê đúng mức mà không lên tiếng vì e ngại phản ứng của cả đôi bên. Đài BBC cũng tường thuật rất tỉ mỉ về đám tang của ông.
Hãy thử tìm con người đích thực của PD qua tác phẩm, hành động và lời nói của ông để biết nguyên do của cái dư luận ồn ào sau tin ông qua đời
.
A/ NHỮNG LÝ DO KHIẾN PHẠM DUY ĐƯỢC NHIỀU NGƯỜI NHẮC TỚI
1/ Ông là một nhạc sĩ được ngưỡng mộ bởi hàng triệu người Việt từ thế hệ trẻ tới thế hệ gìa, từ giới bình dân tới giới trí thức, từ thời chiến tới thời bình, từ chủ nghĩa Cộng Sản tới chủ nghĩa Tự Do, từ chính quyền độc tài tới chính quyền dân chủ, từ trong nước tới hải ngoại.
2/ Cảm tình của quần chúng đối với ông rất phức tạp. Nhiều người khen. Nhiều người chê. Nhiều người vừa khen vừa chê. Nhiều người trước khen nay chê. Nhiều người trước chê nay khen.
Phe Việt Cộng, sau nửa thế kỷ căm thù ông, nay mua chuộc ông để làm mồi cho chiêu bài “Hòa Giải Dân Tộc”.
Phe Tự Do, qua nửa thế kỷ quý mến ông, nay ruồng bỏ ông vì nghĩ rằng ông bị kẻ thù mua chuộc.
Những biểu lộ ấy (khen-chê, yêu-ghét, mua chuộc-ruồng bỏ) rất thường tình. Thiên hạ không ngẫu nhiên (mà có lý do thầm kín) gán ghép cho ông. Ông cũng không cố ý gây ra. Lối phát ngôn vụng về và nếp sống buông thả của ông đóng một vai trò quan trọng trong sự phán xét của họ.
3/ Những tác phẩm của ông, từ dân ca, tình ca, quân ca, đạo ca, nhi ca v. v.. đều có gíá trị độc đáo: mang âm giai ngũ cung hài hòa của dân tộc và lời ca truyền cảm của ca dao.
4/ Nhạc phổ thơ của ông là một tuyệt kỷ. Giới truyền thông đã liệt ông vào hàng “phù thủy” của loại nhạc này. Dù phổ nguyên văn bài thơ (như Ngậm Ngùi của Huy Cận..) hoặc chỉ lấy ý thơ (như Tiếng Sáo Thiên Thai của Thế Lữ..) ông cũng làm cho thơ tăng thêm gía trị.
5/ Đời tư của ông có một vài tì vết. Ông sống buông thả theo thú vui xác thịt, bất chấp hậu quả (vụ Khánh Ngọc và Julie Quang) khiến những người đạo đức khinh bỉ và những người đối lập khai thác.
6/ Lòng yêu dân, yêu quê, yêu nước trong những tác phẩm của ông rất hiển hiện. Một người có tình yêu giả tạo không thể nào làm được những bài Tình Ca, Tình Hoài Hương, Quê nghèo, Về Miền Trung, Bà Mẹ Gio Linh, Nhớ Người Thương Binh, Vợ Chồng Quê, Em Bé Quê, Ngày Trờ Về, Con Đường Cái Quan, Mẹ Việt Nam, v.v…
B/ KIỂM ĐIỂM NHỮNG LỜI KHEN
Hầu hết những người khen đều công nhận rằng ông là một “đại thụ” của nền tân nhạc Việt và là một nhạc sĩ có thiên tài, có lòng yêu dân, yêu quê, yêu nước chân thành. Có người đã tặng ông những đức tính mà thực sự ông không có (như khiêm nhượng, cao siêu). Thậm chí, có người còn vinh danh ông là chiến sĩ chống Cộng hoặc nhà tư tưởng thâm thúy. Những nhận xét như vậy chỉ đúng nửa vời:
1/ Quả thực ông là một đại thụ của nền tân nhạc Việt. Nhưng đại thụ ấy có tỳ vết: ông đã 2 lần vi phạm luân lý Việt (vụ Khánh Ngọc và Julie Quang).
2/ Ông không khiêm nhượng mà còn háo danh. Một thí dụ: Trong cuốn video Paris By Night 19, ông trả lời ký giả Lê Văn của đài BBC: “Tôi muốn hậu thế nhắc đến tôi như một người Việt Nam”. Khiêm nhượng thay câu trả lời! Nhưng cũng trong cuốn video ấy ông nói: “Tôi sẽ làm trường ca Hàn Mặc Tử bởi vì tôi đã có 10 bài Đạo Ca cho Phật giáo thì tôi cũng phải có một bài cho Công giáo mới công bằng”. Thế ra ông là người ban phát ân huệ cho 2 tôn giáo này! Nét háo danh đã lộ liễu trong lời nói vụng về ấy.
3/ Ông không phải là một chiến sĩ chống Cộng mà chỉ là một nhạc sĩ muốn được sinh hoạt văn nghệ mà không bị chỉ đạo bởi chính quyền. Ông bỏ Kháng Chiến về Thành không phải vì muốn xả thân cho lý tưởng chống Cộng mà vì muốn gia đình được sống thoải mái trong chính thể Dân Chủ và bản thân được tự do sáng tác theo tiếng nói của con tim.
Ông đã hưởng trọn vẹn ân huệ của những người đã hy sinh để bảo vệ chế độ dân chủ tự do cho gia đình ông sống yên vui. Bù lại, ông đã đền đáp công ơn của họ bằng vài trăm bài ca bất hủ xưng tụng những thứ cao đẹp mà họ trân qúy. Tuy ông không hy sinh xương máu cho chính nghĩa tự do nhưng ông đã góp phần không ít vào việc tô điểm nó. Tuy ông có nhiều điểm đáng khen nhưng không nên tặng ông cái vinh dự mà ông không xứng (chiến sĩ chống Cộng).
4/ Ông không phải là một nhân vật thâm thúy. Suốt đời, ông chưa nói được một câu nào xứng đáng cho danh hiệu ấy. Một bài nhạc của ông có câu: “Đừng cho không gian đụng thời gian”. Ông mượn ý đó trong thuyết Tương Đối của Albert Einstein (Einstein cho rằng chỉ có không gian, không có thời gian vì thời gian chỉ là phương tiện để đo lường không gian; thí dụ: hai thiên hà cách xa nhau một tỷ năm ánh sáng). Có người đã xin ông giải thích câu đó nhưng ông chỉ trả lời loanh quanh, vô nghĩa, chứng tỏ ông đã không hiểu ông muốn nói gì.
Thật là khôi hài khi một anh chàng văn sĩ VC nói câu này trong đám tang của ông: “Nhạc PD còn thì tiếng ta còn, tiếng ta còn thì nước ta còn”. Hắn nhái câu thậm xưng của Phạm Quỳnh trong thập niên 1930: “Chuyện Kiều còn thì tiếng ta còn, tiếng ta còn thì nước ta còn”.
(Cũng nên mở một dấu ngoặc ở đây để nói rằng đừng vì một câu của một lãnh tụ CS ca ngợi ông mà chụp cái mũ “thân Cộng” cho ông).
C/ KIỂM ĐIỂM NHỮNG LỜI CHÊ
Những lời chê ông nở rộ trong 2 thời kỳ:
1/ Thời kỳ thứ nhất từ năm 1950 tới 2005:
Khi ông bỏ Kháng Chiến về Thành, VC đã chê ông là phản động.
Ông đã không phản động mà chỉ phản Cộng.
Phản Cộng vì Cộng không thể cung cấp những nhu cầu căn bản (cơm ăn, áo mặc) cho gia đình ông và không cho phép ông phục vụ văn nghệ theo sở trường mà còn buộc ông phải khai tử một bài hát vô tội (innocent): bài Bên Cầu Biên Giới. Giản dị thế thôi !
2/ Thời kỳ thứ hai từ 2005 cho tới nay:
Khi ông quyết định trở về VN để sống nốt tuổi gìa, một số nạn nhân bị CS đày đọa đã chê ông là phản bội những anh hùng chống Cộng.
Công bằng mà xét thì ông không phản bội ai cả. Lý do ông trở về quê bây giờ cũng giản dị như lý do ông về Thành thuở xưa.
Ở Hoa Kỳ, các con của ông không có nghề ngỗng gì ngoài nghề ca hát mà nghề này thì không cung ứng đủ những nhu cầu vật chất cho chúng. Cộng đồng người Mỹ gốc Việt không bao bọc nổi vài trăm ca nhạc sĩ Việt. Những người lớn tuổi, đã về hưu, gắng gượng mới có tiền dự những buổi đại nhạc hội được tổ chức xuân thu nhị kỳ vì giới trẻ trung thì thích nhạc Mỹ do nó phong phú hơn, sống động hơn, giật gân hơn, hợp nhĩ hơn. Bản quyền sáng tác nhạc không được tôn trọng. Đĩa nhạc được sao chép và bán rẻ rúng công khai trong mọi tiệm nhạc. Sống nhờ trợ cấp xã hội thì không cam lòng. Chìa tay nhận 2000$ để phổ nhạc vài bài thơ “con cóc” của “vô thượng thiền sư” Thanh Hải thì tủi thân cho một nhạc sĩ tài danh như ông.
Giữa lúc nghèo túng thì cơ hội chợt tới: một khế ước trị giá 400 ngàn đô-la trong 4 năm để sưu tầm, hòa âm, trình diễn tất cả những bài ca do ông sáng tác tại VN từ 1945 tới 1975. Khế ước đó không buộc ông phải hòa âm những bản nhạc của VC hoặc sáng tác những bài ca mới cho VC. Thính giả của ông sẽ chỉ là những người thích nghe nhạc Phạm Duy bất kể chính kiến. Có thể ông đã biết một cái bẫy vô hình ẩn sau khế ước đó: sách lược “Hòa Giải Dân Tộc” của VC đang ở cao điểm trong thời gian này. Một người có “khí tiết” ắt không chấp thuận. Nhưng Phạm Duy không phải hạng người có khí tiết. Ông không thích sống “gương mẫu” mà thích sống thoải mái, buông thả, sung túc như thường tình.
Thế là ông đưa gia đình về quê hương sống ung dung trong 8 năm cho tới khi ông từ trần. Ông rất thích câu của ai đó nói rằng: “Về đi thôi! Kiếp sau biết có hay không?”. Tính tình của ông khác đời ở chỗ: rất thích thú khi được khen và rất ít phiền hà khi bị chửi.
Trong 8 năm ấy ông đã gặp đủ hạng người, trong mọi lứa tuổi: ca nhạc sĩ đã quen hoặc chưa quen, thính giả yêu nhạc của ông dù đã biết hoặc chưa hề biết tên ông, lãnh tụ CS kể cả những người đã từng cấm hát nhạc của ông như Võ Văn Kiệt, Tố Hữu và Trần Bạch Đằng, người đã tuyên bố một câu vô liêm sỉ năm 1989: “PD hãy tự sát đi, chúng tôi sẽ cho phổ biến nhạc của ông ta”. Dĩ nhiên ông không thể từ chối gặp mặt những lãnh tụ CS đã mở đường cho ông trở về. Cũng không đáng phàn nàn nếu ông muốn gặp một vài lãnh tụ CS đã chơi thân với ông trong thời kháng chiến chống Pháp. Ông rất dễ tính và vô tư trong việc gặp bạn cũ, chuyện làm quà chỉ là chuyện tếu hoặc kỷ niệm xưa, không bàn về chính trị. Chả có gì đáng trách cho những cuộc gặp gỡ lấy lệ hoặc xã giao như vậy.
Có một điểm son đáng ghi nhận: ông không hề bợ đỡ một lãnh tụ CS nào và cũng không hề nói xúc phạm tới bất cứ ai của chính thể VNCH trong suốt thời gian 8 năm ấy (cựu phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ đã phạm lỗi này).
Tôi muốn tóm tắt thái độ của Phạm Duy trong một câu sơ sài: Khi sáng tác thì tận tình, khi vui chơi thì tận hưởng, khi nói năng thì thì tận tục. Duyên Anh đã thuật lại rằng PD, trong lúc đùa rỡn với bạn bè, đã nói trong hơi men: “Ai ngu mới thích nghe nhạc của tôi. Chúng đã được làm trong cầu tiêu”. Có lẽ ông đã làm những bài Tục Ca trong cầu tiêu.
D/ KẾT LUẬN:
Nhạc sĩ tài danh Phạm Duy là một người đáng thương hại nhiều hơn là đáng trách cứ. Cuộc đời của ông trôi nổi qua nhiều vinh nhục, thăng trầm. Ông thích sống buông thả và chỉ có một tham vọng tích cực (productive): sáng tác những bản nhạc có giá trị.
Lối phát ngôn của ông thuộc loại Tú Xương (“Một thày, một cô một chó cái” hoặc “Cao lâu thường ăn quịt, thổ đĩ lại chơi lường”). Từ 50 năm nay, chả có ai coi ông như một “quý nhân”. Họ mến ông vì ông đã cống hiến cho họ nhiều bài ca bất hủ, và đi chung với họ trên một đoạn đường dài nhất của cuôc đời để cùng nhau “khóc cười theo mệnh nước nổi trôi”.
Ông chưa bao giờ là công cụ của CS. Trong 5 năm theo Kháng Chiến chống Pháp, ông chưa hề làm một khúc ca xưng tụng một lãnh tụ CS nào mà chỉ xưng tụng những anh hùng, liệt sĩ chống ngoại xâm. Tới khi cáo hồ ló đuôi thì ông bỏ chúng về Thành.
Ông cũng chưa bao giờ là công cụ của chính quyền độc tài. Trong 25 năm sống trong chính thể Quốc gia, ông chưa hề làm một ca khúc suy tôn lãnh tụ nào. Những bài hát “xây dựng nông thôn” là những bài làm ra bởi một tác gỉa công chức hơn là bởi một nhạc sĩ chuyên nghiệp; chúng đã không thọ lâu.
Khoảng 100 bài ca bất hủ của ông đã đi sâu vào mọi làng xóm của thôn quê, mọi ngõ ngách của thành thị rồi “di tản” ra ngoại quốc để ve vuốt nỗi cô đơn của vài triệu người sống lưu vong.
Cuộc “trở về quê” của ông chỉ tổn thương cho thanh danh của cá nhân ông, không có ảnh hưởng đáng kể tới tinh thần chống cộng của quần chúng. Chả có ai “hòa giải dân tộc” với VC chỉ vì Phạm Duy đã hồi hương. Sự hòa giải ấy sẽ không bao giờ xảy ra. Nói cách khác, chỉ có hòa giải khi nào chính thể CS bị giải thể hoàn toàn. Còn nữa, chỉ có lực lượng của quần chúng ở trong nước mới có khả năng giải thể chúng. Vậy thì chả nên quá quan tâm tới cái sách lược “Hòa Giải Dân Tộc” của chúng. Nó đã chết ngay sau khi vừa sinh ra. Chả nên chia sớt bớt nỗi căm thù VC rồi xối vào những ca nhạc sĩ như Phạm Duy, Từ Công Phụng, Khánh ly, Lệ Thu, Chế Linh v.v… Có một cái gì “bất đắc dĩ” trong viêc trở về của họ (như đã nói ở trên). Vả lại, họ không đem đô-la về nước để góp thêm ngoại tệ cho VC (như một số thương gia và những kẻ ham du hí) mà còn tiêu bớt ngoại tệ của chúng (lãnh thù lao bằng đô-la). Hãy thông cảm cho họ (thông cảm không có nghĩa là cổ võ cho người khác trở về) miễn là họ chỉ thân thiện với dân, chỉ hát cho dân nghe những bài ca mà chúng ta chấp nhận và không nói lảm nhảm, xúc phạm tới tinh thần chống Cộng.
Riêng đối với Phạm Duy, hãy để cho ông yên nghỉ, gọi là đáp lễ những bài ca bất hủ mà ông đã cống hiến trong suốt cuộc đời ông. Nghĩa tử là nghĩa tận! Có cả ngàn người (phần lớn là thường dân) đã tiễn đưa ông tới nơi an nghỉ cuối cùng. Vài nhóm trong số người này vừa khóc vừa đồng ca trước mồ ông một số bài chọn lọc, trong đó có bài Tình Ca và một bài chưa được chính quyền VC cho phép (Những Gì Sẽ Đem Theo Về Cõi Chết). Từ vạn dặm, chúng ta hãy gửi tới ông một chút thương cảm, một chút ngậm ngùi, một chút vị tha. Người yêu chuộng tự do lúc nào cũng tôn trọng tự do ngôn luận (trong đó có tự do chọn lựa lối sống) hơn bất cứ điều gì trên đời.

Bác Sĩ NGUYỄN VĂN BẢO

CHƯA BAO GIỜ BUỒN THẾ…

cungtramtuong

Lên xe tiễn em đi
Chưa bao giờ buồn thế
Trời mùa đông Paris
Suốt đời làm chia ly

Tiễn em về xứ mẹ
Anh nói bằng chiếc hôn
Không có gì lâu hơn
Một trăm ngày xa cách

Ga Lyon đèn vàng
Tuyết rơi buồn mênh mang
Cầm tay em muốn khóc
Nói chi cũng muộn màng

Hôn nhau phút này
Rồi chia tay tức khắc
Khóc đi em!
Khóc nữa đi em!
Để buồn qua tóc rối
Những vì sao rụng
Ướt vai mềm
Khóc đi em!
Khóc đi em!
Hỡi người yêu xóm học!
Để sương thấm bờ đêm
Đường anh đi tràn ngập
Lệ em buồn…

Ôi đêm nay!
Chưa bao giờ buồn thế!
Trời mùa đông Paris
Suốt đời làm chia ly…

Tàu em đi tuyết phủ
Toa em lạnh, gió đầy
Làm sao em không rét?
Cho ấm mộng đêm nay
Và mơ ngon lên khắp
Nẻo đường đời
Trời em mơ có sao
Mình anh đêm ở lại
Trời mùa đông Paris
Không bao giờ có sao
Trời mùa đông Paris
Chưa bao giờ buồn thế

CUNG TRẦM TƯỞNG

ĐỪNG KHÓC MAI NÀY TA CHẾT QUEO

linhphuong

Cải tạo xong ta về kiếm sống
Sống kiếm hong ra lại khật khùng
Mấy chục năm trời hai tay trắng
Ta mãi nhọc nhằn chuyện áo cơm

Nhớ quá trại giam buồn hò hẹn
Ta tìm quăng lưới lũ cá hồng
Bán kiếm tiền chờ khi được thả
Nắm tay em trèo lên xe bông

Xe bông lăn bánh ta đứng ngó
Hồn phách đâu còn góc phố xưa
Em lấy chồng giàu em đành bỏ
Người cũ hôm nào trong giấc mơ

Đừng khóc mai kia nằm dưới mộ
Đời ta – em lỡ mất mẹ rồi
Vướng bận chi cái thằng tình phụ
Em hận ta hoài sao chưa nguôi ?

Em hận thuở ta đi đánh trận
Mê công danh làm kẻ võ biền
Để em biền biệt ngày trông ngóng
Nhìn hỏa châu đêm rụng bên thềm

Tạ lỗi muôn vàn xin tạ lỗi
Tình yêu như khói súng bay vèo
Quên phứt chiến tranh thời binh lửa
Đừng khóc mai này ta chết queo…

LINH PHƯƠNG