Ở ĐÓ…

buidiep
Mỗi khi nghe Khánh Ly hát Căn nhà xưa của Nguyễn Đình Toàn lòng tôi xao xuyến khôn nguôi. Một nỗi ám ảnh mơ hồ như là một món nợ ân tình nào đó cứ cồn cào, cắt cứa bằng những kỷ niệm buồn đau và u uẩn vào tháng ngày ngỡ đã bình yên và khuất lấp giữa dòng đời.
Ở đó…
Xóm Cồn nhỏ bé và hiu hút bên cửa sông Dinh lao mình ra biển. Những ngôi nhà vách đất mái rạ hoặc lá dừa nước. Những khu vườn nhỏ trồng ngẫu hứng rất nhiều cây trái vì chỉ để nhà ăn chứ chẳng bán buôn gì. Những đứa trẻ hàng xóm vui đùa với nhau bất kể ngày đêm, chẳng thiết tháng năm. Chúng chạy từ nhà đứa này sang nhà đứa khác không theo cửa ngõ mà chỉ leo rào tre hoặc chui xuyên vách lá dừa. Nhiều đứa không được đến trường hay chỉ vài ba lớp đầu đời chỉ đủ “đánh vần xuôi, vần ngược và viết mấy chữ thăm bồ” là được. Tuổi thơ còn ở đó…
Đôi chân ta đi, sông còn ở lai (TCS). Tôi xa quê nhiều năm theo chữ nghĩa. Người thân vui mừng, bạn bè xóm nhỏ hy vọng. Nhưng rồi tôi cũng trở về. Ở đó sông Dinh…. Có những chiều sau những nhọc nhằn công việc ruộng đồng, phút thảnh thơi ngồi ngắm sông trôi mới biết đời còn lắm bao dung. Hình như bờ lau trắng tóc vẵn thản nhiên vi vu trong mùa gió bấc. Hình như bờ xương rồng ngày thằng bé bẻ gai cho má lên chợ Dinh bán rổ ốc gạo, ốc quắn, vẫn hồn nhiên trong nắng nở hoa. Hình như những đứa trẻ xóm Cồn mấy mươi năm rồi vẫn vậy, đen nhẻm, gầy hiu, ồn ã và chân tình. Nhìn thấy tôi mướt mồ hôi cuốc đất có thằng bé dẫn bò gặm cỏ dọc bờ sông cười cười rồi phán, chú cuốc đất chậm rì mà còn dồn đống, làm vậy ai thuê. Tôi cười rồi hỏi lãng sang chuyện khác. Hỏi cháu học lớp mấy rồi, cháu bảo lớp 6 mà nghỉ rồi. Vì sao? Ba con nói học nhiều như chú rồi cũng đi làm rẫy…
Ở đó. Tôi nợ xóm làng và bạn bè tôi một lời xin lỗi. Tôi ray rức vì mình chưa minh oan cho “chữ nghĩa” rằng không nhất thiết đi học để làm gì. Nhưng cơ hội cho tôi thật ít ỏi. Tôi không thể vẽ vời bướm hoa trước một đời sống không có chỗ cho những điều mộng mị.
Tôi lại ra đi. Hỏi có còn thương nhớ quê xưa. Sao mà quên. Vậy sao bỏ làng bỏ xứ. Chẳng lẽ tự nhận mình là con chim bay đi tìm đất lành lượm thóc. Nhận vậy chim sẽ trách mà rằng, chim dù biết chiều tối mà vẫn bay về núi, có ra sao thì ra.
Ở đó. Bao giờ? Chỉ mong sao…

BÙI DIỆP

 

DƯỚI THỀM CỎ HOA

nguyenducbatngan

hoàng uyên dừng gót chân cầu
hồn mưa ngại nắng hoen sầu cỏ cây
em còn lại nhịp đôi tay
trao anh phiến nguyệt theo ngày lãng du

này em đừng ngại sương mù
theo anh về kịp mùa thu cõi ngoài
uống hoài những giọt sương mai
này em cụng chén quan hoài lãng quên

thôi thì ép lại trong hồn
có ăn năn cũng phai mòn dấu chân
này em nhớ lối hồng ân
để mai sau trở lại trần nghe em

à con nước ngủ êm đềm
theo giòng nhật nguyệt dưới thềm cỏ hoa
thôi em đừng ngại trăng tà
mốt mai rồi cũng chia xa cõi lòng

nắng vàng sợi tóc em hong
hồn say bóng động nghe lòng viễn du
mai rồi ướt giọt mưa thu
vàng cơn nắng lụn sa mù dưới chân

ngày, mắt em đẹp vô ngần
nước mây cũng luống phân vân ngại ngùng
đêm, mắt em biếc như nhung
anh nhìn lòng bỗng vô cùng reo vui

đừng nghe mưa xuống hiên ngoài
bâng khuâng lòng chợt u hoài rưng rưng
này em năm ngón ngập ngừng
đại hồ đã vỡ xin đừng xót thương

chừ nghe tình đã phai hường
em xuôi về mộng hoang đường gió se
rồi mai mốt có quay về
xin em đốt hết hẹn thề nghe em

NGUYỄN ĐỨC BẠTNGÀN

THIÊN SỨ SỐ 3

linhphuong

Ly nữa rồi ly nữa
Rượu uống hoài không say
Trái tim nồng muôn thuở
Máu nhỏ xuống bàn tay

Ngực gầy run tiếng nấc
Cho buổi sớm mai này
Ta xa nhau mãi mãi
Cuộc tình như bóng mây

Thôi thế nhé ! Từ đây
Ta ngàn năm cách biệt
Thiên sứ giờ đã chết
Giữa đời thường- đời thơ

Ly đầy rồi ly vơi
Rượu uống hoài chưa cạn
Tình yêu thì quá ngắn
Tựa một giấc chiêm bao

Thiên sứ làm ta đau
Hết kiếp đời khốn nạn
Trời ơi ! Sao ta vẫn
Thương hết dạ- hết lòng

Ta uống rượu- ta buồn
Viết những lời trăng trối
Gởi em -người tình phụ
Ta theo Chúa về trời…

LINH PHƯƠNG

NGƯỜI GÙ

trusa

Một tủ gỗ chẳng có gì ngoài những cuốn sách đã nát bươm tới mức không thành một trang giấy. Loại gỗ gụ nên rất bền. Theo lời kể, cái tủ này là gia bảo của dòng họ ông. Từ đời tằng tổ để lại. Riêng thứ sách cũ mốc thì do ông tích trữ. Rất nhiều sách. Nếu đếm từng quyển có lẽ tôi phải mất hơn ngày. Cái tủ xây cao sát trần và kéo dàiốp quanh bốn bức tường. Lúc mới bước vào, trừ việc ho sù sụ vì bụi thì tôi đã lầm tưởng rằng tường hầm được khoét sâu để cất sách. Như mọi tủ kệ, cái tủ này cũng được chia tầng. Các ngăn bằng phẳng và sâu ướm vừa một bàn tay. Sách chất chật cứng. Chúng xếp ngang, chếch chéo, nằm chồng lên nhau, quay gáy ra ngoài. Bụi và mạng nhện bện dày như cái kén màu xám đục. Lối ra vào, cũng là cửa thông gió duy nhất luôn mở. Tôi nghĩ cổng cầu thang mở để không chết ngộp trong hầm. Ông, một người quá già so với những thượng tuế ở Phố. Tôi ít được nghe về ông ngoài việc ông từng giết vợ. Ngộ sát, hoặc đại loại thế khi ông cố rút mũi tên cắm trong lồng ngực vợ mình. Có lẽ ông đã rút quá mạnh, hoặc vợ ông quá yếu để trụ vững sau lực chấn động khi rút tên. Phố này kéo dài, nối liên miên. Tôi ở dãy đầu còn ông ở cuối. Thời thơ ấu, tôi đã chẳng biết ông. Mọi bàn tay trong phố ít nhiều đã sờ lên người tôi, trừ ông. Tôi chắc ông đã chẳng để ý dãy phố có bao nhiêu đứa trẻ và là con nhà ai. Ngày đầu gặp tôi đã nói tên, số nhà, tên cha mẹ như một sự thành thật.Tiếng “Vào đi” thay giấy thông lệ để từ đó tôi lui tới thường xuyên chỗ ông. Cũn gngày đầu, ông đã mời tôi kẹo, bánh. Một ấm trà được pha lại từ bã buổi sáng. Trong nhà ông chẳng còn ai. Người nhà ông li tán khắp năm châu. Đứa con ôngchết trong bụng mẹ trong lần sơ tán cuối cùng, trước khi về Phố. Vợ cũng đã qua đời.Ông không bị tù, chỉ nhận án treo. Với ông, mất đi người vợ đã là bản án nghiệt ngã nhất. Ông bị gù, không do tuổi già. Râu tóc ông bạc phếch, da bèo nhẽo với nhữngchấm đồi mồi và gân xanh, đấy là tuổi già. Vốn là người siêng lao động nên đến từngtuổi này bước chân ông vẫn vững. Chuyện cắt tỉa sân vườn, nhổ cỏ dại hay sửa mái ngói ông đều tự làm. Cái lưng gù của ông nhiều khi như đường móc của cầu vồng.Tôi nói với ông “Gù bẩm sinh, có phải trò đùa của Tạo Hóa.” Ông nói “Tạo Hóa chẳng bao giờ nghiêm túc, còn con người thì luôn thích đùa.” Ông ít giao du với người ở Phố. Thực ra những người đồng tuế thì đã quá yếu và chỉ quanh quẩn trong nhà bằng những bước chầm chậm như con rùa kéo lê bộ mai.Lớp người sau ông một chút, thuộc vào thế hệ tiếp nối hoặc hạt giống như tôi, ông cũng không bắt chuyện, ai chào thì ông chào lại còn thì đường ai nấy đi. Ông như con đại bàng ẩn dật cả cái bóng dù vẫn đủ vuốt, mỏ để lột xác một lần nữa. Có lẽ vì vậy không mấy người chú ý đến ông. Những ngày lễ bắn pháo hoa, cả phố tưng bừng. Ai cũng ra đường sau khi đã trang trí cửa nhà thật đẹp. Ông ở nhà cấp bốn, mái nhà nửa ngói nửa tôn, gạch nhà nứt toác thành những rãnh dài, tường rụng rời. Từ ngày buồng vệ sinh bị sập ông thành khách quen của vệ sinh công cộng. Việc tắm giặt ở ngayngoài trời, với một chậu một gáo. May rằng bể nước nhà ông không hỏng chứ khéoông phải tắm lúc trời mưa hoặc tắm khô như mèo. Ông có cái sân rộng nhưng ông chỉ1
tỉa cỏ dại, loại cây nào vô tình mọc trên đất nhà ông thì ông chăm chút. Tôi gõ cửa.Ông bảo tôi vào với ông hoặc giúp ông kéo cửa như một lần đóng cửa thật chặt. “Ông không thích người ta à?” “Con người, quý lắm. Chỉ là càng sống càng khó kiếm người.” “Ở đâu chẳng có người hở ông.” “Ở đâu chả có người nhưng người ở đâu.” Hầm sách của ông luôn làm tôi khó thở. Dường như đã quá lâu ông không quét dọn. Tủ chưa hề mục. Riêng sách thì đã mủn nát. Mấy cuốn lành, thì cũng nham nhở như bị xé nhỏ. Tôi chẳng đọc được chữ nào. Cuốn long bìa, cuốn bìa đã bạc hết màu,có cuốn thì vừa cầm lên đã rụng lả tả. Mở trang nào cũng thấy bụi. Nhiều lúc tôi còn thấy mọt chạy thành đàn. Giữa gian hầm, có dựng cái ghế mây. Ghế cũng cũ, bụi đóng trắng như một mô hình tuyết. Dù ghế lúc nào cũng cót két nhưng ngồi vẫn chắc.Cạnh ghế, luôn có một ngọn đèn cầy. Thứ ánh sáng vàng mỡ cháy quanh hầm như một mặt trời tí hon. Đã nhiều lần tôi vào đây, rồi ho sù sụ. Mấy lần sau tôi đeo khẩu trang. Riêng ông thì vẫn lui tới thường xuyên. Không một mảnh khẩu trang hay khăn tay. Nhiều khi ông còn hít ngửi rất sâu. Lúc tôi mang đến cây phất trần và chổi để cùng ông dọn hầm, ông đã bẻ đôi từng thứ một. “Cũng phải dọn dẹp cho sáng sủa chứ ông.” “Kì cọ, lau rửa, chỉ làm gương sáng chứ chẳng sạch bụi. Hầu hết chúng ta tin cậy ảnh chiếu trong gương là mặt mình. Trăng trong hồ cũng là trăng nhưng chẳng phải trăng. Các bản sao đã thống trị cả sơn hà này và đội lốt bằng ti tỉ thế thân.” “Bụi bặm thế sẽ sinh bệnh đấy ông.” “Quỷ đồng lõa với bụi bặm hơn là dịch bệnh.” Lối cầu thang lên xuống hầm luôn mở. Ông ngồi trên ghế mây, lửa đèn cầy chao nghiêng như điệu nhảy chú lùn. Mắt ông nhìn quanh những giá sách. Bụi bặm rụng từng mảng hễ ông giậm chân quá mạnh. Tay ông lúc vắt trái, khi vắt phải. Rồi ông ôm đầu. Tôi từng thấy ông mở sách. Từng cuốn, từng cuốn. Không cuốn nào nguyên vẹn, dù chỉ một phần tư trang. Tôi tự hỏi ông tìm gì ở số sách cũ đã nát bươm đó.Hay, ông vốn đọc làu chỗ sách đấy. Ông mở sách chỉ để kiểm tra lại trí nhớ. Suy nghĩcủa tôi bị bẻ ngoặt khi thấy ông sờ lên mặt sách. Ông lật từng trang. Lật bìa, rồi lật đi lật lại. Mắt ông nhìn đăm đăm, thế rồi ông gấp sách và cất trở vào tủ. Ông đi lại mộtlúc quanh tủ sách bốn mặt, lần tay vào từng gáy sách. Ông lấy đúng cuốn mình đã cất trước đó và mở. Việc quan sát ông chầm chậm, không để vang tiếng thật thích thú.Bụi và mạng nhện lúc nào cũng dính trên tóc, vương mảnh trên mặt, vai áo. Nhữnglúc ông trầm ngâm nhìn trang sách, tôi tưởng rằng ông đang mặc niệm cho một thế kỷ bị lãng quên. Một lần nữa, ý nghĩ tôi bị bẻ ngoặt. Đấy là khi tôi thấy ông miết nhẹ ngón tay lên cuốn sách và liếm. Cái liếm chậm rãi lúc thì lên bìa, khi thì ở gáy, có lúc lại ở một trang bất kì. Một cái vấp chân, rồi tiếng ho vì bụi hầm không làm ông giật mình. Vẫn cử chỉ dấu yêu bằng cái liếm, cái dụi mặt. Sự nâng niu quá đà của ông với tủ sách cũ khiến tôi nghĩ đến việc ông đang ngấu nghiến những hồi ức về người vợ.Đã nhiều lần tôi hồ nghi việc liếm sách đấy là một tưởng tượng về cuộc tái sinh các phế tích từ một cái lưỡi lão hóa. Nếu còn đủ răng, liệu ông có nhai…
Người ở Phố bảo ông gàn. Số sách của ông vẫn nhiều người biết. Hẳn có người còn thấy nó khi còn vẹn nguyên. Mấy bô lão chỉ xua tay, tránh né lời thắc mắc của tôi. Sách gì, thể loại gì. Chữ gì, và viết gì. Những câu hỏi đổ dồn, chạy vòng quanhđầu tôi trong những ô trống. Có lần, ông nói với tôi. “Sách là cái tim đen luôn bị đánh tráo của quá khứ. Dù bao nhiêu thời đại nữa thì sách vẫn là bửu bối của trời. Văn minh của loài người là ngôn ngữ và chữ viết, trong đấy chữ viết là thứ trường cửu khi đóng thành sách. Những điển thư bất tử. Thập kỷ qua, chữ viết đã xuống mồ và bị quật mả nhiều lần để thành bù nhìn, đồng sự của quỷ dữ. Chúng tụng ca bằng những bài hát nhai xương uống máu, nhảy nhót trên những xác người còn ấm, còn nhúc nhích, chúng trồng cây trong óc người sống và tận diệ tthủy tổ bằng năm mươi cuộc săn trên rừng, năm mươi cuộc săn dưới biển. Sách đổ máu không đổ chữ. Chữ là máu không là sách. Trong lúc ông ngồi trong hầm, huơ hoắng tay, hít ngửi thứ bụi chồng chất hàng thế kỷ thì tôi đi lùi phía cầu thang. Nếu đèn cầy đột ngột tắt, ông vẫn ngồi. Ông hỏi tôithấy gì khi đèn đã tắt. “Không gì cả.” “Thế khi đèn bật.” “Tất cả.” “Chắc không?” “Cháu nhìn được. Trời sáng hơn bởi đèn.” “Người mù luôn thấy tối nhưng không phải trời phủ bóng đêm. Người mắt sáng khó nhìn ra bóng tối của người mù và không thấy đường dù không mù. Nguyên thủy của bóng tối không màu đen.” “Sau cơn mưa trời lại sáng mà ông.” “Sau cơn mưa, trời tạnh. Vẫn tối.” Vợ ông chết vào một buổi tàn minh, tôi tin thế. Viễn cảnh của sự lìa đời là hơi thở trút cạn không còn gì. Cái chết chậm rãi như cánh cửa khép từ từ, hoặc đột ngột như mặt trời cuối cùng bị bắn rụng giữa ban ngày. Hơi thở vợ ông sẽ bay vút như đôi cánh, mỏng mảnh như khói thuốc lá hay chờn vờn đứt đoạn như con cá bay khỏi mặt biển chốc lát rồi lại chìm xuống biển? Tôi không biết, cũng không dám hỏi ông. Vườn nhà ông nhiều bia mộ. Chia hai dãy và chẳng có tên. Người nhà ông chẳng nhiều đến thế. Ông vẫn nói rằng sinh mạng là những gì sống và từng được sống. Một nhành hoa, một xác người đều bình đẳng khi vùi trong đất. Người ở Phố đã quên béng ông. Tôi nghĩ họ vờ quên. Một dị hợm so với những đồng đẳng bằng nhau. Phần khác vì cái sân với đầy rẫy bia mộ lại là một xúi quẩy. Mỗi tai ương xảy đến người ta có quyền đổ thừa ông. Trước những vu khống ông đều im lặng. Cái bóng gù lẩn khuấttrong cộng đồng lưng thẳng, lưng dài nhưng sẵn sàng còng trước mũ cánh chuồn. Nhà ông không treo biển Gia Đình Văn Hóa. Phố không cấp cho ông và ông cũng không xin, mặt khác một ông già sống cô độc thì chẳng thể gọi là có gia đình. Tôi vẫn tìm đến ông. Một ngày, tôi thấy ông cắm bia sau vườn. Không hề có áo quan. Dưới lòng đất chỉ có sỏi và đất. Ông đào một rãnh, rồi táng mộ. Tôi hỏi ông “Tại sao nhiều bia mộ đến thế.” Một tiếng thở nửa chừng, rồi một cái cười nhẹ cũng tiêu biến nửa chừng nhường chỗ cho một tiếng ho ngắt quãng. “Quả đất này đã quá nhiều ma. Chúng ta sinh sống, ăn lộc từ ma và tranh luôn đất của ma.” “Bởi vậy ma đành nương náu trên thân xác người.” – Tôi nói với ông. “Nguồn gốc của ma là người.”- Ông nói với tôi, nói với vườn bia mộ. Rồi, ông xòe đôi bàn tay – “Hóa thân của người?” – Lời ông rót vào hai lòng bàn tay dày kín những lớp sẹo. Chẳng thể thấy dù nửa cái hoa tay hay nửa nét chỉ tay. Ông không ở ngoài vườn. Lúc này, ông xuống hầm. Những cuốn sách sẽ được lật ra và ông hít hà lớp bụi đóng. Ông vươn người, xòe tay trong tủ sách bốn mặt. Có thể lúc này ông đang xâm nhập vào những thế kỉ cũ, đối ẩm với các đế vương và và vụng trộm với những vưu vật thời hồng hoang. Ông. Một người gù. Dãy Phố nhộn nhịp cờ đèn. Biểu ngữ giăng khắp nơi. Các lễ hội, những tiệc tùng thâu đêm, rồi thì những cuộc đua xe mừng thắng bóng đá, pháo hoa đỏ ngầu trời nối dài từng ngày, tháng. Đâu đấy, những trung tâm nạo phá thai mọc chồng chéo để đồ tể giống người. Đâu đấy, bạt ngàn cây bị chém đổ cùng lúc như bản án tru di dòng tộc. Đâu đấy, mỗi giây Thần Chết bắt được một hồn. Cũng đâu đấy, đàn đàn người quần tụ, lắc lư trên bàn nhậu như lật đật. Cái hầm sách cùng hai hàng bia mộ là điềm gở của Phố. Một thứ lạc hậu, hão huyền và nằm ngoài lề thời đại này. Đám trẻ lớn lên, già đi mà chẳng biết có một người gù luôn lang thang trong bóng tối, mong tìm một bát nước cứu khát. Tôi về lại chỗ ông. Lần này ông không đón tôi. Cửa xuống hầm vẫn mở. Bụi đóng dọc quanh lối lên xuống. Đèn cầy đã tắt. Tôi mang theo một ngọn nến. Bụi đóng dày mặt sàn, ngập đến mắt cá chân. Tơ nhện giăng khắp ngóc ngách và cũng dày lên,trắng đục như lớp mây khổng lồ. Không thấy bóng nhện nào. Một cái hắt hơi làm bụirụng từng mảng. Như tiếng hét trong xứ tuyết phủ, bụi chuyển động rồi rơi ầm ầm.Tôi phẩy tay, hất mạnh để tránh những mảng bụi quá to nện vào đầu. Ông ngồi trên ghế mây. Ông đã chết. Bụi kết tảng, vùi lấp chỉ để chừa cái đầu lâu. Phủi bụi, tôi thấy một bàn tay xương chống cằm. Không thể gỡ bàn tay khỏi cằm, tôi để thế. Một khung xương người gù suy tư. Tôi gạt ngọn đèn cầy trên bàn và nhỏ sáp, cắm nến. Hầm sáng rõ. Sách đã không còn trên bốn mặt tủ. Chúng nằm xếp thành những hàng, những tầng dài dưới đất và bao quanh chỗ ông ngồi. Tủ sách ngủ trong lớp bụi dày. Số sách nằm mặt đất không biết đã ngủ chưa hay hẵng còn thoi thóp chừng nào những chữ bị cắt xẻo còn chưa bạch hóa. Tôi hít một hơi sâu. Bụi đi vào mũi và tôi nuốt lấy như đang nhai một phần quá khứ ông. Trong kho sách tàn mục, rách nát ông là một nét phẩy. Mang theo hài cốt ông, tôi lên cầu thang và ra sân. Những bia mộ rêu phủ. Cỏ mọc rậm cả mảnh sân. Nhiều cây dại mọc chồi, đâm xẻ um tùm thành bụi gai. Mạng nhện và bụi thời gian kết trắng vườn mộ. Vợ ông, một mũi tên trước ngực. Theo lời ông, tên đâm qua ngực vợ từ rất lâu.Cơn đau luôn hành hạ vợ ông. Mũi tên không cắt đôi quả tim mà xuyên thấu và tồn tại như một chi trên cơ thể. Ông đã rút mũi tên khỏi lồng ngực vợ. Mũi tên được ông bẻ đôi. Vợ ông vẫn sống. Bà được giải thoát nhưng cái tự do này đã không mang bà đến nước Trời. Mất mũi tên trên ngực, vợ ông thấy rỗng tuếch. Sẽ không còn cơn đau nào âm ỉ lồng ngực. Những liều thuốc giảm đau và cơn oằn mình quy thuận khôngcòn nữa. Cơ thể bà nhẹ như được Chúa trao cánh nhưng bà đã không biết phải làm gìvới đôi cánh. Cái chân này là của bà, cái tay này là của bà. Lưng bà không gù nhưngvẫn cong xuống như bị bẻ cột sống. Ông chỉ ngón tay. Mắt vợ ông nhìn vào đầu ngóntay ông. Chưa thấy đường. Vợ ông khiếp sợ cuộc sống mới mẻ cùng hai bàn taytrắng. Bà đã lấy trộm hai nửa mũi tên. Khi cắm lại tên vào ngực, bà gục xuống. Hóa thân của người… Hóa thân của người… Tôi nhìn hai hàng mộ. Phần mộ trái bảy mươi tư bia, mộ phải sáu mươi tư bia. Tôiđứng ở phần sân chia đôi hai cánh mộ. Phố vẫn huyên náo như mọi ngày. Người ở Phố đi lại như đàn người cô độc. Tôi đứng mãi ở mảnh sân. Mấy người nhìn thấy tôi qua hàng rào cửa. Họ xì xào, lẩm bẩm và cười the thé cùng nhau. Theo lời họ, người ngợm tôi trắng phau. Cả áo quần, tóc tai lẫn mắt, mũi, miệng. Tôi như cái bóng gác mộ cỗi tuổi. Người, vốn một hóa thân… Bình minh lên rồi tàn. Hoàng hôn tưới vàng đỏ hai lối mộ rồi cũng tàn. Bóng đêm đổ dày, kéo chìm muôn nơi như cái xòe cánh khổng lồ của con sâu hóa bướm. Trời chưa tối. Cõng trên lưng bộ xương người gù, tôi vòng vào vườn mộ. Mỗi một tấm biatôi đặt một cái khấu đầu. Tôi sẽ bước ra bằng cổng lớn để tìm và tắm trong thứ ánh sáng chưa từng biết đến.

TRU SA

NƠI TÔI Ở

trantuan

Nơi tôi ở
thường dày sương mỗi sáng
Hay mưa trưa
và rất gió khi chiều
Đêm se lạnh
lạc loài dăm tiếng vạc
Khuya não nùng
xa vọng tiếng cú kêu.

Nơi tôi ở buồn hiu,
em đừng đến
Nhánh phong lan còn đói nắng mặt trời
Không hương sắc làm sao em sống nổi
Tôi dám nào đem rượu tẩm môi tươi!

Nơi tôi ở rừng vơi màu diệp lục
Sông quên trôi và suối nghẹn lâu rồi
Hoa với cỏ bây giờ thành xa xỉ
Kiếm tìm hoài không gặp chút tinh khôi.

Nơi tôi ở là một nơi rất thật
Em không tin?
Ừ hãy cứ không tin!
Rồi mai mốt khi đời đày mỏi mệt
Đi lang thang em sẽ tỏ tia nhìn!

Nơi tôi ở mãi dày sương mỗi sớm
Vẫn mưa trưa,
vẫn gió rít ban chiều
Đêm vẫn buốt
lạnh ghim từng thớ thịt
Nơi em từng tha thiết gọi…
Dấu Yêu!

TRẦN TUẤN

NGÃ TƯ

nguyenythuan

Chàng đến thành phố này vào một buổi chiều cuối năm. Chuyến xe bus màu đỏ vỏn vẹn hai người khách. Chàng và một người Mễ. Mỗi người chiếm một băng dài, nằm thoải mái, gác chân sang ghế bên cạnh – trong một đoạn cuối của cuộc hành trình hơn 2000 miles. Gã đàn ông Mễ ứ ứ hát đi hát lại một bài hát. Ban đầu, chàng hơi khó chịu. Sau quen và kệ hắn. Chàng vật vờ trong giấc ngủ ngắt quãng. Mãi đến lúc người tài xế đến cạnh, gọi dậy.
– Đã đến Wichita.
Chàng giật mình, cười xin lỗi và xuống xe. Trời lạnh căm với cơn mưa tuyết đang đổ. Bến xe vắng tanh. Loáng thoáng một vài người qua lại. Chàng đảo mắt, vẫn không thấy ai đầu đen cả. Chắc Thúy ra trễ. Chàng nhún vai theo thói quen sẵn có từ ngày đi học. Nhún vai như vừa gặp phải một vấn đề nào, và bỏ quạ Một thói quen xấu. Thúy vẫn thường bảo. Chàng mỉm cười nghĩ đến Thuý. Người đàn bà lãng mạn từ năm 16 tuổi. Yêu nhau. Xa nhau. Thúy lấy chồng. Chàng lấy vợ. Rồi lưu lạc, sang đến đây mỗi người ở một tiểu bang, xa tít, xa tít mù khơi như chẳng bao giờ gặp. Vậy mà tình cờ biết được địa chỉ của nhau. Liên lạc. Đến thăm. Dĩ nhiên. Tình cũ không rủ cũng đến. Huống chi là tình đầu và cả hai đang sống một mình tại xứ người. Đã lâu lắm rồi, dễ chừng gần 10 năm chưa gặp. Hẳn phải có nhiều bỡ ngỡ. Bất giác chàng nhìn bóng mình trên chiếc gương dài đính vào cột nhà. Một gã đàn ông ngoài ba mươi. Cặp lông mày rậm, cái mũi thẳng. Cười thử xem. Vẫn đẹp trai chán! Chàng nghịch ngợm với chiếc bóng. Nheo một mắt. Đá lông nheo đấy mà. Và bật cười một mình.
– Anh chờ lâu không?
Chàng giật mình quay lại. Một người đàn bà lộng lẫy trong lối trang điểm đang mỉm cười. Thúy đó. Vẫn đẹp. Vẫn đẹp như xưa. Chàng nắm tay Thuý.
– Trời ơi! Em chẳng thay đổi tí nào cả.
– Anh cũng thế. Vẫn nghịch ngợm như xưa. Em đứng sau, nhìn anh cười, nheo mắt, hỉnh mũi. Mười năm mà vẫn thế.
Chàng bật cười. – Buồn cười lắm phải không?
– Buồn cười và cảm động.
Chàng nhìn Thúy thông cảm. Những lần nghịch ngợm ngày xưa là kỷ niệm rõ nét nhất. Trong số đám thanh niên theo đuổi Thúy chỉ mình chàng là kỳ cục. Đùa giỡn và khôi hài hoá tất cả.Ngay lúc tỏ tình cũng thế. Hình như, với chàng mọi việc xảy ra đều buồn cười. Đã có lần Thúy bảo:
– Ai mà lấy anh, cả đời chả được gì cả. Trừ nụ cười.
– Em chứ ai.
– Đừng ham…
– Phải ham chứ. Còn gì hơn lấy người mình yêu.
– Em sẽ không lấy anh.
– Em sẽ lấy anh.
Chàng vẫn tỉnh bơ, cười cười như mọi chuyện đã xong. Lạc quan,hài hước là bản chất của chàng. Vậy mà xa nhau. Chẳng một lý do gì cả. Xa nhau lúc tình yêu đang rực cháy. Bình thường như trăm ngàn cuộc tình khác. Chỉ có điều đẹp nhất là chẳng ai phụ ai. Ngày nhận được thiệp cưới của Thúy chàng hơi ngỡ ngàng. Và từ Đà Lạt bay về ngaỵ Trước ngày cưới hai hôm họ gặp nhau.
Đó là một buổi tối cuối năm. Thành phố biển sống dậy vẻ tưng bừng. Dọc con đường chính nối dài từ chợ Đầm, đến cuối khu Độc Lập người người chen vai đổ xô về miệt chợ Tết. Hai dãy sạp được dựng trong lòng đường Phan Bội Châu. Sáng choang ánh điện. Suốt một năm, thàng phố sống bình lặng với gió, với nắng. Chỉ ồn ào thời gian này. Mùa Tết và mùa cưới. Chàng vẫn nói với Thúy lúc còn ở Nha Trang. Thúy gật đầu.
– Thiên hạ chỉ đợi mùa này làm đám cưới.
– Em biết tại sao không?
– Chắc tại gần tết.
– Đúng và không đúng.
– Đúng và không đúng?
– Phải… Đúng là gần tết và không đúng vì lý do khác.
– !!!
– Nha Trang nóng quanh năm, chỉ mùa này mát dễ… nằm gần nhau.
– Nham nhở.
– Rồi mình cũng thế.
– Mình nào?
– Anh và em chứ ai.
– Khỏi đi. Em sẽ lấy chồng vào mùa hè.
Thế đấy. Nhưng cuối cùng Thúy cũng đi lấy chồng vào mùa đông. Chàng xót xa nhìn quang cảnh cũ. Thúy đi bên cạnh im lặng. Hai người đưa nhau đến rặng dương, phía xéo góc bưu điện.
– Cuối cùng em cũng bỏ anh.
– Nhưng…
Chàng quay sang Thuý. Ánh mắt thật buồn. Có lẽ đây là lần đầu tiên, từ lúc yên nhau Thúy thấy chàng buồn. Thúy bồi hồi cầm tay chàng.
– Em xin lỗi anh.
– Em chẳng có lỗi gì cả. Tất cả là cuộc sống. Em không thể chờ anh mãi được.
– Dù sao em cũng có lỗi…
Chàng cười gượng gạo. Nhìn thẳng vào mắt Thuý.
– Đừng nói thế. Hãy để tình yêu của mình thật đẹp. Xa nhau nhưng chúng ta chẳng mất nhau. Anh mãi yêu em và anh hiểu em mãi yêu anh. Thúy im lặng, nhìn về khoảng biền trước mặt. Tháng mười hai với từng cơn sóng dữ, tưởng như đang gào thét, phẫn nộ. Chàng nói bâng quơ những câu chuyện cũ. Chẳng ăn nhập vào đêm cuối cùng của nhau. Thúy hiểu: chàng chỉ muốn mình an tâm. Dĩ nhiên phải buồn chứ. Một mối tình thật đẹp. Vậy mà mình đi lấy chồng. Thúy liên tưởng đến Quí, người đàn ông sẽ lấy làm chồng vào ngày mai. Một gương mặt bình thường, cặp kính trắng. Sống cần cù với từng đồng bạc. Một mẫu đàn ông tốt đẹp để làm chồng. Công chức. Đứng tuổi. Có tài sản. Không mơ mộng viễn vông và đo lường được tương lai bằng thứ giác quan riêng biệt của những người vốn quen thận trọng. Lấy Quí, hẳn cuộc sống mình sẽ trôi dài. Thúy nhắm mắt lại. Gạt bỏ hình ảnh của người chồng tương lai.
– Em đang nghĩ gì thế?
– Chẳng gì cả. Mai anh có đến nhà thờ với em không?
– Đến chứ. Chàng bình thản nói. Anh sẽ làm… đàng gái. Đến dự lễ ở nhà thờ. Tiếp khách tại nhà hàng. Nghĩa tử, nghĩa tận mà!
Thúy bật cười, chàng luôn luôn nghịch ngợm. Bất giác nàng thấy yêu chàng vô vàn và nảy ra ý nghĩ thật táo bạo.
– Anh…
– Sao em?
– Hay em… đi với anh.
– !!!
– Em… Em… bỏ đám cưới!
– Bỏ đám cưới?
– Vâng.
– Đi với anh?
– Vâng.
Chàng phì cười. Ôm vai Thuý.
– Đừng đùa cô bé. Mai lấy chồng thật. Và đó là cuộc sống. Giọng chàng nghiêm lại. Em đừng nghĩ bậy nữa. Lúc nào anh cũng yêu em và muốn em hạnh phúc. Còn đi theo anh! Trời đất, anh đang đi học. Sống bữa có, bữa không…
– Em nói thật mà.
– Thì anh cũng nói thật. Em phải nghĩ đến gia đình. Nếu không thuận thì không thuận từ đầu. Bây giờ…
Giọng chàng nhỏ hẳn và ngắt ngang. Cơn gió biển ào đến. Những cánh dương khô bay vào tóc Thuý. Nàng đưa tay định gỡ. Mép bàn tay đặt trên tóc chợt cảm thấy có hơi nóng. Thúy bồi hồi quay lại, gặp đôi mắt chàng âu yếm. Nàng nhắm mắt. Họ hôn nhau giữa trời biển và tình yêu. Và đó, họ xa nhau.
Sau đám cưới Thuý, chàng bỏ Nha Trang đi biền biệt. Không một lần trở lại vùng biển cũ. Mối tình đầu như một vết hằn trong tim.Chàng sợ hãi từng cơn sóng biển, từng dải cát trôi dài. Né tránh những vùng trời biển mênh mông. Đà Lạt. Sài Gòn. Rồi những quân trường. Pleikụ Komtum. Rồi cơn bão lịch sử ào đến. Từng địa danh xa lạ mọc trên những vùng đất thân quen. Những hàng thép gai bọc quanh trại tù cải tạo. Cực nhọc trên từng thớ thịt, góc xương. Đói khát. Đầy đọa. Chàng như lãng quên chính mình. Lãng quên cả một thời mơ mộng cũ. Rồi trôi nổi. Chàng lấy một người đàn bà. Cũng xong một đời. Tưởng xong một đời. Những vẫn đổi thaỵ Người đàn ông dưới chế độ Cộng Sản Việt Nam trở thành bất lực. Chàng bám víu vào người vợ tần tảo. Dĩ nhiên sẽ vỡ nát. Bắt đầu là mặc cảm từ chàng. Rồi đến sự khinh mạn của người vợ. Rồi những lần cãi vã. Và cuối cùng…
Chiếc xe dừng lại trước một căn nhà nhỏ. Thúy lay vai chàng:
– Dậy anh. Ngủ gì mà tài thế…
Chàng ậm ừ.
– Anh hơi mệt. Hai ngày một đêm ngồi từ Sunvalley về đây. Bị nhồi như một quả bóng chứ ít sao?
– Ai bảo anh đi xe bus…
– Anh thích thế. Nhìn nước Mỹ cũng là cái thú…
Thúy cười. Hai người xuống xe. Căn nhà nằm riêng biệt với một khoảng sân rộng rãi. Lối đi lát cement trải dài từ cổng. Vài khóm hoa khô queo trong mùa tuyết. Mặt đất ngập trắng. Cái lạnh se sắt. Chàng kéo cao cổ áo:
– Lạnh thật.
– Nhanh lên anh.
Thúy kéo tay chàng bước vội về phía cửa. cái va-li đong đưa theo nhịp chân. Thúy lẹ như một con sóc. Người thiếu phụ vẫn còn những nét son trẻ của thời đi học.
°°°
Họ yêu nhau ngay từ phút đầu gặp. Chàng và Nhã đều hiểu diều đó. Mối tình nghe thật phi lý với những người ba mươi. Nhưng với chàng, đó là sự thật. một điều rất thật và tất nhiên phải xảy đến cho chàng. Hơn mười năm ôm mối tình của Thúy để lại. Chàng đã mơ mộng thật nhiều về khoảng đời cũ. Rồi thời gian trong trại cải tạo, chàng – qua những dằn vặt, những tận cùng của khổ đau đã thèm được một mối tình dịu dàng. Và vẽ vời một mẫu đàn bà hiền lành, mơ mộng. Cho phù hợp với bản chất lãng mạn của mình. Lấy vợ, cuộc sống đầy mặc cảm bên cạnh người vợ tần tảo ngày đêm, chàng càng khao khát cuộc sống cũ. Nuôi dưỡng thứ tình cảm lãng mạn tận đáy hồn. Dấu kín và sống với tình cảm đó. Ngoài ba mươi nhưng con tim vẫn hai mươi. Mơ mộng, lãng mạn như một vai nam trong truyện tình yêu. Gặp Nhã với mái tóc xõa, với nét đẹp dịu hiền. Với cái cười nhỏ nhẹ. Chàng bàng hoàng và đột nhiên thấy Thúy xa lạ. Mối tình hơn mười năm từ vùng biển cũ đã chết.
Nhã hiền lành đến độ tội nghiệp. Sống chung với Thúy như hai thái cực. Thúy là mặt trời chói bừng, đốt lửa cuồng nhiệt trong từng nhịp thở. Nhã là mặt trăng âm thầm nhớ thứ ánh sáng dịu mát trên mặt người vồn vã. Nhã khép kín cuộc sống trong căn phòng với những bức tranh. Nguồn vui duy nhất của nàng từ ngày đến đây. Hai mươi bảy tuổi với mối tình vỡ vụn từ ngày mất nước. Nhã im lặng nhìn cuộc đời trôi quanh. Những người đàn ông của thành phố này ban đầu còn theo đuổi. Sau chán nản và xoay sang Thúy – Khối nam châm rực lửa. Nhã mỉm cười nhìn bọn đàn ông, không một phê bình, không một buồn bực. Ý nghĩ được nàng phết trên khung vải. Và ngưng lại tại đó. Ngày 8 tiếng đi làm. Hết giờ trở về. Chuyện trò với Thúy dăm câu. Xem truyền hình. Đọc sách và vẽ. Cuối tuần, đảo quanh một vòng thành phố. Mua sắm lặt vặt. Lại vẽ. Tranh xếp khắp basement. Chẳng cần treo. Chẳng cần xem lại. Vẽ như một lối thoát của ý nghĩ. Ngày một nhiều. chồng chất lên nhau cho đến lúc gặp chàng.
Người đàn ông trung niên đến và đảo lộn cuộc sống của nàng. Tấm gương tại bàn phấn vẫn bỏ quên nay thành nơi chốn của buổi sáng khi thức giấc, của buổi chiều trước giờ cơm. Sự thay đổi từ ngày thứ hai từ lúc chàng đến. Giá vẽ được căng khung vải mới. Đám màu nâu sẫm buồn nản đựơc thay bằng sắc xanh. Một cảnh trời đất mênh mang hy vọng với nhữntg cánh hoa hướng dương phía trước mặt người con gái. Nét vẽ dịu lại. Nhã âu yếm phết từng cọ sơn trên khung vải. Sau cho màu sắc hài hòa. Sao cho khung cảnh ngút mắt hạnh phúc. Sự say mê bộc lộ trong dáng người nghệ sĩ. Chàng xuống basement, tự nhiên như hai người đã quen nhau từ lâu lắm. Đảo một vòng. Lật từng bức tranh. Và dừng lại trước người đàn bà đang vẽ.
-… Thật là bất ngờ!
– Bất ngờ gì ạ?
– Cô và những bức tranh.
– Đó là niềm vui…
– Phải gọi là hạnh phúc mới đúng. Trong thế giới riêng biệt của cái basement này hẳn cô đã sống những phút đẹp nhất.
– Anh nghĩ thế? Nhã thân mật trong lối gọi.
– Vâng. Giữa những xô bồ của xã hội này, cô tách rời…
– Thúy nói?
– Phải, Thúy nói và tôi thấy.
Nhã mỉm cười. Anh chàng tàn gái theo lối… cổ điển. Nhập đề “lung khởi”. Bất giác nàng buồn cười. Đã lâu lắm mới gặp lại mẫu đàn ông thế này ở xã hội Mỹ. Đám đàn ông vây quanh nàng trước kia bạo dạn, bạo dạn đến độ trâng tráo.
-… Hẳn tôi nói sai?
Nàng lắc đầu. Đừng nói nữa, đừng nói nữa anh chàng hiệp sĩ cổ điển ạ. Từ cái nhìn và thái độ hôm qua của anh, em đã hiểu. Chẳng phải em có đầy kinh nghiệm về tình yêu nhưng tự em cũng có những rung động. Thế chẳng đủ hay sao?
– Anh về chơi lâu không?
– Chẳng biết nữa. Thúy bảo ở lại luôn, nhưng tôi chưa biết thế nào…
Lại Thúy bảo. Nhã đột nhiên bực bội, vất mạnh cây cọ xuống sàn. Mỉa mai.
– Anh có vẻ… nghe lời Thúy quá nhỉ…
Nàng giật mình vì thái độ của mình. Bỏ lửng câu nói. Họ nhìn nhau. Im lặng. Ngoài trời mặt trời muộn của một ngày mùa đông vừa rực sáng.
Tình yêu bắt đầu từ hôm đó. Cả hai không hẹn đều mặc nhiên chấp nhận sự liên hệ tình cảm một cách thầm lặng giữa cái rộn ràng nhưng nhỏ bé của một mùa xuân trên xứ người. Săn sóc nhau bằng những cử chỉ, thái độ. Chia xẻ hạnh phúc cho nhau trong từng cái nhìn. Cuộc sống tay ba tại căn nhà nhỏ đột nhiên thành một vòng tròn. Thuý, bằnh linh cảm của một người đàn bà khôn ngoan đã nhận thấy. Nhã, một buổi sáng đi vắng, còn lại chàng và Thuý. Bấy giờ họ đang ngồi trong phòng khách.
– Anh thấy cuộc sống ở đây thế nào?
– Bình lặng và hiền lành.
– Thích chứ?
– Dĩ nhiên, vì có em tại đây.
-… và bạn em.
Thúy thêm câu nói thật nhanh. Chàng giật mình. Thúy vẫn thản nhiên trong động tác cắm lại lọ hoa, giọng đều đều:
– Anh và cô ấy có vẻ hợp nhau…
– !!!
– Anh nghĩ sao về cô ấy?
– Nghĩ là nghĩ thế nào?
Chàng gượng gạo hỏi lại. Thúy buông mình xuống chiếc ghế, ngả đầu về phía thành sau. Đôi mắt khép lại. Hai chân duỗi dài trên mặt bàn. Vùng da thịt tươi mát căng lên dưới lớp vải mỏng. Chàng quay mặt về phía khác.
– Anh nói thật đi…
– !!!
– Giữa chúng ta chỉ còn lại mối tình cũ. Chẳng có gì quan hệ điến độ anh phải dối em…
Giọng Thúy nhỏ lại. Căn phòng chìm vào im lặng. Khoảng trống bao quanh hai người. Thứ khoảng trống ngột ngạt của những con người gượng gạo đóng nốt vai trò của mình trong một màn kịch cuối cùng.
– Anh… Chàng ngập ngừng quay sang Thuý.
– Anh cứ nói đi. Em đã hiểu, nhưng muốn anh tự cho em biết. Để những mặc cảm phụ rẫy anh ngày ở Nha Trang không còn đeo đẳng em nữa…
Thúy vẫn giữ nguyên thế ngồi buông trôi. Chàng nhìn chăm chăm vào người thiếu phụ trước mặt. Sự xa lạ đột nhiên hiển hiện. Gương mặt, đôi môi, bờ tóc. Những hình ảnh chấp mối trong suốt một khoảng đời vừa qua vẫn quấn quít bên chàng đã thành xa lạ. Thúy đó sao? Người đàn bà thảnh nhiên nhận sự phụ bạc của mối tình đầu đời bằng thái độ lạnh nhạt. Chàng xót xa nghĩ đến những kỷ niệm cũ. Sự đổi thay thật bất ngờ. Hơn mười năm cho một tình yêu bỗng chốc thành vỡ nát.
– Phải! Anh đã không còn…
– Đã không còn yêu em ?
Nụ cười chớm trên môi. Thúy khẽ mở mắt. Nét bối rối pha chút thương hại ẩn hiện trên gương mặt người đàn ông khiến Thúy khó chịu. Tôi đâu cần sự thương hại. Nhan sắc của tôi đã thắng tuổi tôi. Tôi đẹp, tôi hãnh diện vì nhan sắc. Đám đàn ông ở thành phố này há chẳng điên đảo theo đuổi tôi sao? Đến với anh chẳng có gì ngoài mối tình từ những ngày đi học. Thúy bật dậy, dựa lưng vào thành ghế.
– Cảm ơn anh đã nói thật.
– Anh xin lỗi em.
– Chẳng cần phải nói thế. Giữa chúng ta chỉ còn kỷ niệm.
– Dù sao anh cũng có lỗi với em…
– Em đã bảo: anh không cần nói thế. Sau tình yêu là tình bạn không được sao?
Thúy đứng dậy, bỏ vào phòng ngủ. Chàng tần ngần với tay bẻ một cánh hoa. Sắc gai của cánh hồng đâm vào taỵ Cảm giác đau nhói không đủ nhấc chàng ra khỏi trạng thái hụt hẫng vì thái độ của Thuý.
°°°
Thúy xoay người, úp mặt xuống nệm. Ngọn đèn ngủ màu xanh nhạt hắt những tia sáng yếu ớt lên căn phòng. Vẻ cô đơn bao quanh như Thúy và ý nghĩ. Thế là hết. Sự tan vỡ thật tình cờ. Em đâu ngờ được. Hơn mười năm cho một mối tình. Em đã sống những ngày dằn vặt bên cạnh người chồng không yêu. Đồng sàng dị mộng. Đồng sàng dị mộng. Mộng mơ em gói trọn cho anh. Anh đi biền biệt, không một lần trở lại vùng biển cũ, đâu biết có những chiều em lang thang dọc theo con đường Duy Tân. Biển và sóng âm vang từng lời kể lể trong tâm tưởng. Em sống như người mộng dụ Người chồng tội nghiệp vẫn cần cù lo toan cuộc sống. Em tách rời và thả trôi cuộc đời trong nỗi nhớ. Để ý tin anh và theo anh trong ý nghĩ. Đà Lạt, Sài Gòn, Pleiku, Komtum, Long An… Những nơi chốn xa lạ anh qua được em lần mò trên bản đồ cho thành thân quen. Và thân quen thật với những người lính Biệt Động Quân xa lạ. Em hạnh phúc trong hình ảnh những người lính cùng đơn vị với anh. Em âu lo với những chết chóc của từng địa danh. Còn nữa, còn sợ hãi vẩn vơ mỗi khi nghe bài hát lá cải “Nguyễn Thị Mộng Thường” viết về cuộc tình của người lính Biệt Động. Ôi vu vơ trăm điều! Cũng từ những dịu ngọt, ân cần của anh quấn quít bên hững hờ của chồng em. Cơn đồng thiếp âu lo càng lớn khi những ngày cuối tháng 3 ào đến thành phố biền cơn bão lửa. Em, mệt mỏi rối bời trong làn sóng người trốn chạy vẫn nghĩ đến anh. Vẫn hãi hùng khi hình tưởng đến anh giữa cuộc chiến. Cầu nguyện suốt đoạn đường di tản dành cho anh. Em đã ngoại tình từ ngày đầu tiên lấy chồng cho đến lúc chồng chết. Qúi nằm xoãi người, đầu nát bét vì sức phá của viên đạn, chỉ còn cái cằm loe ngoe cặm vài chiếc răng. Cảnh tượng hãi hùng của người chồng chỉ làm em lo sợ cho anh. Con đàn bà vô lương tâm là em…
Thúy thở dài, ngẩng đầu lên. Thành giường mica trắng lẫn với sắc xanh nhạt từ ngọn đèn làm những sợi vân quánh lại màu xám ngoét. Nàng rùng mình, với tay bật điện. Ánh đèn loé lên, căn phòng đột nhiên hẹp lại. Khung cảnh thân quen hàng ngày tự nhiên thành buồn tẻ. Chiếc đồng hồ đặt phía bàn phấn buông những tiếng tích tắc đều đặn, nhỏ từng tiếng động buồn nản. Thúy bịt chặt hai tai, nàng vùi đầu vào chiếc gối rộng.
Cuốn theo làn sóng người bỏ nước. Em sang đâu. Nước mắt và nỗi nhớ theo em từng ngày. Ra đi. Đi đến đích là hạnh phúc cho những người vượt biển. Cũng thế, em trôi vào nhịp sống của mọi người. Nhưng chỉ được vài tháng đầu rồi lại khóc ngất. Em ân hận vì đã đi. Bao giờ mới gặp lại anh. Ý nghĩ trái ngược xoay tròn trong em. Nếu em ở lại Việt Nam thì vẫn còn hy vọng gặp anh. Sang đây là mất hết. Em âu lo với khoảng đời trước mặt. Lấy một người chồng. Chẳng khó khăn gì mới một người đàn bà tại đây. Lại nữa, em biết em đẹp! Nhưng với tình yêu của mình em làm sao quên được. Trong tuyệt vọng em bắt đầu rong chơi và dày xéo lên bọn đàn ông chung quanh. Kỹ sư, Bác sĩ. Già, trẻ, Đủ cả. Anh đâu biết, sự ân hận kéo dài, đeo đẳng trong em. Mãi đến lúc nhận tin anh. Hạnh phúc ào đến. Em sống lại từ ý nghĩ đầy mơ mộng. Xa lắm, Hai ngàn miles, nhưng rất gần trong ý nghĩ. Và tìm đến nhau.
Thúy mím chặt môi. Cảm giác ngột ngạt bao trùm. Nàng khẽ nhấc mặt rời gối. Hai tay vẫn vòng quanh chiếc gối rộng. Im lìm mhư một người đã chết. Đêm đã khuya. Hẳn chàng đã ngủ. Hẳn Nhã đã ngủ. Từ lâu chẳng còn tiếng động nào.
Sao vẫn chỉ mình tôi trong thao thức. Giờ này chắc cả hai đang trong những giấc mơ về nhau. Hình tưởng đến gương mặt Nhã bừng lên rạng rỡ, nàng chợt khó chịu. Người bạn gái chung nhà. Quen nhau từ ngày còn trong nước. Nhã chẳng có gì nổi bật, bình lặng và cuốn mình trong cuộc sống riêng tự Chàng nồng nhiệt, ồn ào như gió, như bão. Tưởng như hai thái cực. Vậy mà họ yêu nhau. Và mình trở thành bà mai. Thúy chua chát cười trong bóng tối. Có cơn gió lạc loài rít lên những tiếng vi vút, lạnh tanh như hai hàm răng đang nghiến lại, từ bên ngoài.
°°°
Tôi ngột ngạt trong hạnh phúc pha lẫn ân hận. Tình bạn với Thuý. Tình yêu với chàng. Tôi đứng giữa như thân cây nhỏ trước gió. Thái độ của Thúy làm tôi thật ngạc nhiên. Bình thản như không có gì xảy ra. Sống như những ngày bình thường nhưng tôi hiểu, Thúy đã biết về tình yêu của chúng tôi. Ào ạt đến nhanh như không tưởng. Làm sao tránh né khi chính mình cũng còn mời gọi.
Tôi đàn bà nên tôi phải yêu. Và chàng đó, hiện thân của thứ tình yêu tưởng như không có tại đây. Chàng thành thật kể lại chuyện tình với Thuý. Tôi hình dung. Chẳng một chút ghen tương nào cả. Để cuối cùng thông cảm với chàng. Để cuối cùng nhận tình yêu của chàng. Hai mươi bảy tuổi, tôi yêu như ngày mười tám. Đem màu sắc hoà tươi khung vải, mỗi đường cọ là một nụ cười. Mỗi bức tranh là những lần đóng khung ý nghĩ trong hạnh phúc. Chàng đứng cạnh. Chàng ngồi bên. Tôi vẽ. Và nhìn nhau. Mê say như mới yêu lần đầu. Bỏ quên tất cả để sống. Rồi bừng dậy nhìn Thúy ăn năn. Người bạn từ ngày xưa đã cùng tôi chia xẻ tháng ngày của thành phố xa lạ này. Kể hết. Tâm sự hết cả về tình yêu, về cuộc sống. Mỗi lần nhắc đến người đàn ông xa lạ của những năm Nha Trang, Thúy luôn luôn mỉm cười:
– Anh chàng diễu không tưởng được.
Tôi nghe và chẳng một ý nghĩ nào về anh chàng diễu không tưởng được của Thuý. Và bỏ quên như trăm ngàn câu chuyện hỗn độn hàng ngày. Vậy đó, người đàn ông đó đã đến. Mang hạnh phúc và đau khổ chan vào không khí này. Tôi tránh né những lần gặp mặt tay bạ Tôi sợ hãi phải đóng vai trò kỳ cục với tôi. Yêu mà như không yêu. Ghen mà như không ghen. Tôi đàn bà từ lúc yêu chàng. Bắt đầu có những cảm xúc rất là người. Tình yêu và tình bạn đã thành nỗi khó chịu. Phải nói. Phải nói thẳng để cái ngột ngạt không còn.
Nhã buông cọ bước lên cầu thang. Những bước chân của nàng chợt vang lên kỳ cục. Tiếng động như lớn hơn bình thường. Nàng ngạc nhiên khi nhận được điều đó. Đứng lại nhìn quanh. Không khí của cái basement quen thuộc đột nhiên nặng trĩu. Ánh sáng từ ô cửa sổ nhỏ hắt vào một bức tranh tĩnh vật. Chiếc ly màu đỏ trong tranh ánh lên sắc đỏ chói chan. Nàng đăm đăm nhìn vào vệt nắng. Như một đốm máu vừa bắn lên khung vải. Nhã bước xuống thang, đến gần bức tranh. Màu đỏ của màu pha với sắc nắng đã quyến rũ nàng. Tất cả chẳng còn chàng, chẳng còn Thuý, chẳng còn tình yêu. Chỉ hiển hiện một sắc máu vừa tìm thấy.
Bữa cơm diễn ra trong không khí ngột ngạt. Cả ba người đều tránh nhìn nhau. Chậm rãi trong từng động tác rời rạc. Gắp. Nhai. Nuốt. Sự ngượng ngập đan vào từng phút. Bắt đầu thế nào? Cả ba đều tránh né và nhường nhau nói trước. Đã đến lúc phải giải quyết. Thúy xót xa nhìn chàng, vẫn những nét hồn hậu nhưng sao xa lạ. Lần gặp lại đâu ngờ thay đổi. Biết thế chẳng liên lạc với nhau. Để mãi mãi còn những ý nghĩ đẹp cho kỷ niệm. Như hôm nay, giữa không gian của xuân, của những kỷ niệm cũ đang sống lại như tuổi đương độ phải là hạnh phúc, nhưng…
Thúy đặt chén cơm xuống bàn. Buông đũa và ngả lưng vào thành ghế. Chàng ngước lên.
– Thôi hả em?
– Vâng.
Lại im lặng. Mẩu đối thoại chìm vào khoảng trống. Tắc nghẽn. Như hoàn cảnh hiện tại. Nhã bối rối nhìn bạn. Nét mặt Thúy lạnh tanh. Chẳng một nét gì khác lạ. Vẫn kiêu hãnh như đã từng kiêu hãnh vì nhan sắc của mình. Chuyện xảy ra giữa ba người Thúy đã biết. Vậy mà vẫn thản nhiên. Nhã nhìn bạn đăm đăm. Bất chợt Thúy ngước lên. Hai ánh mắt chạm nhau. Nhã cúi xuống. Hoá ra người đáng thương chính là mình. Thúy như một thân cây vững chãi. Luôn luôn mình chỉ là thứ cỏ nép bên Thuý. Từ lúc còn đi học và đến hôm naỵ Trong tình yêu dù mình có, dù Thúy mất mình vẫn đáng thương. Nhã xô ghế đứng dậy. Cả hai người, Thúy và chàng đều nói cùng lúc.
– Nhã…
Nhã đứng yên ngượng ngập.
– Bồ ngồi xuống. Bọn mình nói chuyện một tí. Giọng Thúy trôi đều đề. Chẳng biểu lộ gì cả. Nhã lại ngồi xuống ghế. Chàng bật lửa châm thuốc chờ đợi. Thúy ném cái nhìn về phía người đàn ông.
– Mình đã hiểu…
Nhã bối rối.
– Tôi… xin lỗi.
– Chẳng ai có lỗi trong việc này. Tự cuộc sống đã thế. Đến một lúc nào đó, mình chẳng còn là mình của những ngày cũ. Đúng vậy không?
Chàng mỉm cười gượng gạo.
– Phải. Giữa chúng ta đã hiểu nhau. Anh xin lỗi Thúy lần nữa. Nhưng…
– Chẳng cần thế anh ạ! Giọng Thúy vẫn đều đều. Mọi việc đều rõ ràng. Cái cần thiết là bây giờ, chúng ta sẽ giải quyết thế nào? Không thể kéo dài như thế này mãi. Em có tự ái riêng của em và hai người còn hạnh phúc riêng…
Giọng Thúy nhỏ lại và mất hút. Một giọt nước mắt lăn xuống. Người đàn bà trong Thúy đã về. Đập vỡ lớp vỏ kiêu hãnh vẫn mang. Sự ê chề của lần mất mát là cái thật nhất cho nàng. Nhã chợt hiểu. Thúy và nàng chỉ là thân cỏ yếu đuối. Tình cảm bạn bè sống dậy. Nhã nắm lấy tay Thuý, bóp mạnh.
– Thuý…
Thúy xoay sang bạn. Nét bối rối pha chút thương hại hiện trên ánh mắt Nhã. Thúy chợt thấy bực bội, nàng hất tay Nhã thật mạnh. Xô ghế và đứng lên. Những hành động ào ạt biểu lộ sự giận dữ. Chàng giật mình với tay sang, bàn tay vừa chạm đến tay Thúy đã bị hất lại.
– Đủ rồi. Mặc tôi…
Thúy nói nhanh, giọng cao như đang hét. Nàng chạy nhanh về phía phòng ngủ. Nhã nhìn chàng.
– Anh nên vào với Thuý…
Chàng lắc đầu, dụi mạnh điếu thuốc xuống chiếc gạt tàn. Không khí lại lắng xuống. Mặt bàn ăn chợt như khoảng cách ngăn đôi hai người.
°°°
Chàng ngả lưng vào thành ghế, nhìn ra cửa sổ. Trạm xe bus vẫn vắng tanh. Lác đác dăm người khách ngoại quốc đang chờ xe. Khung cảnh hệt như khi chàng đến. Dãy kính đính trên hàng cột vẫn sáng bóng. Quán café vẫn im lặng với lũ bàn ghế chổng chợ Chàng mệt mỏi nhắm mắt lại khi người tài xế bước lên xe. Wichita sẽ chẳng còn từ hôm naỵ Chàng thở dài khi chiếc xe bắt đầu chạy. Ngang qua một ngã tư, chàng đóng mạnh ô cửa sổ. Phía dưới đường, Nhã đặt chiếc valise xuống vệ đường, chờ đèn báo hiệu băng ngang. Trạm xe bus trước mặt là điểm bắt đầu cho lần ra đi. Nàng hà hơi vào bàn tay lạnh ngắt. Liên tưởng đến căn nhà gỗ đã sống. Hẳn giờ này chàng và Thúy đang say ngủ.
Bên ngoài, mùa xuân đã hết.

Nguyễn Ý Thuần

CAO THỦ…

hochibuu

Mấy hào sĩ đùa ta là cao thủ
Cao thủ gì mà mê gái bẩm sinh
Sáng và chiều làm bạn cùng ly rượu
Chân dài, chân cong nhìn cũng giật mình.

Sự nghiệp cả đời không đầy lá mít
Hào sảng nỗi gì – đi bộ mòn chân
Như gã Kinh Kha chiều qua sông Dịch
Lỡ phút chơi ngông hối hận trăm lần.

Trời lỡ sinh ta là tên nát rượu
Thơ vắt từ tim chỉ một chữ yêu
Trong các cuộc chơi cuối cùng bị dụ
Xả láng quen thân nên cứ chơi liều.

Võ lâm ngũ bá – Hoa Sơn luận kiếm
Ta lên Hoa Sơn tìm lá diêu bông
Cao thủ hiên ngang vào Tầm Dương điếm
Ta mãi loanh quanh kiếm gái chưa chồng…

Ta chẳng đổ thừa cái thời mạt vận
Tráng sĩ bẻ gươm hàn sĩ lên chùa
Ta đứng giữa trời hét vào vô tận:
Ta đã chết rồi- chẳng biết chôn chưa???

hochibuu

HÀNH HƯƠNG

tranthienthi

đi ngang đi dọc mùa đông
ngược đường những cánh chim di trú
muốn hiểu nhiều về một trái tim
mãi đến bây giờ
mới có thể chạm vào phía bên ngoài lồng ngực

cỏ trên triền đê
và nắng hồng trước ngày gió bấc
dự mưu vẽ nên một mùa đông
tiễn nhau đi
lần nào cũng buồn

em nói với tôi
phía sau xóm nhà là con sông Hồng
nước vẫn đỏ màu trong những ngày sắp tới
cho đến lúc lên xe tôi mới nhận ra
phía sau lồng ngực
một trái tim vẫn nồng nàn chờ đợi

mùa đông như một lời nguyền
được nói ra từ đôi môi trẻ con
gió bấc xô dạt nhau về tứ phía
ta giữ trong tay một làn hơi ấm
di trú phương nào
trống còn lại hơi nhau

gái ơi
thơ ta viết cho em những dòng dằn xóc
như những ổ gà ổ vịt trên suốt con đường cái quan
như một mùa đông
hằm hè trước mặt
như chiếc ba lô bíu vào sau lưng
hành hương tình chẳng nệ gian nan

trần thiên thị
đầu tháng mười hai

Đọc Phạm Tín An Ninh

tamthanh

Truyện của Phạm Tín An Ninh đi thẳng vào lòng người, thực ra không cần mưỡu đầu hay bạt đuôi. Nếu phải có, thì người viết, ngoài thế giá văn chương, nên là một người phần nào đã trải qua như anh – từng xông pha trận mạc, từng đi tù cộng sản, từng vui tuổi thơ hoa mộng, từng một thời đào hoa bay bướm, rất chiu chắt tình bạn, và bây giờ được bình tâm ôn chuyện xưa … Người như thế không hiếm trong số các bạn hữu đông đảo của anh. Nhưng anh Ninh lại thích dành danh dự cho một người hoàn toàn không đạt được một tiêu chuẩn nào trong các tiêu chuẩn trên – một độc giả thầm lặng trong số hàng vạn độc giả của anh.

Độc giả này chỉ có mỗi một ưu thế là cư ngụ chung với tác giả trên một vương quốc nhỏ bé yên bình miền Bắc cực. Và vì là đồng cư của anh, trong thời gian gần đây, hầu như mỗi tuần độc giả này lại nhận được một điện thư hỏi “Bạn ở Na-uy có biết Phạm Tín An Ninh không, sao viết cảm động thế ?” Câu trả lời rất đơn giản: Phạm Tín An Ninh là một người sống thiết tha, và viết chân thành. Văn anh trở thành một dòng chảy hồn nhiên bắt nguồn từ đời sống và song song với đời sống. Anh kể về đời tù cải tạo ở Nghĩa Lộ với cùng một giọng đôn hậu như khi kể về tuổi thơ ở Vạn Giã, Nha Trang.

Anh Ninh sống thế nào viết thế nấy. Nhờ đó, mỗi câu chuyện, dù rất lạ lùng, ẩn hiện bóng dáng quen thuộc của chính người đọc. Nhiều hình ảnh đẹp khó tìm thấy trên đời (như quản giáo Nguyễn Văn Thà trong truyện ruột Ở Cuối Hai Con Đường), không cần tác giả cam đoan có thật, ta vẫn muốn tin là có thật, để đời đáng sống hơn. Đọc Phạm Tín An Ninh ta có cảm tưởng như những mảnh đời phiêu bạt tha thiết gọi nhau, sum họp trong lòng mình. Chuyện vinh nhục đời lính, chuyện đắng cay tù cải tạo, chuyện HO ở tuổi tri thiên mệnh … từ trên 30 năm nay đã hàng ngàn người kể, đến nỗi sắp thành nhàm chán, bỗng Phạm Tín An Ninh xuất hiện, khai quật những di tích mới.

Làm mới chuyện cũ, biến chuyện cũ thành gần như cổ tích thời đại, là đóng góp đặc sắc nhất của anh trong văn đàn hải ngoại. Khác với cổ tích thần tiên, truyện của anh chứa nhiều nghịch cảnh, đọc dễ chảy nước mắt, nhưng chúng ta có thể yên tâm mà đọc, vì trong mọi nghịch cảnh, kể cả thảm cảnh thù hận và tình yêu tan vỡ, Phạm Tín An Ninh không bao giờ dập tắt ngọn nến cuối cùng – niềm tin.

Trên con đường thành công quá bất ngờ, anh thường tâm sự mình không phải là nhà văn. Nhưng anh đã cầm bút như bất cứ nhà văn lớn nhỏ nào – khai thác đời sống. Anh tìm người. Anh săm soi tìm người, và anh may mắn hơn Diogènes – không cần thắp đuốc lang thang, anh vẫn thấy bóng người ở mọi ngả đường. Dù đôi khi dáng người mờ nhạt sau dáng thú – như nơi nhân vật Hồng Hương trong truyện Chiếc Nhẫn – anh vẫn phù chú ‘bắt’ đương sự cởi bỏ lốt thú. Hoặc giả trong những tình huống hoàn toàn bế tắc – như trong truyện Ba Dòng Nước Mắt, một phiên bản mới của Lưu Bình Dương Lễ – anh lại khai thông, cho tất cả chảy về hồ thủy chung, cái chung thủy không chỉ cần thiết cho tình vợ chồng. Thủy chung với nhau và thủy chung với căn tính con người hình như là đặc tính của cả văn lẫn người Phạm Tín An Ninh.

Nhờ sống và nhìn đời bằng phong thái ấy mà anh cho chúng ta thấy ở cuối mọi ngả đường luôn hiện ra một điểm hội tụ sáng ngời nhân tính.

Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân, tập truyện của Phạm Tín An Ninh

Đối với người lính chiến miền Nam Việt Nam, chỉ cần nhắc tên một ngọn núi, như Núi Tà Dôn hay Chu Pao, một con đường, như Quốc Lộ 14, Tỉnh Lộ 7 B; một đồ vật như đôi giầy “xô”, cái nón sắt… là có thể tâm hồn òa vỡ. Vết thương lính có thể lành nhưng ký ức không bao giờ phai nhạt. Nó bừng lên nếu có ai bật nút. Phạm Tín An Ninh là một trong số người bật nút tài tình vào bậc nhất hiện nay. Năm ngàn (5000) cuốn Ở Cuối Hai Con Đường được bán sạch trong vòng một năm chứng tỏ sau 35 năm kết thúc cuộc chiến, truyện lính vẫn hấp dẫn, không riêng đối với lính mà với mọi người ít nhiều có liên hệ tới cuộc chiến. Nếu đặt Ở Cuối Hai Con Đường trong hoàn cảnh thị trường sách và tình hình đọc ở hải ngoại ngày nay, thì tập truyện này là một hiện tượng.

Tôi là người ngán đến mang tai truyện chiến tranh (dù hay như Platoon hay buồn nôn như Deer hunter, thấy trên TV là tôi bật đài khác liền, bởi vì trong những phim ấy tôi chỉ thấy Mỹ và Việt Cộng, không có “Ta” trong đó, “Ta” đã bị loại ra khỏi vòng chiến ngay từ đầu; (nếu có “Ta” là đi đôi với những tướng tá lệ thuộc, ươn hèn). Nhưng tôi thích truyện PTAN. Bạn bè tôi cũng thích và chúng tôi hỏi nhau tại sao chán phim chiến tranh mà độc giả – cả lính lẫn dân – lại thích truyện PTAN? Câu trả lời đơn giản là vì PTAN không kể chuyện chiến tranh (thản hoặc chỉ lấy chiến tranh làm bối cảnh). Anh kể chuyện lính, tức là kể về những con người, trong đó “đánh đấm” chỉ là một khía cạnh. Và không phải người lính đơn độc, mà người lính gắn liền với người dân, với một mối tình. Người lính không chỉ có kiêu hùng mà còn lãng mạn, nhân bản, vị tha. Hình ảnh người lính của PTAN không phải đẹp với bộ quân phục mà đẹp trong suy nghĩ, trong tâm hồn.

Độc giả sẽ thấy những nét đặc thù đó nổi bật hơn nữa trong tập truyện Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân.

Hai anh lính trẻ nhận được hai tấm khăn thêu và hai lá thư ‘sao y chánh bản’ tới tận trường tìm cô em gái hậu phương, để sau đó một người thành người tình bạc mệnh, một người thành nhà sư canh mộ cho bạn mình (Gói quà đầu năm). Anh lính Biệt Động Quân gùi đứa con trai bốn tuổi sau lưng, mở đường máu cho đồng đội, để cuối cùng bỏ xác, bỏ con trên rừng thẳm (Rừng khóc giữa mùa xuân). Cô gái cán bộ lâm trường người Hà Giang yêu anh lính tù cải tạo, giúp anh bản đồ, địa bàn và lương khô để vượt ngục; cuộc đào thoát thất bại, cô tưởng anh đã chết, sáu năm mới đi lấy chồng, nhưng anh vẫn còn sống và trở thành một vị thầy tu… (Nghỉ hè ở Mallorca). Những anh lính trẻ hành quân tại Ngân Sơn không bao lâu, ngày lên đường, trên đoàn xe GMC của tiểu đoàn, thấp thoáng những cô dâu mới trong bộ đồ lính trận (Người lính trinh sát). Sau cuộc chiến, dù là người bại trận, họ vẫn luôn dang hai tay ôm lấy cái tình huynh đệ, cố giữ hào khí, tư cách của ngày xưa (Những cánh đại bàng sau cơn bão lửa). Nhiều năm khốn khổ trong lao tù, trở về với một gia đình tan nát, người lính vẫn chịu đưng bao dung, bao nhiêu nỗi oan khiên gởi theo hồn tiếng sáo (Tiếng Sáo).Về già, ngồi “điểm danh”, nhớ thương từng đồng đội cũ, tiếc nuối bao kinh nghiệm chiến trường giờ không biết còn truyền lại cho ai (Lá rụng không về cội)…

Đó là những hình ảnh tưởng chỉ có trong phim về chiến tranh Nam-Bắc Mỹ hoặc Chiến tranh và Hòa bình tại Nga. Nhưng đó là những hình ảnh con người trong chiến tranh Việt Nam. PTAN thu được những hình ảnh đó nhờ anh là lính chiến; anh kể lại chi tiết từng địa danh, năm tháng, không hẳn vì nhờ có trí nhớ tuyệt vời, mà chính vì anh không thể nào quên. Nhưng yếu tố quan trọng không kém khiến cho truyện PTAN có giá trị đặc biệt, là anh có một triết lý riêng để lý giải tất cả mọi việc trên đời – thái độ trước định mệnh.

Cuộc đời trong thế giới PTAN đầy oan trái, và đầy tính định mệnh. Nhưng các nhân vật không thúc thủ trước định mệnh. PTAN tin ”xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều”. Truyện PTAN thường cực kỳ éo le, chằng chịt khúc mắc, dàn dựng khác với phép dựng kịch (dramaturgy) của truyện ngắn cổ điển (vả lại, có bao nhiêu nhà văn Việt Nam viết truyện ngắn theo sách vở?). PTAN dàn dựng truyện như thế này:

tình cờ – hạnh ngộ – chia ly – đi tìm – thấy – xử trí theo tình nghĩa.

Các truyện trong Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân, vì thế, phần nhiều là bi kịch, nhưng luôn luôn có hậu, khuynh hướng mà đa số độc giả trông đợi. Nhờ thế, đọc truyện Phạm Tín An Ninh, dù chảy nước mắt nhưng ai cũng phải hài lòng.

Tâm Thanh

 

LƯU VONG… HAY LƯU ĐÀY?

chuthuynguyen

có khi nằm lại
chỉ để lắng nghe thử
như giả vờ lúc mình hôn mê
tiếng chim sẻ ở Austin, Texas
tiếng chim sẻ ở Santa Ana, California
tiếng chim sẻ ở Worcester, Massachusetts
hay tiếng chim sẻ ở quê nhà Việt Nam
thanh âm chúng lọc qua tai tôi giống nhau
màu bộ cánh chúng lọc qua mắt tôi giống nhau
dáng vẻ cùng cách mổ rỉa của chúng lọc qua tâm thức tôi giống nhau

tôi là người da vàng
tôi nói tiếng Việt mẹ đẻ cha nuôi
tôi đủ trí khôn để biết mình lưu vong
trên xứ sở của người da đỏ, da trắng, da đen
người da đỏ chỉ vào người da trắng bảo tôi họ là kẻ lưu vong
người da trắng bảo người da đen là kẻ lưu vong
người da đen chỉ vào mặt tôi da vàng
mới đúng là người lưu vong

sáng nay lúc chạy thể dục qua ngang lùm Forsythia đã rụng lá
vẫn nghe ồn ã láo nháo tiếng chim sẻ quen thuộc
tôi dừng lại
chúng im bặt giả lơ không nhìn tôi
tôi nhìn chúng đang tụm vào nhau ấm cúng hạnh phúc chợt thầm nghĩ
chẳng biết con sẻ bên nhà
con sẻ bên tàu
con sẻ bên Nhật
con sẻ bên Ả Rập hay con sẻ bên Hiệp Chủng Quốc nầy mới là kẻ lưu vong?

mệt quá
chỉ biết rất rõ đến giờ nầy cái thằng tôi là kẻ lưu đày…

Chu Thụy Nguyên