DƯỚI THỀM CỎ HOA

nguyenducbatngan

hoàng uyên dừng gót chân cầu
hồn mưa ngại nắng hoen sầu cỏ cây
em còn lại nhịp đôi tay
trao anh phiến nguyệt theo ngày lãng du

này em đừng ngại sương mù
theo anh về kịp mùa thu cõi ngoài
uống hoài những giọt sương mai
này em cụng chén quan hoài lãng quên

thôi thì ép lại trong hồn
có ăn năn cũng phai mòn dấu chân
này em nhớ lối hồng ân
để mai sau trở lại trần nghe em

à con nước ngủ êm đềm
theo giòng nhật nguyệt dưới thềm cỏ hoa
thôi em đừng ngại trăng tà
mốt mai rồi cũng chia xa cõi lòng

nắng vàng sợi tóc em hong
hồn say bóng động nghe lòng viễn du
mai rồi ướt giọt mưa thu
vàng cơn nắng lụn sa mù dưới chân

ngày, mắt em đẹp vô ngần
nước mây cũng luống phân vân ngại ngùng
đêm, mắt em biếc như nhung
anh nhìn lòng bỗng vô cùng reo vui

đừng nghe mưa xuống hiên ngoài
bâng khuâng lòng chợt u hoài rưng rưng
này em năm ngón ngập ngừng
đại hồ đã vỡ xin đừng xót thương

chừ nghe tình đã phai hường
em xuôi về mộng hoang đường gió se
rồi mai mốt có quay về
xin em đốt hết hẹn thề nghe em

NGUYỄN ĐỨC BẠTNGÀN

THIÊN SỨ SỐ 3

linhphuong

Ly nữa rồi ly nữa
Rượu uống hoài không say
Trái tim nồng muôn thuở
Máu nhỏ xuống bàn tay

Ngực gầy run tiếng nấc
Cho buổi sớm mai này
Ta xa nhau mãi mãi
Cuộc tình như bóng mây

Thôi thế nhé ! Từ đây
Ta ngàn năm cách biệt
Thiên sứ giờ đã chết
Giữa đời thường- đời thơ

Ly đầy rồi ly vơi
Rượu uống hoài chưa cạn
Tình yêu thì quá ngắn
Tựa một giấc chiêm bao

Thiên sứ làm ta đau
Hết kiếp đời khốn nạn
Trời ơi ! Sao ta vẫn
Thương hết dạ- hết lòng

Ta uống rượu- ta buồn
Viết những lời trăng trối
Gởi em -người tình phụ
Ta theo Chúa về trời…

LINH PHƯƠNG

NGƯỜI GÙ

trusa

Một tủ gỗ chẳng có gì ngoài những cuốn sách đã nát bươm tới mức không thành một trang giấy. Loại gỗ gụ nên rất bền. Theo lời kể, cái tủ này là gia bảo của dòng họ ông. Từ đời tằng tổ để lại. Riêng thứ sách cũ mốc thì do ông tích trữ. Rất nhiều sách. Nếu đếm từng quyển có lẽ tôi phải mất hơn ngày. Cái tủ xây cao sát trần và kéo dàiốp quanh bốn bức tường. Lúc mới bước vào, trừ việc ho sù sụ vì bụi thì tôi đã lầm tưởng rằng tường hầm được khoét sâu để cất sách. Như mọi tủ kệ, cái tủ này cũng được chia tầng. Các ngăn bằng phẳng và sâu ướm vừa một bàn tay. Sách chất chật cứng. Chúng xếp ngang, chếch chéo, nằm chồng lên nhau, quay gáy ra ngoài. Bụi và mạng nhện bện dày như cái kén màu xám đục. Lối ra vào, cũng là cửa thông gió duy nhất luôn mở. Tôi nghĩ cổng cầu thang mở để không chết ngộp trong hầm. Ông, một người quá già so với những thượng tuế ở Phố. Tôi ít được nghe về ông ngoài việc ông từng giết vợ. Ngộ sát, hoặc đại loại thế khi ông cố rút mũi tên cắm trong lồng ngực vợ mình. Có lẽ ông đã rút quá mạnh, hoặc vợ ông quá yếu để trụ vững sau lực chấn động khi rút tên. Phố này kéo dài, nối liên miên. Tôi ở dãy đầu còn ông ở cuối. Thời thơ ấu, tôi đã chẳng biết ông. Mọi bàn tay trong phố ít nhiều đã sờ lên người tôi, trừ ông. Tôi chắc ông đã chẳng để ý dãy phố có bao nhiêu đứa trẻ và là con nhà ai. Ngày đầu gặp tôi đã nói tên, số nhà, tên cha mẹ như một sự thành thật.Tiếng “Vào đi” thay giấy thông lệ để từ đó tôi lui tới thường xuyên chỗ ông. Cũn gngày đầu, ông đã mời tôi kẹo, bánh. Một ấm trà được pha lại từ bã buổi sáng. Trong nhà ông chẳng còn ai. Người nhà ông li tán khắp năm châu. Đứa con ôngchết trong bụng mẹ trong lần sơ tán cuối cùng, trước khi về Phố. Vợ cũng đã qua đời.Ông không bị tù, chỉ nhận án treo. Với ông, mất đi người vợ đã là bản án nghiệt ngã nhất. Ông bị gù, không do tuổi già. Râu tóc ông bạc phếch, da bèo nhẽo với nhữngchấm đồi mồi và gân xanh, đấy là tuổi già. Vốn là người siêng lao động nên đến từngtuổi này bước chân ông vẫn vững. Chuyện cắt tỉa sân vườn, nhổ cỏ dại hay sửa mái ngói ông đều tự làm. Cái lưng gù của ông nhiều khi như đường móc của cầu vồng.Tôi nói với ông “Gù bẩm sinh, có phải trò đùa của Tạo Hóa.” Ông nói “Tạo Hóa chẳng bao giờ nghiêm túc, còn con người thì luôn thích đùa.” Ông ít giao du với người ở Phố. Thực ra những người đồng tuế thì đã quá yếu và chỉ quanh quẩn trong nhà bằng những bước chầm chậm như con rùa kéo lê bộ mai.Lớp người sau ông một chút, thuộc vào thế hệ tiếp nối hoặc hạt giống như tôi, ông cũng không bắt chuyện, ai chào thì ông chào lại còn thì đường ai nấy đi. Ông như con đại bàng ẩn dật cả cái bóng dù vẫn đủ vuốt, mỏ để lột xác một lần nữa. Có lẽ vì vậy không mấy người chú ý đến ông. Những ngày lễ bắn pháo hoa, cả phố tưng bừng. Ai cũng ra đường sau khi đã trang trí cửa nhà thật đẹp. Ông ở nhà cấp bốn, mái nhà nửa ngói nửa tôn, gạch nhà nứt toác thành những rãnh dài, tường rụng rời. Từ ngày buồng vệ sinh bị sập ông thành khách quen của vệ sinh công cộng. Việc tắm giặt ở ngayngoài trời, với một chậu một gáo. May rằng bể nước nhà ông không hỏng chứ khéoông phải tắm lúc trời mưa hoặc tắm khô như mèo. Ông có cái sân rộng nhưng ông chỉ1
tỉa cỏ dại, loại cây nào vô tình mọc trên đất nhà ông thì ông chăm chút. Tôi gõ cửa.Ông bảo tôi vào với ông hoặc giúp ông kéo cửa như một lần đóng cửa thật chặt. “Ông không thích người ta à?” “Con người, quý lắm. Chỉ là càng sống càng khó kiếm người.” “Ở đâu chẳng có người hở ông.” “Ở đâu chả có người nhưng người ở đâu.” Hầm sách của ông luôn làm tôi khó thở. Dường như đã quá lâu ông không quét dọn. Tủ chưa hề mục. Riêng sách thì đã mủn nát. Mấy cuốn lành, thì cũng nham nhở như bị xé nhỏ. Tôi chẳng đọc được chữ nào. Cuốn long bìa, cuốn bìa đã bạc hết màu,có cuốn thì vừa cầm lên đã rụng lả tả. Mở trang nào cũng thấy bụi. Nhiều lúc tôi còn thấy mọt chạy thành đàn. Giữa gian hầm, có dựng cái ghế mây. Ghế cũng cũ, bụi đóng trắng như một mô hình tuyết. Dù ghế lúc nào cũng cót két nhưng ngồi vẫn chắc.Cạnh ghế, luôn có một ngọn đèn cầy. Thứ ánh sáng vàng mỡ cháy quanh hầm như một mặt trời tí hon. Đã nhiều lần tôi vào đây, rồi ho sù sụ. Mấy lần sau tôi đeo khẩu trang. Riêng ông thì vẫn lui tới thường xuyên. Không một mảnh khẩu trang hay khăn tay. Nhiều khi ông còn hít ngửi rất sâu. Lúc tôi mang đến cây phất trần và chổi để cùng ông dọn hầm, ông đã bẻ đôi từng thứ một. “Cũng phải dọn dẹp cho sáng sủa chứ ông.” “Kì cọ, lau rửa, chỉ làm gương sáng chứ chẳng sạch bụi. Hầu hết chúng ta tin cậy ảnh chiếu trong gương là mặt mình. Trăng trong hồ cũng là trăng nhưng chẳng phải trăng. Các bản sao đã thống trị cả sơn hà này và đội lốt bằng ti tỉ thế thân.” “Bụi bặm thế sẽ sinh bệnh đấy ông.” “Quỷ đồng lõa với bụi bặm hơn là dịch bệnh.” Lối cầu thang lên xuống hầm luôn mở. Ông ngồi trên ghế mây, lửa đèn cầy chao nghiêng như điệu nhảy chú lùn. Mắt ông nhìn quanh những giá sách. Bụi bặm rụng từng mảng hễ ông giậm chân quá mạnh. Tay ông lúc vắt trái, khi vắt phải. Rồi ông ôm đầu. Tôi từng thấy ông mở sách. Từng cuốn, từng cuốn. Không cuốn nào nguyên vẹn, dù chỉ một phần tư trang. Tôi tự hỏi ông tìm gì ở số sách cũ đã nát bươm đó.Hay, ông vốn đọc làu chỗ sách đấy. Ông mở sách chỉ để kiểm tra lại trí nhớ. Suy nghĩcủa tôi bị bẻ ngoặt khi thấy ông sờ lên mặt sách. Ông lật từng trang. Lật bìa, rồi lật đi lật lại. Mắt ông nhìn đăm đăm, thế rồi ông gấp sách và cất trở vào tủ. Ông đi lại mộtlúc quanh tủ sách bốn mặt, lần tay vào từng gáy sách. Ông lấy đúng cuốn mình đã cất trước đó và mở. Việc quan sát ông chầm chậm, không để vang tiếng thật thích thú.Bụi và mạng nhện lúc nào cũng dính trên tóc, vương mảnh trên mặt, vai áo. Nhữnglúc ông trầm ngâm nhìn trang sách, tôi tưởng rằng ông đang mặc niệm cho một thế kỷ bị lãng quên. Một lần nữa, ý nghĩ tôi bị bẻ ngoặt. Đấy là khi tôi thấy ông miết nhẹ ngón tay lên cuốn sách và liếm. Cái liếm chậm rãi lúc thì lên bìa, khi thì ở gáy, có lúc lại ở một trang bất kì. Một cái vấp chân, rồi tiếng ho vì bụi hầm không làm ông giật mình. Vẫn cử chỉ dấu yêu bằng cái liếm, cái dụi mặt. Sự nâng niu quá đà của ông với tủ sách cũ khiến tôi nghĩ đến việc ông đang ngấu nghiến những hồi ức về người vợ.Đã nhiều lần tôi hồ nghi việc liếm sách đấy là một tưởng tượng về cuộc tái sinh các phế tích từ một cái lưỡi lão hóa. Nếu còn đủ răng, liệu ông có nhai…
Người ở Phố bảo ông gàn. Số sách của ông vẫn nhiều người biết. Hẳn có người còn thấy nó khi còn vẹn nguyên. Mấy bô lão chỉ xua tay, tránh né lời thắc mắc của tôi. Sách gì, thể loại gì. Chữ gì, và viết gì. Những câu hỏi đổ dồn, chạy vòng quanhđầu tôi trong những ô trống. Có lần, ông nói với tôi. “Sách là cái tim đen luôn bị đánh tráo của quá khứ. Dù bao nhiêu thời đại nữa thì sách vẫn là bửu bối của trời. Văn minh của loài người là ngôn ngữ và chữ viết, trong đấy chữ viết là thứ trường cửu khi đóng thành sách. Những điển thư bất tử. Thập kỷ qua, chữ viết đã xuống mồ và bị quật mả nhiều lần để thành bù nhìn, đồng sự của quỷ dữ. Chúng tụng ca bằng những bài hát nhai xương uống máu, nhảy nhót trên những xác người còn ấm, còn nhúc nhích, chúng trồng cây trong óc người sống và tận diệ tthủy tổ bằng năm mươi cuộc săn trên rừng, năm mươi cuộc săn dưới biển. Sách đổ máu không đổ chữ. Chữ là máu không là sách. Trong lúc ông ngồi trong hầm, huơ hoắng tay, hít ngửi thứ bụi chồng chất hàng thế kỷ thì tôi đi lùi phía cầu thang. Nếu đèn cầy đột ngột tắt, ông vẫn ngồi. Ông hỏi tôithấy gì khi đèn đã tắt. “Không gì cả.” “Thế khi đèn bật.” “Tất cả.” “Chắc không?” “Cháu nhìn được. Trời sáng hơn bởi đèn.” “Người mù luôn thấy tối nhưng không phải trời phủ bóng đêm. Người mắt sáng khó nhìn ra bóng tối của người mù và không thấy đường dù không mù. Nguyên thủy của bóng tối không màu đen.” “Sau cơn mưa trời lại sáng mà ông.” “Sau cơn mưa, trời tạnh. Vẫn tối.” Vợ ông chết vào một buổi tàn minh, tôi tin thế. Viễn cảnh của sự lìa đời là hơi thở trút cạn không còn gì. Cái chết chậm rãi như cánh cửa khép từ từ, hoặc đột ngột như mặt trời cuối cùng bị bắn rụng giữa ban ngày. Hơi thở vợ ông sẽ bay vút như đôi cánh, mỏng mảnh như khói thuốc lá hay chờn vờn đứt đoạn như con cá bay khỏi mặt biển chốc lát rồi lại chìm xuống biển? Tôi không biết, cũng không dám hỏi ông. Vườn nhà ông nhiều bia mộ. Chia hai dãy và chẳng có tên. Người nhà ông chẳng nhiều đến thế. Ông vẫn nói rằng sinh mạng là những gì sống và từng được sống. Một nhành hoa, một xác người đều bình đẳng khi vùi trong đất. Người ở Phố đã quên béng ông. Tôi nghĩ họ vờ quên. Một dị hợm so với những đồng đẳng bằng nhau. Phần khác vì cái sân với đầy rẫy bia mộ lại là một xúi quẩy. Mỗi tai ương xảy đến người ta có quyền đổ thừa ông. Trước những vu khống ông đều im lặng. Cái bóng gù lẩn khuấttrong cộng đồng lưng thẳng, lưng dài nhưng sẵn sàng còng trước mũ cánh chuồn. Nhà ông không treo biển Gia Đình Văn Hóa. Phố không cấp cho ông và ông cũng không xin, mặt khác một ông già sống cô độc thì chẳng thể gọi là có gia đình. Tôi vẫn tìm đến ông. Một ngày, tôi thấy ông cắm bia sau vườn. Không hề có áo quan. Dưới lòng đất chỉ có sỏi và đất. Ông đào một rãnh, rồi táng mộ. Tôi hỏi ông “Tại sao nhiều bia mộ đến thế.” Một tiếng thở nửa chừng, rồi một cái cười nhẹ cũng tiêu biến nửa chừng nhường chỗ cho một tiếng ho ngắt quãng. “Quả đất này đã quá nhiều ma. Chúng ta sinh sống, ăn lộc từ ma và tranh luôn đất của ma.” “Bởi vậy ma đành nương náu trên thân xác người.” – Tôi nói với ông. “Nguồn gốc của ma là người.”- Ông nói với tôi, nói với vườn bia mộ. Rồi, ông xòe đôi bàn tay – “Hóa thân của người?” – Lời ông rót vào hai lòng bàn tay dày kín những lớp sẹo. Chẳng thể thấy dù nửa cái hoa tay hay nửa nét chỉ tay. Ông không ở ngoài vườn. Lúc này, ông xuống hầm. Những cuốn sách sẽ được lật ra và ông hít hà lớp bụi đóng. Ông vươn người, xòe tay trong tủ sách bốn mặt. Có thể lúc này ông đang xâm nhập vào những thế kỉ cũ, đối ẩm với các đế vương và và vụng trộm với những vưu vật thời hồng hoang. Ông. Một người gù. Dãy Phố nhộn nhịp cờ đèn. Biểu ngữ giăng khắp nơi. Các lễ hội, những tiệc tùng thâu đêm, rồi thì những cuộc đua xe mừng thắng bóng đá, pháo hoa đỏ ngầu trời nối dài từng ngày, tháng. Đâu đấy, những trung tâm nạo phá thai mọc chồng chéo để đồ tể giống người. Đâu đấy, bạt ngàn cây bị chém đổ cùng lúc như bản án tru di dòng tộc. Đâu đấy, mỗi giây Thần Chết bắt được một hồn. Cũng đâu đấy, đàn đàn người quần tụ, lắc lư trên bàn nhậu như lật đật. Cái hầm sách cùng hai hàng bia mộ là điềm gở của Phố. Một thứ lạc hậu, hão huyền và nằm ngoài lề thời đại này. Đám trẻ lớn lên, già đi mà chẳng biết có một người gù luôn lang thang trong bóng tối, mong tìm một bát nước cứu khát. Tôi về lại chỗ ông. Lần này ông không đón tôi. Cửa xuống hầm vẫn mở. Bụi đóng dọc quanh lối lên xuống. Đèn cầy đã tắt. Tôi mang theo một ngọn nến. Bụi đóng dày mặt sàn, ngập đến mắt cá chân. Tơ nhện giăng khắp ngóc ngách và cũng dày lên,trắng đục như lớp mây khổng lồ. Không thấy bóng nhện nào. Một cái hắt hơi làm bụirụng từng mảng. Như tiếng hét trong xứ tuyết phủ, bụi chuyển động rồi rơi ầm ầm.Tôi phẩy tay, hất mạnh để tránh những mảng bụi quá to nện vào đầu. Ông ngồi trên ghế mây. Ông đã chết. Bụi kết tảng, vùi lấp chỉ để chừa cái đầu lâu. Phủi bụi, tôi thấy một bàn tay xương chống cằm. Không thể gỡ bàn tay khỏi cằm, tôi để thế. Một khung xương người gù suy tư. Tôi gạt ngọn đèn cầy trên bàn và nhỏ sáp, cắm nến. Hầm sáng rõ. Sách đã không còn trên bốn mặt tủ. Chúng nằm xếp thành những hàng, những tầng dài dưới đất và bao quanh chỗ ông ngồi. Tủ sách ngủ trong lớp bụi dày. Số sách nằm mặt đất không biết đã ngủ chưa hay hẵng còn thoi thóp chừng nào những chữ bị cắt xẻo còn chưa bạch hóa. Tôi hít một hơi sâu. Bụi đi vào mũi và tôi nuốt lấy như đang nhai một phần quá khứ ông. Trong kho sách tàn mục, rách nát ông là một nét phẩy. Mang theo hài cốt ông, tôi lên cầu thang và ra sân. Những bia mộ rêu phủ. Cỏ mọc rậm cả mảnh sân. Nhiều cây dại mọc chồi, đâm xẻ um tùm thành bụi gai. Mạng nhện và bụi thời gian kết trắng vườn mộ. Vợ ông, một mũi tên trước ngực. Theo lời ông, tên đâm qua ngực vợ từ rất lâu.Cơn đau luôn hành hạ vợ ông. Mũi tên không cắt đôi quả tim mà xuyên thấu và tồn tại như một chi trên cơ thể. Ông đã rút mũi tên khỏi lồng ngực vợ. Mũi tên được ông bẻ đôi. Vợ ông vẫn sống. Bà được giải thoát nhưng cái tự do này đã không mang bà đến nước Trời. Mất mũi tên trên ngực, vợ ông thấy rỗng tuếch. Sẽ không còn cơn đau nào âm ỉ lồng ngực. Những liều thuốc giảm đau và cơn oằn mình quy thuận khôngcòn nữa. Cơ thể bà nhẹ như được Chúa trao cánh nhưng bà đã không biết phải làm gìvới đôi cánh. Cái chân này là của bà, cái tay này là của bà. Lưng bà không gù nhưngvẫn cong xuống như bị bẻ cột sống. Ông chỉ ngón tay. Mắt vợ ông nhìn vào đầu ngóntay ông. Chưa thấy đường. Vợ ông khiếp sợ cuộc sống mới mẻ cùng hai bàn taytrắng. Bà đã lấy trộm hai nửa mũi tên. Khi cắm lại tên vào ngực, bà gục xuống. Hóa thân của người… Hóa thân của người… Tôi nhìn hai hàng mộ. Phần mộ trái bảy mươi tư bia, mộ phải sáu mươi tư bia. Tôiđứng ở phần sân chia đôi hai cánh mộ. Phố vẫn huyên náo như mọi ngày. Người ở Phố đi lại như đàn người cô độc. Tôi đứng mãi ở mảnh sân. Mấy người nhìn thấy tôi qua hàng rào cửa. Họ xì xào, lẩm bẩm và cười the thé cùng nhau. Theo lời họ, người ngợm tôi trắng phau. Cả áo quần, tóc tai lẫn mắt, mũi, miệng. Tôi như cái bóng gác mộ cỗi tuổi. Người, vốn một hóa thân… Bình minh lên rồi tàn. Hoàng hôn tưới vàng đỏ hai lối mộ rồi cũng tàn. Bóng đêm đổ dày, kéo chìm muôn nơi như cái xòe cánh khổng lồ của con sâu hóa bướm. Trời chưa tối. Cõng trên lưng bộ xương người gù, tôi vòng vào vườn mộ. Mỗi một tấm biatôi đặt một cái khấu đầu. Tôi sẽ bước ra bằng cổng lớn để tìm và tắm trong thứ ánh sáng chưa từng biết đến.

TRU SA

NƠI TÔI Ở

trantuan

Nơi tôi ở
thường dày sương mỗi sáng
Hay mưa trưa
và rất gió khi chiều
Đêm se lạnh
lạc loài dăm tiếng vạc
Khuya não nùng
xa vọng tiếng cú kêu.

Nơi tôi ở buồn hiu,
em đừng đến
Nhánh phong lan còn đói nắng mặt trời
Không hương sắc làm sao em sống nổi
Tôi dám nào đem rượu tẩm môi tươi!

Nơi tôi ở rừng vơi màu diệp lục
Sông quên trôi và suối nghẹn lâu rồi
Hoa với cỏ bây giờ thành xa xỉ
Kiếm tìm hoài không gặp chút tinh khôi.

Nơi tôi ở là một nơi rất thật
Em không tin?
Ừ hãy cứ không tin!
Rồi mai mốt khi đời đày mỏi mệt
Đi lang thang em sẽ tỏ tia nhìn!

Nơi tôi ở mãi dày sương mỗi sớm
Vẫn mưa trưa,
vẫn gió rít ban chiều
Đêm vẫn buốt
lạnh ghim từng thớ thịt
Nơi em từng tha thiết gọi…
Dấu Yêu!

TRẦN TUẤN

NGÃ TƯ

nguyenythuan

Chàng đến thành phố này vào một buổi chiều cuối năm. Chuyến xe bus màu đỏ vỏn vẹn hai người khách. Chàng và một người Mễ. Mỗi người chiếm một băng dài, nằm thoải mái, gác chân sang ghế bên cạnh – trong một đoạn cuối của cuộc hành trình hơn 2000 miles. Gã đàn ông Mễ ứ ứ hát đi hát lại một bài hát. Ban đầu, chàng hơi khó chịu. Sau quen và kệ hắn. Chàng vật vờ trong giấc ngủ ngắt quãng. Mãi đến lúc người tài xế đến cạnh, gọi dậy.
– Đã đến Wichita.
Chàng giật mình, cười xin lỗi và xuống xe. Trời lạnh căm với cơn mưa tuyết đang đổ. Bến xe vắng tanh. Loáng thoáng một vài người qua lại. Chàng đảo mắt, vẫn không thấy ai đầu đen cả. Chắc Thúy ra trễ. Chàng nhún vai theo thói quen sẵn có từ ngày đi học. Nhún vai như vừa gặp phải một vấn đề nào, và bỏ quạ Một thói quen xấu. Thúy vẫn thường bảo. Chàng mỉm cười nghĩ đến Thuý. Người đàn bà lãng mạn từ năm 16 tuổi. Yêu nhau. Xa nhau. Thúy lấy chồng. Chàng lấy vợ. Rồi lưu lạc, sang đến đây mỗi người ở một tiểu bang, xa tít, xa tít mù khơi như chẳng bao giờ gặp. Vậy mà tình cờ biết được địa chỉ của nhau. Liên lạc. Đến thăm. Dĩ nhiên. Tình cũ không rủ cũng đến. Huống chi là tình đầu và cả hai đang sống một mình tại xứ người. Đã lâu lắm rồi, dễ chừng gần 10 năm chưa gặp. Hẳn phải có nhiều bỡ ngỡ. Bất giác chàng nhìn bóng mình trên chiếc gương dài đính vào cột nhà. Một gã đàn ông ngoài ba mươi. Cặp lông mày rậm, cái mũi thẳng. Cười thử xem. Vẫn đẹp trai chán! Chàng nghịch ngợm với chiếc bóng. Nheo một mắt. Đá lông nheo đấy mà. Và bật cười một mình.
– Anh chờ lâu không?
Chàng giật mình quay lại. Một người đàn bà lộng lẫy trong lối trang điểm đang mỉm cười. Thúy đó. Vẫn đẹp. Vẫn đẹp như xưa. Chàng nắm tay Thuý.
– Trời ơi! Em chẳng thay đổi tí nào cả.
– Anh cũng thế. Vẫn nghịch ngợm như xưa. Em đứng sau, nhìn anh cười, nheo mắt, hỉnh mũi. Mười năm mà vẫn thế.
Chàng bật cười. – Buồn cười lắm phải không?
– Buồn cười và cảm động.
Chàng nhìn Thúy thông cảm. Những lần nghịch ngợm ngày xưa là kỷ niệm rõ nét nhất. Trong số đám thanh niên theo đuổi Thúy chỉ mình chàng là kỳ cục. Đùa giỡn và khôi hài hoá tất cả.Ngay lúc tỏ tình cũng thế. Hình như, với chàng mọi việc xảy ra đều buồn cười. Đã có lần Thúy bảo:
– Ai mà lấy anh, cả đời chả được gì cả. Trừ nụ cười.
– Em chứ ai.
– Đừng ham…
– Phải ham chứ. Còn gì hơn lấy người mình yêu.
– Em sẽ không lấy anh.
– Em sẽ lấy anh.
Chàng vẫn tỉnh bơ, cười cười như mọi chuyện đã xong. Lạc quan,hài hước là bản chất của chàng. Vậy mà xa nhau. Chẳng một lý do gì cả. Xa nhau lúc tình yêu đang rực cháy. Bình thường như trăm ngàn cuộc tình khác. Chỉ có điều đẹp nhất là chẳng ai phụ ai. Ngày nhận được thiệp cưới của Thúy chàng hơi ngỡ ngàng. Và từ Đà Lạt bay về ngaỵ Trước ngày cưới hai hôm họ gặp nhau.
Đó là một buổi tối cuối năm. Thành phố biển sống dậy vẻ tưng bừng. Dọc con đường chính nối dài từ chợ Đầm, đến cuối khu Độc Lập người người chen vai đổ xô về miệt chợ Tết. Hai dãy sạp được dựng trong lòng đường Phan Bội Châu. Sáng choang ánh điện. Suốt một năm, thàng phố sống bình lặng với gió, với nắng. Chỉ ồn ào thời gian này. Mùa Tết và mùa cưới. Chàng vẫn nói với Thúy lúc còn ở Nha Trang. Thúy gật đầu.
– Thiên hạ chỉ đợi mùa này làm đám cưới.
– Em biết tại sao không?
– Chắc tại gần tết.
– Đúng và không đúng.
– Đúng và không đúng?
– Phải… Đúng là gần tết và không đúng vì lý do khác.
– !!!
– Nha Trang nóng quanh năm, chỉ mùa này mát dễ… nằm gần nhau.
– Nham nhở.
– Rồi mình cũng thế.
– Mình nào?
– Anh và em chứ ai.
– Khỏi đi. Em sẽ lấy chồng vào mùa hè.
Thế đấy. Nhưng cuối cùng Thúy cũng đi lấy chồng vào mùa đông. Chàng xót xa nhìn quang cảnh cũ. Thúy đi bên cạnh im lặng. Hai người đưa nhau đến rặng dương, phía xéo góc bưu điện.
– Cuối cùng em cũng bỏ anh.
– Nhưng…
Chàng quay sang Thuý. Ánh mắt thật buồn. Có lẽ đây là lần đầu tiên, từ lúc yên nhau Thúy thấy chàng buồn. Thúy bồi hồi cầm tay chàng.
– Em xin lỗi anh.
– Em chẳng có lỗi gì cả. Tất cả là cuộc sống. Em không thể chờ anh mãi được.
– Dù sao em cũng có lỗi…
Chàng cười gượng gạo. Nhìn thẳng vào mắt Thuý.
– Đừng nói thế. Hãy để tình yêu của mình thật đẹp. Xa nhau nhưng chúng ta chẳng mất nhau. Anh mãi yêu em và anh hiểu em mãi yêu anh. Thúy im lặng, nhìn về khoảng biền trước mặt. Tháng mười hai với từng cơn sóng dữ, tưởng như đang gào thét, phẫn nộ. Chàng nói bâng quơ những câu chuyện cũ. Chẳng ăn nhập vào đêm cuối cùng của nhau. Thúy hiểu: chàng chỉ muốn mình an tâm. Dĩ nhiên phải buồn chứ. Một mối tình thật đẹp. Vậy mà mình đi lấy chồng. Thúy liên tưởng đến Quí, người đàn ông sẽ lấy làm chồng vào ngày mai. Một gương mặt bình thường, cặp kính trắng. Sống cần cù với từng đồng bạc. Một mẫu đàn ông tốt đẹp để làm chồng. Công chức. Đứng tuổi. Có tài sản. Không mơ mộng viễn vông và đo lường được tương lai bằng thứ giác quan riêng biệt của những người vốn quen thận trọng. Lấy Quí, hẳn cuộc sống mình sẽ trôi dài. Thúy nhắm mắt lại. Gạt bỏ hình ảnh của người chồng tương lai.
– Em đang nghĩ gì thế?
– Chẳng gì cả. Mai anh có đến nhà thờ với em không?
– Đến chứ. Chàng bình thản nói. Anh sẽ làm… đàng gái. Đến dự lễ ở nhà thờ. Tiếp khách tại nhà hàng. Nghĩa tử, nghĩa tận mà!
Thúy bật cười, chàng luôn luôn nghịch ngợm. Bất giác nàng thấy yêu chàng vô vàn và nảy ra ý nghĩ thật táo bạo.
– Anh…
– Sao em?
– Hay em… đi với anh.
– !!!
– Em… Em… bỏ đám cưới!
– Bỏ đám cưới?
– Vâng.
– Đi với anh?
– Vâng.
Chàng phì cười. Ôm vai Thuý.
– Đừng đùa cô bé. Mai lấy chồng thật. Và đó là cuộc sống. Giọng chàng nghiêm lại. Em đừng nghĩ bậy nữa. Lúc nào anh cũng yêu em và muốn em hạnh phúc. Còn đi theo anh! Trời đất, anh đang đi học. Sống bữa có, bữa không…
– Em nói thật mà.
– Thì anh cũng nói thật. Em phải nghĩ đến gia đình. Nếu không thuận thì không thuận từ đầu. Bây giờ…
Giọng chàng nhỏ hẳn và ngắt ngang. Cơn gió biển ào đến. Những cánh dương khô bay vào tóc Thuý. Nàng đưa tay định gỡ. Mép bàn tay đặt trên tóc chợt cảm thấy có hơi nóng. Thúy bồi hồi quay lại, gặp đôi mắt chàng âu yếm. Nàng nhắm mắt. Họ hôn nhau giữa trời biển và tình yêu. Và đó, họ xa nhau.
Sau đám cưới Thuý, chàng bỏ Nha Trang đi biền biệt. Không một lần trở lại vùng biển cũ. Mối tình đầu như một vết hằn trong tim.Chàng sợ hãi từng cơn sóng biển, từng dải cát trôi dài. Né tránh những vùng trời biển mênh mông. Đà Lạt. Sài Gòn. Rồi những quân trường. Pleikụ Komtum. Rồi cơn bão lịch sử ào đến. Từng địa danh xa lạ mọc trên những vùng đất thân quen. Những hàng thép gai bọc quanh trại tù cải tạo. Cực nhọc trên từng thớ thịt, góc xương. Đói khát. Đầy đọa. Chàng như lãng quên chính mình. Lãng quên cả một thời mơ mộng cũ. Rồi trôi nổi. Chàng lấy một người đàn bà. Cũng xong một đời. Tưởng xong một đời. Những vẫn đổi thaỵ Người đàn ông dưới chế độ Cộng Sản Việt Nam trở thành bất lực. Chàng bám víu vào người vợ tần tảo. Dĩ nhiên sẽ vỡ nát. Bắt đầu là mặc cảm từ chàng. Rồi đến sự khinh mạn của người vợ. Rồi những lần cãi vã. Và cuối cùng…
Chiếc xe dừng lại trước một căn nhà nhỏ. Thúy lay vai chàng:
– Dậy anh. Ngủ gì mà tài thế…
Chàng ậm ừ.
– Anh hơi mệt. Hai ngày một đêm ngồi từ Sunvalley về đây. Bị nhồi như một quả bóng chứ ít sao?
– Ai bảo anh đi xe bus…
– Anh thích thế. Nhìn nước Mỹ cũng là cái thú…
Thúy cười. Hai người xuống xe. Căn nhà nằm riêng biệt với một khoảng sân rộng rãi. Lối đi lát cement trải dài từ cổng. Vài khóm hoa khô queo trong mùa tuyết. Mặt đất ngập trắng. Cái lạnh se sắt. Chàng kéo cao cổ áo:
– Lạnh thật.
– Nhanh lên anh.
Thúy kéo tay chàng bước vội về phía cửa. cái va-li đong đưa theo nhịp chân. Thúy lẹ như một con sóc. Người thiếu phụ vẫn còn những nét son trẻ của thời đi học.
°°°
Họ yêu nhau ngay từ phút đầu gặp. Chàng và Nhã đều hiểu diều đó. Mối tình nghe thật phi lý với những người ba mươi. Nhưng với chàng, đó là sự thật. một điều rất thật và tất nhiên phải xảy đến cho chàng. Hơn mười năm ôm mối tình của Thúy để lại. Chàng đã mơ mộng thật nhiều về khoảng đời cũ. Rồi thời gian trong trại cải tạo, chàng – qua những dằn vặt, những tận cùng của khổ đau đã thèm được một mối tình dịu dàng. Và vẽ vời một mẫu đàn bà hiền lành, mơ mộng. Cho phù hợp với bản chất lãng mạn của mình. Lấy vợ, cuộc sống đầy mặc cảm bên cạnh người vợ tần tảo ngày đêm, chàng càng khao khát cuộc sống cũ. Nuôi dưỡng thứ tình cảm lãng mạn tận đáy hồn. Dấu kín và sống với tình cảm đó. Ngoài ba mươi nhưng con tim vẫn hai mươi. Mơ mộng, lãng mạn như một vai nam trong truyện tình yêu. Gặp Nhã với mái tóc xõa, với nét đẹp dịu hiền. Với cái cười nhỏ nhẹ. Chàng bàng hoàng và đột nhiên thấy Thúy xa lạ. Mối tình hơn mười năm từ vùng biển cũ đã chết.
Nhã hiền lành đến độ tội nghiệp. Sống chung với Thúy như hai thái cực. Thúy là mặt trời chói bừng, đốt lửa cuồng nhiệt trong từng nhịp thở. Nhã là mặt trăng âm thầm nhớ thứ ánh sáng dịu mát trên mặt người vồn vã. Nhã khép kín cuộc sống trong căn phòng với những bức tranh. Nguồn vui duy nhất của nàng từ ngày đến đây. Hai mươi bảy tuổi với mối tình vỡ vụn từ ngày mất nước. Nhã im lặng nhìn cuộc đời trôi quanh. Những người đàn ông của thành phố này ban đầu còn theo đuổi. Sau chán nản và xoay sang Thúy – Khối nam châm rực lửa. Nhã mỉm cười nhìn bọn đàn ông, không một phê bình, không một buồn bực. Ý nghĩ được nàng phết trên khung vải. Và ngưng lại tại đó. Ngày 8 tiếng đi làm. Hết giờ trở về. Chuyện trò với Thúy dăm câu. Xem truyền hình. Đọc sách và vẽ. Cuối tuần, đảo quanh một vòng thành phố. Mua sắm lặt vặt. Lại vẽ. Tranh xếp khắp basement. Chẳng cần treo. Chẳng cần xem lại. Vẽ như một lối thoát của ý nghĩ. Ngày một nhiều. chồng chất lên nhau cho đến lúc gặp chàng.
Người đàn ông trung niên đến và đảo lộn cuộc sống của nàng. Tấm gương tại bàn phấn vẫn bỏ quên nay thành nơi chốn của buổi sáng khi thức giấc, của buổi chiều trước giờ cơm. Sự thay đổi từ ngày thứ hai từ lúc chàng đến. Giá vẽ được căng khung vải mới. Đám màu nâu sẫm buồn nản đựơc thay bằng sắc xanh. Một cảnh trời đất mênh mang hy vọng với nhữntg cánh hoa hướng dương phía trước mặt người con gái. Nét vẽ dịu lại. Nhã âu yếm phết từng cọ sơn trên khung vải. Sau cho màu sắc hài hòa. Sao cho khung cảnh ngút mắt hạnh phúc. Sự say mê bộc lộ trong dáng người nghệ sĩ. Chàng xuống basement, tự nhiên như hai người đã quen nhau từ lâu lắm. Đảo một vòng. Lật từng bức tranh. Và dừng lại trước người đàn bà đang vẽ.
-… Thật là bất ngờ!
– Bất ngờ gì ạ?
– Cô và những bức tranh.
– Đó là niềm vui…
– Phải gọi là hạnh phúc mới đúng. Trong thế giới riêng biệt của cái basement này hẳn cô đã sống những phút đẹp nhất.
– Anh nghĩ thế? Nhã thân mật trong lối gọi.
– Vâng. Giữa những xô bồ của xã hội này, cô tách rời…
– Thúy nói?
– Phải, Thúy nói và tôi thấy.
Nhã mỉm cười. Anh chàng tàn gái theo lối… cổ điển. Nhập đề “lung khởi”. Bất giác nàng buồn cười. Đã lâu lắm mới gặp lại mẫu đàn ông thế này ở xã hội Mỹ. Đám đàn ông vây quanh nàng trước kia bạo dạn, bạo dạn đến độ trâng tráo.
-… Hẳn tôi nói sai?
Nàng lắc đầu. Đừng nói nữa, đừng nói nữa anh chàng hiệp sĩ cổ điển ạ. Từ cái nhìn và thái độ hôm qua của anh, em đã hiểu. Chẳng phải em có đầy kinh nghiệm về tình yêu nhưng tự em cũng có những rung động. Thế chẳng đủ hay sao?
– Anh về chơi lâu không?
– Chẳng biết nữa. Thúy bảo ở lại luôn, nhưng tôi chưa biết thế nào…
Lại Thúy bảo. Nhã đột nhiên bực bội, vất mạnh cây cọ xuống sàn. Mỉa mai.
– Anh có vẻ… nghe lời Thúy quá nhỉ…
Nàng giật mình vì thái độ của mình. Bỏ lửng câu nói. Họ nhìn nhau. Im lặng. Ngoài trời mặt trời muộn của một ngày mùa đông vừa rực sáng.
Tình yêu bắt đầu từ hôm đó. Cả hai không hẹn đều mặc nhiên chấp nhận sự liên hệ tình cảm một cách thầm lặng giữa cái rộn ràng nhưng nhỏ bé của một mùa xuân trên xứ người. Săn sóc nhau bằng những cử chỉ, thái độ. Chia xẻ hạnh phúc cho nhau trong từng cái nhìn. Cuộc sống tay ba tại căn nhà nhỏ đột nhiên thành một vòng tròn. Thuý, bằnh linh cảm của một người đàn bà khôn ngoan đã nhận thấy. Nhã, một buổi sáng đi vắng, còn lại chàng và Thuý. Bấy giờ họ đang ngồi trong phòng khách.
– Anh thấy cuộc sống ở đây thế nào?
– Bình lặng và hiền lành.
– Thích chứ?
– Dĩ nhiên, vì có em tại đây.
-… và bạn em.
Thúy thêm câu nói thật nhanh. Chàng giật mình. Thúy vẫn thản nhiên trong động tác cắm lại lọ hoa, giọng đều đều:
– Anh và cô ấy có vẻ hợp nhau…
– !!!
– Anh nghĩ sao về cô ấy?
– Nghĩ là nghĩ thế nào?
Chàng gượng gạo hỏi lại. Thúy buông mình xuống chiếc ghế, ngả đầu về phía thành sau. Đôi mắt khép lại. Hai chân duỗi dài trên mặt bàn. Vùng da thịt tươi mát căng lên dưới lớp vải mỏng. Chàng quay mặt về phía khác.
– Anh nói thật đi…
– !!!
– Giữa chúng ta chỉ còn lại mối tình cũ. Chẳng có gì quan hệ điến độ anh phải dối em…
Giọng Thúy nhỏ lại. Căn phòng chìm vào im lặng. Khoảng trống bao quanh hai người. Thứ khoảng trống ngột ngạt của những con người gượng gạo đóng nốt vai trò của mình trong một màn kịch cuối cùng.
– Anh… Chàng ngập ngừng quay sang Thuý.
– Anh cứ nói đi. Em đã hiểu, nhưng muốn anh tự cho em biết. Để những mặc cảm phụ rẫy anh ngày ở Nha Trang không còn đeo đẳng em nữa…
Thúy vẫn giữ nguyên thế ngồi buông trôi. Chàng nhìn chăm chăm vào người thiếu phụ trước mặt. Sự xa lạ đột nhiên hiển hiện. Gương mặt, đôi môi, bờ tóc. Những hình ảnh chấp mối trong suốt một khoảng đời vừa qua vẫn quấn quít bên chàng đã thành xa lạ. Thúy đó sao? Người đàn bà thảnh nhiên nhận sự phụ bạc của mối tình đầu đời bằng thái độ lạnh nhạt. Chàng xót xa nghĩ đến những kỷ niệm cũ. Sự đổi thay thật bất ngờ. Hơn mười năm cho một tình yêu bỗng chốc thành vỡ nát.
– Phải! Anh đã không còn…
– Đã không còn yêu em ?
Nụ cười chớm trên môi. Thúy khẽ mở mắt. Nét bối rối pha chút thương hại ẩn hiện trên gương mặt người đàn ông khiến Thúy khó chịu. Tôi đâu cần sự thương hại. Nhan sắc của tôi đã thắng tuổi tôi. Tôi đẹp, tôi hãnh diện vì nhan sắc. Đám đàn ông ở thành phố này há chẳng điên đảo theo đuổi tôi sao? Đến với anh chẳng có gì ngoài mối tình từ những ngày đi học. Thúy bật dậy, dựa lưng vào thành ghế.
– Cảm ơn anh đã nói thật.
– Anh xin lỗi em.
– Chẳng cần phải nói thế. Giữa chúng ta chỉ còn kỷ niệm.
– Dù sao anh cũng có lỗi với em…
– Em đã bảo: anh không cần nói thế. Sau tình yêu là tình bạn không được sao?
Thúy đứng dậy, bỏ vào phòng ngủ. Chàng tần ngần với tay bẻ một cánh hoa. Sắc gai của cánh hồng đâm vào taỵ Cảm giác đau nhói không đủ nhấc chàng ra khỏi trạng thái hụt hẫng vì thái độ của Thuý.
°°°
Thúy xoay người, úp mặt xuống nệm. Ngọn đèn ngủ màu xanh nhạt hắt những tia sáng yếu ớt lên căn phòng. Vẻ cô đơn bao quanh như Thúy và ý nghĩ. Thế là hết. Sự tan vỡ thật tình cờ. Em đâu ngờ được. Hơn mười năm cho một mối tình. Em đã sống những ngày dằn vặt bên cạnh người chồng không yêu. Đồng sàng dị mộng. Đồng sàng dị mộng. Mộng mơ em gói trọn cho anh. Anh đi biền biệt, không một lần trở lại vùng biển cũ, đâu biết có những chiều em lang thang dọc theo con đường Duy Tân. Biển và sóng âm vang từng lời kể lể trong tâm tưởng. Em sống như người mộng dụ Người chồng tội nghiệp vẫn cần cù lo toan cuộc sống. Em tách rời và thả trôi cuộc đời trong nỗi nhớ. Để ý tin anh và theo anh trong ý nghĩ. Đà Lạt, Sài Gòn, Pleiku, Komtum, Long An… Những nơi chốn xa lạ anh qua được em lần mò trên bản đồ cho thành thân quen. Và thân quen thật với những người lính Biệt Động Quân xa lạ. Em hạnh phúc trong hình ảnh những người lính cùng đơn vị với anh. Em âu lo với những chết chóc của từng địa danh. Còn nữa, còn sợ hãi vẩn vơ mỗi khi nghe bài hát lá cải “Nguyễn Thị Mộng Thường” viết về cuộc tình của người lính Biệt Động. Ôi vu vơ trăm điều! Cũng từ những dịu ngọt, ân cần của anh quấn quít bên hững hờ của chồng em. Cơn đồng thiếp âu lo càng lớn khi những ngày cuối tháng 3 ào đến thành phố biền cơn bão lửa. Em, mệt mỏi rối bời trong làn sóng người trốn chạy vẫn nghĩ đến anh. Vẫn hãi hùng khi hình tưởng đến anh giữa cuộc chiến. Cầu nguyện suốt đoạn đường di tản dành cho anh. Em đã ngoại tình từ ngày đầu tiên lấy chồng cho đến lúc chồng chết. Qúi nằm xoãi người, đầu nát bét vì sức phá của viên đạn, chỉ còn cái cằm loe ngoe cặm vài chiếc răng. Cảnh tượng hãi hùng của người chồng chỉ làm em lo sợ cho anh. Con đàn bà vô lương tâm là em…
Thúy thở dài, ngẩng đầu lên. Thành giường mica trắng lẫn với sắc xanh nhạt từ ngọn đèn làm những sợi vân quánh lại màu xám ngoét. Nàng rùng mình, với tay bật điện. Ánh đèn loé lên, căn phòng đột nhiên hẹp lại. Khung cảnh thân quen hàng ngày tự nhiên thành buồn tẻ. Chiếc đồng hồ đặt phía bàn phấn buông những tiếng tích tắc đều đặn, nhỏ từng tiếng động buồn nản. Thúy bịt chặt hai tai, nàng vùi đầu vào chiếc gối rộng.
Cuốn theo làn sóng người bỏ nước. Em sang đâu. Nước mắt và nỗi nhớ theo em từng ngày. Ra đi. Đi đến đích là hạnh phúc cho những người vượt biển. Cũng thế, em trôi vào nhịp sống của mọi người. Nhưng chỉ được vài tháng đầu rồi lại khóc ngất. Em ân hận vì đã đi. Bao giờ mới gặp lại anh. Ý nghĩ trái ngược xoay tròn trong em. Nếu em ở lại Việt Nam thì vẫn còn hy vọng gặp anh. Sang đây là mất hết. Em âu lo với khoảng đời trước mặt. Lấy một người chồng. Chẳng khó khăn gì mới một người đàn bà tại đây. Lại nữa, em biết em đẹp! Nhưng với tình yêu của mình em làm sao quên được. Trong tuyệt vọng em bắt đầu rong chơi và dày xéo lên bọn đàn ông chung quanh. Kỹ sư, Bác sĩ. Già, trẻ, Đủ cả. Anh đâu biết, sự ân hận kéo dài, đeo đẳng trong em. Mãi đến lúc nhận tin anh. Hạnh phúc ào đến. Em sống lại từ ý nghĩ đầy mơ mộng. Xa lắm, Hai ngàn miles, nhưng rất gần trong ý nghĩ. Và tìm đến nhau.
Thúy mím chặt môi. Cảm giác ngột ngạt bao trùm. Nàng khẽ nhấc mặt rời gối. Hai tay vẫn vòng quanh chiếc gối rộng. Im lìm mhư một người đã chết. Đêm đã khuya. Hẳn chàng đã ngủ. Hẳn Nhã đã ngủ. Từ lâu chẳng còn tiếng động nào.
Sao vẫn chỉ mình tôi trong thao thức. Giờ này chắc cả hai đang trong những giấc mơ về nhau. Hình tưởng đến gương mặt Nhã bừng lên rạng rỡ, nàng chợt khó chịu. Người bạn gái chung nhà. Quen nhau từ ngày còn trong nước. Nhã chẳng có gì nổi bật, bình lặng và cuốn mình trong cuộc sống riêng tự Chàng nồng nhiệt, ồn ào như gió, như bão. Tưởng như hai thái cực. Vậy mà họ yêu nhau. Và mình trở thành bà mai. Thúy chua chát cười trong bóng tối. Có cơn gió lạc loài rít lên những tiếng vi vút, lạnh tanh như hai hàm răng đang nghiến lại, từ bên ngoài.
°°°
Tôi ngột ngạt trong hạnh phúc pha lẫn ân hận. Tình bạn với Thuý. Tình yêu với chàng. Tôi đứng giữa như thân cây nhỏ trước gió. Thái độ của Thúy làm tôi thật ngạc nhiên. Bình thản như không có gì xảy ra. Sống như những ngày bình thường nhưng tôi hiểu, Thúy đã biết về tình yêu của chúng tôi. Ào ạt đến nhanh như không tưởng. Làm sao tránh né khi chính mình cũng còn mời gọi.
Tôi đàn bà nên tôi phải yêu. Và chàng đó, hiện thân của thứ tình yêu tưởng như không có tại đây. Chàng thành thật kể lại chuyện tình với Thuý. Tôi hình dung. Chẳng một chút ghen tương nào cả. Để cuối cùng thông cảm với chàng. Để cuối cùng nhận tình yêu của chàng. Hai mươi bảy tuổi, tôi yêu như ngày mười tám. Đem màu sắc hoà tươi khung vải, mỗi đường cọ là một nụ cười. Mỗi bức tranh là những lần đóng khung ý nghĩ trong hạnh phúc. Chàng đứng cạnh. Chàng ngồi bên. Tôi vẽ. Và nhìn nhau. Mê say như mới yêu lần đầu. Bỏ quên tất cả để sống. Rồi bừng dậy nhìn Thúy ăn năn. Người bạn từ ngày xưa đã cùng tôi chia xẻ tháng ngày của thành phố xa lạ này. Kể hết. Tâm sự hết cả về tình yêu, về cuộc sống. Mỗi lần nhắc đến người đàn ông xa lạ của những năm Nha Trang, Thúy luôn luôn mỉm cười:
– Anh chàng diễu không tưởng được.
Tôi nghe và chẳng một ý nghĩ nào về anh chàng diễu không tưởng được của Thuý. Và bỏ quên như trăm ngàn câu chuyện hỗn độn hàng ngày. Vậy đó, người đàn ông đó đã đến. Mang hạnh phúc và đau khổ chan vào không khí này. Tôi tránh né những lần gặp mặt tay bạ Tôi sợ hãi phải đóng vai trò kỳ cục với tôi. Yêu mà như không yêu. Ghen mà như không ghen. Tôi đàn bà từ lúc yêu chàng. Bắt đầu có những cảm xúc rất là người. Tình yêu và tình bạn đã thành nỗi khó chịu. Phải nói. Phải nói thẳng để cái ngột ngạt không còn.
Nhã buông cọ bước lên cầu thang. Những bước chân của nàng chợt vang lên kỳ cục. Tiếng động như lớn hơn bình thường. Nàng ngạc nhiên khi nhận được điều đó. Đứng lại nhìn quanh. Không khí của cái basement quen thuộc đột nhiên nặng trĩu. Ánh sáng từ ô cửa sổ nhỏ hắt vào một bức tranh tĩnh vật. Chiếc ly màu đỏ trong tranh ánh lên sắc đỏ chói chan. Nàng đăm đăm nhìn vào vệt nắng. Như một đốm máu vừa bắn lên khung vải. Nhã bước xuống thang, đến gần bức tranh. Màu đỏ của màu pha với sắc nắng đã quyến rũ nàng. Tất cả chẳng còn chàng, chẳng còn Thuý, chẳng còn tình yêu. Chỉ hiển hiện một sắc máu vừa tìm thấy.
Bữa cơm diễn ra trong không khí ngột ngạt. Cả ba người đều tránh nhìn nhau. Chậm rãi trong từng động tác rời rạc. Gắp. Nhai. Nuốt. Sự ngượng ngập đan vào từng phút. Bắt đầu thế nào? Cả ba đều tránh né và nhường nhau nói trước. Đã đến lúc phải giải quyết. Thúy xót xa nhìn chàng, vẫn những nét hồn hậu nhưng sao xa lạ. Lần gặp lại đâu ngờ thay đổi. Biết thế chẳng liên lạc với nhau. Để mãi mãi còn những ý nghĩ đẹp cho kỷ niệm. Như hôm nay, giữa không gian của xuân, của những kỷ niệm cũ đang sống lại như tuổi đương độ phải là hạnh phúc, nhưng…
Thúy đặt chén cơm xuống bàn. Buông đũa và ngả lưng vào thành ghế. Chàng ngước lên.
– Thôi hả em?
– Vâng.
Lại im lặng. Mẩu đối thoại chìm vào khoảng trống. Tắc nghẽn. Như hoàn cảnh hiện tại. Nhã bối rối nhìn bạn. Nét mặt Thúy lạnh tanh. Chẳng một nét gì khác lạ. Vẫn kiêu hãnh như đã từng kiêu hãnh vì nhan sắc của mình. Chuyện xảy ra giữa ba người Thúy đã biết. Vậy mà vẫn thản nhiên. Nhã nhìn bạn đăm đăm. Bất chợt Thúy ngước lên. Hai ánh mắt chạm nhau. Nhã cúi xuống. Hoá ra người đáng thương chính là mình. Thúy như một thân cây vững chãi. Luôn luôn mình chỉ là thứ cỏ nép bên Thuý. Từ lúc còn đi học và đến hôm naỵ Trong tình yêu dù mình có, dù Thúy mất mình vẫn đáng thương. Nhã xô ghế đứng dậy. Cả hai người, Thúy và chàng đều nói cùng lúc.
– Nhã…
Nhã đứng yên ngượng ngập.
– Bồ ngồi xuống. Bọn mình nói chuyện một tí. Giọng Thúy trôi đều đề. Chẳng biểu lộ gì cả. Nhã lại ngồi xuống ghế. Chàng bật lửa châm thuốc chờ đợi. Thúy ném cái nhìn về phía người đàn ông.
– Mình đã hiểu…
Nhã bối rối.
– Tôi… xin lỗi.
– Chẳng ai có lỗi trong việc này. Tự cuộc sống đã thế. Đến một lúc nào đó, mình chẳng còn là mình của những ngày cũ. Đúng vậy không?
Chàng mỉm cười gượng gạo.
– Phải. Giữa chúng ta đã hiểu nhau. Anh xin lỗi Thúy lần nữa. Nhưng…
– Chẳng cần thế anh ạ! Giọng Thúy vẫn đều đều. Mọi việc đều rõ ràng. Cái cần thiết là bây giờ, chúng ta sẽ giải quyết thế nào? Không thể kéo dài như thế này mãi. Em có tự ái riêng của em và hai người còn hạnh phúc riêng…
Giọng Thúy nhỏ lại và mất hút. Một giọt nước mắt lăn xuống. Người đàn bà trong Thúy đã về. Đập vỡ lớp vỏ kiêu hãnh vẫn mang. Sự ê chề của lần mất mát là cái thật nhất cho nàng. Nhã chợt hiểu. Thúy và nàng chỉ là thân cỏ yếu đuối. Tình cảm bạn bè sống dậy. Nhã nắm lấy tay Thuý, bóp mạnh.
– Thuý…
Thúy xoay sang bạn. Nét bối rối pha chút thương hại hiện trên ánh mắt Nhã. Thúy chợt thấy bực bội, nàng hất tay Nhã thật mạnh. Xô ghế và đứng lên. Những hành động ào ạt biểu lộ sự giận dữ. Chàng giật mình với tay sang, bàn tay vừa chạm đến tay Thúy đã bị hất lại.
– Đủ rồi. Mặc tôi…
Thúy nói nhanh, giọng cao như đang hét. Nàng chạy nhanh về phía phòng ngủ. Nhã nhìn chàng.
– Anh nên vào với Thuý…
Chàng lắc đầu, dụi mạnh điếu thuốc xuống chiếc gạt tàn. Không khí lại lắng xuống. Mặt bàn ăn chợt như khoảng cách ngăn đôi hai người.
°°°
Chàng ngả lưng vào thành ghế, nhìn ra cửa sổ. Trạm xe bus vẫn vắng tanh. Lác đác dăm người khách ngoại quốc đang chờ xe. Khung cảnh hệt như khi chàng đến. Dãy kính đính trên hàng cột vẫn sáng bóng. Quán café vẫn im lặng với lũ bàn ghế chổng chợ Chàng mệt mỏi nhắm mắt lại khi người tài xế bước lên xe. Wichita sẽ chẳng còn từ hôm naỵ Chàng thở dài khi chiếc xe bắt đầu chạy. Ngang qua một ngã tư, chàng đóng mạnh ô cửa sổ. Phía dưới đường, Nhã đặt chiếc valise xuống vệ đường, chờ đèn báo hiệu băng ngang. Trạm xe bus trước mặt là điểm bắt đầu cho lần ra đi. Nàng hà hơi vào bàn tay lạnh ngắt. Liên tưởng đến căn nhà gỗ đã sống. Hẳn giờ này chàng và Thúy đang say ngủ.
Bên ngoài, mùa xuân đã hết.

Nguyễn Ý Thuần

CAO THỦ…

hochibuu

Mấy hào sĩ đùa ta là cao thủ
Cao thủ gì mà mê gái bẩm sinh
Sáng và chiều làm bạn cùng ly rượu
Chân dài, chân cong nhìn cũng giật mình.

Sự nghiệp cả đời không đầy lá mít
Hào sảng nỗi gì – đi bộ mòn chân
Như gã Kinh Kha chiều qua sông Dịch
Lỡ phút chơi ngông hối hận trăm lần.

Trời lỡ sinh ta là tên nát rượu
Thơ vắt từ tim chỉ một chữ yêu
Trong các cuộc chơi cuối cùng bị dụ
Xả láng quen thân nên cứ chơi liều.

Võ lâm ngũ bá – Hoa Sơn luận kiếm
Ta lên Hoa Sơn tìm lá diêu bông
Cao thủ hiên ngang vào Tầm Dương điếm
Ta mãi loanh quanh kiếm gái chưa chồng…

Ta chẳng đổ thừa cái thời mạt vận
Tráng sĩ bẻ gươm hàn sĩ lên chùa
Ta đứng giữa trời hét vào vô tận:
Ta đã chết rồi- chẳng biết chôn chưa???

hochibuu

HÀNH HƯƠNG

tranthienthi

đi ngang đi dọc mùa đông
ngược đường những cánh chim di trú
muốn hiểu nhiều về một trái tim
mãi đến bây giờ
mới có thể chạm vào phía bên ngoài lồng ngực

cỏ trên triền đê
và nắng hồng trước ngày gió bấc
dự mưu vẽ nên một mùa đông
tiễn nhau đi
lần nào cũng buồn

em nói với tôi
phía sau xóm nhà là con sông Hồng
nước vẫn đỏ màu trong những ngày sắp tới
cho đến lúc lên xe tôi mới nhận ra
phía sau lồng ngực
một trái tim vẫn nồng nàn chờ đợi

mùa đông như một lời nguyền
được nói ra từ đôi môi trẻ con
gió bấc xô dạt nhau về tứ phía
ta giữ trong tay một làn hơi ấm
di trú phương nào
trống còn lại hơi nhau

gái ơi
thơ ta viết cho em những dòng dằn xóc
như những ổ gà ổ vịt trên suốt con đường cái quan
như một mùa đông
hằm hè trước mặt
như chiếc ba lô bíu vào sau lưng
hành hương tình chẳng nệ gian nan

trần thiên thị
đầu tháng mười hai

Đọc Phạm Tín An Ninh

tamthanh

Truyện của Phạm Tín An Ninh đi thẳng vào lòng người, thực ra không cần mưỡu đầu hay bạt đuôi. Nếu phải có, thì người viết, ngoài thế giá văn chương, nên là một người phần nào đã trải qua như anh – từng xông pha trận mạc, từng đi tù cộng sản, từng vui tuổi thơ hoa mộng, từng một thời đào hoa bay bướm, rất chiu chắt tình bạn, và bây giờ được bình tâm ôn chuyện xưa … Người như thế không hiếm trong số các bạn hữu đông đảo của anh. Nhưng anh Ninh lại thích dành danh dự cho một người hoàn toàn không đạt được một tiêu chuẩn nào trong các tiêu chuẩn trên – một độc giả thầm lặng trong số hàng vạn độc giả của anh.

Độc giả này chỉ có mỗi một ưu thế là cư ngụ chung với tác giả trên một vương quốc nhỏ bé yên bình miền Bắc cực. Và vì là đồng cư của anh, trong thời gian gần đây, hầu như mỗi tuần độc giả này lại nhận được một điện thư hỏi “Bạn ở Na-uy có biết Phạm Tín An Ninh không, sao viết cảm động thế ?” Câu trả lời rất đơn giản: Phạm Tín An Ninh là một người sống thiết tha, và viết chân thành. Văn anh trở thành một dòng chảy hồn nhiên bắt nguồn từ đời sống và song song với đời sống. Anh kể về đời tù cải tạo ở Nghĩa Lộ với cùng một giọng đôn hậu như khi kể về tuổi thơ ở Vạn Giã, Nha Trang.

Anh Ninh sống thế nào viết thế nấy. Nhờ đó, mỗi câu chuyện, dù rất lạ lùng, ẩn hiện bóng dáng quen thuộc của chính người đọc. Nhiều hình ảnh đẹp khó tìm thấy trên đời (như quản giáo Nguyễn Văn Thà trong truyện ruột Ở Cuối Hai Con Đường), không cần tác giả cam đoan có thật, ta vẫn muốn tin là có thật, để đời đáng sống hơn. Đọc Phạm Tín An Ninh ta có cảm tưởng như những mảnh đời phiêu bạt tha thiết gọi nhau, sum họp trong lòng mình. Chuyện vinh nhục đời lính, chuyện đắng cay tù cải tạo, chuyện HO ở tuổi tri thiên mệnh … từ trên 30 năm nay đã hàng ngàn người kể, đến nỗi sắp thành nhàm chán, bỗng Phạm Tín An Ninh xuất hiện, khai quật những di tích mới.

Làm mới chuyện cũ, biến chuyện cũ thành gần như cổ tích thời đại, là đóng góp đặc sắc nhất của anh trong văn đàn hải ngoại. Khác với cổ tích thần tiên, truyện của anh chứa nhiều nghịch cảnh, đọc dễ chảy nước mắt, nhưng chúng ta có thể yên tâm mà đọc, vì trong mọi nghịch cảnh, kể cả thảm cảnh thù hận và tình yêu tan vỡ, Phạm Tín An Ninh không bao giờ dập tắt ngọn nến cuối cùng – niềm tin.

Trên con đường thành công quá bất ngờ, anh thường tâm sự mình không phải là nhà văn. Nhưng anh đã cầm bút như bất cứ nhà văn lớn nhỏ nào – khai thác đời sống. Anh tìm người. Anh săm soi tìm người, và anh may mắn hơn Diogènes – không cần thắp đuốc lang thang, anh vẫn thấy bóng người ở mọi ngả đường. Dù đôi khi dáng người mờ nhạt sau dáng thú – như nơi nhân vật Hồng Hương trong truyện Chiếc Nhẫn – anh vẫn phù chú ‘bắt’ đương sự cởi bỏ lốt thú. Hoặc giả trong những tình huống hoàn toàn bế tắc – như trong truyện Ba Dòng Nước Mắt, một phiên bản mới của Lưu Bình Dương Lễ – anh lại khai thông, cho tất cả chảy về hồ thủy chung, cái chung thủy không chỉ cần thiết cho tình vợ chồng. Thủy chung với nhau và thủy chung với căn tính con người hình như là đặc tính của cả văn lẫn người Phạm Tín An Ninh.

Nhờ sống và nhìn đời bằng phong thái ấy mà anh cho chúng ta thấy ở cuối mọi ngả đường luôn hiện ra một điểm hội tụ sáng ngời nhân tính.

Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân, tập truyện của Phạm Tín An Ninh

Đối với người lính chiến miền Nam Việt Nam, chỉ cần nhắc tên một ngọn núi, như Núi Tà Dôn hay Chu Pao, một con đường, như Quốc Lộ 14, Tỉnh Lộ 7 B; một đồ vật như đôi giầy “xô”, cái nón sắt… là có thể tâm hồn òa vỡ. Vết thương lính có thể lành nhưng ký ức không bao giờ phai nhạt. Nó bừng lên nếu có ai bật nút. Phạm Tín An Ninh là một trong số người bật nút tài tình vào bậc nhất hiện nay. Năm ngàn (5000) cuốn Ở Cuối Hai Con Đường được bán sạch trong vòng một năm chứng tỏ sau 35 năm kết thúc cuộc chiến, truyện lính vẫn hấp dẫn, không riêng đối với lính mà với mọi người ít nhiều có liên hệ tới cuộc chiến. Nếu đặt Ở Cuối Hai Con Đường trong hoàn cảnh thị trường sách và tình hình đọc ở hải ngoại ngày nay, thì tập truyện này là một hiện tượng.

Tôi là người ngán đến mang tai truyện chiến tranh (dù hay như Platoon hay buồn nôn như Deer hunter, thấy trên TV là tôi bật đài khác liền, bởi vì trong những phim ấy tôi chỉ thấy Mỹ và Việt Cộng, không có “Ta” trong đó, “Ta” đã bị loại ra khỏi vòng chiến ngay từ đầu; (nếu có “Ta” là đi đôi với những tướng tá lệ thuộc, ươn hèn). Nhưng tôi thích truyện PTAN. Bạn bè tôi cũng thích và chúng tôi hỏi nhau tại sao chán phim chiến tranh mà độc giả – cả lính lẫn dân – lại thích truyện PTAN? Câu trả lời đơn giản là vì PTAN không kể chuyện chiến tranh (thản hoặc chỉ lấy chiến tranh làm bối cảnh). Anh kể chuyện lính, tức là kể về những con người, trong đó “đánh đấm” chỉ là một khía cạnh. Và không phải người lính đơn độc, mà người lính gắn liền với người dân, với một mối tình. Người lính không chỉ có kiêu hùng mà còn lãng mạn, nhân bản, vị tha. Hình ảnh người lính của PTAN không phải đẹp với bộ quân phục mà đẹp trong suy nghĩ, trong tâm hồn.

Độc giả sẽ thấy những nét đặc thù đó nổi bật hơn nữa trong tập truyện Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân.

Hai anh lính trẻ nhận được hai tấm khăn thêu và hai lá thư ‘sao y chánh bản’ tới tận trường tìm cô em gái hậu phương, để sau đó một người thành người tình bạc mệnh, một người thành nhà sư canh mộ cho bạn mình (Gói quà đầu năm). Anh lính Biệt Động Quân gùi đứa con trai bốn tuổi sau lưng, mở đường máu cho đồng đội, để cuối cùng bỏ xác, bỏ con trên rừng thẳm (Rừng khóc giữa mùa xuân). Cô gái cán bộ lâm trường người Hà Giang yêu anh lính tù cải tạo, giúp anh bản đồ, địa bàn và lương khô để vượt ngục; cuộc đào thoát thất bại, cô tưởng anh đã chết, sáu năm mới đi lấy chồng, nhưng anh vẫn còn sống và trở thành một vị thầy tu… (Nghỉ hè ở Mallorca). Những anh lính trẻ hành quân tại Ngân Sơn không bao lâu, ngày lên đường, trên đoàn xe GMC của tiểu đoàn, thấp thoáng những cô dâu mới trong bộ đồ lính trận (Người lính trinh sát). Sau cuộc chiến, dù là người bại trận, họ vẫn luôn dang hai tay ôm lấy cái tình huynh đệ, cố giữ hào khí, tư cách của ngày xưa (Những cánh đại bàng sau cơn bão lửa). Nhiều năm khốn khổ trong lao tù, trở về với một gia đình tan nát, người lính vẫn chịu đưng bao dung, bao nhiêu nỗi oan khiên gởi theo hồn tiếng sáo (Tiếng Sáo).Về già, ngồi “điểm danh”, nhớ thương từng đồng đội cũ, tiếc nuối bao kinh nghiệm chiến trường giờ không biết còn truyền lại cho ai (Lá rụng không về cội)…

Đó là những hình ảnh tưởng chỉ có trong phim về chiến tranh Nam-Bắc Mỹ hoặc Chiến tranh và Hòa bình tại Nga. Nhưng đó là những hình ảnh con người trong chiến tranh Việt Nam. PTAN thu được những hình ảnh đó nhờ anh là lính chiến; anh kể lại chi tiết từng địa danh, năm tháng, không hẳn vì nhờ có trí nhớ tuyệt vời, mà chính vì anh không thể nào quên. Nhưng yếu tố quan trọng không kém khiến cho truyện PTAN có giá trị đặc biệt, là anh có một triết lý riêng để lý giải tất cả mọi việc trên đời – thái độ trước định mệnh.

Cuộc đời trong thế giới PTAN đầy oan trái, và đầy tính định mệnh. Nhưng các nhân vật không thúc thủ trước định mệnh. PTAN tin ”xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều”. Truyện PTAN thường cực kỳ éo le, chằng chịt khúc mắc, dàn dựng khác với phép dựng kịch (dramaturgy) của truyện ngắn cổ điển (vả lại, có bao nhiêu nhà văn Việt Nam viết truyện ngắn theo sách vở?). PTAN dàn dựng truyện như thế này:

tình cờ – hạnh ngộ – chia ly – đi tìm – thấy – xử trí theo tình nghĩa.

Các truyện trong Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân, vì thế, phần nhiều là bi kịch, nhưng luôn luôn có hậu, khuynh hướng mà đa số độc giả trông đợi. Nhờ thế, đọc truyện Phạm Tín An Ninh, dù chảy nước mắt nhưng ai cũng phải hài lòng.

Tâm Thanh

 

LƯU VONG… HAY LƯU ĐÀY?

chuthuynguyen

có khi nằm lại
chỉ để lắng nghe thử
như giả vờ lúc mình hôn mê
tiếng chim sẻ ở Austin, Texas
tiếng chim sẻ ở Santa Ana, California
tiếng chim sẻ ở Worcester, Massachusetts
hay tiếng chim sẻ ở quê nhà Việt Nam
thanh âm chúng lọc qua tai tôi giống nhau
màu bộ cánh chúng lọc qua mắt tôi giống nhau
dáng vẻ cùng cách mổ rỉa của chúng lọc qua tâm thức tôi giống nhau

tôi là người da vàng
tôi nói tiếng Việt mẹ đẻ cha nuôi
tôi đủ trí khôn để biết mình lưu vong
trên xứ sở của người da đỏ, da trắng, da đen
người da đỏ chỉ vào người da trắng bảo tôi họ là kẻ lưu vong
người da trắng bảo người da đen là kẻ lưu vong
người da đen chỉ vào mặt tôi da vàng
mới đúng là người lưu vong

sáng nay lúc chạy thể dục qua ngang lùm Forsythia đã rụng lá
vẫn nghe ồn ã láo nháo tiếng chim sẻ quen thuộc
tôi dừng lại
chúng im bặt giả lơ không nhìn tôi
tôi nhìn chúng đang tụm vào nhau ấm cúng hạnh phúc chợt thầm nghĩ
chẳng biết con sẻ bên nhà
con sẻ bên tàu
con sẻ bên Nhật
con sẻ bên Ả Rập hay con sẻ bên Hiệp Chủng Quốc nầy mới là kẻ lưu vong?

mệt quá
chỉ biết rất rõ đến giờ nầy cái thằng tôi là kẻ lưu đày…

Chu Thụy Nguyên

CƠN GIÓ MANG HỒN TUỔI THƠ (TT)

ledachoanghuu

Đầu tháng tám lịch Ta là đầu tháng chín lịch Tây trời vẫn còn mưa nhiều. Má nó đi chợ thị xã về mua rất nhiều đồ đạc, tập vở, cặp táp, giày dép, quần áo mới cho hai anh em nó, vừa về tới nhà là lục ra liền rồi kêu hai anh em mặc thử, cái áo trắng tinh và cái quần sọt xanh thiệt là đẹp và rất vừa vặn, hai anh em thích ghê nơi.
Sáng mùng năm tháng chín hai anh em được má chở trên chiếc Mobylette đi khai giảng đầu năm học. Vậy là bắt đầu được đi học lại. Nó tiếp lớp bốn còn anh nó lên lớp sáu, trường xa hơn má nó phải đưa đi đưa về.
Nó có bạn bè mới, nhà trường mới và học cũng có mới. Không giống hẳn như ngày còn học ở Sài Gòn, nó được học tập đọc, viết chính tả, tập làm văn, không còn học môn công dân giáo dục mà thay bằng môn đạo đức, học địa lý, lịch sử… Được cho học thuộc lòng Đất Nước ta giàu và đẹp với rừng vàng biển bạc, đất quê ta mênh mông, phì nhiêu, dân nước ta anh dũng, thông minh, cần cù chăm chỉ… Môn lịch sử nó được học về các trận đánh đuổi thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và bè lũ Ngụy tay sai… Những trận đánh quân ta tiến công như vũ bão, mưu trí đánh tan tác hàng chục hàng trăm xe tăng máy bay, tiêu diệt hàng ngàn tên địch. Được học những gương anh hùng nhỏ tuổi gan dạ kiên cường trong chiến đấu…
Với nó được đi học trở lại là nó rất vui, không gì tả bằng! trường học cách nhà hai cây số, cứ lững thững bộ hành đi về cùng bạn bè lối xóm.
Đi học một buổi sáng, buổi chiều chủ yếu là đào trùng làm mồi cắm câu và câu cá, chỉ quanh quẩn những cái búng cái bàu gần nhà, nhứt là mấy sào ruộng nhà nó, lúc này ruộng lúa bắt đầu đồng đồng nên cá rất nhiều, nhiều nhứt là cá rô, có cá trê và cá lóc nhưng ít thôi. Những buổi chiều như vậy thiệt là khoái chí, anh em xách từng xâu cá về cho má, ăn chưa hết rộng đầy cả cái khạp nước. Ốc và cua thì nhiều vô kể, bắt loại này đỡ hại cho lúa lắm bởi nó phá ghê nơi, ốc dạt sát bờ ruộng cứ men theo mà lượm, cua bắt khó hơn và đôi lúc phải mò vô hang. Bắt cua trong hang có khi còn tìm được lỗ mọi, lỗ ngay bờ ăn sâu dưới đất thông ra ngoài khó thấy được, làm nước chảy hết trong ruộng mang theo cả phân bón nữa, còn khi nước đầy quá mà muốn xả bớt đi, cuốc cái lỗ ngang bờ cho nước chảy ra người ta kêu là lỗ trổ, xả xong nước theo ý là đấp lại như cũ. Khoảng hai ba ngày là anh em nó lại lượm và bắt được lưng lưng nửa thùng gánh nước ốc và cua. Cua ốc luộc lên thôi là ăn đã ngon chứ chưa nói tới những món xào nấu, thêm những bữa rảnh rỗi má nó giã cua nấu nồi bún riêu cua ốc ăn mê tơi.

***

Gần cuối tháng mười Ta là thu hoạch đậu và khoai mùa sau, trúng mùa cũng không kém mùa bắp khoai vừa qua. Đậu xanh đậu đen hái trái phơi khô rồi đập hay dùng chân đạp để tróc vỏ mà lấy hột bên trong, đậu phộng thì nhổ lên lặt và phơi khô. Anh em nó phụ lặt đậu phộng, nhưng phụ lặt đủ để đem đậu tươi luộc ăn chơi, ăn tới nồng lỗ mũi.
Trời đã ngớt mưa, chỉ còn lưa thưa vài cơn mưa nhỏ. Sắp sửa kết thúc mùa mưa. Lúa tới lúc hột no sữa thì trổ lỗ trổ xả hết nước. Ngay mấy lỗ trổ ba nó đặt mấy tấm lưới, nước đổ dồn về đây, cá đi theo bắt được khá nhiều, nhưng nhiều phải kể là tép, tét nhiều đến nỗi búng nhảy lấp lánh dưới ánh nắng thấy từng mảng, từng vệt nhìn rõ ràng, bắt được đầy rổ bọng, rổ bọng to như cái thúng lớn, nan đan thưa hơn và bằng cật tre chớ không như thúng mủng, tép xào ăn liền ngọt sớt, còn dư làm cả khạp mắm tép nữa.
Xong đậu khoai là lúc lúa chín, những bông lúa nặng trĩu vàng rực tỏa hương thơm lừng, những buổi chiều nắng vàng tỏa xuống lúa càng óng ánh, có những chỗ lúa trĩu nặng thân cây đỡ không nổi nên ngã rạp xuống hết. Ba nó và mấy chú đầm cái sân cạnh ruộng, trên miếng đất trồng đậu vừa xong để gặt lúa phơi cho gần. Lúa nhiều gặt tới mấy bữa, lúa cắt khúc ngắn bó thành từng bó chất trên sân mướn cặp bò để đạp chớ không cắt dài mà đập bồ lâu công hơn. Lúa gặt chưa gom kịp bỏ đầy đồng mấy bữa chẳng xê dịch nhúc nhích chút nào, mà nói chi lúa ngoài đồng, cây trái ngoài vườn, nhà nhiều lúc cửa mở toang hoát cả ngày đêm chẳng có ai coi cũng hề gì, có người đi ngang còn khép cửa lại dùm.
Đêm rằng sáng trăng, tranh thủ buổi tối gió mát cho bò đạp lúa. Hai anh em nó và mấy đứa bạn chòm xóm, bạn học thay phiên nhau cầm roi đi sau cặp bò quất vào mông cho nó đi vòng tròn đạp lên những bó lúa chất cũng thành vòng tròn cho hột lúa rã ra rồi quây quần bên nồi chè bự tổ chảng của má nó nấu. Ba nó và mấy chú trong lúc chờ cho lúa rả hết, cũng khá lâu, chừng hai tiếng đồng hồ một nhã (một lần) lấy cái gãy xốc lúa ra lúa rạ ra rạ thì ngồi lai với xị đế, mồi mỡ cũng hương đồng gió nội, trái bí trái bầu hấp cá, trái mướp xào lòng gà vịt…Chú Tư râu nói mà như hỏi:
“Xong lúa vậy là coi như hết việc anh Hai hén”.
Ba nó chưa kịp trả lời thì chú Ba Mạnh, người phốp pháp, nhìn to khỏe như con trâu, đúng y cái tên Mạnh, tụi con nít mới nhìn là sợ phát run, chú cứ như ông Trương Phi chỉ thiếu bộ râu, ấy vậy chú lại ít nói và hiền khô như cục đất, thật thà như gốc rạ, chú hỏi nho nhỏ:
“Ủa, vậy khoai mì anh Hai đào một mình hả, hổng kêu tụi tui nữa hà?”.
Chú Tư râu tiếp lời:
“Thì còn có khoai mì, ảnh rỉ rả đào mươi bữa nửa tháng là xong, cần gì nhiều công”.
Chú Ba Mạnh không nói gì chỉ thấy thoáng buồn hiện lên trên nét mặt. Ba nó nâng ly rượu xây chừng:
“Nè, uống cạn cái nè”.
Ực cạn ly rượu ba nó chậm rãi:
“Mấy chú cứ lo, tui lại đang sợ hông đủ sức mà làm”.
Chú Ba Mạnh mặt giãn ra, chú hớn hở như trẻ con:
“Có việc hả anh, anh nói nghe chơi”.
Ba nó tiếp:
“Vụ khoai mì anh em tiếp tục phụ tui, xong nhờ thêm mấy chú nữa chớ dễ có nghỉ, nhờ mấy chú cùng tui vô rừng kiếm mớ cây, mớ tranh, tre thì sẵn đây” – Ba nó đưa tay chỉ mấy bụi tre cuối đất, nói tiếp: “tui tính làm thêm hai cái chái bên nhà chớ chật chội quá rồi đâu đủ chỗ để đồ”.
Chú Ba Mạnh cười hề hề, tiếng cười của chú nghe cũng hiền khô. Chú Tư râu cười lớn:
“Đúng rồi, anh Hai phải làm thêm chớ, lúa má, bắp trái để ở đâu, hổng chừng còn phải làm thên căn nhà lớn ăn ở tiếp khách, căn nhà này để làm bếp và kho chứa đồ”.
Ba nó cũng cười:
“Tui cũng dự định vậy nhưng chưa nổi đâu chú, nếu rảnh rỗi thì cứ kiếm dần dần, bộ cột, bộ kèo, đòn tay, cặp trính… tới đủ thì làm luôn, mấy chú cũng tính từ từ như vậy là vừa”.
Chú Ba Mạnh gật gù, đưa ly mời ba nó:
“Anh Hai nói có lý, kiểu gì cũng phải có cái nhà đàng hoàng”.
Đạp xong hai nhã lúa thì ba nó kêu nghỉ ngơi, còn bao nhiêu mai mốt làm tiếp. Nồi chè của tụi nó cũng sắp cạn, tụi nó xúm một lượt nữa là cạn queo luôn rồi rã đám hẹn mai đi học gặp lại.

***

Gặt hết lúa ba nó mướn chú Ba bừa cày ải đất để mùa tới. Kêu là chú Ba bừa mà chú cày luôn, chú có hai cặp bò chiến lắm, và thêm cỗ xe nữa, ai cần chở gì nhiều đều kêu tên chú. Cày đất xong lúc ngồi nhâm nhi với ba nó chú hỏi:
“Anh Hai nè, đất anh tốt, mùa này mưa nhiều còn giữ ẩm lâu sao anh hông làm luôn vụ đậu phộng trái mùa?, coi vậy chớ ngon ăn lắm chớ hông có giỡn đâu nghen”.
Ba nó gật đầu:
“Cảm ơn chú, tui biết nhưng sức lực có hạn chớ tham quá hổng được, hổng chừng thâm luôn, tại còn nhiều việc khác”.
Chú Ba bừa chặc lưỡi:
“Tiếc quá anh, tui thấy đất đẹp vậy mà”.
Ba nó chợt nảy ra sáng ý, chỉ chú ba Mạnh:
“A, mà nè hay chú Tư và chú Ba làm đi, khoai mì để tui từ từ đào, làm xong rồi phụ tui làm chái nhà”.
Chú Tư râu chần chừ:
“Nhưng tụi tui đâu đủ vốn liếng…”
Ba nó ngắt lời:
“Có gì đâu nè, đất đó cày rồi giờ bừa là xong, làm được bao nhiêu thì làm, còn phân giống tui cho mượn, chừng nào khá trả lại tui”.
Chú Ba Mạnh sáng mắt lên:
“Thiệt vậy hả anh?”.
Ba nó vỗ vai chú ba Mạnh:
“Thì vậy đi chớ thiệt với giả gì nữa, mai chú Ba bừa cho tui luôn nghen”.
Chú Ba bừa gật đầu:
“Anh tính vậy còn gì bằng, sẵn tui nói luôn, tiền công bừa coi như khỏi tính, cho hai chú, vụ bừa là có Ba bừa này”.
Chú Tư râu trợn mắt:
“Vậy sao đặng, cái nào ra đó, anh cứ tính bữa nào có tiền tụi tui trả”.
Chú Ba đưa ly:
“Uống đi, nói gì đâu hông, anh Hai có tính toán gì hông, tui bừa giúp hai chú một ngày có đáng bao nhiêu, thu hoạch có dư làm bữa nhậu là huề cả làng” – Chú Ba bừa cười khà khà, ba nó cũng gật gật cười khà khà theo.
Chú Tư râu và chú Ba Mạnh trồng được mỗi người hai sào ruộng đậu phộng, đậu phộng lên xanh tốt tuy không bằng đúng mùa như nhà nó trồng. Trong lúc đó ba nó đào khoai mì. Khoai mì để củ tươi được lâu, hai ba tháng nên nhà nó giữ lại một đống để dưới gầm phản, sáng sáng luột ăn dần, khoai mì chấm muối đậu ngọt ngọt dẻo dẻo và bùi bùi. Má nó kêu người bán cũng nhiều còn một phần thì lột vỏ xắt lát phơi khô để xay thành bột, bột khoai mì làm nhiều thứ, làm bánh khoai mì, bánh quai vạt, nấu chè…
Ba bốn ngày sáng sớm ba nó và chú Ba Mạnh cùng chú Tư râu vác rựa, vác cưa, quẩy cơm nước nước đi tới chiều tối mới về. Rồi ngày nữa chiếc xe bò lọc cọc của chú Ba bừa xuất hiện, trên xe chất đầy những bó tranh, bên dưới là những cây dài có cây to hơn bắp vế, cây to bằng bắp tay người lớn. Lấy cây to làm cột, cây nhỏ làm kèo và đòn tay, chặt tre phía sau nhà chẻ hom để đánh tranh thành từng tấm lợp và lạt để cột, vài ngày sau là thành hai cái chái rộng rãi hai bên nhà. Anh nó nằm ngửa nhìn chái nhà hỏi nó:
“Ê, mày biết cây này kêu cây gì hông?”.
Nó cười ha hả, trả lời đúng phóc, nó lẽo đẽo theo nghe ba nó và mấy chú trò chuyện biết liền mà, trả lời:
“Tưởng chuyện gì dễ ẹt, em biết rồi đó là cây bằng lăng, trúng phóc đúng hôn?”.
Anh nó ký đầu nó cái cóc:
“Hay quá ha, cây bằng lăng vỏ trắng, cây này là căm xe nghe chưa”.
Ba nó đặt bác Chín ở xóm trong làm cái cối xay lúa đem về để bên trong cái chái, kề bên quây mấy tấm mê bồ thành hình trụ tròn đổ lúa vô kêu là cái bồ lúa. Bác Chín chuyên làm cối xay lúa nên mọi người kêu là bác Chín cối xay. Bác làm ai cũng nói là nhứt, làm một cái cối mất cả tháng, cối xay lúa cách xay và kiểu cũng tựa như cối xay bột gạo bằng đá nhưng to và cao hơn nhiều, có cái cần dài dứng cầm xay. Cối đan bằng nan tre, bên trong đổ đất sét cứng, tạo các răng lượt bằng những miếng gỗ mỏng, bên ngoài trét cứt trâu để bít kẻ hở và cho bền. Ba nó cũng đặt làm cái cối giã gạo đạp chân, đặt ở chỗ chú thợ mộc để trong cái chái này luôn. Lúa xay xong lấy cái nia sẩy hay cái thúng nhỏ mà giê, cũng kêu là thúng giê, nhờ gió cho bay hết trấu, còn gạo lứt đem giã rồi giừng sàng gạo trắng ra gạo trắng, lúa sót chưa tróc vỏ ra lúa, cám ra cám. Cám để dành cho heo gà vịt.
Làm xong hai cái chái ba nó với hai chú tiếp tục đi lấy củi nhưng chỉ lấy về đủ chụm chớ không có thời gian làm đem bán nữa, cũng nhờ chú Ba Bừa chở xe bò về, mấy xe chất đầy sau nhà. Tới giữa tháng chạp, ba nó chặt kèm về mấy cây mai to, gốc bự hơn cái bắp vế, gồ gề sần sùi nhìn độc đáo. Ba nó đốt lửa thui gốc trồng vô chậu, lá thì lặt hết, cột cành uốn cong qua lại.
Chuẩn bị Tết năm nay má nó chuẩn bị cũng từ rất sớm, làm bánh mứt và đóng cốm, cốm và bánh in là nhiều nhứt. Cốm đóng từ nổ rang lúa nếp bung ra, ngào với đường đóng thành hộc, nổ má nó đổi lúa mà lấy, bánh in cũng làm từ nếp nhưng xay ra thành bột trộn với bột đậu xanh rồi cũng ngào đường đóng khuôn. Ba nó nói sang năm để hẳn một sào ruộng trồng nếp than, nếp than thơm lựng ngon nhứt trong các loại nếp, có cái để Tết và có nếp nấu xôi, và cả nấu rượu nếp than nữa. Hai mươi tám Tết mấy chú kéo nhau qua phụ mần một con heo đã gần cả tạ, để ở nhà gần một nửa con, cái đầu cúng tạ trời đất còn hơn nửa con chia xóm giềng, có ba phần đặt biệt là chú Chín, chú Tư râu và chú Ba Mạnh. Xóm giềng của ít lòng nhiều, ai có gì thì đem chia nhau một ít mà xài, nấu nồi chè dù nhỏ xíu cũng bưng một chén qua ăn lấy thảo.
Đến Tết, mai ra búp xanh non đầy cây, nở bông vàng rực rỡ, chậu to được đặt trước nhà thiệt là đã mắt, bên trong là chậu vừa vừa treo lủng lẳng những tấm thiệp xuân. Tết năm nay vui hơn năm trước nhiều, nhà cửa đông đúc, người lớn đi chúc mừng xóm làng rôm rả, thanh niên và con nít đổ cả ra đường cái từ xóm trong tới xóm ngoài, có tiền rủng rỉnh xúng xính quần áo mới chơi bầu cua cá cọp, ba hột xúc sắc xốc xốc dở dở. Pháo nổ đì đùng liên hồi, bắt đầu từ ngày đưa ông Táo lận rồi lai rai mỗi nhà cúng Tất niên sớm trễ, tới Giao thừa thì pháo nổ rần rần, sáng mùng một cũng nổ nhiều rồi từ từ ít dần cho tới cỡ mùng mười. Ở thôn quê pháo nổ vang xa cả vài cây số vẫn nghe, cứ nghe tiếng pháo là chộn rộn thấy không khí Tết đến rất háo hức, nhứt là đám con nít tụi nó, nhiều thằng nghịch tặc bày nhiều trò, làm pháo tên lửa, thăng thiên bay chéo chéo, đốt pháo hù nhiều cô gái, và nhứt là cắm viên pháo lên bãi cứt trâu còn nhão đốt rồi lấy cái lon sữa bò đậy lại, pháo bị ép nổ bung cứt trâu bay tứ tán, dính bê bết áo quần những cô nàng xinh đẹp đi chơi Tết thiệt là chỉ muốn khóc…

***

Hai năm sau, năm 1977 và 1978 trôi qua gần gống như năm 1976. Nó lên lớp sáu và đi học xa hơn, cách nhà bốn cây số, được ba mua cho nó chiếc xe đạp mini đạp đi về. Chỉ vài sự việc xảy ra ở làng xóm trong hai năm này.
Đó là một lần vừa đi học về, nó thấy mấy chú công an, xã đội và du kích tay áo quấn băng đỏ, bồng súng chạy ầm ầm bao vây nhà thím Bảy Hảo bán quán, chú thím Bảy chỉ biết đứng run cầm cập, mặt mày tái lét, không nói nên lời nào. Mấy chú này cũng chẳng nói gì nhiều, một số người nhào vô lục lọi khắp nhà, dở tung hết đồ đạt lên, cả mấy cái giường ngủ, một người chừng là đứng đầu nhóm nghiêm mặt hỏi:
“Bà là cháu ông Sèn ù phải không?”.
Thím Bảy lắp bắp:
“Dạ…dạ, dạ chồng tui mới… mới là cháu ổng, mà bà con xa lắc xa lơ…”.
Người đàn ông hỏi tiếp:
“Xa gần gì cũng là bà con, ông bà có giữ gì của ổng gởi không?”.
Thím Bày lí nhí:
“Dạ, đâu có giữ gì, mà mấy chú tìm cái gì?”.
Người đàn ông trừng mắt:
“Chú cháu gì ở đây, chỗ làm việc bà phải nói là cán bộ nghe không”.
Thím Bảy gật đầu lia lịa:
“Dạ, dạ, dạ thưa cán bộ”.
Người xưng là cán bộ nói tiếp:
“Tui hỏi một lần nữa thôi nghe, bà phải thành thật khai báo, bà dấu diếm mà tụi tui lục soát được là bà chết đó”.
Thím Bảy rưng rưng:
“Dạ, thưa cán bộ tui đâu có dấu cái gì, tui nói gian… ra đường xe cán…”.
Người cán bộ ngắt lời thím Bảy:
“Thôi, thôi, thề thốt gì, tào lao quá đi, thời buổi này là thời buổi gì còn thề thốt, thời mới bây giờ là chỉ tin vào chính quyền thôi nghe không?.
Thím Bảy dạ răm rắp, người cán bộ ra lịnh cho cấp dưới:
“Đồng chí Mừng lấy máy đi rà hết cho tôi, rà trong và vòng vòng xung quanh nhà luôn, không được bỏ xót chỗ nào”.
Người có tên Mừng đứng nghiêm trước mặt người cán bộ:
“Báo cáo đồng chí, rõ” – và đi lấy cái máy rà, rà như người cán bộ nói, rà xong hết quay lại chỗ người cán bộ: “Thưa đồng chí, đã rà kỹ rồi nhưng không thấy gì hết”.
Người cán bộ lộ rõ vẻ bực mình chửi đổng:
“Mẹ kiếp cái thằng Ba Tàu Sèn ù này không biết nó tẩu tán tài sản ở đâu, tìm thấy mẹ vẫn không ra” – Một hồi sau ra lịnh tiếp: “Thôi rút”
Một người trong toán hỏi:
“Còn mấy cái bao này tính sao đồng chí?”.
“Thì tịch thu đem về xã chớ sao, vượt quá quy định buôn bán lẻ”.
Toán người vác hai cái bao lên mấy chiếc Honda 67 nổ máy chạy đi. Má nó chạy qua nhà thím Bảy, lính quýnh hỏi:
“Họ có lấy gì hông vậy?”.
Thím Bày còn hồi hộp, nói nho nhỏ:
“Chỉ lấy hai bao mấy đồ linh tinh thôi chị, may quá tui gởi bên vườn nhà chị chớ hông là tiêu hết rồi, với lại họ chủ yếu tìm vàng vòng của ông Sèn ù, chú chồng tui, ông này đi đâu rồi, tài sản ổng chẳng biết ra sao, họ nghi ngờ gởi ở chỗ tui”.
Má nó à lên:
“Thì ra là vậy, nghe đồn là đang chiến dịch oánh tư sản”.
Thím Bảy gật đầu:
“Đúng rồi đó, nghe đâu dưới thị xã nhiều hãng nước mắm, nhiều xưởng đông lạnh, khách sạn, rạp hát hay nhà làm ăn lớn đều bị tịch thu hết rồi, bây giờ nhà nước quản lý”.
Thím Bảy lấy đồ dấu ở sau vườn nhà nó về, cất kỹ sau nhà, không treo nhiều đồ trước nữa, mà cũng mấy thứ linh tinh, xà bông, bột ngọt, đường và mắm muối mà người ta nói bây giờ không cho tích trữ. Còn ông Sèn ù là người nổi tiếng giàu có ở thị xã, ông có nhà vườn cách nhà nó khoảng cây số nhưng biết vậy chớ chưa bao giờ thấy ông ở đó từ ngày nhà nó về đây. Trước bữa lại lục soát nhà thím Bảy, toán người này cũng đã lục soát nhà ông Sèn ù rồi sau đó niêm phong nhà luôn.
Một tuần sau cái ngày lục soát, toán người cũ quay trở lại trên chiếc xe lam, họ dẫn giải chú Bảy đi đâu không rõ, không ai biết kể cả vợ con chú, biệt tăm biệt tích khoảng chừng sáu tháng sau thì chú Bảy lủi thủi một mình trở về, nhưng kể từ đó về sau cũng không ai biết điều gì xảy ra bởi chuyện này nửa lời chú cũng không hé môi, ai hỏi chú liền lảng qua chuyện khác.
Trong hai năm này lâu lâu nó lại thấy những chiếc xe Molotova nối đuôi nhau thành đoàn dài hơn cả cây số chạy từ hướng Sài Gòn ra hướng bắc, tới khoảng xóm nhà nó thường dừng lại, xin nước dân làng nấu nướng nghỉ ngơi qua đêm, hỏi xe chở gì mấy chú này cũng không rõ chỉ biết chở chiến lợi phẩm từ miền Nam. Mấy chú thường hay hỏi mua khoai lang khô của bà con đóng bao chở về, có bao nhiêu muốn bán cũng mua hết, mấy chú nói ngoài đó khan hiếm hàng hóa mua về bán kiếm thêm chút tiền lời. Những chiếc xe Molotova nổ máy bằng cách đút cái cần bằng sắt trước đầu xe mà quay bần bật, chạy xình xịch chầm chậm.
Rồi thêm những lời đồn ra đồn vào, đồn nghe ớn lạnh cả người lớn chớ không chỉ trẻ nít như tụi nó, như ai để móng tay dài hay sơn móng tay là sẽ bị chính quyền rút móng, ăn mặt như dân híppy áo dài phủ đít quần ống loe sẽ bị lấy kéo sởn ngắn, xẻ toạt ra, tóc tai cũng vậy phải để gọn gàng, ở sau ót hớt cao lên ba phân, phía trước chắc chắn là cắt ngắn rồi, cấm có phủ có che. Và nhứt là lời đồn làm bà con hoang mang là sẽ có chính sách đổi mới làm ăn.
Giữa năm 1978 thì có hai chiếc xe cam nhông tới bên nhà chú Chín chở hết đàn bò đi, chú Chín về thị xã mấy ngày sau trở lên, chú qua nhà nó ngồi uống rượu vừa chập tối, ba nó hỏi:
“Vậy là mấy đứa nó quyết định bán hết bò” – Ba nó ý nói mấy người con ông chú của nó. Chú Chín gật đầu:
“Dạ, bán hết rồi anh”.
“Còn nhà cửa đất cát thì sao chú?”.
Chú Chín thở dài:
“Thì để đó chớ sao anh, bây giờ đâu có bán được, ai mà mua, người ta đang chờ chính sách mới”.
Ba nó chau mày:
“Chẳng biết chính sách mới thề nào, chỉ nghe đồn đoán không, mệt thiệt”.
Chú Chín lắc đầu:
“Tới đâu hay tới đó chớ biết sau được anh ơi”.
Ba nó hỏi tiếp:
“Chú nhứt định phải đi?”.
Chú Chín giọng buồn buồn:
“Dạ, chớ đâu khác được, bò bán hết rồi, tui đâu coi sóc gì nữa, tui cũng đâu có nhà cửa đất cát gì ở đây, đi vô chỗ đứa em nó cho đất”.
“Chú nói ở Miền Tây?”.
Chú Chín gật gù:
“Phải đó anh, đi Vùng bốn chiến thuật* (Miền Tây), đứa em nói trong đó còn thoải mái, chưa nghe động tĩnh gì, với lại đất đai ở trỏng cũng tốt lắm, trồng lúa trồng vườn còn dễ hơn ở đây”.
Ba nó tán đồng:
“Đúng rồi, hồi tui còn đi quân dịch* (*đi lính) có vài lần về dưới này thấy vườn cây trái xum xuê lắm, ruộng lúa bạt ngàn, sông nước thì ôi thôi chằng chịt, cá tôm nhiều vô kể, thảy cái lưới xuống là ăn muốn mệt xỉu”.
Chú Chín mắt sáng lên:
“Dạ, anh nói chí phải, cá mắm ở dưới ê hề, nhứt là mùa nước nổi đó anh”.
Ba nó giọng trở buồn buồn:
“Thời thế biết đâu mà lần hen, mà thôi ở đâu sống tốt là được, chú đi lâu lâu nhớ ghé về chơi”.
Chú Chín nghèn nghẹn:
“Dạ, phải về chớ, nơi này tui gắng cũng đâu ít, biết bao kỷ niệm, biết bao tình thâm bà con lối xóm”.
Chú Chín và ba nó ngồi tới khuya vẫn chưa về, có lẽ bịn rịn chia tay và cũng từ đó, chú Chín nói sẽ ghé về lại nhưng chưa một lần chú trở lại.
Nhưng có lẽ chuyện mà đọng mãi khó phai về sau trong ký ức nó là câu chuyện buồn thê lương ở xóm trong. Xảy ra chuyện ai nấy muốn rụng rời, hai đứa trạc tuổi nó có chơi chung nhiều lần lượm được mấy trái rất đẹp, thân màu bạc sáng có đầu tròn vàng ươm, vậy là đập thử chơi mà không biết đây là trái lựu đạn rơi vãi, đạn phát nổ và cả hai tử vong, thân xác không toàn thây, đứa mất tay, đứa chưn cẳng chẳng còn nguyên vẹn. Tiếng gào thét xé lòng của mẹ hai đứa bạn: “Hòa bình rồi sao lại thế này, Trời hỡi Trời ơi!”.
Tuổi thơ không nhớ dai, tuổi thơ mau quên với nhiều trò vui nơi cánh đồng, dưới bầu trời xanh, nếu bỏ qua vài chuyện như vậy thì hai năm trôi qua bình yên, những năm tuổi thơ của nó thật dịu dàng hồn nhiên với cỏ cây, hoa lá, với rơm rạ với đất cày…

***

Năm tiếp theo thì hoàn toàn khác. Và bắt đầu từ đó thì hoàn toàn khác.
Vừa ăn Tết xong bà con thấy lục tục mấy người trên xã chở xuống cái thanh tà vẹt đường ray xe lửa bằng chiếc xe lam. Treo ngay nhà ông Sáu Hoàng cách nhà nó khoảng nửa cây số, nhà ông Sáu Hoàng là nhà tường quét vôi lợp tôn xi măng, nhà rộng lớn, ông ở đây đã lâu đời, cạnh nhà ông có con đường xe bò đi vô xóm trong và vô rừng. Treo xong họ lấy thanh cây sắt gõ thử nghe kêu keng keng vang rất xa, người đánh người chạy tuốt luốt gần cả cây số thử có nghe không, chạy lòng vòng đánh rùm beng cả buổi trở lại nhóm người gật đầu, tốt, nghe rõ hết xóm, cái kẻng này là hết ý. Vậy là họ làm cái kẻng.
Buổi chiều chạng vạng có tiếng loa loa lập đi lập lại vang lên:
“Alô alô, bà con xóm mười tới xóm mười bốn ghe đây, đúng bảy giờ ba mươi ngày mùng mười mời chủ hộ tập trung về nhà ông Sáu Hoàng để họp, nghe chỉ thị chủ trương của nhà nước, phải đi họp đầy đủ, ai không đi sẽ mất quyền lợi về sau, alô alô…”.
Nó nghe tiếng rất quen, chạy ra coi thì đó là tiếng của chú Tư râu, nó chạy vào nói với ba nó:
“Chú Tư râu đi alô ba ơi”.
Ba nó trầm ngâm:
“Ba biết rồi, mà hông được hổn, chỉ kêu chú Tư thôi nghe chưa”.
Nó lý nhí:
“Dạ”.
Sáng ngày mùng mười, bà con bốn xóm tụ tập đông đủ ở nhà ông Sáu Hoàng. Trước nhà, trên cái sân xi măng đã được dựng thêm cái rạp, phía bên trong gần cửa nhà sắp bộ bàn ghế ở giữa rạp trải khăn bàn trắng, bốn người ngồi ở đó im lặng nghiêm trang cầm tập giấy lật tới lui coi đi coi lại, xéo xéo cái bàn này là bàn với hai người ngồi với tập giấy và cầm sẵn viết, mấy chú du kích người bồng súng người súng vắt vai nghiêm nghị, mặt sắc như tiền, có người còn nghênh nghênh đi vòng vòng xung quanh. Bà con được kêu ngồi hết xuống sân. Mùng mười nhằm ngày chủ nhật nên đám con nít tụi nó cũng lu bu chạy tới lấp ló coi họp hành ra làm sao.
Đúng tám giờ, một người ngồi giữa chỗ bàn trải khăn đứng dậy trịnh trong:
“Kính thưa đồng chí bí thư” – Người này nhìn qua người kế bên rồi quay qua phía bên ngược lại: “Thưa đồng chí xã đội trưởng, đồng chí trưởng công an xã, thưa bà con, bà con biết rồi tui là chủ tịch xã, hôm nay tui điều hành cuộc họp này để phổ biến chỉ thị chủ trương của nhà nước ta, mời bà con bắt đầu dự họp”.
Ở dưới có tiếng xì xào to nhỏ, bàn hai người cầm viết bắt đầu viết. Ông chủ tịch xã cầm xấp giấy đánh máy lên bắt đầu đọc: “Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Độc lập – Tự do – Hạnh phúc. Tỉnh… ngày… tháng… năm…Căn cứ…. căn cứ…. Quyết Định…”
Ông chủ tịch xã đọc hết trang giấy xong, dừng lại một chút. Bên dưới bà con ngơ ngác. Người hỏi râm ran qua lại, hợp tác xã là sao, hợp tác xã là như thế nào?, người lắc đầu, người không hiểu. Ông chủ tịch nói tiếp:
“Thưa bà con, như vậy là quyết định thành lập hợp tác xã nông nghiệp, xã ta chia làm bốn hợp tác xã, mỗi hợp tác xã có sáu đội, bốn xóm bà con ở đây hợp lại là đội sáu, gồm năm mươi hai hộ gia đình, thuộc hợp tác xã hai”.
Một người đứng dậy hỏi:
“Thưa ông chủ tịch, hợp lại rồi làm ăn ra sao?”.
Ông chủ tịch chậm rãi:
“Bà con yên tâm, tui sẽ trình bày ngay đây, vào hợp tác xã là bắt buộc và có lợi cho bà con, đất đai, ruộng vườn và tư liệu sản xuất như trâu bò quy về một mối, đội với hợp tác xã quản lý, cùng làm ăn chung, bà con chỉ bỏ sức lao động ra thôi, còn mọi thứ khác như giống, phân… bà con không phải lo, tất cả đã có nhà nước lo, làm tính công điểm, công lao động người lớn là mười điểm một công, công lao động phụ trẻ em dưới mười tám tuổi là năm điểm, đến hết mùa điểm được quy ra lúa, ra bắp, ra khoai thu được, làm bao nhiêu điểm hưởng bấy nhiêu…”.
Có một người lớn tuổi đứng dậy cắt ngang với giọng tức tối:
“Làm như vậy khác gì cướp đất, cướp bò của bà con bỏ vô hợp tác xã”.
Ông chủ tịch giải đáp giọng có gằng hơn:
“Không phải vậy, nhà nước ta là nhà nước công bằng, bà con vào hợp tác xã là không còn bất công, không còn cảnh người giàu kẻ nghèo, làm thuê làm mướn, bóc lột sức lao của người không có đất có vườn”.
Một người nữa đứng dậy định nói, ông chủ tịch ra hiệu ngồi xuống rồi nói luôn:
“Thôi cuộc hợp hôm nay để thông báo cho bà con được rõ, chuẩn bị tinh thần đến đây là kết thúc, chúng tôi sẽ thông báo ngày họp tiếp theo để triển khai chi tiết, chào bà con”.
Ông chủ tịch xếp tập giấy bỏ vào cặp táp cùng ba người ngồi cùng bàn và hai người ngồi viết với mấy chú du kích đi ra, người lấy xe Honda, người lấy xe đạp chạy đi để lại bao ánh mắt ngỡ ngàng của bà con bốn xóm. Tan hàng ra về vẫn còn lao xao, như vậy là ăn cướp, như vậy là ép buột chớ công bằng cái gì, công sức người ta bao nhiêu năm coi như mất trắng, một số người thì gật gù đồng tình, tui thấy hay đó chớ, làm chung đông vui, cùng hưởng cùng làm giàu…”.
Về tới nhà ba nó ngồi phịch xuống, người thẩn thờ, má nó rót lý nước:
“Ông uống nước đi, làm gì như người mất hồn vậy?”.
Ba nó thở dài thường thượt trả lời:
“Mất thiệt rồi chớ gì nữa”.
Má nó lo lắng:
“Có chuyện gì dữ vậy?”.
“Mất hết rồi, đất cát mất hết rồi…”.
“Là sao, chuyện gì ông nói rõ coi”.
“Là phải giao đất hết cho vô hợp tác xã, cùng làm ăn chung ăn chạ”.
Má nó như không tin:
“Phải giao hết hả?”.
Ba nó gật đầu:
“Phải giao hết”.
Má nó cũng ngồi phịch xuống thẩn thờ, hồi sau má nó lầm rầm:
“Thôi kệ chớ biết sao bây giờ, người ta sao mình vậy”.
Một tuần sau chú Tư râu lại đi thông báo bằng cái loa tay cuốn bằng tấm tôn, thông báo ngày mai đi họp tiếp.
Lần họp nầy ông chủ tịch xã nói triển khai chi tiết. Mỗi hộ gia đình được giữ lại sáu trăm mét vuông đất thổ cư, đó là đất làm nhà ở, hai sào đất thổ canh để canh tác, có nghĩa là để trồng rau củ, cây trái, ai muốn trồng gì thì tùy. Bầu đội trưởng và đội phó, nói là bầu chớ thực ra chỉ định sẵn rồi hỏi bà con có đồng ý không, ai không đồng ý vì lý do gì, lấy số đông kêu đa số thắng thiểu số. Và chú Tư râu được bầu làm đội trưởng, ông Sáu Hoàng chữ nghĩa rành rọt làm đội phó ghi sổ sách. Thành lập một tổ đo đạc, đi đo đạc đất thổ canh thổ cư cắm mốc, đo đất cát, ruộng vườn của ai còn lại xung vào hợp tác xã bao nhiêu ghi hết vào sổ.
Có người phản đối nói tại sao không để những người giỏi, những người có trình độ làm đội trưởng, người nói chú Tư râu có học hành bao nhiêu trong khi còn có người học hành đàng hoàng hơn nhiều, có mấy người đề cử mà ba nó là người đứng đầu danh sánh.
Ông chủ tịch xã gạt ngang:
“Thưa bà con, chính quyền biết rồi, nhưng làm trong bộ máy lãnh đạo phải có lý lịch trong sạch, không dính dáng gì tới chế độ Mỹ – Ngụy, chú Tư râu hiện thời ít học nhưng sẽ được cho đi phổ cập, cho đi học thêm”.
Tới đây thì bà con hết còn ý kiến gì nữa.
Tổ đo đạc ngay ngày hôm sau là bắt đầu đo luôn. Lấy cây sào bằng cây le dài bốn thước mà phóng tới. Cây le giống cây tầm vông, le không có gai như tre ở đây, cây tre đá gai góc nhọn hoắc và đâm tua tủa.
Sau khi đo đạc đất cát xong là thu gom hết bò, cày bừa và xe bò về nhà ông Sáu Hoàng. Được năm cặp bò đực, năm cái cày, bừa, xe bò hai chiếc. Đội làm bốc thăm để hộ nào bốc trúng thì nuôi cặp bò, hộ nuôi bò mỗi ngày được ghi một công điểm. Và quy định giờ giấc, tiếng kẻng. Sáng sớm năm giờ đánh một tràng dài báo hiệu để thức dậy vệ sinh, thể dục, lo cơm nước sáng, bảy gờ đánh ba tiếng là tất cả lao động tập trung ở nhà ông Sáu Hoàng, sau đó được phân công đi làm ở đâu theo đội trưởng chỉ đạo, mười một giờ rưỡi đánh một tiếng nghỉ trưa, ai về nhà nấy, một giờ đánh tiếp ba tiếng tập trung lại chỗ làm buổi sáng, năm giờ có một tiếng kẻng kết thúc buổi chiều. Đánh kẻng ba hồi là tối đó bảy giờ tập trung lại họp.
Ba nó bốc trúng giữ một cặp bò. Cả nhà vừa mừng vừa lo. Mừng là có thêm được công điểm, có phân bò làm đất thổ canh, lo là hai anh em nó chưa bao giờ chăn bò, không biết ra sao, với lại được giữ cặp bò phải cử người giữ rẫy trong rừng, trong rừng cách làng khoảng gần ba cây số có mấy rẫy người ta phát lao tre, rồi đốt sạch cho đất rất tốt, mỗi rẫy rộng chừng hai mẫu, rẫy này đội nó cũng không biết của ai, chỉ biết hợp tác xã giao. Anh nó trấn an ba má nó:
“Không sao đâu, ba má khỏi lo, tụi con giữ được”.
Nó cũng nghĩ như vậy.

***

Đầu tháng ba là nghe tiếng kẻng. Trước đó mấy ngày là đã có tin phổ biến bắt đầu. Đúng như quy định vậy, bảy giờ có mặt tại nhà ông Sáu Hoàng, mỗi hộ ít nhứt một người, có hộ hai ba người, đoàn người hơn cả trăm lục tục vác cuốc kéo nhau đi dãy cỏ hết chỗ này tới chỗ khác. Ban đầu thấy cũng đông vui vài ba bữa sau bắt đầu xìu xìu ểnh ểnh, chia nhóm này bè nọ, người mới đầu làm hăng say sau thấy người tà tà cũng tà tà theo, vừa làm vừa tán chuyện, tới đâu hay tới đó, nhìn nhau mà làm .
Chú Tư râu thì loay hoay chạy đầu này chỉ làm cái này làm cái nọ, rồi cũng chạy tới chạy lui, thúc giục chỗ này làm nhanh lên, quát tháo chỗ kia làm chậm chạp. Đang làm anh Hải mà mọi người cho thêm biệt danh Hải tặc, bỏ cuốc móc bịch thuốc rê ra vấn hút, chú Tư râu nổi nóng:
“Cái anh kia, mọi người ai nấy làm còn anh bỏ cuốc nghỉ là sao?”.
Anh Hải im lặng vấn xong điếu thuốc, lấy lưỡi liếm cho giấy dính lại, thuốc rê còn gọi đùa là bóc lăng xe le lưỡi liếm, châm lửa nhả một làng khói anh Hải hất hàm:
“Thèm thuốc hít một hơi hổng được sao? Bắt nhịn lấy tinh thần đâu mà làm”.
Chú Tám Phèn gật đầu:
“Đúng đó, nghỉ chút hút điếu thuốc bà con ơi”.
Chú Tư Râu hầm hầm mặt:
“Hút nhanh đi rồi làm cho xong”.
Mấy người đàn ông tụm lại hút thuốc, mấy bà mấy chị cũng nghỉ theo. Chú Tư không nói được nên bỏ đi. Anh Hải chửi:
“Mẹ, cha nội dốt như bò, học ba chữ không xong bây giờ làm phách”.
Chú Tám Phèn nói theo:
“Mấy cha xã, mấy cha du kích cũng vậy chớ khỉ gì”.
Chú Tám phèn vỗ vai anh Hải:
“Chú mày ngon, lỳ đòn hen”.
Anh Hải cười trả lời:
“Hạng người này phải nói vậy”.
Vài người chửi thêm vài câu nữa.
Anh Hải có biệt danh Hải tặc để phân biệt với anh Hải đất, anh này hiền khô như cục đất, còn anh Hải có người nói giỡn giống cướp biển nên kêu là vậy nhưng chủ yếu là vì Hải là biển.
Tối tối bây giờ không còn chú Chín, chú Tư râu thì bận bịu, chỉ có chú Ba Mạnh ghé lai rai với ba nó. Một bữa ngồi nhâm nhi, chú Ba Mạnh lắc đầu:
“Tụi thấy điệu này căng quá anh Hai”.
Ba nó hỏi lại:
“Vụ gì chú”.
“Dạ, thì chuyện đi làm hợp tác xã nè, tui nghĩ khó thành quá”.
“Ý chú là kiểu cha chung không a khóc, làm cho có hả”.
Chú Ba gật đầu:
“Đúng đó anh, tui thấy kiểu làm cho xong, không biết đi về đâu, làm ẩu làm tả, nhiều người bất mãn quá”.
Ba nó thở ra:
“Tui cũng thấy rồi mà hổng dám nói, nhưng mà thôi chú ơi, tai vách mạch rừng, lỡ có gì thì chết, bỏ đi nói chuyện khác chơi”.
Chú chín gật đầu đưa ly uống cạn, ba nó và chú tiếp tục chuyện trò nhưng không còn đá động gì tới chuyện hợp tác xã nữa.

***

Một buổi tối vừa cơm nước xong chợt nghe ba hồi kẻng. Ba nó bước ra đi họp sau khi thắc mắc: “Không biết họp chuyện gì mà gấp gáp giờ mới oánh kẻng, không oánh từ sớm”.
Họp không lâu chừng tiếng sau ba nó trở vể. Má nó nãy giờ ngồi đợi:
“Họp hành nói chuyện gì vậy ông?”.
Ba nó uống ngụm trà trả lời:
“Có chuyện nữa rồi nhưng nhà mình không dính, chuyện là nhà nào có con cái đủ mười tám tuổi bắt buột phải đăng ký nghĩa vụ quân sự, chủ yếu là con trai, con gái thì tình nguyện, mà chỉ những nhà có lý lịch không dính gì tới chế độ cũ”.
Má nó hỏi tiếp:
“Đăng ký nghĩa vụ là đi lính đó phải hông?”.
Ba nó ừ:
“Nhưng đăng ký xong còn khám coi có đủ tiêu chuẩn không nữa đã, nhưng bà con đang lo lắng, nói thì vậy chớ bây giờ là đi tuốt luột hết, có chính sách tổng động viên, chiến trường ở Campuchia đang ác liệc lắm, đi là chết chín phần mười, có còn được trở về cũng bị thương tật”.
Má nó thở ra:
“Lại chiến tranh, sao khổ hoài vậy”.
Xã thông báo sau cuộc họp ba bữa tức sáng chủ nhựt tất cả nam thanh niên đi đăng ký nghĩa vụ. Sáng chủ nhựt ở xã bắt đầu rộn ràng, bác sĩ và huyện đội xuống kết hợp với xã đội và du kích chuẩn bị bàn ghế, giấy má… Rồi chờ mãi chờ hoài từ sáng tới trưa, qua luôn buổi chiều chỉ lèo tèo có vài ba thanh niên tới đăng ký. Ông ở huyện đội tức giận:
“Các đồng chí có phổ biến xuống cho nhân dân chưa?”.
Chú xã đội trưởng tên Cường phân bua:
“Dạ thưa đồng chí đã thực hiện đúng như công văn chỉ thị, đã họp phổ biến toàn dân”.
“Thế tại sao vắng như chùa bà đanh thế này, các động chí phải biết vận động quần chúng nhân dân, các đồng chí phải nắm danh sách hộ gia đình nào có con em đúng tuổi để vận động ráo riết, thôi tôi cho các đồng chí tuần sau, phải đạt chỉ tiêu chớ không là không được, xã mình ít nhất là phải một trăm”.
Xã đội trưởng Cường gật đầu:
“Đồng chí cứ yên tâm, lần này chúng tôi sẽ vận động”.
Buổi chiều nó cỡi lưng bò dắt theo con bò phía sau ra đồng gần rừng nhập bọn với những đứa chăn bò khác. Gần cả tháng nó tập cỡi bò bây giờ đã rành rẽ, nó phóng cái tót là lên lưng liền. Nó cỡi bò đi ngang nhà chủ bò cũ, hai đứa con gái là chị em ở trong nhà thấy nó phóng ra, đứa chị hất đầu:
“Ê, ai cho đi ngang nhà tao thằng ăn cướp?”.
Nó cũng hất đầu hỏi lại:
“Ăn cướp gì mậy, có đường thì tao đi, ai cấm?”.
Con nhỏ em đứng kênh kiệu:
“Ăn cướp bò chớ ăn cướp gì nữa, giả ngu hả mày”.
Nó ức quá nhảy xuống:
“Bò hợp tác xã giao nhà tao chớ ăn cướp hồi nào, tao thèm chăn bò lắm hả?”.
Con chị đứng thủ thế:
“Mày nhảy xuống định uýnh lộn phải hông, ngon nhào vô thằng ăn cướp”.
Con em cũng thủ thế theo:
“Nhào vô mày”.
Nó định nói chấp hai chị em mày luôn, tao bẻ một phát là gãy giò hết đi, nghĩ lại ai lại đi uýnh lộn với con gái, quê thấy mồ, nhảy lên lưng bò thúc đi nhanh, nó nói với lại:
“Tao thèm đụng tới thứ con gái tụi bây”.
Hai chị em la làng theo:
“Cha con ông Hai Sài Gòn ăn cướp”.
Nó thúc bò chạy lúp xúp, nghe câu này sực nhớ lại câu của ba, tuy nó chưa hiểu gì mấy: “Mấy đứa nhỏ bị cướp mất tuổi thơ rồi”.
Ra tới đồng nó còn bực bội, định nhập bọn đám chăn bò rủ chia phe chơi trò đấp lô cốt oánh trận giả cho bớt, đám chăn bò đang ngồi trong gốc cây cày cao to có bóng mát lớn, cây cày cứng kinh khủng nên chẳng ai cưa chặt nổi nên nó còn chình ình đứng đó. Đi lại thì đám chăn bò đứa nào đứa nấy ngồi lù lù một đống buồn thỉu buồn thiu chớ không như mọi bữa, không chạy nhảy vui chơi thì ngồi kể chuyện tiếu lâm cười ngả nghiêng, nó hỏi:
“Có chuyện gì vậy tụi bây?”.
Chẳng thằng nào buồn trả lời.
Nó nói tiếp:
“Tao đang bực thấy mồ tổ đây, gặp tụi bây làm gì mặt thằng nào thằng nấy như cha chết hổng bằng vậy”.
Như bị chạm nọc, thằng Hào sừng cồ:
“Thì có khác gì cha chết”.
Nó giựt mình:
“Chuyện gì ghê vậy tụi bây?”.
Thằng Cu anh lên tiếng:
“Thì mai anh thằng Hào, anh thằng Cọt phải đi bộ đội, tụi nó buồn chớ sao”.
“Thiệt vậy hả mậy Hào, Cọt?”.
Thằng Hào và thằng Cọt gật đầu, thằng Hào nói như mếu máo:
“Cả tuần nay mấy ông xã đội ngày nào cũng xuống, nói miết làm ba tao chịu hông nổi, ổng ký giấy ngày mai anh tao phải đi rồi”.
Thằng Cọt nói theo:
“Mấy ổng nói không tự động lên thì cũng bị bắt hà”.
“Nhưng tao nghe nói chưa chắc đi, mới khám thôi mà”.
Hai đứa nó lắc đầu:
“Có tên là đi hết, không dễ trật đâu, mà đi là chết chắc”.
Nó cố trấn an hai thằng này:
“Chưa chắc vậy đâu tụi bây ơi, mấy ổng đi vài năm rồi về chớ gì”.
Nghe nó nói mấy thằng đỡ bớt buồn chớ nguyên một buổi chiều tụi nó xoay quanh mấy chuyện này thiệt là thê lương. Bữa nay tụi nó lùa bò về sớm, nó cỡi bò đi đường khác, không theo đường cũ ngang nhà hai đứa con gái chằn lửa nữa.

LÊ ĐẮC HOÀNG HỰU