Đêm trăng leo lên mái chùa

tranthoainguyen

Ngồi trong vườn nguyệt lộ
Hôn một màu trăng non
Nghe lòng mình cười rộ
Chạy băng đồi vô ngôn

Ồ. Hồn tràn mộng trắng
Tôi ôm trăng không màu
Tôi ngút xuống biển dạng
Tôi dại khờ mắt nâu

Ngắt một bông trắng lau
Hương thắm giọt máu đào
Đêm bừng lên nguyệt thẹn
Tôi nằm dài xanh xao

Chim về ngủ ôm trăng,
Ngô đồng rơi chánh điện.
Tôi ngồi giữa Phật đàng
Làm thơ như thánh hiện.

Máu ràn rụa tây hiên
Ồ. Máu băng ngực điên!
Tôi tĩnh mịch trang thơ
Hồn bay theo nhang khói

Chim chết giữa điện thờ
Tôi rớt xuống điện thờ.

(Chùa BẢO LỘC, Thu 1970)

Trần Thoại Nguyên

PHÙ DUNG

vungocgiao
gửi theo nhà thơ Tô Nhược Châu ( 1944 – 2009 )

phù dung
một cánh bên trời
ta như hơi thở gợi lời vô ngôn
giấu trên môi
giọt chuông buồn
lặng nghe ngày tháng về nguồn tử sinh !
phù dung
một cánh nghiêng mình
ta như giọt nắng vô tình nín câm
giấu trong tay
giọt đàn trầm
lặng nhìn đời sống âm thầm thở than !
phù dung
một cánh võ vàng
ta như giấc mộng đã tàn trong ta
giấu cho nhau
giọt tình xa
thôi em , tất cả chỉ là phù du ..!

vũ ngọc giao

CHUYỆN LÊ VĂN TÁM

luuthy

Vào thời Hùng Vương thứ 2015, nước Việt sau khi tiêu diệt quân Nguỵ ở phương Nam, đánh tan quân Miên ở phương Tây, mất đất ở phương Bắc, và nhượng đảo ở phương Đông, hoàn toàn thống nhất đất nước từ nam ra bắc. Sau đó nước Việt trải qua 40 năm kinh qua tư bản, đất nước tiến nhanh tiến mạnh, tiến lên từ chế độ bao cấp tới chế độ tư bản hậu hiện đại, nhà nhà có xe, người người có smartphone, bia rượu đầy đường, và gái gú chân dài tràn lan trên mạng.

Tháng 4 năm 2015, mặt trận phía Đông lại dậy sóng, khói lửa ngút trời, ngư dân than khóc như rươi. Tiếng khóc than của ngư dân đến tai nhà vua. Vua cho mở ngay hội nghị Diên Hồng, đưa chiếu chỉ xuống các quan địa phương, truyền lệnh cử người đại biểu nhân dân từ uỷ ban nhân dân, uỷ ban tỉnh, cho đến công đoàn, phụ nữ, thanh niên, và phường khóm, mỗi nơi một đại diện, về kinh bàn kế sách.

Tháng 5 năm 2015, hơn 3 triệu đại biểu tuỳ theo khả năng kinh tế, ai có xe con đi xe con, ai có honda đi honda, ai có vé tàu thống nhất đi tàu, ai không tiền thì đi xe đò, về ngay kinh đô để dự hội.

5 giờ sáng ngày 1 tháng 6 năm 2015, hội nghị Diên Hồng bắt đầu khai mạc. Sau màn pháo hoa chào mừng đại biểu, sau màn biểu diễn áo dài đồ tắm của diễn viên chân dài, và sau màn đọc thơ của đại biểu hội nhà văn trung ương, là tới phần tuyên bố lý do và mục đích hội nghị Diên Hồng của phát ngôn viên bộ ngoại giao.

Người phát ngôn, như thường lệ, sau khi cực lực lên án, cực lực phản đối, và quan ngại sâu sắc, mới cho tất cả 3 triệu đại biểu về kinh dự hội biết tin mừng mới nhất vừa nhận được, theo ông là công lao của facebook, mà ông biết được, hôm nay, ngày này, và cũng chính nơi đây, là nơi và ngày mà Bệ Hạ ra đời, và ông đề nghị tất cả đại biểu cho ngay một tràng pháo tay, và tuỳ theo vai vế chức vụ lớn nhỏ mà sắp hàng từng người từng người lên chúc mừng sinh nhật happy birthday to Bệ Hạ.

6 triệu bàn tay vỗ như sấm, và tiếng chen lấn, giành giựt, tranh giành, cãi vã để sắp hàng lên chúc mừng Bệ Hạ đã ồn ào như cái chợ.

Đúng 9 giờ tối ngày 1 tháng 6, đại biểu thứ 35 ngàn mới tới được chân ghế của Bệ Hạ, và cũng là lúc mà vị đại biểu thứ 2 triệu 100 ngàn Lê Văn Tám mới chen được chân vô hàng.

Lê Văn Tám là đại biểu của phường Thị Nghè, có nghề bán đậu phộng rang, tuổi tuy nhỏ nhưng tinh thần yêu nước rất cao độ. Khi nghe tin biển Đông dậy sóng, ngư dân lầm than, hội nghị Diên Hồng triệu tập, Lê Văn Tám đã bỏ ngay rỗ đậu phộng rang, giơ tay xung phong khẩn cầu phường khóm cho mình làm đại diện về kinh tham dự.

Vừa mới chen chân được trong hàng, Lê Văn Tám vừa mừng vừa lo, mừng là mừng mình đã chen được vô hàng lên chúc mừng sinh nhật Bệ Hạ, nhưng lo là lo thời gian rất cấp bách, không còn nhiều, khói lửa phía Đông đã bay cao ngút trời và tiếng kêu la của ngư dân giờ đã nghe rõ mồn một từ xa.
Lê Văn Tám bồn chồn, nhìn đồng hồ nghĩ ngợi, mặt cương quyết, tay nắm chặt rồi quyết định dứt khoát bỏ hàng, tiến về phía bàn thờ tổ quốc.

Bàn thờ tổ quốc nhang khói ngập trời. Hai bên bàn thờ là hai hàng bô lão khăn đóng áo dài nghiêm trang đứng hầu.

Lê Văn Tám nhìn dáo dác tìm kiếm. Một vị bô lão thấy lạ mới nhíu mày hỏi nhỏ:

-Cậu em đang kiếm thứ gì đấy?

Lê Văn Tám không giấu giếm trả lời:

-Dạ thưa cụ, con đang kiếm can xăng!

Ông già bô lão lắc đầu:

-Cậu ra ngoài ngã tư kia mới có. Ối giời, giá xăng thế giới lúc này xuống bạo mà ở ta thì chỉ mới xuống được 2000.

Lê Văn Tám thất vọng, chần chừ, rồi tiến thẳng tới cạnh bàn thờ tổ quốc, đứng nhìn dĩa trái cây, thắc mắc hỏi vị bô lão:

-Sao không có cam, mà chỉ toàn là ổi, thưa cụ?

Vị bô lão trả lời:

-Năm nay mất mùa cam, nhưng ta lại được mùa ổi!

Lê Văn Tám lượm trái ổi, mắt liếc về phía hơn 2 triệu đại biểu còn lại đang sắp hàng chờ tới lượt chúc mừng sinh nhật happy birthday to Bệ Hạ, Lê Văn Tám lắc đầu.

Lê Văn Tám nhìn Bệ Hạ, Lê Văn Tám nhíu mày.

Lê Văn Tám nhìn về phương Đông, Lê Văn Tám căm hận.

Lê Văn Tám giận dữ, Lê Văn Tám bóp trái ổi.

Trái ổi vẫn còn nguyên.

Lê Văn Tám cầm trái ẩu… đập vô đầu gấu… trái ẩu tét làm đâu!

Lưu Thy Nguyễn

NGÔN NGỮ MỚI… HÀNH TRÌNH CỦA THƠ CA TỚI TRÁI TIM HAY SỰ DỊ DẠNG CỦA THỜI ĐẠI

truongdinhphuong

Thời gian không bao giờ ngừng và cuộc sống cũng theo dòng chảy ấy mà vận động. Mỗi ngày trôi qua con người lại muốn tìm tới những sự đổi mới, chúng ta, lột da cái cũ để khoác vào tấm áo hiện đại hơn. Từ khi con người xuất hiện trên trái đất, cũng là khi ngôn ngữ khởi sinh, nhu cầu tất yếu của sự sống, sự vận động của xã hội dẫn đến chữ viết ra đời. Và con người đã dùng chữ viết để ghi chép lại những hiện tượng sự việc diễn ra hàng ngày xung quanh mình. Tiến xa hơn, chúng ta sử dụng chữ viết để nói lên những mạch nguồn tâm tư của xã hội loài người, văn chương hình thành.
Trải qua hàng ngàn năm, bao biến cố thăng trầm của lịch sử nhân loại, văn chương cũng theo đó mà biến đổi về cấu trúc và hình hài. Tuy nhiên cái cốt lõi nhất vẫn không mất đi, chính là, hàm lượng chất của “tình cảm” được biểu đạt thông qua những ngôn từ.
Đất nước Việt Nam đi qua bốn ngàn năm lịch sử, thì, đã mất gần ngàn năm bị đô hộ bởi người Phương Bắc, vì lẽ đó mà cấu trúc địa tầng văn chương của chúng ta ít nhiều đã bị đồng hóa theo người Trung Hoa. Thế nhưng với ý chí gìn giữ nền tự chủ của dân tộc cũng như tiếng nói của ông cha, dù các văn nhân xưa dùng chữ Hán để viết, thì cái tư tưởng trong văn họ vẫn thấm đượm hồn non sông xứ sở. Tuy nhiên dù thế nào thì chữ Hán vẫn là ngôn từ của dân ngoại, bởi vậy ông cha chúng ta đã tạo ra chữ Nôm, dù còn bị ảnh hưởng theo cấu trúc chữ Tàu nhưng phần nào đã mang hình hài “ dân tộc” của mình. Cho đến khi chữ quốc ngữ ra đời, nhờ công của giáo sỹ “ Alexandre de Rhodes (phiên âm tiếng Việt là A-Lịch-Sơn Đắc-Lộ hay Cha Đắc Lộ, A-lếc-xăng Đơ-rốt” dân tộc Việt mới thật sự có chữ viết riêng của mình. Từ đây văn chương Việt Nam mới thật sự lột kén, thoát ly hẳn “bóng ma” của người Tàu.
Những năm đầu thế kỷ 20, văn học Việt Nam bước vào giai đoạn chuyển mình chưa từng thấy trong lịch sử, từ văn xuôi tới thơ ca đã bước ra hẳn ngoài địa hạt cũ, để tiến xa hơn, đặt chân tới biên giới của sự hiện đại, điều đó nhờ vào dự du nhập của văn hóa Phương Tây. Lúc bấy giờ, những nhà văn nhà thơ như những con chim mới rời tổ say sưa hót theo thanh âm mới, một cuộc chiến cũ và mới diễn ra vô cùng “dữ dội”. Người ta chê bai cái nền văn học đã tồn tại bao đời của tổ tiên, họ muốn làm một cuộc cách mạng toàn diện, họ muốn khoác lên thân thể của dân tộc mình tấm áo hoàn toàn mới. Nhưng rồi, cuối cùng sau những cuộc chiến nảy lửa ấy họ nhận ra, dù viết theo phương thức nào, đi theo hướng đi nào thì, cái hồn vía của người Việt Nam cũng không thể lẫn với người ngoài. Bởi lẽ tình cảm, cuộc sống của người Việt, không hề giống với bất cứ dân tộc nào khác trên thế giới này. Cuối cùng họ những con người của sự cách tân đã phải “thừa nhận” cũ và mới không có đường ranh nào rõ rệt, chỉ có cái “chân tình” trong văn chương mới thật sự là nền tảng để những tác phẩm sống mãi trong trái tim dân chúng.
Trong bối cành nước ta còn bị người Pháp đô hộ, và những tinh hoa của tiếng Việt đứng trước mối nguy cơ bị nền văn hóa Phương tây xâm thực đồng hóa, học giả Phạm Quỳnh (1892-1945) từng nói: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn”. Chúng ta biết rằng Truyện Kiều của Nguyễn Du, tuy là cốt truyện vay mượn của người Tàu, nhưng với tài năng xuất chúng, Nguyễn đã dùng chính ngôn ngữ của dân tộc Việt thổi hồn vào thể thơ lục bát, một thể thơ độc nhất vô nhị của riêng đất nước Việt Nam, tạo nên một kiệt tác thi ca có thể đứng ngang tầm những tác phẩm vĩ đại của toàn nhân loại. Vậy do đâu mà Truyện Kiều xứng đáng đứng vào hàng ngũ danh tác thế giới? Thưa rằng, bởi nó nói lên được tâm tư tình cảm phong phú của con người Việt Nam. Ngôn ngữ trong Truyện Kiều tuy là thứ ngôn ngữ bác học nhưng lại mang dáng dấp ngôn ngữ bình dân, nó gần gũi với tất cả mọi tầng lớp độc giả. Những câu thơ chứa chan cảm xúc, tình người ấy đã thẩm thấu vào bất cứ mọi trái tim tạo nên những rung cảm bất tận.
Đến thời đại hôm nay, bước sang thế kỷ 21, chúng ta những người cầm bút, đã và đang thực hiện một cú “xông phi” với ý định một lần nữa đại cách mạng văn chương. Những nhà thơ trẻ, hừng hực khí thế, vác tâm hồn mình vượt đèo cao núi dốc tìm tòi những tình sâu ý hiếm, từ lạ ngữ mới để biểu diễn “ý tưởng” hồn mình theo cái mà họ gọi là “triệt tiêu” sự lỗi thời.
Vậy thì sự đổi gam màu thi ca theo kiểu mới hiện nay có thật sự đem lại những “khung hồn hoàn hảo” hay không, hay chỉ tạo nên những mảnh hồn “ dị dạng”?
Theo cảm nhận chủ quan của cá nhân tôi, chúng ta, những người viết trẻ, đang loay hoay trong những khu rừng mịt mờ, chúng ta vung gươm múa kiếm như những gã kiếm khách cuồng, không ra một bài bản nào rõ rệt. Những ngôn ngữ mới được chúng ta lắp ráp theo một mô hình “trôn ốc”, mà khi những người mà chúng ta gọi là độc giả nhìn vào họ chỉ thấy một mớ rối rắm như cuốn chỉ bị vò nhàu.
Thơ ca giống như một nàng thiếu nữ, vẻ đẹp không phải chỉ dựa vào bộ quần áo lòe loẹt trên thân thể gợi cảm, mà “cốt tủy” là ở nội hàm tâm hồn.
Hãy đọc một câu thơ cũ:
“Hồn em như hoa cỏ may
Một chiều cả gió bám đầy áo anh”
(Nguyễn Bính)
Có phải rất dễ cảm và dễ dàng ngấm vào sâu thẳm cõi hồn ta hay chăng?
Và một câu thơ mới:
“Hồn em như móng vuốt loài yêu tinh
Một đêm cấu nát trái tim ngục tù của tôi
Ôi nỗi đớn đau: thần diệu”
(Một tác giả mới )
Có phải gây ra sự ức chế cho người đọc lắm chăng? Chúng ta thấy gì sau mớ ngôn từ nhiễu loạn kia: một nỗi đau thấu tim, một sự cấu cào nát buồng gan cuống phổi hay chỉ là một dòng điện loạn chiều không thể chạm tới tâm tư người đọc?
Có một người bạn, một nhà thơ còn rất trẻ, nói với tôi “muốn thành công thì phải đổi mới, hãy lột xác hoàn toàn, đoạn tuyệt với lối viết đã tồn tại hàng ngàn năm trên mảnh đất hình chữ S này. Thơ của thời đại hôm nay, không phải là thứ thơ để hiểu, để diễn giải tâm tư tình cảm chung của con người theo kiểu có thể sờ mó được, mà bắt buộc người ta phải vắt óc đào sâu trí tuệ của mình mà cảm.”
Vâng, thơ hiện đại là để cảm. Thế thì cảm thế nào đây khi mà, mới bước vào người ta đã thấy một màn sương lạnh lẽo như nghĩa trang, dày đặc những tấm bia tâm hồn vô cảm.
Cá nhân tôi, đã từng thử bước ra khỏi ngôi nhà cảm xúc đơn thuần và bước vào khu vũ trường ngôn ngữ, sau mấy hôm nhảy nhót cuồng loạn trong đó, khi trở ra, tôi thấy mình như tên say rượu, chừng như quên mất đường về nhà, và tấm áo tôi mặc trên người giống y chang hằng hà những tấm áo thiên hạ đang mặc. Chúng ta đã và đang tự chui vào chiếc bao tải hỗn độn lũ vi trùng ngôn ngữ , như thế liệu chúng ta có bị ngộp thở vì bị bóp nghẹt yết hầu sáng tạo hay không?
Sự thay đổi là không tránh khỏi, bởi đó là quy luật tất yếu của cuộc sống, nhưng sự thay đổi thái quá có lẽ sẽ chỉ đưa lại kết quả tồi tệ hơn mà thôi.
Chúng ta là người Việt Nam, vậy thì hãy dùng ngôn ngữ người Việt Nam, đừng vì bất cứ lý do gì, đem cái thứ ngôn từ ngoài hành tinh xa xôi nào đó “hãm hiếp” người đọc.

TRƯƠNG ĐÌNH PHƯỢNG

KHI… BUỒN… MẮT PHỐ… NIỀM RIÊNG

mocmienthao

Khi nỗi buồn rất nỗi buồn
Khi cơn mưa đã chung đường mông mênh
Khi trống vắng khoác màu đêm
Tôi – con mắt phố
Khóc trên phận mình
Khi tịch lặng nằm phục sinh
Đợi con trăng xuống trần tình nỗi đau
Khi niềm tin đã rũa màu
Đồng xa, con dế gặm câu nhân tình…
Khi ta ôm bóng câu mình
Mặc nhân gian
Trút nỗi tình tự riêng.

MỘC MIÊN THẢO

VỀ ĐI EM…

hoangvancham

về đi em
Về một lần thôi…
Ngủ ngoan hương đất
Cho tình quê ấm mãi tuổi người
Có đâu mãi gần như trong gang tấc
Cả đời lạc bước… mộng chín một ngàn lau.
Bên đời một bước đi về
Chạm mặt nghĩa ân chút lòng đau đáu
Về một lần thôi thảo thơm quê mẹ
Thắp một nén nhang
Tạ tội với quê hương
Xa cách bao tháng năm
Về thêm một lần thôi
Gối đầu sương khói
Em nghe hương lúa trải mùa
Quê nhà rót mật
Thương quá dòng sông một đôi bờ tít tắp
Người xa người như chìm khuất mãi vầng trăng.
Có về đây một lần
Nghe chim kêu chiều xuống
Chùng lòng đau.
Con đường xưa rơi ngọn lá tiễn mùa đi
Gạt nước mắt giọng thầm
Kêu tên người ru mái tóc xưa.
Mặn bờ môi khô cong nghiệt ngã.
Ngỡ đã quên dâu bể nhọc nhằn.
Phía cuối bên nhau như thức tỉnh phận người.
Gối tay lầm lỗi.
Về đi em!

Hoàng văn Chẩm

LẠ 1

ledachoanghuu

Sóng xô
lạ lẫm dã tràng
Lạ lùng xe cát, oán than không lời
Men say
lạ lẫm lệ rơi
Lạ lùng rơi lệ tìm nơi say mèm
Cô đơn
lạ lẫm bóng đêm
Lạ lùng đơn lẻ kéo rèm che trăng
Mật môi
lạ lẫm giận hờn
Lạ lùng hờn dỗi cong vờn môi xa
Phiêu liêu
Đời lạ lẫm ta
Lạ lùng, ta CÕNG BÔN BA GIỮA ĐỜI!

Lê Đắc Hoàng Hựu

THIÊN SỨ CUỐI CÙNG

linhphuong

Ngôn từ nguyên thủy từ hơi thở hương hoa phục sinh bên nấm mồ
Khi vệt môi hôn dưới bàn chân em tỏa sáng vầng hào quang thiên sứ
Với vẻ đẹp thánh thiện của đức mẹ Maria hiền lành ru anh ngủ
Đêm đêm nằm đợi em về trong mỗi giấc chiêm bao

Chúa không còn bị đóng đinh – vết thương giữa trái tim anh không còn rịn máu
Chúng mình sẽ tha thứ cho nhau qua những ngày giông bão
Để giận hờn – buồn vui của ngày hôm qua đi vào dĩ vãng xa xăm

Dẫu anh có phải chịu tội ngàn năm
Mang thập giá sau lưng – mang tâm hồn tên Giuda trước ngực
Dẫu cuộc đời anh khổ đau hay hạnh phúc
Cũng vì em – bởi vì em thiên sứ xuống trần gian

Bởi vì em nên anh thương nhớ Sài Gòn
Và kính Chúa-yêu tháng mười hai gió mùa Đông Bắc
Ngọt ngào tiếng A men-nồng nàn vòng tay ôm hạnh phúc
12 giờ đêm- Vương Cung Thánh Đường có hai con chiên ngoan đạo hôn nhau…

LINH PHƯƠNG

CHƠI VỚI 6/8

buidiep

tôi ngồi đếm kiến leo cây
leo ra cành cụt gặp ngày sinh tôi

ai đem đan cọng cải còi
đứt ba bốn nhịp tao nôi chết bầm

miệng cười chưa mếu đã hâm
rượu khùng chưa nhấp đã thầm triết gia

bla bla bla
mặt tuồng còn chiếc lông gà vắt thêm

trăng về từ chết ngàn đêm
lá đau còn cuốn lụa mềm từ bi

người đi người ở người đi
tiếc gì còi réo xuân thì ga ơi

còn tôi với kiến và tôi…

Phan rang, XI.2015
BÙI DIỆP

thân phận bọt bèo

dunga

Thuở nhỏ, đến mùa hè, cả nhà lại chuyển giường chõng ra ngủ ngoài sân. Trong căn nhà bé nhỏ, chật chội lợp tôn, không khí ngột ngạt nóng bức, không tài nào chợp mắt nổi. Với đám trẻ con đó là một trong những điều thích chí nhất.
Những đêm có trăng, ánh trăng dìu dịu đi suốt khoảng sân đầy bóng lá, đi tận vào trong giấc ngủ với những làn gió mát rượi. Những đêm không trăng, bầu trời lại vằng vặc đầy sao, hàng triệu tinh tú nhấp nhánh trong không gian trong vắt và tinh sạch của làng mạc chưa có chút khói bụi ô nhiễm thuở ấy.
Một trong những đêm vằng vặc sao ấy bỗng nhiên trở thành một ám ảnh cho đầu óc một thằng bé mới lên mười. Một thằng bé ham đọc, ngấu nghiến cái tủ sách đủ loại dành cho người lớn của bà chị đầu, bị những khái niệm siêu thực, hiện sinh, vực thẳm… làm bối rối.
Nó nhìn lên không trung sâu thẳm, nghĩ tới những chiều kích vô cùng của vũ trụ, để thấy, trái đất này chỉ là một hạt bụi giữa những thiên hà và con người và NÓ còn nhỏ bé hơn hạt bụi trái đất, quá mong manh, quá vô nghĩa, quá chừng vô nghĩa. Những chuyện nó đang làm, nó đang học, nó đang ước mơ… tất cả đều VÔ NGHĨA.
Nó như đang đứng trên một rìa núi, cô đơn, nhìn xuống cái vực thẳm hun hút của vô cùng.
Anh em nó, đang cuộn tròn trong chăn, say ngủ, chỉ mình nó thao thức với ngàn sao, với vũ trụ, với thân phận tí xíu của con người. Cái vô cùng đè bẹp nó, gây sốc nó.
Và hôm sau, nó đổ bệnh, ban đầu chỉ là cơn sốt gây gây, rồi nặng thêm, nó sốt bừng bừng, một cơn bệnh của kiếp người đổ lên một thân thể bé nhỏ, một trí óc bé nhỏ, yếu đuối không đủ sức chống chọi.
Nó chỉ muốn chết. Vì có gì đâu nữa để mà sống, một kiếp người bèo bọt, phù du.

Qua đi cơn bệnh, nó như trở thành một người khác, bất thường với cái tuổi lên mười. Nó rời khỏi những chuyện vui đùa của lứa tuổi, rút vào nội tâm, tự suy nghiệm, tự lý giải. Nó nhìn đến những người lớn tuổi hơn, hỏi han, tìm tòi một câu trả lời cho câu hỏi vô vọng của nó.

Cho đến một ngày, nó đọc một cuốn sách. Cuốn sách bình thường của lứa tuổi nó, kể về một đứa bé, được người ngoài hành tinh, đưa vào vũ trụ, đi xuyên qua các vì sao. Khi trở lại trái đất, đứa bé cũng đổ bệnh. Nhờ một ông thầy lang – ông Khờ, ẩn dật trong rừng, cứu chữa, cho đứa bé uống thảo dược, chỉ cho nó thấy một thế giới nhỏ bé của cây lá, của bươm bướm chuồn chuồn, của giun dế, của côn trùng. Một thế giới cực kỳ bé nhỏ so với những thiên hà, những vì sao. Thế giới bé nhỏ đó giúp nó cân bằng. Hình như là một cuốn truyện trong tủ sách Tuổi Hoa.
Thằng bé, như nhân vật trong sách, chợt bừng tỉnh, như một thiền sư hoát ngộ. Nó rời khỏi cái vô vọng của một con người trước vô cùng, trở lại với cuộc đời, an nhiên và minh triết.

Mãi sau và rất lâu, thằng bé trở thành một người đàn ông luống tuổi. Ông ấy tìm lại cuốn sách cứu vớt ông ngày xưa, và đọc lại những giòng chữ:
“Em độc giả thân yêu, em hãy thử đặt mình vào trường hợp của Sĩ Nhân? Em sẽ cảm thấy như thế nào? Một đứa bé được nuông chiều, tin mình là trung tâm của vũ trụ, chả có gì quan trọng hơn cậu ta cả! Đứa bé ấy tin tưởng tất cả những sáng tạo đều thoả mãn nhu cầu và ý thích của cậu ta: các con vật quen thuộc, các cánh đồng, các rừng, các bầu trời đầy sao… Đứa bé cảm thấy chinh phục được tất cả, khuất phục được tất cả, kể cả bầu trời… cho đến lúc đứa bé ấy đã khám phá được mình chỉ là một sinh vật bé tí ti, bé hơn cả một hạt bụi bơ vơ trong vũ trụ bao la ngút ngàn. Địa cầu đối với cậu ta dường như quá rộng, cũng chỉ là một vật bé nhỏ trong vũ trụ mênh mông!”

“Còn rất nhiều lãnh vực chưa được khám phá ! Sự kỳ diệu lướt trước mắt chúng ta, nhưng muốn khám phá, chúng ta phải cần có đôi mắt trẻ thơ.
Ðây là lần đầu tiên, cậu bé trở lại chỗ đáp phi thuyền.
Chim chóc hót vang chào đón khách. Ngôi chòi của ông Khờ vẫn im lặng, nằm khiêm nhượng trong rừng…”
_______

Trong truyện, Sĩ Nhân ở trong một căn nhà màu hồng. Và có một đóa hồng trong đoạn kết. Một đóa hồng rất quan trọng cho một con người, khi người ta đứng giữa sa mạc mênh mông của Cõi Người Ta, như đóa hồng của Hoàng Tử Bé – Saint Exupery.
Một đóa hồng duy nhất của một đời người.

DU NGÃ