THÁNG GIÊNG TÍM

vungocgiao

gửi theo thi sĩ Joseph Huỳnh Văn

tháng Giêng đi biệt một người
tháng Giêng khép một điệu cười mắt ai
tiếng chuông nào rụng xuống vai
và, tôi- chiếc bóng đổ dài mỏi mê
tháng Giêng đi biệt không về
cho môi ngậm chút buồn tê điếng hồn

tiếng chim nào gọi về chôn
bài thơ lau lách bên cồn đá đen
tháng Giêng chiều chợt đỏ đèn
níu con gió lạnh về quen chỗ ngồi
ngật ngừ thuốc đốt khô môi
và, ly rượu cạn nhìn tôi hững hờ

khuất trong mưa nắng ơ thờ
một bài thơ lạc bến bờ nhân gian!

vũ ngọc giao

MƯA MẶT NẠ

nhatchieu

Chiều hôm ấy, gió không chỉ đưa lá về làng, không chỉ đưa mây về làng, không chỉ đưa chuồn chuồn về làng, nhưng dẫu sao đi nữa, chiều hôm ấy lá bay linh loạn đủ màu sắc, lá bạc lấp lánh, lá đỏ hừng hực như lửa, lá vàng như cá lượn, lá xanh như én bay, một trận mưa lá.

Tiếp sau trận mưa lá ấy, chiều hôm ấy, là một trận mưa mặt nạ, những chiếc mặt nạ bay tứ tung, làm bằng chất liệu gì không rõ, trông tựa như da người, mà có thể đó chính là da người, một cầu vồng muôn màu đang vỡ muôn nghìn mảnh và bay tứ tung, xé không gian làng ra thành từng phiến màu nhỏ xíu.

Mặt nạ đủ loại đang bay, đang nhảy múa, đang chơi đùa, đang cười, đang khóc, đang hóa trang cho gió, cho nắng, cho cát bụi, cho vận mệnh chiều hôm ấy, cho linh hồn xa xưa, cho linh hồn sắp tới.

Có những chiếc thuần màu mốc, thuần đỏ hay thuần trắng hồng, có những chiếc nửa xanh nhạt, nửa trắng hồng, phân đôi bằng một lằn dọc từ chóp trán đến tận cằm, có những chiếc đa sắc hơn với da mặt tím, đuôi mắt xanh, miệng đỏ, mày đen và những nét viền vàng.

Dân làng tranh nhau nhặt mặt nạ và biết đâu, mặt nạ cũng đang tranh nhau nhặt con người, dưới cơn mưa ảo, dân làng tranh nhau nhặt cái ảo như thể đang nhặt vàng, nhặt bạc, như thể đang nhặt lên những giấc mơ, những khát vọng, những mảnh vụn của bóng tối trong đáy sâu tâm thức, hoặc đang nhặt những cơn điên, những phiêu lưu vô định.

Có vô số mặt nạ, nào giai nhân, anh hùng, yêu ma, nào ác bá, chồn cáo, công hầu, nào chim, cá, bướm, nào bé con, lão tiều, hề, nào người hầu, gian thần, đạo tặc, nào thiên nữ tán hoa, nào ca diếp vi tiếu…

Có cả mặt nạ của trinh tiết, mặt nạ của ái ân, mặt nạ của từ bi, mặt nạ của cứu rỗi, có cả mặt nạ của mặt nạ, mặt nạ của hư không, mặt nạ của chân lý, mặt nạ của giải thoát…

Liệu có mặt nạ của nửa này nửa nọ, mặt nạ của cả này lẫn kia chứ, liệu có mặt nạ của sắc và không chứ, có chứ, mặt nạ của nửa mê nửa tỉnh, nửa thiện nửa ác, cả cười lẫn khóc, cả yêu lẫn hận, mặt nạ mà, trong siêu thị của mặt nạ cái gì cũng có nhưng mà người mua là bạn thì người bán cũng là bạn.

Vậy là, chiều hôm ấy dân làng bội thu và thay vì bội thu lúa vàng thì bội thu mặt nạ, có người ướm mặt nạ lên mặt và đeo ngay, mặt nào cũng vừa vặn như được đo sẵn, chẳng lẽ khuôn mặt ta sinh ra là để cho mặt nạ, và gió định mệnh sẽ thổi mặt nạ ta cần đến cho ta như thổi phấn hoa đi, và đeo mặt nạ là thụ phấn sao, đeo mặt nạ có phải là tự đốt sáng mình lên như đom đóm để từ chối làm côn trùng sâu bọ, hay từ chối làm con người bản nhiên thì cũng vậy chớ gì, có người không đeo ngay mà đem mặt nạ về nhà, không chỉ một chiếc mà nhiều chiếc, cả mặt nạ tốt lẫn xấu, nhưng mặt nạ là mặt nạ, làm gì có tốt xấu kia chứ, mặt nạ là vô sai biệt mà.

Rõ là mặt ấy mặt này chứ ai (Nguyễn Du)

Ai cũng tươi cười như ngày lễ hội, tưởng như họ trở lại thành trẻ thơ khi đeo mặt nạ vào, lạ thật đấy, thường ngày thì hầu như không ai biết cười.

Đó là thôn làng không biết cười.

Thôn làng ấy không biết cười đâu, hoặc có khi biết nhưng đã quên rồi, đó là thôn làng đã lãng quên nụ cười, mỗi trú xứ trên thế gian này đều lãng quên một vài thứ, và ở đây người ta quên mất nụ cười, có thế thôi.

Tôi tình cờ có mặt trong làng từ mấy hôm trước, đến làng theo lời mời của một chàng trai mà tôi tình cờ gặp bên thác T.

Đến làng tôi chơi đi, Man nói làng của Man rất buồn và Man là người rất trầm lặng, làng của tôi buồn thật đấy nhưng anh đến đi, biết đâu làng sẽ thay đổi, tôi chẳng có khả năng thay đổi điều gì hết, tôi là một con người tưởng tượng, đó là điều chúng tôi cần, làng chúng tôi thiếu cái ấy, cái gọi là tưởng tượng ấy.

Có một thành phố buồn, buồn thảm đến nỗi nó quên mất tên mình rồi, S.Rushdie mở đầu một quyển sách như thế, làng của Man buồn hơn thế nữa, nó không có tên để mà nhớ hay quên, ở đó, người ta đặt tên cho mọi thứ, trừ quê quán của mình.

Tôi hỏi Man, làng của anh buồn quá, tại sao vậy, Man im lặng hồi lâu mới đáp, hình như buồn là điều tự nhiên, đứa bé ra khỏi lòng mẹ không cười bao giờ, cười phải học, phải được sáng tạo, dân làng tôi không sáng tạo điều gì, lần đầu tiên tôi nghe một điều như thế.

Chiều hôm ấy, tôi đang đi lang thang trong làng thì gặp trận mưa lá và mưa mặt nạ, tôi giơ tay hứng lấy hai chiếc mặt nạ, trắng và đen, trên nền mặt nạ thuần trắng, chỉ vẽ một giọt lệ hồng, long lanh và đẹp mê hồn, tôi chỉ cầm mà ngắm giọt lệ hoàn hảo ấy, không hề ướm lên mặt mình, nhưng làm sao tôi biết thế nào là một giọt lệ hoàn hảo chứ, thật rõ vớ vẩn.

Chiếc còn lại thì có màu nền đen huyền và trên đó chỉ vẽ một nụ cười trắng, một nụ cười tuyệt vời tinh khôi, thì cứ cho là như vậy đi dẫu ta không biết thế nào là tinh khôi, nhưng tôi hy vọng có lần nào đó trong đời tôi sẽ đạt đến nụ cười này, trong đời sống chứ không phải là trên mặt nạ.

Cả hai chiếc là một loại mặt nạ kép, áp vào nhau mà bay, tôi tách một chiếc đưa cho Man, Man không nhặt một mặt nạ nào, tôi cảm thấy lo sợ, anh nói.

Tôi ở nhà Man, tối hôm ấy, chúng tôi uống rượu, nhìn hai chiếc mặt nạ khóc cười treo trên vách và trò chuyện.

Chưa từng thấy mặt nạ ở đâu mà đẹp đến thế, đẹp thì có đẹp nhưng tôi không hiểu mặt nạ dùng để làm gì, vô dụng, trái lại, nó được dùng rất ưu ái mọi lúc mọi nơi, xưa cũng thế mà nay cũng thế.

Có lẽ vậy nhưng không phải ở làng này, làng này buồn ủ buồn ê có lẽ vì nó không biết nói dối, không biết phát minh ra cái thực nào khác ngoài cái thực mà nó nhìn thấy, tôi e rằng trận mưa mặt nạ chiều nay sẽ biến cải làng tôi.

Tôi cảm thấy nỗi âu lo của Man lây sang tôi, tình bạn chúng tôi vừa mới gặp đã vô cùng thân thiết.

Có một cô gái trong làng Man rất yêu, mười sáu tuổi, tên là Hồ.

Nàng là Hồ, anh biết không, là nơi tôi có thể tắm những giấc mơ, nỗi buồn, cái nhìn, niềm đam mê, lời ca hát, nàng là Hồ, nhỏ bé mà mênh mông, trong trẻo mà sâu thẳm, mơ hồ mà hiện tiền. Hồ, không thanh âm nào đáng yêu hơn, nàng là Hồ, và tôi là cơn gió thổi qua lòng nàng.

Bài thơ tình của anh tuyệt diệu, tôi làm thơ sao, đó chỉ là cảm tưởng Hồ, thì thơ là cảm tưởng mà.

Sáng hôm qua, Man vào rừng lấy củi, tôi có đi theo.

Dù hẹn hò với Hồ, anh vẫn để tôi bên cạnh, cứ như tôi là cái bóng của anh, hai người hôn nhau trước mặt tôi.

Hồ là một cô gái duyên dáng, nhẹ nhàng như lá, nàng gợi lên trong tâm tưởng ta một cái hồ trong vắt, có lẽ do đôi mắt nàng quá trong. Có một suối nước trong gần đó, em vào suối đi, Man bảo nàng, và nàng khỏa thân, vào suối, nằm trôi trên suối như một dáng thuyền trắng mộng.

Nhớ lại cái đẹp mà tôi được dự lãm hôm qua, tôi lo ngại nhìn Man qua ánh nến,

Hồ có nhặt một chiếc mặt nạ nào không, không biết nữa, cô ấy quá ngây thơ, có thể không biết mặt nạ là gì, và có thể đã nhặt phải một chiếc ghê gớm nào đó, có quá nhiều mặt nạ, nào là hồ mị, nào là hoa yêu, nào là thị mầu, nào thị hến, nào là người điên, rồi kỹ nữ, rồi đạo cô…

Hồi chiều, tôi thoáng nhìn thấy Hồ, nhưng rồi sau đó nàng biến mất, khó mà tôi có thể tự tha thứ cho mình nếu như điều gì đó không hay xảy đến cho nàng, không có gì đâu, có lẽ ở nàng, mặt nạ chỉ là mặt nạ.

Người phát minh một gương mặt cho chính mình/Phía sau nó/ Người sống, chết, và hồi sinh/ Bao nhiêu lần/ Gương mặt người ngày hôm nay/ Có nhiều vết nhăn của chính gương mặt ấy/ Còn những vết nhăn của người thì nào có mặt mày.

Có tiếng bước chân trên lá ngoài ngõ, Man đứng phắt dậy, bước nhanh ra cổng, tôi đi theo anh.

Trước mặt chúng tôi là một cô gái đeo mặt nạ hồ nguyệt cô cực kỳ xinh đẹp, có thể nhận ra hồ nguyệt cô vì hai vành tai nhọn mượt lông của loài hồ và đôi mắt sâu thẳm như đêm. Man và cô gái nhìn nhau, cả hai đều ngượng ngập, bối rối.

Cô là, em là Hồ đây mà, em gỡ mặt nạ ra đi, không được, từ khi đeo mặt nạ rồi, em không tài nào gỡ ra được nữa, nó dính liền da mặt em và trở thành làn da em mất rồi.

Trời ơi, em có sao không, không đau chứ, không đau gì cả, thế còn những người khác, hình như ai đeo mặt nạ vào thì cũng vậy, các bạn em đều như em, đều trở thành người mặt nạ, biến thành vượn trắng, rắn xanh, hay yêu cá, hàng xóm có kẻ thành ma cà rồng, thành hề, có người thành người dơi, cô gái mèo, tôn ngộ không…

Gương mặt Man vốn trầm tĩnh giờ đây đổi màu, tái xanh và bồn chồn, tuy mặt nạ của em rất đẹp, nhưng em có còn là em nữa không, em sợ lắm nên chạy vội đến đây, em không biết đang đeo phải mặt nạ gì. Man cũng không rõ, tôi bảo họ đấy là mặt nạ hồ nguyệt cô, là ai vậy, một con cáo tu luyện ngàn năm ngậm ngọc mà hóa thành một cô gái đẹp, rồi bị lừa tình mà mất ngọc, phải trở lại kiếp hồ xưa, vậy đây là một mặt nạ hồ ly, thì đã sao, nhưng Hồ của anh thì không phải là hồ ly, nhìn cô ấy xem.

Man nhìn Hồ như lần đầu tiên anh nhìn thấy nàng, Hồ à, em có chắc là em vẫn cảm thấy bình thường chứ, thì em vẫn thế thôi, có phải mặt nạ này đẹp hơn gương mặt cũ của em không, ai cũng nói là nó quá đẹp, một tuyệt thế giai nhân, còn em thì chỉ là một cô gái bình thường.

Đôi mắt em tuyệt đẹp, sáng lấp lánh, anh khen đôi mắt em hay một đôi mắt hồ, em ghen à, nhưng ghen với ai, ghen với chính em ư, mặt nạ là mặt nạ, không phải là em, em là em, và anh chỉ nhìn thấy có em mà thôi, nhưng từ đêm nay, giữa chúng ta bao giờ cũng là một mặt nạ xinh đẹp, anh biết không.

Hồ nói đúng, vẻ đẹp siêu phàm của mặt nạ đã hoàn toàn che lấp nhan sắc thuần hậu của nàng, ánh mắt của Man từ đây chỉ còn tiếp xúc với cái lớp mê hồn ấy, cái ảo ảnh rất thực ấy, gương mặt xưa của Hồ chỉ còn lại trong ký ức, nhưng Man ơi, ký ức liệu còn lại bao lâu, gương mặt mới của Hồ không thể chê được, mơn mởn, gợi tình, tỏa ngời một ánh hồng như đang chiếu dọi một ánh lửa thu hút thiêu thân, một khi đã quen rồi, có lẽ Hồ sẽ tự hào với nhan sắc mới này, khi đã quen rồi, có lẽ Man sẽ say sưa với nhan sắc mới này, còn xuân thu cũ ai hay làm gì.

Dưới ánh trăng, ngõ trúc bỗng xuất hiện anh hề, một gương mặt nhiều màu nhất thế gian, với cái cười vô tận. Hồ nói, anh hàng xóm của em đấy, từ khi mang mặt nạ hề, cứ ca hát suốt, trước đây thì ngay cả nói năng cũng lười, quả nhiên anh hề vừa đi vừa hát.

Trăng là mặt nạ của đêm ư/ hay đêm chính là mặt nạ/ ư ư ư ư/ Trăng là mặt nạ của hồ ư/ hay hồ chính là mặt nạ/ ư ư ư ư,
Mưa là mặt nạ của mây ư/ hay mây chính là mặt nạ/ ư ư ư ư,
Khóc là mặt nạ của cười ư/hay cười chính là mặt nạ / ư ư ư,
Xác là mặt nạ của hồn ư/ hay hồn chính là mặt nạ/ ư ư ư ư,

Tôi bắt chuyện với anh hề, chào anh hề, bài hát của anh hay quá.

Chào người xa lạ, ư ư ư ư/ư nghĩa là gì/ hư hư hư hư/ ư là hư ư/ hư là ư ư và anh hề bỏ đi, lại hát.

Mặt nào mặt thật/ hê hê hê hê/ Mặt nào mặt nạ/ hê hê hê hê/ Mặt trái mặt phải/ hê hê hê hê/ Mặt ấy mặt này/ hê hê hê hê…

Hồ đặt một bàn tay lên vai Man mà lay mạnh, anh ta đã xúc phạm đến em mà anh không làm gì ư. Nét mặt Man lộ vẻ ngạc nhiên thấy rõ, sao cơ, anh ta chỉ hát thôi mà, anh không nghe rõ lời hát của anh ta sao, lại hát nữa đấy, nghe đi, trăng là mặt nạ của hồ ư, hay hồ chính là mặt nạ, chẳng phải là anh ta đang réo gọi tên em ra mà mắng ư.

Nếu em bắt bẻ một bài ca thì tất cả bài ca trên thế gian này đều xúc phạm ai đó, nhưng Hồ ơi, trước đây em đâu có như thế, là do em đeo mặt nạ ư, cái mặt nạ xinh đẹp khốn kiếp này đã đốt cháy mặt thật của em rồi, nhưng kệ nó đi, em vẫn là Hồ, anh biết không, sao anh lại phải hồ nghi, hở em, nhưng mà, anh ơi, em bắt đầu không tin mình lắm nữa, có gì đó trong em đang bắt đầu vỡ vụn, anh phải canh chừng em đấy, phải sẵn sàng cứu giúp em, em sợ lắm.

Khi chúng tôi vào trong nhà thì không còn cháy ánh nến nào, nhưng trong bóng tối có hai vật sáng lấp lánh lượn bay, đó là hai chiếc mặt nạ khóc và cười mà tôi và Man đã treo trên vách, giờ đang rập rờn nhảy múa và tỏa sáng trong bóng đêm. Nhìn thấy chúng tôi, chúng đồng thanh nhao nhao lên tiếng, hu hu, ha ha, vừa kêu khóc, vừa cười ran, vừa ca hát.

Mặt nạ khóc
Ta chờ ta đợi
ta chờ ta đợi
giọt giọt nóng hổi
không có người chơi
lang thang đêm tối
ta thèm sinh sôi,
mà hoan lạc đời,

Mặt nạ cười
Các bạn ta ơi
các bạn ta ơi
oang oang ca hát
sóng trào biển khơi,
Ta là mặt nạ
Ta là mặt nạ
bay mưa vào đời,
đi tìm người chơi
thèm dâng cuộn sóng

Lượn lờ bay nhảy một hồi, chúng chập vào nhau làm một, bất ngờ bay vút qua cửa sổ trong đêm tối mà biến mất.

Dường như Hồ đang lao vào Man, ôm ghì lấy anh như chụp lấy con mồi, tôi nghe những tiếng hổn hển, rên rỉ lạ thường của cô gái, tôi cảm thấy không gian có mùi xạ hương nhưng không chắc, biết đâu chỉ là tưởng tượng.

Không biết chuyện gì đang xảy ra và sẽ xảy ra trong làng này với những người mặt nạ, tôi sẽ ở lại với họ hay là cao chạy xa bay, nhưng trước hết, tôi nằm xuống giường cố dỗ giấc ngủ.

Mà sao khó thế, liệu có ngủ được không trong tiếng kêu gào cuồng dại của Hồ, đó là tiếng kêu của ái ân hay của một điều gì khác.

Không biết.

NHẬT CHIÊU

THÁNG GIÊNG

lephuhai

Tháng giêng chân trần ra phố
Phố ơi buồn tự bao giờ
Dáng ai ngày xưa nho nhỏ
Bây giờ xô dạt về đâu?

Gió thổi giọt mưa rơi mau
Nghe như giọt buồn nước mắt
Quê hương không còn chia cắt
Sao hồn cứ mãi ngóng trông

Gác vắng chiều nay còn không
Tiếng đàn rơi trong lặng lẽ
Người ơi ru đời đi nhé
Bao giờ cho hết thương đau

Ta hứa sẽ về tìm nhau
Leo lên đồi cao đàn hát
Đừng buồn chi sênh phách lạc
Miễn là mắt biếc còn đây

Lưu lạc đã mờ chân mây
Sá gì đường xa vạn dặm
Phương nam thương người lắm lắm
Cầm bằng không biết thì thôi

Có chiếc lá khô mồ côi
Của ai ngày xưa còn đó
Ta để dành đây nè nhỏ
Nhớ về phương bắc xa xôi

Lê Phú Hải

Giấu một niềm riêng

nguyenminhphuc

Một niềm riêng giấu kín
Trong cõi tình mưa bay
Một đời riêng câm nín
Trong bóng chiều tàn phai

Nằm nghe sầu cất tiếng
Chim vỗ cánh muôn trùng
Mới hay lời của biển
Tạc vào ngày vô chung

Niềm riêng nào ai biết
Chìm nổi đời sóng xô
Có một lần ly biệt
Mới hay mình hư vô

Niềm riêng sầu mê mải
Tạc vào ngày gió giông
Hình như ngày hấp hối
Đi về phía muôn trùng…

Nguyễn Minh Phúc

CƠN GIÓ MANG HỒN TUỔI THƠ(TT)

ledachoanghuu

Hợp tác xã oánh kẻng họp tối.
“Họp hành hoài hoài” – nhiều người ngán ngẫm. Bà con tới đông đủ chú Tư râu thông báo:
“Ngày mai bà con đi làm đông đủ và phải làm thiệt hăng say, đi làm ngày mai được chấm hai công điểm, ai không đi bị trừ năm công, đi làm cũng nên ăn mặc đẹp chút” – Buổi hợp chỉ thông báo vậy thôi.
Có người thắc mắc: “Ngày mai là ngày gì mà lạ vậy”.
Chú Tư nhắc lại:
“Bà con cứ theo vậy mà làm, mai biết, thắc mắc làm gì, ở trên hợp tác xã thông báo xuống thì nghe”.
Sáng hôm sau tập hợp điểm “quân số” xong chú Tư đưa ra dãy ruộng lúa tốt nhứt, hiếm có của đội. Lúa non xanh mơn mởn tạo sóng trong làn gió nhè nhẹ. Dì Tư Thể gục gật:
“Chắc dự báo thời tiết bữa nay trời đẹp, có chuyện gì vui đây”.
Chú Tám Phèn tằng hắng:
“Dự báo xấu thì có chị ơi, báo mưa là nắng báo nắng là mưa mà”.
Dì Tư hỏi chú Tư:
“Làm gì ở mấy miếng ruộng này ông, mới làm cỏ mà?”.
Chú Tư trả lời:
“Thì làm tiếp, cứ thắc mắc hoài, tìm cỏ diệt cho sạch, đàn ông làm cỏ bờ cho rát vô”.
Dì Tư chưa tha:
“Ông này ngộ chưa, chưa biết thì hỏi, còn hỏi nữa nè, sao hông làm mấy chỗ cỏ đầy nhóc đó, quởn quá lại đám lúa xanh um tươi tốt mà lội chơi”.
Chú Tư bỏ đi, anh Hải cười he he:
“Gặp chị tuổi cây tre rồi cưng, mắc nhặc lắm, thắc mắc hoài cho chết”.
Dì Tư cũng cười:
“Mày cũng vậy hơn gì tao, mày còn cà khịa dữ”.
Lát sau đúng là do trời đẹp, có một đoàn người ăn mặt chỉnh tề, áo trắng bỏ trong quần đầu đội nón cối, vài người ôm cặp táp, vài người cầm tập ghi chép, có người vác cái máy quay phim xuất hiện. Đoàn người được ông chủ nhiệm giới thiệu là trên có trên tỉnh, trên huyện, có đâu trên trung ương nữa, cười cười nói nói, chỉ chỏ gục gật gục gật liên hồi, chú Tư râu lăng xăng chạy đầu này đầu kia, cũng chỉ chỉ trỏ trỏ.
Anh Hải đất ngó rồi ngẫm nghĩ một hồi sau lên tiếng:
“Đoàn quay phim bà con ơi, mình được quay phim”.
Anh Hải tặc quay qua anh Hải đất:
“Quay cái đầu mày chớ quay phim, đoàn kiểm tra đó mày?.
Anh Hải đất ngờ ngợ:
“Nhưng họ vác máy quay làm gì?”.
Anh Hải tặc ký anh Hải đất cái cốc:
“Mày dốt vừa thôi, họ quay phim phát trên tivi, chắc nói mần hợp tác xã hay lắm, đồng lúa xanh rì, bà con chăm chỉ, hăng hái thi đua”.
Anh Hải ấm ức:
“Nhưng có tivi đâu mà coi”.
Chú Tám phèn bật cười:
“Mày đúng là dốt, bộ người ta quay phát cho mày coi à?”.
Anh Hải vẫn ngơ ngơ:
“Chớ cho ai coi?”.
Dì Tư Thể không chịu được dừng tay đang dặm lúa:
“Mấy ổng phát mấy ổng coi, mấy ổng sướng, hổng lẽ tao nói mày là con…”.
Anh hải thật thà:
“Ờ hen, đầu tui y như bò, ờ mà chắc có phát ô bặc lưa”.
Anh hải tặc bực mình:
“Ô bặc lưa, bặc lưa, từa lưa thì có, mày khoái lắm hả, mấy cha nói xạo xự mà tưởng hay à, báo cáo thành tích là hay chớ có thiệt đâu, có vậy mới dẫn ra đây chớ đầy ruộng cỏ úa ai đếm xỉa tới đâu”.
Anh hải tặc gãi đầu gãi tai:
“Tại tui thấy vui vui”.
Dì Tư Thể cũng bực mình:
“Vui cái nổi gì, đói tới nơi”.
Ngoài đường lộ đã dựng trụ kéo dây, vài trăm thước trên cột gắn cái ô bặc lưa truyền thanh đài phát thanh của tỉnh. Ngày ba bữa sáng trưa chiều phát chừng đâu nửa tiếng, nói tin tức, thời sự xen kẽ ca nhạc… vui nhà vui cửa vui đường xá. Một bữa đang đi học về chợt nghe loáng tháng rồi dừng lại nghe kỹ, nó kéo thằng Hào:
“Ê mậy, nghe gì hông?”.
Thằng Hào vừa đi vừa giỡn với mấy thằng nữa nên nó trả lời:
“Nghe gì đâu mậy, nghe nhạc teng tèng teng”.
“Lắng nghe đi tụi bây, nãy tao nghe nói tới đội mình”.
Thằng Cu anh hỏi lại:
“Vậy hả mậy, mà nói cái gì?”.
“Tao chưa biết mới nghe tới trường mình, tên đội xã rồi nghe nhạc”.
Tiếng nhạc dứt, tụi nó hóng nghe, loa phát ra gương người tốt việc tốt, nói bạn ấy tuy rất vất vả, một buổi đi học một buổi phải chăn bò và phụ giúp thêm việc gia đình lại còn trông em nhỏ, nhưng bạn luôn cố gắng hết sức, chăm chỉ siêng năng nên việc học lúc nào cũng đạt thành tích tốt, không những vậy, bạn còn luôn luôn giúp đỡ bạn học tốt như mình, bạn là tấm gương cho tất cả các em nhỏ… Thằng Hào phá lên cười:
“A, thằng Ân xóm mình”.
Thằng Cọt chưng hửng:
“Ủa, nhà thằng này có bò đâu tụi bây?”.
Thằng Cu anh gãi đầu:
“Làm gì có bò, thằng này học thì được nhưng giúp gì cho ai, nhà khá lắm chớ bộ, còn nhà ở thị xã”.
Nó lắc đầu:
“Thua luôn, hông biết ai nói vậy, hay hay chú Tư râu ta?”.
Thằng Hào cãi:
“Thôi mày ơi, cái này dính gì ông Tư, cái gì cũng đổ ổng, chắc ở trường mình mày ơi”.
Mấy thằng gật đầu, thằng Cọt tiếp:
“Thằng này mới oánh lộn với thằng Học con dì ba Ninh”.
Thằng Hào hỏi:
“Oánh lộn vụ gì?”.
Thằng Cọt đáp:
“À, bữa hai thằng chọc ghẹo nhau, thằng Ân này hát chọc thằng Học, ông Nang ý a ông Ninh, ông ra đầu làng ông gặp ông Ninh, thằng Học chế lại bởi ba thằng Ân tên ông Đình, hát ông Nang ý a ông Đình, ông ra đầu đình ông gặp ông Đình, bị thằng này chế có hơn chữ Đình thằng Ân tức quá gây sự nói thằng này hát bậy, hai thằng cự cãi rồi oánh nhau luôn, hổm tao hông can hông biết oanh tới chừng nào”
Thằng Hào cười khặc khặc:
“Thằng Học hay ta, thằng kia bị gậy ông đập lưng ông hen”.
Thằng Cu anh lè lưỡi:
“Vậy mà sao nó được nói trong ô bặc lưa ta, độc quá?”.
Mấy thằng tụi nó đâu giải thích được chỉ biết lắc đầu. Nó nói:
“Giống mấy người lớn nói đó, báo cáo thành tích thành tung gì mày ơi, mà chẳng có thiệt, vụ này đáng lẽ phải đưa thằng ông kẹ Hào, Cọt đúng là chăn bò có anh đi bộ đội, ở nhà coi em, mỗi khi em khóc thì… oánh em”.
Nghe nó nói oánh em thằng Cọt nói thêm:
“Nói thằng Hào cà xấc, cà xược, ba gai, ghẹo Ba Lễ tối ngày luôn hen”.
Cả đám gục gật cùng cười ha hả.

***

Mỗi tuần ít nhứt hai bữa thanh niên nam nữ trong đội tập hợp quây quần sinh hoạt văn nghệ, tập hát tập hò, lúc ở nhà ông Sáu Hoàng, lúc đi nhà khác, chủ yếu những nhà có sân và nhà cửa rộng rãi, còn có cái ăn, có cái chiêu đãi chút chút. Nhà nó là một địa điểm. Đội sinh hoạt này đã tới nhà nó mấy lần rồi, vui thì có vui nhưng tiêu tốn không ít cho đoàn mấy chục người, khi thì nồi chè to tổ chảng, khi nồi xôi nếp chấm muối mè muối đậu… Buổi chiều ở ngoài đồng đội thông báo lại đến nhà, nó chạy nhanh về nhà báo trước cho má, má nó nhăn mặt:
“Cái gì cũng cạn gần hết biết sao giờ đây ta”.
Nó nói:
“Hầm đại nồi khoai lang đi má”.
Má nó ngần ngừ:
“Hầm khoai lang… hông được đâu con, khoai lang củ luộc chấm muối đậu còn may ra, khoai lang hầm giờ ai cũng ngán tới cổ rồi, mà khoai lang củ mới có hai tháng…” – Má nó chặc lưỡi một hồi rồi tiếp: “Hay con ra vén dây, moi có củ lớn bứt vô đi”.
Nó dạ rồi xách rổ chạy đi, kèm thêm cái rổ nhỏ:
“Con tìm thêm mớ ổi chắc đã chua”.
Má nó ừ:
“Leo trèo cẩn thận”.
Năm nay nhà nó chỉ trồng nửa sào khoai lang. Moi vồng ra khoai dãi rất nhiều nhưng lớn thành củ mới được rất ít, to nhứt bằng ngón chân cái, họa hoằng lắm mới có củ bằng cùm tay, cỡ ngón tay cái nó cũng bứt luôn, moi mấy vồng nhứt rát mấy đầu ngón tay mới đủ, phải moi nhẹ nhàng bằng tay chớ đâu đám lấy cuốc lấy dao, lỡ đứt dãi thì toi, moi xong đấp đất trở lại cho dãi lớn tiếp. Vô vườn cây ổi, mấy con chim se sẽ đang chuyền cành ríu rít, chim thật dạn dĩ như chẳng màng đến sự có mặt của nó, có lẽ những con chim cũng biết nó đâu có hại gì mình. Lục lọi trong lá um tùm một hồi hái được đầy rổ, ổi vừa già tới chứ chưa chín.
Tối xuống, trời quang mát, đêm có trăng sáng, anh Hải tặc vác cây đờn ghi ta tới đầu tiên, anh vừa đi vừa nghêu ngao, tới nhà anh chào má nó:
“Dạ, con chào Bác Hai”.
Má nó nhoẻn miệng cười:
“Tài tử tới rồi hả, cơm nước gì chưa?”.
“Dạ chưa, nhà con hông có cơm”.
Má nó tình thiệt:
“Vậy xuống bếp kiếm ba hột bỏ bụng”.
Anh Hải cười hề hề:
“Dạ, con nói chơi chớ con ăn rồi”.
Anh Hải ngồi xống dạo một khúc nhạc, nghêu ngao một mình, anh chơi đàn ghi ta là số một hát cũng được, tánh nghệ sĩ lắm và cũng ngang bướng trời thần, mái tóc dài của anh bị chú Tư Râu gặp đâu là nhắc tới nhở lui anh vẫn tảng lờ như không, đôi khi còn cà khịa: “Ông cho tiền hớt đi”.
Dạo chừng vài ba bản nhạc là mọi người lục tục kéo tới, chập sau là đông đủ. Bắt đầu hát những bài ca tập thể, “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng”, “Kết Đoàn”, “Con Kênh Xanh Xanh”… Hát tập thể xong là tới màn hát đơn, người hát xong chỉ người kế tiếp hát, tới đây nhiều người không biết hát úp mặt trốn muốn chết, có khi bị bắt phạt, ra giữa làm trò nào đó, thụt dầu chẳng hạn.
Nó bưng rổ khoai lang luộc nóng hổi với rổ ổi lên mà thầm nghĩ chắc kỳ này khoai lang ế rồi. Ấy vậy nhưng không, ngồi đông vui thêm vài câu chuyện tiếu lâm từ chàng tài tử Hải tặc rất có duyên, rổ khoai và cả rổ ổi “bốc hơi” lẹ làng trong chốc lát, rồi tiếp tục hát hò.
Về khuya, người lục tục ra về, một số người còn ở lại, anh Hải móc trong túi quần sau ra quyển tập, bên trong những dòng chữ viết tay nắn nón, những tựa đề ca khúc được vẽ bay bướm, những hình vẽ uyển chuyển theo chủ đề ca khúc, nhìn rất đẹp mắt, vậy là chuyền tay nhau tiếp tục ca hát, nhưng hát thật nhẹ nhàng, êm dịu, hát liu riu cho nhau nghe. Đó là những ca khúc tiền chiến, những giai điệu bolero, rumba… những bản nhạc dù là tình ca nhưng sáng tác trước 1975, ở miền Nam thuộc chế độ cũ sẽ bị quy hết là nhạc vàng, văn hóa đồi trụy, bị cấm tiệt.

***

Không còn chăn bò, nó chủ yếu vô rẫy phụ giữ với ba và chú Ba Mạnh, Người lớn thay phiên nhau ở lại đêm mà canh. Bắp đã kết trái đâu có chơi được, đêm liên tục thức giấc để oánh bọ cạp phòng ngừa heo rừng, gặp đàn có con heo độc chiếc dẫn đầu hung hăng húc tung cả hàng rào chớ không có giỡn. Ban ngày thì phòng chim chóc nhứt là những đàng két và khỉ khọt.
Hôm đi ngang nhà hai con nhỏ chằng lửa, hai đứa bẽn lẽn rồi nhỏ chị cũng hỏi:
“Đi vô giữ rẫy hả”.
Nó gật đầu:
“Ừ, đi phụ coi rẫy”.
Nó trả lời mà thầm nghĩ bụng, “Trời! hai con nhỏ này sao bữa nay dễ thương ghê”, nhỏ em tiếp:
“Ở trỏng bọng chim sáo nhiều lắm, anh tìm bắt cho về nuôi với”.
Nó thấy nhột nhột, ý chà con nhỏ này mấy bữa còn thủ võ đòi uýnh lộn giờ còn kêu anh nữa, chần chừ một hồi nó đáp:
“Ừ, để lúc rảnh đi tìm cho”.
Chim sáo dễ thương, chim nuôi từ nhỏ mới lọt lòng còn đỏ hỏn sau lớn lên rất khôn. Chim sáo ngoài nhảy lưng tưng vui vui còn biết nói nếu nuôi dạy giỏi, ít bỏ bay đi như những con chim khác khi xổ lồng và được cho tự do ra ngoài, luôn quanh quẩn bên người chủ nuôi. Sáo làm tổ trong bọng cây. Như lời hứa nó tìm bắt được ổ có hai con cho hai chị em chằng lửa và còn trộm mấy trái bắp trong rẫy vừa chín tới đưa hai chị em sau khi căn dặn phải giữ kín miệng. Có được hai con sáo và mấy trái bắp hai chị em mắt sáng rực lên liền, nó trở thành người anh quý của hai đứa.
Việc trộm bắp nó đắn đo suy nghĩ rất lâu, cái việc mà nó chưa bao giờ làm. Có lúc nó thấy quá xấu hổ cho việc này, rồi có lúc nó thấy chẳng có gì lớn lao bởi liên tưởng tới những việc người lớn, người lớn rồi mà có nhiều việc làm đâu có đúng, nó ngần ngừ từ sáng tới chiều lẫn lộn trong hai ý nghĩ này cuối cùng quyết định trộm thêm chục bắp đem về nhà. Nó vòng ra cuối rẫy bẻ bắp trái rồi nhổ luôn cây, kiếm chỗ vắng vẻ khó có ai tới, đào lỗ chôn cây bắp xuống luôn, chờ trời gần tối mới về, về tới làng là tối thui mặt mũi, không ai thấy gì. Đem về má nó biết ngay, gặp cái trợn mắt:
“Chết nghe con, người ta bắt được là chết cả nhà nghe con, đừng làm nữa nghe chưa, mà cũng không được làm vậy, đói cho sạch, rách cho thơm”.
Nghe má nó nói mới chợt biết sợ, nếu lỡ có ai bắt được thì đâu phải mình nó mà cả nhà mang tiếng xấu, xin lỗi rít rít mới được tha trận đòn.
Bắp chín, trái nào trái nấy to tròn, chắc hột nhờ đất tốt. Hợp tác xã quyết định thu hoạch bắp tươi. Lao động cả đội cùng đi hái bắp với hai chiếc xe bò. Chặt bắp tới trưa, chú Tư râu kêu mọi người được ăn bữa bắp thoải mái, ai nấy hớn hở cất cơm dỡ theo để dành buổi chiều, nhanh chân đi kiếm củi nhóm lửa, không đợi có lửa than, thảy bắp còn nguyên vỏ vào nướng, cháy hết vỏ thành như bắp luộc mà ngấu nghiến, phần lâu ngày mới ăn lại bắp, phần thiếu thốn toàn ăn khoai lang hầm, được bữa nên gặm ào ào, mấy chỗ chưa chín tới còn sực sực cũng gặm và nhai sạch sẽ. Ai nấy ăn cho bỏ, ăn bụng đầy uống nước không nổi. Đêm về bụng bắt đầu trương sình lên, đầy hơi cho tới vài ngày sau, chút chút lại thải ra cái xì, cái xịt, cái bộp. Nhưng có lẽ chuyện để đời về sau là cái tên của chị Tư tĩn, nghe tên của chị nếu chưa biết ai đều nghĩ rằng chắc ngày trước chị ở dốc lò tĩn, cái dốc cua chuẩn bị vào thị xã, có chất rất nhiều tĩn để bán cho bà con, ở đây lò làm tĩn rất nhiều, cái tĩn là cái hủ nhỏ bằng đất nung để muối mắm.
Đó là bữa hôm sau, đội vẫn đi thu hoạch bắp. Anh Hải tặc đang chất bắp lên xe bò kêu chị Tư rồi sực nhớ chuyện lúc đêm qua vui miệng đặt thêm tên cho chị luôn:
“Tư ơi, Tư ơi, Tư ôm mớ bắp cây lại cho mấy con bò ăn dùm đi Tư… t..ĩ…n”
Dì Tư Thệ thấy lạ hỏi:
“Tư tĩn, ủa hồi nào tới giờ mới nghe đó mậy, Tư làm lò tĩn hả?”.
Anh Hải cười khặc khặc đáp lại”
“Tên tui mới đặt làm sao ai biết, nó làm gì ở lò tĩn”.
“Chớ sao, chớ sao?” – Vài người cũng tranh nhau hỏi bởi cái tên ngồ ngộ.
Anh Hải tiếp:
“He he, bà con nghe nè, tui nói thiệt hôm qua cái bụng tui nó sình lên một đống bây giờ còn, nó muốn xả thì tui xả cái ào cho nó ra liền, còn con nhỏ bày đặt mắc cỡ …”
Anh Hòa ngắt lời:
“Nói lẹ đi cha nội, vòng vo hoài làm sốt ruột”.
Anh Hải vẫn chậm rãi:
“Thủng tẳng chớ là gì dữ vậy, nói tiếp nghe, hôm qua nó đi học lớp bình dân học vụ, nó cũng đâu thua gì tui, bụng cũng chướng cũng trương nhưng con nhỏ mắc cỡ tới lúc xì thì lại ém hơi, ém sao được mà ém, hơi nó đâu có chịu nổi vậy là nó phọt ra, bị ép chặc dưới ghế nên thành cái… t…ĩ…n chớ sao”.
Nghe tới đây ai nấy cười rần rật, anh Hải còn chưa tha:
“Nó tĩn một cái mà cái đèn dầu hột vịt người ngồi sau tắt ngúm luôn”.
Thêm một trận cười muốn bể bụng nửa cho bà con. Chị Tư đỏ mặt tía tai:
“Đồ quỷ sứ, ông vừa vừa nghe ông Hải, ông cứ nghe nói lại, ông nhiều chữ có đi học đâu mà biết”.
Anh Hải lúc này mới an ủi:
“Nói vậy thôi chớ có ai mà hông tĩn” – Anh hô lớn: “Đội sáu…t…ĩ…n”.
Lớp bình dân học vụ là lớp học ban đêm dành cho những người mù chữ, gọi là xóa mù. Học được dăm ba bữa phần tốn dầu tốn lửa phần cả ngày đi làm mệt dần dà tan rã, báo cáo của đội một trăm phần trăm đã xóa mù chỉ nhìn mặt chữ thì… đui.
Bắp thu hoạch về đổ một đống lớn sân nhà ông Sáu Hoàng, mỗi hộ được chia hai trăm bắp trái, hết khoảng một phần tư, số còn lại chở về hợp tác xã, chở về làm gì rồi đi đâu tiếp không ai biết và chẳng ai giải thích. Bà con giờ đã chán ngán hỏi, mạnh ai nấy cứ lấy bắp mang về, mọi sự thể ra sao gần như không còn màng tới.

LÊ ĐẮC HOÀNG HỰU

Mùa đông

tonnuthunga

Gió đông hú qua hẻm vực
Căn nhà nhỏ tựa bên đồi
Run rẩy buồn nấp sau cửa
Tiếng buồn vang dội trong tôi

lá xôn xao theo cánh gió
Cây ngất ngưởng trong cơn say.
Dấu cô đơn sau cánh cửa.
Thả hồn mình theo lá bay.

Thảng thốt nghe tiếng nhạc buồn
Chim về ríu rít cành đen,
Âm xưa chợt tràn tâm tưởng
Xóa nhoà một thưở bình yên…

Yên lặng ai nhìn mây xám
Giăng phủ suốt một đời người
Bóng ai vẫn còn lẫn quẩn
Xin người ra khỏi đời tôi.

Lạnh lùng mùa đông đã đến
Giọt mưa lơ lửng ngang trời
Núi che đầu bằng tuyết trắng
Tình yêu cũng giá băng thôi.

Tôn Nữ Thu Nga

RU KHÚC TÌNH NỒNG

tranvannghia

Hãy nằm trên cánh tay anh
Để nghe nhịp đập tình xanh đâm chồi
Tinh mơ thánh thiện nụ cười
Đón em rộng cánh cửa mời ái khanh

Hãy nằm trên cánh tay anh
Để quên đi hết mong manh kiếp người
Dìu nhau qua những ngọt bùi
Chia nhau dù chỉ một lời ru xưa
Thảo thơm vườn cũ gió đùa
Dưới trăng đêm ngước mắt chờ long lanh

Hãy nằm trên cánh tay anh
Để nghe mưa hát dỗ dành đời nhau
Mắt buồn sẵn áo cứ lau
Giữ nguyên giọt lệ ngàn sau mặn nồng

TRẦN VĂN NGHĨA

NHỮNG NGỌN NẾN TRONG ĐÊM.

tradoa

Buổi tối hôm ấy, một cách tình cờ, tôi ngồi đối diện với một ông trung niên có gương mặt u buồn pha chút bí ẩn. Ông ngồi thâm trầm chẳng tỏ ra chút dấu hiệu nào để tôi có thể, ít ra, cũng nở một nụ cười xã giao.
Ông có cách cầm ly khá đặc biệt: chỉ cầm bằng hai đầu ngón tay cái và trỏ, không để cho lòng bàn tay chạm vào ly. Ông khoan thai đưa ly lên ngang mũi, nghiêng nhẹ cho đủ chạm vào môi, rồi uống từng chút một, nhẹ nhàng như vũ điệu của những vũ công lành nghề.
“Chú em mới đến đây lần đầu?” – Bất thần ông ấy hỏi tôi.
“Dạ, lần đầu…” – Tôi hơi giật mình.
Tôi chợt nhận ra mình đã hơi khiếm nhã khi nhìn ông quá chăm chú. Có lẽ ông cũng biết điều đó nhưng giọng nói vẫn không có gì gay gắt.
“Chú em quen với bọn nào ở đây?” – Ông lại hỏi tôi.
“Dạ, em có một người bạn ở hẻm này”
Thực ra, tôi đến hẻm này đã được vài lần nhưng lần nào cũng có cảm giác bất an. Đó là sự ngoằn ngoèo đến khó lường, một âm khí nặng nề bao phủ lấy từng ngóc ngách, thêm mùi xú ế đậm đặc từ dòng kinh nước đen như mực.
“Này, chú mày làm với anh một ly” – Bỗng nhiên ông mời tôi với gương mặt đã dễ cảm hơn.
“Dạ…”
Rồi tôi nâng ly cùng ông.
“Bạn của chú mày đâu?” – Ông lại hỏi tôi.
“Dạ, hắn chưa ra” – Tôi trả lời.
“Sao chú mày không vào nhà?”
“Dạ, em không nhớ nhà…” – tôi cười cười để xác nhận cho cái trí nhớ kém cỏi của mình – “Hắn có dẫn em đến nhà một lần, sau đó em đến lại một mình nhưng không cách nào tìm được. Cho nên tụi em thoả thuận mỗi lần đến thì hẹn gặp nhau ở đây”
Ông phá lên cười sảng khoái:
“Cái độc nhất vô nhị của con hẻm này là ở chỗ đó. Chú mày có vẻ được đấy, uống tiếp với anh chứ?”
“Dạ…”
Tôi lại nâng ly, chạm nhẹ vào ly của ông. Rồi tôi nhận ra một chút bất thường nơi ông:
“Anh chỉ uống có một mình à?”
“Ờ, một mình, anh chỉ uống với bạn bè khi ở nhà thôi”
“Sao anh không mời bạn bè ra đây có phải vui hơn không?” – tôi nói đùa.
“Đây không phải là nơi thích hợp…”
Ông khựng lại và thở dài:
“Anh quen nhiều người ở đây nhưng chẳng chơi được với ai. Bọn này ăn uống như phàm phu tục tử, nốc rượu như nước lã. Bọn chúng cần say chớ đâu cần bạn… Mà thôi, kệ họ, uống tiếp nhé?”
Ông lại nâng ly lên ngang mũi rồi nghiêng cho đủ chạm vào môi. Tôi tưởng tượng, nếu cần cổ ông được làm bằng thuỷ tinh, tôi sẽ thấy được từng giọt rượu mỏng bò chậm chạp qua cái ống dài ấy. Có thể ở những gã phàm phu tục tử kia rượu sẽ tuôn xồng xộc qua ống, dồn dập đến mức họ không kịp thở, mắt trợn trừng lên làm cho gương mặt họ đỏ như gấc…
Tôi lại nâng ly và cố uống chậm chạp. Bên cạnh, bọn phàm phu tục tử vẫn đang nốc như điên loạn. Đã đến cao trào của đêm. Lần lượt những gã lắc lư thay nhau bước ra phía sau để bài tiết. Gương mặt của họ bây giờ trông lờ đờ như ma ám. Những giọng nói lè nhè kể những câu chuyện không đầu không đuôi…
Nhưng ông trung niên vẫn còn tỉnh queo ngồi im lặng, thỉnh thoảng nói vài câu. Có lẽ ông đang ngắm tôi, ngắm cái cách tôi nâng ly và uống. Không biết ông có nhận ra được điều gì đặc biệt hay không. Có lẽ là không. Bởi tôi cũng chẳng có gì đặc biệt, có khi tôi cũng chỉ là hạng phàm phu tục tử. Trước khi nâng ly rượu cùng ông vào tối nay, suốt nhiều năm qua tôi chưa từng nghĩ ngợi gì về cách uống rượu. Đối với tôi, nó chẳng đáng để phải chú tâm.
Đêm đã dần khuya. Có lẽ tôi đã bắt đầu say. Nhưng ông đã lên tiếng nhắc nhở:
“Bạn chú mày chắc không đến đâu nhỉ?”
À, tôi lại quên béng chuyện đó. Lạ thật, sao tôi lại có thể quên chuyện hẹn thằng bạn.
“Dạ, chắc hắn bận chuyện gì đó”
“Chú mày tính sao, uống tiếp hay về?”
“Chắc có lẽ em về”
Ông hơi gật gù một chút rồi nói:
“Hay chú mày đến nhà anh uống tiếp cho vui?”
Tôi lờ mờ nhận ra đó là một lời mời, từ một người đặc biệt và chỉ mới quen.
“Dạ, anh mời em à? Vâng, cũng được, nếu anh không chê thì em xin tới…” – Tôi trả lời như nói từ vô thức.
Và ngay lập tức tôi mơ hồ nhận ra sự nông nỗi của mình. Nhưng có lẽ đã có thứ gì đó toả ra từ giọng nói của ông tựa như sức hút vô hình, hay chỉ là sự phá vỡ điểm tới hạn của trí khôn thường ngày để trí não tôi bước vào vùng kích động không thể cưỡng lại của những tò mò. Tôi không còn khả năng, hay không còn ý muốn chống lại một cám dỗ nhẹ nhàng như vậy.
Ông dẫn tôi qua nhiều ngõ rẽ, chui vào từng góc tối, rồi đến một căn nhà thấp nằm đối diện với con kênh đen.
Ông loay hoay mở cửa và sau đó tôi bước vào căn nhà tối om sặc mùi ẩm mốc.
Ông bật quẹt thắp cây nến. Lạ nhỉ, ông chẳng bật điện. Hay ở đây chẳng có điện. Tôi ngại ngùng bước vào sâu hơn nhưng chẳng dám hỏi. Mà hỏi làm gì, trước sau gì chẳng biết.
Thực ra đã có mọi thứ bày biện sẵn ở căn phòng phía sau. Nơi đó yên tĩnh hơn vì cách xa đường.
Ông bước quanh căn phòng và thắp tất cả những cây nến đã được dựng sẵn ở đó. Rồi khi tất cả chúng cùng sáng lên thì mọi thứ trong phòng đều được soi tỏ. Trước mỗi cây nến đều có một cái ly nhỏ. Tất cả chúng quây quần thành một vòng tròn.
Ông bước tới và ngồi vào đầu cái vòng tròn ấy, còn tôi ngồi kế bên.
Đến bây giờ ông mới lên tiếng:
“Nào các bạn, hôm nay chúng ta có một khách mời. Một chú em tôi mới quen… Không có ai phản đối chứ?”
Những ngọn nến cùng dao động, chao qua chao lại…
Nhìn gương mặt như ngây ra của tôi, ông chỉ mỉm cười mà chẳng giải thích gì.
Rồi làm theo ông, tôi cũng nâng ly, cụng vào bụng ly. Lần này tôi cố học theo cách của ông: nâng ly lên ngang mũi, hơi nghiêng cho chạm nhẹ vào môi, rồi uống từng giọt.
Khi tôi đặt ly xuống, ông nhắc tôi:
“Bây giờ cậu đi rót rượu nhé!” – Ông chỉ tay vào những cái ly trước những cây nến.
Tôi cầm chai rượu lần lượt rót vào từng ly. Khi tôi rót vào ly của mình và cũng là ly cuối cùng, ông đằng hắng vài tiếng rồi nói:
“Từ từ chú mày sẽ hiểu… Đó là những người bạn của anh, họ đang ngồi đó, xung quanh căn phòng, cũng như anh với chú mày đây thôi”
Ông trỏ tay vào những ngọn nến đang lắc lư:
“Họ đang lên tiếng đó, họ đang cười chào cậu…”
Những ngọn nến lại lắc lư mạnh hơn, nghiêng ngả…
“Anh sống có một mình à?” – Bây giờ tôi mới tìm ra lý do để có thể lên tiếng.
“Ừ, một mình. Mà cậu có vợ chưa nhỉ?”
“Dạ có rồi…”
“Trước đây rất lâu anh cũng đã từng có vợ nhưng cô ấy chỉ chịu được có 48 tiếng đồng hồ là bỏ chạy mất dép…”
Ông phá lên cười. Những ngọn nến hình như cũng cười bởi chúng vẹo qua vẹo lại liên hồi.
“… Đâm ra bây giờ anh chỉ sống có một mình cùng những người bạn này”
Tôi nhìn ông, định mở môi nói, thì đã bị ông chặn lại:
“Cậu định hỏi về những người bạn này của tôi?” – Ông chỉ vào những ngọn nến.
Rồi chẳng đợi tôi trả lời, ông giải thích tiếp:
“Thực ra họ đã ở đây từ lâu rồi, ngay dưới lớp đất này. Họ đông lắm, có đến hàng ngàn, hàng vạn,… phải không các bạn?”
Ông quay qua hỏi những ngọn nến. Thật lạ, những ngọn nến cùng gập ngọn lại như gật đầu…
Bây giờ thì dù muốn dù không tôi cũng phải cố hình dung ra những bóng người đang ngồi quây quần thành vòng tròn ngay trước mắt mình. Có thể họ chỉ là sản phẩm tưởng tượng của một kẻ đồng bóng, hay tệ hơn, của một gã tâm thần – kẻ luôn bị ám ảnh bởi những bóng ma. Tôi lần hồi kết nối lại những dữ kiện xung quanh con người đặc biệt này: một kẻ trung niên nhưng cô độc, sống âm thầm không bạn bè trong một căn nhà ẩm thấp, nằm sâu trong một con hẻm dài hun hút như mê cung. Tôi đã từng nhiều lần đến con hẻm này và lần nào cũng có cảm giác nó giống như một cái hang sâu đầy ma lực, nó sẽ hút người ta vào đấy, vào tận nơi tăm tối nhất và mãi mãi không thể trở ra. Không có con đường trở lại cho những người như ông ấy. Có lẽ ông ấy đã lún quá sâu vào cái hang này rồi…
Chúng tôi lại nâng ly. Tôi uống một hơi cạn hết ly rượu rồi cầm chai đi rót. Tôi tưởng mình chỉ làm vậy cho ông hài lòng. Nhưng không,… Tôi giật thót người khi thấy những ly rượu trước những ngọn nến cũng đã cạn khô.
“Bây giờ cậu đã tin chưa?” – Ông mỉm cười ý nhị.
Tôi gật đầu xác nhận rồi im lặng uống tiếp những ly rượu do ông rót. Một lúc sau, khi tinh thần bình thường trở lại, tôi hỏi ông:
“Nhưng họ từ đâu đến vậy?”
“Làm sao biết được hết, họ đến từ khắp nơi. Nhiều lắm, kể sao xuể, bao nhiêu thế hệ với bấy nhiêu nguyên nhân. Từ thời nhà Nguyễn, sang thời Pháp, rồi tới sáu tám, bảy lăm,… Họ nằm chất chồng ở đó nhưng chẳng siêu thoát được. Những kẻ phàm phu tục tử hàng ngày đang ngồi trên lưng, trên đầu họ, hát hò ăn uống, nhậu nhẹt, làm tình, thậm chí phóng uế… Nhưng có ai đoái hoài đến họ đâu. Chẳng ai biết họ tồn tại ở đó. Họ cũng có vui buồn hờn dỗi và chờ đợi trong nỗi niềm tuyệt vọng…”
Những ngọn nến đột nhiên nhỏ lại, hiu hắt như sắp tắt.
“Họ đang buồn đó, có người đang khóc vì mình đã nhắc lại chuyện cũ. Mà thôi buồn làm chi, dù gì thì cũng đã ngủm hết rồi, làm gì có công lý cho những oan hồn, đúng không?”
Ông lại phá lên cười. Những ngọn nến chắc cũng đang cười theo, chúng vụt cháy bùng lên, nổ tanh tách náo nhiệt.
Tôi cũng thấy vui lây…
Chúng tôi lại tiếp tục uống. Rồi ông gõ tay xuống nền nhà hát ê a một bài gì đó. Những ngọn nến cũng lắc lư theo…
*
Tôi say bí tỉ và ngủ lúc nào không hay. Khi tỉnh dậy thì trời đã sắp trưa. Đợi tôi rửa mặt mũi xong, ông bưng đến một tô phở nóng và bảo tôi ăn đi. Tôi ăn xong thấy người khoẻ lại và chuẩn bị ra về.
Ông đưa tôi ra đến tận đầu hẻm. Trước lúc tôi lên xe, ông nói thêm một câu:
“Cậu đã làm được một việc tốt đó…”
Tôi ngớ người chưa hiểu thì ông đã nói tiếp:
“Khi tôi mời được một người thiện tâm đến nhà thì sẽ có một linh hồn được siêu thoát. Đêm qua cậu đã giải thoát cho một oan hồn tội nghiệp ở đó…”
Giọng ông nghe tựa hồ như âm vọng của hơi gió, cứ bám theo tôi không dứt cho đến khi tôi đã rời xa nơi ấy…

TRÀ ĐÓA

Vĩnh Biệt Anh Đinh Cường

tranvanle

Họa sĩ Đinh Cường đã qua đời
Anh đi vào buổi tối tại Burke Virginia
Tuyết nở hoa
Tặng anh một Vòng Hoa Vĩnh Biệt!

Anh Đinh Cường anh không còn biết
Những giọt nước mắt màu gì
Tôi nhất định không lau
Để yên cho màu tê tái!

Cái mà anh để lại
Là Đà Lạt của tôi!
Nơi anh ra đời
Lại là không chỗ đó!

Bây giờ chỗ nào cũng chỗ nhớ
Những bước anh đi qua
Huế rất xa
Và Sài Gòn trong hơi thở… không còn nữa!

Ở Dran hoa quỳ đang nở
Anh hứa về, sau Tết, mà thôi
Tuyết đang bay nơi anh ngủ tuyệt vời
Tôi xin trải thêm nước mắt cho anh trôi về Tổ Quốc!

Anh Đinh Cường!
Tôi, Trần Vấn Lệ, tôi đang khóc…
Thôi anh đi đi đường xa khổ nhọc
Tôi xa xôi không kề vai vác chút xíu quan tài…

Trần Vấn Lệ

TIN BUỒN

12039515_1033513883335790_7396955425592080965_n

Biết tin Họa sĩ Đinh Cường vừa qua đời lúc 9 giờ 40 phút tối ngày 7 tháng 01, 2016 tại một bệnh viện ở Washington DC, sau một thời gian dài bị bệnh.
TUONGTRI.COM thành kính phân ưu cùng bạn Đinh Trường Chinh và gia đình.
Kính chúc chú yên nghỉ thanh thản trong cõi vĩnh hằng

Dinh Cuong (9-2015)
(Tranh Sơn Dầu trên bố 20″.24″, thực hiện tháng 9 năm 2015, Họa Sĩ Trương Vũ)