ĐINH CƯỜNG, MỘT LINH HỒN TRONG SUỐT ĐANG BAY

nguyenthikhanhminh

Như một nén tâm hương tưởng niệm Họa Sĩ Đinh Cường, vừa ra đi ngày 7 tháng 1 năm 2016 (lúc 9 giờ 40 giờ miền đông Hoa Kỳ).

Trong Suốt Như Khí Trời -ngôn ngữ của Khuất Đẩu- Tôi đang nhìn qua một áng mây như vừa chợt xanh. Một ánh nắng vừa chợt vàng ửng lên sau cơn mưa. Một chiếc lá vừa run rẩy hạt mưa trên cành rụng xuống vô thanh. Một làn gió vừa chợt thổi nhẹ nhẹ, cuốn nước mắt tôi tan theo. Và tim tôi vừa lẫy một nhịp nghẹn. Phải Người đó không? Nụ cười mỉm, nhẹ với lấp lánh ánh nhìn, giọng nói chậm, mỏng như mây nên có cánh níu gần lại những thân tình. Tất cả đều trong suốt với linh hồn đang bay lên kia, bây giờ tôi mới càng thấy rõ cái tận đẹp của vô hình này của Khuất Đẩu, và tôi như nhìn thấy rất gần, rất sáng, một linh hồn đang bay, phải Người đó không? Đang trong suốt trong từng hạt lệ của anh em bạn bè…
Sáng nay, trời Santa Ana cũng đã thôi lay động sau những ngày mưa dầm, mới có chút thời gian để đọc e-mail ngày 7 tháng 1 lúc 20:51 của anh Nguyễn Quang Chơn với subject Đinh Cường, Một Người Khiêm Tốn, Nhân Hòa Và Độ Lượng, đọc mới chỉ tới… anh quí trọng, chăm chút tuổi trẻ…, thì phone reo, và Ngọc Sương với giọng nặng chĩu, ngắt quãng, khánh minh ơi thầy Đinh Cường mất rồi, tôi hốt hoảng, ai, một cái tên được lập lại để rồi tôi như bị đẩy chìm xuống một không khí ngàn cân, giống y hệt cảm giác một đêm cuối năm mùa đông 2012, cũng giọng như từ sương mù vọng tới của Ngọc Sương, -anh Trương Thìn đi rồi khánh minh ơi-, -khánh minh ơi thầy Đinh Cường mất rồi-. Ngọc Sương ơi, cái phút giây im lặng ấy sao mà dài mà hút mình vào trống không đến vậy, như đang lửng lơ không trọng lực. Từ mùa đông năm ấy đến mùa đông năm này, giờ đã là một điểm. Thấy như anh Trương Thìn đang ngả mũ đón nụ cười chúm chím nhân từ Đinh Cường, Ô hay đấy bến đây bờ thong dong… (thơ Trương Thìn). Một điểm chập chùng lệ của kẻ ở… Nhớ, nhớ… Thầy Hoàng Quốc Bảo, vừa nhắn tin, “KM ạ, bây giờ là lúc nhiếp tâm mạnh mẽ niệm Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.” Vâng, niệm nhưng sao mà nghe rõ tiếng trầm trầm dội vào tim đau quá. Tôi nhìn chiếc ghế dựa trắng trước cái TV trong phòng khách, họa sĩ ngồi đó, mùa hè năm ngoái, cùng với anh Lữ Quỳnh, Thành Tôn, và nhà tôi, ngồi xem world cup, tiếng cười nói ấy đang bay về đâu, mùa hè ấy giờ đã kiếp xưa của người rồi…Tôi nhớ cái hiu hắt lạnh mùa thu của buổi tối gặp gỡ do anh Nguyễn Xuân Thiệp từ Dallas sang khoản đãi, ánh sáng vàng ấm tỏa xuống chiếc bàn tròn bạn hữu, họa sĩ ngồi đó, bên cạnh tôi, nụ cười mỉm, nhẹ như một mảnh thuyền cong đang trôi trên con sông rất dài, rất hẹp nơi quê nhà, và tôi bất chợt thấy một vùng sáng sau lưng người ánh xanh như một bức tranh người vẽ về bầu trời thành phố, xanh tha thiết nỗi hoài hương, tranh của người luôn tỏa cái xanh khắc khoải ẩn dụ giấc mơ trong những cánh chim ngược gió, trong những gợn sông u hoài… Bao giờ cũng vậy, khi nhìn tranh của người, tôi ngắm rất lâu và tôi thấy mình xuyên qua màu xanh ấy để nghe vọng về từ bầu trời, từ dòng sông, từ những cành cây khô, âm âm tiếng thơ. Một tiếng thơ nhạy cảm, cô độc, trữ tình, khi một mình đối diện trước khung vải, thử gạch một đường xem tới đâu… (thơ Đinh Cường), khi đọc câu thơ này tôi như vừa bước hụt một cái, nó hẫng mênh mông, tới vô biên vô tận, hay vừa vặn một nhịp đập như gió thoảng của trái tim bi cảm?
Ôi! Giờ này bên bờ nguồn cội hẳn người đang cúi xuống dòng trong để bắt gặp lại hạt lệ bao lâu rồi viễn xứ…

Thử gạch một đường xem tới đâu*
Xa như cuối trời vừa đóng lại
Vắng như đêm vừa mở giấc mơ bay

Bay cuối dòng gặp bạn ngồi trông
Tiếng đàn rung gợn âm chín suối
Một màu xanh ngát ngát hòa âm

Âm vỡ tiếng cười rền rền sương khói
Người nghe chút nhớ tuyết mùa xưa
Con đường ấy đã một lần đứng lại

Cột dây giày, ngó mông trời ly viễn
Thở hơi ra ngụm khói tàn mau*
Con chim hót giọng khan ngày nhuốm bệnh

Ngó lên trời hạt nước mắt ai bay
Bay theo màu xanh thơm mùi cọ
Có mùa đông khóc tiễn trong mây

Ngó xuống ngày vàng xao xác lạnh
Mơ ai cào lá ngoài sân đêm*
Bay bay lên những linh hồn lá mỏng

Nghe một mình bóng ai đâu đây
Tôi bưng mặt. Mùa đông qua lồng lộng
Nghe đất trời vừa gần lại, hôm nay…

NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH
Santa Ana, Ngày 9 tháng 1 năm 2016

*Thơ Đinh Cường: người vẫn đi trong chiều rất lạnh / đèn xe chóa sáng ngược về đâu / người đứng nghỉ cột dây giày lại / thở hơi ra ngụm khói tàn mau…
*Cào Lá Ngoài Sân Đêm, tên một tập thơ, tranh Đinh Cường

Ở Đây Sương Khói Mờ Nhân Ảnh

tranvanle

Hôm nay, ngày Thứ Tư 13 tháng Giêng năm 2016,
Anh Đinh Cường chính thức đi vào Thế Giới khác,
Thế Giới Tro Bụi,
Hình hài của anh còn để lại là những bức tranh long lanh màu nước mắt,
Hình hài của anh còn để lại là tấm hình anh đặt trên bàn thờ,
Hình hài của anh còn để lại chỉ là cái bóng,
Cái bóng ấy đè trên ngực tôi,
Tôi nhớ anh dù chỉ có hai lần giáp mặt,
Mộttại quán cà phê vĩa hè, một tại nhà họa sĩ Nguyễn Đình Thuần,
Chúng tôi chỉ cúi đầu chào nhau,
Tôi chưa nói với anh lời nào vì tôi biết anh hồi tôi ở Đà Lạt đường Yagut,
Anh không nói gì với tôi nhưng tại nhà Thuần anh nhờ một người “chụp cho tôi tấm hình Trần Vấn Lệ”,
Tôi để tất cả tự nhiên,
Đó là lần cuối anh về thăm bạn bè ở Nam California đầu năm 2015,
Đó là lần cuối lần cuối lần cuối lần cuối…
Và, bây giờ là lần cuối anh nán lại cõi trần để hai tiếng đồng hồ nữa anh xa luôn!

Tôi viết những dòng này lúc 6 giờ sáng ở Temple City, bên anh 9 giờ sáng…
Chúng tôi có mấy lần email cho nhau…
Dè chừng từng chữ, từng câu…
Cái thẳm sâu là biển cả
Cái vời vợi là núi non quê nhà…
Tôi nghe Thuần nói tháng Hai này anh về Sài Gòn triển lãm lần cuối
Và Thuần có góp tranh với anh,
Tôi mừng lắm.

Thế mà hai tiếng đồng hồ nữa anh thành tro bụi
Tháng vẫn còn tháng Giêng…
Đây là những lời rất riêng xin thổi bay về anh…
Tôi nhớ những bức tranh anh vẽ quạ anh gửi cho tôi qua những bản photocopies…
Từ lâu rồi và từ nay, nghe tiếng quạ kêu, tôi nhớ anh, tôi nhớ anh thêm…
Anh Đinh Cường à, Hàn Mạc Tử từng nói:
“Ở đây sương khói mờ nhân ảnh…”
Tôi biết tôi yêu quý anh vô cùng!

Trần Vấn Lệ

Trích Tiên

tamthanh

Căn cứ không quân Banak trong một ngày hè uể oải. Dưới nắng chói chang, đường bay trải dài loang loáng như có ai khéo tạt một vũng nước vuông vức ra tận vịnh Porsangen. Ba dãy trại sơn trắng, ghép thành hình chữ U nằm buồn như chợ chiều. Cái hăng-ga khổng lồ đóng cửa im ỉm. Tôi ngồi “gác kiểng” trên đài quan sát, mường tượng cảnh những chiếc máy bay F-16, F-5 tấp nập lên xuống hồi Nato còn đóng ở đây. Bây giờ chỉ còn đàn hải âu lười biếng lượn trên bầu trời trong. Giá tôi có thể thả cho đời trôi như thế. Tiếng chuông điện thoại reo. Tôi hấp tấp bắt máy:

– Ðài quan sát, phi trường Banak, tôi nghe đây ạ.

– Thân đấy hả? Nghe đây: Có một người Việt Nam, đang ở phòng cảnh sát Tana, không biết một chữ Na-uy. Họ cần người dịch. Cậu có muốn giúp họ không?

Tôi nói như trẻ con xí đồ chơi:

– Dạ, muốn chứ, thiếu tá.

– “Muốn chứ”- ông thiếu tá có tật nhái lời, lúc mới nhập trại tôi cứ tưởng ông kỳ thị, rồi tiếp -Nửa giờ nữa có người lên gác thế, anh xuống văn phòng gặp tôi. Có trực thăng tới đón.

Bỏ điện thoại xuống, tôi mới bắt đầu tự hỏi: tại sao lại có người Việt nào lạc loài lên miền địa đầu giới tuyến này? Tưởng chỉ có mình tôi điên. Chắc là một du khách người Việt đi coi mặt trời đêm, quên đường về? Hay là một người từ Nga nhảy rào xin tịn nạn chính trị? Ôi! Nếu là một vụ tị nạn thì thật hấp dẫn. Tôi nhìn cây kim đồng hồ treo dưới chân dung quốc vương Harald và hoàng hậu Sonja nhích đi chậm chạp.

Tôi thay đồ dân sự xong lên trình diện. Ông thiếu tá thấy vẻ hăng hái khác thường của tôi, tò mò hỏi:

– Tại sao anh -tay tổ làm biếng- lại sáng mắt lên nhận việc này?

– Lâu quá tôi không được gặp người đồng hương.

Vâng, tôi đang phục vụ ở một nơi hẻo lánh cỡ như Lạng Sơn của Việt Nam, nhưng trong vòng 1000 cây số hình như chỉ có một người Việt. Và lý do tôi vận động đi quân dịch, mặc dầu đã quá tuổi bắt buộc, là vì sau khi ra trường, tôi xin việc mấy chục chỗ không được, đâm buồn chán, trống rỗng, muốn đi thật xa một phen. Hơi quá xa.

Từ bãi trực thăng đi vào phố chỉ chừng 2 km. Tana là một xã nhỏ cực bắc của Na-uy, giáp giới Phần-lan, và là một trong những con đường chính từ Nga sang. Từ vài năm nay, mùa hè ở đây tràn ngập du khách, nhiều nhất là người Nga và Phần-lan. Người địa phương, phần đông là thổ dân Same, nghe nói cũng giòng giống Mông-cổ, nhưng so với dân Viking, không gần gũi với tôi gì hơn. Xe chở tôi chạy qua một khu chợ trời náo nhiệt. Sau ngày Liên bang Xô-viết sụp đổ, người Nga tuồn cả núi quân nhu, quân cụ ra bán. Nào là “mũ nơm gà” Hồng quân Liên xô, huân chương, áo giáp, ống dòm, la bàn, nào là quần áo nhà bin h, tượng Lê-nin, Xít-ta-lin, bao cao-su… được bày la liệt trên lề đường, như một cuộc chiến vừa tàn. Ở vài góc đường, những cô gái Nga -rất dễ phân biệt với gái Na-uy nhờ nét mặt thanh tú, thân người thon nhỏ- ăn mặc phong phanh, mời mọc. Có lẽ đây là mấy cô mà bọn con trai trong trại thường to nhỏ, xuýt xoa mỗi lần đi phép về, và ông thiếu tá cũng đã cảnh cáo, nhưng vẫn không yên tâm, bắt cả trại thử máu thường xuyên.
Ty cảnh sát nằm sau nhà thờ. Người đón tôi là một ông trung sĩ cảnh sát, nhưng người điều tra lại là một cô sĩ quan xinh đẹp, tóc ngắn, da dẻ đỏ như đồng, chắc suốt mùa hè này chỉ tắm nắng. Cô tự giới thiệu là Marianne. Vào phòng thẩm vấn, tôi vừa ngạc nhiên vừa mừng, không hiểu tại sao, khi thấy “đối tượng” thông dịch là một cô gái. Cô đang ngồi quay lưng về phía cửa ra vào, khi cô đứng lên, quay lại, tôi hoa cả mắt vì vẻ đẹp khác thường. Bị hớp hồn, tôi mở lời bằng một câu u mê:

– Cô người Việt?

Nàng cũng thẫn thờ:

– Anh người Việt?

Trong lúc chờ Marianne tìm thêm ghế, tôi nhìn trộm đôi môi hồng vừa thốt ra những âm hưởng Hà Nội ấm và sang, và nghĩ cái câu “Anh người Việt?” có thể dùng để chào nhau, thay cho câu “Bác xơi cơm chưa?” của miền bắc Việt Nam. Khi người nữ sĩ quan cảnh sát bắt đầu gài mẫu biên bản lấy cung vào máy đánh chữ, tôi hiểu đây không phải chỉ là vụ cớ mất bóp hay du khách lạc đường, và trong tâm trạng của một người chín tháng nay chưa thấy mặt người Việt Nam, tôi nghĩ bụng cô gái xinh đẹp này… oan, dẫu chưa biết sự cố liên quan tới việc gì. Người sĩ quan bắt đầu:

– Cô tên gì?

– Natasja Jakusjok.

Tôi không nghe kịp tên họ, phải chìa tờ giấy, xin cô gái viết. Trong lúc Marianne so mảnh giấy cô gái viết với tờ thông hành, tôi so nét mặt thuần túy Việt Nam với cái tên Nga Natasja, lòng đầy nghi hoặc. Marianne tiếp:

– Cô sang Na-uy làm gì?

– Du lịch.

– Từ bao giờ?

– Chiều thứ sáu.

– Bằng phương tiện gì?

– Xe buýt.

– Khởi hành từ đâu?

– Murmansk.

– Ai mời cô sang Na-uy?

– Tôi tự sang.

– Không có ai từ Nga tự sang Na-uy được. Phải có người từ Na-uy mời, lãnh sự quán của chúng tôi ở Murmansk mới cấp phép nhập cảnh.

– Tôi mà được mời?

Marianne tỏ vẻ nửa ngạc nhiên, nửa thất vọng. Tôi tự nhiên đâm thông minh hơn thường lệ một chút, dịch chữ “mời” thành “bảo lãnh”, và nhắc lại câu hỏi. Quả nhiên người đồng hương hiểu ý, trả lời:

– Tôi không biết tên người bảo lãnh.

– Cái tên đó cô phải biết để viết đơn xin chiếu khán.

– Tôi không viết đơn.

Marianne như sắp chụp được con mồi:

– Ðó. Tôi muốn hỏi người nào viết đơn giùm và tổ chức chuyến đi cho cô?

– Tôi không biết. Tới phiên thì tôi mua vé xe. Người bán vé chỉ cho tôi đi xe nào, tôi lên xe đó.

Người nữ cảnh sát thất vọng, xoay mặt lại cái máy chữ từ nãy đến giờ nằm thất nghiệp, lùa tay vào mái tóc nâu. Tôi quay sang Natasja. Tia mắt tôi chạm phải bàn tay cô trắng nuột nà đặt trên đùi, tôi quay đi chỗ khác. Nhưng rồi trong lúc dịch tôi không thể tránh nhìn vào một trong hai người. Tôi nảy ra một so sánh: lúc mới gặp cô cảnh sát, tôi thấy cô đẹp như một nữ tài tử đóng trong các phim James Bond; lúc này ngồi cạnh cô gái Việt, cô trông như một nữ tì. Nhưng người “nữ tì” đã quay phắt lại, nghiêm nghị, dằn từng tiếng:

– Chúng tôi bắt được quả tang cô bám dâm.

Tôi hụt hẫng, bàn tay co giật, loại co giật mà tôi thường gặp khi rơi từ cơn chập chờn vào giấc ngủ sâu, hoặc như khi đi đường băng trơn với em gái, mà nó bị trượt. Tôi sượng sùng, dịch “bán dâm” thành “tiếp khách”. Nhưng hai tiếng này cũng đủ như một tảng đá tròng vào cổ, cô gái Việt cúi đầu xuống. Ðầu tôi cúi theo. Một tiếng nhỏ, khàn đục bật ra từ khóe môi lợt lạt:

– Phải…

Cô thú nhận với người cảnh sát Na-uy, nhưng theo thói quen, cô quay sang người thông dịch tội nghiệp. Mắt cô mở lớn, trong vắt, van lơn. Lồng ngực tôi đòi lấy hơi để trút một tiếng thở dài, nhưng tôi cố nín, và càng khó chịu hơn. Và khoảng cách giữa tôi và người con gái đồng hương trở nên bồng bềnh như một mạn thuyền với một cánh bèo trên biển sóng, lúc xa, khi gần. Tôi không làm nghề thông dịch, nhưng hồi còn đi học, thỉnh thoảng tôi có đi dịch để kiếm tiền tiêu vặt. Trước khi được nhận làm, tôi phải học mấy giờ về luân lý chức nghiệp. Hình như tôi nhớ được đôi điều, và bây giờ tôi nhủ lòng mình “Ðây không phải việc của tôi”. Cuối cùng cô gái “Natasja” tiếp:

– Nhưng… luật pháp Na-uy không cấm việc này… có phải không?

Phản ứng bớt buông xuôi của Natasja khiến tôi ngạc nhiên. Marianne nghe vậy, lại trở nên hăm hở:

– Ðúng. Luật pháp Na-uy không cấm việc mãi dâm, nhưng cấm hoạt động ma cô. Chúng tôi cần biết ai làm ma cô cho cô?

– Không ai làm ma cô cho tôi cả.

– Thôi. Xin hỏi câu khác: Cô vừa nói luật pháp Na-uy không cấm mãi dâm, mà cấm ma cô. Ai nói cho cô biết điều này vậy?

– Bạn bè.

Quanh đi quẩn lại, rõ ràng là cô cảnh sát chỉ muốn tóm cổ mấy thằng ma cô. Nhưng có gái giang hồ nào giám chỉ điểm ma cô của mình? Hồi nãy khi đi qua khu chị em ta, tôi cũng thấy những bộ dạng khả nghi, chẳng phải người địa phương, cũng chẳng phải du khách hay người thập phương tới buôn bán. Cảnh sát cũng dư biết như thế, có lúc gặp tên ma cô nhâng nháo quá, họ ngứa mắt, đã bắt thử, nhưng chẳng có chứng cớ, phải thả ra cho nó nhâng nháo thêm. Cơ hội duy nhất cho biện lý cuộc là lời khai của các cô gái giang hồ. Nhưng các cô ấy, nhất là cô gái lạc loài ngồi trước mặt tôi đây, làm sao dám nói? Tôi ngước lên nhìn Natasja, gặp đúng lúc cô cũng ngước lên nhìn tôi – trong đôi mắt sâu ấy, cô đang chới với. Marianne dòm lăm lăm vào tờ biên bản gài trên máy chữ như để moi ra câu hỏi mới. Cuối cùng cô ta chuyển đề tài:

– Cô có quốc tịch Nga, nhưng sanh tại Việt Nam?

– Vâng

– Cô lấy chồng Nga?

– Vâng.

Marianne ráng tỏ ra kiên nhẫn:

– Cô Natasja ạ, chúng tôi không bao giờ làm gì hại cô. Chúng tôi chỉ muốn biết tên và có bằng chứng truy tố bọn ma cô. Vậy cô cứ nói cho tôi biết ai đã đưa cô tới đây?

Natasja ngơ ngác:

– Ðưa tới đâu cơ?

Marianne nói muốn nghỉ giải lao mươi phút, trong khi đó tôi phải ra văn phòng làm thủ tục tính thù lao. Marianne gặp tôi ở phòng khách lúc tôi định lấy tách cà phê cho tôi và có lẽ một tách cho cô gái. Cô hỏi chuyện lính tráng của tôi, về người tị nạn Việt Nam ở Na-uy. Câu chuyện lan man sang việc, vào năm 93, cô tham gia chiến dịch vĩ đại chuẩn bị cho trường hợp một triệu người Nga tràn vào Na-uy tị nạn chính trị hoặc nạn đói. Một nhà báo nổi tiếng dí dỏm gọi chiến dịch đó là “cuộc chuẩn bị đón tiếp các công dân của Thiên Ðường đở vỡ”. Việc đó may không xảy ra, nhưng lại xảy ra một cuộc xâm thực dưới hình thức khác. Cô hỏi tôi có biết về các tệ nạn biên giới? Tôi nói có đọc loạt phóng sự của nhật báo Aftenposten và Verdens gang về việc người Nga sang đây buôn bán ma túy, rượu mạnh, quân nhu quân dụng, và mãi dâm. Tôi hỏi:

– Nghe nói có thể mua bất cứ thứ gì?

– Ðúng. Từ sau khi Liên-xô sụp đổ, người ta có thể mua mọi thứ, thứ dữ như bom nguyên tử, súng máy, xe tăng, tầu ngầm… Thứ hiền như đồ chơi. Ðồ chơi rẻ tiền có huân chương Anh hùng Liên-xô, huân chương Lê-nin, Anh hùng dân tộc, Anh hùng lao động. Và đồ chơi đắt tiền là các cô này.

– Bao nhiêu mà đắt?

– Từ 200 tới 500 kroner một đêm.

Tôi nghĩ tới Natasja. Theo cái giá mà văn chương Trung Hoa và Việt Nam đề ra, cô ta phải đáng “ngàn vàng” là ít. Tại sao xuống tới mức này?

– Giá đó tương đương với 2 tới 5 giờ làm việc của một người thợ Na-uy. Có gì mà gọi là đắt?

– Chỉ một cuối tuần các cô gái buôn hương kiếm được số tiền bằng lương một năm của một người thợ trung bình ở Nga.

– Vậy sao quí vị không để cho người ta kiếm ăn?

– Chúng tôi không muốn làm khó dễ các cô gái. Chỉ muốn trừ khử bọn ma cô.

– Nghĩa là nếu các cô ấy làm ăn độc lập thì được phép?

– Ðược.

– Cô thử hỏi cô gái tại sao không làm ăn độc lập?

– Cần gì hỏi. Tôi biết họ không thể nào làm ăn độc lập được. Người dân Nga tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa. Họ vừa thoát ách độc tài cộng sản, đã rơi vào nanh vuốt Mafia. Báo cáo của hội đồng an ninh kinh tế (NSR) cho biết 4/5 xí nghiệp Nga phải trả tiền bảo vệ cho Mafia. Ta không cần hỏi đồng hương của anh câu đó.

Marianne nhìn đồng hồ, ý muốn chấm dứt giờ giải lao, nhưng lại đứng thêm một lát hỏi về người Việt ở Nga. Tôi không biết gì ngoài những bài phóng sự về tình cảnh những người được chính quyền Việt Nam gởi đi nước ngoài lao động trả nợ chiến tranh, và công thức trả lương: một phần phát cho công nhân, một phần Nhà Nước Việt Nam “ấy thảo”. Sau đó khi bức màn sắt sụp đổ, nhiều người ở lại phải xoay xở chật vật để sinh sống, kể cả việc phi pháp và mãi dâm.Và tới phiên người khác lấy thảo.

Tôi mang cà-phê vào cho Natasja, nhưng cô để nguội tanh không uống. Marianne tiếp tục lại cuộc thẩm vấn. Nhưng câu chuyện về sau biến thành một cuộc mạn đàm nhiều hơn. Sau cuộc thẩm vấn, Marianne tự động nói với tôi:

– Chắc anh muốn nói chuyện riêng với người đồng hương? Cứ ngồi đây mà nói. Anh không phải thông dịch viên chính thức, chúng tôi nhờ vả anh trong trường hợp đặc biệt, nên đền công đặc biệt. Nhân tiện, tôi nhờ anh nói cho cô ấy biết theo luật pháp Na-uy cô ấy không làm điều gì bậy cả. Cô ấy đẹp và hiền quá.

Tôi ngồi lại, không hiểu vì động lực nào – vì tò mò hay tội nghiệp, vì đây là một người con gái đẹp hay một đồng hương? Marianne đã khép cửa văn phòng lại. Bỗng nhiên tôi hoang mang, không biết tại sao ngày hôm nay, giờ này mình ngồi đây với một cô gái lạ. Tôi nghĩ có thể Natasja cũng có cảm giác đó, khi cô loay hoay sửa lại thế ngồi, rồi lại trở về thế cũ. Gò má cô từ từ ửng hồng. Cô mở lời rụt rè:

– Anh là người tị nạn ra đi từ miền Nam?

– Dạ.

– Nghe cách ăn nói đủ biết.

– Còn cô? Chắc từ Hà Nội?

– Vâng.

– Nghe giọng nói đủ biết.

Lần đầu tiên chúng tôi cùng cười nhẹ. Cô tiếp:

– Ở đây đông người Việt không?

– Chỉ có mình tôi đi quân dịch lên đây. Cách đây 500 cây số có một ông bác sĩ lên phục vụ để lấy thâm niên. Ngoài ra nhóm người Việt gần nhất ở cách đây chừng 1000 cây số.

Khi nêu những khoảng cách xa xăm, bỗng tôi cảm thấy cô gần lại một chút. Cô nói, do dự:

– Tôi… e..m tên Quỳnh Hương.

– Tên đẹp quá. Tôi tên Thân.

– Anh có trách em không?

– Tại sao lại trách?

– Em làm xấu hổ chung.

Tôi cảm thấy mình vụng về, không tìm được lời, chỉ biết nói:

– Cô cảnh sát nhắn tôi nói lại: Cô không làm điều gì bậy cả, theo luật pháp Na-uy. Cô ấy còn khen chưa thấy ai đẹp và hiền như cô.

Chưa thấy aí là ba chữ quá giang, nhưng thực tình không quá tải. Quỳnh Hương cảm động, nét mặt bớt căng thẳng. Nhưng giữa chúng tôi có cái gì thiếu tự nhiên, câu chuyện không hào hứng như tôi tưởng tượng lúc ngồi trên trực thăng đáp xuống Tana, và nhất là giây phút đầu tiên thấy mặt cô gái.

Vì lịch sự tôi vẫn cho cô địa chỉ và số điện thoại, dặn cần gì có thể liên lạc. Tôi ra ngoài móc hết tiền bạc trong túi -hình như dăm trăm- bỏ vào một phong bì, viết mấy chữ an ủi nhờ Marianne đưa cho cô gái.

Quỳnh Hương thất thểu theo một người nữ cảnh sát khác ra khỏi bót. Tôi đứng nhìn cô đi về phía nhà thờ, lủi thủi. Tôi tưởng tượng ra cô gái làng chơi Magdalena trong Thánh kinh trên đường đi tìm Chúa Giêsu để thú tội.

Nhưng cô có tội tình gì? Câu hỏi thành hình từ khi tôi ngồi lên trực thăng, và nó cứ lớn dần từng ngày khi tôi trở về trại. Tôi càng mong đợi càng bặt tin Quỳnh Hương. Tôi đinh ninh thể nào cô về cũng viết thư ngay cho tôi để cám ơn nghĩa cử, để tôi có thể nói những lời tốt đẹp, kể cả lời hứa giúp đỡ. Tôi còn tưởng tượng ra câu chuyện về một chàng thanh niên hào hoa, đóng ở “tiền đồn heo hút”, tình cờ gặp một cô gái giang hồ và cảm hóa được nàng đi tu thành ma sơ thánh thiện. Không ngờ một tuần, hai tuần, rồi một tháng trôi qua, không có tin cô. Rõ ràng cô đã nhét địa chỉ tôi cho vào bóp. Ngoài ra, trên phong bì tiền tôi cũng quen tay ghi tên và địa chỉ một lần nữa.

Chờ đợi, băn khoăn, cuối cùng là hối hận. Tôi đã quá lạnh lùng, đã thay đổi thái độ quá nhanh sau khi biết cô là gái giang hồ. Tất cả chỉ xảy ra trong lòng tôi, nhưng tránh sao cô chẳng linh cảm d dược. Nét mặt thông minh ấy. Vì trịch thượng ngầm, tôi không nghĩ tới việc xin địa chỉ cô.

Năm tuần sau, tôi nhận được lá thư đóng dấu bưu chính Murmansk. Tôi mừng như được thư người tình, leo lên tháp canh đọc cho… thấm. Nhưng đọc thư xong tôi vô cùng thất vọng. Nét chữ xấu xí quê mùa, lời lẽ tình nghĩa kệch cỡm, nghe rợn tóc gáy. “Chủ đề” của thư đương nhiên là xin gởi tiền (bằng tiền Norway) về địa chỉ v.v. Tôi nổi giận, xé lá thư vất vào sọt rác. Không thể ngờ được bộ mặt xinh đẹp như thế lại mang tâm hồn bần tiện như vậy. Dù cố thử biện hộ cho cô gái bằng lý luận “cái khó bó cái khôn”, tôi vẫn chán ghét cô gái, ê chề tình đời, tôi chán ghét cái vùng đất mất hết tình người. Ðau nhất là con người lãng mạn của tôi bị quế nặng quá. Hết phiên gác, việc đầu tiên là tôi về phòng để hủy cái dấu vết cuối cùng về cô gái bất xứng – miếng giấy viết hai chữ Natasja Jakusjok. Ðó là miếng giấy mà cô gái viết tên trong bót cảnh sát, đi Tana về tôi gắn trước bàn viết để kỷ niệm một buổi gặp gỡ… hay hay. Nhưng khi gỡ miếng giấy, cầm trên tay, tôi bỗng giật mình – nét chữ này thanh tao, nhuyễn mềm, khác xa một trời một vực với nét chữ thô lậu, tục tằn trong thư tôi vừa xé. Tôi tức tốc chạy lên đài quan sát, lục lại lá thư. Chẳng cần so lại tuồng chữ, tôi cũng biết thư này không phải do Quỳnh Hương viết. Tôi “sang” hết mấy lời xỉ vả hồi nãy cho bọn bất lương, và nôn nả bắt tay vào việc tìm tung tích Quỳnh Hương.

Sau buổi thông dịch, tôi thỉnh thoảng có điện thoại cho cô cảnh sát Marianne, vừa để tán gẫu chơi, vừa thăm dò xem “ngựa có về đường cũ không”. Bây giờ muốn biết địa chỉ thật của Quỳnh Hương tôi chỉ việc hỏi Marianne. Nhưng tôi không được phép làm như vậy. Tôi thử làm điệp viên si tình một phen. Một mặt tôi ra ngân hàng gởi 300 kroner cho bọn làm tiền, tất nhiên dưới tên Natasja Jakusjok. Na-uy đang mở rộng việc làm ăn với Nga, để biến đổi bán đảo láng giềng Kola thành một vùng bớt nghèo đói và ô nhiễm, nên có rất nhiều hãng xưởng và ngân hàng Na-uy mọc lên hai bên đại lộ Lê-nin. Tôi chọn gởi tiền qua ngân hàng Kirkenes, vì nó nằm đối diện với một khách sạn. Gởi tiền đi hôm trước, hôm sau tôi đáp xe đò đi Murmansk và thuê khách sạn đó, phòng có cửa sổ quay ra mặt đường. May mắn quá mong đợi, ngày rình chực thứ ba tôi đã thấy bóng Quỳnh Hương ra ngân hàng. Tôi không cần ngụy trang nhiều, chỉ cần cái quần soọc, cái mũ lưỡi trai, và cái máy Nikon là ra dáng một anh triệu phú Nhật Bổn rồi. Phải thêm cái kính mát to để che mặt.

Vào ngân hàng tôi đứng xa xa, thấy Quỳnh Hương đang xếp hàng quay lưng lại, tôi cẩn thận không lộ diện, nhỡ có tên cô hồn nào đi kềm nàng không. Khi nàng lãnh tiền xong quay ra, tôi đau nhói tim thấy mặt nàng tiều tụy, và có vết bầm xanh. Một tên đàn ông mặt mũi bất lương ở đâu sán lại kè nàng, chưa ra khỏi cửa, nó đã giằng lấy tiền, chửi thề “Ð.M. có mấy đồng ranh mà nàm nhọc xác ông”. Quỳnh Hương cúi đầu, không trả lời. Tôi lén theo dõi hai người, nhưng tới ngã tư thì họ lên một chiếc xe hơi do người thứ ba lái chạy mất tăm, tôi đón taxi không kịp.

Tôi thất vọng trở về Na-uy, viết thư làm bộ nói nhớ thương Natasja và mong gặp nàng, bóng gió cho biết sang sẽ dễ dàng mang tiền về hơn. Nàng sang thật. Vết bầm trên mặt đã biến mất, nhưng vẫn còn tiều tụy. Tôi đưa nàng thẳng vào một khách sạn đàng hoàng cho nàng nghỉ ngơi. Chúng tôi ăn ngay trong khách sạn. Nàng ngạc nhiên vô cùng khi tôi nói tôi biết hết trò giả mạo thư và làm tiền của bọn vô lại. Nhưng tôi thắc mắc:

– Tại sao chúng biết cô có liên hệ với tôi?

– Em vừa từ biên giới về, chúng nó lục lọi khám xét ngay, và tất nhiên thấy phong bì tiền của Anh cho, địa chỉ nằm đó. Chúng bắt em viết thư vòi tiền, em không làm, chúng đánh đập, bắt trở lại đứng đường. Em xin làm mọi việc trâu ngựa để hầu hạ cả bọn miễn đừng bắt em làm việc đó. Chúng chấp thuận nhưng vẫn giả mạo thư tống tiền Anh. Em xấu hổ quá.

Tôi hỏi một câu mà định hỏi mấy lần nhưng chưa có dịp:

– Cô sang Nga theo diện nào?

– Nghiên cứu sinh. Nghiên cứu sinh sử học.

Tôi kinh ngạc:

– Nhà Nước Việt Nam gởi đi?

– Vâng.

Tôi nhớ lại việc thông dịch, hỏi:

– Sao cô không nói tiếng Nga, dễ kiếm người thông dịch ngay tại đây?

– Em muốn giấu tông tích. Chẳng may…

Tôi hơi phật ý về hai chữ “chẳng may”, nhưng không tỏ ra, hỏi tiếp:

– Cô… xong tiến sĩ chưa?

– Thưa, rồi ạ.

– Vậy cô chỉ việc trở về phục vụ đất nước.

– Trễ rồi.

– Sao vậy?

Quỳnh Hương hít hơi thật sâu, như để đè nén cái gì, cuối cùng nói nhẫn nại:

– Truyện dài lắm. Em chỉ vắn tắt thế này: Khi em đang chuẩn bị về nước, thì bố em bay sang nói bất cứ giá nào đừng về.

– Tại sao vậy? Ở Việt Nam bây giờ thay đổi khá lắm, và bắt đầu đãi ngộ những người có trình độ.

– Lợi dụng thì có, đãi ngộ không.

Chúng tôi ra ban-công. Nắng đêm quyện vào gió bắc cực lùa vào mặt mát rượi. Tóc Quỳnh Hương thơm. Tôi hỏi:

– Ngoài ra bố cô nêu lý do gì để khuyên cô đừng về nước?

Nàng nhìn con hải âu đậu một mình trên cột đèn, đáp:

– Là lý luận gia lâu năm của Ðảng, khi thấy bức tường Bá-linh rạn nứt và thiên đàng Liên-xô sắp bốc lửa, Bố em dự kiến Ðảng cộng sản Việt Nam sẽ biến từ một tổ chức cách mạng thành một guồng máy tư bản.

– Vậy càng tốt chứ sao?

– Anh không hiểu đâu, cũng như em hồi đó không hiểu. Vì thế Bố phải đích thân bay sang. Gặp Bố em vừa mừng vừa ngạc nhiên hết sức, nhưng run sợ khi ông nói nước Việt Nam sẽ không còn là nơi dung thân của con người nữa.

– Sao vậy?

– Bố hỏi em “Chị xem – cái thiên đàng kiểu mẫu mà sắp sụp đổ nay mai, thì cái thiên đàng mô phỏng sẽ ra sao?” Em không trả lời, ông nói “Các ông ấy là những kiến trúc sư chuyên vẽ thiên đàng. Kiểu này đổ vẽ kiểu khác. Mà mỗi lần đổ, mỗi lần đổi kiểu là hàng vạn người chết vì cột kèo đè.”… Bố em về, tự vẫn chết, để họ không còn gây sức ép với em được, trước khi bị cột kèo đè.

Nghe đến đây, tôi lạnh toát xương sống, khô cổ họng. Cột đèn đằng trước, con hải âu đã bay đi, còn cái tay đèn đua ra, như chờ một sợi dây thòng lọng. Mãi lâu sau tôi mới thốt lên được câu gần như vô nghĩa:

– Khủng khiếp quá!

Quỳnh Hương mím môi để khỏi bật ra tiếng khóc, nhưng giọng ướt lệ:

– Người ở ngoài không hiểu nổi sự khủng khiếp tới mức nào đâu. Người trong cuộc, đa số khi hiểu thì trễ quá rồi.

Vai tôi chờ một mái đầu tựa vào. Nhưng tôi phải làm như tỉnh táo, hỏi:

– Với cô, có quá trễ chưa?

– Em không biết. Nhưng để em kể em đã sa xuống chỗ nào. Lúc đầu em may mắn trên con đường tị nạn. Ông giáo sư đỡ đầu cho em li dị vợ để cưới em. Anh đừng trách em. Vì ông ta li dị xong mới cho em biết đã có vợ và mới li dị. Ở Nga, li dị là chuyện cơm bữa, cũng như chuyện trai gái chung chạ. 30% các cặp vợ chồng li dị. Việc làm tình hổ lốn trở thành phổ thông là vì tình trạng ăn chung ở chạ, nhà cửa chật chội. Chồng em là một tên ghiền rượu, đánh đập em mãi, em vẫn chịu đựng được. Nhưng hai ba lần em bị anh họ chồng, em chồng, rồi cả bố chồng cưỡng hiếp, thì anh bảo sao em chịu được? Em phải ra đi, và sa vào tay Mafia.

Tôi lại ớn lạnh. Không phải vì gió đêm. Mà vì nhớ chúng tôi đang ở gần biên giới. Tôi dìu Quỳnh Hương vào trong. Ðóng cửa sổ lại. Chúng tôi im lặng uống một thứ rượu kem gì đó khá ngon. Tôi quyết định ngày mai ra lãnh sự quán bí mật làm giấy bảo lãnh hẳn cho Quỳnh Hương sang Na-uy. Ðiều làm tôi do dự là cái giấy hôn thú. Trước khi về phòng riêng, tôi đắp mền cho Quỳnh Hương như một đứa em gái và nói:

– Ngủ ngon. Ðừng mộng mị gì cả, dù thiên đường.

Quỳnh Hương sang chơi Na-uy lần kế tiếp vào ngày lễ Sankthans, ngày dài nhất, đúng hơn, không có đêm. Nàng từ xe buýt Murmansk bước xuống, ăn mặc đơn giản, càng xinh đẹp hơn. Nàng tha thướt đi giữa những huân chương và mũ áo Hồng quân bên vệ đường, tàn tích của một thiên đường vừa đổ vỡ, diễm lệ như một nàng tiên, tôi đặt tên cho nàng là “Trích Tiên”. Khi tôi nói ra, nàng cười tươi, chấp nhận. Từ đó cuối tuần nào nàng cũng qua. Thường tôi đưa nàng về căn chòi thuê của xã ở sườn núi trông ra biển, rất thơ mộng. Từ mùa thu không còn mặt trời giữa đêm nữa, nhưng rừng thu biến thành những tảng màu đỏ, vàng tuyệt diệu. Vài cánh buồm trắng nhẹ trôi trên mặt nước xanh lộng bóng núi. Ban đêm trời trong, trăng sao vằng vặc chiếu xuống vịnh bao la. Chúng tôi ngồi bên nhau ngoài hiên nói chuyện tới khi sương ngập thềm. Tôi gọi căn chòi này là “Ðộng Tiên”, muốn vĩnh viễn ở lại không về trần gian. Nàng “trích tiên” thỉnh thoảng lại khóc làm tôi lo lắng. Nhưng nàng nói:

– Xin lỗi Anh, em khóc chỉ vì quá hạnh phúc.

Tôi uống những giọt hạnh phúc này từ mắt nàng, và nói:

– Ðây là nước mắt hạnh phúc. Nhưng nước mắt đau khổ của Em, anh cũng xin uống.

Chúng tôi chỉ ước có phép mầu cho thời gian và không gian ngừng ở đây. Lạ lùng là những lúc tôi gần gũi Quỳnh Hương trên chòi nghỉ mát, tôi chỉ say sưa nhìn ngắm, lắng nghe, ngửi hương nàng, không xàm xỡ. Tôi sống sự hiện diện nàng. Sự sống nồng nàn, ngây ngất mà thanh khiết. Tạo hóa đã khắc cho nàng một chân dung kỳ diệu – từng nét thì đối chỏi mà toàn thể thì hài hòa. Các nhà giải phẫu thẩm mỹ không bao giờ làm được như vậy. Chỉ có Nhà Ðiêu khắc tối cao, thừa thương yêu và tinh quái mới nắn nên khuôn mặt và thân thể Quỳnh Hương – để tặng riêng tôi, cho riêng mỹ cảm mà Ngài tạo cho tôi. Và Ngài gởi tặng phẩm tới cho tôi qua con đường sầu thảm quá. Con đường các phép lạ thường đi.

Khốn nạn thân tôi (tiếng Bắc của Quỳnh Hương), nỗi đam mê lành thánh kia, tôi chỉ giữ được khi có sự hiện diện của nàng. Khi nàng qua lãnh thổ Nga, tôi trở về trại Banak, thì xác thịt tôi giằn vặt, réo gọi. Tôi quằn quại trong giường lính độc thân, thèm khát thân hình nuột nà cô gái giang hồ Natasja. Xác thịt tôi trách móc tôi đã dại dột bỏ qua cơ hội nọ, cơ hội kia trên Ðộng Tiên. Cho tới khi tôi ngủ thiếp đi. Có vài lần trong mơ… Nhưng thường trong mơ tôi thấy nàng Trích Tiên mặc áo dài trắng tinh khiết trổi lên từ giòng nước trong xanh vẫy gọi tôi. Phải chờ tới buổi sáng, khi mặt trời mọc, rọi sáng vào những góc tăm tối trong tâm hồn, tôi mới thực tỉnh táo, và hãnh diện cuối tuần trước đã giữ mình đứng ngoài cái giòng đục lềnh bềnh những xác bố chồng, xác anh, xác em chồng nàng, và những thiên đường mà nàng đang vùng vẫy thoát ra. Ðúng hơn, chúng đẩy nàng ra như một vật lạ trong cơ thể.

Chỉ có một lần tôi táo bạo, lần đi thăm Nordkapp. Nordkapp hay “Mũi Bắc” nằm trên vĩ độ cao nhất nước, có lẽ là kỳ quan Na-uy thu hút nhiều du khách nhất. Mỗi năm, hàng vạn người từ khắp thế giới, nhất là Nhật, Ðức, Mỹ mua vé máy bay lên đây, chỉ để coi mặt trời đêm. Lúc tôi đưa Quỳnh Hương đi thăm Mũi Bắc, trời đã sang đông, không còn du khách nào nữa, cũng không còn mặt trời đêm. Tôi nắm tay Quỳnh Hương đứng trên ghềnh đá vách dựng đứng. Nước biển vẫn thăm thẳm. Gió lạnh buốt. Nhưng chúng tôi càng thích thú. Bỗng nhiên, mây trên trời biến thành màu xanh như lân tinh, và quay tít như đèn kéo quân, hào quang lấp lánh rực rỡ, những luồng điện nổ tí tách trong mây như hàng ngàn tràng pháo chuột ngày Tết. Quỳnh Hương kinh sợ nhưng lại reo vui vì có tôi bên cạnh. Tôi giải thích:

– Ðó là nordlys (bắc quang). Hiện tượng huy hoàng này không phải lúc nào cũng xảy ra. Hôm nay nó xảy ra đúng lúc Em tới đây. Ðó là dấu hiệu Trời cũng muốn chào đón Em đó.

Quỳnh Hương tựa lưng vào ngực tôi. Giọng nàng mật ngọt:

– Còn Anh, Anh cho em dấu hiệu gì?

Cầm lòng chẳng đậu, tôi xoay người nàng lại, và hôn vào đôi môi nồng nàn. Ðó là lần đầu tôi hôn một người con gái. Trên mỏm đá lịch sử Nordkapp, dưới ánh bắc quang.

Chỉ còn một tháng nữa là Tết ta. Thu An gọi điện thoại nhắc thế nào tôi cũng phải xin về phép cho kịp ngày cúng Giao Thừa. Thay vì nói trong điện thoại, sợ không đủ mạch lạc và không đối đáp được con em lí lắt, tôi viết cho nó một thư dài 6 trang trình bày ý định mời Quỳnh Hương về Oslo ăn Tết. Tất nhiên trong thư tôi dấu một số chi tiết về thảm cảnh của Quỳnh Hương, nhưng tên “Trích Tiên” thì không thể không khoe. May quá con bé chấp thuận liền, còn hào hứng chuẩn bị đón “chị dâu”. Tôi nói tuyệt đối nó không được… lạc quan. Gia đình chúng tôi đã nhận bao nhiêu tai họa bất ngờ, đúng trong những lúc tưởng là hạnh phước nhất. Tết Mậu Thân Ông Nội đang công tác ngoài Huế bị cộng sản Bắc Việt bắt đi chôn sống, đúng lúc ông được điện tín về mà coi mặt và đặt tên cho cháu đích tôn là tôi; Bà Nội đi bốc xác Ông, về phát điên rồi mất. Năm 75 con Thu An vừa sanh ra, để trong cái biệt thự thơ mộng Ba Má mới mua ở Chí Hòa mấy năm sau “có một tiểu thư ra vào”, thì cộng sản tràn vào “giải phóng”; Ba đi tù, Má bị sa thải. Ba trốn học tập về, đúng lúc Má đặt được chỗ vượt biên chính thức, tưởng vĩnh viễn thoát khỏi cái thế giới điêu ngoa, hận thù, gian manh, thì tầu do tỉnh ủy Ðồng Nai đóng bị vỡ, Ba Má chết đuối. Từ đó, cứ thấy bóng dáng hạnh phúc là tôi giật mình. Lần này, với Quỳnh Hương, tôi lại lăn xả vào, không phải như con thiêu thân nhào vào lửa nhan sắc, mà như muối gặp biển mặn. Nàng là hiện thân của tôi – phần nước mắt, và cả gia đình, dân tộc tôi, phần ước mơ và bất hạnh. Tôi đón nhận hết. Một lần, trong Trích Tiên.

Tôi thu xếp cho Quỳnh Hương sang đúng dịp tôi và Thu An nghỉ phép mùa đông. Và để tránh mọi dị nghị, tôi trình bày nội vụ với ông thiếu tá, và nhờ ông trình ông đại tá luôn. Ông dễ thương tặng Quỳnh Hương cái vé máy bay. Thu An bày đặt mang hoa ra phi trường Fornebu đón khách. Vừa giáp mặt Quỳnh Hương, nó đã reo ầm lên:

– Eo ơi! Chị Quỳnh Hương đẹp dễ sợ.

Quỳnh Hương bật cười vì những từ ngữ kỳ cục của con bé, cảm động nhận hoa. Tôi giới thiệu với khách:

– Ðây là đứa em gái thua tôi tới sáu tuổi, nhưng từ ngày chúng tôi mồ côi, nó nhảy tót lên ngôi chị hai, “kềm kẹp” tôi từ miếng cơm tới manh áo.

Thu An cong cớn:

– Từ nay em không thèm kềm kẹp nữa, em sắp bàn giao chủ quyền Trường Sá cho người khác.

Quỳnh Hương chỉ biết đỏ mặt. Tôi huých Thu An một cái làm nó chạy giạt sang bên kia, núp bóng Quỳnh Hương.

– Ê ê! Từ nay có chị Quỳnh Hương che chở, anh Hai không được ăn hiếp em nữa.

Thu An vừa lái xe vừa giới thiệu thành phố cho khách. Chị em nói chuyện líu lo. Tôi ngồi băng sau, nhắm mắt nghe giọng Hà Nội và giọng Sài Gòn quấn quít. Quỳnh Hương như thơ trẻ lại. Tôi ngả người tận hưởng hạnh phúc của một gia đình, lần đầu tiên sau 15 năm cô độc, lạc lõng nơi xứ người. Ðêm giao thừa, cúng vái, ăn cơm xong, Quỳnh Hương dọn trà mứt, Thu An bưng ra một cái bánh bông bơ, thắp 30 ngọn nến. Quỳnh Hương trầm trồ:

– Người Việt tại Na-uy có tục lệ riêng để đón xuân? Ðẹp quá!

Thu An trả lời:

– Không phải đâu, chị. Năm nào chúng em cũng ăn Tết, đồng thời mừng ngày sanh anh Hai. Nhưng năm nay đặc biệt hơn, vì năm nay anh Hai “tam thập nhi lập”.

Quỳnh Hương hiểu ngay:

– Thế tức là Anh sinh năm 1968?

Tôi nói:

– Ðúng, năm Mậu Thân.

Thu An hớt:

– Vì thế Ba Má mới đặt tên ảnh là Thân. Ba Má nói “Thân” đây có hai nghĩa là “yêu mến”, “thân thiện” chứ không phải “con khỉ”. Nhưng em thấy ảnh “mậu thân” với em lắm. Từ nay ảnh “mậu thân” là ảnh chết.

Quỳnh Hương cười ngặt nghẹo. Chưa bao giờ nàng cười nhiều như vậy. Tôi nói:

– Năm đó con khỉ con này chưa sinh ra, sao bây giờ khoọc khẹc dữ vậy?

– Chính anh Hai nghe lóm Ba Má kể rồi khoe với em hết chứ bộ. Cũng như Anh, năm Mậu Thân đâu có biết gì về chuyện Ông Bà Nội, bây giờ cũng kể vanh vách.

– Chuyện gì vậy?

Quỳnh Hương hỏi. Tôi chần chờ. Thu An lần lượt kể về những thảm cảnh gia đình. Thảm cảnh nào nó không trực tiếp trải qua, nó kể lể rành mạch như chuyện cổ tích; đến thảm cảnh Ba bị công an vào nhà còng tay Ba lần thứ hai, cảnh đắm tầu thì nó kể lộn xộn như cơn ác mộng. Cuối cùng tôi kết luận một câu mà trong những dịp thiêng liêng thường nói với em gái, như bổn phận nhắc lại một gia qui đơn giản, Quỳnh Hương là người dưng đầu tiên nghe:

– Ba Má chỉ dạy chúng tôi một điều: lòng trắc ẩn.

Một làn khói hương từ trên bàn thờ bay là đà xuống đầu Quỳnh Hương. Nàng lên tiếng:

– Hai Bác thật là nhân hậu, từ những khủng khiếp của năm Mậu Thân và bao năm sau đó, chỉ rút ra chữ “Thân” đặt tên cho con trai và hai chữ “Trắc ẩn” khắc trong lòng hai con.

Không muốn hai người con gái thấy ngấn nước trong mắt tôi, tôi bèn đứng lên thắp thêm nhang trên bàn thờ ông bà. Nghĩ tới “Trích Tiên” và mấy chục triệu người đáng thương xót ở ngàn dậm xa, tôi khấn thầm: “Lạy Trời Phật! Hai chữ trắc ẩn Ba Má khắc trong lòng chúng con, cũng là lẽ sống bàng bạc trong lòng Trời Ðất. Xin Trời Ðất nhỏ xuống lòng mọi người ở bên kia một giọt trắc ẩn. Riêng tình yêu của con dành cho Quỳnh Hương, đã khởi đầu do lòng trắc ẩn, nhưng bây giờ kết thúc là tình yêu. Xin Trời Phật, Ba Má chứng kiến và chúc phúc cho chúng con”.

Im lặng một lúc, Thu An hỏi:

– Anh Hai vừa ăn mảnh, lén xin Ba Má thêm cái gì, phải không?

Tôi nửa đùa nửa thật:

– Anh không xin xỏ gì cả, chỉ hỏi ý kiến thôi. Ba tháng nữa anh Hai hết thời hạn quân dịch, và có quyền bảo lãnh một người ngoại quốc sang Na-uy. Anh hỏi Ba Má muốn con dâu là một người trần hay tiên.

Quỳnh Hương mắc cỡ gục mặt xuống, trong khi Thu An nhảy lại ôm vai nàng, reo:

– Em thay mặt Ba Má trả lời: Tiên. Trích Tiên!

Nhưng còn Quỳnh Hương, nàng có ưng thuận vào trong cái mà tôi cho là “thiên đường” của chúng tôi không? Một con người suốt đời bị số phận đẩy đưa và người khác định đoạt, lần này quyết định phải thuộc quyền nàng. Vì thế lúc bạn đọc tới giòng này, tôi vẫn đang ở trong giây phút thiên thu chờ đợi nàng trả lời.

Tâm Thanh

TÓC CON GIỜ ĐÃ HOA RÂM

khatiemly


(Cho con trai đầu lòng)

Khi cánh chim chập chờn trong bão tố,
Đành phải giã từ biển rộng trời cao.
Mộng tung mây đã rơi vào quá khứ,
Đối mặt cuộc đời năm tháng lao đao.

Con theo ba lên rừng làm rẫy,
Ao ước bình thường chỉ có trong mơ.
Nắng sớm chiều mưa, đời con cũng vậy,
Cuộc sống phũ phàng đốt cháy tuổi thơ.

Hột bắp, củ khoai theo ngày đói khổ,
Gà trống nuôi con trăm thứ vụng về.
Áo con rách vá miếng xanh miếng đỏ,
Tay ba vụng về nên mũi nhặt mũi thưa!

Nước suối, rau rừng đói no đấp đổi,
Cố dạy cho con nên vóc nên người.
Bếp lửa thay đèn nhói lòng trăn trở,
Nghe con đọc bài mà bụng chẳng hề vui!

Thấy con đọc bài mà thương thương tội tội:
Bảng giấy là nền, phấn bút là than!
Sách vở cùa ba đã thành tro thành khói,
Thời cuộc đổi thay, chữ nghĩa trút hơi tàn!

Bán chữ mua cơm bằng những vần thơ sót lại,
Chẳng biết theo thời, nên đổi được mớ rau!
Con lớn lên tiếp theo đời khổ lụy,
Nắng gội sương chan nên tóc sớm hai màu!

Ba lê lếch kéo theo đời lận đận,
Bốn mươi năm trời, bao cuộc bể dâu!
Ba tóc trắng đã đành cho số phận,
Con tóc hai màu ba mới thấy lòng đau!

Kha Tiệm Ly
12. 2015

Tiếng mộ cười.

luutrongtuong

Tiếng gió như sóng vỗ.
Sương rơi động quan tài.
Nằm im nghe tiếng mộ.
Trở mình chờ đợi ai.

Ta quay đầu nhìn lại
Khúc khích tiếng mộ cười.
Hồn già không nghe gọi.
Ve vẫy tay đón mời.

Em ơi, sao chưa thấy
Vuốt mắt. Bàn tay mềm.
Thân lạnh lùng tê dại
Sâu thẳm một mầu đen.

Em liêu trai thanh thoát
Như ngọn gió thoáng qua.
Tình yêu như mật ngọt.
Thánh thót tiếng mộ cười.

Chút hương trần gian đó
Lưu luyến ánh lụa vàng.
Về bên kia thế giới
Tiếc nụ hôn đia đàng.

Lưu Trọng Tưởng
( Những Dòng Thơ Cuối Đời)

MÁI HIÊN DƯỚI MƯA

nguyenhuynh

Hồi đó, năm 22 tuổi, khi tôi học năm cuối trường Trung cấp Xây dựng Số 6 Tuy Hòa, những tối thứ bảy là những tối nở rộng với mọi chiều kích. Có khi, lúc sẵn tiền, chúng tôi rủ ra quán Cây Trâm uống vài chai rượu Nàng Hương cho tới chếnh choáng quên lối về, cũng có khi chúng tôi ngồi trong phòng nội trú hát rống lên những bài hát vô nghĩa, nhưng thường nhất là chúng tôi cuốc bộ lên quán cà phê Tản Đà dễ chừng ba cây số, uống chung hai thằng một ly cà phê, cốt nghe nhạc ké.
Hôm nay thì không, chúng tôi không còn tiền dù cho ba thằng một ly. Bọn chúng nằm dài và hát những bài hát vô nghĩa. Tôi lại nhớ con đường và chiều thứ bảy. Và tôi đi. Bước chân lầm lũi trong chạng vạng tối tháng mười. Sau những cơn mưa trời đất no nước, sờ vào cái gì cũng thấy ươm ướp. Con đường tối nay cũng vậy, phủ loang loáng màu nước. Trời mưa tránh trắng, trời nắng tránh đen, Tôi nhảy qua những khoảng trắng, đôi dép tổ ong xộc vào bùn đất ngược lên trung tâm thị xã.
Tôi có rủ nhưng bọn nó không đứa nào đi vì biết tôi không có tiền. Mộng Điệp đang hí hoáy viết gì đó trên những tờ giấy kẽ ngang vàng xỉn. Nó lắc đầu. Nó đang viết văn. Đỗ Như Phương nằm dài trên giường tầng vọng xuống : “ Có tiền không? ‘. Tôi lắc đầu. Bùi Xuân Bác nhìn tôi hấp háy nhưng tôi lờ đi, và nó xổ một tràn vọng cổ giọng Quảng có câu” Chỉ cần một trái lựu đạn! “ trong vở tuồng “ Tìm lai cuộc đời “, đắc chí cười rống lên. Chẳng là hôm rồi nó rủ tôi đi uống cà phê ở quán Phượng nằm trên đường Duy Tân, Sau khi uống hết hai ly đôi ( Gấp hai ly bình thường, uống vào sánh cả lưỡi) và hút hết một gói Smit, Hắn đứng dậy bảo tôi : “Chạy! “ Khi tôi còn đang ngỡ ngàng thì nó phán tiếp : “ Mi không chạy thì tau chạy “, tôi thấy nó ung dung bước ra khỏi quán, riêng tôi đi như chạy theo nó, nó cười cười bảo : “ Ăn phở tau còn chạy nữa là cà phê! “. Tôi không rủ nó, lờ đi là lẽ vậy.
Con đường chạy ngang đồng lúa đã thu hoạch xong trơ gốc rạ, vang dần tiếng ếch nhái, hăng hắc mùi bùn đất, đìu hiu như lời hát Trịnh Công Sơn “ Đời sao hoang vắng như đồng lúa gặt xong”. Trong tôi ngân câu hát, càng sau càng thắm thiết, và nếu như thỉnh thoảng không có một vài ánh đèn xe loạng choạng qúet qua, chắc tôi đã khóc. Có khi chỉ một cảm xúc nhỏ lại có thể mang theo một năng lượng lớn đủ sức nấc bỗng tâm hồn ta lên khỏi mặt đất. Nhưng bụng tôi đang đói, kéo tâm hồn tôi xuống đúng vị trí của nó. Một gã đen nhẻm, gầy trơ xương và cao lêu nghêu như một cái đinh mười phân liêu xiêu ngược gió. Bửa cơm chiều thời bao cấp chẳng bõ bèn gì với cái bao tử rặt nông dân ăn chắc mặc bền. Tối qua trong ca trực đêm, tôi được phân công trực ở cổng nhà ăn, gần sáng, chị nấu bếp ra về ngang qua cổng dúi cho tôi một vạt cơm cháy, tôi nhai kỹ từng miếng nhỏ và cứ để cho những gì có được tự trôi vào cuống họng chứ không dám phí phạm nuốt đi. Tôi nghĩ tới điều này vì song song với cảm xúc về lời hát Trịnh Công Sơn, sự mách bảo của bao tử, đã đồng hiện trong tôi một cảm xúc sinh đôi : Tôi gần như muốn khóc khi vừa nhai miếng cơm cháy vừa ngắm trăng hạ huyền chênh chếch trên đỉnh Chóp Chài lúc hừng đông. Hạnh phúc.
Có thể lúc này Mộng Điệp đã buông bút, Bùi Xuân Bác đã hết hơi và Như Phương đã nhổm lưng ra khỏi giường tầng, tất cả đút vào túi quần chiếc muỗng chuẩn bị cho cuộc hành quân từ thắng tới hòa. Ngoài những bữa ăn chính thức trong trường, các sinh viên đôi lúc được người nhà cho thêm vài ký gạo. Vậy là trong khuôn viên trường, không góc này thì xó kia rụt rè ánh lửa của những cái bếp dã chiến bởi nhà trường cấm tiệt, kỷ luật như chơi. Chúng tôi dấu muỗng sẵn trong túi quần, như những thích khách dấu đoản kiếm. Và như vậy, lang thang như những thằng bài vở xong xuôi và nhàn rỗi, nhưng hễ thấy bếp nào vừa tắt, vung vừa mở ra là xáng lại múc lấy múc để. Cả chủ nhân và kẻ ăn giật không ai nói lời nào. Chỉ có tiếng muỗng khua khoắn trong nồi, tiếng xì xụp xuýt xoa. Và chỉ là những hạt cơm trắng…
Tôi phiêu diêu như vậy qua hết con đường đất. Bắt đầu từ đây là đường Trần Hưng Đạo, con đường trung tâm Thị Xã. Tôi chào đón con đường hoành tráng nhất Thị Xã bằng nhịp bước lê dép bất cần. Trong đầu tôi trống rỗng, chỉ có tiếng dép lê trên đường và lời dặn “ Trời mưa tránh trắng, trời nắng tránh đen”. Thị xã ngày ấy còn nghèo và thưa thớt. Một vài chiếc xe máy vội vàng vụt qua trong chiếc áo mưa thùng thình giống như con thú một mắt trần truồng. Vài hàng quán núp trong lều bạt, thoang thoảng mùi bắp nướng. Trong tôi bỗng nhiên tràn ngập một ước muốn cùng cực : Được cùng người yêu ghé vào quán nhỏ, ngồi trên những chiếc ghế gỗ ấm áp, hong mình bên lò nướng cùng những trái bắp vàng ươm bóng màu mỡ hành…
Tôi lại tiếc lon gi gô mắm ruốt mà chị tôi đã tự tay làm gửi vào cho tôi. Tối hôm kia tôi lấy ngón tay quệt một miếng nhỏ mun mút, thế là cả phòng mười hai thằng nhao nhao xin mỗi đứa một ngón. Ngón này ngón nữa, đứa này đứa nữa chẳng mấy chốc cả lon mắm sạch trơn. Bùi Xuân Bác đổ vào ít nước quậy quậy rồi ngửa cổ uống sạch, nó trả lon cho tôi rồi nói : Khỏi rửa ! Lại nhớ có lần nó hái ở đâu mang về một nắm ớt xanh, ngồi một mình vặt ăn từng trái, cứ mỗi miếng nó hít hà rồi tu một hớp nước. Xong, trong khi nước mắt nước mũi chảy ròng, nó cười hà hà bảo : “ Đưa cay cho nở c… ! “.
( Viết tới đây tự nhiên tôi muốn ở ngôi thứ 3, và…)
Hắn đã tới được quán café Tản Đà, dưới núi Nhạn như dự định hành trình. Tiếng hát Khánh Ly vọng ra thiết tha nức nở như mọi khi, nhưng sao Hắn cảm thấy mệt mỏi và chán chường. Hắn ngồi thụp xuống dưới gốc sứ trắng tỏa ra từ trong hang rào của quán. Thinh lặng. Tiếng hát vụt thinh lặng. Hắn nhận ra rằng Hắn không phải vì âm nhạc hay vì café, mà vì con đường. Những bước lang thang sẽ kích lên trong Hắn một cảm xúc mới lạ của đan xen nhiều cảm xúc. Sự cô đơn, long kiêu hãnh, nỗi buồn lâng lâng…
Và Hắn thả bước đường về. Những chiêm nghiệm xoay quanh bước chân, trong tiếng rột roạt của đôi dép. Bầu trời mùa đông đang bắt đầu chớp lóe những tia sáng yếu ớt phía chân trời giăng một màu đen kịt. Hắn vẫn thủng thỉnh bước đi. Tới con đường đất ngang cánh đồng thì sấm chớp đã ình oàng và sáng rực, nhưng Hắn vẫn chậm rãi bước đi. Hề chi. Hắn nghĩ thế. Và trời đổ mưa cũng là lúc Hắn đứng trước căn chòi vách đất, mái làm bằng lá dừa dựng tạm bên đường. Có lẽ là của những người làm ruộng. Hắn tần ngần một lúc rồi bước vào mái hiên, ngồi xuống một khúc gỗ ẩm ướt mốc meo, tấm áo khoát vừa đủ ướt len những giọt sót qua khe nách chảy xuống hông nhồn nhột. Ngoài trời mưa nặng hạt. Một đôi sên cố lết tấm thân nặng nhọc dưới chân, Hắn phì cười trước vẻ vội vàng của chúng rồi nhặt chúng lên đặt xuống sát chân vách đất nơi chúng muốn đến. Tư nhiên Hắn cảm thấy thích cái nghĩa cử này. Cơ hội làm ơn cho đời với Hắn rất nhỏ, vậy nên Hắn thấy vui.
Có tiếng ngã ngoài đường. Hắn đứng dậy và thấy bóng một cô gái lóp ngóp trong vũng nước, chiếc xe đạp ngã một bên bánh vẫn còn xoay loang loáng. Hắn bước ra hỏi : Có sao không? Cô gái đứng dậy, mình mẩy bê bếch bùn đất : “ Anh đắt dùm em cái xe”. Nói rồi hai tay che đầu chạy vào mái hiên. Hắn dắt xe dựng bên lề đường. Cô gái ngồi trên khúc cây lúc nãy Hắn ngồi, bảo : “ Anh ngồi xuống đi”. Hắn ngồi xuống, dưới ánh sáng mờ mờ của đèn đường, dáng cô gái nhỏ nhắn đang run lên từng hồi, ánh chớp soi rõ một đôi mắt đen tinh nghịch. Đôi sên lúc nãy có vẻ thư thái, yên tâm hơn, chúng nép sát vào nhau ngạc nhiên quan sát hai kẻ lạ, Hắn có cảm giác như vậy. Hắn hỏi : “ Lạnh à? “. “ Lạnh”. Hắn mở rộng áo khoác, cô gái nắm vạt áo choàng qua vai. Hắn cảm nhận hơi ấm sau lần vải ướt. Chắc cô ấy cũng vậy, Hắn nghĩ và ước gì mình là đống lửa. Cô gái hỏi : “ Anh học ở trường xây dựng?” Hắn xác nhận. Cô gái nói mình học ở trường Trung cấp Ngân Hàng. Trường Xây dựng và Ngân Hàng cùng một lối từ Thị Xã chạy xuống, tới dốc quán Cây Trâm thì rẽ hai. Hai trường cách nhau vài trăm mét. Ngoài trời mưa như có vẻ sẽ không bao giờ dừng. “ Vũ vô kềm tỏa năng lưu khách/ Sắc bất ba đào dị nịch nhân “. Và lòng Hắn xao động. Hắn nghĩ tới ước muốn lúc chiều, ngang qua hàng quán dậy mùi bắp nướng. “ Những con kiến thật tội” Cô gái nhích vào bên Hắn khẽ nói. Hắn nhìn xuống đất, một đàn kiến đen di tản trên những đường hang nhỏ. Nước ở ngoài đang dần dần tràn vào mặt sân, tới đâu đất ở đó nở ra những bong bong. “ Anh biết gì không?” Nàng chỉ vào những bong bong. Hắn lắc đầu. “ Hoa đất! “ Hắn ngạc nhiên quay lại nhìn nàng, một đôi mắt đen nở trên khuôn mặt trắng nhợt. Hắn cảm nhận hơi ấm từ cơ thể nàng và vụt nghĩ, hoa của khuôn mặt ? Chiếc xe đạp chòng chành ngoài lề đường sau từng cơn gió. Nàng hỏi : “ Đố anh nó ngã không?” “ Chắc ngã!”. Và nó ngã thật. Hắn định bước ra nhưng nàng nắm tay Hắn níu lại: “ Để nó nằm vậy anh, khỏi phải ngã nữa.” Hắn cảm nhận một bàn tay mềm mịn và ấm áp. Tự nhiên một nỗi buồn vô cớ xâm chiếm, giống nỗi buồn của một dự cảm trái đất sẽ không còn. Nàng nói : “ Lúc nãy em bói thử : Xe không ngã thế nào anh với em cũng là bạn…” “ Vậy xe ngã, và đã ngã?”. Nàng im lặng. Hắn bạo dạn: “ Sẽ yêu nhau?”. Nàng cười rung rung bờ vai.
Mưa bắt đầu tạnh. Trời sáng hơn và trăng náu mình sau những đám mây đen giờ hửng sáng sau những vết nứt của mây. Đàn kiến thôi không còn dắt díu nhau trên đường di tản, đôi sên lặng lẽ đi đâu tự lúc nào, và hoa đất đã tàn…Hắn chở nàng về trên chiếc xe đạp. Nàng có vẻ thấp thỏm phía sau, dường như mong đợi điều chi. Lòng Hắn rối bời, một cảm giác thăng hoa, một chút sung sướng, một chút buồn, một chút ô trọc dấy lên trong Hắn. Tới con dốc quán Cây Trân Hắn dừng lại trả xe cho nàng, từ đây xổ hết dốc tới trường Ngân Hàng, còn Hắn cũng thế nhưng rẽ phải. Ngã ba của một con đường bình thường nhưng sau này Hắn nghĩ lại, có thể là ngã ba số phận…Nàng ngồi lên xe, quay lại nhìn Hắn, trong mắt đã không còn long lanh nữa. Và nàng xổ dốc, tiếng nàng vọng lại : “ Sao anh không hỏi tên em?” Hắn há miệng định kêu lên điều gì đó, nhưng bóng nàng đã xa, xa dần và khuất sau một khúc cua đầy những cây bàng và lá bàng bay…
Những ngày sau đó Hắn không ngủ được. Hắn nhớ nhung. Hắn tới cổng trường của nàng đứng đợi hàng giờ liền mong tìm một người không biết tên, một bóng dáng mờ mịt và một gương mặt trổ hoa mắt. Hắn đứng trên con dốc chờ đợi, cố tình đưa mặt ra hy vọng nàng sẽ nhìn thấy, nhưng tất cả đều vụt qua vai . Hắn đợi một cơn mưa dầm dề, lội ngược con đường ướt lạnh ngồi co ro trong căn chòi nát mong chờ một tiếng xe ngã. Nhưng đêm vắng lặng. Chỉ có cơn mưa là đồng hành cùng Hắn. Đôi sên không còn thấy dìu nhau đi, đàn kiến chắc đã tìm ra miền đất mới. Nước vẫn tràn vào sân, nhưng vì sao hoa đất không còn nở nữa?

Nguyễn Huỳnh.

HÓA THÂN

phuonguy

Em cầm nửa vòng đêm đứng bên bờ thần thoại
nghe khúc The Myth chảy ray rứt dưới trăng
mùa rơi mù mắt lá
thốt lạnh đêm rằm
tôi gói mình giữa hình hài cô đơn thô vụng
khoác một hóa thân gượng gạo trước mặt trời
nghe kí ức loảng xoảng rơi trên vùng trăng biển
dấu cát xóa nhòa nước mắt mù khơi

Em cầm nửa nụ cười đi về nơi quá vãng
cánh đồng xưa đã không còn vọng tiếng từ ngày hôm qua
đừng quay lại
để tuyệt vọng chảy tràn qua mớ âm thanh tím thẫm
cơn cười trầm kha

Em cầm nửa u hoài đi về phía ngập vùi trí nhớ
theo mùa đông rũ áo trước hiên nhà
tôi hóa thân thành ánh nhìn trống rỗng
nghe lời ca vỡ máu ngân nga
ảo giác bong tróc rêu xám
đong đưa lời muộn trùng trùng
giữa cơn bão từ đôi mắt em dội lại
lời xin lỗi của nỗi tuyệt vọng màu trắng
gói một nỗi buồn

khi mọi cố gắng đã hoàn tất
câu từ khước bao dung không còn nói nữa
yên vị trên môi lời mật ngọt sau cùng
trong góc tối những âm thừa run rẩy
khóc một hình dung

Em cầm nửa cuộc tình đi về bên kia sân khấu
tôi hóa thân thành gã gù ngồi hát giữa ngây ngô
cũng không hát trọn lời yêu em huyền thoại
để tình yêu còn thác lũ đến bây giờ..

PHƯƠNG UY

Ru tình

tranngochuong

Ầu ơ cơn ngủ đi đâu
Để em chong sáng đêm sâu một mình
Bỏ rơi gối lẻ lặng thinh …
Anh gom thơ hát lời tình ru em

Đây cơn gió mát bên thềm
Cuốn trôi hết nhé, ưu phiền ngày qua
Cho đêm đen bỗng thật thà
Đong đưa nhịp vỗ hiền hòa giấc ngoan

Say bên cánh mũi nhịp nhàng
Sao Hôm nhìn bóng anh choàng bóng em
Nét mày như lá cỏ nghiêng
Mơ anh còn thoảng hương mềm tóc thơm

Ngủ đi em, giấc bình thường
Môi cong vẽ nét dỗi hờn, hư sao!
Thương lắm nhé, ngủ say nào
Thơ anh trải lối em vào đêm nay

Ru em ngủ giấc căng đầy
Cho tan dông bão bao ngày gió mưa
Buồn em từ thuở xửa xưa
Anh gom nhận hết cho vừa tim yêu

Trần Ngọc Hưởng

CHUYỆN HÀM ÂN

truongnghi

Cả xóm bỗng đồn rùm lên là nghe đâu Ông Chài ở chòm trên “được hàm ân”.

Nói là xóm chớ thiệt ra trảng đất nằm kề con suối Co Co, cái trảng nông nổng này gần như góp đủ hết mặt mày dân các xóm Tiên Thái, Tiên Bình, Tiên Thạnh bên kia sông tản cư qua đây, cùng chen chúc sin sít ở bên nhau. Chừng mươi gia đình của xóm Tiên Trị bờ đối diện cũng kéo qua dựng lên mấy cái lều. Chỉ trong một thời gian ngắn, thốt nhiên nơi đây lều tranh trại lá mọc như nấm, trải dài từ Tiên An, Tiên Hòa xuống tới tận Tre Đôi, Soi Nổ. Mấy cái nhà lá mái, trính cối, cột to đùng ở bên kia sông Việt Minh đã cho đốt sạch. Toàn quốc phải tiêu thổ kháng chiến mà. Có riêng gì đất Bình Định nầy đâu. Lính Tây trên An Khê, Tú Thủy có mò xuống cũng sẽ chỉ gặp vườn không nhà trống. Tây có vượt sông đuổi theo dân, con nước sông Côn vùng đầu nguồn nơi đây đủ hung hãn làm chậm chân bọn chúng, dân sẽ kịp chạy lên Lỗ Trâu Nằm ở trên Hòn Dồ. Tây nó càn rát quá thì hè nhau theo đèo Bồ Bồ thoát qua Thuận Ninh. Chạy giặc mệt đủ điều, nhưng có mấy khi cả làng được túm tụm ở bên nhau, cùng gánh cùng gồng vui buồn sướng khổ với nhau như vầy đâu.

Nói đồn rùm lên có nghĩa là gần như bất kỳ lúc nào, ngồi chỗ nào cũng đều nghe người ta bàn tán chỉ mỗi một chuyện của Ông Chài. Thời buối súng đạn, hình như chẳng ai còn đủ sức chăm chút chuốt lại chuôi cày, rong từng bờ ruộng, nhưng thường người ta lại dư hơi tụm năm tụm ba kháo chuyện của thiên hạ. Lại nữa Ông Chài lại là người mà bấy khi nay áo chẳng đủ mặc, cơm chẳng đủ ăn, lâu lâu mới có được miếng thịt là nhờ “đi hờ” hoặc “la quợ quợ” đuổi cheo đuổi nai vô lưới cho ông bầu săn Chín Đi. Nay Ông Chài bỗng nhiên đổi đời.

Ông Chài được vô dân quân, được phát cho cây súng calip vắt vai vênh vênh cái mặt. Chỉ là chuyện nhỏ. Chẳng biết sao, tháng rồi cả xóm thấy Ông Chài tự dưng đi săn chỉ một mình mà hai lần đâm được hai con nai nhung. Rồi cũng liền đó hai lần ông mổ heo bày biện cúng bái ngoài cái miếu đã đổ nát nằm bên gốc me to. Đấy mới là chuyện động trời. Thời buổi mà mỗi tuần ai cũng nhín nhịn một ngày phải ăn cháo, để gạo lại góp lương nuôi bộ đội đánh Tây, Ông Chài dám mổ heo thì tránh sao khỏi tiếng ra tiếng vô, lời đồn lời đại. Khổ thế, người đời được mời ăn cúng, thịt thà dầu mỡ trơn cái lỗ miệng nên mồm của họ cứ ngứa chẳng chịu im, chẳng chịu thôi cái tật xoi mói đời tư của người đã cất công đi mời mình ăn cúng…

Còn “Được hàm ân” nghĩa là sao ! Đây là lần đầu tiên được nghe nói tới, Thằng Đực tìm đến Thầy Bốn Rượu để hỏi. Chẳng để đợi lâu, Thầy Bốn sốt sắng cắt nghĩa cho nó nghe:

-Được hàm ân có nghĩa là được nhận ân điển của trên trước. Ông Chài chắc đã được trên trước bày cho bùa chú. Khi đi săn, thấy thú rừng có ở tít trên dông cao hay trên sườn núi đi nữa, chỉ cần lấy giáo vẽ bùa dưới đất rồi trở ngọn giáo mạnh tay dộng xuống bùa, âm binh của trên trước sẽ giúp đuổi con thú tuôn ra đồng chui vô lưới. Chẳng tốn sức nhiều mà bỗng dưng được thịt, đấy gọi là được nhận ơn của trên trước.

-Có thịt thú rừng rồi mà sao Ông Chài lại phải mổ heo nữa vậy Thầy!

-Đó là mổ heo dâng tạ ơn trên trước, cũng như cúng cho âm binh của trên trước. Phải có qua có lại chớ. Thường tình của cuộc đời, thần thánh hay ngưu đầu mã diện gì cũng đều như nhau cả. Có ai đâu tự dưng lại đem của đưa không cho ta. Khi được hàm ân là phải lo cúng kính trả ơn. Được hàm ân là có được thịt ăn, nhưng cũng chẳng hay ho gì đâu. Xưa giờ mấy ông thầy pháp luôn kề cận trên trước, nhưng đã mấy ai có hậu vận suông sẻ đâu. Nhận hàm ân là phải kề cận trên trước. Cả làng sẽ phải khổ thôi. Để rồi coi.

* * *

Thầy Bốn Rượu là người mà thằng Đực hằng ngưỡng mộ. Bấy lâu những gì Thầy Bốn nói đều làm cho nó thêm sáng óc ra. Nhưng lần nầy thằng Đực cứ ngờ ngợ, có cái gì đấy trong cắt nghĩa của Thầy nó chưa hiểu rõ được.

Thầy Bốn vốn là con ông Phụng tế trên Tiên Hòa. Làm phụng tế lo cúng bái cho đình làng, ít nhất trước kia cũng phải là chức sắc của làng, huống hồ gì ông Phụng tế lại từng là tướng trông coi kho lẫm bên Đồng Trại, Đồng Hào cho Mai nguyên soái thời Cần Vương. Nghe đâu tiên tổ của Phụng tế chính là người xưa kia đã xin quan trên đặt tên cho 6 xóm ở đây, thứ tự đọc lên thành câu là An- Hòa-Thái- Bình -Thạnh -Trị. Vậy đó, cái tên của làng nói lên được tri thức của người ở trong làng, nói lên được ước muốn của dân làng. Tên chữ của Thầy Bốn cũng vậy. Ông Phụng tế đã đặt tên cho Thầy là Dự, có nghĩa là yên vui. Có lẽ ông Phụng tế mong muốn con cháu ông sống yên bình như xóm làng ở đây vốn đã yên bình. Thiệt ra anh em Thầy Bốn hồi nhỏ người có tên là Trà, người có tên là Tửu. Dân trong xóm lấy thế cứ nôm na gọi Thầy là Thầy Bốn Rượu. Cái tên nôm na nầy đã vần xoay trầy trụa cả cuộc đời của Thầy.

Thầy Bốn hẳn là con giòng cháu dõi. Cuộc đời của Thầy thật là lãng tử. Hồi cưới vợ, chưa kịp tới ngày hồi dâu, Thầy đã liền thục mãi đám soi của hồi môn lấy tiền dẫn bạn bè ra Huế. Cả tháng trời mới trở về. Người làng nói Thầy Bốn đàn đúm bạn bè đi lắc đò sông Hương. Có hay không chẳng biết. Nhưng chắc có là Thầy đã từng đánh bạc với Phụng Hóa Công, người mà sau đó ít lâu được đưa lên ngôi vua là Khải Định. Được chơi với người có tiếng có tăm, mà lại là người có quyền uy tột bực, ai lại chẳng đồ đi đồ lại cho thiên hạ lác mắt, ai lại chẳng nghe bạn bè của Thầy hùa nhau nói tốt cho cái nghề cờ gian bạc lận: “Thời nào chẳng vậy, ít ra cái nghề đánh bạc thấy vậy chớ nó giúp cho con người ta kề cận được với giới quan quyền dư tiền dư của. Giống như Thầy Bốn làng ta đấy”…

Đi chơi Huế trở về, chẳng bao lâu sau thì bị vợ để. Từ đó Thầy Bốn chẳng chịu lấy ai nữa, khỏi có ai cằn nhằn bên tai, vướng víu tay chân. Từ đó Thầy đầu húi cua giống như thời cả làng cắt bỏ búi tóc dài, theo Chánh Tổng Kham đi xin sưu kháng thuế. Thầy Bốn du Bắc du Nam, đi rong chơi khắp chốn. Mặc cho mấy ông già bà cả nhăn mày nhăn mặt sao lại phải mặc đồ của Tây, bắt chước kiểu sống của người Tây.

Nhưng kể ra những cái gì của Tây mà Thầy Bốn mang ra dạy cho trai trong làng, phải nói là cả làng như được của mà chẳng bỏ ra một đồng xu bát gạo nào. Cái mặt thằng Đực mấy khi nay thấy sáng sủa hẳn ra là nhờ những ngày nó cần mẫn ở bên cạnh Thầy Bốn Rượu. Thầy Bốn lúc thì lên Công Tum, Ban Mê Thuộc…, lúc thì vô tít tận trong Gia Định, Đồng Nai…, lúc nào về tới nhà là Thầy gọi trai làng lại để kể chuyện đi một ngày đàng Thầy đã học được một sàng khôn như thế nào. Riết rồi Thầy trở thành người dạy chữ quốc ngữ, dạy làm toán cho trai làng lúc nào chẳng hay. Người làng gọi Thầy là Thầy Bốn, bắt đầu kể từ những ngày ấy.

Thầy Bốn dạy học kiểu chẳng giống một ai. Thật ra Thầy có học sư phạm sư phiếc, trường lớp nào đâu. Thầy cất công xuống thăm Trường Ông Phàm ở Phú Phong đâu vài bữa. Trở về, Thầy biết được cái gì Thầy gò cho trai làng cái ấy. Cả lũ trai làng, đứa nào học được tới đâu, Thầy truyền liền cho cái kế tiếp, chẳng phân biệt lớp bậc gì ráo. Mới rồi Khu 5 đã cho mở trường công lập hệ 9 năm tới từng huyện, học trò khỏi phải tốn kém đi học xa tận dưới Qui Nhơn như hồi xưa nữa. Được nhắc khéo là việc học nay đã có chính phủ lo, Thầy Bốn vui vẻ không gọi trai làng tập trung lại nữa. Gọn ghẽ, chẳng vướng bận gì. Lâu nay cũng chẳng gọi là Thầy mở trường mở lớp. Nhưng những gì lâu nay nhận được từ Thầy Bốn, Thằng Đực tin rằng nó dám đứng chung lớp với thằng Kim trên Định Xuân, đang học trường Cấp II Bình Khê của chính phủ vừa mở ở dưới Mỹ Thuận. Hiện giờ thằng Đực viết đã thông, đọc đã thạo chữ quốc ngữ là chữ của nước nhà. Không những nó làm được phép tính Hàn Tín Điểm Binh, mà nó còn sành sõi sáu câu Bảng cửu chương “thất thất tứ cửu…, cửu cửu bát nhất…”. Thằng Đực còn giải được phép tính hóc búa:

“Vừa gà vừa chó ba sáu con
Trói lại cho tròn đếm đủ trăm chân
Hỏi bao nhiêu gà, bao nhiêu chó…”

Nói chẳng quá, nếu bây giờ mà cất lại cái miếu Tiên Thạnh bị đốt, Thằng Đực sẽ tính cho làng biết là cần bao nhiêu cột, bao nhiêu ruôi mè, bao nhiêu tranh ngói… Thằng Đực đã học được cách tính toán mà bấy khi Thầy Bốn đã giúp Xã Khuê làng Thượng Giang cất cái đình to đùng, mặt ngó lên Hòn Bà Phù bên Đồng Phó. Thằng Đực còn biết cả cách đạc điền mà ngày xửa mấy ông lý hương thì thào bảo nhau sao Tây nó giỏi thế, vẽ trích lục địa bạ đám ruộng nào ra đám ruộng ấy, rành rành hình dạng từng thửa trên giấy trên tờ.

Thầy Bốn có nói với thằng Đực là Thầy đã truyền cho nó kiến thức của người Tây nhiều hơn là của Ta. Nhưng với mớ kiến thức của dân Tây mà lâu nay học được, thằng Đực không thể nào dùng nó để cắt nghĩa cho thông chuyện “được hàm ân”, chuyện được trên trước cho bùa chú của dân Ta.

Từ ngày nghe đồn là Ông Chài “được hàm ân”, điều trước tiên thằng Đực thấy rõ là cái trại của Ông Chài lúc nào cũng nghìn nghịt người ra vô. Người ta nói nghèo mà ở ngay giữa chợ cũng chẳng có ma nào thèm tới, người giàu có dù ở tít tận trong rừng sâu cũng sẽ lắm kẻ mò đến thăm. Ông Chài chưa gọi là giàu có, nhưng cũng đã lắm kẻ tìm đến. Sướng thế đấy. Chẳng kể gì Trùm Sẽ, thằng Nần hay thằng Bụng… những người mà khi nhà nào có mổ thịt là thường chạy đến phụ giúp cho một tay, ngay cả ông Phụng Thủ bấy lâu chẳng qua lại gì với ai, nay cứ năm ba bữa là thấy ông có mặt ở trại của Ông Chài.

Lẽ thường chỗ đông người bao giờ cũng sinh ra chuyện ăn uống. Vậy thế mới có chuyện các cụ ngày xưa muốn con cháu thường xuyên tập trung lại, cùng về với nhau để lo việc họ tộc… nên phải bày ra chuyện ruộng hương hỏa từ đường. Nay người làng xúm nhau đến với Ông Chài, chung quy cũng chỉ từ chuyện ăn uống mà ra. Ông Chài giờ đây thỉnh thoảng có được thịt rừng, rồi lại phải mổ heo, có khác gì mật ngọt rủ rê cả đàn ong lũ bướm. Huống hồ gì khi có được nhung nai, Ông Chài đã biết gì đến việc phải bán cho ai, bán chỗ nào cho được giá đâu. Trong số đông người đến, ít ra cũng có người rành rẽ giúp cho ông buôn bán cái của hiếm lâu lâu mới có nầy chớ. Lại nữa ở cái thời giặc giã, biết lúc nào sống lúc nào chết. Nói dại, lỡ có bị tên bay đạn lạc cũng khỏi phải làm con ma chết thèm. Đâu như đỗi trước, cây cà nông nòng bạc Tây nó đặt trên đầu đèo An Khê, chiều nọ bắn hú họa qua đây chỉ năm ba trái, lại rớt ngay giữa mâm cơm nhà bà Niễng, tội nghiệp cả nhà chưa kịp ăn.

Đừng trách chi chuyện quanh cái miếng ăn thời bom đạn. Nhiều khi, lúc Tây càn phải chạy, ai mà để sót lại con gà con vịt cũng gọi là vướng lấy cái tội cung cấp lương thực cho Tây. Nhiều khi, như bà Bồng nghe hô Tây đã xuống tới Định Nhì, liền chạy thục mạng, chạy đến Soi Nổ mới ngớ ra mình chạy chỉ với cái chày cùng cái cối đâm tiêu trên tay…

Người ta từng nói giàu có mới sinh ra phú quý, có phú quý mới sinh ra lễ nghĩa. Thằng Đực thấy Ông Chài thốt nhiên gần đây lại sinh ra sính chuyện lễ nghĩa, quỳ lạy cúng bái. Trong khi đó nó rõ mười mươi ông cũng giống như người làng ở đây đang bở hơi tai mới có ngày hai bữa, không tính buổi sáng lúc thì nồi củ mì lúc thì rổ khoai lang. Đâu phải ngày nào cũng săn được thịt. Thời súng đạn, hươu nai nghe rền tiếng nổ thường rúc tận trong rừng sâu. Lửng thửng ngoài gò chỉ vài ba con chồn con nhím, bõ bèn gì mà phải dùng đến bùa chú hàm ân.

Ông Phụng Thủ thường nói khi đã cúng trên trước thì phải thành tâm, phải thực hiện đúng nghi thức cúng bái, trên trước mới thương tình mà ban lộc. Chắc vì lẽ đó mà thằng Đực thấy thỉnh thoảng ông Phụng Thủ tập cho Ông Chài bái lạy, đứng lên quỳ xuống. Nó nghe nói hồi Ông Chài mượn cái áo dài khăn đóng của ông Bát Tuyển đi cưới vợ, không chịu tập lạy nên lúc làm lễ gia tiên, lớ ngớ thế nào mà ông dậm phải cái vạt áo cắm đầu vô bàn thờ. May mà chẳng đổ ngã đèn nhang, bể vỡ chén bát xảy ra ngay trong ngày trọng đại. May mà bà con họ hàng thương nhau nên bỏ qua chuyện không rành lễ nghĩa. Giờ đây với trên trước, chắc là trên trước không thể nào thương tình cho cái chuyện đi xin lộc, cúng tạ ơn mà không biết lạy quỳ. Ông Chài phải ra công luyện tập cho đúng phép. Chịu cực nhọc với trên trước, có gì đâu mà phàn nàn…

Ông Chài chỉ đi xin có thịt ăn mà còn vậy, trách chi ngày xưa mấy ông đi làm quan lúc nào cũng phải biết nói cho trơn tru câu cửa miệng là “vạn vạn tuế đã ban ơn”.

Kể ra cũng lạ thiệt, từ khi Ông Chài rành rẽ chuyện lạy quỳ, ngày nào bầu bạn của ông mà vác lưới đi là ngày đó có thịt khiêng về. Có bữa khiêng về con Heo Một nanh dài cả gang tay làm ai cũng hãi. Lâu nay các bầu săn đều sợ gặp phải heo rừng đi một mình không sống theo bầy. Cọp trong rừng mà còn phải né mặt ngữ ấy nữa kìa. Nếu trên mà cho phép sử dụng súng ống để đi săn, cây calip của ông Chài cũng phải lẩy bẩy, run rẩy trước nanh heo một.

Thằng Đực nay thấy cả làng vây quanh Ông Chài với những bộ mặt tươi rói. Kháng chiến đã đi đến hồi quyết liệt. Tây trên đồn Tú Thủy thỉnh thoảng nống xuống tới Định Quang, Định Nhì. Cả làng đã mấy phen phải chạy lẩn lên Hòn Dồ. Có cực nhọc thiệt. Mùa màng thất bát, bữa đói bữa no. Nhưng khi về lại làng là mọi người như tìm lấy lại sinh khí, gõ chén gõ bát lung tung xèng trong những ngày Ông Chài mổ heo. Giờ đây Ông Chài trở thành một bầu thợ săn có tới mấy tay lưới. Dưới trướng của ông gom lại có tới mấy đàn chó, bạn săn hội đủ hết những tay “đi muông” sừng sỏ của làng. Ngay cả bầu săn trước đây của ông là Ông Chín Đi, nay cũng phải vác lưới đến nhập bầu với Ông Chài. Mỗi lần Ông Chài phát lệnh tù và gọi bạn săn, gần như đủ mặt cả làng rần rần chạy đến bên ông chờ lệnh lên đường. Nai nịt gọn gàng đứng giữa rừng giáo mác, Ông Chài giống như một vị tướng đứng giữa ba quân. Thấy mà phát thèm.

Mỗi khi tiếng tù và của Ông Chài rúc liên hồi trong mỗi trận săn, hầu như ai cũng nôn nao, miệng ứa nước miếng, thấy miếng thịt dường như đã sờ sờ trước mắt. Bữa đói bữa no mà ăn lại có thịt có cá ngót tận cái cuống họng, đố ai dám nói là không ham. Nhưng tiếng tù và giờ đây đã lần lên tới hòn Da Két, có bữa lấn tới tận hòn Bong trên Vĩnh Thạnh, điều nầy làm cho ông Chín Đi thấy lo.

Mở rộng được khu vực đi săn, ông Chín Đi không lo. Bằng với cả quan hệ rộng rãi đã từng có, ông Chín Đi lâu nay còn giúp thay Ông Chài qua tận bên Thuận Ninh, xuống tận dưới Suối Bèo tìm heo mua về cho Ông Chài cúng tạ. Heo mấy làng chung quanh gần như chỉ còn loe ngoe mấy mống vừa bỏ bú. Ở vùng giáp ranh chỗ Tây đóng đồn, lúc nào cũng trong tư thế sẵn sàng chạy giặc, tay nải, tay ruột nghé mấy ai dễ gì nuôi được con heo. Thế thì lấy đâu có đủ heo để cho Ông Chài cúng tạ. Trong trận săn bận trước, thấy con nai sải lên dông hòn Ngăn, chó ăng ẳng đuổi theo như bầy rùa đang chạy thi với thỏ, hăng máu thế nào mà Ông Chài lại mắt nhắm mắt mở, tay vẽ bùa miệng niệm chú. Con nai quay đầu tuôn xuống nhào vô lưới bị Trùm Sẽ lụi một giáo vào mông. Té ra đó là con nai chà chớ không phải nai nhung. Vậy là lỗ nặng. Săn được chỉ con nai chà mà cũng phải cúng con heo. Thịt chỉ đổi lấy thịt. Thịt nào rồi cũng phải chia năm xẻ bảy. Chẳng kiếm chác được thêm gì. Điên tiết, Ông Chài bận đó lệnh chỉ cúng con heo cắp nách, xách bằng tay được.

Ông Chín Đi lo. Chính là lo cái chuyện cúng kính, tạ ơn cho trên trước ấy.

* * *

Thằng Đực không hiểu bùa hàm ân là cái quái gì mà sao lại khiển được âm binh, những tay săn thịt cũng sẵn sàng nhào vô chịu sai khiến. Thiệt lạ kỳ. Thằng Đực theo sát Ông Chài, nó quyết coi cho biết Ông Chài vẽ cái bùa ấy ra làm sao. Là thằng sáng dạ lại có ý để tâm học hỏi, chẳng bao lâu nó thuộc lòng từng nét Ông Chài đã vẽ ngoằn ngoèo dưới đất. Chữ Nho chẳng ra chữ Nho, chữ Quốc ngữ chẳng ra chữ Quốc ngữ. Thằng Đực chạy tìm gặp Thầy Bốn Rượu.

Mọi khi Thằng Đực tìm đến Thầy Bốn, Thầy Bốn đều ân cần giảng giải những gì nó muốn biết. Không ngờ lần nầy thằng Đực bị Thầy Bốn to tiếng quát cho một trận:

– Quên phứt nó đi. Ngữ ấy không được nhớ. Trút chúng ra khỏi đầu ngay. Đấy là cái thứ làm hại đến sinh linh…

Thằng Đực hoảng hồn chạy một mạch ra bờ suối Co Co. Ngồi trên nhánh cây sung, nó lặng nhìn con nước êm đềm chạy quanh quanh dưới chân. Vì để sống mà con người bằng mọi cách cướp về cho mình cái miếng ăn, không cần biết là đã làm hại đến ai. Hàm ân ư, đi kèm với bùa còn phải có chú. Nó sẽ quên hình dạng cái bùa thôi. Nó không thèm để tâm, học cho biết chi câu thần chú gọi âm binh, gọi ngưu đầu mã diện trói cẳng hươu nai…

Nhưng rồi thằng Đực chả cần vướng bận chi chuyện không thèm học bùa chú hàm ân nữa. Sau đó ít lâu Ông Chài chết. Bầu bạn của Ông Chài tan đàn sẻ nghé.

Bầu bạn của Ông Chài đã tan đàn sẻ nghé. Không riêng gì đâu. Cả mấy bầu săn ở Vĩnh Thạnh cũng đều bị trên ra lệnh cấm. Nay không ai được tụ tập đông người, lục lạo vào rừng như trước nữa. Bộ đội đã tập kết về đây chuẩn bị tiến công lên Tây Nguyên. Đợt đánh đấm nầy phải giấu chỗ đóng quân. Không như bộ đội của trung đoàn ông Vi Dân năm về đánh lên đồn Tú Thủy, chưa áp sát vào đồn đã gọi loa thách thức lính Tây. Đồn đã không lấy được mà ông cùng với đội quyết tử không một ai trở về. Thằng Đực nghe Thầy Bốn nói là đợt nầy trên đánh đấm thiệt ra trò. Phối hợp các chiến trường, bộ đội âm thầm chia cắt, cầm chân lính Tây ở đây không cho ra cứu viện đâu tít tận ngoài Điện Biên Phủ.

Còn Ông Chài chết. Cái chết sanh nghề tử nghiệp. Sau bận cúng con heo cắp nách được, chẳng biết trên trước có đổ giận hay không mà từ đó bùa hàm ân hết linh. Đã mấy lần gặp được nai nhung, dộng giáo niệm chú mấy đi nữa nai cũng cứ nhởn nhơ trên sườn núi. Ông Chài đổ khùng. Một bữa ông ra ngoài bờ soi bủa lưới hờ sẵn. Bầy bò của ông đang gặm cỏ dưới triền sông. Bầy bò mà lâu nay ông sắm nên là nhờ vào tiền bán nhung nai săn được. Ông hươi giáo vẽ bùa, gọi âm binh thúc bò của ông vào lưới. Ông muốn thử xem lệnh lạc của ông có còn hiệu nghiệm nữa hay không. Nhưng bầy bò của ông vẫn cứ trơ trơ ra đó. Ông gào thằng Nần xách roi lùa chúng qua đây. Bầy bò lùng nhùng, sừng ngoắc qua ngoắc lại, muốn xé cả tay lưới đan bằng gai bố chắc nụi của lính Tây. Ông Chài trở cán giáo tiếp tay với thằng Nần quất như điên vào bầy bò. Ông không để ý tới con bò cầm chuồng mắt đỏ lừ, từng bước một đang tiến đến sát một bên ông. Ông Chài bị đổ ruột.

Bầy bò của Ông Chài quặt quẹo chẳng cày bừa gì được nữa. Mà cày bừa gì đâu khi cả làng lâu nay chỉ chăm chăm chạy theo miếng thịt. Thiếu người chăm sóc, ruộng để khô, đất để cứng như đá, cả làng lơ thơ chỉ mấy con bò mà con nào con nấy bụng tóp teo trơ rõ mấy cái xương sườn… Ông Chài đổ ruột chết ngay chiều hôm đó. Không biết có ai trong bầu bạn học được cái cách gọi âm binh của ông không. Cái cách mà muốn có thịt ăn chỉ cần bắt quyết, tay vẽ bùa, miệng niệm chú, nhưng mỗi lần bắt quyết, nhất thiết sau đó phải cúng tạ một con heo.

Thằng Đực giờ đây đã hình dung ra được những trật trìa trong chuyện nhận ơn và phải trả ơn. Nó nhớ lại lời nói của Thầy Bốn Rượu ngày nào: “Nhận hàm ân là phải kề cận trên trước. Cả làng sẽ phải khổ thôi. Để rồi coi…”.

PHAN TRƯỜNG NGHỊ
Tháng Một Năm 2016

LỤC BÁT MƠ MÒNG TRÊN MÂY

nguyenvi

Bay qua non biếc sóng trào
Xuyên mây vẫn đó ngọt ngào quê hương
Ngàn năm linh khí quật cường
Trăm năm đất ủ vết thương da vàng
Lén lau nước mắt hai hàng
Đang khi khóc mếu mơ rằng, mốt mai…
Ta về nguyên vẹn hình hài
Núi cao biển rộng sông dài xưa xa.

NGUYÊN VI