PHƯƠNG ẤY.

tonnuthudung

Nắng mật ong cho tôi vàng thương nhớ
Chiều tương tư em tóc xõa trên đồi
Hồn lơ đãng cứ mơ về cố xứ
Gót chân hồng em nhẹ đến xa xôi.

Mây có tụ thành những quầng ngũ sắc
Gió vẫn bay tan tác cuối chân trời
Sương còn đọng long lanh buồn phương ấy
Đêm nghẹn ngào ai thao thức cùng tôi.

Nhớ một thuở có còn đau một thuở
Ngày hoang vu mưa bong bóng chập chờn
Em cầm ngón tay tôi vàng khói thuốc
Lặng thinh nhìn… như gởi một yêu thương.

Tôn Nữ Thu Dung

phục hiện

nguyendinhbon

có khi buồn suốt một ngày
mà không hiểu hết mình cay đắng gì
có khi hoa cỏ xanh rì
tay không dám hái cũng vì nhân gian
có khi bỏ phố về làng
rồi quay quắt nhớ một hàng sao xanh
chiều nay phục hiện ân lành
nắng xuân còn đậu trên nhành hoàng hoa…

Nguyễn Đình Bổn

Màu Cổ Tích

zulu

Trong lớp học, mỗi lần nhìn Kate Stern tôi ngờ ngợ như quen biết, như đã gặp ở đâu. Tôi đến Mỹ hơn một năm, cô gái tóc nâu, mắt xanh, làn da trắng mịn, khuôn mặt rám nắng không phải là người Việt, nhưng sao nhìn Kate tôi cảm thấy thân thiện, gần gủi. Trong dáng đi và nụ cười của nàng, có gì cứ bắt tôi tìm kiếm, nhớ về.
Lớp học chỉ có hai mươi sinh viên, tôi ngồi hàng ghế đầu. Kate thường đi học trễ, cô đứng khom người, gật đầu chào rồi dọt lẹ xuống cuối lớp. Cách chào của Kate làm tôi nhớ lúc nhỏ, thầy giáo năm lớp nhì tập cho chúng tôi chào nhau như thế. Bây giờ, mỗi lần gặp Kate, tôi gật đầu đáp trả, nàng mỉm cười nhìn tôi bằng ánh mắt rất lạ.
Nơi tôi ở hoạ hoằn lắm mới thấy tuyết rơi, nhưng đến trường có nhiều xe còn tuyết phủ trên mui. Tôi thích mang tuyết về nhà, lấy nước tuyết tan nấu pha trà. Tôi trọ trong garage của người bảo trợ, cái garage biệt lập được sửa lại thành nhà ở. Đó là thế giới riêng, có khoảng cách một hồ tắm và sân basketball, rất yên tỉnh. Buổi sáng dậy sớm, tôi đi bỏ báo rồi đến trường , tối về đi giao Pizza ( Pizza Delivery ).
Một buổi sáng không kịp lấy tuyết, tan học tôi xách cái xô ( Bucket ) hăm hở đến chiếc Lincoln Navigator, bỗng giật mình. Kate trong xe mở cửa bước xuống. Cô nàng vồn vã.

– Hey ! You’re Dien, aren’t you ?
– Yes, I am. How are you ! Kate ?
Học kỳ đầu, Kate học chung lớp Math 251, nay tôi mới có dịp nói chuyện, sau vài phút trao đổi, Kate cho biết xe không nổ máy. Nhìn khuôn mặt lo âu của nàng, tôi nói không sao, tôi có thể giúp Kate. Khi biết nguyên nhân, tôi đề nghị Kate thay distributor. Tôi chở Kate đến Auto Part, luôn tiện ghé nhà lấy dụng cụ, trở lại trường trời sụp tối, mùa Đông gió lạnh, qua ánh sáng ngọn đèn trong bãi đậu xe, tôi thay distributor.
Kate rối rít cám ơn, nàng lên xe, lồng ngực tôi muốn vỡ tung vì lo lắng, tôi nín thở chờ kết quả, những phút giây im lặng kéo dài, hồi hộp, tôi nghe tiếng lách cách của chùm chìa khóa, một tiếng cạch rồi máy xe nổ ình ình, tôi quên cả đêm lạnh, Kate hạ kiếng, cô nàng chồm qua cửa, vẫy tay chào, cám ơn rồi lao xe vào bóng đêm.
Hôm sau ra khỏi lớp tôi gặp Kate đến chào và xin lỗi tối qua phải đi gấp vì đường xa và trời tối, Kate đem theo xô tuyết, cô nàng chỉ chỗ đậu xe và dặn tôi đến lấy.

Sau những ngày nghỉ Merry Christmas và New Year, đến lớp tôi cảm thấy lạc lõng hơn. Do chỉ mình tôi là người Việt Nam, sự cách biệt giữa hai thế hệ, hoặc ngôn ngữ. Tôi tự hỏi và tự trả lời, có lẽ do cả ba. Buổi học đầu năm thầy giáo không đến, tôi ký tên vào tờ giấy trước cữa lớp rồi ra về, trời nắng nhưng rất lạnh, chưa biết đi đâu, dọc hai bên hành lang hoa Tường Vi nhiều màu sắc, đập vào mắt là những đoá hoa vàng rực rỡ, tôi bỗng nhớ tết, biết tết sắp đến. Sau một thoáng tần ngần, tôi vào Cafeteria Restaurant uống cà-phê, còn bốn giờ nữa tôi có lớp buổi chiều, đi lang thang dưới những hàng cây gầy guộc, trụi lá, tôi vào thư viện để trốn lạnh và coi lại bài vở.
Tâm trí của tôi không tập trung, những kỹ niệm choán chỗ, ký ức năm học lớp nhì ập đến, cũng những ngày cận tết, cả lớp đang thi Đệ nhất lục cá nguyệt môn tập vẽ, đề tài tự do, thầy Thi mãi mê chuyện trò với cô giáo Mơ dạy lớp ba. Cả lớp im lặng, chuẩn bị nộp bài, Loan Châu – Cô bạn ngồi bên cạnh – đang chấm mực, nắn nót viết tên lên trang giấy vẽ bình hoa. Tôi nghe có một âm thanh gì, không rõ rệt, một con chuột từ mái nhà rơi ngay vào đầu tóc mới uốn của Loan Châu, cô nàng khóc thét lên, ôm choàng, dúi đầu vào ngực tôi.
– Diên, Diên, con chuột, con chuột, bắt nó.
Con chuột không thoát được, chân vướng vào những sợi tóc quăn, cứ vùng vẫy, tôi chụp cái đuôi, con chuột quay đầu lại, tôi buông tay, nó chun vào chiếc áo len nhưng không được, con chuột treo tòn ten trước ngực nàng, sợ nó cắn, tôi chưa biết phải làm gì thì Đắc ở bàn sau, nắm đuôi chuột kéo ra, xách tòn teng làm cả lớp huyên náo. Trên mái nhà con rắn bắt hụt mồi, cứ lo le cái lưỡi trườn đi lặng lẽ như chẳng có chuyện gì xẩy ra. Tai hoạ của Loan Châu không phải con chuột, trong lúc hoảng hốt, Châu làm bình mực đỗ loang lên trang giấy vẽ, giờ nộp bài sắp đến, cô nàng chỉ biết khóc, khóc vì không có bài nộp, vừa khóc vừa thì thào.
– Diên, làm sao đây, giúp Châu được không ?
– Ừ, giấy đâu tui vẽ cho.
Chưa biết vẽ gì, tôi đão mắt tìm kiếm, bình trà và tách nước trên bàn thầy giáo ập vào mắt, tôi chụp ngay đề tài, chỉ vài phút đã vẽ xong, thấy còn giờ, tôi vẽ thêm cánh cửa sổ, nó thành ra một bức tranh rất lạ. Không ngờ đó là bức tranh cao điểm nhất lớp.
Hình ảnh con chuột treo lủng lẳng trước ngực Châu cứ ám ảnh tôi, có lẽ suốt đời. Tôi cười vui với kỉ niệm mỗi khi nhớ đến, bây giờ chẳng biết Châu ra sao. Hết năm học lớp nhì, tôi trở lại Huế, thầy cô, bạn hữu và mái trường Ái Tử nhạt nhoà, tan loãng vào niềm vui tuổi thơ. Tôi thênh thang trên những nẻo đời, cho đến một hôm, trong thương xá TAX, bất ngờ có người reo lớn.
– Diên, trời ơi ! Diên.
Tôi trố mắt nhìn người gọi tên mình, đó là một cô gái ăn mặc sang trọng, đứng bên anh chàng Mỹ cao lớn. Quá đỗi ngạc nhiên, tôi chưa biết phải cư xử thế nào với người lạ. Cô gái hỏi dồn.

– Biết ai không ? Loan đây.
– Ô ! Loan Châu, nhìn chị không ra,
– Mười ba năm rồi, nghe Diên học hàng hải, sao đi lính ?
– Động viên, còn Châu ?
– Loan làm thư ký, hắn là ông chủ của Loan đó. John, this is Mr. Phan – my friend – And this is my husband – John Stern.
Chuyện xẩy ra đột ngột và quá bất ngờ, tôi ú ớ mấy câu anh văn xã giao, lấy cớ đến giờ làm việc để chào từ giã. Nào ngờ, đó là những bước nổi trôi trong chiến tranh, giữa mịt mù cuộc sống, gần như không có tương lai. Cho đến hôm nay, ngồi trong thư viện của một trường đại học Mỹ, tôi thấy đời tôi là những tình cờ đưa đẩy, và tôi biết tôi đang có một cơ hội để làm lại cuộc đời.

Thứ Sáu, ngày tôi không có lớp, một buổi sáng đang làm sạch hồ tắm ( Brush Swimming Pool Wall ) tôi nghe có tiếng thắng xe ở sân Basketball, chuyện bất thường, tôi sửng sốt đến độ hoảng hốt, Kate đến quá bất ngờ, cô nàng chào hỏi, khi đến gần Kate nói.
– Xin lỗi, vì không biết số điện thoại Kate có làm phiền anh không ?
– Rất hân hạnh được Kate đến nhà, tôi đang làm sạch hồ tắm để mừng năm mới.
Tôi mời Kate vào nhà, nàng chỉ xô tuyết để ở xe, tôi xách vào.
– Chúng ta uống trà, Kate bận gì không?
– Được uống trà lúc này còn gì thú hơn, trà nấu bằng nước tuyết?
Kate lấy trong xách tay trao cho tôi tấm thiệp Merry Christmas có thêm hàng chữ “Chuc mung nam moi“ viết tay bằng mực xanh. Tôi cám ơn và xin lỗi vì không có thiệp chúc Tết cho nàng.
Kate nâng tách trà hai tay áp sát ngực, hơi nóng bốc lên như sương khói, nàng hít thật sâu, rất nhẹ, từ từ hớp từng ngụm trà. Ngừng lại một lát, Kate nói.
– Nhớ bữa hôm nhìn kính chiếu hậu, thấy anh xách cái xô đi lấy tuyết.
– Xe của Kate bao giờ cũng là xe có nhiều tuyết nhất.
– Nhà em ở Big Bear Lake, ba mùa có tuyết. Nhưng để yên, anh kể chuyện ở Việt nam cho em nghe đi.
Tôi chỉ biết trầm ngâm, im lặng. Chưa bao giờ tôi nghĩ có người hỏi mình như vậy, bắt đầu như thế nào. Tôi cố tìm một câu chuyện thì Kate tiếp.
– Chẳng hạn như điều gì làm cho anh hãnh diện nhất, tủi nhục nhất, hạnh phúc nhất và đau khổ nhất ?
– Trên thế giới chỉ có người Việt Nam đánh thắng quân Mông Cổ, đồng hoá hai dân tộc, Chiêm Thành và Thuỷ Chân Lạp. Tủi nhục nhất là hoạ cộng sản đang dìm dân tộc xuống tận cùng của khiếp nhược, ươn hèn và nghèo đói. Hạnh phúc nhất là khi anh đến được bến bờ tự do. Đau khổ nhất là khi anh ra khỏi tù.
– Tại sao ra tù là điều đau khổ nhất? Anh tiếp đi.
Tôi như đứa học trò trả bài, nói xong lại nghẹn những uất hận, không thể nói gì được nữa. Kate trầm ngâm như bị lây cảm xúc đột ngột của tôi. Nàng nói.
– Vậy thì để lần nào, khi thuận tiện anh kể tiếp, giờ chúng ta kiếm gì ăn, dạ dày em trống không rồi.
– Pizza, anh có sẵn, em thích loại nào ?
Tôi mở ngăn đá tủ lạnh, lấy ra một chồng Pizzas. Đó là những cái Pizzas thỉnh thoảng tôi được đem về từ những đêm có người đặt mua nhưng không đến nhận. Kate lắc đầu.
– Sao không là thức ăn Việt Nam, em thích ăn thức ăn Việt Nam hơn.
Cũng may, tôi ướp sẵn con cá rô từ sáng sớm, tủ lạnh còn bó rau muống, xà-lách và một ít cà chua. Làm gì cũng được, nhưng nấu ăn thì tôi quá vụng, trong tình huống này đành liều mạng, tôi nói.
– Chúng ta sẽ ăn cơm với cá rô chiên và canh rau muống.
– Hai món ăn tôi có thể nấu thành thạo từ khi đến Mỹ. Lục ngăn đá, tôi lấy bao tôm khô, bao tôm mang từ Việt Nam qua gần như còn nguyên, đã hơn một năm, tôi chỉ nấu canh mấy lần. Vào bếp, Kate lật cái thau nhôm thấy cá rô ướp gia vị, nàng lấy chảo đổ dầu vào chiên. Tôi ra ngoài dùng búa đập nát những con tôm khô, trở vào nghe tiếng dầu sôi nổ lách tách, Kate đang lau những vết dầu trên mặt, trên tay nàng. Tôi lấy nắp đậy chảo dầu lại.
– Làm sao đây Diên, Tóc và cả áo quần em đều dính dầu chiên cá, em tắm được không?
– Tuỳ em.
Tôi định rửa rau muống, từ phòng tắm, Kate hé cửa, thò đầu ra nói.
– Diên, giúp em giặt áo quần, càng nhanh càng tốt.
Đợi cho Kate khép cửa, tôi đem áo quần ra sân, với cái thau nhôm, tôi giặt bằng tay, vài phút đã giặt xong, tôi vắt thật khô bỏ vào máy sấy. Vào nhà vừa tháo dây bó rau, tôi nghe Kate gọi, nhìn lại cửa phòng tắm hé mở, Kate thò đầu ra ngoài, khuôn mặt và mái tóc đẫm nước.
– Diên, khăn tắm anh để đâu ?
Không trả lời, tôi chọn hai khăn tắm mới đem đến, Kate nhìn tôi, trong cái bẽn lẽn như có dấu nụ cười, nàng lấy khăn vội vàng đến nỗi quên khép cữa phòng tắm. Tôi đứng ngẩn ngơ, bó rau nằm yên trước mặt, mùi cá chiên cháy khét làm cho tôi tỉnh lại, tắt bếp điện, khuôn mặt Kate hiện rõ, tôi cũng đã từng tìm hiểu văn hoá Mỹ, nhưng tôi không ngờ người Mỹ tự nhiên đến kinh ngac. Sự kinh ngạc làm cho tôi hoang mang, lo sợ.
Từ phòng tắm đi ra bếp, Kate run run đến đứng bên tôi.
– Có lạnh không Diên ?
– Lạnh, tôi bận ba lớp áo vẫn lạnh.
– Nhìn Kate giống như cô gái Chăm đẹp nhất trần gian. Với hai khăn tắm, nàng biến thành xà rông và áo khoác. Người con gái sau khi tắm có một vẻ đẹp lạ lùng, vừa huyền bí, vừa gợi cảm, vừa hấp dẫn, thứ hấp dẫn ví như sức hút nam châm với kim loại. Tôi định lấy áo quần vào cho Kate, nhưng nghe âm thanh chiếc máy sấy vẫn quay nên lại thôi. Cuộc chiến mãnh liệt giữa lương tâm, lý trí và dục cảm nay trở thành sự dằng co của ham muốn và sợ hãi. Nỗi sợ của một người mới đến Mỹ hơn một năm.
Kate và tôi đều im lặng, nồi cơm chín bốc thơm, cá chiên cháy và bó rau muống chưa rửa. Gió lạnh lùa vào. Kate kéo cánh cửa đóng kín, hương thơm da thịt con gái mới tắm thanh khiết, mùi thơm xua hết mọi thứ đoạ đày ở chốn trần gian, xua luôn nỗi sợ hãi. Tôi nắm bàn tay Kate, mềm mại, ấm áp, chiếc khăn vô tình rơi xuống đất.

Tỉnh dậy, tôi bàng hoàng trong trạng thái của một giấc mơ, cảm giác về thời gian và nơi chốn không còn nữa, nhìn chung quanh vắng vẻ, cái vắng vẻ đặc quánh bao trùm căn phòng, tôi không biết thực hay mộng, khi nhìn ánh sáng ngọn đèn phòng khách chiếu hình tượng nữ thần Venus De Milo lên vách, tôi nhận ra đêm. Như từ cõi tiên lạc xuống trần, sáu giờ chiều, mùa Đông đêm tối như mực, tôi đi tìm Kate, không thấy nàng, có tiếng gió thổi đẩy thau nhôm cọ lên nền xi-măng, áo quần của Kate không còn trong máy sấy, sân Basketball vắng tanh, tôi nuốt nước bọt đi vào nhà, bình trà lạnh ngắt đang đặt dằn lên trang giấy :
Diên,
Kate về, thấy anh ngủ ngon nên em không đánh thức. Thứ Sáu đến là Tết Việt nam, trùng ngày nghỉ của anh, lên em chào năm mới, chắc mẹ em vui lắm, vì nhà chỉ có mẹ và em thôi. Có gì thứ Tư này cho em biết.
Kate

Tôi suy nghĩ, không biết phải cư xử thế nào, toàn chuyện bất ngờ. Những bất ngờ thành định mệnh, hay định mệnh bắt đầu bằng những tình cờ. Tôi phiêu lưu trong ý nghĩ tìm biết về một xã hội văn minh, nên mong cho mau đến ngày thứ Tư.
Kate đến sớm, trao cho tôi mảnh giấy hướng dẩn đường đi đến Big Bear Lake, bên dưới ghi chú : Anh có thể vào tiệm Pearl Flowers, sẽ có người dẩn về nhà. Như vậy cho tiện.
Chuyện đã rồi, tờ giấy dẫn đường như mệnh lệnh. Đón Tết mình phải có món quà, tôi ghé vào tiệm mua bó hoa hồng màu xanh, không biết hoa màu xanh mang ý nghĩa gì, tôi mua vì thấy lạ.
Đến Big Bear Lake, tiệm Pearl Flowers còn đóng cửa, nhìn đồng hồ mới 9:30 sáng, trời lạnh, tôi định trở lại xe ngồi đợi nhưng có người mở cửa.
– Xin lỗi, Ông là Ông Phan ?
– Vâng, tôi là Phan, bạn học của Kate.
Cô gái Mễ tây cơ nhìn tôi chăm chú, cười vui nhưng vẫn lộ ra vẻ ngỡ ngàng, cô ấy tiếp:
– Tôi tên Elena, sẵn sàng đưa Ông về nhà Kate.
Tôi ngồi bên Elena, xe vừa trở đầu đã có tiếng còi của một chiếc xe mới đến, người đàn bà ra hiệu cho Elena ngừng lại.
– Bà chủ của Elena đó, bà ấy cũng người ViệtNam.
Tôi ngồi yên trong xe, nhìn theo Elena đi về phía bà chủ đang ôm một vài vật dụng trên tay, Elena nói:
– Ông Phan mới đến, tôi đưa ông ấy về nhà.
Bà chủ trao những vật dụng cho Elena, từ từ đi về phía tôi. Bước xuống xe, tôi không thể ngờ tận Big Bear này lại có người Việt Nam. Bàng hoàng với cảm giác vui buồn lẫn lộn, tôi chăm chú nhìn bà chủ và như môt phản ứng tự nhiên.
– Chào Bà, Chúc mừng năm mới!
Bà chủ chẳng nói năng, chăm chú nhìn tôi một lúc, bằng ánh mắt kinh ngạc, bàng hoàng. Bà ấy nói như chỉ để cho bà nghe:
– Có phải anh Diên không?
– Chị Loan Châu!
Tôi reo lên vì mừng, vì ngạc nhiên gặp lại người bạn học thời thơ ấu. Loan Châu hơn tôi một tuổi, ở tuổi bốn ba mà trông như cô gái ba mươi. Tôi nói tiếp:
– Trông chị trẻ quá, lạ quá, tôi không nhận ra cho đến khi nghe chị nói.
Có thể Loan Châu là mẹ của Kate, tôi nghĩ thầm, cố tìm một câu hỏi gì về Kate để biết liên hệ giữa hai người, chưa nghĩ ra thì Loan Châu nó:.
– Năm mới chúc Anh Diên mọi sự tốt lành, gặp nhiều may mắn, an vui và hạnh phúc trên đất Mỹ. Tiện đây mời Diên ở lại, Loan đem lễ vật cúng đầu năm. Năm nay Anh Diên xông đất chắc công việc hanh thông, tốt đẹp.
Tôi nhìn Elena đặt lễ vật từng món đúng vị trí lên bàn thờ, cô gái Mễ đã bị Việt hoá đốt 4 cây nhang rồi cung kính trao cho Loan Châu. Với dáng điệu trang nghiêm, thành khẩn, Loan Châu khấn nguyện những gì tôi không nghe được.
Trên đường lái xe về nhà, Loan Châu nói.
– Loan cứ nghĩ bạn học của Kate là ông Phan nào còn nhỏ, ai ngờ Phan Diên. Cái ngày gặp Diên tại thương xá TAX ở Sài gòn, là ngày em mua sắm một ít vật dụng chuẩn bị đi Mỹ, lúc đó Kate 2 tuổi. Hai mươi năm như chiêm bao, ngày tháng ở Mỹ qua nhanh lắm, cứ lu bu công việc Tết đến không hay, năm nào mấy đứa bạn bên Việt nam gọi qua nhắc Loan mới nhớ.
– Loan Châu được mấy cháu? Tôi hỏi.
– Qua đây mấy năm, đang tính sinh thêm một cháu, thì anh John tử nạn trong một chuyến leo núi.
– Xin lỗi chị, vô tình tôi đã nhắc lại chuyện buồn.
– Còn Diên thì sao ?
– Chuyện của tôi dài lắm, không thể nói bây giờ, nhất là trong ba ngày Tết, chúng ta nói chuyện gì cho vui đi.
– Ở nhà Loan cúng trước khi ra tiệm, nay còn chiếc yacht “Little Pearl” Nhưng phải về nhà, chắc Kate đang đợi.
Căn nhà hướng ra mặt hồ mái còn vướng tuyết, Kate mở cửa nói.
– Happy New Year !
Khi nói chúc mừng năm mới, tôi sực nhớ bó hoa hồng màu xanh còn để trong xe, vậy mà hay, nếu mang theo chắc khó xử trong trường hợp này. Kate hỏi.
– Ông Phan có lạnh không ?
Tôi chưa kịp trả lời, Loan Châu liền nói:
– Ông Phan là bạn học của mẹ thời tiểu học, không ngờ nay là bạn học của con.
Vừa nói Loan Châu vừa pha trà, đem mứt gừng, hạt dưa và bánh chưng đến, tôi ngồi nhìn Kate, khuôn mặt biến sắc, trang nghiêm mất hết vẻ hồn nhiên thường ngày. Tôi nói cho tan đi sự im lặng,
– Lên đây tuyết phủ khắp nơi nhưng không lạnh như ở Redland.
– Vậy chúng ta đi trượt tuyết, anh thích không ?
– Để dịp khác, giờ Kate ra coi tiệm giúp Mẹ. Mẹ mời Ông Phan xuống cúng chiếc tàu, luôn tiện để xuất hành đầu năm. Ông Phan là dân hàng hải đó.
Nhìn qua góc phòng khách, một bàn thờ có di ảnh của John Stern, tôi đến thắp nén nhang. Loan Châu dục Kate ra coi tiệm, rồi quay qua tôi.
– Anh Diên, mời anh xuống bến cúng chiếc tàu với Loan.
Không biết phải nói gì, Kate nhìn tôi lặng lẽ ra đi. Loan Châu mang nhang đèn, bánh và trái cây đã đặt sẵn trong xách. Chiếc Catalina màu trắng được lau chùi sạch sẽ. Lên tàu mới hay đó là chiếc du thuyền nhỏ, có đủ mọi tiện nghi. Sau khi cúng xong, Loan Châu dẫn tôi vào phòng lái giới thiệu về hệ thống truyền tin, radar và một vài chi tiết khác, Loan Châu nói tất cả là do một tay John đặt mua và tự ráp lấy. Đến phòng khách tôi nhận ra ngay bức hình tôi vẽ cho Loan năm lớp nhì, bức hình được phóng lớn. Thấy tôi chăm chú nhìn bức tranh, Loan Châu giải thích.
-Thấy em trân qúi bức tranh, anh John đem lên Las Vegas phóng lớn, mỗi lần nhìn tranh, em nhớ chuyện con chuột, John cũng thích nhìn bức tranh ấy, ảnh nói không hiểu sao, nhìn nó lại nhớ bạn bè, lại gợi lên một cảm giác thiếu vắng!
– Tôi nhớ tôi đã vẽ nó trong một tình huống bức bách, xuất thần từ những hạt nước mắt. Bây giờ nhìn lại, không hiểu sao trong đầu óc tôi lúc đó có cái cửa sổ, nhờ cái cửa sổ cái bình, cái tách trà mới có tiếng nói.
– Loan chỉ cảm nhận chứ hỏi Loan tại sao trân qúi thì Loan chịu, không giải thích được.
Loan Châu tiếp tục giới thiệu cho tôi phòng khách, phòng tắm, phòng vệ sinh nhưng bỏ qua phòng ngủ. Tôi leo lên boong tàu, màu trời, màu nước, lênh đênh, nhấp nhô, tất cả đều lạ, nhưng sao tôi thấy mình rất quen, cảm giác như tôi vừa mới đi phép về.
Trở lại phòng khách, Loan Châu đang thay nước trên bàn, thấy tôi xuống, Loan Châu liền nói.
– Còn mười phút đúng Ngọ, mình xuất hành. Mấy năm trước Loan chọn hướng Đông, năm nay đổi qua Tây xem có gì khác không.
Tôi tách con tàu gần như xê dịch theo chiều ngang rồi phóng nhanh, lao đi trên mặt hồ yên tĩnh, ngồi bên tôi, Loan Châu choàng tay ngang qua vai, nhưng đột nhiên nàng rút tay lại, chỉ cho tôi một vài nơi trên tấm bản đồ:
– Thôi, tùy anh, đến đâu cũng được.
Lác đác vài con tàu di chuyển, gió nhẹ, mặt hồ chỉ gợn sóng đủ cho con tàu cho ta cái cảm giác lênh đênh. Tôi giảm tốc độ, trên bếp lò ấm nước sôi phát ra âm thanh cao vút, Loan Châu vừa pha trà vừa nói:
– Ngừng lại đi Diên, mình uống trà.
Tôi cho con tàu chạy ngược chiều gió để thả trôi tự do. Ngồi bên Loan Châu ăn mứt gừng, uống trà. Nhìn Loan Châu trầm ngâm nâng tách trà một cách trang trọng, tha thiết, tôi nhớ Kate, nàng đang nghĩ gì, bất giác tay tôi mân mê những hạt điều trong dĩa bàn trước mặt. Loan nói.
– Hay là Diên uống rượu ?
Loan Châu dẫn tôi đến quầy rượu, nhiều loại, thứ nào tôi cũng thích, Loan Châu lấy chai Hennessy Xo đưa lên hỏi tôi.
– Chai này được không Diên ?
– Nó thuộc loại đế vương. Ở Việt Nam mỗi khi có Cognac Xo, tụi tôi gọi là buổi tiệc đế vương.
Lâu ngày không uống rượu, đến ly thứ ba tôi cảm thấy nóng, bắt đầu choáng váng. Loan thì nét mặt đăm chiêu, không nói, chỉ thỉnh thoảng nâng ly cụng với tôi, cứ thế tôi uống đến ly thứ năm , Loan Châu mới lên tiếng.
– Diên mệt rồi, vô nằm ngủ đi, để Loan lái tàu về.
Tỉnh dậy, Loan Châu đang đút cho tôi những muỗng nước chanh, nghe tiếng sóng vổ mạn tàu, tôi nhớ lại chuyến đi, đồng hồ chỉ 5 giờ nhưng tôi không biết buổi sáng hay buổi chiều. Nhìn Loan tôi cảm thấy mắc cỡ, nói gượng gạo.
– Xin lỗi Loan, tôi say làm phiền Loan nhiều quá.
Nói xong, tôi gượng ngồi dậy nhưng Loan đưa tay cản lại.
– Diên cứ nằm nghỉ cho khoẻ, đừng ngại, bây giờ đã hơn 5 giờ chiều, đường có tuyết, Diên chưa lái xe về được.
Loan Châu nắm kéo vạt áo của tôi xuống cho kín bụng, lấy mền đắp phủ lên, cứ mỗi thao tác là y như vô tình, cùi chõ của nàng đánh thức tôi tỉnh hẵn, tôi phải xoay người nằm nghiêng về bên phải, co giò lại để dấu cái tật đàn ông, đã vậy, Loan Châu khi đưa ly nước chanh, cúi xuống thấp, tôi vươn người ra khỏi giường để uống, mắt tôi cách ngực nàng chỉ hơn một tấc, tay nàng vẫn vịn hờ cái ly, tôi nghe hơi thở dồn dập. Có tiếng điện thoại reo từ phòng lái, Loan Châu chạy vào nghe, tôi dọt lẹ vào phòng rửa mặt, gội luôn cả đầu tóc, nước lạnh ngắt, tôi tỉnh hẳn, đến chào Loan Châu ra về, chỉ cần chậm thêm một phút, tôi đã ngã qụi trước những tình cờ đưa đẩy. Đời sống tuy nối tiếp bởi nhiều tình cờ, nhưng tôi nhất quyết, không để cho tình cờ đưa đẩy đời sống.
Tôi lái xe đi trong đêm, ánh đèn chiếu vào tuyết trắng làm cho con đường sáng hẳn lên. Mùa Xuân đang về trên quê hương Việt Nam, nhưng ở đây mùa Đông lạnh, như chính lòng tôi đang lạnh.

Zulu

NHỮNG VÒNG TRÒN XIẾC (TT)

khuatdau

Người đầu tiên mà tôi cần đi tìm ngay là người mẹ của anh bạn đồng đội. Có làng, có xã rõ ràng nên tôi tìm không khó. Chỉ mất một vài giờ đi xe lửa là tới. Có lẽ không có nơi nào nghèo và buồn như ở đây. Đất không mưa bạc phếch, chỉ có cỏ dại và cây bàn chải, những con bò ốm lòi xương và những con cừu, thật là một giống cừu kỳ lạ, chúng ăn bàn chải thay cỏ.
Người đàn bà tôi gặp, nói trộm sau lưng bà, cũng ốm như những con bò và cũng buồn như những con cừu. Anh ta là con trai độc nhứt của bà, sinh ra và lớn lên ở đây, nên bộ hài cốt mà tôi mang theo cũng nhẹ tênh.
Khi thấy tôi mặc đồ bộ đội bà mừng hụt, tưởng con bà đã về. Bà hỏi:
“chú biết thằng con tôi chớ?”
“Dạ biết”
“Thế sao em nó chưa về?”.
Thật khổ tâm cho tôi khi sắp phải trao cho bà bộ hài cốt. Tôi ngần ngừ một lúc rồi đánh trống lảng.
“Nhà mình nuôi cả bò và cừu hả bác?”
“Không phải đâu, chăn cho người ta đấy”
“Bác trai đâu hả bác?”
“Ổng đạp phải mìn, cụt cả hai chân nằm trong kia!”
Đến nước này, tôi chỉ muốn chào bà, đem nắm xương của anh chôn ở đâu đó, chứ không thể trao cho bà thêm một nỗi đau nào nữa. Nhưng rồi tôi lại nghĩ, bà sẽ còn đau khổ hơn nếu cứ phải sống trong chờ đợi mỏi mòn.
Tôi nói:
“Thưa bác, biết là bác rất đau lòng, nhưng đây là một phần xương cốt của anh ấy cháu cố mang về từ Campuchia. Cháu xin trao lại cho bác!”
“Chú nói gì? Áo quần của nó hả? Mang về làm gì?”
“Dạ, không chỉ có áo quần, còn có…”
“À, biết rồi, còn có chén bát và bình toong nữa chứ gì?”
“Dạ, khó nói quá, là… của anh ấy nữa!”
“Cảm ơn chú đã đem về. Đồ đạc nó đây, còn nó đang ở đâu? chắc là nó bỏ xác bên đó rồi phải không?”
“Dạ, ảnh đây”, tôi đành phải mở ra.
Khi thấy cái hộp sọ và những chiếc xương đã vàng xỉn, bà ngơ ngác:
“Là con tui đây à? Sao mà tội nghiệp vậy hở con!”.
Bà ôm tất cả vào lòng, khóc không thành tiếng.
Ngày hôm sau chúng tôi làm lễ an táng cho anh, chính quyền có đem đến một lá cờ. Nhưng bà không chịu, cởi ngay chiếc áo đang mặc phủ lên chiếc quách. Không có kèn vĩnh biệt, chỉ có tiếng còi của một con tàu đang chạy ngang qua, vang lên thê thiết. Khi mọi người về hết, bà ôm lấy tôi, khóc.
“Giờ ta coi cháu như con. Lâu lâu nhớ ghé về thăm mẹ nghe!”
Tôi “dạ!”
Nhưng rồi tôi không giữ được lời hứa.

Bạn biết rồi đấy, tìm một người không rõ mặt mũi, không nhớ họ tên, không biết quê quán thì biết tìm đâu cho ra. Trầm còn dễ tìm vì nhờ có ngải, Mục Kiền Liên nhờ có Đức Phật, còn tôi chỉ có mỗi cái chữ hiếu cùng với nỗi ân hận đã dại dột đi theo cái gánh xiếc bậy bạ thuở nào. Nhưng tôi tin rồi sẽ có ngày gặp mẹ, tôi tin không chỉ có mỗi tôi đi tìm mà còn có bà, cũng đang trôi dạt đâu đó để tìm con. Khi hai người đau đáu đi tìm nhau thì thế nào cũng sẽ gặp được nhau, không sớm thì muộn.
Có thể một buổi sáng, một buổi trưa hay một buổi chiều, ở một nơi nào đó, có một người đàn bà cứ đi theo riết tôi, rồi đến gần xin cởi áo cho xem cái này chút, những cái nốt ruồi nhiều như đậu đen ở trên ngực của tôi ấy mà, rồi ôm choàng lấy tôi mà khóc sau khi đã đếm đủ 19 cái.
Còn nhiều thứ khác nữa mà một người mẹ có thể nhận ra đứa con của mình. Từ một cái xoáy trâu ở trước trán, từ con mắt hơi bị lé, từ cái chân vòng kiềng… và cũng từ một tiếng gọi thầm nào đó chỉ có người mẹ mới nghe ra được. Như thế, nhiều khi còn hiệu nghiệm hơn cả ngải, linh ứng hơn cả Phật, nên mẹ tìm con dễ dàng hơn con tìm mẹ.
Tìm mẹ, nhưng không thể nhịn đói mà đi tìm, tôi phải kiếm việc làm để sống. Là một cựu chiến binh, may mắn không bị thương tật, nên tôi tìm việc không khó. Cạo mủ thì thôi không cạo nữa, cái chết tàn khốc của Mộc Hương khiến tôi không thể nào làm cái việc mà mỗi nhát dao như cứa vào lòng tôi. Việc mà người ta cần và thích hợp với một anh lính vừa giải ngũ là bảo vệ. Tôi đóng bộ coi cũng ra dáng lắm và được cho đứng gác trước một ngân hàng.
Có đứng đây tôi mới biết trên đời không chỉ có những người nghèo như mẹ của bạn tôi, mà còn có rất nhiều kẻ giàu, quá nhiều kẻ chở cả bao tiền đến gửi hay rút ra từng bó bạc lớn cần phải có nhiều người hộ tống. Họ là những chủ cửa hàng, những công ty này, những nhà xuất khẩu nọ, những kẻ mới phất lên sau thời kỳ đổi mới, có nghĩa những tư sản cũ bị đánh gục thì lại có những lớp tư sản mới mọc lên. Thời nào cũng có người giàu của thời đó. Trước kia giàu vì chiến tranh, vì buôn đồ Mỹ, giờ giàu vì nhờ chức nhờ quyền, nhờ chạy mánh, nhờ trúng đất, trúng thầu.
Tôi thực ra không bảo vệ được ai, chẳng qua đứng đó để tăng thêm cái vẻ bề thế, uy lực của tòa nhà có treo biển ngân hàng vậy thôi. Dĩ nhiên không cách gì tìm được mẹ trong số những con người ấy. Mà cũng chẳng có ai trong số họ để mắt tới tôi, ngờ rằng có thể là con của họ đang đứng kia. Dòng đời cứ trôi đi, đây là khúc quanh mà của cải cứ tới lui lượn lờ như những bọt nước.
Rồi tôi cũng phải làm lại cuộc đời. Tôi yêu hay tưởng rằng yêu một người con gái khác. Nàng kém tôi hai tuổi, không đẹp nhưng khá xinh, lại là nhân viên của ngân hàng. Xét về thứ bậc trong xã hội, nàng hơn tôi nhiều bậc, nên có nhiều tiếng xì xào chê không xứng đôi. Nhưng nàng nửa đùa nửa thật, bảo: “sau chiến tranh mà kiếm được một người chồng nguyên lành là khó lắm!”.
Thế ra cái giá của tôi là còn có đủ tay chân trong khi đầy ra đấy những kẻ què cụt, hậu quả của hai cuộc chiến tranh cứu nước và giữ nước. Bề ngoài thì tôi không thương tật gì, nhưng bên trong tức là cái tâm hồn tôi đấy, lại có một vết thương không bao giờ lành. Nàng không biết đã đành mà chính tôi cũng không ngờ.
Đêm động phòng tôi chỉ ngồi hút thuốc và uống rượu khan. Vợ tôi trong bộ đồ ngủ thơm tho ngọt ngào là thế, nhưng khi gần nhau, tôi lạnh mình thấy nàng chỉ là một cái xác không đầu!
Xác của Sơn Mộc Hương!
Đêm sau, rồi đêm sau nữa, cố gắng lắm tôi cũng chỉ dám ve vuốt, hôn hít nàng chút đỉnh rồi thôi. Nàng thở dài: “có phải anh bị thương ở…?”. Tôi đành ậm ừ: “có lẽ!”.
Chúng tôi chia tay nhau sau nửa năm. Ngần ấy cũng đủ cho vị đắng thấm sâu vào cuộc đời của cả hai. Nàng mang tiếng là đã qua một đời chồng mà hãy còn trinh, còn tôi nặng trĩu một nỗi đau thầm kín. Tôi không còn dám gần ai, yêu ai được nữa. Tôi sống phất phơ cho qua ngày, làm đủ nghề mà chẳng ra nghề gì. Đã có lúc quá buồn, tôi muốn đi tu.

Tôi mon men đến chùa, muốn được gần các nhà sư để học cách thoát khỏi khổ đau. Nhưng dường như các vị tìm đến chuông mõ không phải để giải thoát mà để ràng buộc thêm. Chùa, chỉ mong chùa to và đẹp. Bổn đạo chỉ cần đông và giàu. Các vị cũng ngấm ngầm tranh nhau chức nọ chức kia không khác gì các quan ở ngoài đời. Đêm cứ ngủ kỹ, có băng cát xét thay các vị tụng kinh gõ mõ. Trong mơ các vị không thấy Niết Bàn mà chỉ thấy hòm công đức mở ra đầy ắp tiền.
Nhưng mẹ tôi, một người tuyệt vọng vì không tìm thấy con, có thể tìm đến Đức Phật để được an ủi. Nghĩ thế nên tôi tìm đến các tịnh xá của ni sư. Biết đâu trong số các bà vãi mặc áo già lam kia có mẹ của tôi. Chùa của sư nữ thanh tịnh và nghèo hơn chùa của các sư ông. Có vẻ họ đã tìm được, hay gần như tìm được sự giải thoát cho riêng mình, nên họ vui vẻ bận rộn với những bữa ăn từ thiện cho những người nghèo đói không nơi nương tựa.
Có một người đàn bà tôi tưởng không bao giờ gặp nữa mà lại gặp. Đó là người mà trong gần 10 năm tôi phải gọi bằng “má”, người tưởng tượng cái bụng bầu của mình là một cái bình đựng đứa bé đã biết đi biết chạy. Thực tình mà nói thì bà không hề ác với tôi. Bà có la mắng đấy, đôi lúc đánh đập nữa đấy, nhưng bà không như ông chồng tàn bạo của bà. Tuy nhiên, cái cảnh bà nhào vô xé hết áo quần của chị Mị Lan, vẫn khiến cho tôi kinh hãi mỗi khi nhớ tới.
“Ê, Nhi! ai cho mày vào đây?”
“Dạ thưa, con vào thăm má!
“Bậy! má con gì nữa! Tìm mẹ phải không?”
“Dạ!”
“Không có đâu. Chỉ có những người tội lỗi như tao chứ mẹ mày tội gì mà vào đây!”
“Dạ, thử tìm đại, may ra!”
“Lớn dữ a! vợ con gì chưa?”
“Dạ chưa”
“Có gặp bả, cho tao xin lỗi, ngay cả mày nữa. Thôi đi đi!”
“Dạ, bà ở lại mạnh giỏi”
Thế đấy, cuộc đời mà tôi biết lại có những chuyện ngược đời như vậy. Tôi tin là đã bay đi những cơn ghen cuồng nộ trong lòng bà.
Tôi cũng có xuống Cà Mâu, ra tận chỗ giống như cái lưỡi cày trên bản đồ của tổ quốc. Chỉ thấy ba mặt là biển lao xao sóng vỗ.
Đây là nơi cuối cùng của đất, còn ngoài kia, là nơi cuối trời! Như thế, dẫu có đi ra biển và đi hết biển cũng không tìm được mẹ, thì thôi quay về tìm lại nơi bà đã sinh ra tôi.
Nhớ có lần chị Mị Lan bảo “tao nhớ cái chỗ mày ở có nhiều tháp lắm, lại có cốm nữa, mày đã cho tao một miếng cốm rất ngon”. Thế là tôi đi ra miền trung, nơi có những ngọn tháp không biết chờ ai mà cứ đứng mãi trong nắng mưa đến cả ngàn năm.(còn tiếp)

Khuất Đẩu

TẾT TẢN CƯ

lephuhai

Tuổi thơ tôi gắn liền với một xóm nhỏ ở thị xã Nha Trang ngày đó: xóm Máy nước. Có cái tên gọi này có lẽ vì giữa xóm có một hồ nước rộng, vừa dùng để cung cấp nước sinh hoạt cho dân vừa để cho xe cứu hỏa chạy vào bơm nước mỗi khi có hỏa hoạn xảy ra đâu đó. Cạnh xóm Máy nước là xóm Dừa và xóm Vườn ươn. Xóm Dừa có rất nhiều dừa, không biết trồng lúc nào nhưng hồi đó thân cây đã vươn lên cao ngút. Xóm Vườn ươn có nhiều ngôi mả cũ, ở đây toàn là cát, và là nơi người ta làm vườn, ươn các loại giống cây trồng, vậy nên gọi là xóm Vườn ươn?
Từ nhà tôi đi ra đầu đường là đến con đường nhựa, rẽ phải đi ngang qua đài phát thanh chút xíu là băng qua đường sắt đến ngay Mả Vòng. Từ đây có thể đi ngược lên Thành hoặc theo các con đường đi vào trung tâm thị xã. Hồi còn nhỏ tôi chả dám đi đâu ngoài việc lòng vòng quanh ba cái xóm nói trên và giới hạn là ngã ba Mả Vòng, thỉnh thoảng theo tụi bạn đi lang thang dọc đường rầy xe lửa, nghịch ngợm chán thì ngồi ngay trên đường rầy “ỉa giấc” rồi về.
Nhưng tôi nhớ nhất là quán tạp hóa bà Mẹng ở đầu đường, bởi vì ở đây có rất nhiều thứ mà tôi thèm muốn. Quán bà Mẹng bán đủ thứ đồ, từ bia con cọp cho đến kim chỉ mắm muối. Dĩ nhiên không thể thiếu được mấy hủ bánh kẹo to thù lù nằm ngay cửa ra vào. Mỗi lần má tôi sai đi mua thứ gì là tôi mừng húm, xăng xái te te đi ngay sau khi không quên kèo nài “Chút nữa tiền thối lại cho con năm cắc mua kẹo nhen má?”. Cũng có khi đồ mua chỉ vừa đủ tiền trên tay, tôi hơi buồn chút xíu nhưng cũng vẫn đi, thôi thì nhìn cho đở ghiền vậy!
Hồi đó tôi đã học qua mẫu giáo và lớp năm rồi nên không còn “mù chữ” nữa, đã biết đọc chữ và con số trên mấy đồng tiền. Tôi thích nhất là đồng năm cắc bằng nhôm, một mặt có in hình ông tổng thống và mặt kia có hình cây trúc. Bỏ vài đồng năm cắc trong túi quần bước đi nghe rủng rẻng thật vui tai. Tuy nhiên, có hai loại đồng năm cắc, một loại in “50 su” một loại in “50 xu”. Tôi nghĩ thầm trong bụng ông nào in tiền mà cũng sai chính tả vậy ta, “xu” mới là đúng chứ! Tụi bạn tôi thì thích đồng “50 su” hơn. Tụi nó nói đồng này nặng hơn nên chơi “bắn bạc cắc” dễ ăn hơn đồng “50 xu”. Tôi chơi trò gì cũng dở ẹc nên nghe nói thì hay vậy chứ trong lòng vẫn thích “50 xu”, vì không bị sai chính tả…

Năm tôi lên lớp nhất được vài tháng thì đến tết Mậu Thân. Lúc này tôi đang bước qua tuổi mười một. Tôi có thằng bạn học tên Dũng, ba nó làm việc tại đài phát thanh và gia đình nó ở luôn tại đó. Tụi tôi quen gọi nó là thằng Dũng đài phát thanh để phân biệt với thằng Dũng ròm. Mỗi sáng đi học, thằng Dũng đạp xe ngang nhà tôi bấm chuông reng reng, tôi từ trong nhà đạp xe ra, hai đứa băng qua chợ Chồm Hổm, đi tắt qua đề pô xe lửa đến đường Phước Hải, theo đường Huỳnh Thúc Kháng đến ven chợ Xóm Mới rồi rẻ vào đường Bạch Đằng. Trường Giuse nghĩa thục nằm ngay đó. Đây là nơi tôi đã học qua hết thời tiểu học. Cũng có khi chúng tôi đi bộ, hai đứa vừa đi vừa nhai kẹo. Có một lần thằng Dũng cho tôi một viên kẹo rất to, màu đỏ. Nó nói: “Mày ăn đi, ngon lắm”. Tôi vừa đi vừa xé bao giấy bạc bên ngoài, và cũng như bất cứ loại kẹo nào, tôi lủm ngay vào miệng. Tự nhiên những bọt nước đâu đó túa ra, tôi hoảng hốt rồi lúng túng nuốt ngay viên kẹo vào bụng. Từ trong bụng tôi có tiếng sôi ùng ục. Tôi sợ quá nói: “Tao nuốt cục kẹo rồi mày ơi, bây giờ nó đang sôi trong bụng tao nè”. Thằng Dũng nói: “Không sao đâu, đây là kẹo sủi bọt, thường thì người ta bỏ nó vô ly nước chờ tan ra rồi uống, tao thì thích ngậm, miệng hơi cay một chút nhưng ngon lắm”. Tôi vừa đi vừa lo lắng. Lát sau không còn nghe tiếng sôi trong bụng nữa. Tôi mừng, nghĩ là mình xém chết!

xxx
Quay lại tết Mậu Thân. Đêm ba mươi trời tối thui. Chúng tôi lay hoay mấy bộ quần áo mới từ lúc chiều, cứ vào ra băn khoăn thao thức chờ đợi giao thừa. Mười giờ tối, ba và hai anh em tôi đi lễ nhà thờ, má tôi và mấy đứa nhỏ ở nhà chuẩn bị cho bữa ăn khuya. Bình thường tôi vẫn hay đi lễ nhà thờ Núi theo đường tắt qua đề pô xe lửa leo lên các bậc cấp phía sau. Hôm nay là giao thừa, là năm mới nên mấy cha con đi theo đường chính, ra Mả Vòng rồi đi dọc theo đường Gia Long, ngang qua nhà ga xe lửa, thả bộ bên dưới hàng me già đến chính diện bậc cấp dẫn lên phía cửa trước nhà thờ. Và cũng bởi vì hôm nay là “tết” nên tôi chả thấy buồn ngủ chút nào, cứ ngong ngóng cho mau đến giao thừa để đốt pháo…
Thánh lễ rồi cũng xong, chúng tôi tản bộ ra về, đó đây đã nghe có tiếng pháo đùng đùng rẹt rẹt, lòng tôi lại nao nức và chân cứ muốn bước cho mau hơn để về nhà. Gần đến Mã Vòng, ngang qua cây xăng Shell chúng tôi nhìn thấy hàng đoàn thanh niên đang chạy xe Honda 67 rú ga ầm ĩ, sau mỗi xe có cột sợi dây kéo theo mấy cái thùng thiếc đựng dầu hiệu con sò cạ trên mặt đường kêu xổn xoảng. Ba tôi nhăn mặt nói:
– Cái tụi thanh niên này, quậy phá kiểu khùng điên không chịu được.
Rồi ông nhắc anh em tôi:
– Coi nép sát vô lề đi con, rủi tụi nó tung thì có nước chết!.
Chúng tôi nhảy lên lề đường, khéo nép đi qua Mả Vòng về hướng nhà. Mấy chiếc Honda xổn xoảng đi về phía xa xa…
Vừa về đến nhà, không đợi ai sai bảo, anh tôi nhanh nhảu lấy ngay phong pháo to ra sân treo lên cột. “Bây giờ con đốt nhen”, vừa nói anh tôi vừa mở hộp quẹt diêm. “Ờ, đốt đi”, ba tôi còn chưa nói xong đã nghe một tràng pháo nổ thật to và giòn giả. Tôi vừa che mặt vừa lúi cúi lượm lại mấy viên pháo xì văng ra ngoài, có cả pháo chưa nổ. Bọn trẻ trong xóm xúm xít lại đứng coi, đứa nào mặt cũng hớn hở, tươi rói.
Đã qua giờ giao thừa, tiếng nổ chung quanh vẫn đì đùng không dứt và có vẻ càng lúc càng mạnh thêm. Ba tôi bước ra sân nhìn lên bầu trời đen đầy dẫy những tia đạn lửa màu đỏ xé ngang xé dọc. Ông nói: “Chà, năm nay sao mà mấy ông lính bắn đạn dữ vậy ta?” rồi hối hả kêu tụi tôi vô nhà vì sợ đạn lạc. Tiếng pháo và tiếng súng nổ cứ râm ran mãi cho đến bốn giờ sáng vẫn chưa thấy ngớt. Cả nhà tôi không ai ngủ được. Thỉnh thoảng nghe có tiếng súng lớn. Ba má tôi tỏ ra lo lắng vì linh cảm có điều gì đó không bình thường. Vừa tờ mờ sáng chúng tôi nhìn ra đã thấy từng đoàn người lũ lượt đi ngang qua xóm. Có người la lên:
– VC tấn công đài phát thanh rồi bà con ơi!.
Ba tôi hoảng hốt đi ra đi vào. Ông nói với má tôi:
– Đúng rồi, hèn gì hồi khuya mấy cha con đi lễ về thấy tụi thanh niên kéo mấy cái thùng thiếc. Cứ tưởng tụi nào nghịch phá chớ đâu dè là “mấy ổng” kéo đạn vô để chuẩn bị đánh đài phát thanh.
Má tôi thở dài nhìn chung quanh rồi hỏi to:
– Thằng Khiêm đâu rồi?.
Bà quay qua phía tôi hỏi:
– Có thấy anh con đâu không?
– Con không biết, chắc ảnh chạy đi coi người ta đánh nhau chỗ đài phát thanh rồi
– Trời ơi! – má tôi than thở.
Ngoài đường vẫn lác đác đoàn người khăn gói đi qua. Ba tôi mặc bộ đồ civil dắt chiếc xe Gobel ra sân. Ông nói với má tôi:
– Tôi phải tìm cách chạy về đơn vị rồi tính.
Ông lại dắt chiếc xe vào trong nhà: – — Tình hình này chạy xe gắn máy chắc không an toàn, để tôi đi bộ ra phố rồi theo xe nhà binh về trường cho chắc ăn.
Trường mà ba tôi nói ở đây là Trường hạ sĩ quan Đồng Đế, nơi ông làm việc từ những ngày đầu thành lập. Má tôi nói:
– Ờ, ông tìm cách đi trước đi. Mấy mẹ con tôi chờ chút nữa rồi liệu cũng chạy theo người ta.
Có tiếng kêu ngoài đường:
– Ới anh hai chị hai ơi!
Má tôi nhìn ra đường:
– À, chú hai Sáng nè.
Tôi bon bon chạy ra. Chú hai Sáng đang đẩy chiếc xích lô, phía trên là con Sáng, thằng Hoa và thằng Sen cùng đống mùng mền chiếu gối lổn ngổn. Thím hai đi bộ theo sau. Chú nói với ba má tôi:
– Tui đi tản cư đây. Có muốn đi thì chuẩn bị đồ đạc sẵn nhen. Chút nữa tui quay lại chở đồ dùm cho.
Má tôi mừng rỡ:
– Ồ đi, đi chớ! Chút nữa chú nhớ quay lại đón dùm tụi nhỏ nhà tui với nhen!. Ba tôi nói nhỏ với má:
– Để tôi đi theo ông Sáng, luôn thể biết chỗ tản cư ở đâu, chừng yên ổn tôi về tìm. Má tôi hối:
– Ờ, ông đi lẹ đi!.
Chiếc xích lô của chú hai Sáng và ba tôi tiếp tục đi theo dòng người về hướng chợ Chồm Hổm.
Khoảng ba mươi phút sau anh tôi từ trên dốc quán bà Mẹng hướng đài phát thanh chạy về, mặt mày tái mét. Má tôi mắng:
– Người ta đánh nhau mà chạy đi coi chi vậy? Lở đạn bắn trúng làm sao?
– Đâu có sao, người ta đi coi đông lắm. Tụi con chỉ đứng xa dòm thôi.
– Rồi có thấy gì không?
– Có chớ, lính trong đài phát thanh bắn ra, mấy “ông VC” ngoài bờ ruộng bắn vô, hai bên bắn nhau chéo chéo.
– Xạo mày, đạn bắn thì có thấy gì đâu mà chéo chéo.
– Có mà, mới nảy đạn bay trúng một người đi coi ngã xuống cái đụi, tụi con sợ quá lật đật chạy về nè.
Tôi nhìn anh tôi với vẻ khâm phục:
– Anh có thấy thằng Dũng đài phát thanh không?
– Không, chỗ đó bắn nhau quá trời, thằng bạn mày chắc tiêu đời rồi.
Tôi cảm thấy hơi lo, không biết thằng Dũng và ba má nó có chạy trốn chỗ nào đó được không. Lát sau tôi lại nghĩ đến quán bà Mẹng. Tôi hỏi:
– Anh thấy quán bà Mẹng có bị sao không?
Anh tôi lắc đầu:
– Không sao, quán bả đóng cửa kín mít.
Tự nhiên trong đầu tôi hiện ra hình ảnh quán bà Mẹng với mấy hủ bánh kẹo bị đạn bắn bể tan tành, những cục kẹo xanh đỏ văng ra tứ tung ngoài đường và tôi đang đứng đó tự hỏi: “Chà, không biết mình lượm mấy cái bánh cục kẹo này thì có mang tội không ta?”
Chừng tiếng đồng hồ sau chú hai Sáng đạp xe xích lô trở về. Đẩy xe vào trong sân chú nói gấp gáp: “Lẹ, lẹ đi, chất đồ đạc và mấy đứa nhỏ lên xe, chị hai và hai thằng lớn đi theo sau tui, nhớ đừng để trụt lại phía sau nhen”. Chú hai leo lên yên xe. Anh tôi nhanh nhẹn vọt lên phía trước đầu xe dẫn đường. Má tôi một tay vịn chiếc yên xe, một tay nắm tay tôi, vừa đi bà vừa hỏi:
– Mình tản cư đâu vậy chú hai?
– Trường Âu Cơ.
– Có đông người ở đó không?
– Đông lắm, trong phòng hết chỗ rồi, nhưng tui có dành được cái hành lang, mình ở đó cũng rộng rãi lắm.
Chiếc xích lô chậm rãi đi qua chợ Chồm Hổm vào đề pô xe lửa đi ra đường Phước Hải. Trường Âu Cơ nằm ở cuối con đường này, nếu tính ra cũng không xa xóm tôi ở nhiều lắm. Nhưng dù sao cũng là tránh xa chỗ đang xảy ra đánh nhau.
Trường tiểu học Âu Cơ đầy những người là người. Ai đến sớm thì ở trong phòng học, ghép bàn ghế lại với nhau làm chỗ nằm, đến sau như gia đình chú hai Sáng và nhà tôi thì ở ngoài hành lang, trải chiếu xuống sàn xi măng nằm ngủ, người đến sau nữa hết chỗ phải “cắm trại” ngoài sân trường, lều bạt giăng lên xanh đỏ tím vàng nhìn cũng vui mắt, giống y chang những lần nhà trường tổ chức cắm trại cuối năm. Rải rác đó đây là các bếp lò: bếp củi, bếp than, bếp dầu… những cụm khói trắng khói lam bay lên trong mùi thơm bánh tét dưa hành. Đối với bọn trẻ con như tôi thì tuy có chút sợ hãi nhưng cũng thấy háo hức niềm vui như được dự một cuộc… picnic đại qui mô. Má tôi và thím hai Sáng loay hoay nhóm lửa, bà luôn miệng dặn tôi: “Con nhớ coi chừng em nhen, coi dùm luôn mấy đứa nhà chú hai nữa đó. Không được đi đâu xa kẻo bị lạc không biết đường mà về chỗ của mình. Còn thằng Khiêm nữa, lại chạy đi đâu rồi?
Anh tôi biến đi đâu đó một chút rồi lại quay về. Nghe má tôi la anh nói:
– Má đừng lo cho con, cả cái Nha Trang này có chỗ nào mà con không biết đâu, làm sao đi lạc được.
– Ai nói chuyện đi lạc, là nói chuyện bom đạn đầy đường đó chớ.
Anh tôi cười hì hì:
– Ngoài đường lính và cảnh sát đứng gác tùm lum, không sao đâu má ơi…
Chúng tôi được cho ăn uống rồi tha thẩn đi chơi lòng vòng trong khuôn viên trường học suốt cả ngày cho đến tối. Lúc này lính và cảnh sát xuất hiện khá đông bên ngoài phố. Họ chặn xét giấy tờ của bất cứ người nào đi ngang qua đường. Buổi tối chúng tôi chen chúc nằm sắp lớp bên cạnh nhau như cá hộp. Nhìn chỗ nào cũng thấy bóng người lớn túm tụm bên nhau trò chuyện, họ hỏi han về tình hình và diễn biến của cuộc tấn công, tôi chỉ nghe loáng thoáng đâu như VC chết rất nhiều, quân đội đang chống trả mạnh lắm. Sáng mồng ba tôi thức dậy sớm nghe anh tôi đang nói với má:
– Chút nữa con theo mấy đứa chạy về nhà mình lấy thêm đồ ăn và gạo nhen má?
Má tôi gằn giọng nói:
– Má cấm con nghe chưa! Không đi theo đứa nào hết. Đồ ăn nhà mình vẫn còn đây.
– Trời, có sao đâu má, chiều hôm qua mấy thằng bạn con về nhà tỉnh queo hà. Quân mình “ăn” lại rồi.
– Không được, má nói cấm là cấm.
Gần trưa, có mấy chiếc xe nhà binh chạy vô sân trường phân phát lương thực. Dĩ nhiên lúc này trong khuôn viên trường học cũng đã có “ban quản lý lâm thời” để điều hành công việc. Ba tôi từ đâu đó xuất hiện với bao gạo nhỏ trên tay: “Chà, tìm nảy giờ mới gặp nè. Cả nhà yên ổn chớ?”. “Cũng yên” Má tôi trả lời. Nhìn bộ đồ lính chật bó ba tôi đang mặc má tôi cười nói: “Chớ mặc đồ của ai mà chật ém vậy?”. Ba tôi cũng cười: “Thì đó, đồ đạc bỏ ở nhà hết trơn. Qua đó phải mượn đồ của mấy đứa khóa sinh mặc tạm nè”. Mấy đứa em tôi xúm lại níu lấy ba tôi. Tụi nó rờ rẩm trên bộ đồ lính không có bảng tên hay lon lá gì, chỉ có mỗi cái phù hiệu bên vai in hình thanh gươm và mấy tia mặt trời mọc đỏ chói…

xxx
Nấn ná “tản cư” thêm hai ba ngày nữa rồi lần lượt mọi người quay trở lại nhà. Tôi trở về với xóm Máy nước. Mọi thứ vẫn như cũ, nhìn bên ngoài như chưa hề có chuyện gì xảy ra. Nhà tôi bị một trái đạn nổ ngay phía trên toa lét, khoét một lổ tròn to như cái rổ trên trần bê tông, vụn xi măng rụng lả tả bên dưới. Nhà con Bẹp sát cạnh nhà tôi bị trái đạn ngay phòng khách, cả cái bàn thờ ông bà bị bể tan tành. May nhà nó cũng đi tản cư kịp lúc nên không ai bị gì. Nhân lúc không ai để ý tôi vọt lẹ ra đường chạy đến đài phát thanh. Ngang quán bà Mẹng nhìn vào thấy cửa còn đóng im ỉm. Trước cửa đài phát thanh giờ có thêm mấy hàng rào kẻm gai, bên trong có đông lính gác đi qua đi lại. Tôi lượn qua lượn lại mấy vòng thì thấy thằng Dũng từ bên trong khu nhà ở ló đầu nhìn ra. Xa quá, nói cũng chẳng nghe được. Tôi giơ tay vẫy vẫy. Thằng Dũng cũng giơ tay vẫy vẫy. Tôi vọt lẹ về nhà…

Sau tết Mậu Thân hai tháng nhà tôi dọn đi, trả căn nhà thuê ở xóm Máy nước lại cho chủ. Tôi đi cũng khá gấp gáp, không kịp chào hai đứa bạn hàng xóm đồng trang lứa là con Bẹp và thằng Tuyến “bù pha”. Thằng Dũng thì tôi vẫn còn gặp ở trường học. Ba tôi mua hẳn một căn nhà tôn ở lưng chừng núi Sạn đối diện đường ra Hòn Chồng. Từ đường lộ phải đi lên con dốc thoai thoải, băng qua một nghĩa trang mới tới khu nhà ở. Có một vài ngôi nhà đầy mồ mả chung quanh. Ba tôi nói: “Kệ, về ở đây gần đơn vị cho chắc ăn, lỡ có chuyện gì chạy vô “đồn” cũng lẹ”. Khổ cái căn nhà này vừa mái tôn vừa vách cũng bằng tôn nên khá nóng. Má tôi phải mua giấy các tông về đóng phía bên trong cho giảm nhiệt. Những tấm bìa này hình như nguyên trước đây là thùng giấy đựng đồ hộp của Mỹ, trên có in chữ C màu đen to tướng. Mấy má con tôi cứ quen gọi là “thùng C”…
Vậy mà gia đình tôi cũng đã gắn bó với nơi đây suốt bảy năm trời, cho đến khi chính thể Cộng hòa của miền Nam không còn nữa.

Lê Phú Hải

Dấu thiên thu

nguyenminhphuc

Vài cơn gió hắt hiu trôi lành lạnh
Sáng mai nầy nắng đã ngập bờ vai
Bóng ngày cũng chìm dần vào xa vắng
Còn gì không khi chiều chạm sông dài

Là hư ảo cõi đời ta mộng mị
Phút giây nào đã chìm khuất chiêm bao
Lại gần đây ta với người tri kỷ
Nỗi buồn kia đã bạc tóc hôm nào

Mưa mấy phía trắng trời mờ cát bụi
Cõi tàn phai người nhớ chỗ ta nằm
Thì ra vậy tình chỉ là sương khói
Bóng lăn trầm vọng động suốt trăm năm

Ai ngồi đó giữa chiều hun hút nhớ
Có một ngày xưa lắm… thưở hai mươi
Và lặng nghe dưới chân mình vụn vỡ
Dấu tình buồn đau suốt dấu thiên thu…

Nguyễn Minh Phúc

NGẬM NGÙI NGỌN GIÓ CUỐI NĂM

tranvannghia

Ngậm ngùi ngọn gió cuối năm
Bên kia sông nhớ về thăm quê nhà
Con đường làng, bóng cây đa
Tuổi thơ cút bắt, đồng xa thả diều

Vườn xưa ngọt tiếng chim kêu
Rung rinh chùm mận đỏ chiều cố hương
Có làn khói bếp vấn vương
Bên nồi bánh tét nếp thơm nức lòng

Tết này biết có về không?
Bâng khuâng tôi đứng nhìn bông mai vàng
Xứ người phù phiếm đa mang
Chiêm bao bóng nhớ vô vàn xuân xa

TRẦN VĂN NGHĨA

BẤT TẬN

10735644_826194720769236_378143114_n (1)

Ta du côn cũng vì đời mất dạy
Em bỏ ta vì quá mực hoang đàng
Đời muốn bỏ ,rẽ đôi bờ dị mộng
Ai bỏ ai mà úa cả trăng tan

Mai mốt tới những mơ màng cũng bỏ
Cỏ trên đồi nằm ngắm những trăng sao
Những bất tận sẽ về đâu chẳng rõ
Gã du côn hóa bụi biến phương nào…

Em có đến hỏi thăm mùa đã cũ
Lúc bật diêm nhỡ ngày gió ngang qua
Thì xin mắt trót giữ giùm chút nhớ
Cài thêm hoa một giọt nắng hiên nhà

Ngô Yên Thái

tiểu thơ

phamtinanninh

Rầm!

Tôi và hai thằng bạn vừa rà thắng xe đạp trước rạp Tân Tân để vào xem phim “Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ” thì bị một chiếc Vélo Solex húc từ đằng sau tới. Cả ba thằng ngã xuống đất. Riêng tôi còn bị cái xe của thằng bạn đè lên bụng đau muốn nín thở. Mới loi ngoi bò dậy, chưa kịp phủi bụi trên áo quần thì nghe tiếng quát tháo:

– Ê ! bộ ba “chàng ngự lâm pháo thủ” mù cả hà. Dừng ngựa mà chẳng coi chừng phía đàng sau ! Đáng đời!

Vừa ngượng vừa tức giận bởi tự dưng bị húc té nhào giữa thanh thiên bạch nhật và trước bao nhiêu nguời đẹp, chưa kịp nắm cổ áo cho một trận, thì bị thủ phạm tiếp tục tấn công phủ đầu. Đúng là cà chớn. Nhưng nhìn lên thì.. à..cả ba thằng khựng lại : đối phương là một cô gái, tuồi ô mai, tóc còn thắt bím, ngồi trên Vélo, vòng tay trước ngực, trề môi, rồi trợn đôi mắt to như hai cái đèn “ô tô”:

– Số còn hên đó. Cái vélo không bị hư gì.Tiểu thơ tha cho đó. Lần sau liệu hồn !

Nói xong cô bé nguýt một cái rồi rồ ga chạy mất tiêu.

Dù chưa bao giờ bị thầy Bửu Cân phán cho cái tội “con nhà không có lư hương”, bọn tôi cũng phải chửi thề một tiếng cho hả giận. Thằng Cường, đứa hiền lành ít nói nhất trong bọn tôi, xăn tay áo, xổ nho trước :

– Đ.m. con gái nhà ai trông đẹp thế mà đanh đá như bà chằn. Phải mà con trai thì biết tay tao.

Đúng là cô bé khá xinh, nhất là đôi mắt thật to và đôi môi mộng đỏ, dù có trề lên ngạo nghễ, cũng vẫn đáng yêu ghê lắm. Tôi nghĩ vẩn vơ như thế khi theo người soát vé dẫn tới chỗ ngồi. Trong rạp tối mò. Ba thằng chúng tôi vào trể. Trên màn ảnh đang chiếu phim thời sự: Tổng thồng Ngô Đình Diệm đang kinh lý Ban Mê Thuột (nhưng không thấy cảnh ông bị ám sát hụt).

Suốt buổi hôm ấy, mắt nhìn lên màn ảnh, mà tâm trí tôi thì chỉ thấy có đôi mắt cô bé, trừ khi nào có tiếng súng nổ của ba chàng ngự lâm, tôi mới giật mình trở lại với truyện phim đôi ba phút.

Cha tôi nói đúng, hồi mới ba tuổi, tôi đã khóc đến cả tháng trời khi mẹ tôi mất, ông bảo rồi sau này tôi sẽ là một thằng đa sầu đa cảm. Và hôm nay, dường như tôi bắt đầu biết tương tư đây.

Nha Trang cũng chẳng lớn hơn cái thành phố núi Pleiku là bao nhiêu, để ông nhà thơ nào đó “đi dăm phút trở về chốn cũ”, vậy mà cả mấy tháng rồi, tôi chưa gặp lại cô bé, mặc dù thời ấy Nha Trang đã có khá nhiều vélo solex, đủ làm tôi nhìn theo muốn ngoẹo cổ. Tôi nghĩ, chắc là cô bé từ đâu đến chơi. Trông nước da trắng hồng, có thể là từ Đà Lạt xuống thăm ai đó rồi lại biến mất như một nàng tiên trong cổ tích.

Quê tôi ở ngoài Vạn Giã. Vào Nha Trang học, ở nhà ông chú, trước ở gần rạp ciné Moderne của ông Bác Ái, sau này dọn lên gần Ty Thông Tin. Chú tôi, ngoài làm chủ tiệm bán mọi vật dụng về điện, còn thầu các công trình diện. Ông bà chỉ có một cô con gái rượu, cưng như trứng mỏng, nên mọi thứ ngược xuôi giao dịch ông cần tới tôi. Để tôi lên tinh thần, bỏ bớt cái tật ham chơi và lười biếng có lẽ từ khi còn trong bụng mẹ, ông thường bảo: “cháu còn nhỏ mà coi bộ có khả năng thương mại. Cố gắng theo chú học hỏi, sau này dám qua mặt tao nữa đó “. ( Cái này thì ông nói trật lất. Vì sau này tôi trở thành lính đánh giặc, nên cả đời có buôn bán được cái gì đâu ).

Cả năm cứ mong tới mùa hè là tôi dọt về quê thăm cha tôi và chơi với mấy thằng bạn nối khố, rủ nhau ra con sông quê, ngày bơi lội, tối cắm câu, ngủ ngoài trời mà đua nhau đếm thử có bao nhiêu vì sao, tìm đâu là dải Ngân Hà có cái Cầu Ô Thước của Ngưu Lang Chức Nữ. Coi bộ vui và lãng mạn hơn ở trong cái thành phố Nha Trang này nhiều. Vậy mà mùa hè này tôi bị ông chú tôi giữ lại, sau khi thuyết phục được ông già tôi, bảo là để cho tôi tập làm quen với thương trường(!). Tôi nghe mà phát sợ, cứ như là sắp sửa bị ông đẩy tôi ra giữa chốn sa trường !

Bài học đầu tay là tôi xách cặp theo ông, đi dự một cuộc họp với mấy ông thầu khoán khác, trong một công trình “hợp tác mỗi bên cùng có lợi”. Nơi họp là một ngôi biệt thự khá đẹp nằm trên con đường Duy Tân có gió reo sóng vỗ..

Tôi rụt rè theo sau ông chú, bước vào phòng khách. Nhiều người đã có mặt. Ông nào trông cũng bệ vệ, đặc biệt có một ông mặc quân phục, oai phong cao lớn, mà coi bộ mọi người ai cũng nễ trọng. Nghe nói chuyện một hồi tôi mới biết đó là ông đại tá Đỗ Cao Trí, chỉ huy quân trường Đồng Đế. Lúc ấy tôi còn nhỏ, đâu có biết gì nhiều về lính tráng, nhưng tôi có nghe nhiều người kể chuyện tình ông đại tá này với một bà dược sĩ nào đó có tiệm thuốc tây trên đường Độc Lập. Bà này mới vừa ly thân ông chồng dược sĩ, có ông bồ là đại úy phi công trẻ tuổi đẹp trai thường đèo bà trên chiếc vespa chạy vòng vòng ngoài bờ biển, mặc dù bà có chiếc xe hơi thể thao trọc mui duy nhất ở thành phố này. Tội nghiệp ông phi công, vừa mới bị ông đại tá này nói nhỏ bạn bè làm lớn bên Không Quân cho bay ra tận ngoài vùng 1 xa tít mịt mù.( Sau này ông phi công hào hoa lấy một cô ca sĩ có giọng hát buồn…vào hồn không tên nào đó ). Nghe mấy ông bàn bạc, tôi mới biết buổi họp này là để bàn việc xây cất và chỉnh trang lại toàn bộ doanh trại của quân trường Đồng Đế, mà chú tôi và mấy ông bạn thầu khoán vừa mới trúng thầu.

Tôi ngồi sau lưng ông chú, ghi ghi chép chép cứ như là… phóng viên tập sự. Nửa buổi thì ngưng họp ăn cơm. Một bữa ăn thịnh sọan từ nhà hàng mang tới. Vì thuộc hàng con nít, nên tôi được ưu tiên ra sân sau ngồi chung với mấy anh tài xế và con cháu ông chủ nhà. Vừa bước ra, chưa kịp tìm chỗ ngồi, thì tôi giật mình, sững sờ đến mấy phút. Cô bé, cô tiểu thơ.. vélo solex, tông bọn tôi trước rạp Tân Tân gần ba tháng trước, đang ngồi chễm chệ tự lúc nào trong cái ghế bành duy nhất bên bàn ăn.

Lấy lại bình tĩnh, tôi đến kéo chiếc ghế bên cạnh cô bé :

– Chào tiểu thơ, chàng ngự lâm pháo thủ bị xe tông..ngã ngựa có được phép ngồi đây không ạ ?

Cô bé nhìn tôi tròn xoe đôi mắt. Đôi mắt mà tôi đã tìm kiếm hơn ba tháng nay, cứ tưởng đã biến mất khỏi Nha Trang, bỗng dưng bây giờ đang mở lớn hết cỡ trước mắt tôi. Tôi ngồi yên như bị thôi miên. Dường như vừa mới nhớ ra tôi, cô bé nhoẻn miệng cười :

– À, hữu duyên thiên lý năng tương ngộ.! Vous cứ tự nhiên.

Tôi ngạc nhiên, cô bé coi bộ tây này còn xổ cả tiếng nôm tiếng hán. Tôi nhủ lòng : Không phải vừa đâu nghe.

Vậy mà cái cuộc trùng phùng khá bất ngờ này lại đưa đẩy tôi đến một nấc thang danh vọng : làm gia sư cho cô bé. Nói gia sư cho oai phong, chứ hồi đó chì có mỗi chữ “dạy kèm”thôi chứ sư với siếc gì.

Số là sau này, khi thực hiện công trình, tôi thường theo chú tôi đến đây, cũng có nhiều lúc tôi đến một mình để trao giấy tờ và tham khảo ý kiến của ông chủ thầu, papa của nàng. Dần dà tôi quen thân với cả nhà. Gia đình trước sống ở Đà Lạt, làm chủ mấy cái hotel. Bà vợ bị chết bởi một tai nạn giao thông ngay trên đèo Ngọan Mục, ông già buồn quá không muốn mỗi ngày nhìn thấy bóng dáng bà vợ trong thành phố sương mù, nên dọn xuống Nha Trang, trở lại nghề thầu khoán gia truyền từ mấy đời trước. Ông bà chỉ có mỗi một cô con gái, nhưng trong nhà ông nuôi nhiều cháu và gia nhân. Gặp tôi nhiều lần, và qua chú tôi, ông già cô bé nghe nói tôi cũng gốc nhà quê, hiền lành chăm chỉ, nên nhờ tôi, cứ ba tối mỗi tuần ghé lại nhà kèm cô con gái cưng của ông về môn toán và Việt văn. Cô bé vừa từ trường Domaine de Marie ở Đà Lạt chuyển xuống lớp đệ ngũ trường Nữ trung Học Nha Trang, đọc thơ Chinh Phụ Ngâm và Cung Oán Ngâm Khúc mà không hiểu bà Đoàn thị Điểm và ông Ôn Như Hầu nói cái gì trong đó..

Môn toán thì tôi không biết vẽ rồng vẽ rắn, chứ cái môn Việt văn này coi bộ bao la trời biển quá, vẽ cái gì chẳng được.

Hôm đầu tiên, tiểu thơ vẫn còn cao điệu, gọi tôi là Thầy. Không biết là do lệnh của ông già, vì đề phòng tôi “tán bậy” con gái, nên phong cho tôi cái chức ” bán tự vi sư nhất tự vi sư” để tôi biết phận mà giữ mình, hay là cô bé choc quê tôi không biết.

Thấy “diễn nôm điển tích” mấy câu thơ trong Cung Oán Ngâm Khúc coi bộ không ăn khách, chẳng hấp dẫn nổi cô bé, tôi quay sang đọc thơ cho cô bé nghe. Hồi đó ở Võ Tánh có hai nhà thơ rất sớm nổi tiếng, mà dù là tên thật hay bút hiệu gì nghe cũng đẹp làm sao : Thanh Nhung và Cao Hoành Nhân, Tôn Nữ Nha Trang và Bùi Cao Hoành gì đó. Không biết có đúng hay không, nhưng tôi nghe bạn bè thêu dệt về cuộc tình lãng mạn của hai nhà thơ học trò vang bóng một thời này. Tôi chọn mấy bài thơ ướt át nhất của hai người đọc cho cô bé nghe. Và cũng lạ, không cần diễn nôm diễn nghĩa gì cả, cô bé không những hiểu rất nhanh mà còn cảm nhận đến độ lim dim đôi mắt..nhìn xa xăm.

Có một điều tôi quên nói : cô bé cũng thuộc dòng Tôn Nữ, cũng có một cái tên hay lắm : Tôn Nữ Giáng Vân. Nhưng tôi vẫn thích gọi cô bé là Tiểu Thơ, cái tên mà nàng đã tự xưng khi đụng tôi trước rạp Tân Tân. Hơn nữa tôi thấy cái tên này cũng hợp với cô bé lắm. Tôi nghĩ thầm, có lẽ nàng Tôn Nữ xứ Huế nào cũng đẹp và.. lãng mạn đa tình.

Các tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn, cô bé mê nhất là Hồn Bướm Mơ Tiên, nên thường bắt tôi kể lại cho nàng nghe. Mẹ nàng vốn là một phật tử ngoan đạo. Sau ngày bà chết, ba nàng cúng dường khá nhiều tiền để chỉnh trang hai ngôi chùa Tỉnh Hội, Hải Đức và cung thỉnh thêm nhiều tượng Phật. Cô bé thường theo cha lên chùa Hải Đức. Nàng bảo mỗi lần lễ Phật, nàng cứ tưởng tượng mình là “chú tiểu” Lan, nhưng lại rất sợ và bịt kín tai khi nghe có tiếng đại hồng chung, nên chắc không thể nào giả trai lên chùa tu được.

Một hôm cô bé nhất quyết bắt ông thầy phải làm cho cô bé một bài thơ. Nếu không thì không chịu học. Cái này thì đúng là tiểu thơ muốn hại “đời tư” của tôi đây. Mang tiếng là học ban C nhưng hồi giờ tôi có thơ với thẩn gì đâu, chỉ lâu lâu cùng với mấy thằng bạn trong lớp nghịch ngợm bày ra trò chơi nối vần một bài lục bát con cóc để ghẹo cô bạn nào đanh đá trong lớp. Vậy mà hôm ấy, không biết con tim nó ướt át đến cỡ nào, tôi phóng bút làm xong một bài thơ chưa đầy mười phút. Đọc qua nghe có mùi cải lương không chịu nổi, nhưng tôi cũng tự phục mình. Tôi đưa bài thơ cho nàng đọc :

N gày tháng trôi dần theo nhớ thương
I như duyên nợ đã vấn vương
N ên tình mây nước cùng trăng gíó
H ẹn ở ngày mai một nẻo đường
YÊU vầng trăng sáng in cành lá
V à khúc nhạc lòng dâng đến hương
 n ái giờ đây là mơ ước
N gỡ một tâm tình một vấn vương

Cô bé đọc xong không biết có hiểu gì không,(mà thực ra bài thơ cũng có nghĩa gì đâu mà hiểu với không), gật gù khen và hỏi :

– Sao bài thơ không có tên ?

– Có tên rồi đó mà tiểu thơ không thấy à ?

Cô bé lật qua lật lại mảnh giấy :

– Tên với tựa gì đâu, không thấy, trả lại thầy, không thèm.

Tôi cười, vuốt ve cô học trò :

– Thì Vân cứ ghép tất cả các mẫu tự đầu ở mỗi câu lại, sẽ thấy cái tựa liền.

Khổ thật, tôi còn phải giải nghĩa thêm mẫu tự là cái gì, thì cô ta mới tìm được cái tựa bài thơ. Cô bé đỏ mặt, vất mảnh giấy có bài thơ xuống đất :

– Không thèm chơi với Thầy nữa.

Nói là không thèm chơi, nhưng cũng kể từ hôm ấy cô bé thân thiết và gần gũi với tôi hơn. Ba nàng cũng thấy tin và quí ông gia sư nhóc tì này, vì thấy con gái cưng của mình chăm học, vui vẻ yêu đời hơn.

Mùa hè năm đó, cô bé theo tôi về nhà quê chơi, nhân tiện có cô con gái của ông chú tôi cùng về thăm quê nội. Dường như đó là lần đầu tiên cô bé ra một vùng quê. Không biết là gió nội hương đồng hấp dẫn cô bé, hay là suốt ngày dung dăng dung dẻ làm nũng làm nịu với “ông Thầy”, cô bé ca hát líu lo và bảo là yêu…đồng quê ghê lắm. Và đó cũng là một mùa hè đẹp nhất, có ý nghĩa nhất trong đời học trò của tôi, dù ở quê tôi chẳng có cây phượng vĩ và cũng chẳng nghe có tiếng con ve sầu nào rên rỉ.

Hai năm sau, tôi rời Nha Trang vào Sài gòn học tiếp. Tôi buồn và tiếc nuối vì phải chia tay cái nghề gia sư với cô hoc trò nhỏ nhưng có đôi mắt thật to..của mình. Cô bé được ông già chở lên ga Nhatrang tiễn tôi đi. Tôi cũng cố làm ra vẻ “đi là chết ở trong lòng một ít”, làm cô bé mủi lòng muốn khóc. Ông già cứ tưởng là nhờ ơn tôi mà cô bé vừa đậu cái bằng trung học kỳ rồi, nên cũng nắm chặt tay tôi, lì xì một mớ tiền và cám ơn rối rít..

Vậy mà cái tình yêu ấy ( không biết có đúng là tình yêu hay không, nhưng cứ nói như thế cho nó lãng mạn và người lớn một chút ) cũng làm cho lòng tôi xốn xang một dạo.

Sau đó chỉ có vài lần tôi nhận được thư cô bé, kể chuyện những bạn bè thân quen của cô bên trường Nữ, và chuyện chiếc máy bay phản lực rơi xuống bên cạnh rạp Tân Tân, nơi mà lần đầu tiên tôi biết cô bé nhờ chiếc vélo của cô tông tôi ngã xuống bên lề đường.Nhưng lần nào cũng kèm theo một bài thơ tình..con cóc.

Năm năm sau, khi cô bé đã trở thành người lớn và quên “ông Thầy” thích đọc thơ tình cho cô học trò.. lim dim đôi mắt, thì cũng là lúc tôi hát khúc Biệt Kinh Kỳ, xếp bút nghiên theo việc kiếm cung.

Ra trường, tôi được bổ sung về một đơn vị lưu động trên vùng Cao nguyên gió lạnh mưa mùa. Năm 1972, tôi bị thương trong trận Mủa Hè Đỏ Lửa ở Kontum, được đưa về QYV Pleiku điều trị. Khi vết thương vừa lành, tôi nhận Sự Vụ Lệnh của đơn vì đề cử về Sài gòn trong đoàn “chiến sĩ xuất sắc” được Tổng Thống tiếp đón tại khu vườn Dinh Độc Lập. Thực ra là tôi có xuất với sắc cái gì đâu. Khi còn độc thân thì hăng máu lắm, chứ đã có vợ rồi thì cũng hơi lạnh cẳng, ngại cái cảnh “anh trở về dang dở đời em”. Nhưng chiến tranh đang hồi ác liệt, nếu cử chiến sĩ xuất sắc thứ thiệt đi thì thiếu người đánh giặc giỏi, mà lại hao hụt quân số tác chiến, tôi đang trong tình trạng bất khiển dụng, nên cho tôi đi là nhất cử lưỡng tiện. “Chiến sĩ xuất sắc” được ưu ái đi bằng máy bay dân sự. Tại phi trường Pleiku bụi đỏ, tôi bất ngờ gặp lại Tiểu Thơ khi tôi vừa ngơ ngác bước lên máy bay Air Vietnam và khựng lại trước đôi mắt thật to của cô hôtesse de l’air đang mỉm cười chào khách. Trong chiếc áo dài màu thiên thanh, có thêu hai con rồng trên cổ áo, nàng đẹp như một nàng tiên. Khi chiếc máy bay DC 4 đã lấy lại thăng bằng trên cao độ, nàng đến ngồi chiếc ghế trống trước mặt tôi, quay ra sau trò chuyện. Trong chớp nhoáng, tôi biết là nàng đã có chồng. Anh ta là một phi công phản lực F5, thuộc dơn vị Biên Hòa. Hai người làm đám cưới hơn một năm. Tôi nghĩ, con gái đẹp thường chọn mấy ông không quân, vừa được tiếng có ông xã hào hoa, đi mây về gió, vừa khó trở thành góa phụ. Anh phi công nào phải vừa bô trai vừa tốt số lắm mới lọt được vào đôi mắt của Tiểu Thơ này. Tôi nghĩ như thế mà lòng thì cũng thấy một chút bâng khuâng.

Chỉ nói chuyện được vài câu, nàng ghi địa chỉ của tôi ở Sài gòn, rồi hẹn sẽ cùng đức lang quân ghé đón đi Maxim nghe Lệ Thu hát bài Kỷ Vật Cho Em. Tôi cười, bảo là rất sợ bài hát này, cái bài hát mà thằng lính nào nhát gan nghe xong là không còn muốn “đáo nhậm” đơn vị nữa. Cuối cùng nàng đến có một mình, “ông xã” vừa mới biệt phái ra Vùng 1. Tối đó thay vì đến nhà hàng Maxim, nàng đưa tôi ra Quán Cái Chùa cho có vẻ nghệ sĩ một chút, mời “ông Thầy” uống cà phê có hương vị Tùng Đà Lạt – mà chủ nhân thường pha chế đặc biệt cho riêng nàng- để nhớ những ngày cô còn ở đó.. Dường như khi đã lớn rồi, người ta lại muốn tìm về cái thời đi học. Hai đứa chỉ ngồi nhắc lại chuyện Nha Trang, chuyện mấy bài thơ con cóc, rồi chia tay không hẹn ngày tái ngộ. Thời chiến tranh mà, “cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi “ biết đâu mà hẹn.

Tháng 3 /1975, Nhatrang rồi cả Vùng 2 mất,. Bao nhiêu năm sống chết với núi rừng Hoàng Triều Cương Thổ, tôi theo đơn vị chỉ còn một phần tư quân số “di tản” vào Vũng Tàu để tái bổ sung, rồi kéo xuống tham dự những trân đánh cuối cùng cô đơn và buồn tẻ ở những địa danh xa lạ : Bến Lức, Cần Giuộc thuộc tỉnh Long An, nhằm ngăn chận địch quân đang tràn về vây hãm và pháo kích Sài Gòn.

Cũng như nhiều đơn vị khác, vào giờ thứ 25, chúng tôi đánh giặc không có “đại bàng”. Lần cuối cùng tập họp anh em lại hô “tan hàng” mà không còn nghe “cố gắng” nữa, thì tôi mới biết là ông tướng tư lệnh đã có mặt trên đệ thất hạm đội Mỹ trước đó hai ngày rồi! Thôi thì, xưa nay người ta đã nói“nhất tướng công thành vạn cốt khô” mà. Cuối cùng thì miền Nam cũng thất thủ. Đám tụi tôi được người “anh em” chiến thắng mời vô trại cải tạo để được hưởng “chính sách khoan hồng của kách mệnh” !

Tám năm lưu đày từ nam ra bắc, cuộc đời thôi đành cứ như gởi theo những đám mây bay. Cái hạnh phúc bây giờ chỉ còn là những phút giây hồi tưởng. Mà hồi tưởng cũng phải “cảnh giác”, chứ không khéo cũng bị cùm vì cái tội ” luyến tiếc quá khứ”. Bạn bè cùng cảnh luyến tiếc điều gì thì tôi không biết, nhưng riêng tôi lại tiếc nhớ cái tuổi học trò, và cái thời con tim mới biết yêu. Tôi lại nhớ đến Tiểu Thơ, đến đôi mắt tròn xoe của cô bé, và nhớ tới cái hạnh phúc làm “gia sư” của tôi còn hơn là nhớ tới mười mấy năm làm bạn với ông Nguyễn Bắc Sơn “ta vốn hiền khô – ta là lính cậu, đi hành quân rượu đế vẫn mang theo, mang trong đầu những ý nghĩ trong veo, xem chiến cuộc như tai trời ách nước”. Tôi hình dung bây giờ chắc nàng đang hạnh phúc ở một chốn thiên đường nào bên nước Mỹ. Ông xã là không quân mà, lại đóng ở Biên Hòa nữa. Chỉ cần một lần cất cánh nhẹ nhàng là thay đổi cả cuộc đời.

Ra tù, trở lại thành phố xưa, tôi có cảm gíác Nha Trang sao bây giờ xa lạ quá, không còn là “hang động tuổi thơ”của bọn tôi ngày trước nữa. Nhưng rồi tôi cũng đâu có được phép ở lại cái thành phố này, mà phải về tạm trú ở quê tôi ngoài Vạn Giã. Ở đó tôi chỉ còn một bà cô già sống quạnh hiu trong ngồi nhà từ đường có mái ngói âm dương của ông bà nội. Cha tôi thì cũng đã chết cách đây sáu năm trong trại cải tạo Đá Bàn. Mồ mả còn chưa biết ở đâu. Nhưng rồi tôi còn có cái may, là gần như mỗi ngày tôi đều ghé lại Nha Trang một lần, bởi tôi được ông anh bà con cho tôi làm tài xế phụ kiêm lơ xe cho chiếc xe đò nhỏ của ông chạy đường Nha Trang – Tuy Hòa. Xe chạy bằng than và khách hầu hết là mấy bà đi buôn chuyến.

Một hôm tôi đang lui cui đứng trên mui, thì một bà khách kêu tôi nhấc hộ đội thúng của bà lên. Bà lấy hết sức đưa từng chiếc thúng lên, nhưng rồi lại bị sà xuống. Trong đôi thúng là những thỏi đường màu đen khá nặng. Tôi phải dùng một cây móc sắt đưa xuống, bảo bà móc vào để tôi kéo lên. Khi lấy sức kéo đôi thúng lên tôi bất ngờ gặp đôi mắt thật to và tròn xoe. Đôi mắt nhìn tôi tựa hồ như xoáy vào lòng tôi nhát dao đau buốt. Tôi nhảy xuống xe, nắm chặt đôi vai gầy còm của bà khách :

– Là em, là Tiểu Thơ đây à?

Nàng nhìn tôi, rồi nước mắt đầm đìa.

– Tiểu Thơ, à quên…Vân, làm sao mà em lại ra đến nỗi này.

Nàng cúi xuống im lặng, không nói một lời nào.

Ra đến Tuy Hòa, tôi gánh hộ nàng gánh đường giao cho một cái quán trong chợ, rồi mời nàng đi ăn cơm trưa. Tôi đang nóng lòng được biết về hoàn cảnh của nàng :

– Ông xã em bị kẹt ngoài Vùng 1 rồi mất tích luôn từ đó tới bây giờ. Em có đi hỏi một vài người bạn cùng phi đoàn, thì họ cho biết là anh ấy bị bắn rơi khi yễm trợ cho anh em Thủy Quân Lục Chiến rút về Đà Nẵng. Em chờ đợi xem anh có bị bắt cầm tù ở đâu không, nhưng đến bây giờ thì chắc chắn là anh đã chết thật rồi.

– Còn ba em đâu ?
– Nhà cửa ba em bị tịch thu hết. Ông bị bắt đi cải tạo với lý do từng thầu xây cất doanh trại cho Mỹ trong phi trường. Chỉ một năm là ông chết.
– Vậy bây giờ Vân ở với ai?
– Em ở với con gái em. Nó gần mười tuồi rồi. Khi gặp anh ở Sài gòn là em vừa mang thai nó mà chưa biết. Mẹ con em được đền bù một căn nhà tôn nhỏ của thương phế binh hồi trước, nằm sau ga xe lửa.

Tôi nhét vào tay Vân tất cả số tiền mà tôi kiếm được hôm ấy, bảo nàng mua hộ tôi quà cho cháu gái.

Sau đó tôi gặp lại nàng chỉ thêm hai lần nữa, vì ông anh họ tôi đã phải bán rẻ cái xe hơi cho người khác, bởi không dủ tiền sửa chữa mà còn cứ bị chính quyền trưng dụng đi chở lúa cho hợp tác xã, không trả một đồng nào. Cũng đúng vào lúc này, tôi tính chuyện vượt biên.

Tôi kể chuyện Tiểu Thơ cho vợ tôi nghe. Bây giờ tôi thương cô như một người em gái. Vợ tôi tốt bụng, thương mẹ con cô cũng như hoàn cảnh của chính mình, sẵn sàng cùng tôi giúp mẹ con nàng đi cùng chuyến vượt biên, do chính tôi tổ chức.

Một tuần trước khi ra đi, tôi vào Nha Trang tìm đến nhà nàng. Căn nhà khóa kín cửa. Tôi chờ đến tối mà chẳng thấy mẹ con cô trở về. Tôi gõ cửa căn nhà bên cạnh. Chủ nhà lại là một anh thương phế binh, nhờ mất cả hai chân nên không bị đuổi khỏi nhà.. Anh cho biết là mẹ con nàng đã dọn đi đâu cả mấy tuần rồi, không thấy về nhà.

Trời thương, chuyến vượt biên cũng đến được bến bờ, nhờ một chiếc tàu chở dầu của Vương Quốc Nauy vớt trên biển, trước khi cơn bão ập đến. Với ân tình này, vợ chồng tôi chọn Nauy là nơi để gởi gấm phần đời còn lại của mình và vun đắp tương lai cho mấy đứa con nhỏ dại.

Mùa hè năm 1989, vợ chồng tôi đưa hai cô con gái sang Mỹ học, nhân tiện ghé thăm và chia buồn gia đình ông anh họ, đi từ năm 78, định cư ở thành phố Sacramento, bắc Cali,.Anh chị vừa có thằng con trai bị chết đuối khi theo cha đi câu ngoài biển.

Bao nhiêu năm gặp lại nhau, anh chị tiếp đón chúng tôi thật ân cần, nhưng không vui vì cái bàn thờ đứa con trai còn nghi ngút khói hương.

Sáng hôm sau, anh chị đưa tôi đến nghĩa trang thăm mộ cháu rồi chở chúng tôi đến một ngôi chùa Sư Nữ ở gần đó, để bàn việc làm lễ cầu siêu cho cháu. Anh cho biết anh chị rất thân quen với Sư Bà trù trì, Bà rất quí anh chị không chỉ vì biết nhau từ lúc còn ở Nha Trang mà vì anh làm nghề thầu sửa chữa nhà cửa, nên cả ngôi chùa này phần lớn là do công sức của anh cúng dường.

Ngôi chùa không lớn lắm, khu chánh điện còn đang dang dở, nhưng vườn khá rộng và trồng nhiều loại hoa. Trong chùa tiếng tụng kinh, gõ mõ càng đượm không khí trang nghiêm. Chúng tôi được một cô phật tử mời ngồi uống trà và xin chờ chừng nửa tiếng, vì Sư Bà đang cúng ngọ.

Khi ông anh bà chị đứng bật dậy, chúng tôi chợt nhìn thấy Sư Bà vừa bước ra. Tôi ngạc nhiên vì Sư Bà còn trẻ và trông rất phương phi, nhất là hai tai thật to và dài xuống như tai các tượng Phật tôi thường nhìn thấy trong các ngôi chùa. Điều làm chúng tôi thú vị là bà rất vui vẻ cởi mở. Bà bảo bà cũng là dân Nha Trang nên rất mừng khi tiếp được người đồng hương từ tận bắc Âu đến viếng.

Sau một lúc hàn huyên, tôi biết được Sư Bà là người có trình độ học vấn cao. Bà có cử nhân Văn Khoa và đang học năm cuối cao học văn chương tại đại học Vạn Hạnh thì miền Nam thất thủ.

Điều ngạc nhiên hơn là Sư Bà cho biết có khá nhiều ni cô gốc Nha trang đang tu ở chùa này, trong đó có con gái của ông chủ tiệm ảnh nổi tiếng một thời ở đường Phan Bội Châu mà ngày xưa tôi cùng đám bạn bè thường đến để chụp ảnh, con gái một bà chủ tiệm vàng trước Grande Pharmacie, và một vài ni cô nữa. Bà còn bảo thật là tội nghiệp, có vài cô đã gặp bao nhiêu nghịch cảnh thương tâm trên biển Đông, chồng chết con chết, chỉ còn lại một mình. Ban đầu Bà đưa về chùa cưu mang, rồi sau đó các cô xin được xuống tóc qui y luôn. Sư Bà mời chúng tôi ở lại dùng cơm chay cùng với Bà, nhân tiện bà giới thiệu với mấy ni cô gốc Nha Trang cho biết, bởi tôi cũng là một phật tử thuần thành.

Tôi theo ông anh bà chị xuống bếp phụ dọn cơm. Nhưng ông anh ngăn lại :

– Chú là người lạ, không nên vào bếp. Hôm nay chú thím là khách của Sư Bà mà.

Ngồi dọc theo chiếc bàn dài, gồm các ni cô và một vài phật tử, chỉ có chúng tôi là “dân sự”. Sư Bà giới thiệu chúng tôi là đồng hương, những phật tử đến từ tận Bắc Âu. Tôi vừa đứng lên chấp hai tay trước ngực, bỗng bất ngờ bắt gặp đôi mắt thật to, tròn xoe của một ni cô ngồi ở phía cuối bàn. Ni cô cũng vừa nhìn tôi rồi cúi xuống. Đôi mắt đó với tôi có một cái gì thần giao cách cảm. Đúng. Trên thế gian này chỉ có Tiểu Thơ mới có đôi mắt ấy mà thôi

Dùng cơm xong, là đến giờ nghỉ trưa của Sư Bà. Chúng tôi cám ơn Sư Bà và xin được cúng dường một số hiện kim để trùng tu chánh điện.

Tôi từ giã Sư Bà, trong lúc mắt nhìn quanh như muốn tìm kiếm một điều gì. Nhưng tất cả chỉ có im lặng, ngoài tiếng chuông chùa ngân nga như chẳng bao giờ muốn tan đi trong không gian bao la vô tận.

Tôi bước ra khỏi cổng chùa. Chùa nằm trên một khu đất bằng phằng, nhưng sao tôi có cảm giác như mình đang lững thững bước xuống chân đồi. Tôi hình dung đến Ngọc vừa chia tay “chú tiểu” Lan lần cuối cùng ở chùa Long Giáng trong Hồn Bươm Mơ Tiên của nhà văn Khái Hưng, mà ngày xưa Tiểu Thơ đã bắt tôi phải kể đi kể lại bao nhiêu lần.

phạmtínanninh

ĐỌC TRUYỆN NGẮN PHẠM TÍN AN NINH.

nguyenhoangquy

Tôi biết đến nhà văn Phạm Tín An Ninh khi đọc truyện của anh lần đầu cách đây hơn 3 năm. (Hồi đó không hiểu sao không thử gõ tên anh trên Google để tìm thêm mà sau này, đọc được một số truyện nữa mới nghĩ ra?).
Vừa rồi, trang tuongtri.com được anh báo qua email cho đăng các truyện trên website chính thức của anh, báo tin hai tập truyện ngắn: “Ở cuối hai con đường” và “Rừng khóc giữa mùa Xuân”vừa xuất bản ở ngoại quốc, tôi nhắn tin xin người cháu ở Mỹ. Không ngờ cháu và tác giả quen biết nhau từ trước, anh ký và viết lời đề tặng vợ chồng tôi. Tôi viết thư cám ơn. Lại nghĩ rằng, để đáp lại điều mà người xưa gọi là “duyên tri ngộ”, tôi ghi lại một số suy nghĩ về truyện anh viết dầu rằng đã có nhiều người làm việc này.

Truyện ngắn đầu tiên của Phạm Tín An Ninh tôi đọc được là “Về cái chết oan khuất của nhạc sĩ Minh Kỳ”, tác giả của hai bài hát về Nha Trang mà tôi say mê từ những năm trung học. Tôi đọc đi đọc lại không biết bao lần. Từ đó, tên tác giả hằn trong tâm trí tôi với sự quý mến đặc biệt vì bài viết vừa mang tính thông tin vừa chia sẻ tâm trạng.

Tiếp tục tìm đọc các truyện ngắn khác của anh, tôi gặp được nhiều truyện rất ấn tượng mà hai trong số đó là “Cậu bé đánh giày người Nghĩa Lộ” và “Ở cuối hai con đường” liên quan đến những năm tác giả ở tù ngoài Bắc. Có hai tập truyện trong tay, càng tìm thấy nhiều truyện hay, đánh động sâu sắc lên tâm hồn mình mà ít có nhà văn nào, kể cả những nhà văn nổi tiếng tôi đọc nhiều từ trước đến nay được như vậy. Tôi nghĩ cái chính là do điều mà tôi gọi là “chia sẻ tâm trạng”. Truyện của anh đánh động tâm tưởng mình vì nội dung xoay quanh vết thương tâm hồn của người lính VNCH, quanh niềm căm phẩn vì người bạn đồng minh phản bội để những người lính kiêu hùng của quân đội phải buông súng một cách bất ngờ và đầy tức tưởi. Truyện của anh cũng, nơi này nơi khác, lúc này lúc khác kể về tâm trạng những người Việt Nam xa xứ, mơ một ngày về lại quê hương nhưng quệ hương ngày càng mịt mù và xa tít vì không thấy sự hòa giải dân tộc như nhà nước tuyên truyền trong khi tuổi tác những người vượt biển và đến Mỹ theo diện HO đều trên 70, 80 (“Những đàn chim thiên di”), (“Những điều mơ ước”).

PTAN không viết theo đơn đặt hàng của những người chống cộng ở ngoại quốc mà viết để bộc bạch tâm tư, kể lại những trăn trở của mình trong những tháng năm cầm súng mà “Tổ quốc – Danh dự – Trách nhiệm” luôn là lý tưởng hàng đầu, về những tháng năm tù tội và cả sau này, khi sinh sống ở vùng đất tự do. Suốt những tháng năm đó, tình bạn nổi lên rõ nét bao nhiêu thì niềm căm thù của người lính đối với sự phi nhân của cộng sản sau khi chiếm miền Nam cũng rõ nét bấy nhiêu. Tình bạn trong chiến đấu của Trần Công Lam, Đặng Trung Đức, Phùng trong “Người con gái Phú Hòa”, với Lê Minh Thống trong “Đà Lạt trời mưa”, với Di trong “Chiếc nhẫn”, với Lâm Ni trong “Chuyện người bạn học” và bàng bạc trong một số truyện khác đều đẹp vô ngần. Tình bạn giữa Narziss và Goldman trong “Đôi bạn chân tình” của Herman Hess hay tình bạn giữa các nhân vật trong “Chiến hữu” (Les Camarades) của Erich Maria Remarque cũng chỉ đến thế.

Tôi cũng rất cảm phục tấm lòng của một viên hạ sĩ, là tài xế (của Di) đối với của viên sĩ quan chỉ huy ngày xưa của mình trong “Chiếc nhẫn”. Ở đời, rất khó kiếm một người trung thành như Lắm, tên anh, sống ở Cần Thơ nơi có ông chủ nhà giàu Hồng Hương là cơ sở “cách mạng”. Anh đã ba lần giúp đỡ “ông thầy” của mình, lần đầu khi Di vừa bị bắt đưa đến nhà giam, lần tiếp theo khi dắt Hồng (vợ Di) tìm đến trại thứ hai thăm Di, giúp lần thứ ba là ra đến Nha Trang tìm Nguyệt, em gái của Di rồi đón Nguyệt và mẹ vào Cần Thơ để xin đứa con của Di về. Những giúp đỡ trên cùng với việc giấu Hồng, đưa lên Rạch Giá tìm cách để cô ấy vượt biên đã đưa đến cho Lắm một kết cục bi thảm: bị bắt và tra tấn đến chết!.

Đọc PTAN, độc giả còn thấy một sự giằng co, giành giật giữa lằn ranh Quốc – Cộng mà nạn nhân là những nông dân hiền hòa do sự phản bội hiệp định Genève 1954 của chính quyền miền Bắc. Đó là trường hợp của chị Ngà, một lòng sắt son với chồng trong “Chị Ngà”, của gia đình ông bác Hai, vừa nhận bằng liệt sĩ chưa bao lâu thì lo chôn người con cả là sĩ quan QLVNCH về hưu chết vì đói và sốt rét trong tù (“Giòng sông tuổi thơ” tr. 111). Một người khác là ông Năm Giăng có lúc là bác sĩ của cụ Hồ, về thăm quê, chở anh Cả đi thăm mộ của cha mẹ, gia đình, thắp nhang và khấn vái trước cả mộ thằng cháu mới chết. “Đứng trước các mộ bia, ông đều thì thầm với người đã khuất. Nhưng không ai nghe được là ông đã nói điều gì, nhất là với anh em con cháu đã chết dưới tay những đồng chí của ông”.(sđd, tr.111)

Tác giả không nói thẳng nhưng qua những truyện đọc được, dầu đã qua bốn mươi năm, hình ảnh người sĩ quan VNCH, cách riêng, những người xuất thân trừ trường Võ Bị QGVN luôn được nhắc đến với niềm kính phục sâu sắc. Sự kính phục về tư cách, năng lực, tinh thần chiến đấu và nhất là lý tưởng quốc gia nơi họ. Khi mô tả trại tù ở Thượng Sơn, Nghĩa Lộ tác giả viết: “…Và cũng là nơi đã từng nhốt nhiều tù cải tạo từ miền Nam chuyển ra, từ anh binh nhì TQLC bị bắt trận Hà Lào, cho đến hơn ba mươi tướng lãnh mà đa số đã không bỏ rơi đồng đội mình vào giờ thứ hai mươi lăm” (“Thằng bé đánh giày…” tr.141) Đặc biệt, truyện ngắn “Những cánh đại bàng qua cơn bão lửa” là bằng chứng hùng hồn nhất về tấm lòng tác giả đối với lớp người này nhân dịp dự họp mặt “Bảy mươi tuổi đời – Năm mươi tuổi lính” của những cựu sĩ quan VBQGVN khóa 17.

Anh PTAN nhiều lần nói với bạn bè, kể cả trong email gửi cho tôi rằng anh không có tham vọng trở thành nhà văn. Điều này có lẽ rất thật. Anh viết như kể chuyện, như ôn lại những quá vãng cả đớn đau lẫn vàng son của mình, không than van, ít trách cứ, cứ như một người ở xa nhìn vào hơn là người trong cuộc dầu cái đớn đau gặm nhắm tâm hồn anh không ít và vết thương quá khứ lâu lâu lại tấy lên mỗi khi có điều kiện tái hiện. Văn anh không trau chuốt, không dụng công như của những nhà văn chuyên nghiệp làm người đọc có cảm giác như anh bất ngờ gặp lại một đồng đội cũ, kéo nhau vào một quán cóc ven đường kể chuyện ngày qua hơn là nghe anh đọc diễn văn trước hội nghị. Và có lẽ chính điều này, chính sự tự nhiên, mộc mạc cùng với những tình tiết bất ngờ, hấp dẫn và lôi cuốn độc giả để cứ muốn đọc hết truyện này qua truyện khác mà không thả sách xuống được.

Tôi cứ ao ước những tên như (bà) Vương Chu Khánh Hà, anh Nguyễn Văn Thà, nàng “Sylvie Vartan” Jacqueline Cuvéro Gauthier, Giáng Vân… là tên những con người thật, kể cả hai nhân vật tác giả đã tự đổi tên theo yêu cầu của họ: Nhất Anh, Nhị Anh là có thật. Có thật để cuộc đời này đẹp hơn, để những người trải lòng với cuộc đời được nhận từ cuộc đời những tưởng thưởng xứng đáng, để người đọc, dầu chưa hề quan tâm gì đến giáo lý nhà Phật thấy được lẽ nhân quả báo ứng, lý vô thường và thuyết nhân duyên. “Trời đất bao la” không dễ gì tác giả gặp lại mộ người yêu xưa khi xe hỏng trong một chuyến đi ngang qua nước Pháp!. Và chỉ có tấm lòng đối với Người bán sách trên bãi biển Nha Trang mà tác giả tìm lại mộ An Bình, cô em gái mà những lần tìm trước ngỡ như vô vọng. Những cơ duyên, những trùng hợp quá bất ngờ để khó tin là thật.

Từ câu nói ngây ngô của Thằng bé đánh giày…: “Bạn đồng đội của chú chắc là những người tốt”, từ lời hứa – rất trịnh trọng – với tác giả là ba thằng sẽ thường xuyên rủ nhau đến nghĩa trang quân đội Biên Hòa khi bốn người ghé thăm trên đường đi Vũng Tàu về, tôi nghĩ đây là một chi tiết tác giả cố ý đưa vào, rất tài tình, làm nên giá trị thật của truyện này. Xếp sách lại, tôi cứ mong rằng, trong một ngày không xa, bản dịch sang tiếng Anh của hai tập truyện sẽ được phát hành rộng rãi để các thế hệ F1, F2 của người Việt ở ngoại quốc hiểu thêm về một thời kỳ đau buồn trong lịch sử Việt Nam, đất nước mà ông bà cha mẹ các cháu phải bỏ đi dầu biết trước phải đối đầu với muôn vàn khó khăn, kể cả cái chết.

Một số kết cục trong các truyện là buồn, tất nhiên, nhưng với lời ghi cuối truyện, như là nói lên tâm trạng của mình, tác giả đã giúp người đọc vơi đi những cảm thương lẫn bức xúc. Nhờ đó, truyện của Phạm Tín An Ninh đi vào lòng người nhẹ nhàng, thoải mái và độc giả luôn mong nhờ những sáng tác mới của anh.

NGUYỄN HOÀNG QUÝ
Tháng 01.2016