Tiệc Cưới Ðầu Năm

diemchaunguyen

Vợ chồng Long đến buổi tiệc thì đồng hồ trên tay đã chỉ bảy giờ hai mươi lăm phút. Ðón khách phiá trước thì cũng như bao nhiêu đám cưới khác, là cô dâu chú rể đang đứng tươi cười ở cửa, chung quanh có hoa hoè, ánh sáng từ nhiều ngọn đèn chiếu vào sáng rỡ… những thứ nầy là của nhiếp ảnh viên thực hiện hình cưới, được gia đình cô dâu thuê mướn rinh tới.
Sau khi đứng vào chụp hình chung, thì vợ chồng Long được các “hướng dẫn viên”, con cháu trong gia đình đưa tới bàn của mình.
– May quá, không bị ngồi gần cái loa!
Thu kề vai Long nói nhỏ với khuôn mặt hơi mừng. Nàng đã quên béng đi chuyện vừa cãi cọ với ông chồng thuộc loại “cứng đầu, cứng cổ”… mà năm năm trước, nàng cũng từng đứng ngay cửa đón khách với “him”, làm đám cưới như hôm nay.
Cãi nhau là vì Thu đã bắt Long chờ quá lâu, mười lăm phút ngồi ngoài xe, chỉ vì Thu mắc chọn lựa những thứ trang sức cho hợp với màu áo của mình.
Ði đâu Long cũng muốn đúng giờ đúng khắc, nhưng Thu thì biết đa số các đám cưới người Việt Nam không bao giờ đúng giờ, cho nên nàng cứ rình rang, thay đổi hết áo nầy tới áo khác! Thu không hối hả vì biết tiệc cưới nào sớm nhất, cũng trễ một tiếng rưỡi đồng hồ!
Bàn tiệc hai vợ chồng được xếp vào ngồi có nửa trẻ nửa già. Mấy người ngồi chung bàn với vợ chồng Long – Thu hình như họ tới đã lâu, nhất là một bác cao niên nhưng lại có bà vợ trẻ măng… chắc thua bác ta khoảng ba mươi tuổi là có vẻ nôn nóng nhất… Những khuôn mặt bắt đầu tỏ vẻ sốt ruột, đang ngóng đầu nhìn ra cửa coi tới đâu… với vẻ mệt mỏi.
– Thường thường họ mời sáu giờ, thì đến tám giờ mới bắt đầu!
Tiếng một người vang lên mà ai nấy đều thấy chí lý, rất là đúng. Thu quay qua Long:
– Thấy chưa, em đã nói là tám giờ người ta mới bắt đầu, mà anh cứ hối mãi… làm người ta không lựa được đúng màu…
Long im không phải vì nhịn vợ, mà thấy nàng nói đúng. Trong bàn, từ khi có thêm Thu, thì mấy bà vợ bắt đầu nói chuyện về nữ trang, vàng lá hột xoàn… Khi họ thấy Thu mang một xâu chuỗi rất đẹp trên cổ và bông tai.
Một bà không e ngại, hỏi ngay:
– Xin lỗi cho tôi hỏi… chị mua xâu chuỗi ở đâu mà đẹp thế?
Thu không giấu nổi vẽ hãnh diện, trả lời:
– Em đặt người bạn “design” riêng cho mình, chị ạ.
Bà vợ trẻ của ông bác xen vào:
– Thảo nào mà màu đẹp quá, em không thấy bán ở ngoài tiệm…
– Em chọn màu và chất liệu của hột, rồi người bạn làm theo ý thích của em…
Bà kia gật gù:
– Quá đẹp… Hết bao nhiêu vậy cô?
– Tiền công và vật liệu là ba trăm…
– Trời đất, sao mắc thế?
Thu giảng giải:
– Không mắc đâu… Ðây là “only one design”… chỉ riêng mình có… Vì tiền công là bảy mươi lăm đồng, còn đa số các loại hột, phần nhiều là “Crystal” nhập từ Nga Sô… nếu chị mua ở Costco hay trong tiệm Mỹ, thì những xâu chuỗi có những hạt nhỏ hơn nhiều, mà cũng gần hai trăm đồng một xâu…
Bà kia xuýt xoa:
– Ðắt thế cơ à! Tôi chưa bao giờ thử mấy thứ nầy. Chỉ đeo đồ thiệt…
Nói xong câu nầy, bà đắc ý cười, như ngầm khoe mình là người không thích chơi đồ giả! Nhưng bất ngờ khi ông chồng bà lại góp lời:
– Theo tôi thấy thì đeo đồ thật chỉ tổ hại vào thân!
Tiếng bà vợ hơi gay gắt:
– Ông nói vậy nghĩa là sao?
– Ðây nhé, đeo đồ thật thì quân gian hay để ý, theo dõi, có khi lại còn bị giết để cướp của… mà thứ thiệt thì lại không chói loá và hấp dẫn cho bằng thứ giả…
Bà vợ ông nổi cáu:
– Ý của ông là gì? Ðồ giả… đồ giả cũng có thứ được thứ không! chẳng hạn như ngực giả mông giả… là tui không chấp nhận rồi…
– Chí phải, nhưng nữ trang giả vừa đẹp lại an toàn… bà có nghe nói thằng ăn cướp nào đè một bà ra cướp xâu chuỗi giả lóng lánh tuyệt đẹp giá mấy trăm đô chưa? Nhưng nếu bà đeo cái giây chuyền nhỏ tí như sợi chỉ, thì nó cũng giựt xướt cổ là chuyện thường… không tiếc thương!!!
– Mấy thằng ăn cướp nó cướp đồ giả đem bán cho ai? Nhưng tui đeo đồ không phải là cái giây chuyền nhỏ tí như ông nói…
– À há… Thì vậy… bà toàn là đeo thứ tổ chảng… Hột nào hột nấy cả năm bảy ngàn… nhưng đeo một hột thì có nổi gì đâu! Ngày nay muốn chơi sang, thì đeo cả vòng hột xoàn như mấy tài tử… người ta mới nể!
Bà vợ bỉu môi! Bà đang hận ông chồng hay chống đối bà nơi đám đông, chỉ vì ông không thích tật mua sắm vòng vàng quá lố của bà, trong lúc ông chỉ muốn một khẩu súng săn hai nòng, giá bảy trăm bạc, mà bà nhằn tới nhằn lui, không cho mua!
Thấy hai vợ chồng hơi găng, trong bàn lại quay qua chuyện đồ giả trên thân thể người ta! Chuyện hút mỡ bụng, cắt mí mắt khá hấp dẫn, làm cho các bà, các cô lẫn các ông chăm chú nghe, nhất là ông già lấy vợ trẻ! Ông nghe để coi có gì sửa dễ thì ông sẽ làm theo, cho hợp thời trang với cô vợ trẻ đang ngồi kế bên!… Vì vậy thời gian chờ đợi ăn cỗ cưới cũng từ từ trôi qua.
Gần tám giờ vẫn chưa thấy động tĩnh. Giờ nầy ở nhà, mấy ông bà lão chắc đã leo lên giường đi ngủ! Nhạc trong loa vẫn dặt dìu… họ hàng, bố mẹ cô dâu, chú rể vẫn chạy ra chạy vào tiếp đón khách, chẳng biết còn bao lâu mới bắt đầu đây?
Rất may vừa đúng tám giờ thì có tiếng anh MC lên micro thông báo:
– A lô, a lô… thưa quý vị quan viên hai họ… chương trình sẽ bắt đầu trong chốc lát.
– Sắp được ăn rồi!
Một giọng đàn bà già bàn bàn kế bên vang lên, tuy khó nghe nhưng mà mọi người thấy rất chí lý quá!
Anh MC lại xin lỗi lần nữa, bằng tiếng Việt lẫn tiếng Anh, tuy anh chẳng có lỗi gì, nhưng cứ xin lỗi, vì được gia chủ trả tiền, vậy thôi!
Có vài chục người bạn Mỹ còn trẻ, chắc là bạn cùng sở của cô dâu và chú rể cũng kiên nhẫn chờ đợi… nhưng hình như bàn của họ có rượu và đồ nhắm để cù cưa, vì chú rể biết rằng Mỹ không quen cho sự “giây thung” thời giờ của Việt Nam mình.
Rồi cuộc “tiếp rước” cô dâu, chú rể cũng bắt đầu. Khi dàn nhạc chơi bài: “Tàn tan tan tan, tàn tán tàn tan, tàn tan tan tán…”, thì đi vào phòng tiệc đầu tiên là bốn em thiếu nhi, hai nam hai nữ tay cầm hoa, tiếp đến là ba chú phù rể và ba cô phù dâu váy hồng xinh ra phết, họ đi cặp đôi với nhau, cùng thong thả tiến lên sân khấu. Sau hết là hai nhân vật chính cô dâu, chú rể.
Khi “đám rước” đã yên vị trên sân khấu, anh MC liền thao thao bất tuyệt… “nghề của chàng”, là giới thiệu cha mẹ, bà con đôi bên, nói đến tên ai, thì người đó chỉ việc đứng lên ngay tại bàn là được rồi… Cũng đỡ, nếu mà kéo nhau lên trên đó, vừa tốn thêm giờ, vừa sợ sập sân khấu!
Ðám cưới nầy không có cha mẹ hai bên đứng trên sân khấu, mà cho đến khi anh MC mời “tứ thân phụ mẫu” lên, để có đôi lời với quan khách… thì người ta mới biết ai là cha mẹ cô dâu, chú rể.
Cha phia cô dâu nói trước, vì bên Mỹ coi trọng đàn bà là “Number one”. Ông bố cô dâu hôm nay chơi nổi, mặc quốc phục khăn đống, áo gấm lục chữ thọ trắng, cho có vẻ quốc hồn quốc túy… coi cũng tựa như Chú Rể trong phần chào bàn! Ông cầm sẵn một tờ giấy chi chít chữ, rồi đọc như kiểu đọc bài học… Làm cho không ít quan khách lớn tuổi nhớ lại thuở còn đi học trường làng!
Ông đọc ê a hơi lâu, khiến cho bà vợ ông đứng cạnh kéo tà áo dài nhắc mãi. Cặp nầy nhìn cũng không tương xứng. Vì trong lúc ông hướng về “hoài cổ”, thì bà vợ chơi một cái xoa rê “tân thời” hở ngực hơi sâu! Nhìn ngốn cả mắt! Thực khách bên dưới nóng ruột ngồi nghe, anh MC thì cứ như là “nóng đít” lắm, thỉnh thoảng lại giật nảy người lên, lắc mông lên một cái!
Khi ông chấm dứt trao trả Micro, người ta vỗ tay thật to vì mừng thoát nợ, nhiều người thở phào nhẹ nhõm!
Nhưng chưa hết, lần nầy tới phiên “Anh Xui” đáp lời sông núi! Không có không được. Màn nầy anh xui đã chờ đợi lâu lắm rồi! Trong lúc cái bụng của Thu bắt đầu thỉnh thoảng sôi lên, kêu rột rột nho nhỏ, như nhắc nhở cô chủ đã quá giờ ăn, và chờ đợi… thì trên sân khấu, chữ “Thưa quý bà con quan khách”, Anh Xui lập đi lập lại không biết bao nhiêu lần.
Cuối cùng thì “xui gia” nói xong! Cám ơn Trời Phật! Bên dưới bắt đầu ồn lên như cái chợ, khi nhà hàng đem ra món khai vị. Thực khách ào ào nói chuyện với nhau, mạnh ai nấy nói, chẳng thèm đếm xỉa gì đến cô dâu chú rể đang có đôi lời “cám ơn công sinh thành dưỡng dục của cha mẹ…”
Phần trình diện quan khách đã xong, phái đoàn dâu rể theo nhau lục tục bước xuống, vào chỗ ngồi. Bây giờ thì chính thức nhập tiệc, không sợ phải lắng nghe ai nói nữa! Ðây mới là lúc chính thức ăn tiệc cưới.
Các món ăn liên tiếp được bưng ra theo giờ giấc quy định. Trong bàn của Thu & Long, ai nấy cũng đều thấy đã quá trễ cho sự ăn tối nầy. Ban nhạc chơi cho ca sĩ nhà hát trước. Hình như tâm lý các ban nhạc sợ đám đông thực khách không chú ý nghe họ đàn ca, nên vặn âm thanh lớn tối đa.
Long và Thu có quá nhiều kinh nghiệm khi đi ăn cưới, nên hay dặn bạn sắp bàn cho ngồi xa cái loa, thì vô vàn cám ơn. Khi nào vô phước bị gần loa, thì hai tai sẽ bị nhức nhối, buốt óc, về nhà phát điếc cả tuần… vì cảm giác khó chịu. Thường thường, những người đi tham dự tiệc cưới hay văn nghệ, đều có than phiền giống nhau là nhạc mở lớn quá.
Những ca sĩ cộng tác với ban nhạc đám cưới thường không phải “danh ca”! Nhạc chơi bự, họ càng thét lớn hơn… kiểu tiếng hát át tiếng bom! Kết cục: “Cả hai chúng ta cùng gào” ! Kết quả: “Ðám thực khách tội nghiệp cùng điếc!”. Cho nên kết luận: “Ði nghe nhạc từ chết đến bị thương!”
Nói cho cùng, thực khách họ đến để “Ăn… khi người ta cưới”, nên ai cũng mãi bận ăn, ăn và nói! Ít ai đến để nghe ban nhạc ca sĩ hát! Biết điều nầy, ban nhạc phải “nhồi nhét” nhạc vào tai “chúng mày”! Cũng vì như vậy, mà những ai hát trong lúc bồi bưng đồ ăn lên, ít khi được chú ý và vỗ tay, vì khách bận ăn!
Trong bàn của Thu – Long, có hai cặp mặt mày sang trọng, quần áo bảnh bao, nhưng ăn uống thì rất mạnh bạo, món nào cũng không từ!!! Nhất là khi món tôm hùm mang ra, thì có bà hăm hở, không ngại cởi đôi găng tay mỏng để bốc tôm mà gặm! Ăn mà không dùng tay, thì nhiều món không thể thưởng thức tận tình được! Nhất là trong bữa tiệc cưới, món tôm hùm coi như giá trị nhất!
Nói không ngoa, cũng có ông chê là tôm hùm là dở, không thích! ăn thua tôm thường! Và tôm hùm thì nhiều “Choletero”, nên không động đũa! Mấy bà ham tôm được lợi thêm một phần!
Không biết sau đó, khi qua đến món khác, bồi bàn bưng đi mấy đĩa tôm hùm của các bàn khác, có số thực khách sợ “chất béo”, còn trong tình trạng y nguyên, chỉ vơi vài miếng thì như thế nào? Họ để dành ăn, hay là đổ vào thùng rác… Trong khi thế giới ngoài kia, vô số người thiếu ăn thiếu mặc, sống trong những xó xỉnh tăm tối, rách nát, không có miếng gì bỏ bụng qua ngày.
Nói thì nói vậy, chứ bồi bàn cũng tinh ranh đáo để. Món nào ngon còn dư nhiều mà không ai lấy về, thì họ giữ lại để xin chủ đem về nhà ăn. Thời buổi kinh tế khó khăn, phải thế!
Nhiều người chảnh chẹ, đa số phụ nữ tuổi sồn sồn không chồng, đi đám cưới, đám tiệc mục đích cốt là khoe son phấn, áo quần, nữ trang. Ở bàn trước mặt Thu, nàng thấy có hai bà chưng diện, ăn uống rất từ tốn, điệu nghệ, thường hay soi gương tô lại màu môi, chốc lại dặm thêm tí phấn hồng, có khi họ nhìn những người ăn uống thực tình bằng cặp mắt khinh khỉnh, và sự suy nghĩ dành cho người ta không mấy đẹp.
Bưng ra khoảng năm món ăn, khi thực khách vừa lưng lửng cái bụng, thì lại phải ngưng, vì thân bằng quyến thuộc sửa soạn để đón tiếp cô dâu, chú rể đi chào bàn.
Ðến bàn nào, bố cô dâu cũng phát ngôn:
– Chúng tôi cám ơn quí vị đã thương các cháu mà đến đây chung vui với gia đình. Xin mời quý vị tự nhiên ăn uống vui vẻ…
Ðiệp khúc được lập đi lập lại như vậy. Có ông kia lầm bầm:
– Giá lấy cái máy cattsette vặn lên cho nó nói thì đỡ mỏi miệng! Lại là mốt mới!
Nghe câu nầy ai cũng cười… Mà thực đấy, thời đại máy móc tân tiến, làm vậy cũng đâu có lạ!
Có những người đám cưới chủ trương chỉ mời bạn bè, và gia đình có liên hệ thật thân thiết. Thì cũng có đám cưới thích mời thật đông cho thêm phần long trọng. Gặp ai cũng mời, bất kỳ thân quen. Ðến nỗi, nhiều người nhận được thiệp cưới, mà chẳng biết người mời mình là ai!
Theo quan niệm của họ, đám cưới một đời có một lần (thời nay thì chưa chắc, một đời mười lần cũng có), mời lèo tèo mấy chục, một trăm người thì không bề thế. Người ít xã giao, không có bạn, khi nhận được thiệp, nghĩ: “người ta đã có lòng mời mình, thì cũng nên đến mừng cho có vẻ toại lòng nhau…”.
Ở hải ngoại, quen biết thêm một người bạn cũng tốt. Nhiều gia đình làm một cái bản đồ trên tờ lịch. Một tháng chỉ đủ sở hụi đi một, hoặc hai cái đám cưới là cùng. Thời buổi nầy mà mừng đôi tân hôn một trăm bạc coi như là bủn xỉn lắm. Người ta hay đi hai trăm cho một đôi. Thôi thì thiệp đến nhiều đành phải chọn lựa.
Bác Ba cao niên ăn tiền già có bao nhiêu đó, ham vui đám nào cũng đi thì không đủ sở hụi, mà vác mặt đi cho quá ít, người ta “kiềng”! Ðó là chưa kể phải kêu điện thoại hỏi han coi có ai đi cùng, cho mình ké xe. Như vậy thì lệ thuộc vào người kia, cũng không hứng thú gì!
Mặt khác, nhiều “cụ” nghĩ rằng đã đi ăn thì ăn cho đáng… quên mất mấy cái vụ cao huyết áp, cao mỡ, hay cao tiểu đường! Ðến nỗi mỗi lần đi ăn cưới về, là sức khoẻ có mòi không khá, có cụ còn phải đến bác sĩ chuẩn bịnh, hay vào nhà thương cứu cấp…
Một bà tuổi nửa chừng xuân bị bệnh tiểu đường, đi ăn cưới thấy đồ ăn ngon quá, vui miệng ăn không nể nang, lại còn chơi một ly nước ngọt tổ bố! Vì bà cho rằng lâu lâu thả lỏng một bữa thì không ăn thua gì! Thế là lượng đường trong máu tăng vọt lên quá cao, bà gục xuống bàn! Xe “Ambulance” chạy đến cấp kỳ, đèn đỏ loé sáng rực trong đêm… Có những đám cưới, khi đi chào bàn, ngoài hai nhân vật chính, còn có em hay chị cô dâu chú rể, tay xách một cái túi để đựng tiền mừng cho chắc ăn. Nhìn cách thức tổ chức, giống như là thu hụi chết không bằng! Nhưng đám cưới nào thì cũng cách thức như nhau, đành phải chịu thôi!
Người Tàu hay để cái thùng tiền mừng ngay bàn tiếp tân, ai ký tên xong là bỏ bì thư vào đó… . Nhiều gia đình Việt cũng ưa thích tục lệ nầy, để một cái thùng ngay cửa… Như vậy thì đỡ tốn thì giờ… Nhưng lợi nhất có lẽ là nhà hàng, vì họ có thể rút ngắn thời gian được khoảng một tiếng hay hơn. Nhưng sau đó, cũng lại phải chơi màn đi chào bàn, vì có người không biết là cái thùng quà đứng đàng trước, nên không bỏ bì thư vô… nếu không đi chào, thì coi như… “tiền mất nợ mang”!
Khi nhà hàng bưng lên hai món cá và cơm chiên sau cùng, thì nghe có tiếng đàn bà la khóc đàng trước… Rồi thì xuất hiện một cô coi cũng “hồng nhan bạc phận”, bồng con tiến vào sân khấu.
Thế là màn bất ngờ xảy ra. Tiếng ồn ào qua lại, người ta bu quanh bàn anh xui chị xui để thoả tính tò mò… tiếng cô dâu chửi chú rể, tiếng trẻ con gọi má, tiếng anh xui mắng vốn chị xui… Còn hơn một đám hội!
– Thì ra là chú rễ nhà nầy chơi màn “quất ngựa truy phong”…
Bà khách vừa chạy lên gần sân khấu thám thính, trở lại bàn phát ngôn. Cả bàn ngơ ngác nhìn. Ðây là “xen” đáng chú ý nhất trong đêm hội cưới nhau nầy.
Ai nấy đều ngóng cổ lên nghe ngóng, một số người cứ mặc kệ thế nhân, cúi đầu ăn cố, dù bụng đã no kềnh ra rồi… Không ăn thì cũng chẳng biết làm gì? Ði về lúc nầy thì không “nỡ”, vì chưa biết tin chính xác cuối cùng sẽ ra sao!
Nhưng rồi không biết hai bên cư xử ra sao, mà bà mẹ trẻ ngoan ngoãn bồng con ra về. Bây giờ, tới phiên anh MC mới trổ tài “hùng biện”… Anh giải thích rằng đây là sự hiểu lầm đáng tiếc xảy ra… Nhưng anh không nói rõ là ai hiểu lầm ai? Lỗi phải ra sao??? trong lúc hai bên xui gia hằm hằm nhìn nhau… say… đấm! Cả bàn đang thắc mắc thì ông bác lấy vợ trẻ phát ngôn:
– Cái đám nầy rồi không biết được bao lâu! Con vợ dữ quá chừng!
Ai nấy cũng thấy ngao ngán và suy nghĩ lời của ông già! Công nhận sự việc xảy ra không hay, nhưng tiếng của cô dâu chửi chồng xối xả lồng lộng như thế… thì hầu như ai cũng nghe thấy!
Người ta chán chường, nên trước khi đến màn cắt bánh, nhiều người đã ra về… gần ba phần tư nhà hàng! Ăn no rồi, coi sự cố xảy ra rồi, thì còn ngồi làm gì! … đám cưới chỉ còn đa số người nhà, cho dù anh MC mời quí vị ở lại để nhảy đầm với cô dâu chú rể.
Anh nói thì kệ anh, chúng tôi cứ về!
Thu nhìn Long. Bàn của hai người thì đã về hơn một nửa. Ông già lấy vợ trẻ vẫn còn ngồi lại. Long nhìn ông, làm quen:
– Bác ở lại nhảy đầm hả bác?
Chỉ là câu hỏi xã giao cho vui, không ngờ ông già gật đầu:
– Phải, bà đầm tôi mê nhảy, nên tụi tôi ở lại dợt với bả vài bài cho vui.
Bà vợ nghe thế, phản đối:
– Chời ơi… anh mới là người mê chứ không phải em à nha!!!
Ông già cười. Thu nhập cuộc:
– Noí vậy thì ai là người thích nhảy đầm đây? Bác hay chị?
– Sao cô lại gọi như vậy. Kêu tôi bằng anh cũng được… Tôi đã già gì đâu mà gọi tôi bằng bác?
Thu hỏi:
– Xin lỗi chứ bác… à anh năm nay bao nhiêu tuổi rồi ạ?
Chữ “ạ” nàng kéo dài như giễu cợt! Ông già đáp:
– Tôi mới có sáu mươi tư chứ mấy! Coi bả trẻ vậy chứ bà cũng lớn tuổi rồi!
– Lớn là… chị bao nhiêu tuổi?
– Bả cũng năm mươi rồi đó!
Thu ngạc nhiên:
– Thật sao? Vậy mà nhìn chị thấy còn rất trẻ… Em tưởng chị chỉ khoảng ba mươi lăm thôi chứ…
Long chêm vào:
– Bà xã tôi nói đúng. Lúc nãy tôi cũng tưởng chị còn rất trẻ… Công nhận chị hay thật, nhìn trẻ măng à!
Bà vợ nhìn ông chồng, trách:
– Ông nha, chuyên môn là đi khai tuổi của tui cho người ta biết hết trơn à… Ai bảo ông già thì cứ chịu già đi, sao cứ kéo tui vô hoài vậy!
Ông chồng chống chế:
– Thì tui có nói oan cho bà đâu!!!
– Ông khoái nhảy đầm sao lại đổ thừa cho tui?
Giọng ông già ỉu xìu:
– Nói cho vui vậy mà, không chịu thì thôi… làm gì mà cự nự người ta hoài!
– Cự cái gì… anh mới là khó chịu á… bởi vậy nhìn anh mới già háp, còn em thì trẻ lâu là vậy đó!
Nói xong, bà đưa tay nhéo lên cằm ông một cái. Nhìn cũng tình tứ lắm.
Thu và Long đứng lên chào từ giã. Ðêm đã khuya. Ra ngoài trời lành lạnh. Hai vợ chồng đi sát vào nhau. Bãi đậu xe chỉ còn rất ít xe. Ông bảo vệ ốm tong ốm teo đang cầm đèn bin đi lòng vòng quanh quẩn.
– Thằng cha nầy mà bảo vệ được ai… Xô một cái là té liền…
– Thì cũng có người trông coi xe, còn hơn là không có ai!
– Chắc là lương lậu cũng không bao nhiêu!
– Nhìn ổng thì biết… nhưng ổng còn đỡ hơn nhiều người, hoàn cảnh rất tội nghiệp…
Long mở cửa xe cho vợ. Gì chứ vấn đề ga lăng chàng vẫn còn. Không phải là do tự nguyện, mà vì vợ bắt phải làm. Lâu dần thành thói quen.
Thu còn căn dặn Long nhiều thứ:
– Khi nhảy đầm, mời ai nhảy thì xong bài bản, phải nhớ đưa người ta trở lại bàn mới đúng điệu, chứ không phải bỏ con người ta lang thang tự tìm về chỗ một mình… là bất lịch sự lắm đấy nhé! Ði vào một tiệm nào, có đàn bà thì nhớ giữ cửa cho người ta vô trước, đừng có chen lấn mà đi .v.v…
Ðóng cửa xe cho Thu xong, Long lái chầm chậm về nhà. Lúc nãy chàng cũng có uống một ly rượu mạnh.
– Từ nay anh đừng có bao giờ hối em phải đi đúng giờ cho mấy cái đám cưới của người Việt Nam nhé… Lúc nào người ta cũng trể hai tiếng.
– Anh nhớ rồi… nhưng mình là người lịch sự phải đi đúng giờ… Nếu ai cũng đi sớm như mình thì quá tốt… em phải biết là ngày nay, thời giờ cũng quí như tiền bạc. Mời sáu giờ mà tám giờ mới khai mạc, làm cho người Mỹ họ nghĩ sao về mình! Ai không đến đúng giờ thì mặc kệ họ… Phải ghi trong thiệp là đám cưới tổ chức đúng giờ, vui lòng tới sớm… Cô dâu chú rể đã có mặt thì cứ theo giờ đã định mà thực hành. .. Cứ cái đà nầy, ai mà dám đi dự đám cưới người Việt nữa…
Thu cười:
– Anh làm cái gì mà hăng tiết vịt lên vậy! Chuyện đi trễ đã làm nên sách vở rồi!
– Em nói cái gì anh không hiểu?
– Anh nghe câu nầy đây: “Không ăn đậu không phải là Mễ, không đi trễ không phải Việt Nam”!!! Vậy thì còn nổi sùng làm gì!
– Ðâu có sùng, nhưng bực thôi!
Căn nhà đã hiện ra trước mắt. Về tới nhà, thư giản và thoải mái hơn ra ngoài nhiều. Ðậu xe xong, Long khoác vai vợ vào nhà, thì thầm bên tai nàng: “Home sweet home”…

DIỄM CHÂU

Cưới vợ ăn Tết

nguyenleuyen

Trước ngày giỗ cha, chị Đông giở máy, thong thả gọi cho từng người: các em phải về trước một ngày để phụ với má, không được đứa nào vắng mặt. Tám cuộc gọi được phân đều chừng ấy từ không hơn kém Có lẽ không phải do chị tiếc tiền khi phải nói nhiều mà, chỉ vì ngắn gọn thì quyền uy được khẳng định một cách rõ ràng hơn? Và dù là gái đã xuất giá nhưng là chị cả nên cái sự quyền huynh thế phụ được chị thâu tóm và phát huy đến mức tối đa trong gia đình có tới tám cô con gái nắm bím tóc nhau, kẻ trước người sau lần lượt ra đời để reo vui, bổ sung thêm quân số cho bà Trưng bà Triệu. Còn tôi là đứa con trai duy nhất được chắt mót như anh dân nghiện ngửa cổ, dốc đít chai cho rớt vào họng giọt cuối cùng của bữa rượu tàn. Tuổi tôi chỉ nhỉnh hơn đứa con gái đầu chị Đông có sáu bảy năm. Đó cũng là lý do để đôi lúc chị giả tảng không coi tôi là đứa em út ét mà đối đãi ở hàng con cháu!
Lệnh điều động của chị được mọi người răm rắp thực hiện giống như một cuộc dạo chơi tình cảm. Chị Ty về trước tiên trên chiếc Civic bóng loáng với những bánh trái chật cốp sau. Trong khi chồng kệ nệ bưng những túi nặng thì chị ngó nghiêng, miệng hát nghêu ngao bài Back to Sorento, như thể hai ông bà vừa lái xe từ vạn dặm về chốn quê nhà? Sau đó chừng nửa tiếng, chị Khảnh bước xuống taxi với chiếc bụng vượt quá mặt, lặc lè ôm bụng và ôm bó hoa ly to tướng khó nhọc bước vào sân. Chị Nam đi xe máy đèo theo chị Sâm lủng lẳng giỏ trái cây. Ba bà còn lại có lẽ đang ở trong cái spa nào đó để ủi mặt, duỗi tóc trước khi về sì sụp lễ cha, và câu nói cửa miệng của ba bà này sẽ là:cuối năm, công chuyện cơ quan ngập đầu. Câu nói sẽ bay xẹt qua lỗ tai các ông chồng mang bộ mặt thoả hiệp và đồng cảm với công chuyện bộn bề giả hiệu của vợ trước khi lọt vào lỗ tai má tôi. Chị Minh áp út, đẹp nhất nhà dắt tay ông anh rể vừa mới cưới nhau cách không lâu, như thể nếu chị không cầm tay anh dẫn đường thì rất có thể anh sẽ nhầm chị Minh với ai đó trong nhà, giả hoặc anh không biết lối nào vào nhà mà không lộn qua nhà hàng xóm? Cách thể hiện tình yêu của anh chị Minh, chính yếu là chị Minh, có hơi vẻ sên sến, cải lương một chút nhưng lại thích hợp với khung cảnh trời mây ở đất quê đồng nội nếu chỉ duy nhất có hai người trong khoảng không gian này.
Thường ngày căn nhà vắng teo, đã rộng càng thênh thang hơn khi chỉ có má và tôi; còn giờ này thì ồn ào, náo nhiệt cứ như đám đông người đang chen lấn nhau xem hát áng. Mỗi năm chỉ duy nhất có hai lần được làm ồn là dịp giỗ cha và ngày tết. Nhưng hai cái ồn cũng hơi khang khác tí đỉnh. Cái ồn trước có chút ngùi ngùi vì mùi nhang, mùi khói đốt vàng mã, thỉnh thoảng vài giọt nước mắt bị dồn nén trước kia nay được dịp rịn ra tựa như nước lỗ mọi rỉ ra từ bờ ruộng cao làm đậm thêm màu đỏ đôi đèn sáp nhểu giọt ngập ngừng trên bàn thờ. Còn cái ồn sau là tiếng cười của ba thế hệ cộng lại thành niềm vui cùng những hạnh phúc riêng tư khoe mẽ, theo thông lệ muôn thuở: đầu năm mới chỉ có vui cười. Có buồn cũng phải giấu kỹ dưới đít giường chờ ra giêng!
Lúc tôi bưng nia lá gói bánh ngang qua chỗ chị Đông ngồi xào nhưn trên bếp lò, chị liếc tôi buông thõng một câu kiểu anh chận vịt ném cây sào cắm sâu sau đít bầy vịt đang lội qua ranh giới hạn: “Mày thì liệu cái thần hồn”. Tôi giả bộ như không nghe chị nói gì, quay ngoắt lại định bụng kéo anh Minh ra quán đầu ngõ.
– Này không nghe thiệt hả?
– Chị bảo gì ạ?
– Giỏi, giống cha in đúc, chỉ khéo cái giả lơ. Nói cho mà biết, kỳ giỗ này tao mời chị tư Lam và cái con bé đó sang ăn giỗ cha. Nghiêm túc một chút đừng có trẻ con nữa.
– Chị mời ai thì ảnh hưởng gì tới em? Bộ chị tưởng em tiếc đôi đũa, cái chén sao?
Chị Đông gõ đôi đũa xào nhưn đang cầm trong tay lên vành chảo kêu rừng rực như người mắc cụt:
– Sao? Nói vậy mà nghe được à? Hăm tám hăm chín rồi, nhỏ nhít gì nữa. Có nghe nói tam thập nhi lập không? Đâu còn là đứa trẻ con? Cũng phải vợ con rồi lo làm ăn chớ bắt ai nuôi mãi.
-Thì em làm việc em nuôi em chứ ai nuôi em?
-Còn má?
-Má sao?
-Ai chăm sóc?
-Chớ ai vô. Tám bà cộng lại thì được mấy ngày trong ba trăm sáu lăm…
-Á, à dám trả treo, lại bày thói phân bì chứ gì? Em lôi đâu ra cái kiểu ấy về nhà này, hả?
-Thì rõ vậy chớ còn gì nữa.
-Không đôi co. Các chị và má đã quyết rồi.
-Quyết cái gì?
-Mời chị Tư và con bé đó qua chơi nhà, tiện dịp mấy chị mày coi mắt luôn – Chị Đông xuống giọng – Hiền, đẹp, nết na, tốt nghiệp khoa Văn loại khá. Hợp, chị nghĩ rất xứng đôi. Chỉ ngặt nỗi chị Tư hơi nhỏ hơn má tới hơn hai chục tuổi, nhưng không sao. Má nghe nói đã ưng rồi –
Tôi cười thầm sao chị không nói bằng tuổi chị có dễ hình dung không, nhưng sợ chị giận, bèn nói ngang:
-Thích thì chị lấy cái con nhỏ gì đó đi, can dự gì đến em? – Nói và tôi bỏ đi.
Chị Đông há hốc miệng nhìn theo như thể tôi đang hoá kiếp từ con người bình thường sang loài động vật khác một cách từ từ, thong thả nhẩn nha, thong thả hoá kiếp. Dưới mắt chị lúc này, có lẽ tôi là con tắc kè trên ngọn cây, đổi màu và lẩn nhanh đâu đó ngay trước mắt không thể nhìn thấy?
Anh Minh thấy bộ mặt nhăn nhó của tôi ngoài thềm giếng, bèn lên tiếng:
-Kỳ này em bị khủng bố nặng rồi.
Tôi không phản ứng, bỏ ngay ý định rủ anh ra ngồi quán.
2. Má tôi đứng trước bàn thờ lâm râm khấn vái những gì đó thật lâu. Khói nhang quyện đặc gian thờ. Những chân nhang trong bát hương đỏ thẫm, hai cây nến đỏ thẫm, màu sáng cây đèn hột vịt phải nhờ đến ngọn néon mới nhìn rõ ảnh thờ cha tôi treo trên cao, phía dưới giá đỡ tượng Phật bà Quan Âm. Vẻ đẹp trai, phong lưu vẫn rung rinh đâu đó trên khuôn mặt chữ điền, đôi mày rậm, miệng như nở nụ cười từ bộ râu vểnh ngược, nom giống một quí ông ở thời kỳ Phục hưng. Khổ nỗi, hình ảnh bộ râu quí tộc bị chiếc khăn xếp và áo dài hoa văn chữ Thọ trên bức chân dung đã phá cách vẻ đẹp mã một cách khó coi, không hợp với khuôn mặt luôn nhìn thấy điều gì cũng dung dị, đẹp; đời cứ như bông hoa không bao giờ tàn vậy. Bức chân dung ấy còn mang cả đôi mắt sáng ngó thẳng về phía con, rể đứng sắp hàng kẻ trước người sau, như muốn nói: Cha rất hài lòng vì các con. Đôi mắt ấy cũng ngó về phía má tôi và nói thật to: Dù anh đang ngồi trong khung kính nhưng tim anh vẫn dành trọn cho em. Tôi nghĩ, rất có thể má có nhìn thấy và nghe được những điều này qua linh cảm, vì thỉnh thoảng má đưa tay lên mắt, thỉnh thoảng sụt sịt. Có thể là do khói nhang nghi ngút, có thể là má nhớ thực lòng. Không nhớ, không thương yêu nhau sao lại khóc, lại lắm con thế?
Tiếng nói nhỏ nhưng vang như tiếng chuông khiến ngọn nến đang cháy thẳng đứng bỗng lay nghiêng, chao qua trái qua phải chực rụng xuống bàn: Mẹ ơi, khói ngợp thở quá mẹ ơi! Tiếng chị Sâm quát khẽ: Im, ráng thêm chút nữa, đừng ồn. Lại một giọng nữa cất lên, giọng con gái: Đói quá mẹ ơi, cúng gì lâu thế?
Khối đám đông con cháu trước bàn thờ cha tôi từ tư thế nghiêm trang bổng rục rịch, chuyển động tại chỗ, chỉ thấy phần trên. Vậy chắc cũng đủ để cha tôi thấy được sự ấm cúng hạnh phúc của gia đình nếu ông còn có thể nhìn thấy từ bức ảnh lồng kính, treo trên cao?
(…) Lễ cúng trôi qua chậm chạp như khúc bi ca lỗi nhịp và kết thúc bằng những cái vái lạy, vàng mã đốt khói um đầy nhà, muối gạo ném vãi trắng sân. Khách khứa đã tới gần đủ. Các chú bác, những người thân trong gia tộc đâu hơn mươi người được chị Đông sắp ngồi ở chiếc bàn tròn lớn ngay đầu hồi tây, nơi trước kia cha tôi và các chú bác hay ngồi nhâm nhi ly rượu, tách trà nói chuyện đông tây. Anh Đông và anh Ty thay mặt gia đình ngồi tiếp. Gian phòng khách ở dưới bày một bàn khác có má tôi, cô Sáu, các anh chị và hai mẹ con bà bạn chị Đông.
Thừa lúc mọi người không chú ý, tôi vẫy Khôi, con chị Sâm ra chỗ để xe. Thích quá, nó hét to: dạ để con tìm chiếc mũ. Tiếng la của nó khiến mọi người chú ý. Và vì tôi là nhân vật đang được canh giữ cẩn mật, nên khi tiếng thằng bé vừa dứt, chị Đông đã đứng sát cạnh như bà nữ cảnh sát hình sự đang tác nghiệp: Mày làm cái trò gì vậy, thằng khỉ? Tôi nghe hai hàm răng chị riết lại thành tiếng: vào nhà ngay. Khôi chưng hửng, nhùng nhằng kéo quần tôi, còn chị Đông thì ép sát người níu dây thắt lưng đẩy tôi vào nhà như đẩy tên tử tù lên xe cây. Thôi đành lòng vậy, tôi thầm nhủ.
Chị ấn tôi ngồi xuống chiếc ghế trống, giữa chị Khảnh và chị Quế, đối diện với mẹ con bà Tư, cố ý để hai phía “đối tác” có thể nhìn rõ mặt mũi,cử chỉ của nhau. Chị Đông mào đầu bằng những câu nghi thức vòng vèo từ thời ông Bành Tổ, Khổng Tử rồi mới vào phần chính là trước ăn giỗ sau để quen biết, thân tình nhau hơn. Tôi xoay xoay cái chén trống trơn ước chi chị biến ngay thành đàn ông thì cái nhà này đỡ đi nhiều việc, ít nhất là không phức tạp hoá mọi chuyện.
Bình thường, những khi cả nhà họp mặt đông đủ thì đến cả chén đũa, ghế đẩu cũng rung rinh cười theo tiếng cười của tất cả mọi người, đến cả má cũng hào phóng tham gia. Còn bữa nay, phần bắt đầu theo nghi thức ngoại giao khiến không khí nặng nề; tiếu lâm như chị Quế, chị Sâm cũng ngồi cắm đũa giữ lễ.
Thấy chị Đông to nhỏ gì với bà Tư, tôi chợt nghĩ và đứng dậy cầm ly bia:
-Con mời má, mời chị Tư, mời cô và các anh chị…
Chị Đông giật thót người, thiếu chút nữa là đánh rơi đôi đũa xuống đất. Chị há hốc miệng nhìn tôi rồi ngó lên trần nhà. Tôi thấy mặt chị tái đi đến tội nghiệp. Chị Quế huých khuỷu tay vào hông tôi, nói nhỏ “điên”. Tôi đá vào chân chị có vẻ hơi mạnh, chị đau suýt bật thành tiếng la, trong khi những ly bia cứ lưng lửng trên tay một cách khó hiểu.
Thật lòng, tôi không có thành kiến gì với mẹ con bà bạn chị, nhưng do cung cách thái quá của người chị kiêm bảo mẫu khiến tôi trở thành thằng nhỏ thật sự. Giây phút đăng đắng trôi qua như những ngụm bia đang ngắt ngứ trôi lọt xuống bao tử.
Không khí vui vẻ được nối trở lại. Mọi người xúm vào vừa hỏi thăm mẹ con bà Tư vừa gắp thức ăn chăm chút cho hai người như cố xoá lấp phần lỗi không đáng có do tôi gây ra lúc nãy.
Giờ tôi mới để ý quan sát hai mẹ con bà bạn chị Đông. Bà ta trạc tuổi chị, lưỡng quyền hơi cao, đôi mày được chăm sóc quá kỹ khiến mỗi khi bà cười, các nếp nhăm dưới khoé mắt dính sát vào đuôi chân mày một cách khó coi. Có lúc tôi tưởng tượng phía đuôi mày là phần ngọn của chiếc cần trúc đang lòng thòng với dây nhợ lưỡi câu bên dưới. Tuy vậy bà có duyên nhờ chiếc miệng lúc nào cũng muốn cười với tất cả những ai đang đối diện với nó. Cô con gái chắc bằng tuổi hoặc hơn Hà My – con gái đầu anh chị Đông – chút đỉnh; nước da màu bông bầu, mũi cao, mắt sáng, khuôn mặt trái xoan, phúc hậu; nhưng hình như phía dưới khoé mắt có nốt ruồi nhỏ bị cố tình che lấp bỡi lớp phấn dày. Nếu quả thật đây là nốt ruồi thì cô ta bị liệt vào hàng ngũ của đám phụ nữ có số trích lệ khấp phu, theo như quyển sách tướng số phụ nữ mà tôi đã đọc ở đâu đó ? Loại phụ nữ này, ngày xưa ông bà rất kiêng kỵ, còn thời nay có thể sẽ khác đi. Nhưng đó sẽ là cái cớ để thoái thác, để nói với mọi người rằng: tôi là con độc đinh, thuộc loại quý hiếm của gia đình cần bảo vệ, không thể biến tôi thành vật hiến tế dưới bàn tay cô ta được. Tóm lại là không thể vợ con.
Thật lòng mà nói, tôi không ác cảm gì với cô ta và cũng không thấy có điều gì làm xốn xang cõi lòng, chỉ thấy cô lẻ loi, tội nghiệp, khép nép trong không khí không bình thường.
Thấy tôi chú ý quan sát hai nhân vật đặc biệt trong bàn ăn, hết chị Quế rồi chị Khảnh quay sang khuyến khích: Chị thấy đám này được đấy, chỉ cần tìm hiểu thêm tính tình… Chị cho 8/10. Tôi trả lời nếu 10/10 thì thành hoa hậu thế giới rồi. Chị Khảnh: chị thấy má có vẻ hài lòng. Thì đó là cặp mắt xanh hay mắt hồng của má, tôi trả lời. Chị Khảnh: bậy, chị cũng thấy con bé có vể hiền, em tìm hiểu từ từ. Mẹ đang mong có cháu nội đó, em biết không?
Cách nói của chị Khảnh se sẽ, ngùi ngùi giống anh thợ cày cầm chiếc dùi nướng đỏ trên lửa dùi từ từ vào ống tre tươi, kêu xèo xèo làm hoang mang cõi lòng. Tôi sờ chỗ bụng nhô cao của chị: ước chi chị là anh trai em nhỉ?
Cuối buổi tiệc, lúc người nhà dọn lên dĩa trái cây tráng miệng, tôi chồm người bóc múi bưới chìa về phía bà bạn chị Đông, nói trổng: xin mời; một múi khác về phía cô gái, người mà chị Đông muốn mang về làm em dâu, nói: mời chị. Các chị cười ồ. Tôi là kẻ đỏ mặt trước tiên chớ không phải cô gái và lúng túng làm đổ phần bia thừa trong ly vãi ra bàn, bỡi tiếng cười đồng loạt cất lên chỉa về hướng tôi giống như những mũi tên của các chiến binh thời Trung cổ xông trận vậy.
Tôi rút êm bằng cách giả bộ đỡ ly bia ngã mang xuống bếp, đi vòng ra sau vườn. Liếp vạn thọ non đang đâm nhánh chẳng mấy chốc sẽ nở xoè những bông vàng rực. Vậy mà tôi không làm được điều mà má và các chị mong đợi. Sao vậy?

NGUYỄN LỆ UYÊN

Cảnh Tượng Tháng Giêng

trandzalu

Về đây mỏi cánh chim trời
ngó sông khói đụn,trông đời dần thưa
mùa xuân ngắt tạnh như tờ
én trong mưa bụi bay khờ lẻ loi

Về đây đời cắt thành đôi
đêm tôi bó rọ, ngày phơi tật nguyền
tay đàn rung nhớ tình em
trăm năm buồn nỗi bất bình thế gian

Về đây cảnh tượng điêu tàn
mơ mơ nhân ảnh, bẽ bàng gương xưa
hồn buồn vọng những âm mưa
áo xanh Tôn Nữ bây giờ về đâu?
bất cần sao vẫn còn đau
mùa tôi dựng tóc lạnh màu thanh niên…

TRẦN DZẠ LỮ
*1973

lời chào ngày Xuân

khalycham

chào ngày mới chào giọt sương lấp lánh
chào nắng ban mai chào lá biếc trên cành
chào tiếng chim hót bên cửa chiếc lồng xanh
chào hơi thở xuân trong cây đời nứt nhựa

ngày mới lên núi chơi hay bước nhẹ vào chùa
chung đài ngân vang chốn bình yên trầm mặc
chào núi tuổi triệu năm nhìn người đi xuôi ngược
thầm hỏi lòng tâm nguyện những cầu-xin?

ngày mới cụng ly để nhớ thuở chúng mình…
nhớ hương bờ môi dù màu thời gian xám lặng
ngày mới chào ta bóng nghiêng theo ngày nắng
chào câu thơ hóa thân trong bùn đất ngọt ngào

chào con sông quê thơm ngát lời ca dao
ta tắm mát hồn lang thang theo dòng chảy
chợt bắt gặp tuổi thơ bàn tay vẫy
thuyền giấy bềnh bồng chở mơ ước về đâu ?

xin chào đất trời cao rộng biết dường nào
chào những trái tim đang cùng nhịp đập
chào hạnh phúc trên những con đường trong mắt
chào ngày xuân ta thêm tuổi sống làm người.

KHA LY CHÀM

NHỮNG VÒNG TRÒN XIẾC(TT)

khuatdau

xiếc của làng

Con đường đất mà người bộ hành xa lạ đang đặt những bước chân bồi hồi, giống như một con trăn dài bất tận, nó lặng lẽ trườn mình qua những thôn xóm với những cau, những chuối, những rặng tre, những mái nhà… tưởng chừng là giống nhau nhưng có ở quê ra mới biết mỗi làng mỗi khác. Chẳng những khác về mức độ giàu nghèo, về phong tục tập quán, mà còn khác về cái mùi vị rất riêng của từng làng. Không phải mùi hoa bưởi hoa cau trong những đêm trăng, cũng không phải mùi trầm nhang trong những ngày tết, mà có khi là mùi bột chua chua của những lò bánh tráng, mùi hèm nồng nồng của các lò rượu, mùi đậu chín thơm béo của các lò ép dầu…
Làng, ông không còn nhớ tên, nhưng nhớ nó nằm cạnh một con sông mà hàng tre chạy theo ven bờ lúc nào cũng rì rào lá rụng. Thời gian bạc bẽo gần như đã xóa mờ đi tất cả chút ký ức mơ hồ của ông, ngoại trừ cái mùi mật đường của những lò cốm trong làng, một mùi đậm và gắt như mùi của những xóm vạn làm nước mắm, nhưng ngọt ngào và thơm tho hơn.
Khi nghe cái mùi không thể nào quên ấy, ông tin là đã về tới làng của mình.
Ông bước vào một hàng quán thấp đến nỗi phải cúi gần như sát đất mới chui vào được. Bà chủ quán, mà tuổi già và cái sự nghèo cũng giống như mái tranh mục nát, đang ngồi cời lửa bên cạnh ba ông táo bằng đất cùng đội trên đầu một cái om lọ nghẹ đen xỉn. Không cần hỏi cũng biết khách cần gì, nên bà liền đặt một chiếc bát sành trên cái chõng tre, với lấy cái gáo múc nước lạnh trong vò đổ vào chừng nửa bát, rồi dùng một cái kẹp bằng tre nhấc cái om đang sôi rót xuống long tong một thứ nước màu cánh gián. Bọt sủi lên tràn vun miệng bát, thơm mùi lá khô gọi là chè, vừa đủ chát để làm miệng bớt đắng và vừa đủ ấm để trôi qua cổ họng.
Thay vì, như những khách đường xa, bưng bát nước lên thổi bớt bọt rồi nín thở uống cạn một hơi, khà một tiếng, lại chìa bát ra cho bà rót thêm bát nữa thế mới đã khát, thì ông cứ ngồi nhìn những bọt trắng chậm rãi tan đi như bọt xà phòng. Có điều gì đó gần như niềm xúc động, vì đây là lần đầu tiên ông uống một bát nước chè, mà lại là bát nước chè mộc mạc của nơi chôn nhau cắt rốn.
“Uống đi kẻo nguội, mất ngon”, bà chủ quán giục.
“Ờ, bà cho xin thêm miếng cốm”.
“Cốm bắp hay cốm gạo?”
“Cốm gì cũng được”.
“Cốm bắp nghe, còn răng ăn cốm bắp ngon hơn”
Ông nhìn bà, hơi bất ngờ vì lời khuyên thật thà của một người mà hai hàm răng chỉ còn trơ hai cái lợi. Thực ra ông cũng chẳng còn đủ răng, nhưng nghe lời bà ông cũng cố mà nhai và cũng là lần đầu tiên ông thấy còn răng ăn cốm bắp ngon hơn, vì ngoài mùi vị ngọt thơm ông còn nghe thấy tiếng kêu rào rạo của những hạt bắp vỡ ra dưới những chiếc răng còn khỏe mạnh.
Ông ăn hết miếng cốm, uống cạn bát nước, định lân la hỏi thăm bà về người mẹ mà ông chỉ còn nhớ loáng thoáng hai hàm răng đen bóng sáng lên mỗi khi cười. Đúng lúc ấy, bà lão hỏi: “ngó bộ, chú không phải người quanh đây?” Ông định buột miệng: “tui là người của làng này mà”, nhưng cứ nghe cái giọng lúc nào cũng nẩy tưng tưng như những đồng bạc cắt rơi trên mặt đá khác hẳn với cái giọng bè bè ngang ngang của mình, ông nói:
“ờ, không phải, tui ở nơi khác tới”.
“Thăm bà con hử?”
“Ờ, thăm bà con”, ông đáp lửng lơ.
Ông định nói “tui đi tìm mẹ”, nhưng chẳng biết mẹ tên gì, cao thấp ra sao, cùng lắm là phải biết vợ của ai, làm ông gì bà gì, chứ nói khơi khơi thì đố ai mà biết được, nên ông chỉ ngồi im nhìn bà lão, tự hỏi không chừng đây là mẹ của mình chăng? Ờ, biết đâu đấy, ông nghĩ, mẹ mình chắc cùng lứa tuổi với bà và ước chi bà là mẹ của mình, ông sẽ quỳ xuống bên cạnh, nắm lấy bàn tay nhăn nheo của bà mà nói, “con đây mà mẹ!”
Cũng có thể nãy giờ bà ngờ ngợ sao đó, cố đem cái hình ảnh của đứa bé đã mờ đi quá nhiều vì năm tháng ra so với người đàn ông đang ngồi trước mặt, rồi chợt mếu máo hỏi: “có phải chú là… là con của tui phải hôn?!”. Nhưng chẳng có dấu hiệu nào báo trước một cuộc đoàn tụ đầy nước mắt, bà chỉ lặng lẽ cầm lấy bát úp lên chỗ cũ, tắt bớt lửa trong bếp, rồi lấy cái cối giã trầu ra ngồi ngoáy như thường lệ. Ông đành đứng dậy trả tiền, ra khỏi quán, tiếp tục bước đi.
Lúc này đang vào giữa ngọ, trời nắng chang chang, cái bóng của ông như một bãi hắc ín xê dịch giữa hai bước chân. Vào giờ này mà đi như thế, ông giống như một lão thợ hoạn, chỉ khác là không có tiếng rao heo thiến hôn? mà cái tiếng “thiến” lúc nào nghe cũng lạnh và sắc như con dao.
Giờ là lúc những nong bắp phơi trước mọi nhà đang nóng rực lên, chờ được đổ vào những chiếc chảo rang. Bắp nóng gặp cát nóng liền đồng loạt nổ bung, cho ra một thứ gọi theo tiếng nhà nghề là “nổ”, trắng và thơm như bông bưởi. Ông nhận ra mình đã từng nghe tiếng nổ rào rào ấy, từng hít thở cái mùi thơm của nắng, của gió, của đất và cả mùi mồ hôi của mẹ trong những năm đầu đời. Nhưng người đàn bà nào trong làng này là mẹ của tôi? Và, trong số những mái tranh nghèo này, mái tranh nào là mái nhà của mình? Những câu hỏi bật lên một cách vô vọng khiến mắt ông như mờ đi.

Cuối cùng người khách lạ cũng tìm ra được ngôi nhà của mẹ mình, phải nói là nơi đã từng là nhà của mẹ thì đúng hơn vì chỉ còn trơ lại cái nền nhà với cỏ vàng hiu hắt. Khi ông bảo mình là đứa bé năm xưa theo mẹ ra chợ rồi đi lạc thì có một người già như bà lão đổi nước, nói: “vậy hả?, hồi đó trong làng xao xác dữ, té ra chú mầy là thằng Quạ đó sao?”, ông gật đầu và mơ hồ nhớ lại cái tiếng mẹ kêu “Quạ ơi, Quạ ơi, về nhà ăn cơm” vang lên văng vẳng, mà tiếng “ơi” bao giờ cũng ngân dài tha thiết.
“Chao ơi! bà ấy chết lên chết xuống! Ai cũng nói chắc là nó bị bắt bỏ vào bình để ngâm rượu, nghe nói thế sao mà không chết ruột chết gan!”.
“Rồi sau đó mẹ tôi ra sao?”, ông hỏi thêm.
“Thì bả lặn lội đi tìm chớ sao. Ban đầu là hỏi ông Sáu chèo đò, ổng bảo là có chở nó cùng với vợ chồng thằng cha hát xiệc. Sau đó bả đi coi thầy, thầy nói đại nó chưa chết đâu, bả cũng mừng”
Dừng lại bập bập điếu thuốc vấn bằng lá chuối khô, ông già nói tiếp:
“Rồi bả bỏ cái chỗ này mà đi, chắc là đi tìm chú mầy chớ đi đâu, nhưng tận trong cái xứ Cà Mâu xa xôi, chắc gì tìm được! Còn chú mầy sao mãi bây giờ mới về? Muộn quá rồi!”.
Ừ muộn quá rồi! Từ khi đặt bước chân ở đầu làng, ông lờ mờ cảm thấy cái ngày trở về của mình đã quá muộn. Ông đứng nhìn những tàu lá chuối gió thổi te tua, nhìn lên nền trời bàng bạc, cố hình dung cái dáng hớt hơ hớt hãi của mẹ mình bương bả đi tìm con, thấy búi tóc mẹ sổ ra, thấy chiếc nón không đội trên đầu mà cầm trên tay, thấy đôi bàn chân không giày dép, hai gót chân nứt nẻ bám đầy bụi…
“Mà bả không bỏ đi lúc đó, ít năm sau cũng phải bỏ đi thôi”, ông già lại trầm ngâm tiếp tục câu chuyện của xóm làng trong đó có chuyện của chính mình, “làng bị thả bom cháy sạch trơn không còn cái nhà nào, bà vợ tui, tội nghiệp cũng bị chết thảm!”.
Có dịp nhắc lại chuyện cũ, mắt ông đỏ hoe nhưng cũng chẳng còn giọt nước mắt nào để làm cho nó dịu bớt.
Ông đứng lên, “thôi tui về, chú mầy chắc còn ở lại lâu, bữa nào ghé lại tui chơi.”.
Dạ, cụ về, cảm ơn cụ đã cho cháu biết ít nhiều về mẹ cháu.”
“ờ”, ông vẫn còn nấn ná, “bà ấy cũng tội nghiệp lắm, hết khổ vì chồng lại khổ vì con!”
Thế ra mình cũng có một người cha làm khổ mẹ như mình! Mình thì ham chơi mà đi lạc còn cha mình thì sao? Ông nghĩ rồi sẽ hỏi lần ông cụ, lâu nay ông chỉ nghĩ tới mẹ, mà quên mất mình hãy còn một người cha cũng cần phải nghĩ đến.

Ông tính mình sẽ mua tranh tre, cất một ngôi nhà nhỏ. Không gì quý hơn là có một mái nhà ngay tại nơi chốn mình đã sinh ra. Chính trên mảnh đất già cỗi này, cha mình đã cầm lấy cuốc ra góc vườn, đào lỗ đặt một cái nồi đất trong đó có đựng nhau của mình. Nó tuy không còn dính với khúc ruột, nhưng nó chưa chịu lìa xa, chưa chịu mất hẳn, nó hãy còn đâu đó và nối với mình bằng một dây rốn dài, nên chi, khi ông già nói “đây là vườn nhà của chú mầy”, thì tự dưng lòng ông nôn nao, tưởng chừng như mỗi cọng cỏ, mỗi lá cây đều có chút gì hơi hướng của ông.
Những ngày sau, khi phát cỏ dọn vườn ông bắt gặp một cái chảo gang đã bị vỡ, chảo rất to dùng để thắng mật trộn bắp, một cái nồi đất cũ để nấu cơm có con cóc làm hang ngồi trong đó, một con dao đã rỉ sét, mấy cái chén sành sứt mẻ. Ông cẩn thận lau chùi để qua một bên, hơi buồn khi nghĩ rằng đây là gia tài của mẹ. Rồi ông lại nhặt được một con dao găm, mấy hạt nút bằng đồng có hình mỏ neo, một khung ảnh lồng kiếng ố mờ, ông tin chắc là của cha mình xúc động đến muốn khóc, nhưng khi mở ra chỉ thấy lẫn lộn một thứ bột xam xám như tro chứ chẳng có hình ảnh nào cả.
Có mấy người bảo là bà con nghe ông về tới thăm, rồi giúp ông làm nhà. Một người là cậu họ, một người là em bạn dì, chẳng có ai là người bên nội. Hóa ra đây là quê ngoại, mảnh đất này là của ông bà ngoại cắt cho con gái, mẹ ông đã ở đây sau khi không sống được với chồng.
“Sao vậy?”, ông hỏi.
“Thì ghen chớ sao! Cha mầy đi lính Tây, hết giặc đem theo về một con đầm lai, ở sao nổi!”.
“Dạ cháu biết có nhiều người hai ba vợ mà vẫn ở chung”.
“Ở thì cũng được, nhưng phải hầu hạ nó như đầy tớ, chịu sao nổi!”
“Bà đầm ấy chắc đẹp?”
“Ờ, cũng đẹp và nó nghĩ rằng mình đẹp nên nó bắt ai cũng phải hầu hạ nó, kể cả chồng, cha mẹ chồng chứ không riêng gì mẹ mầy”.
“Thế, ông già của cháu giờ ở đâu?”
“Ở trong mả chớ còn ở đâu nữa. Hồi đó mà, dính tới Tây và Nhựt là bị giết!”
Người cậu họ ngần ngừ một lúc rồi thở dài, nói:
“Ông già mầy chắc cũng còn thương mẹ mầy, nên xác nằm trong bao bố rồi mà hồn vẫn cứ lẩn quẩn. Sáng hôm đó đứng giặt đồ dưới sông, mẹ mầy thấy một cái bao tấp vào chân không chịu trôi đi. Bớ làng bớ xóm kéo lên, mới tá hỏa thấy cha mầy nằm trong đó!”
Những trang sách của đời ông cứ dần dần được mở ra, cho dù qua lớp bụi thời gian, nó như vẫn còn mới nguyên, ở đó mẹ ông, cha ông đã để lại những thứ mà không ai muốn, là những tai ương, những đắng chát làm của để dành!

Ngôi nhà chừng 10 ngày đã làm xong, một cái nhà tranh vách đất. Bữa cúng mừng nhà mới còn có thêm ông cụ hôm nào. Cụ khen:
“giỏi đấy, mới về mấy bữa mà đấ cất được nhà. À, có ông Bảy Quế đây, hèn nào cất nhà chẳng mau”. Ông Bảy Quế té ra là tên của cậu họ, giờ ông mới biết.
Ông rót rượu vào chén của mọi người, trịnh trọng:
“xin mời cụ, mời cậu, mời chú em, xin cảm ơn đã thương mà hết lòng giúp đỡ”. Ông cạn chén, mắt rưng rưng. Đây là chén rượu mà ông tưởng chừng như đựng đầy nước mắt. Phải chi là chén cơm của mẹ thì ngon biết chừng nào!
Ông cụ cũng cạn chén nói:
“Qua cũng mừng cho chú mầy, bị mẹ mìn bắt cóc mà nay vẫn tìm về được quê cha đất tổ là giỏi. Chớ mầy trôi nổi những đâu, vợ con thế nào rồi, mà nay về có một mình vậy?”
“Dạ!”, ông đáp lời,
“chuyện của cháu dài lắm, thì cứ biết cháu còn sống ngồi đây với cụ, với cậu và chú em này là quý lắm rồi, chuyện gì nữa thì để nói sau”.
Ông Bảy Quế cũng nói thêm,
“chắc là chuyện không vui, tôi cũng có hỏi nhưng cháu nó không nói, thôi uống đi anh Chín”.
Ông cụ thứ chín cạn thêm chén nữa, ngồi trầm ngâm không ăn, ông nói:
“Xứ này là xứ của Hời, ông bà mình nói, Hời nó đi để của lại nhiều lắm. Bao nhiêu là vàng bạc, châu báu, vua quan lấy hết đem về bắc. Còn lại cái đất này, toàn rừng thiêng nước độc, thì dành riêng cho những kẻ tội đồ, những người bị án chém mà chưa chém. Họ bị đưa vào đây nếu không chết vì bị dân Hời giết thì cũng chết vì lao dịch. Muốn sống họ cũng phải giết người”.
Ngừng một lúc, ông cụ lại thở dài:
“Tổ tiên ông bà mình đấy, sống như thế bảo sao con cháu không buồn!”
Tan bữa rượu, ai cũng bảo ông ráng kiếm một người đàn bà, đẻ vài đứa con để nối dõi. Ông cũng ậm ừ vậy vậy.

Cái buổi trưa hôm đó đã quét ngang qua đời ông như một cơn gió lớn. Chẳng những nhổ bật hết mọi gốc rễ mà còn ném ông vào cái dòng đời xa lạ, với những thác những ghềnh, khác hẳn cái ao làng bé nhỏ và tĩnh lặng này.
Giờ đây cái chợ quê nghèo nàn đã không còn, chẳng có gì làm chứng cho cuộc chia ly ngoài cái bến đò mà ông lái đã chết từ lâu. Trên khúc sông đó, nay vắt vẻo một cây cầu, nơi bọn trẻ ngày nào cũng chạy ùa ra nhảy tòm xuống tắm.
Ông về tới làng đã gần tròn năm. Cây trái trong vườn cũng đã lên xanh. Đã ra vẻ một gia đình, nhưng chỉ có mỗi mình ông ra vào thui thủi.
Ông hãy còn một người mẹ, thật khó mà tin rằng bà vẫn còn sống đâu đó trên cái đất nước nhiều đạn bom và bất trắc này, nhưng ông vẫn cứ thấp thỏm chờ.
Một buổi chiều nắng đẹp, ông đang ngồi nhìn những đám mây trắng trên trời, bỗng có một người da đen đi vào sân. Đó là một người đàn bà chừng hơn 40 tuổi, da đen nhưng không đen lắm, dáng người vừa phải thon gọn chứ không to bè.
“Xin cho hỏi, đây có phải nhà bà Lữ không?”
“Ờ, à… phải, nhà của bà ấy” ông lúng túng
“nhưng bà ấy không có ở đây”
“Tôi biết rồi, bà ấy ở Mỹ!”
“Ở Mỹ?”, ông hỏi lại như chưa tin vào tai mình.
“Vâng, ở Mỹ. Và ông là Quạ?”
“Ờ, vâng… vâng” ông bối rối.
“nhưng mà cô là ai?”
“Tôi là con bà ấy!”
“Ơ! Và cha cô là…?” Ông nghĩ rất nhanh: sao lại như thế hở Trời, sao mẹ tôi đi lấy Mỹ mà lại là Mỹ đen!
“Vâng, cha tôi là người Mỹ, nhưng không phải là giặc Mỹ! Ông ấy là một bác sĩ tình nguyện đến chữa bệnh sốt rét ở Cà Mâu. Ổng gặp một người đàn bà đi tìm con lưu lạc xuống tận dưới đó. Hai người lấy nhau ra sao tôi không biết, chỉ biết khi sinh tôi ra dược một tuổi thì ổng bị giết. Việt cọng bảo là CIA!”
Ông thở dài, định nói “cô cũng chẳng khác gì tôi, cà hai có cha cùng bị Vixi giết” nhưng kịp dừng lại.
“Chúng tôi qua Mỹ theo diện con lai. Được 29 năm thì mẹ tôi mất.”
Ngừng một lúc, nhìn ông, nhìn căn nhà, bà nói tiếp.
“Chắc ông cũng mới về làng?”
“Ờ, mới về”. Ông áy náy về cảnh nhà cửa trống trơn.
“Mẹ nói, dễ tìm ra làng mình lắm, cứ nghe mùi cốm là tới đúng làng An Đông. Có phải là An Đông không?”
“Phải!” Ông sực nhớ ra mình cũng mới biết tên làng.
“Mẹ nhớ anh khóc miết. Gần chết thì khóc nhớ làng”.
Bà ngừng nói, đặt vào tay người anh không cùng cha một chiếc hộp nhỏ.
“Đây là tro của mẹ!”
Gần như choáng váng, ông không thể ngờ là mẹ lại trở về tìm con trong chiếc hộp này. Ông ngập ngừng muốn mở ra xem nhưng lại thôi. Ông chỉ nhẹ nhàng ghì sát vào ngực, thầm kêu lên nho nhỏ: “Mẹ ơi, con đây mẹ!”
Sau một lúc yên lặng, người em nói:
“Mẹ dặn, nếu không gặp được anh thì rải tro xuống sông”
“Rải xuống sông à?” ông vẫn chưa hết bàng hoàng.
“Vâng, nhưng gặp được anh thì…“
“Thì sao?” ông lo lắng hỏi.
“Thì vùi đâu đó trong vườn”
“Sao không đặt trong mộ?”
“Mẹ muốn như vậy”
Ông muốn đắp cho mẹ một ngôi mộ nhỏ, dựng bia, để rồi có những lúc buồn đến ngồi bên mẹ. Nhưng mẹ đã muốn không còn ai biết đến mình nữa, thì đành vậy. Ông nói:
– “Ờ, tôi, à anh sẽ làm theo ý mẹ”.
Ông lấy cái nồi đất đã nhặt được hôm dọn vườn, đặt vào lòng nó chiếc hộp tro. Ngó ra vườn, thấy không có chỗ nào sạch và đẹp như khoảng sân trước nhà, ông liền đào ở đó một cái lỗ vừa đủ đặt cái nồi vào. Lấp xong đất, mỗi người cắm ba nén nhang.
Trong khi mùi nhang hòa cùng mùi cốm thơm đến nghẹn ngào, họ chìm trong yên lặng. Hai người ngồi lại rất lâu, ngồi mãi cho đến khi nắng tắt hẳn trên sân.
Bên ngoài có một chiếc xe đang chờ sẵn. Người em đứng lên chìa tay ra, ông hiểu ý nắm lấy.
“Thôi chào anh, em đi!”
Ông cũng nói: “Đi mạnh giỏi!”
Còn lại một mình ông cố hình dung ra mẹ, nhưng chỉ thấy những hạt bụi cuốn sau xe bị gió thổi tung lên cùng với rác trên đường, cuộn tròn như đang làm xiếc.

KHUẤT ĐẨU
(tháng 12, 2015)

Xuân đến, xuân đi

tuankhanh

Sáng 30, đường phố Sài Gòn vắng đi, nhưng không vắng hẳn. Điều dễ thấy của xuân năm nay là những người buôn bán nghèo khó vẫn tiếp tục cầm cự bày hàng. Vỉa hè nhiều nơi vẫn còn chen nhau kiếm thêm chút, dành dụm cho một năm mới dự báo không nhiều niềm vui.

Cứ từng năm qua, mùa xuân như cứ nhạt dần. Đường phố không còn không khí của những ngày Tết mà ai ai cũng muốn đóng cửa nghỉ ngơi, ai ai cũng muốn dừng tay lại để hít thở với chút cảm giác khó tả của trái tim mình khi bước qua thêm một lằn ranh nữa ở cõi sinh tồn thế gian. Quán café trước ngõ vẫn đông khách như một ngày rất thường. Quán bánh ướt vỉa hè trong ngỏ hẻm cũng không nghĩ sáng 30 Tết. Quán không có có bàn, những người đến ăn phải ngồi ghế đẩu, cầm đĩa ăn cho đến hết. Những người ăn vội vàng cho qua một bữa sáng, cho qua một ngày 30 mà trước đây Sài Gòn đón chờ như một điều thiêng liêng và hân hoan. Ông cụ ngồi ăn bánh quay sang bắt chuyện. “Tết đến làm gì, chán quá”. Một cụ khác cười, góp thêm “Tui thấy 5 năm Tết một lần cũng được”.

Nghĩ mà buồn cười. Tết 5 năm một lần, cứ như là nhiệm kỳ của một ông quan thiên nhiên. Xuân đến như không mang đủ ngọt ngào của cuộc đời, đến mức dân chúng chán chê muốn xua đi, chỉ mong gặp và hy vọng vào một mùa xuân của nhiệm kỳ mới. Cuộc đời cũng vậy, bạn đã có bao giờ ngao ngán và chờ một điều mới mẻ nào đó từ con người, quan quyền trên đất nước này chưa?

Tết ở Sài Gòn, đặc biệt ở quận 5, lâu rồi không còn nghe tiếng “tùng cheng”. Chắc cũng phải hơn 5 năm, những chiếc xe ba gác bán đầu lân, đầu ông địa cho trẻ con không còn dạo khắp phố phường với tiếng “tùng cheng” quen thuộc như tín hiệu rộn ràng của một mùa xuân. Ngay trong thủ phủ của người Hoa Chợ Lớn, một vài cửa hàng có treo đầu lân, đầu ông địa cũng xao xác buồn. Ngày xưa trẻ con ai cũng muốn phải có cho được một món để chơi mùa Tết, nay thì cầm món ấy đi giữa phố, chẳng khác nào kẻ lập dị. Mới năm trước, lúc trước giờ giao thừa vẫn hay có các nhóm nhỏ Lân Sư Rồng đi dạo phố phường, vào nhà xin lì xì. Nay thì cũng vắng bặt. Tiền dành dụm chưa đầy, dân chúng ai còn dám mạnh dạn mở hầu bao. Ấy vậy mà báo Nhà nước vẫn có tờ đăng tin Việt Nam là quốc gia có name có mark về hạnh phúc và dễ kiếm tiền.

Trên chuyến xe taxi đi vào trung tâm Sài Gòn di chuyển chậm vì đông người trong những ngày cận Tết, người tài xế giết thời giờ bằng cách kể chuyện đó đây, trong đó ấn tượng nhất là chuyện bạn của anh làm công nhân mà năm nay không đủ tiền về quê. “Rất nhiều người gặp khó khăn như vậy nên ở lại buôn bán thời vụ, làm thêm để kiếm chút tiền sau Tết về”, anh tài xế kể. Trong bài hát Xuân này con không về của Trịnh Lâm Ngân, ca sĩ Duy Khánh có hát rằng “Nếu con không về chắc mẹ buồn lắm, mái tranh nghèo không người sửa sang…”, giờ thì về quê đâu chỉ có dùng sức mà lo được cho mái tranh của mẹ. Tháng 12/2014, các bản tin của báo Nhà nước còn đưa tin rằng nhiều tỉnh nghèo quay quắt chờ 8.000 tấn gạo cứu đói mùa Tết này. Không có tiền thì vô phương. Pháo bông giao thừa cũng chẳng để làm chi, rồi chỉ biết ngó lầu đài của các quan chức như ông tổng thanh tra chính phủ Trần Văn Truyền mà thở dài. Trong những nhịp đồng hồ cuối cùng của năm âm lịch, báo đưa tin những người bán hoa, cây kiểng ở trung tâm Sài Gòn, ở bến Bình Đông rơi nước mắt vì ế ẩm, không bán được hàng. Đọc mà lòng tự dưng buồn khôn tả.

Tết năm nay không thấy bà tổ trưởng nhắc treo cờ, anh công an khu vực đi kiểm tra. Có lẽ mệt mỏi vì nhiều năm nhắc hoài mà dân chúng vẫn lơ là, nên chính quyền địa phương ở nhiều nơi theo lệnh mà xuất tiền trồng cờ dọc theo cầu, dọc theo lề đường. Khắp nơi rực rỡ một màu đỏ như ngày đánh thắng một mùa xuân. Cờ được chất đống trên các xe tải nhỏ và được các bạn trẻ dân phòng vội vã ghé vào, cắm dựng, vuốt… rồi chạy đi chỗ khác làm cho kịp chỉ tiêu. Cờ ngay ngắn và rõ ràng như phân lô đất trong thành phố.

Ào một cái đã đến giờ cúng giao thừa. Mùa xuân vội đến và vội đi vậy sao? Mùa xuân nhạt nhòa và không còn rõ ràng trong sự chờ đón của con người. Những bài nhạc xuân viết mới ồn ào, như cố xô người nghe vào một không gian chộn rộn lố bịch đầy cố gắng. Khắp nơi ầm ầm như một chiến dịch đuổi bắt xuân. Mọi thứ đó, như chỉ để nhắc nhau về một điều gì đó gọi là mùa xuân nhưng dường như đã vàng phai biết mấy, hoặc đã không còn tìm thấy nữa.

TUẤN KHANH’s Blog

THÁNG GIÊNG NỒNG

linhphuong

Thế rồi…
gió bấc qua đồng
Chiều ơi !
Níu tháng giêng nồng về đây
Hoa nào đầy nhóc bàn tay
Rơi trên vai áo em
ngày cuối năm
Thế rồi…
nắng mới vàng ươm
Ướp môi em với nụ hôn
ngọt ngào
Lạ lùng
con mắt bồ câu
Ngẩn ngơ hồn vía
thuở đầu gặp nhau
Thế rồi…
thương nhớ gì đâu
Tình anh
em giấu
giữa bầu ngực non
Đợi chờ
xuân chớm mùa sang
Phố xưa
vắng tiếng sâm cầm
em xa
Thế rồi…
khuất bóng quê nhà
Sài Gòn xa lắc
nhạt nhòa đường mây

LINH PHƯƠNG

MÙA XUÂN.

vudinhhuy

buồn làm gì
lá răm ơi
mùa xuân
tự ở đất trời
phải đâu

em duyên
em bước qua cầu
ta thơ
ta đuối
nông sâu bể đời

thắp dùm ta
chút son môi
nắng xuân lững thững
bên đồi trần gian

em đừng trách
kẻ tiêu hoang
luân hồi ta
gã từ quan
đi tìm

mùa xuân
thả những cánh chim
thắp lên em nhé
que diêm
ta vừa…

VŨ ĐÌNH HUY

Hội ngộ Tương tri 2016 ĐÀ NẴNG

tranthitrucha

12669608_782465905191386_144912062117886295_n

Chúng tôi lại về ngồi bên nhau như hai năm trước đây.
Ngày đó 23 tháng chạp năm 2013 chúng tôi chỉ có 6 người, bập bềnh như chiếc lá trên sông Hàn ở Memory trong rét buốt đến tê tái. Nhưng khi anh Tạ Chí Thân đến, cầm trên tay tập Tương tri mùa xuân thì dường như rét buốt cũng tan đi.
Đêm nay 25 tháng chạp năm 2016 chúng tôi bao gồm vừa tác giả vừa độc giả là 32 người. Thời tiết Đà Nẵng trong những ngày cuối năm se se và êm dịu lạ thường. Chúng tôi ngồi bên nhau trong căn phòng nhỏ ở khu Đảo xanh, tiếc một không gian đẹp mà khi mọi người đến đông đủ trời đã chập choạng tối không nhìn ngắm được.

Anh Tạ Chí Thân từ Qui Nhơn đến Đà Nẵng gần 5 giờ chiều, một ngày ê ẩm trên xe, vậy mà nhìn anh chị vẫn tươi . Anh nhanh nhẹn treo tấm băng rôn “Hội ngộ tuongtri.com 2016 ” và chủ trì buổi họp mặt. Nhìn thấy mọi người đến đông đủ anh cười phấn khởi: “Mừng lắm, Trúc Hạ thật mát tay”. Thật sự thì tôi có làm được gì đâu. Đó là duyên kì ngộ đấy thôi !

Nhà văn Trương văn Dân đến cùng người vợ Ý Elena, tiến sĩ ngôn ngữ và văn học nước ngoài với nụ cười dễ mến hoà đồng trò chuyện cùng mọi người bằng âm điệu Tiếng Việt lơ lớ. Bà lẩm nhẩm hát theo làn điệu dân ca cùng nhạc sĩ Đình Thậm. Chấp nhận rời xa quê mình để lặn lội về quê chồng, sát cánh bên chồng trong cả niềm vui lẫn nỗi buồn như bà, phải chăng đó là tình yêu đích thực tuyệt vời đã tạo nguồn cảm xúc để họ cùng nhau viết ” Bàn tay nhỏ dưới mưa”.

Anh Nguyễn Tấn Sỹ, một nhà thơ cộng tác với Tương tri đã đến sớm nhất cùng với những người bạn rất “đặc biệt” . Cám ơn anh Sỹ thật nhiều, anh và những người bạn tài hoa của anh đã làm cho đêm hội ngộ Tương tri thêm ấm nồng. Những bài thơ của Anh Sỹ, anh Ngân Vịnh, anh Nguyễn cảnh Thìn cùng với tiếng hát của nhạc sĩ Đình Thậm…dường như đã xoá tan đi khoảng cách xa lạ, chúng ta thật gần nhau trong tình yêu văn chương nghệ thuật, chúng ta viết về tình yêu, cuộc sống, đất nước… bằng sự trong sáng tinh khôi của tiếng mẹ đẻ để nuôi dưỡng bền vững muôn đời dòng máu Việt.

Chị Dao Lam thật đáng yêu! Chị rất nhiệt tình cùng tôi chuẩn bị cho buổi họp mặt chu đáo, chọn những chai rượi ngon đem đến và đưa xe đi đón bạn bè… Nhưng tuyệt vời hơn cả là bài thơ chị đọc cho mọi người nghe. Giong Huế ngọt lịm và dịu dàng quá đỗi !

Chị Phùng Kim Hương với bài hát ” Đôi mắt người Sơn Tây”, quê ở Sơn Tây nhưng di cư vào Huế rồi vào Đà Nẵng nhưng nói tiếng Huế nhẹ như bấc . Chị đã cầm bút từ năm 12 tuổi và bây giờ muốn cầm bút trở lại, đã có truyện ngắn đăng ở Tương tri.

Chị Liên Hương, người yêu của anh Tạ Chí Thân tiếp nối Phùng Kim Hương bài hát “Tình ca” của Phạm Duy thật ngọt ngào, tha thiết:
Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi
Mẹ hiền ru những câu xa vời
À à ơi ! Tiếng ru muôn đời
Tiếng nước tôi ! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui
Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi
….
Những người tên Hương sao hát hay vậy ta ?!…

Anh Bùi Thanh Xuân đến thật lặng lẽ, anh đọc một bài thơ viết cho mẹ, buồn buồn như chiều cuối năm… Thôi năm cũ đang đi qua… Tất cả chúng ta xin hãy khép lại những ưu phiền, hãy cố nhìn vào những điều tốt đẹp của mỗi người để yêu thương …

Trần Thiên Thị đang phiêu lãng ở Qui Nhơn không về kịp.
Mai Thanh Vinh bị tai nạn, tay còn yếu không chạy xe được, đứng đón xe buýt cả buổi , những chuyến xe cuối năm đầy nhóc người và hàng hoá. Chỉ gọi điện báo tin tiếc nuối, thương bà chị lận đận và tiếc những bài thơ cùng giọng ngâm thơ não lòng người của chị lắm !

Và người từ Quảng Trị cũng kịp đáp chuyến xe cuối vào tới Đà Nẵng để hội ngộ, Phạm Ty Lan, chị có nụ cười thật hiền, thật duyên, chắc mấy anh võ sĩ Bình Định chết mê nụ cười này thôi. Và sáng nay thật buồn khi nghe tin chị mất túi xách, giấy tờ tiền bạc không cánh mà bay. Ôi , Đà Nẵng quê tôi, thành phố đáng sống, một mét vuông mười thằng ăn cắp. Ăn cắp được sinh ra ở thành phố này và từ tứ xứ đến… Cười ra nước mắt !… Chạy đến ôm chị và dỗ dành: ” Thôi kệ, của đi thay người chị ạ “. Chị đành e thẹn cầm mấy trăm nghìn của anh Tạ Chí Thân leo lên xe trở lại Quảng Trị với nụ cười vẫn nở trên môi.

Và rất nhiều độc giả hâm mộ những cây bút tương tri đã đến ! Chân tình xin lỗi các bạn vì không nhớ hết tên để viết về các bạn nhưng vô cùng cảm ơn các bạn đã đến hội ngộ cùng chúng tôi. Các bạn đã tạo ra sự hưng phấn cho nguồn cảm xúc bất tận. Chúng tôi viết vì còn có các bạn đọc.

Và cuối cùng Tương tri ơi hẹn gặp lại !
Dù đi đâu, ở đâu, rồi chúng ta vẫn tìm về ngồi lại với nhau
Vì chúng ta là Tương tri.

Trần thị Trúc Hạ

Kẻ Tu Hành Trong Hang Đá

ductriqueanh

Tu tập trong hang đá trên ngọn núi cao tận cánh rừng sâu đã nhiều năm mà hang đá và người tu hành vẫn chưa một lần trò chuyện. Một hôm, sau khi đã hoàn tất việc tu luyện, tu sĩ thốt lên:
– Cám ơn hang đá, người bạn đồng hành đã cùng ta vượt qua gian khổ trong chặng đường vừa xong.
Hang đá trả lời:
– Tại sao phải cám ơn ta? Chính mi tu tập và gặt hái thành công cho chính bản thân.
Kẻ tu khiêm tốn:
– Lẽ là vậy, nhưng nếu không có người thì tôi đã không có một chỗ trú thân.
Hang đá cười, vang vọng bốn phía:
– Mi lầm rồi, mi chưa từng trú trong ta.
Tu sĩ ngạc nhiên:
– Tại sao?
– Bởi ta không phải là chỗ để tạm trú.
– Tôi chưa hiểu – Người tu hành nhẹ giọng.
– Hình hài hang đá của ta đã tạo nên chỗ ở của mi. Mi vào ở là lẽ tự nhiên, và mi vào ở hay không, ta cũng không thêm bớt hay mất mát gì. Hãy nhớ kỹ, ta chưa hề ban ơn cho ai.
Kẻ tu hành tiếp tục ẩn dật trong hang đá thêm một thời gian nữa. Ít lâu sau, ông thoát khỏi kiếp phù du. Hang đá cũng theo lẽ tự nhiên mà biến mất.

ĐỨC TRÍ QUẾ ANH