Em đứng bên cạnh bờ vai từ lúc nào

buiminhvu

Trong tay tôi một cây bút màu xanh
Em vừa tặng
Để tôi viết những đêm trắng
Về một ký ức mà sự khao khát của nó chẳng có bến bờ

Trước mặt tôi cây bút mang dáng hình
thiếu nữ
lấp lóa
tan ra trong khát khao

Trong trái tim
Cây bút vẽ ra một vòng tròn
bí ẩn của đôi mắt nhấp nháy
Tôi không biết em đứng bên cạnh bờ vai từ lúc nào

Bên ngoài gió gào lên thổi ta bay hun hút.

BÙI MINH VŨ

GIỮ CHO NHAU

buidiep

gói thầm trong lá vì sao
gởi thiên thu biếc mở vào bình minh
bỗng dưng thương nhớ mái đình
hoa vông đỏ suốt hành trình trẻ trâu
tháng chạp nên nhớ gì đâu
lòng vòng lại ghé về câu ca mòn
em về chăn gió đầu non
nuôi cành mai mọn cho còn xuân mai
nước non là nước non dài
nổi trôi từ độ hình hài bể dâu
nợ đời nhau chuyện lá trầu
vui không dám khóc buồn đâu dám cười
anh về làm bạn đười ươi
tặng em hành khất tiếng cười trăm năm
giữ giùm nhau một tình xuân…

bùi diệp

DẠO KHÚC 50

nguyenquangtan

Ngày xưa tôi là người ít nói
Yêu em tôi thành kẻ nhiều lời
Ngày xưa bầu trời xanh quá đỗi
Yêu em trời đầy mây trắng thôi.

Ngày xưa tôi chẳng hề uống rượu
Yêu em tôi thành gã tỉnh say
Ngày xưa bầu trời xanh biết mấy
Yêu em trời đầy mây trắng bay.

Ngày xưa tôi là người thầm lặng
Yêu em tôi thành gã ba hoa
Ngày xưa bầu trời xanh xanh quá
Yêu em trời đầy mây thiết tha.

Ngày xưa tôi là người lễ độ
Yêu em tôi tứ xứ ngang tàng
Gặp em một trời xanh như ngọc
Xa em một trời mây nát tan…

Nguyễn Quang Tấn

NHỮNG VÒNG TRÒN XIẾC(TT)

khuatdau

xiếc của riêng tôi

Cái chết của chị Mị Lan gây cho tôi một nỗi kinh hoàng hơn cả cái chết của con ngựa. Đầu tiên tôi mong sao có một phép lạ, như người ta thường cầu mong trong những khi tuyệt vọng, từ bàn tay thần diệu của các bác sĩ đang mổ xẻ khâu vá cho chị trong phòng lạnh. Phải chi hôm ấy chị đừng để tóc bay như mây chiều mà đội mũ cẩn thận, thì cái hộp sọ mỏng manh ấy đã không bị nứt khiến chị phải hôn mê. Lại còn xương cổ bị gãy, xương chân bị vỡ thì đến ông Trời kia cũng không cứu được chị nữa là bác sĩ!
Sau đó, tôi mơ màng trong mộng ảo rằng, chị đâu có đi mô tô bay, người con gái xinh đẹp đó đâu phải là chị và chị đang lặn dưới sông để trốn sự săn đuổi của một lão cha nuôi hắc ám. Dĩ nhiên tôi cũng chưa gặp chị, chưa hề hẹn nhau đi xi nê, và một hôm nào đó đang ngồi đánh giày nghe có người gọi: “ê nhỏ, đánh giùm chị đôi guốc coi!”. “Đánh giày chứ không đánh guốc!”, tôi nói cộc lốc, sau đó nghe chị mắng: “Nhỏ này khó bảo quá ta!”, rồi chúng tôi ôm nhau mà cười.
Cái chết của chị cũng còn để lại cho tôi một mối thù cần phải trả. Tôi tin cái mối thù này to như núi, sâu như biển, mối thù mà không trả được thì còn hận hơn là “quốc thù vị phục đầu tiên bạch” của tráng sĩ Đặng Dung. Ở đây xin mở một cái dấu ngoặc. Tôi lúc 12 tuổi chưa biết chữ nào, sao giờ lại bày đặt nói chữ? Bạn có hỏi khó cũng phải, nhưng cái học ở trong trường và cái học ở ngoài đời nó khác xa nhau lắm. Khi một người bị cướp mất cái tuổi được mẹ âu yếm nắm lấy tay dẫn tới trường trong một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh, thì để lấy lại thời gian đã mất người ta có thể học bằng năm bằng mười, và người ta học những gì người ta cần và thích. Cái điều tôi cần lúc ấy là đọc được sách và điều tôi thích là học sử. Có vậy thôi và xin đóng ngoặc lại.
Cái buổi chiều hôm ấy vẫn chưa phai mờ, cái buổi chiều mà Mị Lan muốn “để lại thẹo chơi” chứ không thèm giết, và lão ta ôm bụng gào lên “tao giết mày, sẽ giết mày!” khi tôi xách chai rượu và con vịt quay trở về thuyền… “giết mày”, đó là giết chị chứ không phải giết tôi! Vậy thì còn cách giết nào thuận tiện hơn, hợp pháp hơn, vì dù có bị bắt đưa ra tòa, lão cũng chỉ bị kết tội là vô ý giết người. Rõ ràng đối với chị Mị Lan và tôi, lão ta là người có tội, không chỉ có một tội mà rất nhiều tội. Nếu chém thì phải chém đến bảy lần, nếu ngồi tù thì cọng lại cũng phải ngồi đến mấy trăm năm.
Buổi chiều mà lão xuất hiện trên đài xem mô tô bay không phải là buổi chiều định mệnh. Không có một thứ định mệnh nào như thế cả và vì vậy không có một dấu hiệu nào báo trước. Chị Mị Lan vẫn trang điểm xinh đẹp như mọi ngày, còn hơn mọi ngày vì sẽ đi xi nê với một cậu em cho dù hãy còn bé, nhưng vẫn là một chàng trai trong nay mai. Thế thì buổi chiều hứa hẹn bao nhiêu điều tốt đẹp đó, chỉ vì sự xuất hiện đen tối của lão mà mọi sự đã trở nên hết sức khốc liệt.
Mối thù đó còn được nhân lên nhiều lần khi tôi hiểu ra rằng, vì lão mà tôi phải xa mẹ. Chính lão chứ không phải cô bé trong bình khiến xui tôi phải rời bỏ quê hương. Chính cái bàn tay to lớn cứng như gọng kềm của lão đã siết chặt bàn tay bé bỏng của tôi, đã lôi tôi xuống thuyền, nhét tôi vào trong thùng xe, rồi đưa tôi đi xa tít mù, đến nỗi mẹ gọi chỉ còn nghe văng vẳng trong mơ mà thôi. Chính lão đã thay tên đổi họ của tôi, biến tôi thành con nhái bén, thành con nòng nọc không còn ai nhận ra được nữa. Đó là chưa nói tới những ngày lão bắt tôi hành xác thành viên đạn thịt để làm trò chơi và trò cười cho thiên hạ.
Không biết một người mà ngay từ tuổi ấu thơ đã bị cướp mất hai người đàn bà mà mình yêu thương, thì khi đối mặt với kẻ thù sẽ như thế nào? Tôi không thể hình dung ra được và cũng không dám chắc, khi gặp lão tôi có đủ tàn nhẫn để lại cắt thêm một thứ gì nữa trên người lão không, nhưng cứ biết là hãy nuôi chí phục thù trước đã. Không cần phải nếm mật hay nằm gai, mối thù của tôi cũng lớn lên theo ngày tháng. Tôi 13 tuổi thì mối thù tuổi 13. Đến khi tôi 18, nó cũng 18.

Tôi không còn lê la trên hè phố để đánh giày nữa, mặc dù không còn phải nộp khoán. Tôi đã cao lớn, đủ sức để chọi lại với tiểu đại ca. Ngoài ra tôi còn được hậu thuẫn bởi đám bụi đời đã từng tập tành uống rượu ăn thề. Sài Gòn dễ sống mà cũng dễ chết. Nhưng tôi bỏ lên Tây Ninh không phải vì sợ chết mà vì nghe phong phanh lão ta đang làm gì đó ở Thánh Thất Cao Đài.
Một người như lão mà được vào làm gì đó ở nơi Đức Hộ pháp linh ứng giáng truyền quả là chuyện lạ. Nhưng nếu bạn biết rằng một người dám xông vào một đám ma của người dân tộc để cướp đi một hài nhi, một người giữa ban ngày và giữa chợ dám bắt cóc một đứa bé và cướp đoạt nhiều thứ khác nữa, một người vừa tàn ác vừa xảo quyệt, thì việc lão thay hình đổi dạng từ một con quạ đen sang bồ câu trắng, cũng đâu có khó khăn gì.
Đến Tây Ninh, trước hết tôi hãy kiếm một việc làm. Đánh giày thì không được nữa rồi. Ở một nơi mà người ta đi chân đất hay đi giày cao su thì đánh giày là một việc làm ngớ ngẩn. Chỉ có một nghề mà lúc nào người ta cũng cần ấy là cạo mủ. Và chỉ trong một tuần học việc, tôi đã trở thành phu đồn điền.
Có vào đây mới thấy sức của con người thật đáng nể phục. Ngày trước chưa có máy cày máy ủi, chỉ có hai bàn tay mà người ta đã biến những đồi cao lũng thấp thành những rừng cây cao su bạt ngàn. Có thể nói đây là khu rừng do con người trồng, được chăm sóc nâng niu cẩn thận nhất, nhưng cũng tàn nhẫn nhất vì cứ bị hút máu từng ngày.
Phải nói là rừng cao su quá đẹp, vẻ đẹp của trật tự, của kỷ luật như một đoàn quân trước giờ duyệt binh. Những hàng cây cùng tuổi đứng tăm tắp, ngó ngang ngó dọc ngó tới ngó lui ngó xiên ngó xẹo, ngó chiều nào cũng thẳng. Cũng cần nói thêm là còn có những ngọn roi da lúc nào cũng tươm máu của các ông Tây thuộc địa và những cai đồn điền độc ác. Vì vậy, ngoài cái vắng vẻ đến rợn người của rừng sâu núi thẳm, còn có nỗi sợ mơ hồ khi tưởng chừng những cu li năm xưa hiện hồn về đứng thành hàng, máu hòa cùng nước mắt hãy còn chảy ra từng giọt.
Giờ, cực thì có cực đó, nhưng vẫn không đến nỗi nào. Người ta gọi tôi là công nhân chứ không phải cu li. Tôi là người trẻ nhất và nhanh nhẹn nhất vì mới vào nghề. Liền tay đổ mủ vào thùng, liền tay cạo, hết cây này đến cây khác nhanh như đánh bóng giày. Chủ rất “chịu”, thay vì để tôi ở trong lán trại thì cho ở ngay trong nhà, dù chỉ là một góc trong nhà chứa đồ. Và tôi có một cái giường, có chăn màn, có một bóng đèn điện để đọc sách, còn muốn gì nữa?!

Một sáng chủ nhật, tôi không đi lễ nhà thờ mà đi Tòa Thánh. Đi cho biết và cũng để dò la tin tức lão ta. Tòa Thánh to rộng như một tiểu vương quốc, có đường ngang lối dọc mang tên thánh chứ không phải tên các danh nhân. Các chức sắc và đạo hữu đều mặc áo dài trắng quần trắng, lặng lẽ di chuyển gần như không có tiếng động, giống như những hình nhân trong đèn kéo quân. Rất đông khách nước ngoài, tây trắng tây đen, có cả Ấn Độ. Người ta đến vì hiếu kỳ, coi như một sự lạ chứ không phải để chiêm ngưỡng hay nguyện cầu. Tòa thánh đồ sộ thật đấy, nhưng thiếu vẻ trang nghiêm, có một vẻ gì đó nửa đình miễu sơn phết vụng về, nửa là hội trường trống trải.
Nhìn các chức sắc tới lui, tôi không thấy một khuôn mặt nào là của lão hay giống lão. Với các đạo hữu phục dịch đạo sự cũng không. Thì đúng vậy, con người như lão dù có luồn lách như lươn chạch cũng không thể vào đây được. Mà lão vào đây để làm gì mới được cơ chứ? Vào rừng ăn ong thì được, nhưng trộm mủ cao su nếu không bị bắt vào tù cũng bị đánh cho què giò.
Lúc vào không để ý, nhưng khi ra khỏi cổng tôi trông thấy một người đang quỳ mọp xuống đất, chắp tay vái không biết mệt, trước mặt để một cái thau nhôm lơ phơ vài tờ bạc nhỏ. Thì đúng là ăn xin nhưng phải hạ mình đến thế kể cũng hèn. Mà lại là một người khỏe mạnh còn đủ tay chân, thì thực đáng ghét. Tôi đã định bỏ đi nhưng chợt thấy hai bàn tay có vết xăm nên giật mình dừng lại. Đứng quan sát một hồi, tôi bàng hoàng nhận ra đúng là lão ta, kẻ chỉ trong một phần tư giây đã lạnh lùng giết chết một người con gái.
Lúc lão ngẩng mặt lên, trông lại càng thảm hại hơn. Tóc râu bờm xờm, lão gần như mù hay giả bộ mù, đưa tay quờ quạng mấy tờ bạc bỏ vào túi. Lão nheo mắt nhìn người đứng trước mặt, không biểu lộ chút gì là đã nhận ra đứa bé ngày nào bị lão bắt làm viên đạn thịt. Cũng có thể lão vờ như không biết vì một con người nham hiểm như lão thì khó mà biết được trong đầu lão nghĩ gì.
Tôi đã muốn cao chân đá bay cái thau nhôm, nhảy xồ vào lão như một con sư tử cắn vào động mạch cổ của con mồi. Nhưng nhìn cái vẻ tàn tạ và cái cách hèn hạ của lão, tôi thấy cơn giận của mình bỗng lặn mất tiêu. Trước đó, trong tôi tràn ngập những hình ảnh của sự trả thù. Nào là mổ bụng moi gan, móc mắt, lại còn chặt cả chân tay nữa! Nhưng giờ chỉ còn lại sự khinh bỉ, sự ghê tởm đang chực trào lên miệng, nên tôi phun một bãi nước bọt trước mặt lão rồi bỏ đi, không quên ném cho lão tờ bạc 5 đồng.
Đó có thể là cái giá của một cuộc trả thù.

Buổi sáng hôm sau, trên đường đi đến lô cao su của mình, tôi thoáng thấy một đôi mắt đen, đôi mắt có cái nhìn vừa hoang dại mà cũng vừa dịu êm rất thân quen. Hóa ra, người con gái Việt gốc Khờ me đó còn có mái tóc quăn quăn, nước da tôi tối, rất giống với chị Mị Lan. Nàng không đẹp hay đúng hơn là không đẹp bằng chị ấy, nhưng có một cái tên rất đẹp: Sơn Mộc Hương. Sơn họ cha, Mộc Hương tên do mẹ đặt, tuy lai nhưng chỉ có tên là của mẹ, còn từ mầu da, mầu tóc cho đến mầu mắt đều giống cha. Nàng biết nói cả tiếng Miên lẫn tiếng Việt như nhiều người ở giáp ranh vùng biên giới.
Có một sợi dây ràng buộc bí ẩn như thế, nên tôi làm quen không khó, hay không cần làm quen cũng vẫn đến được với nhau. Chúng tôi như hai hạt mầm cùng ủ trong đất ẩm đã đến lúc vươn mình chổi dậy. Cùng một tuổi, cùng một nghề, cùng làm chung một lô từ sáng đến chiều thì cái điều mà người ta gọi là tình yêu nó đến lúc nào không ai hay. Và khi nó đến, hai đứa yêu nhau tối trời tối đất.
Rồi chúng tôi cưới nhau. Đám cưới nhỏ nhưng theo phong tục của người Miên, có đến 16 quả. Mọi việc đã có các bạn và ông chủ giúp. Chính ông đứng ra thay mặt cha mẹ đi cưới vợ cho tôi. Và cũng chính ông thu xếp một chỗ rộng rãi hơn trong nhà kho cho chúng tôi ở tạm. Ông còn hứa, khi nào có cháu bé sẽ cất cho một ngôi nhà nhỏ bên cạnh rừng cao su.
Cuộc đời đúng là đẹp như mơ, nhưng tiếc thay đây là giấc mơ mau chóng tan ra như bọt nước!
Đọc lịch sử, tôi vẫn biết vùng đất Tây Ninh, hơn 200 năm trước là của người Miên. Đất của họ, nên dù đã phân chia ranh giới, họ vẫn thường lẻn qua cướp phá. Đốt nhà, cáp duồn là chuyện xảy ra như cơm bữa. Nhưng đó là những chuyện xa xưa, còn hiện giờ nếu có thì cũng chỉ là vài vụ bắt trộm trâu bò lẻ tẻ. Dân bên này đông, quân lực lại hùng mạnh, nên dù bên kia có muốn cũng ít nhiều e sợ. Người hai bên cư xử khá ôn hòa. Vẫn có những cuộc cưới xin, những buổi tiệc tùng, những trận banh giao hữu. Người bên này có thể sang chơi bên kia một vài bữa mà không cần giấy tờ gì rắc rối. Cũng chẳng thấy đồn bót gì, chỉ rải rác vài cột mốc, có thể gọi đây là biên giới của tình hữu nghị. Nhất là khi Việt Nam đã thống nhất và Campuchia lại là hai nước cọng sản anh em.
Có ngờ đâu, khắp các vùng biên giới Tây Nam đều bị quân Khờ me đỏ bất ngờ tấn công, mà dữ dội nhất là ở Tây Ninh. Chỉ trong một đêm, khi tôi đi theo ông chủ đem hàng xuống Sài Gòn, thì đồn điền, nhà cửa, lều trại đều bị chúng đốt phá. Trong số hàng trăm xác bị cáp duồn có xác của Sơn Mộc Hương. Xác của nàng và nhiều người đàn bà khác đều bị lấy mất đầu.Theo lời một vài người sống sót, chúng xổ tóc trên sọ ra cột hai cái thành một cặp, xách đi như xách hai trái dừa đem về nước để khoe chiến công!
Đến thế này thì còn biết nói gì nữa hở Trời!
Sơn Mộc Hương!
Sơn Mộc Hương!
Tôi khản tiếng gọi tên nàng giữa những hàng cao su đang chảy ra những giọt máu trắng như tuyết.
Tôi đau khổ đem xác nàng chôn dưới gốc một cây cao su mà chúng tôi thường ngồi bên nhau. Trước đó, tôi đã dùng đất sét nặn một cái đầu cho nàng. Tôi nặn không được đẹp, nhưng tôi tin là nàng thích. Cũng đôi mắt hoang dại ấy, cũng đôi môi dày gợi cảm ấy. Hồn nàng đã hòa trộn cùng với nước mắt của tôi, làm nên một khuôn mặt như biết nói biết cười. Tôi áp môi vào, bất giác nhận ra trong mùi đất đỏ có mùi của máu.
Máu của nàng!
Một tháng sau, có đợt tuyển quân, tôi đăng ký để được đi Campuchia.

Chúng tôi vượt qua biên giới như vào chỗ không người. Quân Khơme đỏ được cho là tháo chạy, thực ra là đã âm thầm rút sâu vào các vùng rừng núi. Chúng để lại những thành phố hoang vắng, không trường học không nhà thương. Chỉ có những nhà tù đầy dẫy những xác chết chưa kịp chôn bốc mùi hôi thối. Những nạn nhân bị chúng bắn hay chặt đầu trước khi rút đi.
Một đất nước với hoàng cung soi bóng trên dòng sông Mê kông, với Đế Thiên Đế Thích hùng vĩ, giờ chìm ngập trong màu đen: màu của những con kênh kênh, những con quạ ăn xác thối và màu áo đen của những nô lệ khổ sai chưa bị chúng giết kịp, còn sót lại trên các nông trường bất tận. Những đàn ông, đàn bà, con trẻ mà màu da tôi tối lại càng tối hơn, tóc quăn quăn lại càng quăn hơn vì xơ xác dưới nắng gió. Họ có một nửa dòng máu của Sơn Mộc Hương, nhưng có gấp đôi số phận bi thảm của nàng, vì so ra họ khốc liệt hơn nhiều. Họ chưa bị chặt đầu xách đi hay đá lăn lóc như trái dừa nhưng trước khi chịu chung số phận như thế, họ bị hành hạ còn hơn súc vật.
Tôi chẳng tìm thấy đâu những con quỷ áo đen đã từng giết hại Mộc Hương, để mà ghim vào ngực chúng những viên đạn thù. Chúng đã lẫn vào bóng tối của lịch sử và đang rình rập chờ đợi chúng tôi trong những tháng ngày sắp tới.
Lúc này trung đội tôi đang đóng quân trên một ngọn đồi thuộc miền đông Campuchia, bảo rằng để giữ con đường huyết mạch nối liền với Nông Pênh. Ngọn đồi nằm giữa một vùng rừng khộp mênh mông, thưa thớt một vài phum sóc, giống như những bộ lạc stiêng ở Lộc Ninh.
Chúng tôi đến vào giữa mùa mưa nên khu rừng ướt đẫm. Ngoài nước thừa thãi đến phát chán, chúng tôi thiếu đủ thứ, từ một hạt muối cho đến một chút xíu đường. Đã không có chợ mà Khơ me đỏ lại dẹp bỏ việc dùng tiền, nên muốn có một con gà hay con heo chỉ có thể đem những gì họ cần ra đổi chác. Mà những gì họ cần như gạo muối đường sữa, chúng tôi lại không có, chỉ có súng và đạn thôi.
Chúng tôi lọt thỏm giữa một vùng đất bán sơn địa còn sơ khai. Muốn giao tiếp cũng không thể nào giao tiếp được. Họ nghi ngờ chúng tôi và chúng tôi cũng chẳng tin cậy gì ở họ.
Thế rồi mùa mưa chấm dứt để khởi sự cho một mùa khô kinh hoàng. Suốt 8 tháng không có một giọt mưa. Sông thì ở quá xa, mà suối lại quá nhỏ nên chẳng mấy chốc cũng khô cạn. Phải đào giữa lòng suối mới chắt chiu được ít nước. Nước ăn và uống chưa có đủ, nói chi đến tắm giặt. Chúng tôi khốn khổ vì chấy rận, ghẻ ngứa. Ngồi đâu cũng gãi, đứng đâu cũng gãi, nên có kẻ đang gác ngứa quá phải bỏ súng xuống để gãi đã bị Khơ me đỏ chờ sẵn siết cổ, ngã xuống mà chết không kịp kêu lên một tiếng nào.
Đây là lúc bọn Khơ me đỏ tấn công. Chúng không dùng chiến thuật biển người cũng không đào giao thông hào để lấn dần như ở Điện Biên Phủ. Chúng chỉ phục kích trên đường đi lấy nước. Đi vài ba người coi như nộp mạng cho chúng. Phải đi cả tiểu đội may ra mới lấy được vài can nước, vậy mà cứ ba lần thì có một lần phải đổi bằng máu.
Chúng cứ tỉa dần, từ bốn chục còn ba, rồi còn hai và sau cùng còn chưa tới một chục nên phải cuốn xéo mà đi.
Tôi chỉ là một tân binh quèn, kinh nghiệm chiến trường chưa có, chưa hề tham dự một trận đánh nào gọi là ác liệt. Nhưng một số ít cán binh người miền bắc, những người từng đánh thắng giặc Mỹ thì luôn mồm chửi rủa. Trung đội trưởng bảo “đánh đấm thế này chán bỏ mẹ!” Người khác lại bảo “đánh Mỹ sướng hơn. Đánh với nó thế nào cũng có đồ hộp mà ăn. Thắng thì lấy đã đành mà thua vẫn nhặt được không thiếu thứ gì, chúng bỏ lại cả đống chứ mang theo làm chi cho cực thân!“. Người nữa lại nói: “Đánh với thằng nghèo như thằng Khơ me đỏ này, càng thắng càng mau chết!”. “Sao vậy?” “Thì cứ lấy khẩu phần của mình ra chia sớt cho những đứa vừa được mình “rải phóng” chứ sao!”
Mà quân đội của ta cũng đâu giàu có gì hơn chúng, cả trung đội chẳng có chiếc xe nào, toàn là cuốc bộ và è vai ra mà khuân vác. Lâu lâu có một chiếc môlôtôva thở như bò rống đến tiếp tế lương thực, mà sắn khô và bo bo nhiều gấp đôi trong khi gạo thì đầy sạn. Kêu xin lắm may ra mới có được một thùng phuy nước đục ngầu.
Chúng tôi bị vây khốn bởi đất trời, chứ thật ra tụi Khờ me đỏ chưa đến một tiểu đội. Chúng làm khổ chúng tôi để cho thấm thía cái gọi là nghĩa vụ quốc tế, tức là đem quân đi chiếm giữ nước của người. Quân số ít, nhưng chúng rất tự tin và chủ động, cứ cách một vài đêm lại nghe chúng bắc loa lên chửi và dụ hàng. Ngay giữa ban ngày chúng vẫn cầm cờ chạy khơi trong các phum sóc vì biết chúng tôi chẳng dám ra khỏi trại.
Đói và khát nên tôi chẳng còn hơi sức đâu mà nghĩ tới chuyện trả thù cho Mộc Hương. Mỗi một ngày qua, tôi chỉ mong sao được sống thêm một ngày. Mà là một ngày có cơm ăn nước uống đầy đủ, chỉ vậy thôi. Không Đảng, không Bác, không thằng tây đen nào nữa xía vô. Tôi không ngờ cuộc đời tôi cứ xâu chuỗi những mất mát, những khổ đau triền miên đến như vậy. Từ mất mẹ, mất chị, đến mất vợ mới cưới và giờ là sắp mất mạng. Đã mấy lần tôi chết hụt. Chết vì sốt rét, vì bị thương, vì thiếu nước đến nỗi phải liếm sương trên lá cây.
Kể ra tôi chịu đựng cũng khá giỏi. Nhưng so với những chiến binh già trong trung đội thì chẳng thấm vào đâu. Nhiều người chẳng những mất cha mất mẹ mà còn mất cả vợ con, nhất là mất con, thì cái nỗi đau ấy họ bảo không núi nào cao bằng. Cũng như không biển nào sâu bằng nỗi đau của dân tộc Campuchia, họ bị chính những người cùng chung một dòng máu cướp đi mạng sống của hàng triệu khi Khơ me đỏ nắm quyền và tiếp tục bị giết hàng triệu khi chúng không còn quyền. Đêm đêm trong các phum sóc vẫn có những con người khổ nạn bị đập chết bằng đai cuốc, bị cắt cổ bằng rựa cùn, vì bị nghi ngờ là tay sai cho bọn Guôn khát máu, tức là chúng tôi. Cho nên, dưới cái nhìn vừa sợ hãi vừa hận thù, chúng tôi không phải là những người giải phóng mà là những kẻ xâm lược, là cái cớ để Khơ me đỏ hoàn thành công cuộc diệt chủng của chúng.

Một năm sau, chúng tôi bỏ lại trên vùng đất khắc nghiệt nơi xứ người hơn ba chục xác của đồng đội, những người chưa kịp hưởng hòa bình sau hơn 20 năm chiến tranh đã bị ném vào một cuộc chiến vô vọng khác. Những xác thân đó phần lớn an táng trong bụng thú rừng, chim ăn xác thối, chỉ còn lại những bộ xương rã rời lăn lóc đâu đó không được chôn cất, vì những người sống sót lo giữ cái mạng mình chưa xong có đâu lo phần mộ cho người chết. Sau này rộ lên những cuộc kiếm tìm bằng ngoại cảm, làm tiêu tốn rất nhiều tiền bạc và nước mắt của người thân, nhưng thực ra chỉ có một vài bộ hài cốt may mắn về lại được quê nhà, còn hàng trăm hàng ngàn là những nắm xương súc vật được dán nhãn người này người nọ. Sống bị dối gạt đã đành mà chết rồi còn bị dối gạt thêm lần nữa!
Thực tình thì tôi không yêu người đến mức phải gói ghém cái nắm xương của đứa bạn xấu số bị giết khi đi lấy nước. Anh ta được cho là đi lạc trong rừng, thực ra bị mìn cắt cụt mất hai chân và bị đồng đội bỏ lại. Phải nói là rất đáng hổ thẹn, nhưng cũng nên thông cảm cho họ, vì vừa phải mang nước về cho cả trung đội vừa phải giữ mạng sống của chính mình trong khi địch đang săn đuổi. Anh ta lê thân mình vào một bụi rậm, nằm đó cho đến khi chảy hết máu thì chết. Xác anh ta không bị thú rừng ăn nhưng chắc là bị kiến, chúng đã thu dọn hết phần thịt thối rữa chỉ còn lại phần xương khô cứng nhẵn bóng. Trừ hai xương ống chân, tất cả còn lại nằm trong bộ quân phục bạc màu với cầu vai hãy còn ngôi sao vàng.
Tôi mang tất cả về trại. Tôi cũng không báo cáo lên ban lãnh đạo, chỉ lặng lẽ cất dấu trong ba lô. Tôi hành động như vậy vì bức ảnh đã ố vàng anh chụp chung cùng với mẹ. Nhìn thấy bà, tôi nghĩ đến mẹ tôi và tôi tin một ngày nào đó, dù rất đau đớn nhưng khi được tôi trao lại chắc bà cũng mừng.
Chúng tôi được biên chế vào một đại đội khác, gom lại từ những trung đội bị mất quá nửa, không đóng quân trên núi nữa mà đóng ở gần Nông Pênh để bảo vệ hoàng cung. Lúc này vua Miên đã trở về nước sau khi tị nạn ở Tàu. Vua là ngọn đèn le lói giữa đêm tối mịt mùng. Người dân Miên hoảng loạn, ngơ ngác đã có thể nhìn thấy chút ánh sáng ở phía bên kia của bờ hy vọng. Cả thế giới cũng đang gây sức ép để cái anh hàng xóm không thân thiện phải rút về. Chuyện đó cũng phải mất đến cả chục năm sau. Nhưng tôi, thêm một năm nữa trên đất Chùa tháp cũng đã hết hạn nghĩa vụ, được cho phục viên.(còn tiếp)

KHỈ VÀ LÒNG THAM

sonnghi

Có nhiều loại tham: tham ăn tham uống, tham lam của cải, tham danh vọng… Ðặc biệt nói đến tham ăn thì nghĩ ngay đến heo. Heo là loài tạp ăn, tham ăn, thô tục. Ăn như heo là thế. Nói đến khỉ thường ta không nghĩ đến tham mà lại nghĩ đến tài bắt chước. Trong các loài động vật, khỉ là động vật này có hình dạng và trí thông minh gần con người nhất. Vì thế mà khỉ bắt chước giỏi. “Monkey see, monkey do” là thành ngữ người Mỹ chỉ những công việc chỉ cần thấy là làm rập khuôn theo dễ dàng.
Vậy mà khỉ cũng có lòng tham. Và chính lòng tham đã làm hại loài khỉ không ít. Nhưng trước khi nói đến sự tham lam của loài khỉ, thử tìm hiểu những đặc khác của chúng, nổi bật nhất là tài bắt chước.
Khỉ lập lại động tác mà chúng xem thấy một cách không suy nghĩ. Bởi vậy mới có câu: khỉ bắt chước, làm trò. Nhưng nếu làm trò khỉ thì lại khác. Cứ vào sở thú sẽ biết ngay. Có lúc chúng nổi cơn biểu diễn trò khỉ ngay trước mắt thiên hạ, miệng la hét man dại. Dĩ nhiên giữa thanh thiên bạch nhật mà người giở trò khỉ sẽ bị tóm ngay vì tội công xúc tu sỉ. Khỉ và người khác nhau ở điểm đó. Chớ dại mà giở trò phòng the ngay giữa ban ngày hoặc những nơi công cọng.
Khỉ cũng giống như sư tử, hổ, chúng sống thành từng bầy trong một diện tích có chủ quyền. Tuỳ theo bầy lớn hay ít, lãnh thổ cũng tăng theo. Mỗi bầy đều do con một đực tự phong vương cứ như Thập Nhị Sứ quân thời Ðinh Bộ Lĩnh. Nó toàn quyền trên bầy thê thiếp của nó. Bất cứ con nào lạc vào vùng cấm địa đều bị đánh đuổi, đánh đến chết nếu không chịu rời lãnh thổ của lãnh chúa.
Nhìn chúng những lúc nhàn rỗi, thường ngồi bắt rận, chải lông… sao giống người đến thế. Từ động tác vạch lông tìm chí đến cử chỉ bỏ vào mồm cắn thật giống như các cụ thời xưa thường ngồi bắt chí cho con gái. Bởi thấy khỉ gần giống với người nên mấy ông tổ cọng sản vồ lấy thuyết Tiến hoá của Darwin như kẻ buồn ngủ gặp được chiếu manh.
Họ cổ võ thuyết Tiến hoá rầm rộ, ngụ ý để giải thích chủ trương chống tôn giáo vì chẳng có Trời Phật gì cả. Con người từ khỉ mà ra chứ chẳng có Thượng đế nào tạo ra chúng sinh. Họ cho rằng tôn giáo chỉ là liều thuốc mê tín ru ngủ quần chúng để quên đi thân phận bị áp bức, tha hồ cho chủ bóc lột. Cuộc đời này là tạm bợ theo tín lý của các tôn giáo lại càng không phù hợp với chính sách đấu tranh của cọng sản. Họ tuyên truyền rằng đừng nghĩ gì đến thế giới bên kia vì lẽ dễ hiểu là làm gì có cái thế giới nào ngoài thế giới hiện chúng ta đang sống. Chết là hết chuyện, như con chó hoặc như con khỉ vậy. Thiên đàng ở ngay trên quả đất này và chúng ta phải tạo dựng nó, phải giật lấy hạnh phúc về tay mình. Chủ thuyết cọng sản giải thích dưới góc độ nào đi nữa cũng chỉ là mớ lý thuyết xúi dục quần chúng nổi dậy cướp chính quyền để rồi dâng lên cho các nhà lãnh tụ… con cháu của khỉ. Nếu đúng loài người từ khỉ mà ra chứ chẳng có Thượng đế nào rỗi công đi tạo dựng ra cái đám người gào thét quần chúng làm cách mạng thì đỡ khổ cho mấy tỉ người trên thế gian này biết bao! Sinh ra “nửa người nửa ngợm nửa đười ươi” nên cái lối suy nghĩ của người cọng sản chỉ còn nửa nhân tính, còn nửa kia thuộc về loài… khỉ mất rồi.
Lịch sử đã chứng minh lý thuyết của họ sai bét bẹt bẹt. Vậy mà đám đàn em cọng sản càng lạm dụng bóp méo thuyết Tiến hoá của Darwin theo lối duy vật biện chứng để sơn phết cho hào quang của một thế giới đại đồng. Không biết Các-Mác lúc viết cuốn Tư bản luận có phi cần sa hay hút thuốc phiện không mà lại mơ màng đến một thế giới tuyệt vời, trong dó không còn người bóc lột người, mọi người làm theo khả năng hưởng theo nhu cầu. Ôi! Sao lại có người thật dễ tin đến vậy. Ðã là con người với đầy đủ thất tình với tham sân si thì làm sao có thể “đại đồng” được? Thật ra, ông Mác chỉ viết phê bình những điểm yếu của chế độ tư bản phôi thai thời đó, mãi đến sau này Lênin mới khai triển nó thành một hệ thống có lớp lang, có tranh đấu, có cướp chính quyền để tạo một thiên đàng… bịp ở trần gian này. Nếu có chăng thì chỉ là thiên đàng cho riêng những nhà lãnh tụ mà thôi.
Ðúng ra chẳng có anh cọng sản nào tin tưởng điều đó cả. Họ biết chắc Mác và Lênin bịp, bịp ngay từ ngày cách mạng thành công vào năm 1917 tại Nga nhưng họ vẫn rêu rao vì những ngón bịp này thật hấp dẫn với đám dân đen. Cuộc đời của đám dân đen quá khổ sở nên cần phải thay đổi, cho dù kết quả có ra sao đi chăng nữa. Ngày cách mạng thành công chính là ngày đám lãnh tụ lên ngôi vua, lúc đó lòng tham lam, mê danh vọng của mấy ông vua đỏ này mới lộ nguyên hình. Nếu hiểu theo thuyết Tiến hoá thì đúng mấy tay lãnh tụ đỏ rất giống khỉ ở cái điểm tham lam.
Ở Phi châu, dân chúng nghĩ ra một cách bắt khỉ tầm thường nhưng lại rất hiệu quả. Họ làm thành từng chum, từng hũ với miệng to nhỏ tuỳ theo cỡ. Số hũ chum này được buộc chặt xuống đất không thể nào di chuyển được. Trong từng chum họ bỏ chà là, một loại trái cây khỉ ưa thích. Một người đứng thò tay vào chum bốc một quả đưa lên miệng ăn, cốt để cho đám khỉ thấy bắt chước. Chỉ vài phút sau, khi thấy yên ắng không một bóng người, bầy khỉ trong rừng kéo nhau ra bốc chà là ăn. Khỉ nhỏ thì thò tay vào hũ, khỉ lớn đút tay vào chum. Khổ một nỗi, con nào cũng cố bốc thật nhiều chà là nên khi kéo tay ra bị kẹt nơi miệng chum. Thế là chúng la chí choé. Dân làng chỉ việc đến bắt từng con bỏ vào cũi. Khi thấy người, biết là sẽ bị bắt nhưng chúng nhất quyết không thả bớt chà là để kéo tay ra mà chạy. Nguyên tắc bỏ của chạy lấy người thật không đúng với loài khỉ ở Phi-châu. Thật đúng là… khỉ! Chúng có ngu không? Thưa không? Chỉ tại chúng quá tham nên không còn sáng suốt nữa.
Bài học của khỉ có thể đem áp dụng cho người. Ðôi khi chúng ta cũng nên biết bỏ bớt đi một chút để thoát ra khỏi cảnh chợ đời. Nhà Phật khuyên diệt dục để giải thoát xem ra khó quá. Bớt lòng dục đã thấy khó rồi huống gì phải dứt bỏ hoàn toàn. Nhưng bớt vẫn dễ hơn là đoạn tuyệt với lòng dục. Những bon chen cốt để thoả mãn nhu cầu vật chất không biết đến bao giờ mới đủ. Tri túc, tiện túc đãi túc hà thời túc; biết đủ là đủ, chờ cho đủ thì sẽ không bao giờ đủ. Buông tay ra mọi việc sẽ trở nên nhẹ nhàng. Thả bớt một chút tham vọng sẽ vơi nhiều phiền muộn. Giảm một chút lòng dục cũng thấy lòng thải mái hơn.
Ðức Giêsu nói: nhà giàu vào thiên đàng còn khó hơn con lạc đà chui qua lỗ kim, (Mt 19:24). Ðây là một lối nói diễn tả mạnh của người Do-thái như lối thậm xưng của ta. Vì thế không hẳn là mọi nhà giàu đều không thể vào nước thiên đàng, mà chính là ở lòng con người. Tham lam sẽ khó thoát tục. Cả một gia tài trì nặng ở dưới chân thì làm sao thoát tục được. Cái vướng mắc là ở chỗ đó. Có một linh mục cho rằng người giàu khó vào nước thiên đàng chỉ vì hành lý mang theo cồng kềnh quá, tay xách nách mang không thể lọt qua cửa thiên đàng được. Chỉ cần bỏ bớt đi, lòng sẽ thanh thản hơn ở cõi đời này và sẽ thấy cửa thiên đàng thênh thang rộng mở.

Sơn Nghị

GỞI NGƯỜI VỀ BẾN…

nguyenvi

Người về tới bến cho ta gởi
Đôi dép mòn theo bao tháng năm
Nhiều lần quai đứt vì rong ruổi
Đường áo cơm sỏi đá thăng trầm.

Gởi túi xách đựng toàn giấy cũ
Có trang đã viết lắm trang chưa
Kèm theo lời nhắn đầu đã mụ
Chữ nghĩa ta giờ không ăn thua.

Gởi rương tình kẻ yêu người ghét
Xoa, đấm, và…vừa đấm vừa xoa
Đủ vị ngọt ngào hương khét lẹt
Ngao du đầy kín những vần thơ.

Gởi triệu người ta hằng mến mộ
Tay nào cũng có một bông hoa
Gởi tỷ người hiểm hung từ độ
Cha Lạc Long xa Mẹ Âu Cơ.

Gởi mảnh hồn ta không vẹn nguyên
Giấu nơi góc khuất tựa mạn thuyền
Mang về tới bến giùm ta nhé
Mong vài câu chữ cuối bình yên.

Nguyên Vi

XUÂN NHỚ

nguyenvanthien

Ngày ta đi vịn gốc cau em khóc
Vườn ra giêng ngơ ngác tiếng chim gù
Mười xuân xa thời gian pha sắc tóc
Gió đông đùa hồn gợn sóng sông Thu

Gạch hoang rêu thóp thoi mùa mong đợi
Mẹ già buồn tháp cổ có bằng an?
Mơ bếp chiều toả thơm hương nếp mới
Về bên hiên ta đếm nụ mai vàng

Biết ai còn ra bến xưa gội tóc
Ngóng ven cầu xe tung bụi vù qua?
Người không về lẻ mươi mùa hoa khóc
Sao người còn hoá tượng đứng ngã ba?

Bồng Lai ơi! Gọi thầm tên làng cũ
Ngoái ngày thơ hun hút bóng thiên đường
Trong chiêm bao bờ tre khuya gió hú
Lật đời buồn đếm bao tết tha hương

Nguyễn Vân Thiên

CON LUỐC

nguyentri

Mãi cho đến bây giờ, dân khai thác mây tre lá của chủ thầu Sáu Yến, những người còn lại, chọn bến phà lẻ bảy làm quê hương vẫn còn nhắc đến con chó Luốc của đại uý Thuận.
Tiếng đại uý chứ Thuận chả lính tráng chi. Thời chiến tranh là tài xế. Sau chiến tranh xe cộ bị sung công, chủ xe tơi như cái mền rách thì tài xế như Thuận có mà ăn cám hấp. May thay lúc phùng thời Thuận được bà Bảy Bầu Cua chọn làm con rể. Bà Bảy là cai của chủ thầu Sáu Yến. Thuận theo mẹ vợ vào rừng khai thác mây tre lá kiếm cơm. Thuận uống ngày lít rượu nên được anh em thợ phong đại uý. Thường gọi Đại Uý Thuận. Sáng Thuận làm hai xị gọi là súc miệng rồi cùng vợ kéo câu liêm vô rừng khai thác lồ ô. Ngày hai vợ chồng kiếm trăm cây là chuyện nhỏ. Chiều về trong lúc vợ nấu cơm Thuận lôi rượu ra làm tiếp. Có lẽ mê rượu hơn mê vợ nên, không phải một mà vài người trong bãi, cũng thức dậy sớm nấu cơm thấy Xuyến – vợ Thuận – từ chòi của Dũng Nhí rón rén mò về. Đêm hôm khuya khoắt mà thiếu phụ vô chòi trai là có vấn đề. Dân rừng thậm thụt lời ra tiếng vào. Và cả ta bà vô cùng lễ độ khi một hôm kia Dũng và Xuyến biến khỏi bãi.
Đại Uý ôm con chó Luốc khóc ròng. Thiếu tá Tư Đô La mới khuyên bằng âm nhạc rằng:
– Ôi đàn bà là những niềm đau… đàn bà là ngọc ngà… chông gai làm tim rĩ máu…
Thời cũ Nguyễn Tư chỉ binh đơ cán cuốc nhưng anh em phong thiếu tá cũng do rượu mà ra. Tư uống thua Thuận xa lắc nhưng cấp bậc hơn là vì tạp uống. Trong bãi có một bụi đời tên Hùng Tàn. Dân Bình định tha phương có tí đỉnh võ vẽ. Hùng có một chai rượu thuốc dùng để xoa bóp. Anh em thợ bị trặc tay bong gân cây đập là Hùng ra tay cứu giúp. Anh em khen thuốc hay quá. Hùng nói:
– Tao pha mã tiền với mật gấu nên tốt lắm.
Rượu vậy mà một hôm kia cai thầu Bảy Bầu Cua chưa tăng bo kịp lương thực vì xe cộ trục trặc, thèm quá, trong khi anh em đi làm Tư ở nhà chôm chai rượu của Hùng Tàn làm một ly. Chỉ một ly mà Tư sùi bọt mép. May mà trong cái đám con nít vào rừng cùng cha mẹ có thằng Bảy Xoáy – con trai Hai Trụi – thằng cu nầy có cái đầu kỳ dị nhất thế giới, tóc tai sừng lên như bờm ngựa. Ông Sáu Hải chồng bà chủ Sáu Yến nhìn nó nói:
– Mẹ ơi… thằng nầy ba bữa là kinh hồn giáo chủ chứ không chơi.
Bảy Xoáy phi một hơi lên chỗ làm thông báo tình hình. Mới một phần ba đường thì Hùng Tàn cùng anh em tuôn về, dẫn đầu là con Luốc. Hùng Tàn banh cái họng kẻ tham uống ra, đặt lên đó một cái phểu rồi cho nước suối vào. Đầy bụng là đè xuống cho ọc ra. Vậy mà Tư còn bị đi kiết hết tuần. Thiên hạ phong thiếu tá liền một khi. Hùng Tàn nói:
– Không nhờ con Luốc là ông chết chắc.
Thiếu tá ôm con Luốc vỗ về:
– Cám ơn mày Luốc ơi. Tao thương mày lắm.
Con chó liếm lên mặt lên râu Tư Đô La thân tình như với chủ. Toàn thể thợ rừng của vợ chồng ông bà Hải Yến không ai không yêu Luốc.
Nó khôn ngoan cực kỳ. Hùng Tàn nói khi có chén rượu trên tay:
– Tao đó đây cũng dữ mà chưa thấy đứa loài người nào khôn hơn và nghĩa tình như nó.
Chả ai cãi Hùng hết. Vì thật như vậy.
***
Luốc rất thân với Hùng Tàn.
Từ khi Xuyến bỏ theo tình Thuận buồn rầu nên rượu suốt. Cũng chả biết nên mừng hay không cho hoàn cảnh của Thuận. Không một hậu duệ nào để an ủi nên Thuận xem Luốc như con. Bắt đầu cuộc rượu Thuận vỗ về Luốc còn hơn Hai Trụi thương thằng Bảy Xoáy. Chả là Bảy Xoáy mồ côi mẹ. Phê phê Thuận chửi con đàn bà lăng loàn sau đó quay qua trách Luốc đã không giữ vợ cho mình. Nó gian dâm với Dũng Nhí mày biết phải không Luốc? Vậy sao mày không cho tao hay? Say lên Thuận đuổi:
– Mày đi theo con lăng loàn đó đi. Đi đi…
Những lúc đó Luốc bò qua chòi Hùng Tàn, Tàn ôm con Luốc bắt ve bắt vắt cho nó. Ở rừng, ve vắt là chuyện thường lắm. Tàn nói với Luốc:
– Chủ mày say khướt. Nó mần ăn ngay mũi còn không biết. Ở đó mà kêu với ca. Đừng buồn nghe Luốc, mấy thằng say mày chấp làm chi.
Luốc ư ư ra cái vẻ tui hiểu mà.
Thiên hạ chả hiểu sao luôn la đà trong rượu, Thuận đâu có dạy biểu gì mà cái nết ăn của con Luốc thật đáng để loài người nể phục. Sáng, Thuận bày bữa ra. Cá một nồi, thịt một nồi, cơm banh nắp. Ăn xong Thuận đi làm không cất dọn gì sất. Luốc nằm yên trông chừng, nó không nhúng mõm vô bất cứ thứ gì. Trong mớ thợ của bà Bảy có thằng Dũng Heo chuyên trộm thức ăn của anh em thợ. Nửa đêm canh giấc ngủ say Dũng đột kích vào chòi bạn dùng tay hốt mớ thịt, bốc vài con cá là chuyện thường. Ai cũng đôi lần bị Dũng chôm thức ăn mà đành chịu vì không quả tang. Nhưng biết là vì Dũng rất ít tốn tiền thực phẩm. Vậy nên có tên Dũng Heo. Cỡ vậy mà Dũng đừng hòng chôm được thức ăn của Đại uý. Con Luốc xù lông gáy nhe răng là Bảy Xoáy còn ớn lạnh nói chi ai. Luốc không ăn vụng. Cũng không ăn trong chén mẻ muỗng dừa. Tô ăn của Luốc phải lành lặn và sạch sẽ. Đại uý bê tha quá nên Hùng Tàn rửa luôn tô của Luốc. Ngoan trong ăn uống của Luốc là nhỏ. Cái tự ái của Luốc là cả ba quân phải kinh ngạc.
Lúc phùng thời quân của bà Sáu Yến trên ba trăm nhân mạng. Ba trăm nầy dưới sự điều hành của sáu cai thầu. Năm mươi quân một cụm. Cụm cách cụm vài cây số đường chim bay. Cõi nào cai ấy khai thác. Thợ làm cho cai Út Bình đừng mơ qua bãi Năm Hồng chơi bời hay uống rượu. Nghe nói hai ba cây số tưởng gần nhưng vòng vèo cả buổi chưa chắc đến. Nhưng Luốc thì có mặt ở tất cả các bãi. Thiên hạ rất ngạc nhiên khi Luốc chỉ là một con chó bình thường, mang từ đồng bằng lên, cha nó ở phố, mẹ là cẩu tiểu thư thì có dính chi tới rừng. Vậy mà Luốc sành rừng như sói vậy. Hôm đó nó qua chơi bên bãi của cai Châu Đèo.
Dưới trướng Châu có một cặp. Chồng tên Trọng vợ tên Thắm. Cặp nầy người dân tộc Tày. Trọng to cao, trắng trẻo đẹp trai. Cô vợ thì, nói thiệt, nhìn sơ mấy thằng có máu băm lăm mê nước da bông bưởi của em là nhỏ, nhan sắc của em mới thiệt là hết ý. Đẹp nên ai cũng ghẹo tí chút cho vui. Châu Đèo tuy vợ con nhưng ma bùn lắm. Miệng nói tay quơ nên dễ gây hiểu lầm. Trọng là thằng cả ghen. Thấy đàn ông ghẹo vợ bằng tay điên lắm nhưng nhát nên nhịn. Hắn ngồi lầm bầm như bị mắc đường dưới. Một lúc Trọng ngước lên thì thấy Luốc đang ngồi trong chòi. Vậy là giận cá chém thớt, gã văng tục chửi thề đuổi Luốc ra khỏi chòi.
Kể từ đó Luốc không xem Trọng là bạn.
Bằng chứng là sau giã từ Châu Đèo, làm với thằng nầy nghi bị mất vợ quá. Trọng qua đầu quân cho Bảy Bầu Cua. Là người mới Trọng đến chòi đại uý chào thân mật thì hết hồn khi thấy Luốc xù lông gáy nhe nanh trắng ởn sấn tới như muốn táp. Trọng hãi quá thối lui. Đại uý nói:
– Tao nghe thằng Đại nói mày chửi, đuổi nó ra khỏi chòi nên vậy đó.
Ở bãi hể gặp Trọng là Luốc gừ. Trọng sợ quá nên đem thịt heo thịt bò đến dụ nhưng Luốc không màng. Thân thiết như Hùng Tàn khuyên thôi bỏ đi Luốc ơi, Luốc vẫn không cho qua. Làm được một đợt Trọng xin Sáu Yến qua chỗ khác, ở lại không biết Luốc phập lúc nào. Ở tất cả các bãi chả thợ hoặc cai nào dám làm Luốc tự ái. Nó giúp đỡ cho nhiều người. Thiệt đó, không đùa một tí nào đâu.
Luốc khá thân với Thạch Giựt. Thằng Giựt nầy có một hoàn cảnh rất thảm thiết. Theo lời Sáu Râu – anh của Thạch – thì nó là con nuôi của cha má Râu. Chả biết ai đang tâm vứt con trước nhà, cha Sáu ôm về nuôi. Năm mười tuổi Thạch bị một cây sốt ác tính. Không chết nhưng từ đó bị giựt. Chả hiểu làm sao hể cứ giựt lên là Thạch toạc cái suy nghĩ của mình ra miệng. Mười sáu tuổi Thạch mê Thảo, con gái út cai Chín Nà. Gặp Thảo không kìm được Thạch giựt rằng yêu… yêu… yêu Thảo….muốn… muốn… muốn… hun… hun… Thảo… thảo quá… Vợ Dũng Giỏi mặc áo hở ngực cả gang, lộ cặp bưởi to sụ Thạch giựt rằng dzú… dzú… dzú… bự… bự… bự… quá… Một lần trên xe từ rừng về nhà. Bọn đi đười ươi lậu dấu cả chục bao dưới lồ ô. Lúc xe qua trạm bảo vệ rừng lên kiểm tra. Thạch giựt rằng ươi… ươi… ươi dấu… dấu… dấu ươi… vậy là sạch bách.
Vào rừng Thạch kiếm thịt bằng cách đặt bẫy cò ke. Những cheo, chồn, gà rừng Thạch có đến dư để bán cho anh em thợ. Tất cả nhờ vào Luốc. Thạch nói khi bắt đầu vót bẫy:
– Mày… mày… mày… coi chỗ… chỗ… nào thú… thú… nhiều dẫn tao đi đặt nghe Luốc… luốc… luốc…. Yên… yên… yên tâm đi, tao không lấy tiền đại… đại… đại… uý… đâu…
Con Luốc quả có một cái mũi tinh đời. Thạch cứ thế mà kiếm thêm. Chỉ một mình Thạch mà thôi, những tay khác dụ dỗ cách mấy cũng không được. Cơ hồ như Luốc biết ai là kẻ cần giúp vậy. Có một lần nó giúp Hùng Tàn bắt được một con Trút.
Đợt đó Hùng sống như vợ chồng với một nàng tên Thuỷ. Cha má nàng đúng khéo đặt tên. Nàng mềm và ẻo lả như nước vậy. Hùng giới thiệu vợ. Cô vợ nầy vào rừng để hái hoa là chính. Ở trong rừng được ba tháng, chơi không mà Thuỷ bị sốt mới chết. Công chúa Thuỷ xanh xao vàng vọt thấy tội lắm. Trời mưa tháng giá ai cũng khuyên Hùng ơi cho vợ mày về đi. Hùng nói với Luốc rằng:
– Phải chi bây giờ trời cho tao con Trút thì hay biết mấy há Luốc?
Nữa đêm hôm đó con Luốc sủa inh trời đất ngay trước chòi. Hùng bật đèn Pin thì phát giác ra một con Trút đang đeo trên gốc lồ ô. Hùng ôm chiến lợi phẩm bỏ vô bao. Nói với vợ Thuỷ:
– Mai em theo xe ra phà nhờ ai đó bán giúp. Ở đó chơi vài ngày, hết bệnh rồi vào nghe cưng.
– Dạ.
– Lúc vô em mua cho con Luốc hai lạng thịt bò nghe.
– Dạ.
Luốc ư ử rên.
Nhưng cả năm ngày sau không thấy Thuỷ vào. Hùng vác ba lô ra phà. Hôm sau vào tay xách can rượu mười lít. Trong giỏ có thịt bò cho Luốc như đã hứa. Lúc múc thịt ra tô cho Luốc, Hùng cũng bày phần của mình ra mâm. Nhưng con Luốc không màng mà ngước nhìn Hùng. Hùng uống hết một cái xây chừng;
– Ăn đi con. Thuỷ không vào nữa đâu. Cô ấy về với gia đình rồi.
Mày biết không Luốc – Hùng nói bằng một giọng buồn rầu – tao và cô ấy yêu nhau nhưng cha má cô ấy không chịu. Tao nghèo quá. Tương lai mờ mịt. Làm cái nghề nầy thì qua được ngày chứ không qua tháng. Chừng ấy thời gian sống với nhau chắc cô ấy thấy được rồi Luốc à. Tao buồn. Buồn quá Luốc. Mày ăn đi. Ăn một miếng cho tao vui. Đừng có nhìn tao như vậy. Đời tan hợp là chuyện bình thường. Giầu nghèo cũng vậy. Xưa kia tao là con quan đó Luốc. Giờ tàn vầy buồn lắm Luốc. Ăn đi. Tao làm một cốc cho quên sầu nhân thế. Rồi Hùng hát:
– Thà rót cho ta trăm nghìn chung rượu độc. Đừng một lời nào mai mĩa cho nhau. Cho ta đi, đi sâu vào cơn lốc… cho ta say đến tột đỉnh sầu…
Con Luốc không ăn mà đăm đắm nhìn Hùng. Về sau Hùng kể anh ta thấy có khói trong mắt Luốc. Thợ rừng cười kha khả mà rằng:
– Khói cái đầu mày. Mày có rượu nên thấy vậy.
***
Chuyện Luốc và cha con Hai Trụi Bảy Xoáy mới thiệt ly kỳ
Bảy Xoáy dốt đặc cán cuốc. Khi Hai Trụi náu mình dưới trướng Sáu Hải thì Bảy Xoáy mới lên sáu. Trụi đưa con trai vô rừng đóng đô dài hạn luôn. Chả là cái thời cơm đói áo rách, nghèo đến độ không có nhà như Trụi thì vô thiên lũng. Có nhà hẳn hoi mà còn vô rừng kiếm sống nữa kìa. Cả chục cặp vợ chồng chơi kiểu như Trụi. Vâỵ thì chuyện học hành xin hẹn chừng nào có rồi tính. Nếu cần xin hẹn lại kiếp sau luôn cũng chả chết thằng tây nào. Bảy Xoáy tủi thân nhất trong lũ con nít ở rừng bởi cu không có mẹ. Vụ không mẹ nầy được Trụi kể với bạn nghề nghiệp khi tưng tưng bởi rượu như vầy:
– Đàn bà lắm kẻ bạc tình bạn hiền ơi. Thằng Bảy Xoáy được một tuổi, nghèo quá nàng bỏ mình bỏ con một đi không trở lại. Quê mình đất cày lên sỏi đá, mùa đông thiếu áo mùa hè thiếu cơm nên tình nó cũng vá chằng vá đụp vậy đó.
– Tình gì mà vá víu thảm thê vậy bạn?
– Thì mình gặp cổ ở bên đường. Mình mua cô ấy bán. Cám cảnh nhau nên về với nhau. Ai ngờ… – Trụi thở dài não nuột – những kẻ quen đưa người cửa trước rước người cửa sau không chấp nhận khó nghèo nên thằng Bảy Xoáy không mẹ.
Nói xong Trụi nâng ly trút một hơi vô họng cho tan cái chán chường. Bạn bè thấy vậy liền khuyên vài câu chiếu lệ. Khuyên xong mới hỏi:
– Đàn bà khối mẹ gì sao không kiếm em khác?
– Tao chán đời quá, với lại nghèo đến đôi dép không có mà mang. Mày nghĩ có ai ngu mà bá vô để chết chùm?
Mà tình thiệt lúc mới vô rừng Trụi không có lấy đôi giày. Anh em tội nghiệp quá mới bố thí một đôi, tuy rách nhưng xài được. Trụi không thèm. Anh ta giơ hai bàn chân lên và ai nấy thất kinh. Da chân dày cộp, chai ngắt như da trâu. Đặc biệt chỗ gang bàn chân phải lõm vô sâu hoáy. Trụi nói:
– Hồi ở quê, tao đi buôn than bằng xe đạp, xuống dốc là thắng bằng cách thọc bàn chân vô bánh sau.
Không giày vậy mà Trụi không thua một anh em thợ nào mới là chì. Mùa mưa thiên hạ chẳng những giày, họ còn bó thân thể như bó giò để phòng ba con vắt. Trụi thì không. Vắt muốn bao nhiêu máu cứ hút tự nhiên. Vậy nên cuối mùa mưa Trụi bị một cây sốt tưởng đi đứt. Cám cảnh nên Sáu Hải mới cho tiền đi viện. Lúc này Bảy Xoáy mới thể hiện cái thông minh của nó. Cu lân la với tất cả các bệnh nhân và thân nhân của họ, cái đầu bảy xoáy là một, cái láu lĩnh khác người là hai. Ai nhờ vả, sai bảo cu không từ chối. Là vì sai bảo xong là người ta cho tiền. Hết sốt rét cha con trở lại thì Sáu Hải bàn với Trụi đại khái là không nên để Bảy Xoáy vào rừng nữa. Chả là một người quen thiết của chủ Sáu giàu có nhưng hiếm muộn. Trụi nên để con ở với người ta để được ăn học. Sáu nói rằng con nít không thiếu nhưng bảy cái xoáy quyến rũ bạn Sáu lắm. Học hành đến nơi đến chốn thằng nầy không này cũng kia. Nói chung người ta sẽ cho Trụi một khoản kha khá. Trụi nghe cũng có lý. Để con trong rừng tức là giỡn mặt tử thần. Vậy là Bảy Xoáy đi cùng Sáu Hải. Còn Trụi mua được cái nhà nho nhỏ để chui ra chui vô nhờ tiền tạm gọi là bán Bảy Xoáy.
Được một tuần thì bạn thiết của Sáu Hải thông báo rằng thằng bảy xoáy bị bắt cóc. Bà nội ơi. Thời buổi cơm không đủ ăn bắt cóc mà tế hay sao vậy kìa? Bạn của Sáu quen biết lớn lắm nên nhờ công quyền vào cuộc. Nhưng mà lạ chưa, bọn bắt cóc không thông báo chuộc chiếc chi ráo. Im luôn. Vậy nó bắt để làm cái gì? Chuyến nầy mới mệt với ông cha tên Trụi. Phải làm sao để cho ổng biết mà không nổi cơn khùng lên đây? Đang rối như canh hẹ thì một thợ rừng ra giải lao nói với Sáu:
– Tui thấy thằng Bảy Xoáy đang ở với cha Trụi trong rừng.
Thì ra ông con đã trốn khỏi nơi đã mua mà về với cha. Sáu Hải cùng bạn thiết vô rừng lôi cu về. Nhưng con Luốc có mặt đúng lúc. Nó xù gáy nhe nanh trông dữ như sói rừng. Vậy là kẻ mua coi như mất đứt cả tiền lẫn người. Trụi mua nhà mất rồi còn tiền đâu mà đòi. Thôi từ từ để nó làm có rồi nó trả.
Thiên hạ được một trận cười no. Và càng quý Luốc hơn.
Nhưng ở rừng cao và sâu luôn có nhiểu bí hiểm. Nó không đơn thuần heo rừng nai cheo chồn mển gà rừng. Ở gần rừng cấm thì chuyện ông ba mươi đi dạo đêm kiếm mồi là thường.
Đêm hôm đó bổng nhiên con Luốc rít lên đầy hãi sợ.
Nó rúc vô chòi Hùng Tàn.
Lúc đó con Hương vợ thằng Thành có bầu tháng thứ năm.
Nghe đồn ông bảy thích đàn bà tuổi hợi mang bầu lắm.
Má ơi. Con Hương tuổi Hợi mới là chết cha.
Phải không không biết nhưng phòng bị vẫn hơn. Toàn bộ các chòi vùng dậy cứ đủa gõ vào nắp xoong, thùng đựng nước can đựng rượu vỗ binh binh suốt cho đến sáng.
Sáng cả bọn túa ra đường be thì phát giác ra dấu chân hổ.
Rõ ràng con Luốc đánh ra được mùi ông Bảy. Đại uý ôm nó vào lòng hôn lên mũi nó khen:
– Mày mà không phát giác ra dám có đứa ở đây theo ông bảy quá.
Hùng vuốt đầu Luốc nói đùa:
– Bữa nào kiếm con nai nghe Luốc.
Vậy mà có nai mới là thần diệu.
***
Hôm ấy chừng khoảng mười giờ sáng. Hùng đang vác lồ ô tập trung thì Luốc phóng vô chân rít lên mừng cứ như đã lâu mới gặp bạn. Nó cắn ống quần Hùng lôi nhã chạy làm riết. Biết có chuyện Hùng gọi Thạch Giựt và Bảy Xoáy:
– Ê, chắc có thịt nên con Luốc kêu nè.
Không phải cả ba mà cả tốp thợ cùng chạy theo Luốc. Dân làm lồ ô vui kiểu ham vậy đó. Nghe động là xúm vô liền. Luốc dẫn đầu băng rừng, lôị suối, qua truông. Nó bốn chân nên lẹ lắm. May mà rừng nguyên sinh nên mát chứ mười giờ trưa mà chạy kiểu nầy có mà chết. Nơi đến là một trảng tranh rộng ngút ngàn. Thời chiến cụm rừng nầy bị trắng hoá bởi thuốc khai quang. Có một con nai nằm ngoài rìa đám cỏ tranh. Nó đã chết.
Cả bọn ồ lên mừng rỡ. Vậy là có thịt ăn rồi. Tất cả cùng la lên. Nhưng tiếng của thiếu tá Tư Đô La mới là chất lượng:
– Có nhung nè Hùng Tàn ơi.
Lúc nầy Bảy Bầu Cua và đại uý Thuận cũng kịp có mặt. Bà Bảy hào hển:
– Cha … cả tạ thịt à. Làm sao xẻ ra đây tụi bây? Hùng Tàn nghe nói mày trước có mổ bò hả? Biết thì ra thịt chia đều cho bà con coi.
Hùng buông con Luốc đứng lên:
– Đâu có đồ nghề mà ra hả má Bảy. Chỉ có rựa thì cứ ra đại cho mỗi người một miếng. Riêng cái đầu và bốn cái chân phải để lại cúng thần rừng.
– Còn cặp nhung bỏ hả mậy?
– Con nói vậy thôi. Công con Luốc là anh Thuận hưởng ảnh muốn làm gì thì làm.
– Rồi – Đại uý nói – để cái đầu cho tao, còn thịt bây chia sao đó mặc kệ, tao lấy một miếng đùi nhậu được rồi.
Thợ rừng Phú vung rựa lên và cái đầu lìa khỏi thân chú nai tội nghiệp. Hùng đứng yên chả biết vì sao con nai lại chết kỳ quặc thế. Nhưng câu trả lời có chỉ sau mười lăm phút.
Một tốp thợ săn người Tày xuất hiện với súng kíp trên tay. Ở vùng Lẻ Bảy nầy dân di cư tự do nhiều lắm. Người Nùng, người Hán-jìn, Thổ, Tày có đủ. Quen băng rừng sống đời săn thú nên họ xuất hiện không có chi là lạ. Một người lên tiếng:
– Con nai nầy của chúng tôi hầy. Tôi bắn trúng nó một phát súng kíp khi đang ăn tranh non ở bên kia đồi hầy… Mấy anh trả lại cho chúng tôi hầy…
Phú vung dao lên văng tục:
– Trả cho mày cái con… Nó chết ở đây, bọn tao thấy trước là của bọn tao.
– Ờ. Của bọn tao – Đám đông hùa theo.
– Mấy anh lấy thịt như còn cặp nhung trả cho chúng tôi… Chúng tôi rình con nầy cả tuần nay rồi. Chúng tôi cần cặp nhung để bồi dưỡng cho cha tôi…
Đại uý Thuận:
– Cần thì mua mà xài. Con Luốc tao dẫn đến đây, vậy cặp nhung là của tao.
Toán thợ săn biết không cự lại đám đông nên rút sau khi kết một câu:
– Người kinh mấy anh tham quá.
Có lẽ vì câu nầy nên Hùng Tàn bỏ về mà không lấy thịt chăng?

***
Năm ngày sau đó Luốc ở quyết bên chòi Hùng Tàn. Đại uý không quan tâm vì xưa nay vốn vậy. Thêm nữa, đại uý có tình mới. Một em cũng tha phương nghe Lẻ bảy làm ăn được nên ghé coi chơi. Con Đen vợ Dũng Heo đang bầu bì không phụ chồng được nên Dũng dẫn vào làm thuê công nhựt. Chả biết Dũng có xơ múi gì không mà Đen nổi máu hoạn thư đòi móc mắt nhỏ làm thuê. Dám có lắm. Vậy là Thuận mời em qua chòi mình võng ai nấy ngủ. Chả biết ngủ làm sao mà cả hai cùng rớt xuống sạp lồ ô mà ra một cặp. Thuận lấy cặp nhung ngâm rượu, đại uý cứ như trai tơ từ khi nốc rượu nầy. Thiếu tá Tư nói:
– Uống nhiều coi chừng bứt mạch máu Thuận ơi.
Thuận đang đắm tình. Con Luốc còn không màng nói chi lời khuyên ba láp. Luốc quẩn bên võng Hùng. Cả bốn ngày vật vờ bởi sốt Hùng chỉ còn Luốc là bạn. Một mình tội quá. Chiều, Thạch Giựt nấu cho nồi cháo, sáng hâm lại giúp cho. Ăn không được thì chết ráng chịu chứ ai mà lo được cho ai? Tha phương cầu thực bị phụ tình khổ lắm người hỡi. Đi làm Thạch nói:
– Mày… mày ở… ở ở ở… nhà ông Hùng có có có gì kêu tao nghe Luốc.
Luốc ư ư buồn thảm.
Vậy rồi sáng của ngày thứ tư Hùng trở mình ngồi dậy. Anh xoa đầu con Luốc. Nó cũng liếm tay anh ra chiều thương cảm. Anh múc cho nó miếng cháo nhưng con Luốc chỉ nhìn. Nó chạy qua đại uý vòng quanh các chòi rồi ra đường.
Cả ngày Hùng trông mãi mà không thấy Luốc. Đến chiều cũng không.
Và đó là một sự kiện đặc biệt. Xưa nay con luốc không bao giờ qua đêm bất kỳ đâu. Nó luôn ở cùng đại uý. Đêm ấy cả bọn những mười hai giờ mà không ai ngủ, ai cũng có ý chờ. Thằng Thạch cứ Luốc … luốc… luốc.. về… về…
Ngày hôm sau và hôm sau nữa Luốc vẫn bặt vô âm tín.
Mấy thằng vai u thịt bắp mồ hôi dầu không lòng dạ nào đi làm. Chia nhau qua các bãi hỏi thăm. Hùng Tàn bò qua Châu Đèo. Phú qua bãi Chín Nà, mỗi tay mỗi bãi hẹn chiều gặp lại. Nhưng Luốc không có mặt ở bãi nào hết.
Nó đi đâu?
Hôm sau Hùng khoác ba lô lên vai:
– Mày đâu đó Hùng? – Thiếu tá hỏi.
– Tôi ra phà. Nghe nói Dũng Nhí với con Xuyến về rồi, Không chừng con Luốc đi thăm con Xuyến.
– Tao đi với mày. – Đại uý nói.
– Mày đi làm gì vậy Thuận – Vợ mới của Thuận lên tiếng – Con nhân ngãi nầy lên chức bà từ khi được làm vợ. Nó hổn trời sợ – Có con chó mà này làm như mẹ mày không bằng. Tao biểu mày không đi đâu hết.
Bà con trong bãi nhìn Thuận mà tội nghiệp. Xưa nay con quỷ cái mày tao mà Thuận có dám nói chi. Thuận sợ Xuyến một, sợ vợ mới mười. Thiên hạ tưởng Thuận co vòi ai ngờ hắn nhào tới vung tay đấm một phát vô con mắt vợ mới. Trong khi nàng tối tăm mặt mũi thì đại uý phang tiếp từ bạt tai cú đấm cả đá bổng nữa mới ghê. Ngài văng cả một núi tục:
– Biến ngay khỏi bãi nầy. Mày biết con Luốc với tao như thế nào không mà láo. Con Luốc mà mất thì mày không có cửa ở trong chòi với tao đâu.
Và con Luốc biến mất.
Ngày nay ở bến phà Lẻ bảy còn được vài người biết con chó Luốc nầy. Nó mất rồi đại uý cũng chết theo. Rượu nhung nai nguyên chất mà Thuận uống như hủ chìm thì sống đặng sao? Có người nói con Luốc bị chết bởi súng kíp của mất tay thợ săn người Tày. Hùng Tàn không tin vậy. Tàn nói người thợ săn không bao giờ giết chó.
Vậy thì con Luốc đi đâu?
Rất tình cờ quen Hùng Tàn ở phố. Lôi hắn lên xe đến Đinh Bộ Lĩnh ghé cầy tơ Nam Định làm đĩa lòng tô rựa mận chai đế gò đen gọi chút tình tri âm. Tàn uống suông mà không ăn mồi. Hỏi. Tàn kể chuyện con Luốc. Nghe qua cũng chả muốn gắp. Tàn nói:
– Mày biết không? Chả ai có thể bắt được con Luốc nếu nó không tự nguyện. Dũng Nhí kể rằng Luốc về thăm đúng lúc con Xuyến hư thai bị băng huyết. Nó không có lấy một đồng đi xe đưa vợ lên bệnh viện huyện…
– Không mượn được à?
– Cái thứ đàn bà bỏ chồng đàn ông lấy vợ người khác thiên hạ bến phà không ngó, nói gì cho.
– Rồi sao?
– Con Luốc để yên cho Nhí trói đưa đi lò mổ…
– Trời ơi… thực vậy sao?
– Đời sống của chúng ta có lắm súc sinh đội lốt người. Nhưng con Luốc người lắm bạn ạ
– Bây giờ Dũng Nhí ra làm sao?
– Xuyến bán vé số dạo rồi sau đó đột ngột ra đi sau một giấc ngủ. Từ đó Dũng Nhí trở thành Độc Cô Cầu Bại xin một lần thất bại không ai cho. Sáng. Banh mắt ra là rượu, cày được xu nào cũng xào vào rượu. Uống cho đến chèm bẹp rồi bò lăn ra ngủ một mình. Tắm rữa với nó…chỉ còn là kỷ niệm! Những lời khuyên với nó chỉ là tiếng Ả rập! Trời khiến. Nó vẫn sống, ca hát nghêu ngao rồi lảm nhảm một mình! Dân bến

NGUYỄN TRÍ

RƯỢU 30 TẾT

tranthienthi

sáng ba mươi tết
một chai rượu của Trần Phương Kỳ
một gói chả giò của Phùng Nguyễn bỏ trong bao nilon
một nụ cười hiền lành của Lê Nguyên Vỹ
ngồi bên ngã ba mưa
mà tiễn ngày tiễn tháng

chuyển nối từ tây sang đông
chẳng sợ mất lòng chỉ cơn gió bấc
chiếc vé số bỏ trong túi quần
40 năm dò
lần nào cũng trật
ơn trời
30 tết vẫn có người mang cho rượu

muốn viết bài thơ tặng người
đệm thay chiếu mới
muốn trả ơn người
tình ngày lặn lội
chữ giao thừa vay mùa cỏ xanh non

Ta còn mỗi thơ để gởi làm quà
ba mươi tết gói vào trong tay áo
gió thì lạnh khó gởi lòng theo gió
làm cách nào
ta gởi ta cho em

nắng thì mới
chưa đủ vàng để ấm
tay chẳng đủ dài mà níu nhau
lòng cứ giục ràng xuân
ngồi nhớ ai mà uống rượu xoay chừng

Trần Thiên Thị