Thoáng Hương Qua & Em Lễ Chùa Này

lephuhai

Có thể mạnh dạn nói rằng phổ nhạc cho thơ chắc chắn không ai qua được nhạc sĩ Phạm Duy. Và thực tế đã chứng mình điều đó. Có vẽ như ông phổ nhạc cho thơ khi bắt gặp ngẫu nhiên bài thơ nào đó hợp ý, hợp tình chớ không cố ý tìm nơi các nhà thơ. Có thể kể ra một số nhạc phẩm như “Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà” (bài thơ Màu Tím Hoa Sim của Hữu Loan), “Ngậm Ngùi” (thơ Huy Cận), “Hoa Rụng Ven Sông” (bài thơ Còn Chi Nữa của Lưu Trọng Lư), “Kỷ Vật Cho Em” (bài thơ Để Trả Lời Một Câu Hỏi của Linh Phương), “Còn Chút Gì Để Nhớ” (thơ Vũ Hữu Định) v.v… Tuy nhiên có hai nhà thơ được Phạm Duy phổ thơ nhiều hơn cả là Nguyễn Tất Nhiên và Phạm Thiên Thư.

Không thể nghĩ đơn giản rằng bất cứ bài thơ nào cũng đều có thể phổ thành ca khúc. Rất khó. Bởi tuy có cùng tính chất nhịp điệu nhưng thơ và nhạc có bố cục và nguyên tắc khác nhau. Có thể có thơ tự do nhưng không có nhạc tự do, bởi nếu có thì người ta sẽ gọi thể loại này là “hát thơ”. Do đó người nhạc sĩ thường hay “chỉnh” lời thơ (như thêm vào, cắt bớt, đảo câu v.v…) cho phù hợp với tiết tấu âm nhạc. Thỉnh thoảng có bài thơ được phổ nguyên vẹn (nhưng rất ít), ví dụ như bài thơ Ngậm Ngùi của Huy Cận.

Trở lại với thơ Phạm Thiên Thư, bài đầu tiên được Phạm Duy phổ nhạc là “Ngày Xưa Hoàng Thị”. Ca khúc vừa ra đời đã được nhiều người ưa thích ngay. Nhạc sĩ Phạm Duy kể lại: “Lúc bấy giờ tôi đang soạn những bài ca cho tuổi học trò như Con Đường Tình Ta Đi, Trả Lại Em Yêu… Đọc được bài thơ Ngày Xưa Hoàng Thị mà anh trao cho, tôi như bắt được viên ngọc quý và xin phổ nhạc ngay: Em tan trường về, đường mưa nho nhỏ, anh theo Ngọ về, gót giày lặng lẽ đường quê…
Cũng theo lời Phạm Duy, về ca khúc Em Lễ Chùa Này thì : “Khi Phạm Thiên Thư đưa thêm thơ cho tôi phổ nhạc thì tôi chọn bài Em Lễ Chùa Này vì cả hai chúng tôi đều muốn quay về xưng tụng những gì thuộc về văn minh Việt Nam, như ngôi chùa cổ ở miền Bắc là nơi lúc còn nhỏ tôi thấy đôi kẻ tình nhân thường hẹn nhau tới dâng hương cầu nguyện…” Đây chỉ là cảm nhận riêng của người nhạc sĩ chớ thật ra đọc trên nguyên tác bài thơ ta sẽ thấy cái “tình” kia ảo diệu hơn nhiều. Phạm Thiên Thư là một nhà thơ-tu sĩ, tình của ông là tình của người đứng xa ngắm nhìn và cảm nhận. Phạm Duy là một nhạc sĩ-người tình nên dĩ nhiên tình của ông là tình của người trong cuộc, cũng như nhan đề bài thơ chỉ là Thoáng Hương Qua chớ không cụ thể như Em Lễ Chùa Này như tên ca khúc.

Bài thơ Thoáng Hương Qua được viết theo thể loại thơ 6 chữ, khi chuyển thành ca khúc Phạm Duy viết lại theo thể loại thơ 7 chữ, tuy nhiên phần ý nghĩa nội dung vẫn không ra ngoài nguyên tác. Cả bài thơ và nhạc đều có 8 khổ, có thể tạm chia thành mấy khúc như sau:

– Khúc 1: khổ thơ đầu, thể hiện ở cung La trưởng, nhịp 3/4 chậm vừa:
Thơ:
Ðầu xuân em lễ chùa này
Có búp lan vàng khép nép
Vườn trong thoáng làn hương bay
Bãi sông lạc con bướm đẹp
Nhạc:
Đầu Mùa Xuân cùng em đi lễ
Lễ chùa này vườn nắng tung bay
Và ngàn lau vàng màu khép nép
Bãi sông bay một con bướm đẹp

– Khúc 2: khổ thơ 2, giai điệu như khúc 1:
Thơ:
Vào hạ em lễ chùa này
Trên đồi trái mơ ửng chín
Lò hương có làn trầm bay
Vờn trên bờ tóc bịn rịn
Nhạc:
Mùa Hạ qua cùng em đi lễ
Trái mơ ngon đồi gió mơn man
Từ lò hương làn trầm nghi ngút
Khói hương thơm bờ tóc em vờn

– Khúc 3: khổ thơ 3, chuyển sang cung Rê trưởng, nâng cao độ của nốt nhạc để tạo hiệu ứng âm thanh mới:
Thơ:
Giữa thu em lễ chùa này
Lầu chuông có con chim hót
Tiếng ca theo làn gió may
Lá vàng sương gieo nhẹ hạt
Nhạc:
Rồi Mùa Thu cùng em đi lễ
Có con chim đậu dưới gác chuông
Hòa lời ca vào làn sương sớm
Gió heo may rụng hết lá vàng

Khúc 4: khổ thơ 4, trở lại như khúc 1 và 2:
Thơ:
Sang đông em lễ chùa này
Ngoài sân có mưa bụi bay
Hắt hiu trong cành gió bấc
Vườn chùa rụng cánh lan gầy
Nhạc:
Vào mùa đông cùng em đi lễ
Lễ chùa này một thoáng mưa bay
Và ngoài sân vài cành khô gẫy
Gió lung lay một cánh lan gầy
Về mặt lý thuyết âm nhạc thì đến đây đã hoàn chỉnh bố cục của một ca khúc theo cấu trúc Đk1 – Đk2 – Pk – Đk3. Tuy nhiên ở bài thơ này, 4 khổ thơ đầu chỉ mới là điệp khúc để dẫn tới hiệu ứng ở hai khổ thơ tiếp theo (hiệu ứng này ở Việt Nam hay gọi là “cao trào”)

– Khúc 5: hai khổ thơ 5 và 6, chuyển sang cung La thứ, nhịp chậm lại để tạo âm hưởng thiết tha, tiếc nuối:
Thơ:
Cuối đông đưa em tới đây
Trong lòng áo quan gỗ trắng
Tóc em tợ óng làn mây
Cội hoa tưởng ai trầm lặng

Em vừa nằm xuống đất này
Vườn trong có bông đào nở
Con bướm chập chờn hương bay
Quơ sợi râu vàng bỡ ngỡ
Nhạc:
Tàn mùa đông vào chùa bỡ ngỡ
Tiễn đưa em trong áo quan này
Từng cội hoa trầm lặng thương nhớ
Tóc em xưa tơ óng như mây

Vườn chùa đây vào nằm trong đất
Nép bên hoa ôi những hoa vàng
Vườn đào thơm chập chờn cánh bướm
Bướm khua râu ngơ ngác bay ngang

– Khúc 6: hai khổ thơ cuối, trở lại tiết tấu như ban đầu, để kết:
Thơ:
Nắm đất nào vừa lấp mộ
Có con chim hót đầu cành
Tiếng tan trên giòng suối xanh
Nước ơi sao buồn nức nở

Bây giờ tôi biết em đâu
Cuối vườn nụ mai nhiệm mầu
Vừa thoát làn hương trinh bạch
Em ơi ! Mây đã qua cầu…
Nhạc:
Mộ của em, mộ vừa mới lấp
Có con chim nào hót trên cây
Lời của chim chìm vào tiếng suối
Suối xanh lơ buồn khóc ai hoài

Rồi từ đây vườn chùa thanh vắng
Đến thăm em ngày tháng qua mau
Một nụ mai vừa nở trong nắng
Hỡi em ơi mây đã qua cầu…

Như ở trên đã có đề cập, cả hai bài thơ và nhạc đều hay, và nhờ có nhạc mà bài thơ đi vào lòng người sâu rộng hơn. Tuy nhiên, vẫn có thể nhận ra ca khúc Em Lễ Chùa Này mang tính đời thường nhiều hơn, còn bài thơ Thoáng Hương Qua cứ giống như một lửng lơ thanh thoát.
Phạm Duy đã nói về ảnh hưởng của thơ Phạm Thiên Thư đối với ông: “Tóm tắt lại, khi tôi gặp thi sĩ Phạm Thiên Thư (cựu tu sĩ, pháp danh Tuệ Không) vào năm 1971 là tôi như thoát xác, vượt ra khỏi những đắng cay, chán chường và bế tắc của Tâm ca, Tâm phẫn ca, Vỉa hè ca… Tôi muốn tạm bỏ việc xưng tụng cái nhất thời để tìm về cái muôn đời, nghĩa là tạm bỏ việc soạn nhạc nhân hòa để soạn nhạc nhiên hoà, tạm bỏ soạn nhạc tình cảm, xã hội để soạn nhạc tâm linh…

LÊ PHÚ HẢI

Một Sáng Mù Sương

tranvanle

Ngày đã trưa mà nắng chửa lên. Mù sương dày quá giống như mền, người homeless phủ trên lùm cỏ, ngồi hút thuốc nhìn cọng khói xanh…

Tôi khoác lên người tấm áo dày, khi không mình lạc bước ngang đây, mù sương luồn cả vào bâu áo, lạnh ở bờ vai chạy xuống tay…

Tôi lạnh càng thương thời ấm cúng – cái thời thơ dại Mẹ Cha còn. Đã xa lắm lắm thời tôi nhỏ… là cũng xa nhiều lắm, Cố Hương!

Chẳng biết đi đâu ra bờ sông, ngó sông tưởng tượng áo ai hồng, hiện ra trong nắng bình minh biếc, tưởng nụ cười em hoa rạng đông!

Em ơi tôi vẫn đi quanh quẩn, trong cõi tình… trong cổ tích thôi. Không có bà Tiên nào xuất hiện. Hình như Bụt cũng bận mô rồi…

Người homeless đứng vươn vai thổi, thổi một đêm dài ngủ vất vơ. Tôi thấy mù sương như có tản, sao trời vẫn lạnh, chắc trưa mưa?

Trời mưa trưa nay mưa trưa buồn
Em về áo mỏng gió mưa nương…
Bài thơ thôi nhé, còn câu câu chót
Anh để dành cho ấm nụ hôn!

Trần Vấn Lệ

Xứ sở xa xôi tàn nhẫn

nguyendinhbon

anh ngồi nghĩ về những tòa nhà cao
những đường phố tráng lệ
nơi em đến và mất tích

Nơi em đến và mất tích
những dòng sông lạnh
những núi đồi xa xôi tuyết rơi
Xa xôi và tàn nhẫn

không hề một lần tiễn đưa
em nói kim chi làm cay mắt
qua web camera trời đang mưa
Anh sẽ không tìm em nơi đó

anh căm ghét thành phố này
nhưng sẽ không rời khỏi nó
anh muốn tàn nhẫn bằng xa xôi

NGUYỄN ĐÌNH BỔN

NGƯỜI TỬ TÙ (TT)

khuatdau

4. Chết đuối người trên cạn
Người tù thức dậy sau khi đã thiếp đi một lúc. Anh mơ hồ nhớ lại giấc mơ không rõ rệt, những hình ảnh nhập nhòa cùng những thanh âm khi chìm khi nổi. Anh cảm giác ở trong anh vừa nở ra thơm ấm, một điều gì đó rất lạ xa nhưng cũng lại mau chóng lụn tàn hút mất.
Anh trơ ra giữa một nhà mồ bằng kiếng với tay chân buồn rầu thừa thãi như không phải của chính anh. Nó nhàu nhò. Nó héo úa. Nó hôm nay không phải nó hôm qua và cũng chẳng phải của ngày mai. Nó là hiện thân của một cái gì không hình thù mặt mũi. Nó có vẻ rất gần với sự chết. Hay là sự chết đang nẩy mầm mọc rễ trong châu thân anh?
Anh đứng dậy một cách khó khăn, bởi vì cái xác buộc ngửa trên lưng cứ nhùng nhằng kéo anh xuống thấp. Anh nghe tiếng ọc ạch, óc ách từ cái bụng căng chướng như một mặt trống. Từ đó tràn ra một mùi hôi gắt, đậm, tưởng như sờ nắm được làm anh nghẹt mũi. Anh váng vất, ngật ngừ. Những con sóng kỳ lạ vẫn không ngớt trào lên trong anh khiến ruột gan đảo lộn. Anh muốn nôn, nôn, đến cả mật xanh mật vàng, nôn luôn tim óc, nôn luôn những tháng ngày xưa cũ mà anh đã từng nâng niu trân quý.
Anh cố gắng thử bước vài bước và anh tuyệt vọng hiểu rằng, giả dụ trước mặt anh không là núi đá kheo khu mà là dịu êm một triền cỏ mênh mông và cho dù đời sống chỉ cách anh một tầm tiếng gọi, anh cũng khó lòng đào thoát được. Anh đứng lặng thinh giữa đêm cũng thinh lặng, miệng nhay nhay như đứa bé đang nằm bú tay dưới ánh đèn. Anh mong trời mau sáng để lại nhìn thấy ánh mặt trời.
Bất chợt anh rướn người lên, toàn thân rung động như một cái cây bị gió lắc lư. Anh vừa nghe vang dội một tiếng động của đá vỡ trong khe núi sâu. Tiếng dội mạnh đến nỗi những vì sao cũng rung rinh và lả tả thưa dần như đang rụng xuống.
Đá chết
Đá tự đập vỡ mình và gầm rống như sư tử cùng đường
Đá đánh rơi mình trên những tảng đá khác, vẫn chưa hết thói quen so bì kèn cựa, nhảy tưng tưng như một quả bóng bằng đồng trước khi chịu vỡ tan thành sỏi.
Có một chút gì vừa ồ ạt vừa bi phẫn trong tiếng dội mỗi lúc một hỗn độn, như thể đó là tiếng thét liên hồi thoát ra từ một lồng ngực bị ép chặt đến cả ngàn năm. Chút gì vậy? Hay là những tảng, những khối ù lì, câm nín kia thực ra vẫn có một đời sống. Và đời sống ra sao? Phải chăng một đời xanh gờn gợn và giá băng đờ đẫn, một đời góc cạnh cứng nhọn như cõi lòng tịch liêu chỉ thuần lý trí một chiều? Một đời sống không chuyển dịch chỉ biết ầm ào quát tháo, chỉ biết áp đặt, chỉ biết trừng trị, không phải một đời mà cả triệu đời, đang khốc liệt giẫm đạp những mầm sống non tơ khác. Những đời sống ấy càng cao lớn càng vững chắc, thì những cuộc đời khác mong manh như cỏ dại làm sao sống được?
Tiếng dội khá lâu mới chịu im hẳn nhưng trong tim anh vẫn còn ùng ục âm ỉ, còn trầm thống ngân vang cho đến khi mặt trời lên.
Cảm thấy khó chịu vì đứng lên cũng chẳng được ích gì, anh lại ngồi xuống. Đêm trên cao cũng dần dà xuống thấp. Giống như một con nước rút, đêm để lại trên bầu trời những vệt đen bẩn thỉu như một bãi biển đầy rác. Dù vậy, những luồng sáng yếu ớt nhưng ấm áp quét ngang bầu trời vẫn là một đổi thay sinh động khiến lòng anh dịu xuống. Anh cảm thấy mùi vị của đời sống hãy còn lẫn trốn ở đâu đó và anh yên ổn đợi chờ.
Đúng vậy, một lúc sau, nền trời trước mặt anh ửng hồng như đôi má tươi non của thiếu nữ. Anh hiểu rằng mặt trời vẫn mọc lên ở đằng đông một cách uy nghi đường bệ sau khi đã phái những đạo quân ánh sáng đẩy lùi bóng tối về tận ổ hang của chúng. Và mọi sự xem ra có gì thay đổi mấy đâu. Đêm vẫn tàn và ngày lên. Mặt trời vẫn mọc ở nơi thường mọc. Và cái dấu hiệu đầm ấm cũng hứa hẹn một ngày đẹp trời để cho đời sống thường hằng lại bắt đầu bằng những nhịp điệu tuy quen nhưng không nhàm chán, một ngày làm việc, ăn uống, nghỉ ngơi và ân ái.
Nhưng đó là một ngày rất bình thường, rất thân quen của mọi người chứ không phải của anh. Một ngày của anh chỉ có nỗi đau và nỗi nhục. Chỉ một mình trơ trụi cùng với cái xác đang thối rữa trên lưng. Anh như con thú bị cạo trụi lông tách ra khỏi bầy đàn. Anh sẽ làm được gì trước một ngày mới đã bị đóng đinh dấu ấn tù đày? Sẽ ngồi đây cho đến khi chảy mỡ hay lếch thếch bò đi? Mà đi tới những đâu và tới để làm gì khi trước mặt sau lưng bên trái bên phải đều là đá?
Anh mệt phờ, ngán ngẩm. Nỗi khổ nhục mà anh phải chịu đựng cứ đầy lên theo từng nhịp thở. Nó nhầy nhụa, è ạch. Nó không nguyên do, không kích cỡ, nó không là định mệnh, nhưng hiện tại nó là của riêng anh. Chính vì vậy mà anh cảm thấy nơi nhà tù vĩ đại không chấn song này, mọi cái nhìn đều bị hất ngược về tận cõi lòng mênh mông tuyệt vọng. Con người đành phải căng lớn hai con mắt của mình ra, chong chong nhìn cho đến ứa máu cái thực trạng nóng bỏng bơ phờ, khiến tâm hồn rưng rưng bốc khói. Con người đành phải tra vấn, tự khảo tra chính mình, tự nguyền rủa chính mình để rồi sau đó, nằm dài đờ đẫn như con chó bị ăn đòn nằm liếm vết thương. Sẽ có một lúc nào đó con người sẽ ngất ngư trong một cơn cuồng điên xoay tròn thân phận mình như một con gió trốt. Sẽ phải vùng dậy thoát ra nếu không muốn bị xéo giày mục rã.
Mặc dù với những ý nghĩ cay đắng, nhưng trong buổi bình minh yên tịnh và có vẻ như tươi mới này, người tử tù vẫn cảm thấy tâm hồn mình vụt cao vút như đỉnh trời đang bắt đầu rực sáng. Anh hiểu là chưa, những thử thách cam go nghiệt ngã mà anh phải chịu đựng, thực ra hãy còn ẩn mình chờ đợi như thể một con chồn tinh quái biết né sợ cây gậy quyền phép của một vị đạo nhân. Và, tất cả sẽ thục sự tung hoành, sẽ dọc ngang quậy phá khi mặt trời treo cao bỗng nổ lớn như một tiếng pháo lệnh, cho cuộc giác đấu không cân xứng giữa con người bé nhỏ và chính mặt trời vĩ đại, mà đấu trường là cái lòng chảo khổng lồ này và khán giả là những tượng đá đủ hình thù quái dị đang đứng san sát lầm lì kia.
Anh nhìn xuống thân thể mình nhằng nhịt những thừng những xích, nhìn những cẳng chân cẳng tay căng bóng của xác chết, nhìn cái bầu đựng nước lủng lẳng bên hông, nhìn những chiếc bánh cột thành chùm và cây gậy của lữ hành mỏi mệt. Nhìn và tự hỏi người ta muốn gì với những thứ ấy. Cho phép anh đào thoát hay kéo dài những khổ đau? Như một con thú bị lột sống da lông rồi thả ra cho chạy. Chạy rồi ngã, rồi lại chạy cho tới chết. Như thế là cố tình cười cợt, sỉ nhục anh. Như thế là tận cùng cái ác.
Và kìa, mặt trời sau cùng vẫn mọc lên, đỏ và bóng láng. Người tù ngắm cái khuôn mặt tròn đầy quen thuộc kia, cảm thấy đau thắt khi nghĩ rằng cái nguồn sống mênh mông bất tuyệt ấy, với anh lúc này, là cả một thách đố kinh hoàng. Mặc kệ, anh uống một ngụm nước và rắn rỏi đứng lên. Anh nhìn thẳng mặt trời, nhìn đăm đắm cái khuôn mặt luôn được lau chùi bằng lửa đỏ và anh cảm thấy không thể nào chối cãi sự thân thiết đã có tự bao giờ giữa anh và mặt trời.
Anh muốn cất tiếng chào như trước đây mỗi sáng thức dậy anh vẫn chào mừng. Anh bước tới một bước, với tất cả lòng biết ơn, anh nói, chào bạn.
Nhưng đột nhiên anh thấy mặt trời đổi khác, không chỉ một mà cả trăm cả ngàn, những khuôn mặt đầm đìa máu, cùng phát ra những giọng cười si ngốc phun thẳng vào mặt anh những búng lửa nóng ran. Anh hiểu cái bản án lạ lùng nhất thế kỷ đã bắt đầu có hiệu lực và mặt trời trở thành một tên cai ngục cay nghiệt độc ác nhất. Anh cảm thấy chưa có sự ngây thơ nào lại dại dột và bi thiết như niềm tin của anh đối với mặt trời. Anh đánh rơi cây gậy trong tay mình, lòng bỗng lạnh như đã chết tự bao năm.

KHUẤT ĐẨU

Chiều ở bến xe ngựa

nguyenminhphuc

Cố chạm vào hư ảo
Chợt thấy mình trắng tay
Bóng tôi dài ngơ ngác
Thả khói chiều vào mây

Con ngựa già đứng ngó
Một phương nào xa xôi
Nhịp buồn khua chân gõ
Lóc cóc qua cuộc đời

Tôi là tên xà ích
Thả dây cương buồn thiu
Trên cõi ngày u tịch
Buồn đến buốt lưng chiều

Tôi gửi đời tuyệt vọng
Vào mịt mùng hư vô
Ai về như chiếc bóng
Đêm nhang khói quanh mồ

Chiều ở bến xe trống
Thấy đôi bờ gió đưa
Nghe nỗi buồn gõ móng
Mưa đầy trời. Ôi. Mưa…

Nguyễn Minh Phúc

DẤU HỎI

tranvannghia

Gío vẫn thổi qua sông
Biết bao giờ trở lại
Ngưòi quay lưng đi mãi
Để khói đời mênh mông

Nắng vẫn vàng bên sông
Ai khua chèo lay sóng
Tóc xưa trời gió lộng
Xôn xao đến chao lòng

Mây vẫn tím ven sông
Chiều tương tư bến vắng
Bên chiếu tình thầm lặng
Ngẩn ngơ nhớ má hồng

Tôi vẫn tìm về sông
Bồi hồi thương con nước
Dẫu ngược xuôi xuôi ngược
Vẫn xanh màu thủy chung

TRẦN VĂN NGHĨA

THƯ GỬI NGƯỜI CHỒNG CŨ

huongthuy

Mình biết nhau từ thời mới lớn, cùng đi trên một con đường đến trường, chỉ khác lớp. Gặp nhau có cười – cùng xóm mà – nhưng không thân.Tuổi dậy thì có nhiều rung động nhưng không cùng tần số. Bên ni biết bên tê “ bồ” ai.
Anh nghèo – Lạ thiệt, em quen ai cũng nghèo – Cha chết năm Mậu Thân 1968, tìm ra xác ở Thành Lồi sau ba tháng .Từ Huế , anh ra Quảng Trị nhờ ông chú nuôi dưỡng. Nhà ở trong xóm Hói, đi học trời lạnh chỉ có cái áo khoác mong manh.
Con nhà nghèo thường học chăm. Anh thuộc loại cần cù, chịu khó. Mặt xương ,ngực lép do thiếu ăn. Em nhìn thấy tội. Nhưng phải công nhận anh có đôi mắt đẹp.
Năm 1972, mùa hè đỏ lửa, trường Nguyễn Hoàng tan tác. Nhà em chạy vào Đà Nẵng , ở trại tạm cư bên Non Nước một thời gian rồi chuyển về đường Đống Đa. Em thi đậu vào Đại Học Sư Phạm Huế. Ba và anh chị thương con út, gởi vào Internat Jeanne D’Arc của các Soeur dòng Saint Paul, một cư xá thuộc loại quý tộc. Ăn có người dọn, giặt ủi có người lo, thậm chí buổi chiều có cả gouter. Em học thêm tiếng Pháp với Soeur Madelaine. Cuộc sống hồn nhiên,vô tư lự.
Em gặp lại anh ở Huế. Anh học trường Luật. Mặt mày sáng sủa nhưng vẫn phải sống nương nhờ vào bà dì đại lý gạo ở đường Quỳnh Lưu. Mạ và các em sống trong ngôi nhà tranh ở làng Đốc Sơ ngoài cửa An Hòa. Mình hỏi thăm nhau như những người bạn cùng xóm, cùng quê. Anh vẫn có một chút mặc cảm trước em. Mỗi mùa hè, em bay về Đà lạt. Ở đó có anh chị của em , có người yêu em…
Có một lần, em tình cờ bắt gặp người yêu em đi cùng một cô gái trên chuyến xe đò An Cựu trong đợt công tác CTCT ở Quân khu I. Lòng kiêu hãnh của em bị tổn thương. Anh ấy cũng không kịp giải thích. Em cắt thư từ. Em đi chơi với Kim Chi, Tường Vy, với nhóm quý tộc…Tất cả những nơi sang trọng ở Huế đều có dấu chân em.
Em lại gặp anh. Em biết anh có tình cảm với em. Anh tháp tùng em cùng Ma soeur Chantal trên chiếc xe Jeep của Robert Lửa Nguyễn Xuân Phúc điều phái ra Quảng Trị theo lời xin của em với ông anh kết nghĩa. Chúng ta đã đến căn nhà xưa của em, đã ngậm ngùi nhìn đống gạch ngói đổ nát. Chúng ta nhắc tên những người hàng xóm cũ. Chúng ta xem trao trả tù binh trên sông Thạch Hãn . Em có đến thăm anh ở căn nhà của bạn anh trên đường Nguyễn Công Trứ nhưng sau đó chúng ta chia tay nhau.
Năm 1975, em bước xuống cuộc đời. Nhà em hai anh rể và hai anh trai đi cải tạo. Ba em đã già, mất tiền gởi ngân hàng, mất luôn tiền hưu trí công chức chưa kịp lãnh. Nội trú xưa trở thành doanh trại quân đội nhân dân.Từ giã cuộc sống phồn hoa, em ở cùng bạn thân Kim Chi trong một căn phòng trọ đường Trương Định. Hai đứa ăn một suất cơm, phần gạo tiêu chuẩn bán đi lấy tiền chi dụng. Người yêu em “nghìn trùng xa cách”. Còn anh, thỉnh thoảng em gặp đi với một cô bé cũng dễ thương, ở đâu trong Thành Nội.
Em ra trường đổi về tỉnh Lâm Đồng. Không phải ngẫu nhiên mà em chọn đây. Đà lạt, thành phố tuổi nhỏ thân quen; Đà Lạt, nơi chị em đang sống; Đà lạt, dấu ấn mối tình đầu của em với cái nắm tay trong một đêm tối có tiếng rì rào của rặng thông trước hiên nhà.
Một lần nữa chúng ta gặp nhau. Có phải bàn tay định mệnh? Trường Luật bãi bỏ, anh vào Saigòn sống nhờ bè bạn, chuyển sang trường Kinh Tế. Ra trường cũng đổi về Lâm Đồng.
“Tha hương ngộ cố tri”, một hạnh phúc mà bài thơ xưa đã nói. Mạ anh đã mất, các em anh ly tán. Em bùi ngùi. Chúng ta thân nhau hơn. Em xác xơ với cái ngành sư phạm, quần áo rộng thênh. Anh thi thoảng được mua hàng tiêu chuẩn đặc lợi của ngành nhưng cũng chỉ đủ tiền đóng cơm tập thể và hút thuốc.
Rồi chúng ta quyết định lấy nhau.Từ tình yêu ư? Không hẳn thế. Do thời cuộc thì đúng hơn. Chúng ta không có những cuộc hẹn hò thơ mộng. Chúng ta cũng không có những bức thư tình ngọt ngào đằm thắm. Nhà cô người yêu cũ của anh chê anh “tứ cố vô thân”. Sau bao năm bặt tin, em cũng biết người yêu xưa của mình đã có vợ ở quê. Số mệnh! Thôi thì đành. Đám cưới của em không có xe hoa, không có pháo nổ, không có ảnh màu. Ba em thở dài, cho hai chỉ vàng làm vốn.
Chúng ta đã trải qua thời bao cấp khốn khó. Con chúng ta đặt tên Chou và Beurre. Nghe cứ như Tây nhưng thực sự đó là món ăn thường nhật của gia đình ta. Mãi đến bây giờ em còn phát sợ cái món su xào. Những lần về Sài gòn thăm chị , em xách theo ba kg trà khô lèn chặt để kiếm thêm chi phí. Những lần cơ quan kiểm kê, anh nhặt nhạnh giấy vụn về bán kiếm cho con hộp sữa Ông Thọ vàng khè. Chúng ta sống bình thường, cũng có những giận hờn nhưng không trầm trọng.Tất cả đều cắm mặt vào mưu sinh, hơi đâu mà cãi cọ khi tiêu chuẩn hàng tháng là 7 kg gạo hẩm và 3 kg bo bo. Gia tài của chúng ta là những đứa con và hai chiếc xe đạp. Em không hề than thân trách phận khi biết hai cô bạn thân của mình đều có được những ông chồng giàu có. Em dặn mình nhìn xuống chớ nhìn lên. Dù rằng nếu không sự thay đổi thời cuộc, chúng ta khó lấy nhau.

Bắt dầu có những biến chuyển về chính trị, về kinh tế. Đời sống dễ thở hơn. Với khả năng của anh, đã có con mắt xanh nhìn đến. Anh bỏ Ngân Hàng với cái phòng Kế hoạch qua Kho Bạc Huyện với Fonction Giám Đốc. Anh mừng, em vui. Con chúng ta có hộp sữa Liên Xô Simillac, rồi sữa Meiji của Nhật.
Nhưng từ đó anh cũng về khuya hơn, miệng nồng nặc hơi men. Ngôn ngữ, phong thái anh cũng dần thay đổi, thay đổi đến độ em ngạc nhiên nhưng nghĩ chắc nghề nghiệp tạo tính cách. Đàn ông Huế ai cũng có chút máu gia trưởng. Anh có lần bảo em, nếu có dịp về Huế sẽ cho gia đình người yêu cũ biết thế nào là thằng “tứ cố vô thân”. Em im lặng cảnh báo anh “Kho bạc nhà nước nhưng Tòa án nhân dân”.
Không chỉ dừng ngang đó. Những cuộc giao tiếp kéo dài với những quan hệ phức tạp. Đàn ông ai cũng có máu chinh phục, thích được ngợi ca, thích nghe những lời ngon ngọt, thích được người khác tôn vinh. Em thì ngây thơ. Hơn nữa nghề giáo, cứ nghĩ ai cũng nghiêm túc. Anh có những chuyến đi giao lưu, những cô em kết nghĩa và kết luôn tình. Đã có những lời đồn thổi đến tai em. Em nhớ lời giảng của Père Nguyễn Thế Huynh dòng Sulpice trong giờ Tâm lý học đường. Một người đàn ông nghèo khổ khi thành đạt, anh ta sẽ có hai khả năng. Một là anh ta sẽ vô cùng kỹ càng để chắt bóp; hai là anh ta sẽ tự tôn để giã từ dĩ vãng đời mình. Anh ở trạng thái nào đây?
Em không như những người phụ nữ khác. Hay là em chủ quan? Những người vợ thông thường chắc họ sẽ ghen tuông, khóc lóc , cấu xé, sẽ áp dụng các biện pháp thắt chặt. Đằng này, với cá tính kiêu hãnh em im lặng, tự ái, cười nhếch môi. Ôi chao ! Cái complex supériorité hay do một cuộc hôn nhân không xuất phát từ tình yêu???
Em không biết nhưng rõ ràng căn nhà gỗ chắp vá của chúng ta không còn là tổ ấm. Anh ít về nhà, có một căn phòng trên cơ quan và tuyệt đối em không hề bén mảng. Anh đã có điện thoại di động đem phô trương một cách buồn cười, tự hào biết hát Karaoke, nhậu rượu ngoại thay vì bia nặng bụng…Lâu rồi, chúng ta không còn ngủ chung. Anh có một chìa khóa riêng và em cũng không còn kiên nhẫn để chờ đợi thứ giờ giấc bất thường ấy.
Và cứ thế. Sợi dây càng lúc càng căng. Anh tự tôn, em tự ái. Em đã đọc được bức thư của cô em “ kết nghĩa “Nha Trang. Cô ta còn gọi điện thoại đến nhà. Em dững dưng. Lòng nguội lạnh. Cô ta đòi happy ending; anh muốn làm quân tử cứu vớt đời hồng nhan. Em biết anh từ những ngày ốm đói hàn vi ; cô ta biết anh khi chối bỏ quá khứ một cách phũ phàng. Muốn, em nhường!
Ba em đau, anh không hề quan tâm. Anh ở hẳn trên cơ quan. Ơn trời, anh chị ở nước ngoài gởi tiền về chu cấp, Ba không phải lệ thuộc vào ai. Có một lần Ba bảo với em “Hình như nhà con có tình nhân?”. Ôi, ba em vẫn giữ thứ ngôn ngữ lịch sự của một nhà giáo có nhân cách. Em tránh né trả lời. Anh xúc tiến việc lo cho cô em “kết nghĩa” nhỡ nhàng một chỗ làm.
Thái độ cao ngạo của em như chọc tức anh. Cả tỉnh lẻ biết anh có bồ. Em lặng lẽ đi về mặt nhìn đất hoặc nhìn trời. Không tâm sự , không than van.
Ngày ba em mất, anh không có mặt. Đám tang cử hành, anh không chít khăn tang.Thiên hạ đàm tiếu, anh giải thích sao đó, em không quan tâm. Bao uất hận em chôn kín trong lòng. Anh xử sự như một tên vô văn hóa và gia đình em không bao giờ chấp nhận. Tháng sau ta chính thức chia tay. May mắn là ba em đã không còn thấy để đau lòng. Cuộc ly hôn lặng lẽ. Do quen biết chúng ta chỉ ra tòa một lần. Các con ở với em như một sự tất nhiên và em cũng cay đắng mà hiểu rằng vì sao anh không giành giật. Ba tháng sau anh lấy vợ. Đám cưới ở Nha trang, chắc chắn là to hơn cái đám cưới nghèo nàn trong quá khứ mà anh đã không đủ tiền mua cho em một cái nhẫn. Anh cũng khá khôn ngoan khi không tổ chức trong cái thị xã này.
Em khô nước mắt,ghi một câu trên bàn làm việc: “Revenge by work,work and work “.
Ngành giáo dục cũng có những thay đổi. Cái mà người ta hô hào cải cách chính là cái mà em đã học, đã am tường thời cũ. Em viết những bài nghiên cứu về đổi mới sách giáo khoa, đổi mới chương trình. Em được chú ý với những bài tham luận phê phán cách học, cách dạy duy ý chí. Em được mời tham dự các hội thảo khoa học trên toàn quốc. Và em nhận ra rằng mình phải có một cái học vị với đời và cũng để mưu sinh.
Biết bao nhiêu khổ cực mà em đã cắn răng chịu đựng. Sau những buổi học, em đón chuyến xe đêm đi về nhà, giặt đống áo quần lớn, kho cho con một nồi thức ăn rồi trở lại trường , vào thư viện nghiên cứu đề tài mình bảo vệ.
Và em đã đạt được điều em muốn. Luận án có điểm cao nhất.
Em , người đàn ông trong thân xác người đàn bà. Em, cây liễu không núp được bóng tùng quân đành tự mình trở thành cây thông trong gió bão. Với mối quan hệ tốt em có thể về Sài gòn dạy một trường Đại Học như có giáo sư đã đề nghị. Sau bao đêm suy nghĩ, em đã quyết định ở lại đây để ngạo nghễ nhìn anh và nhìn đời.
Cùng môt lúc em dạy bốn trường: công lập, bán công, dân lập và trung tâm giáo dục. Em mở thêm ba cours luyện thi Đai học. Ăn toàn cơm hộp và fast food cho qua bữa. Có những buổi từ trường về, em nằm xoài ra giường 15 phút để thở rồi trở dậy dạy, dạy và dạy…Bây giờ nghĩ lại em còn rùng mình, không hiểu mình tìm đâu ra sức lực. Hay nói cách khác em không dám đau. Em vắt kiệt sức mình để chứng minh không có anh, em vẫn sống tốt.
Trời thương. Em dạy nhiệt tình , có uy tín, ra đề trúng tủ, phụ huynh tin tưởng gởi gắm, học sinh càng lúc càng đông, chỗ ngồi chật kín. Có tiền em vẫn không dám tiêu vì dư âm những ngày cùng khổ đè nặng. Em mua miếng đất nhỏ hộ thân.
Rồi thời buổi kinh tế thị trường, đất lên giá. Em đổi miếng nhỏ mua miếng lớn, đổi miếng xấu qua miếng đẹp, từ một miếng lên hai miếng… “Thánh nhân đãi kẻ khù khờ “ hay hương hồn ba mẹ phò trợ, em thoát cảnh “Chạy ăn từng bửa toát mồ hôi”. Em mua căn hộ nhỏ ở Quận I Thành phố cho hai con học Đại học; em đập căn nhà chắp vá từng là tổ ấm của đôi ta để xây nhà mới. Và em là một trong những cô giáo đầu tiên mua xe hơi trong thành phố này.
Em hận anh vô cùng. Em làm là để trả hận. Mỗi lần cầm xấp tiền trong tay em nhớ lời anh nói với anh trai em “Không có tôi, bà ấy sẽ lê la đầu đường xó chợ”; em nhớ những lời anh đi thanh minh thanh nga sau cuộc ly hôn. Anh là đàn ông mà sao không có cái trượng phu khí phách; em nhớ đến món nợ em phải trả ngân hàng khi anh đi cầm cái sổ nhà để lập tổ uyên ương. Chồng cũ của em, anh còn nhớ chăng anh??? Ngày em biết mình trọng bệnh, em đã lập một cái di chúc có dòng chữ in đậm “Khi Mẹ chết tuyệt đối không cho Ba có mặt ở đám tang”.
Đám cưới con trai dù đau nhưng em rực rỡ với nụ cười mỹ mãn. Mọi chuyện đều do em thu xếp. Anh chỉ là nhân vật phụ.Trưởng nam của chúng ta đó. Cháu đích tôn của dòng họ anh đó nhưng anh không thể tổ chức ở nhà mình như em đề nghị. Em chủ động cầm tay anh đi lên khán phòng. Mọi người vỗ tay khen em lịch sự như quý bà mà không biết chân em đang run rẩy vì bệnh .Em cố đứng vững với những cơn thở dốc. Nhưng cái em muốn là anh phải thấy sự thành đạt của em. Em muốn anh thấy sự sai lầm của mình. Em muốn anh nhớ lại thứ ngôn ngữ cay nghiệt như của một poissonnier mà anh đã từng buông thả. Bao giờ em cũng vẫn lịch sự hơn anh.
Trong cái xã hội “Đảng làm chủ” thì cái lí lịch đen ngòm của anh là rào cản lớn. Ba lần thẩm định vẫn không giúp anh tồn tại trên ghế Giám đốc. Anh chỉ là một trái chanh bị thải loại sau khi vắt cạn kiệt. Anh về hưu non, ngôn ngữ nhuốm màu bất đắc chí. Phải chăng theo thuyết nhà Phật gọi là “Quả báo nhãn tiền”?
Sỹ diện của một người đàn ông khiến anh không nói ra nhưng em biết chắc anh đã ân hận. Anh không còn chê bai em nữa. Anh đã khen em với người khác. Anh đã cười với em một nụ cười ngượng ngập. Nhưng tim em đã chết.
Gần hai mươi năm.Thời gian như nước trôi qua cầu, cái gì mà chẳng cũ. Cô vợ mới của anh chắc cũng cũ theo tháng năm. Đã có lúc em muốn hỏi cô ta “Có hạnh phúc không em?”nhưng nét mặt sầu thảm của cô ta đã là câu trả lời. Câu hỏi của em có thể trở thành sự mai mỉa.
Anh không có con với người vợ mới. Các con dù ở với em nhưng sợi dây huyết thống vẫn ràng buộc. Chưa bao giờ em ngăn cản hoăc phản đối chuyện các con chu cấp và trả cả nợ cho anh.Em vẫn tự hào chúng là những đứa con có hiếu.
Các con rồi sẽ bay xa. Chỉ còn lại em với nỗi ngậm ngùi. Em đã hy sinh tất cả những gì mình có, kể cả cuộc hôn nhân có thể diễn ra với một gentleman luôn theo dõi cuộc đời em gần hai mươi năm. Anh đã làm em “Kinh cung chi điểu”. Em không dám mạo hiểm. Đêm đêm em chỉ có thể sống đẹp với mối tình đầu qua hồi ức.
Chúng ta đều đã già. Lục thập nhi nhĩ thuận. Em không hận anh nữa. Tout homme est sujet à l’erreur. Em cũng đã có những sai lầm.
Chồng cũ của em. Đêm qua em đã châm vào lửa bản di chúc cay nghiệt ấy. Em đã thật sự buông xả. Dù sao anh cũng là ba của những đứa con em. Dù sao em cũng cám ơn anh đã giúp em tự khẳng định mình.

Hương Thủy

CƠN GIÓ MANG HỒN LỮNG THỮNG (TT)

ledachoanghuu

Hai tháng sau thử việc với củi chẻ và mài dũa lưỡi cưa, dao rựa nó được cho qua xẻ gỗ bìa, xẻ bốn mặt lóng gỗ tròn thành khối vuông. Cây đốn hạ xuống, chọn khúc thẳng và tương đối tròn đều nhau cưa ra từng lóng. Lóng ngắn nhứt phải hai thước tư, trên thì ba, bốn năm sáu và dài nhứt là tám thước. Hơn nữa khó có cách đưa về, với lại tám thước là đã dài, nhà làm tám thước là lớn lắm rồi, thả đòn tay, rui mè là đủ, trính suốt cũng vậy tám thước là cùng. Cây cưa ra từng lóng rồi canh búng mực bốn đường, sau đó đóng cọc xuống đất, neo con đĩa từ lóng gỗ vô cọc cây giữ lóng cây cho chặt, con đĩa làm bằng sắt gân đặc ruột cỡ phi mười hai, mười bốn, bẻ thành chữ u dài chừng bốn tất, hai thanh chữ u ngắn thôi, chừng năm phân mài nhọn sắc bén để đóng được vô cây cứng, xong là theo đường mực mà cưa ra. Có bác Hai Liên uống rượu ác chiến mà làm cũng ác chiến, thế thần đưa lên xe hay qua dốc là số một, bác không cưa được, bác chỉ đẽo bỏ phách bìa bằng rìu và làm một mình, bởi còn lại thì không ai đẽo giỏi.
Nó mon men lại chỗ bác Hai Liên:
“Bữa nào bác Hai chỉ con đẽo với”.
Bác Hai lắc đầu:
“Thôi, bây học cái này làm chi, đẽo bây giờ xưa lắm rồi, cưa cho nó tiện”.
Nó chỉ mấy vết sẹo dài trên chân bác Hai:
“Bác hai chinh chiến nghề này chắc lâu lắm rồi?”.
Bác Hai cười:
“Ờ, tao làm mấy chục năm rồi hồi cũng cỡ bây bây giờ, mấy sẹo lớn nhỏ là từ rừng ra hông đó, cái dài này là lưỡi rìu nè, hôm đó sơ ý quất một cái bị trợt, may là chưa đứt ống quyển, mất mấy tháng mới lành”.
Nó đã biết hít hà, phả khói thuốc lá. Mọi người chia nhau từng điếu thuốc Hoa Mai, Đà Lạt, hết thì cùng bóc lăn xe, lâu lâu được điếu thuốc thơm có đầu lọc Samit hay Scott. Đội quân làm ở đây đâu ít người nhưng nó hiếm khi thấy có cãi cọ chỉ chia sẽ cho nhau là chính, cằn nhằn chút đỉnh thì làm sao tránh khỏi nhưng to tiếng thì không. Ai nấy lầm lũi làm, có lẽ không ai muốn vậy vì dễ gây nhớ lại quãng đời đã qua, họ muốn chôn vùi quá khứ có phần tăm tối này.
Và nó cũng đã biết nhâm nhi ly rược gạo. Tối tối sau bữa cơm, ở lán trại tập trung hết lại ai cũng lai rai, lai rai ít nhứt vài ly để dễ bề vùi giấc ngủ, khỏi phải suy nghĩ mệt đầu.
Chú Ba Tỷ để ly rượu tới vòng hơi lâu, chú đang nghĩ ngợi gì đó, bác Hai Liên khều chú Ba:
“Làm gì mậy Ba Tỷ, nhớ nhà hả?”.
Chú Ba Tỷ lấy ly uống ực, chẳng nói chẳng rằng chuyền ly qua. Anh Tư cà lăm cà một tràng:
“Ổ…ng… ổng … ổng… mà… mà nhớ… nhớ mẹ gì”.
Chú Lâm lên tiếng:
“Ờ, thằng Tỷ này lạ hen, từ lúc tui vô đây tới giờ, tính ra cũng bốn năm rồi chớ ít đâu, tui chưa thấy nó về lần nào, ai về nó chỉ gởi tiền về cho con cái”.
Chú Ba Tỷ thở dài:
“Thằng Tư cà nói đúng, nhớ làm mẹ gì”.
Bác Hai Liên chậm rãi:
“Có gì mày nói ra cho nhẹ lòng, chứ giữ khư hoài càng ngày nó càng bức bí, mệt mỏi thêm, ở đây coi như người nhà, anh em con cháu chớ ai đâu xa lạ”.
Chú Ba Tỷ cạn ly vòng, rót uống thêm ly nữa, chú nói nhát gừng:
“Tui chẳng muốn về, về tui giáp mặt con vợ tui muốn điên liền, tui chém nó chết”.
Chú Lâm vỗ vai chú Ba Tỷ:
“Bình tĩnh chút nghen mậy, ai cũng có nỗi niềm, tao cũng vậy, nhưng còn con còn cái”.
Chú Ba Tỷ hậm hực:
“Tui biết vậy nhưng chẳng kềm lòng với loại đàn bà lang chạ”.
Bác Hai chậm rãi khuyên tiếp:
“Thằng Lâm nó nói đúng, còn con còn cái, với lại tao ở thăm thẳm trong này chớ tao biết chuyện ngoài đó hết ráo nghen mậy, từ ngày mày bắt con vợ mày làm bậy nó quỳ lại xin mày tha thứ tới giờ ân hận lắm, thui thủi tối ngày trong nhà trong cửa, lo cho con cái, đồ đạt món ngon nào trong này là một tay nó gởi vô đó, làm thằng đàn ông phải biết rộng lượng, ai cũng phải có một lần mắc lỗi lầm, dễ gì tránh khỏi, tụi nhỏ nhớ mày lắm, con nít cần tình thương cha mẹ chớ lơi lơi đâu có được”.
Chú Ba Tỷ im lặng. Bác Hai Liên nói tiếp:
“Mà tao nói thiệt tao thấy mày còn thương con vợ mày, mày hãy để thời gian xóa tan hết đi”.
Chú Ba Tỷ mắt rưng rức. Ông Bảy nói:
“Chuyện thằng Tỷ để nó suy nghĩ, còn thằng Ba lém giang hồ tứ chiến, nổi tiếng ngang dọc hông chỉ thị xã, ra cả mấy vùng lân cận ai cũng biết giờ gát kiếm vô đây coi như tu chí tao hông nói, hai thằng Thiện và Đức thì trốn nghĩa vụ quân sự, còn thằng Lâm mày sao tao chưa biết?”.
Chú Ba lém gục gật:
“Con xin bác Bảy, chú Hai và anh em ở đây chỉ biết vậy là được, một thời giang hồ chẳng có gì hay ho, lại tàn bạo nên con xin bỏ qua hông phải kể, để nó chôn vùi trong rừng rú”.
Bác Hai gục gật. Chú Lâm mân mê ly rượu:
“Tui gần giống như thằng Tỷ nhưng con vợ hông lang chạ, tui là lính chế độ cũ, mới ra trường bậc thiếu úy, bị đi cải tạo gần chục năm, ở nhà vợ hay tin đã chết trong trại, lấy chồng khác tui hông trách, hai đứa con thơ dại nuôi nấng sao đây, phải kiếm chỗ bấu víu, tui lù lù trở về thì đành thôi, hai đứa nó có thêm hai đứa con làm sao tách, tui chẳng còn gì ngoài hai bàn tay trắng, chui vô đây chớ đi đâu”.
Anh Tư cà nghe lính ngày xưa khoái chí:
“Ông… ông… Lâm… làm… thiếu úy oai… oai lắm hen, đi… đi xe ríp… ríp hông chớ gì?”.
Bác Hai Liên hất đầu:
“Thiếu úy xưa hét ra lửa hén, mà nghe cải tạo cực lắm phải hông?”
Chú Lâm cười, nét cười chua chát:
“Cực lắm chớ sao chú Hai, thiếu thốn trăm bề, cũng lao động giữa rừng rú vậy nè nhưng còn khổ hơn, bị tinh thần, nhưng là kẻ thua cuộc mà, phải chịu thôi”.
Ông Bảy chỉ anh Thông:
“Vậy thằng Lâm là bên kia chuyến tuyến với thằng này”.
Anh Thông giãy nãy:
“Đâu có ông Bảy, con mới đi chiến trường Campuchia sau này mà, anh Lâm hồi trước rồi”.
Ông Bảy nói tiếp:
“Ý tao nói hai thằng bây phe này phe kia đó, giờ ngồi chung mâm”.
Bác Hai hỏi:
“Campuchia cũng ác liệt lắm phải hông Thông?”.
Anh Thông dạ:
“Dạ, kinh khủng lắm, giờ con còn ám ảnh, hông muốn nhắc lại, con may mới về được, biết bao xương cốt anh em còn nằm lại, hồn xiêu phách lạc, nhắc tới thêm đau lòng, chẳng ai quan tâm, đi mất xác hay về cũng vậy y như những đứa con lạc loài”.
Chú Lâm lắc đầu:
“Chiến tranh thời nào cũng vậy, ác liệt giết chóc lẫn nhau, tui cũng chẳng muốn nhắc lại làm gì”.
Nó xin qua tua, bác Hai ừ rồi nói tiếp:
“Thằng nhóc này vô đây chi mậy, thất tình bỏ đi nhà đi bụi hả?”.
Nó nãy giờ nghe ngóng, giựt mình đáp:
“Dạ, đâu có bác Hai, con còn nhỏ xíu biết gì yêu đương, con mới nghỉ học hông biết làm gì, vô đây làm kiếm tiền”.
Ông Bảy chỉ anh Tư cà:
“Thằng này mới thất tình nè”.
Anh Tư cà trợn mắt:
“Cái… cái …cái gì ông Bảy, tui thất… thất tình hồi nào?’.
Ông Bảy cười:
“Hông có hả mậy, tao nghe nói mày ngồi tâm sự với con nhỏ nào đó lúc đêm, mày nói, anh… anh… thương…. thương… em, mày kéo dài vậy trời sáng bảnh mất tiêu, con nhỏ mắc cỡ chạy ào đi, đâu trả lời trả vốn gì, mày tưởng nó hông thương, mày thất tình hông phải sao?’.
Anh Tư cà chỉ còn biết nhăn mặt:
“Ông… ông… Bảy này”.
Cả bàn nhậu cười rần với câu của ông Bảy, cũng là câu chuyện kết cho bữa nhậu khá khuya.

***

Gỗ dưới chân núi cạn dần. Bác Hai kêu tiến lên sườn núi.
Trên sườn núi cây gỗ tốt và to còn hàng hàng. Lên giữa sườn núi khá cao, bác Hai tìm được mấy cây gỗ trắc và cẩm lai đoán không bọng, đoàn ngừng lại cưa hạ. Cưa đứt cây gỗ lớn ngã phóng xuống ào ào như chiếc phi cơ thấy thất kinh. Tán lá rộng đi tới đâu là những cây nhỏ gãy ngang đổ rạp theo tới đó, nhìn như có một đường băng. Nó phóng xuống cả trăm thước mới chịu ngừng lại. Trên sườn núi cao nên cưa lóng ngắn, cây lại lớn nên xẻ nhỏ nữa chớ không để khối vuông lớn. Hạ cây và cưa xẻ chỉ khó khăn hơn dưới chân chút ít, nhưng đưa xuống mới là kỳ công. Đóng con đĩa vô một đầu dưới, cột dây vào con đĩa mà nhấc đầu cây kéo xuống, phải nhất đầu bởi sườn núi đá lổm chổm, đá nhỏ nó tuôn phi xuống vuợt qua ầm ầm, gặp đá lớn thì lao ầm vào bị cắm đầu, đứng lại, lại nhấc nhích lóng gỗ né ra và phải canh chừng nhảy né chớ không bị lao vào người. Nó nhớ lại vụ anh Thững nên không thể không cẩn thận với việc này. Xuống gần chân núi còn dốc lên xuống nhưng hết đá thì nặng trì đường đất, kéo muốn xệ vai, trầy da tróc vảy là chuyện thường tình, những lóng gỗ to phải lom khom xài tới con lăn…
Xuống hết sườn, tới chỗ xe bò vô được. Ngồi nghỉ chút trước khi quay lại đưa xuống tiếp, anh Lãm đưa nó điếu thuốc:
“Biết mùi gần hết rồi nghen mậy, thua gì trâu bò”.
Nó cười, quẹt lửa châm thuốc cho hai anh em:
“Sướng hơn chút đỉnh, hông bị oánh”.
Anh Lãm gục gật:
“Ờ, mà mới đó gần hai năm, lẹ ghê, chẳng lẽ mày muốn ở suốt trong này hả?”.
Nó nhún vai:
“Chẳng biết nữa anh ơi, tới đâu hay tới đó, anh thì có tính gì hông?’.
Anh Lãm chề môi:
“Tao biết tính gì, định về cưới vợ, mà sợ bị tó”.
Nó nhả một hơi khói dài:
“Cũng lâu rồi mà, bữa nào anh về dò la coi, êm êm thì cưới, mà cưới rồi anh làm gì?”.
Anh lãm hít sâu điếu thuốc, ém khói luôn:
“Thì tao quay lại đây làm tiếp chớ biết làm gì”.
Hai anh em quay đầu lên sườn dốc.

***

Nó về thăm nhà. Dự tính hai bữa trở vô. Má nó nói thằng Chí hai tháng nay, chiều tối thứ bảy tuần nào cũng ghé coi nó có về không, có chuyện gì đó muốn nói, thằng Chí đã lên huyện làm liền lúc vừa tốt nghiệp. Ở thêm vài ngày nữa chờ thằng Chí, không việc gì làm, nó lôi mấy quyển truyện cũ ra đọc lại. Sách vở đã dồn hết vào cái rương đóng chặt, nó nghĩ khó có bao giờ lôi ra làm gì. Ngấu nghiến hết Thằng Gù Nhà Thờ Đứa Bà Paris, Tereda, Tội Ác Và Trừng Phạt, nó lục lọi dưới đáy rương gặp được Nàng Iseult tóc vàng. Đang đọc thiên diễm tình đẫm lệ tới nửa chừng thì một tờ giấy rơi ra, cầm lên thì ra là tờ giấy chép bài thơ tình Vũ Hoàng Chương:
Mòn con mắt đợi cổng trường
Người ta về… các ngả đường xôn xao
Bóng ai nào thấy đâu nào?
Mây càng thấp gió càng cao…
Một mình…

Nét chữ chép bài thơ là của cô bạn học cùng lớp mà nó cho mượn quyển truyện, thực ra đâu cho mượn, cô bạn này mượn qua cô bạn ngồi kề nó thôi. Nó không thể quên được nét chữ này, cũng như gương mặt hay cả dáng đi dáng đứng. Nó cầm bài thơ mà người bỗng lâng lâng khó tả, lâng lâng như những lúc đứng từ xa nhìn cô nàng, nó đâu dám lại gần, lâng lâng khi thấy đôi mắt ấy quay lại nhìn rất lạ, cũng không thể tả được.
Trời sập tối thằng Chí từ trên huyện đạp xe về ghé nhà nó trước. Gặp nhau hai thằng mừng quá trời quá đất, cũng phải một năm rưỡi hai đứa mới gặp lại. Nó hỏi thằng Chí:
“Mày nhắn gặp tao có chuyện gì?”.
Thằng Chí nhìn nó:
“Chu cha, giờ ra dáng rồi nghe, có gân có guốc, chững chạc lắm, râu lún phún dữ nghe”.
Nó phì cười:
“Dáng cái con khỉ, tao cưa riết nên vậy, còn mày cũng cao lớn hơn nhiều, có khác tao, trắng trẻo mập mạp, đâu như tao đen sì”.
Thằng Chí kéo nó lên xe:
“Thôi, tao mày xuống chỗ xã có quán nhâm nhi trò chuyện tiếp”.
Nó gật đầu, nhảy lên xe:
“Ừ, mày cũng biết uống rượu rồi hả?”.
Thằng Chí cười:
“Biết lâu rồi, lên huyện vài bữa là biết”.
Thằng Chí đạp xe đi, nó nhớ lại thời còn đi học, rồi lại nhớ bài thơ rớt ra, nó hỏi:
“Ê mày Chí, mày nhớ nhỏ Hạnh lớp mình hông?”.
Thằng Chí đáp:
“Nhớ sao hông mậy, mày làm như lâu lắm rồi hông bằng, con nhỏ xinh gái lại học giỏi, mà tao thấy nó mếch mày đó, còn mày cũng mếch nó phải hông?”.
Nó gãi đầu:
“Mếch gì mày ơi, nó con nhà cán bộ, ở thị xã khá thấy bà ai dám…”.
Thằng Chí chọc:
“Xời, mếch nói mếch đại thằng quỷ ơi, bày đặt, con nhỏ mà mếch tao tao cũng mếch lại liền”.
Nó đấm vô lưng thằng Chí mấy cái, kể chuyện bài thơ trong quyển truyện rồi hỏi:
“Nói thiệt mày thấy nó mếch tao hả?”.
Thằng Chí cười ha hả:
“Thấy hông, dấu đầu lòi đuôi, nói chơi chớ tao thấy mếch mày thiệt, con nhỏ dễ thương, sao mày mới gặp nó à?”.
Nó buồn buồn:
“Gặp gì mà gặp, tao ở trong rừng rú suốt từ lúc ra trường tới giờ”.
Thằng chí tiếp:
“Bữa nào mày xuống dưới tìm nó coi sao?”.
Nó giãy nãy:
“Nói chơi nhắc chuyện cũ, nhắc kỷ niệm chớ sao được mậy, tao giờ có ra gì”.
Thằng Chí quẹo vô quán cháo lòng của cô Năm. Hai đứa vô quán bỏ lửng câu chuyện về cô bạn học. Sau này không gặp lại bao giờ nhưng với nó đây như mối tình chớm nở.
Kêu dĩa lòng thêm tô xí quách và xị rượu gạo, rót hai chung nhỏ nó đưa chung cụng cái cốp:
“Mừng hội ngộ, mày làm gì trên huyện?”.
Thằng Chí ực hết chung rượu:
“Mày nhớ hồi còn đi học tao đã viết lách, có đăng báo chút chút hông?”.
Nó gật đầu, thằng chí tiếp:
“Trên huyện có biết, tao học văn cũng khá nên cho tao phụ trách bản tin, bản tin có hai người làm thôi”.
Nó hất hàm:
“Chà, dữ nghen”.
Thằng Chí chề môi:
“Thường thôi mày ơi”.
“Làm khá hông?”.
“Cũng tàm tạm, lương chẳng đủ nhưng được khoảng này khoảng khác, đi công tác có chừng hai ngày chớ mấy, chia hai hướng là xuống hết xã, đi hai ngày hỏi đủ thông tin đóng đủ con dấu”.
Nó thắc mắc:
“Là sao?”.
Thằng Chí giải thích:
“Thì một chuyến công tác là một ngày, đóng dấu đừng ghi ngày, buột lươn lẹo chút mày ơi, đi hai ngày nhưng giấy tờ thanh toán thì mười lăm ngày, mười lăm xã lãnh đủ tiền tàu xe lưu trú, có dư chút tiền xài, rồi viết thêm bài ngoài chỉ tiêu, làm thơ làm thẩn có thêm tiền nhuận bút…”.
Nó gục gật:
“Sướng mậy”.
“An nhàn đỡ cực thân, bởi vậy tao mới rủ mày lên làm, trên huyện còn tuyển người, bữa tao gặp phòng tổ chức nói còn cần, tao kêu cho một chỗ bạn em, chị này nói được, tốt nghiệp mười hai là ngon rồi”.
“Tao biết làm gì”.
“Mày cứ lo bò trắng răng, người ta làm được mình làm được, nhiều người chưa hết lớp chín kìa, vừa làm vừa học hỏi thêm, à mày thấy hông mấy đứa tốt nghiệp lớp chín chớ mấy, hay mấy đứa lớp mình nghỉ ngang giờ làm thầy cô giáo hết rồi, khỏe ru đó”.
Nó chưa hiểu:
“Sao hay vậy mậy?”.
Thằng Chí lắc đầu quầy quậy:
“Đúng là mày ở trong rừng riết chẳng biết gì, bây giờ đổi mới rồi mày ơi, bớt khắc khe hơn hồi trước nhiều, đâu còn chế độ mua bán bằng tem phiếu, sổ gạo nữa mày thấy hông, ruộng đất cũng đã khoán trắng về cho bà con, ai có sức nhận bao nhiêu cũng được, đâu còn khống chế, chia nữa đâu. Còn vụ thầy cô, có đợt tuyển giáo viên cấp tốc, khóa học có ba tháng, có khóa một tháng hà, mấy đứa nó thành thầy cô hết chớ sao, đang thiếu giáo viên trầm trọng mà”.
Nó lơ mơ hiểu hiểu chút:
“Là vậy hả?’
Thằng Chí gật đầu:
“Mày làm hồ sơ đi, thứ hai đưa tao đi ký cho dễ, mấy ông ở xã giờ cũng ngán tao lắm, lạng quạng tao phang một bài là chết, tao nghỉ một ngày, thứ ba tao đem nộp, chắc chừng nữa tháng tao về báo cho làm gì ở đâu”.
Nó trố mắt:
“Thiệt hả mậy?”.
Thằng Chí nảy người:
“Tao nói giỡn sao, chắc chắn trăm phần trăm, mày bạn chí cốt tao tao hông giúp thì giúp ai”.
“Tao biết mày tốt với tao nhưng…”
Thằng Chí cắt ngang:
“Hông nhưng hông nhị gì hết, thứ hai đưa hồ sơ cho tao”
Nó đành gật đầu:
“Thôi cũng được, nhưng để tao vô lại trong đó chia tay với chú bác, anh em”.
Thằng Chí cười:
“Ai cấm mày, mày có nửa tháng mà, à mày cho tao đi với, tao vô tao viết về mấy lâm tặc này coi, xong kêu kiểm lâm bắt luôn – Nó cười ha hả rồi chợt ngưng bặt, trầm ngâm: Giỡn chơi vậy chớ ai muốn vô chỗ bần cùng nhứt này, để mang trên người cái tai cái tiếng, hoàn cảnh và cơm áo… à mà quên hỏi mày làm trong đó sao, đỡ hông?”.
Nó gục gật:
“Mày biết đó, ngày đêm đối mặt với rừng, chừng đó con người, ăn xong vác cưa vác búa đi, tối về sau khi ăn là làm vài ly xong lăn ra ngủ, ngày qua ngày cứ vậy, làm gỗ thì tiền khá, đâu có xài gì giữa rừng, tao có dư phụ bà già. À mà vừa rồi mất một vố khá đau, lâu lâu cũng bị bắt nhưng bắt ít, kỳ này mất trắng, tính ra công cán cả hai tháng trời”.
Thằng Chí nhíu mày:
“Mất nặng dữ vậy, kiểm lâm lùng tới nơi à?”.
Nó lắc đầu:
“Hông, đưa về nơi bán mới bị bắt”.
Thằng Chí ngờ ngợ, nó có nghe vậy đâu rồi:
“Bán ở đâu mậy?”.
“Bán cho công ty gì thuộc huyện đó tao hông biết nữa”.
Thằng Chí nhớ ra:
“Trời, bán ở đó hả mậy, chết rồi, bị gài rồi mày ơi”.
Nó ngỡ ngàng:
“Sao mày biết?”.
Thằng Chí gõ gõ tay xuống bàn:
“Bữa tao cũng có nghe ai nói mà quên, tao định tìm hiểu vụ này mà chưa xong, chưa có chứng cứ, họ bắt tay làm chuyện ác quá, dĩ nhiên đi làm rừng là trái phép nhưng họ đâu có ngăn chặn từ đầu, họ cứ để cho làm rồi bắt, bắt chia nhau mới đau”.
“Chia nhau cách nào?”.
“Chuyện là vầy, công ty thì thiếu gỗ để sản xuất, để xuất đi kiếm lời, vậy là họ bày ra mưa kế, thông báo ngầm sẽ mua gỗ của bà con giá cao, một hai chuyến đầu họ mua trả tiền ngon lành nhưng mua ít thôi, ai nấy đều khoái, thấy bán cho họ được quá, vậy là họ hẹn một ngày tập hợp hết lại, hẹn khuya để che dấu ý đồ, bà con chuyển gần tới là bị phục kích sẵn của kiểm lâm, họ bắt tay với kiểm lâm mà, vậy là bị bắt hết, kiểm lâm đóng búa, kiểm lâm hóa giá rẻ bèo cho công ty họ thành ra gỗ hợp pháp, gỗ hợp pháp xuất đi bán lời gấp mấy, sổ sách thì làm gì ghi lời nhiều, tiền dôi ra chia chác cho nhau, hôm họ xong vụ này kéo nhau ra quán lớn nhứt ở huyện ăn nhậu thâu đêm rần rần ”.
Nó lắc đầu:
“Hèn gì mất trắng, bữa bên tao mất gần chục xe gỗ, may tháo bò chạy kịp, gỗ và xe bò nằm lại, toán tao mất ba xe vậy, tội nghiệp mấy người chở mướn, chưa lấy tiền chở lại mấy cả xe, nghe đâu mấy toán khác còn mất cả bò, bỏ chạy mất xác chớ hông bị bắt đi tù. Thiệt nhiều người thất đức quá, chuyện này người trong đó mà biết chắc trả thù…”.
Thằng Chí lo lắng:
“Mày có nên kể hông, trả thù có được hông, tao thì hông có bằng chứng, chỉ nghe lại thôi nhưng tao biết chắc là vậy, chính người trong đó nói”.
Nó suy nghĩ hồi lâu:
“Thôi, trời cao có mắt, sẽ có quả báo, chớ để trả thù, đổ máu cũng đâu có gì hay, rồi cũng đâu có thoát khỏi tù tội…”.
Thằng Chí gật đầu:
“Vậy đi mày”.
Hai đứa uống đã hết lít rượu, ngà ngà và đêm đã tối, hai thằng ngất ngưỡng đạp xe về và ngêu ngao cho đỡ buồn.( còn tiếp)
***
LÊ ĐẮC HOÀNG HỰU

EM VÀ ĐAO PHỦ THỦ.

hochibuu

Ta không là cổ thụ
Kiêu hãnh giữa rừng xanh
Ta chỉ là lá cỏ
Đao phủ thủ. Sao đành?

Chém lút vào quá khứ
Một trái tim dại khờ
Chém sâu vào ký ức
Bằng nỗi buồn như thơ.

Ta đong đưa định mệnh
Thả nổi số phận mình
Em tình cờ trôi đến
Cập bến bờ lặng thinh.

Lá cỏ chờ mưa xuống
Hồng ân một giọt tình
Mây vô tình bay mãi
Cuốn mưa vào điêu linh.

Một chút gì sương khói
Lãng đãng quanh đời mình
Một chút gì mệt mỏi
Trong tận cùng vô minh.

Người yêu- Đao phủ thủ
Hãy chặt rớt đời ta
Bằng lưỡi đao máu lửa
Rồi mỉm cười. Hát ca…

Hồ Chí Bửu

ĐÊM DI LINH KHÔNG EM

trandzalu

Đêm Di Linh không em
Anh thở cùng đồi núi
Tiếng thở trong mưa vội
Nghe tấc lòng không yên

Đêm Di Linh không em
Anh che trời không nổi
Buồn cứ rót vào tim
Lời tình xa… thánh nữ

Đêm anh hùng cát cứ
Bại tướng đã lâu rồi
Miền cô đơn thăm thẳm
Nhớ mắt ai suốt đời

Đêm Di Linh có người
Ném mẩu tàn thuốc lá
Vào không trung xa lạ
Dụi mắt ngơ ngác cười…

Em là gì em ơi
Sao anh vác thập giá
Chịu đóng đinh giữa trời
Để quên người không nổi?

Ngủ chay mà cứ nhớ
Môi miệng lúc em cười
Sài Gòn , Sài Gòn phố
Em là gì em ơi?

Trần Dzạ Lữ