Nắng vàng trong rừng khô

truongvu

Cách đây hơn ba mươi năm, khi còn ở Philadelphia, mỗi lần đi bộ từ nhà trọ đến trường đại học, tôi thường đi ngang một khu townhouse thuộc giới nghèo trên đường Chestnut. Nếu đi vào buổi sáng, khoảng mười giờ, có nắng tốt, thế nào tôi cũng nhìn thấy một người đàn bà ngồi trước thềm nhà. Da trắng, khoảng sáu mươi, tóc trắng như bạch kim, chải sát vào đầu. Lúc nào cũng vậy, người đàn bà ngồi im lặng, bất động, mắt nhìn xa, đăm chiêu, trông như một pho tượng của Rodin. Có vẻ như với bà những gì đang xảy ra trước mặt không có nghĩa gì cả. Tôi không biết bà đang nhìn gì, thấy gì. Chỉ có cảm giác là vào lúc đó trong đầu bà chắc bao nhiêu hình ảnh của quá khứ đang trở về, bao nhiêu tâm tư từng lắng sâu vào tâm khãm đang sống lại. Khó ai biết. Chỉ biết nơi con người đang ngồi bất động đó hiển lộ một sự sống khác, dường như chứa chất một thãm kịch nào. Những lúc như vậy, tôi đểu mơ có khả năng vẽ nên một chân dung đích thực, biểu hiện được những phức tạp của con người, những thứ phức tạp thường tạo nên một cái đẹp kinh hồn cho nghệ thuật. Giấc mơ đó không thực hiện được. Cũng có lúc, tôi muốn tìm hiểu hơn về bà, hoặc tìm cách nói chuyện với bà. Nhưng, tôi luôn ngần ngại, không biết làm cách nào và cũng không chịu khó suy nghĩ kỹ hơn phải làm cách nào.

Từ lúc rời Philadelphia đến nay, thỉnh thoảng tôi có trở về, có đi ngang con đường cũ, nhưng không bao giờ gặp lại con người đó. Hình ảnh người đàn bà ngồi như pho tượng trước thềm nhà vào mỗi sáng rất khó quên. Nó khiến tôi liên tưởng đến một vài hình ảnh khác, để viết ra những dòng sau đây.

Tôi có một người bạn trẻ, LLT, tốt nghiệp về phân tâm học ở đại học Johns Hopkins, Baltimore. Thời gian làm nghiên cứu sinh, T tình nguyện vào làm trong một bệnh viện tâm thần ở Boston và tại một số tư gia do cơ quan tỵ nạn địa phương giới thiệu. Bệnh nhân của T thuộc nhiều thành phần người Việt khác nhau, tuổi từ 15 đến 70. Ở đây, có những người đàn bà bị điên loạn sau khi trải qua những nỗi đau kinh hoàng trên biển, mất chồng, mất con, bị hãm hiếp,… Ở đây, có những đứa trẻ mới trước đó sống êm ấm với gia đình bỗng chứng kiến những cảnh hãi hùng, rồi vụt cái, mất cha, mất mẹ, mất anh em, rồi ngơ ngơ ngác ngác trong một xã hội hoàn toàn xa lạ. Ở đây, có những người qua tuổi trung niên hoàn toàn mất định hướng, không đương đầu nổi với những đổi thay quá lớn, quá nhanh về hoàn cảnh, văn hóa, ngôn ngữ, xã hội. Ở đây, có những thanh niên mắc các loại bệnh về ảo giác, lúc nào cũng trông thấy những hình ảnh kỳ lạ, nghe những âm thanh ma quái luôn thúc giục mình làm những điều không phải, v.v. T làm việc với những bác sĩ, y tá, cán sự xã hội địa phương. Sau năm năm, vì nhu cầu hoàn thành luận án, T phải về lại trường rồi sau đó đi kiếm việc làm. Lúc T rời Boston, có khoảng 25 phần trăm trong số bệnh nhân này hồi phục để có thể tiếp tục đời sống một cách tương đối bình thường như nhiều đồng bào khác của họ. Những người còn lại, theo hiểu biết của T, đa số sẽ không chữa trị được. Đời sống của họ như thế nào qua từng tháng ngày trong khu bệnh viện tâm thần, cho đến những giờ cuối cùng, ít tai biết. Đến nay, vì làm việc ở xa, T không thể tình nguyện trở lại bệnh viện đó như trước, nhưng mỗi lần nói về những bệnh nhân cũ cũa mình T vẫn còn đầy xúc động như nói về những người thân bất hạnh.

Viết đến đây, tôi chợt nghĩ đến trường hợp một người đàn bà tôi có nghe đến. Đó là một phụ nữ trẻ đẹp khi cùng chồng và hai đứa con còn rất nhỏ vượt biển khoảng cuối thập niên 70. Trên đường vượt biển, thuyền họ gặp nạn, hai đứa con rớt xuống biển, người chồng vội nhảy xuống cứu và cả ba đều chết đuối. Thãm kịch xảy ra nhanh như chớp trước mắt chị. Chị và một số người khác được cứu sống. Chúng ta có thể mường tượng ra những gì xảy ra sau đó cho người đàn bà bất hạnh này. Sau một thời gian ở trại tỵ nạn, chị được đi định cư ở Mỹ, luôn giữ bên mình những kỷ vật của chồng và hai con, góp nhặt được sau tai nạn trên biển. Suốt gần mười năm kế tiếp, chị sống âm thầm với kỷ niệm lẫn với những ám ảnh kinh hoàng từ chuyến đi định mệnh đó. Không ai nghĩ rằng chị có thể trở lại đời sống bình thường. Cho đến khi có một người đàn ông khác đến. Tình thương, hiểu biết, kiên nhẫn, ân cần… đã mang lại chị một niềm an ủi. Họ thành vợ chồng. Trong nhà vẫn để bàn thờ của hai con và người chồng cũ, nhưng họ quyết định sống một đời mới. Không biết những năm tháng sau đó, những ám ảnh của quá khứ có thỉnh thoảng quay về, chen vào giữa họ, nhưng đây vẫn là một “happy ending”. Chị may mắn hơn rất nhiều người đàn bà khác cùng cảnh ngộ, cùng là nạn nhân của thảm kịch trên biển đông trong thập niên đầu sau khi chiến tranh chấm dứt. Có nhiều người còn trải qua những kinh nghiệm hãi hùng hơn.

Cuối năm rồi, tôi hân hạnh gặp một thanh niên đến từ Việt Nam, do các con tôi mời về dùng cơm tối với gia đình. Người thanh niên ở khoảng tuổi ba mươi, nói năng nhỏ nhẹ, ăn mặc và ứng xử như mọi thanh niên bình thường khác. Khi trò chuyện với tôi, lúc nào cũng xưng “con” nên lúc đầu tôi ngỡ là bạn của các con tôi. Sau vài câu thăm hỏi mới biết đó là một linh mục thụ phong chỉ được vài năm. Sau khi thụ phong, ông tình nguyện đến coi sóc một viện mồ côi nhỏ ở Sài Gòn, dành cho những trẻ em bị HIV. Trong số này có những em còn cha mẹ nhưng bị bỏ vào đó vì cha mẹ không đủ khả năng nuôi dưỡng. Tuổi thọ của các em thường không quá mười lăm. Một số bác sĩ gốc Việt ở Mỹ khi về Việt Nam làm thiện nguyện có đến thăm viện mồ côi này. Xúc động về hoàn cảnh của các em và cảm kích về những nỗ lực của ban điều hành và những người tình nguyện đến chăm sóc, cùng những khó khăn về nhiều phương diện, nhóm bác sĩ quyết định vận động giúp đỡ viện. Phần lớn sự trợ giúp đến từ các thân hữu Việt và Mỹ ở hải ngoại. Do đó, vị linh mục cùng với một em bị HIV với một y tá đi theo săn sóc được mời sang Mỹ gặp gỡ các thân hữu. Tôi có gặp bé gái đó. Xinh xắn, nói năng rất tự nhiên và lễ độ, dễ gây cãm tình của người đồi diện. Mới nhìn tưởng chừng đó là một em bé khoảng mười tuổi nhưng thật ra em đã mười sáu tuổi, mà sức trưởng thành chỉ đến đó. Em nói năng rất tự chế, chấp nhận số phận mình một cách tự tại. Những người đã đến thăm viện mồ côi cho tôi biết các em ở viện không được trường học bên ngoài nhận nên viện tổ chức lớp học riêng cho các em. Các em được học hành và vui đùa như mọi trẻ em bình thường khác, mặc dầu tất cả đều biết mình sẽ rời cõi nhân gian này bất cứ lúc nào. Dĩ nhiên, thực hiện được điều đó không dễ. Vị linh mục cần sự hỗ trợ của rất nhiều người.

Nói đến những bác sĩ thích làm thiện nguyện, tôi nghĩ đến một người bạn trẻ khác, bác sĩ LTL, một chuyên gia về ruột. Ông thường mang sách vở về tặng và mời một số giáo sư y khoa Mỹ và Việt về giãng ở đại học y khoa Huế. Trong một chuyến đi như vậy cách đây khoảng mười năm, mỗi ngày ông đều thấy một bà cụ đẩy xe bán bánh mì đến chợ Bến Ngự, sáng đi chiều về, ngang qua nhà ông. Ông để ý thấy một chân của bà cụ đi đứng không được bình thường. Một hôm ông đến chợ, đến nơi bà cụ bán bánh mì, ngồi xuống xin phép xem chân bà, thấy ghẻ lở ăn sâu vào thịt. Sau đó, cứ hai ba ngày ông mang thuốc đến, tự tay chăm sóc vết thương. Khi vết thương gần lành hẵn, có thể tự chữa lấy được, cũng là lúc ông từ giã bà cụ về lại Mỹ. Bà ôm ông khóc. Ngày nay, LTL là một bác sĩ rất thành công ở Maryland. Ông có phòng mạch riêng, nhận làm chủ nhiệm khoa ruột của một bệnh viện quan trọng một thời gian, và là giáo sư thỉnh giảng ở một đại học y khoa lớn, nhà cửa sang trọng, gia đình hạnh phúc. Mới đây, ông kể tôi nghe, vài tháng trước ông có về lại Việt Nam. Người đồng nghiệp ở y khoa Huế thường làm việc chung với ông trong những chuyến về thiện nguyện, trước đây khá nghèo, bây giờ lái một chiếc Mercedes mói toanh ra đón ông ở phi trường. Tôi thực sự mừng cho sự thành công của họ, mừng họ có nếp sống cao, vì họ xứng đáng được hưởng thành quả do tài năng và sức lao động của họ. Tuy nhiên, mỗi lần nghĩ đến LTL, hình ảnh đầu tiên hiện ra trong đầu tôi vẫn là hình ảnh một bác sĩ trẻ ngồi xuống chăm sóc ghẻ lở nơi bàn chân một bà cụ bán bánh mì ở chợ Bến Ngự.

Ở hải ngoại, chúng ta thường nói, thường ca ngợi những thành công cá nhân của người tỵ nạn hay con cháu những gia đình tỵ nạn. Nhưng, chắc chúng ta cũng biết bên cạnh đó có rất nhiều người không thành công. Đặc biệt, có nhiều người rất thiếu may mắn đang kéo lê cuộc đời của họ trong âm thầm. Với bề ngoài lặng lẽ, họ chứa chất bên trong một thế giới riêng, thường khó hiểu với người xung quanh. Những cái thế giới như thế chắc phải có một sức mạnh nào đó, một sự nặng nề nào đó để kéo họ thu mình vào, không tìm được lối ra, hay không muốn tìm một lối ra. Cũng có thể, thế giới đó rất đơn giản, chỉ dung chứa một số phận không may, không thể làm gì khác hơn là chấp nhận nó như một định mệnh nghiệt ngã. Như trường hợp các trẻ em mồ côi bị HIV, như trường hợp bà cụ bán bánh mì ở chợ Bến Ngự, v.v. Nếu may mắn, họ có thể gặp những người có một tâm lượng lớn hơn bình thường, một sự thông cảm lớn hơn bình thường, cũng bằng một cách lặng lẽ đến giúp đỡ, chia sẻ nổi đau của họ. Như người tu sĩ, người chồng, và những người trẻ tuổi tôi đã kể trên. Và, còn bao nhiêu người khác nữa chúng ta không thể nói hết ở đây.

Những việc làm đầy tình người của họ, dù nhỏ hay lớn, như những tia nắng vàng trong rừng cây khô, đã làm cuộc đời có ý nghĩa hơn. Và, nếu những cố gắng đầy chân tình đó biến đổi được một số phận không may hay mang lại một niềm vui, một tia hy vọng về tương lai cho một người bất hạnh, tôi cho đó là một thành công lớn. Một thứ thành công dễ khiến những người nghe đến trở nên thâm trầm hơn.

Trương Vũ

Maryland, tháng Năm 2010

67

DÂU BỂ VÔ THƯỜNG

nguyenminhphuc

Giấu một trời ảo vọng
Vào trần gian khói sương
Nghe bên trời chuông gióng
Một hồi kinh vô thường

Lá vàng rơi chánh điện
Ai thả lời sắc không
Ngày cũng buồn im tiếng
Trầm khói chiều mênh mông

Có người ngồi soi bóng
Trên dòng sông lặng thinh
Nghe trong chiều đại mộng
Vọng khẽ tiếng ru tình

Gió bên trời vẫn thổi
Như nghìn năm phiêu diêu
Từng hồi kinh sám hối
Gõ chiều rơi hắt hiu…

Nguyễn Minh Phúc

HƠI THỞ VIỆT NAM

trantrungdao

Trên đám cỏ này là nơi anh đã nằm
Trên nắm đất này là nơi máu anh đã nhỏ
Ðất vẫn một màu nâu
Cỏ vẫn một màu xanh muôn thuở
Mặt trời mỗi sớm vẫn rọi vào làm lóng lánh
những giọt sương
Như đôi mắt sáng của anh
Lần cuối cùng ngửa mặt nhìn tổ quốc yêu thương
Dưới chân tượng đài Thủy Quân Lục Chiến.

Trung Tá Long !
Họ của anh là gì vẫn chưa ai biết
Có phải là Ngô, Ðinh, Lý, Trần hay Lê, Nguyễn…Văn Long?
Không, tên của anh đã bắt đầu
Từ ở núi, ở rừng, ở biển, ở sông
Ở những câu chuyện thần tiên mẹ thường hay kể.

Từ thuở Cha Lạc Long dắt năm mươi con xuống bể
Mẹ Âu Cơ dắt một nửa lên ngàn
Từ thuở bầy chim Lạc chắp cánh bay về
vùng nắng ấm phương Nam
Xây tổ bên sông Hồng, sông Cửu.

Tên của anh đã bắt đầu khi con rồng Việt Nam
phun lửa đốt rừng dựng nên bờ cõi
Truyền vào lồng ngực anh hơi thở vào đời
Hơi thở Việt Nam hòa trong anh suốt thuở làm người
Sáng ba mươi anh trở về với mẹ
Hồn anh bay giữa trời quê hương
Một màu tang quạnh quẽ
Tổ quốc nghiêng mình tiễn biệt một người con.

Lòng anh đau khi nghe tiếng xe tăng
Ðang nghiền nát Sài Gòn
Hy vọng chết dưới mỗi lằn xích sắt
Viên đạn Nga bắn vào tim nước Việt
Lưỡi lê Tàu đâm thủng ngực dân Nam.

Ôi có bao giờ trong suốt bốn nghìn năm
Mà đất trời quê hương ta buồn như hôm ấy
Những mẹ, những cha, những cụ già, em bé
Ngơ ngác nhìn nhau, sợ hãi, kinh hoàng.

Một chế độ vừa bắt đầu
Bằng hận thù, khủng bố, lầm than
Bằng tiếng xích T54 đay nghiến hồn dân tộc
Xé nát lòng anh bao hờn căm và tủi nhục
Anh đã chọn cho mình một cách chết quang vinh.
Anh ngã xuống giữa Sài Gòn không để lại đủ họ tên
Nhưng lịch sử nghìn năm sau vẫn nhớ.

Trung Tá Long !
Mây vẫn bay trên đầu anh mỗi chiều, mỗi sớm
Mặt trời mọc mỗi ngày làm lóng lánh giọt sương mai
Như nước mắt mẹ già nhỏ xuống xác con trai
Như ánh mắt chị nhìn chồng trong giờ vĩnh biệt
Ðất vẫn một màu nâu đậm đà như tình người dân Việt
Nơi anh nằm hoa cỏ vẫn xanh tươi.

Máu anh rơi để làm đẹp cuộc đời
Tô thắm đường các em sẽ đến
Các em là thuyền nhờ có anh là bến
Trong cuộc hải hành này anh là ngọn hải đăng soi.

Ðường tự do dù còn lắm chông gai
Nhưng đã có anh mang niềm tin đi trước
Cám ơn anh, người con yêu đất nước
Ðã truyền lại cho muôn đời hơi thở Việt Nam.

Trần Trung Ðạo
(Bài thơ viết tại Thư Viện Boston (Boston Public Library) khoảng 1990 sau khi tôi xúc động bắt gặp bức hình của Trung Tá in trong một cuốn sách về chiến tranh Việt Nam. Ngày đó họ của Trung Tá vẫn chưa được xác định. Tôi đặt tựa bài thơ là Hơi Thở Việt Nam và in trong tập Thao Thức, xuất bản lần đầu năm 1993 nhưng lưu truyền trong internet theo tên gọi dễ nhớ là Trung Tá Long)

Bay cao thì mặc bay cao

nguyentri

Thật kỳ lạ. Chả có cái nhà nào trong toàn cõi nước Nam như nhà ông Quốc. Chắc là mã tổ táng trên đất dữ. Ông Quốc là một, thằng con tên Đĩnh là hai giờ đến phiên thằng cháu nội Đạc cũng bị luôn thì có kỳ quái không? Dư ruột. Hai từ nầy tuy dễ phát ngôn nhưng trị nó thì lắm anh nhà giàu còn chới với nói chi nghèo. Hãy xem cu Đạc.
Đang yên đang lành bổng cu Đạc héo hon gầy mòn nuốt không được và xả không ra. Từng bị nên Đĩnh tức tốc đưa con đi viện. Sau vô số cái gọi là siêu âm đến nội soi. Hồ sơ bệnh án kết luận cu năm tuổi bị dư ruột. Muốn yên phải cắt bỏ. Muốn phẩu thuật chí ít Đạc phải có trọng lượng là hai mươi ký lô. Trước mắt là đục một cái lỗ bên hông cho chất thải vô bịch nilon. Gia đình mang về bồi dưỡng kỹ vào, mỗi tháng tái khám một lần. Chừng nào đủ kí lô và đảm bảo sức khoẻ ta tính tiếp. Hai vợ chồng Đĩnh thiếu điều đi ăn mày.Chòm xóm láng giềng thương lắm nhưng biết làm sao? Đĩnh phải na cái thân từng bị cắt bỏ năm tấc ruột đi kiếm tiền. Việc kiếm tiền của Đĩnh bị thiên hạ cho là thất đức. Mà thất thiệt chứ không chơi.
Đĩnh hành nghề bẫy chim bán cho bá tánh. Bá tánh ở đây gồm ba loại.
Loại thứ nhất là dân chơi chim kiểng.
Loại thứ hai là quán nhậu
Loại thứ ba là dân mua thiên đường và niết bàn bằng chiêu thức phóng sinh.
Nghiệp nầy Đĩnh kế thừa từ ông Quốc. Thuở thiên hạ nếu không nương rẫy phải rừng rú mới có cái tọng vô mồm thì từng qua mổ xẻ vì dư ruột như ông Quốc sức đâu mà cuốc ruộng hay chặt cây? Bù lại ông trời cho Quốc một tài vặt là giả giọng rất hay. Bất kỳ con nào Quốc giả thì con thú ấy còn bị nhầm nói chi con người. Dân nhậu rất chuộng mồi màng các loại chim. Lá rụng, Két hoặc Cút rừng không con nào qua được mặt con Cuốc. Cuốc hiếm lắm, chỉ kiếm ăn vào ban đêm. Bên những con lạch, bờ tre hồn ông vua trong hai câu thơ “ khắc khoải sầu đưa giọng lững lơ, ấy hồn Thục đế thác bao giờ…” gõ nhịp cuốc cuốc thảm sầu không xiết kể. Để bẫy phải có tài dụ dỗ bằng cách giả giọng. Rất nhiều thằng theo nghiệp nhưng không trụ được như Quốc. Vì sao? Vì có đêm Quốc kiếm được cả chục thì thằng khác nhiều lắm hai con là hết phép. Đâu phải cứ giả giọng là xong. Quan trọng anh phải biết cái giọng kiếm bạn tình của loài chim nầy mới ăn. Về sau mỏi miệng quá Quốc mới tậu cái thu băng. Bốn giờ sáng bà con cô bác nghe tiếng cuốc vang vang là biết ngay Quốc đang lặn lội kiếm tiền để lo cho cái dư ruột của thằng con tên Đĩnh. Vậy là bá tánh vừa cầu cho linh hồn con chim Đỗ Quyên siêu thoát vừa cầu cho cu Đĩnh mau đủ hai chục ký mà mổ. Một con Cuốc quán nhậu thu gấp chục lần con Cút. Không có nó không chừng ngày nay Đĩnh xanh cỏ như cha.
Ông Quốc còn có tài bẫy Nhồng. Loài chim nầy nhà giàu nuôi để làm kiểng bởi nó biết nói. Muốn bẫy kẻ theo nghề phải có một con mồi thiệt ngon. Một con nhồng mồi giá ít nhất là năm chỉ vàng, phải kiệt cùng kiểu người thân có nguy cơ chết chủ sở hữu mới đành đoạn bán. Nhồng mồi phải là loại mới ra ràng. Dân chuyên nghiệp phải rập rình lúc nào anh chị yêu đương, lúc làm tổ và lúc nào đẻ. Loài chim này không làm tổ dưới đồng bằng mà trong hốc những cây cổ thụ trên non. Có anh chị làm nhà trên ngọn cây cao cả hai mươi mét. Chờ cho chim con tập bay ta trèo lên lúc đêm hôm khuya khoắt mới bắt được. Trèo cổ thụ bắt Nhồng khó gấp một chục lần bắt ong. Bắt ong người ta dùng đinh thép dài bốn mươi phân đóng vô thân cây. Thắt lưng giầy đinh của thợ trèo trụ điện lên đến đâu nện đinh đến đó. Bắt Nhồng không được để cho chim mẹ nghe động. Phải khéo léo như vua ăn trộm Thời Thiên trong Thuỷ Hử mới đặng. Vậy mà chỉ con non sợ bóng tối chứ mẹ thì đừng hòng bắt được. Để có một chú nhồng non khó vậy đấy, nhưng đó chỉ mới là bước đầu tiên. Để luyện cho ra một con mồi thì nhiêu khê hơn một tỷ lần. Con Nhồng ăn ớt thuộc loại khủng nhưng hể thấy máu là lăn ra chết. Để thần phục người ta cho Nhồng ăn cơm trộn chung với lòng đỏ trứng gà ta, phải âm ấm nó mới ăn, nóng nó chê, nguội ngoảnh mặt. Đã nói một con mồi trị giá năm chỉ vàng chứ đâu ít. Và đó mới chỉ là xong một con chim mồi.
Để kiếm ăn Nhồng luôn di chuyển. Người đánh bẫy phải đi theo. Tháng nầy ở Đồng Nai, tháng sau phải có mặt ở rừng Phan Thiết. Đi xa thì phải một hội bốn năm anh em. Cứ đường mòn trong rừng ta phóng xe đạp. Mỗi chuyến đi phải một tuần trang bị như hành quân giết giặc. Mỗi em một tấm lưới chụp. Hạ trại rồi ta sẽ dọn sạch một khoảng trống giữa rừng. Bốn tấm lưới sẽ liên hoàn thành một vòng vây. Bãi phải dọn cho thật sạch và thả các thức trái cây mà các em Nhồng khoái khẩu. Đu đủ chín vàng là một. Ớt chín là hai. Hai hoặc ba chú Nhồng mồi vừa hót vừa mổ réo gọi đồng bọn xuống chung vui. Trong cái mớ thức ăn dụ dỗ kia có cả cơm trộn với lòng đỏ trứng gà. Loài người thật buồn cười. Làm sao mà họ cho chim ăn cái thứ mà con người mới biết nhỉ? Có trong nghề mới biết. Thủ đoạn chứ chả nhân đạo chi. Mầu vàng trứng để lừa lũ chim rằng đây là đu đủ chín nè mấy con. Ăn đi. Ăn xong thì chóng hay chầy lũ chim sẽ nghiện. Cứ nhìn mấy con mồi thì biết, thả khơi khơi trong rừng mà chúng chả thèm đi đâu ngoài phạm vi bẫy chụp. Cơm trộn trứng người chủ nấu bằng nước lá cần sa. Ăn xong chú chim sẽ không bao giờ dám rời xa chủ nữa. Dân cà phê cóc dã chiến khi xay ra bột cà phê đã rang họ trộn bông và lá cần sa để khách nghiện. Uống cà phê trộn cần sa khác hẳn thứ cà phê trộn chung với bột của hạt cau khô. Nếu bột hạt cau làm ta khó chịu thì cần sa cho ta một hưng phấn rất chi dịu dàng.
Thợ săn sẽ ém bất động trên những cánh võng giăng giữa rừng. Chim trời khôn lắm, đang yên bình bổng nhiên có một khoảng trống đầy nắng. Bên trong là hai ba đồng loại đang nhởn nhơ chơi trò rống rắn lên mây. Lũ chim sẽ nghiêng ngó hỏi nhau rằng cái gì vậy kìa? Rồi một hai em nhảy xuống thăm dò. Ồ không sao cả. Chả có chi trừ các thức mà ta thích. Ngày thứ nhất trôi đi, ngày thứ hai trôi đi. Thứ ba thứ tư thứ năm cũng trôi đi luôn. Và bầy chim mất cảnh giác bởi sự gian trá của loài người. Một hai ba giật. Bốn mảnh lưới sập xuống và chí ít một chục chú nhồng về với lầu son gác tía mua vui cho các cô các cậu con nhà thế gia.
Năm Đĩnh mười hai tuổi thì ông Quốc chết. Đang cùng nhau dọn sân bẫy ông bị một con rắn Hoa Mai đớp một phát vô kẻ tay. Nọc độc của loài rắn nầy mạnh đến độ nạn nhân chết tức khắc. Bạn phường săn cáng ra lộ bằng võng rồi lên xe về nhà. Lúc ấy Đĩnh đang làm công cho quán nhậu Chim Lá Rụng. Công việc chính là nhổ lông chim. Tức là một năm sau ngày mổ bỏ năm tấc ruột già bị dư Đỉnh chỉ còn nhổ lông chim là vừa với sức khoẻ. Cha chết Đỉnh chả biết làm chi ngoài trừ theo mấy tay đi lấy lộc từ chim trời.
Sau một ngày rong ruổi, mặt trời tắt nắng là chim Lá Rụng hội lại thành đoàn kiếm chỗ trú thân. Nơi qua đêm của Lá Rụng là những đám mía. Ở xứ Đĩnh ngụ, rẫy của cư dân nương nhờ nhiều vào mía. Mía bạt ngàn, nương nầy nối tiếp nương kia cả vài mươi héc ta. Khi mía cao quá đầu người thì chim Lá rụng đổ về từng đoàn. Đã có người hỏi rằng vậy những ngày tháng kia chúng ở đâu khi đêm xuống? Rồi khi mía thu hoạch chúng về đâu? Cũng chả ai biết mà trả lời. Nói chung đó là chuyện của Lá rụng và trời cao, hơi sức đâu mà xen vào cho rách việc. Chiều đến chúng tụ lại đen kịn cả một góc trời rồi cùng nhau rụng xuống một đám mía nào đó. Nhìn cảnh những cánh chim rơi trong trời chiều đẹp không bút nào tả xiết. Phải nhanh chân để xem nghe bạn, mươi phút là không còn một cánh chim nào trên bầu trời. Chả chi nhanh bằng rụng.
Phường săn đứng trên lộ nhìn Lá Rụng sa. Xác định được đám mía của ai rồi họ sẽ đến nhà chủ rẫy ngã giá đặt bẫy. Lá Rụng xuống đám mía của ai nhà đó vớ một cú cũng âm ấm. Xong vụ ngã giá sẽ đến tiết mục thuê người đuổi chim. Bốn giờ sáng làm việc đến năm giờ. Chỉ một tiếng trả cho anh nửa ngày công nhật. Tám giờ tối phường săn sẽ giăng lưới vây quanh một phần ba đám mía. Bốn giờ sáng cùng nhau ta a la xô. Lá Rụng đang ngủ bị đuổi sẽ ào lên phía trước và cứ thế sa hết vô lưới. Ta chỉ việc cuốn lưới lại rồi cho tất cả vô lồng. Mỗi lồng chí ít là năm trăm em Lá Rụng. Một đêm đi càn chót bẹt cũng một chục lồng. Làm phép nhân đơn giản là ra ngay hai từ kinh khủng liền. Chim di lý về mấy quán nhậu. Cân cái lồng ra số ký là biết số con. Cứ chục mười hai ta chốt sổ. Bầy con nít sinh ra trong gia cảnh nghèo sẽ làm lông lũ chim nầy. Con chim vặt sạch lông nhưng vẫn còn sống lổm ngổm và chéo chét đầy sân nhà nhìn qua buồn muốn khóc luôn đó hỡi người ơi.
Nghề nầy phải có vốn kha khá bởi một bộ lưới bẫy không ít tiền. Đĩnh đi theo với tư cách long tong cho các anh sai vặt. Hết mùa Lá Rụng nó đi theo bẫy Nhồng, hết Nhồng là Két. Học nghệ và làm nghề từ năm mười hai tuổi nên năm hai mươi tuổi Đĩnh lên hàng sư phụ. Nó lại hơn bạn phường săn cái tài giả giọng di truyền từ cha. Không một cuộc phiêu lưu nào thiếu Đĩnh. Mọi việc đang trôi êm bổng nhiên khựng lại. Khựng một cái kịch.
Nguyên nhân là bạn cùng hội cùng thuyền nghỉ hẳn trò chơi chim chuột. Đất nước đổi mới rồi, con cái của họ làm việc trong mấy công ty nên dư thừa của ăn của để. Bầy trẻ nhận ra sự độc ác cuả cái nghiệp cha ông chúng vì thiếu đói mà sa chân. Chúng buộc các ông ở nhà bằng cách thẩy cho đứa cháu nội hay ngoại chi đó nhờ trông chừng. Nghiệp săn chim để sống đâu thể một mình mà nên chuyện. Một mình cũng đặng nhưng chỉ để chơi cho thoả cái mê. Đĩnh thì còn quá trẻ để ngộ ra câu làm mai lãnh nợ gác cu cầm chầu. Đến cái lúc mà ngay cả con Cút cũng được nuôi đại trà thì thậm nguy cho Đĩnh lắm. Loài chim nầy khi nuôi thịt thà của nó cả rô ty cũng chẳng ra chi vì nhảo nhét và một con cút hoang dã giá gấp năm lần con được nuôi bằng cám thực phẩm vẫn không có mà giao hàng. Lý do là ruộng đồng nương rạch đã vào quy hoạch để xây dựng nhà máy sạch bách rồi. Rừng cũng lùi xa đến cả Két và Nhồng cũng biệt mù tăm dạng. Chỉ còn một vài loài như Sáo hay Chào Mào đỏ đít còn gọi là Đội Mũ là tàm tạm để duy trì nghiệp, dù chỉ một mình.
Con Sáo thì ngây thơ lắm lắm. Một lần chị chàng Sáo dại dột làm tổ ở cây Tràm sau nhà. Canh me chim non đủ ngày tháng Đĩnh chơi nguyên tổ cho vào lồng để nuôi. Chim mẹ chéo chét tới đòi con. Thấy vậy Đĩnh xách lồng treo lên cây tiếp tục để mẹ nuôi con. Lũ chim non nầy có giá lắm. Dân có của mua về để luyện nói nghe chơi. Đĩnh để lại một con làm mồi. Nhờ con mồi và một cái bẫy sập mà Đĩnh có cả một lồng Sáo, cứ ung dung trên xe đạp kiếm cơm. Mùa tình Sáo mẹ lôi về một anh trống cùng làm tổ trong vườn nhà. Vậy là lại có chim non.
Nhưng Sáo hay Đội Mũ là loài để chưng diện. Người mua hiếm lắm. Có hôm Đĩnh dừng chân qua năm cái chợ mà chả bán được một em. Đồng nghiệp khuyên rằng thôi cho chim về trời lại đi Đĩnh ơi. Kiếm một công ty nào đó mà gia nhập. Thời nầy ai ai cũng công nhân. Chả ai nên cửa nên nhà nhờ vào chim chóc. Mày mà còn theo nghiệp nầy chả ai dám gã con gái cho mày. Nói chi gã bán cho mệt, ngay cả yêu đương Đĩnh cũng mệt cầm canh. Mấy cô mấy chị thà ế chứ chả ai yêu đương với chàng. Gia cảnh nhà Đĩnh ảm đạm quá. Cha chết sớm, mẹ bỏ đi còn sớm hơn. Chả là năm Đĩnh bị dư ruột, khổ quá, thiếu thốn quá bà má bỏ đi một hơi không ngoảnh lại. Thêm cái hết ông cha tới Đĩnh cùng chung một dư ruột. Các nàng và cha má các nàng tin rằng tới phiên mình cũng bị luôn. Dư ruột không di truyền nhưng cái nghiệp sẽ cho ta quả đắng.
May thay thời công nghiệp hoá quán cà phê mờ đèn đầy dẫy khắp chợ thì quê phục vụ các anh xa quê hương chuyện ái tình. Đĩnh đến karaoke để nghe em hát bài đừng xa em đêm nay. Một em như vậy đồng ý về nhà nấu cơm cho anh ăn. Chàng đi buôn chim thì nàng ở nhà đi hát ka ra. Lúc cô vợ lớn bụng thiên hạ nói Đĩnh đổ võ ốc cho ai đó rồi. Biết ai trong số lũ lượt khách đến karaoke yêu cầu em hãy ôm anh và hãy nói em cần anh?
Thiên hạ nói bậy. Con Đĩnh chính xác đến từng xăng ti mét một mà không phải thử máu hay ADN chi. Năm tuổi thằng Đạc lại bị dư ruột. Hoạ vô đơn chí phúc bất trùng lai. Con bị bệnh hiểm cùng lúc với cái hát năm en nờ một tràn ngập toàn thế giới. Thiên hạ đem gà vịt và cả chim tiêu diệt sạch. Bầy chim của Đĩnh không ngoại lệ.
Nhưng không sao. Ông trời luôn có đức hiếu sinh. Vợ Đĩnh vẫn ung dung kara là ô kê. Giọng ca cô chả hay ho gì, tầm cỡ ca sĩ còn bó tay chịu sầu nói chi miệt ruộng.Nhưng nhan sắc của gái một con thì ta còn chết nói chi tây và tây đui.
Đĩnh ở nhà chăn con sao cho đủ hai mươi ký mà mổ.
***
Hỡi các mẹ hiền trên khắp thế gian – những người mà – con cái rất xinh tươi, rất ngoan hiền và mạnh khoẻ. Chỉ cần con của mẹ trái gió trở trời thì lo lắng đến thức trắng đêm. Nếu các mẹ đứng trong hoàn cảnh của Đĩnh thì mới biết thế nào là niềm đau khổ. Để có một trọng lượng hai mươi ký cho một thằng cu bị dư ruột thì khó vô cùng. Chả có con bệnh nào trên thế gian nầy thèm ăn, người lớn còn biết đánh vần chữ ráng chứ trẻ con ta làm sao? Vợ đi hát kara từ sáu giờ tối đến mười hai giờ khuya. Về là lăn ra ngủ. Mệt mỏi quá biết làm sao? Rất nhiều đêm khách mời đi chơi đến sáng, không đi thì không được với chủ nhà hàng. Ai bảo đẹp không khổ?
Đĩnh và cái nghề săn chim tàn cuộc đành ngâm câu gái chơi đã trở về già hết duyên. Ở nhà chăn con cho vợ kiếm tiền. Tay cầm chén dẫn con loanh quanh trong sân nhà chủ yếu dụ dỗ con nuốt được miếng nào hay miếng đó. Không ăn thì uống sữa cao cấp ngoại nhập. Thằng cu đã không ăn còn đòi cầm chén, vậy là cơm cháo vương vãi khắp sân. Bầy chim sẽ trên mái nhà ríu rít nhảy xuống kiếm hạt cơm. Con đau nên bao nhiêu chim chóc trong nhà Đĩnh đổ tháo hết rồi, chả còn lấy một con giống cho cu con vui mắt. Nhìn thằng cu chạy theo bầy sẽ khúc khích cười bà xã Đĩnh bảo:
– Bắt cho nó vài con đi anh.
Đĩnh lặng yên suy nghĩ. Làm sao để bắt sống một con chim bây giờ ta? Thợ săn liền vào nhà lôi ra một tấm keo diệt chuột. Đơn giản thôi mà. Vài hạt gạo rãi trên tấm keo, ngay lập tức không phải một mà những ba em sa lưới tử thần. Kẹt cái thứ keo nầy dính khiếp đảm, chú chim tội nghiệp vừa sa chân là ngã. Để gỡ cho ra thì chú đơ cán cuốc, không thể nào rửa sạch keo, chỉ còn nước cho mấy tay già mà ham lấy tiết để luyện môn cường dương đại bổ. Chả hiểu từ đâu mà thiên hạ tin rằng tiết chim sẽ rất thần diệu vụ chiếu giường. Vậy là ngay lập tức thợ săn Đĩnh khấp khởi mùng vì biết cách làm ra tiền phụ vợ lo cho con.
Mấy tay già mà ham no cơm nên rửng mở lắm. Đĩnh mang tiếng ác khi làm cái nghiệp nầy nhưng đâu đã nhẫn tâm bằng họ. Kéo trong tay họ xắp một phát là mỏ chim bay mất. Máu từ đó sẽ nhỏ vào ly rượu, cả mười chú chim mới cho ly rượu trắng hoá màu hồng. Một bàn nhậu chừng ba anh trai già là có một mâm ba mươi chú se sẻ rô ty. Vâng, để phục vụ cho một trong tứ khoái thiên hạ lên rừng tàn sát cả tê giác thì ba con chim bé tí nào có nghĩa địa gì. Đúng là khi mang lấy nghiệp vào thân khó lóng mà bỏ lắm. Đĩnh mua về cả lốc tấm keo diệt chuột cắt nhỏ ra rồi cột vào những khẳng khiu của cành cây. Không dụ dỗ được bằng cách rãi thực phẩm thì ghi âm tiếng chim rủ rê bạn tình đi ăn tiệc. Thời buổi mà một cái ghi và phát âm bằng ngón tay thì đại bàng còn sa lưới nói chi ri rích các loài chim.
Nhưng để có chim bán cho quý ông quý bà phóng sinh mua đường bình yên sau khi chết thì chỉ một Đĩnh mới biết. Bí mật chuyện nầy. Bể ra bọn cạnh tranh nhào vô liền. Chả phải thấy Đỉnh kiếm ăn được với keo diệt chuột bọn vô công cũng nhảy vô mà phá giá đó sao? Thời buổi mà chục rưởi con chim sẻ đã có một liều ma tuý thì tội cha chi chúng không nhập cuộc? Và cả hội vô cùng ngạc nhiên khi Đỉnh xách cả lồng chim se sẻ, chủ nhật thì đứng trước cổng nhà thờ, rằm mồng một thì đứng trước cổng chùa để bán. Làm sao có được chim không dính keo để thả lại với thiên nhiên vậy kìa?
Nhìn những cánh chim bay trở lại trời xanh sao mà đẹp quá. Nhưng se sẽ là giống núp dưới mái ngói hiên trường, mái nhà thờ và mái nhà lợp rạ. Chúng bay đi đâu khi rừng đã quá xa xôi rồi. Và bay đi đâu khi món khoái khẩu của Se sẻ là thóc? Có tung đi đâu Sẽ vẫn chốn cũ tìm về. Mà về thì lọt vào keo diệt chuột. Chú nào may mắn vào tay Đĩnh thì còn có cơ hội đôi ngày nhìn được cuộc đời. Nhưng bọn ma tuý khôn ranh lắm. Chúng quyết tìm cho ra bí mật mà Đĩnh đang sỡ hữu. Đĩnh giăng bẫy và máy ghi âm ở đâu chúng liền đến để chọc phá. Bọn nghiện chả luận một thằng cha ẳm đứa con bệnh tật đi kiếm sống chi ráo. Con chim thấy bóng người là vù mất dạng, làm sao bẫy được khi hai ba thằng ngồi dưới cành cây dán keo để đấu láo thì chịu sầu. Và cả bọn đến tận nhà yêu cầu Đĩnh cho bí mật.
– Ô kê. Nhưng với một điều kiện – Đỉnh yêu cầu.
– Nói đi, được là bọn tao ô kê.
– Bất kỳ thằng nào bẫy ngày nào cũng giao cho tao một cặp se sẻ.
Cả bọn phá ra cười. Cười đã chúng nói:
– Một cặp chục ngàn bạc. Bọn tao mỗi thằng cho mày một ngày hai chục ngàn. Được chưa?
– Tao không cần tiền. Chỉ cần chim.
– Ô kê. Cầu thì được ước thì thấy.
Ra cái loại keo Đĩnh sử dụng nằm trong mấy công ty sản xuất ván ép. Ba cái mạt cưa và gỗ vụn người ta sử dụng loại keo nầy để ép. Chỉ cần móc ngoặc với một công nhân làm ở khâu ép yêu cầu nó bán cho dăm chục nghìn là xài mệt xỉu:
– Loại keo nầy – Đĩnh nói – dính rất chặt nhưng hể dấp nước là bung, cả một cọng lông cũng theo ra. Tụi mày biết đó, ba cái ván ép hể đụng nước là bung liền… khì khì khì, tụi sản xuất khôn trời thần. Ván ép mà như tụi Mỹ đem qua nước mình thời chiến tranh thì mấy công ty sản xuất thời này chết đói hết.
Vậy là cổng chùa và nhà thờ tha hồ mua chim phóng sinh. Những ngày thường se sẻ đến quán nhậu cho mấy quan anh chặt mỏ lấy tiết, sau tiết là rô ti hay xào lăn thì tuỳ. Nhưng mấy tay chơi ma tuý muôn đời không uy tín. Vụ cống nạp gọi là tạ ơn anh đã cho em biết bí mật. Thậm chí giới thiệu cái thằng ăn cắp keo bán cho quý anh cũng chả nhớ. Mấy anh xù dù hai con se sẻ chả đáng là bao. Bán phóng sanh thì nhiều lắm được chục nghìn một con, còn quán nhậu năm nghìn là hết phép. Sao mà mất uy tín quá.
Thực ra nào phải vậy. Hãy nghe Hải xì ke nói:
– Bà mẹ nó thằng điếm thúi Đĩnh… Tụi mày biết hai con chim mà nó bắt trong lồng của tụi mình là chim gì không?
– Gì?
– Không để ý là không nhận ra. Không được mách nước là cũng mù luôn.
Thì ra trong cái giống se sẻ hiền lành kia trăm con cũng lọt vô được một cặp rất kỳ lạ. Không để ý là không phân biệt được. Khi bỏ riêng người ta mới nhận ra được sự khác biệt. Loài chim luôn đi thành đôi, dáng dấp như chim sẻ nhưng màu lông hơi khác. Một con phớt mầu đỏ và con kia phơn phớt trắng. Con phớt đỏ là trống và phớt trắng là mái. Dân chuyên môn gọi là Phong Thuỷ. Cặp Phong Thuỷ nầy những trăm nghìn một cặp. Mấy tay nhà cao cửa rộng cần lắm loài chim nầy. Có nó nhà cao sẽ cao thêm. Quyền uy sẽ được củng cố chắc như bắp.
Đĩnh lại tiếp tục đứng ở cổng chùa nhìn thiên hạ tung chim. Vừa tung họ vừa nói, bay đi con, bay cao lên, cao lên, cao cao lên…
Trong óc Đĩnh hiện lên câu ca dao… bay cao thì mặc bay cao…
Nguyễn Trí

TẠ LỖI VỚI SÀI GÒN

nguyenhaithao

Mẹ sinh con ra Quận 3
Con lớn lên Quận 5, Quận 6
Sài Gòn vòng nôi
ru con thời thơ ấu
Sài Gòn phù sa
bồi đắp con nên người
màu mỡ những buồn – vui…

Tuổi thơ con
vô tư thả những con thuyền giấy
trên vũng nước hè đường mùa mưa
hì hục hít – thở
bụi bặm khói xe mùa nắng
Mười lăm tuổi mộng mơ
những dòng sông quê mênh mang
những núi đồi trùng điệp
tập tễnh đưa vào trang thơ đầu đời

Con vào đời lúc đất nước chia hai
Tin chiến sự dẫy đầy trang báo
Đêm từng đêm
thắc thỏm nghe đạn pháo
Ánh hỏa châu soi sáng một góc trời
Sài Gòn chở che con
qua tuổi đôi mươi
bằng câu hát “Dậy mà đi” thôi thúc

Con trưởng thành
Sài Gòn giải phóng
Trăm ngọn cờ bay trong câu ca
Giờ đỏ rực phố phường
Sài Gòn dìu con
qua từng bước chông chênh
bằng giọt mồ hôi con đổ
trên những vồng khoai
trong những giờ đứng lớp
Sài Gòn cưu mang con
cho đến tận bây giờ

Ơn Sài Gòn
con mang nặng hai vai
Nửa đời
Chưa viết nổi một câu thơ dâng tặng
Sao cứ mãi đắm chìm
trong những bài thơ tình lãng mạn
Và mơ tưởng những chuyến đi xa
để nằm nhớ Sài Gòn

Bài thơ này
như một lời tạ lỗi riêng con…

NGUYỄN HẢI THẢO

Chào Sài Gòn Thân Mến

tranvanle

Tôi đi từ Mỹ về Sài Gòn
Chiếc áo mù sương còn đẵm sương
Cái sac cầm tay ghìm, nặng quá
Cái tình thương quá, nhé Quê Hương!

Tôi xuống phi trường xong thủ tục
Tôi đi ra cổng, ngó quanh quanh
Không ai biết mặt tôi, chờ đón
Tôi ước gì nghe một tiếng “Anh!”…

Tôi gọi taxi, tìm khách sạn
Sài Gòn xe cộ chạy lung tung
Nhìn mà chóng mặt, mà cay mắt
Chợt thấy ai kia mái tóc bồng…

Chợt thương chợt nhớ thời tôi trẻ
Đi phép về thăm viếng Thủ Đô
Hồi đó Sài Gòn trong thuở loạn
Mà sao êm ả khác bây giờ…

Hồi đó có người con gái đẹp
Hất đầu…Anh chải tóc cho em…
Bây giờ…vẫn đó, người con gái
Mắt chạm sao nhìn chẳng phải quen!

Tôi đi từ Mỹ về Sài Gòn
Ba chục năm rồi chắc héo hon?
Nắng nhạt trên hàng cây đã cỗi
Chiếc áo tôi vừa khô hết sương…

Sài Gòn đẹp lắm Sài Gòn ơi (*)
Tiếng hát ai đang hát nghẹn lời
Đường nối đuôi nhau xe gắn máy
Người nối đuôi nhau…người có đuôi!

Trần Vấn Lệ

VÒNG KÝ ỨC THÁNG BA

phantranghy

Hải bặm môi, trở mình. Mấy hôm nay trở trời, nằm trên giường nệm, anh vẫn thấy ê ẩm cả người. Vết thương ngày nào, giờ, tái phát. Nhưng anh gắng gượng. Anh phải cố sức để vẽ cho xong bức tranh về đồng đội anh ngày nào, về một thời đã ám ảnh anh trong từng hơi thở, trong từng mảng màu, nét cọ mà anh thao thức.
Anh khó nhọc chống cùi ngồi dậy. Miệng khô khốc. Anh nuốt nước bọt. Chỉ có sự rát đau ở họng. Anh đưa miệng ngậm chiếc ống nhựa, hút nước ở ly.
Uống nước xong, anh lại định thần, gắng hít thở thật mạnh. Tựa lưng vào chiếc gối, anh nhìn bức tranh còn dang dở. Hình ảnh đồng đội của anh lại hiện về.
Nhớ lại ngày ấy, anh cùng đồng đội xây dựng đảo. Chiến dịch CQ88 được phát. Nhận lệnh là đi. Chỉ có trái tim vì biển, vì đảo. Không phải là những câu khẩu hiệu tuyên truyền mà chính là mệnh lệnh của trái tim, của tình yêu biển đảo đã đưa anh cùng đồng đội đến với Gạc Ma.
Nhìn bức tranh, anh như thấy từng người. Này là Quân, lính trẻ nhất đơn vị, thích nghe anh nói chuyện về những cô gái ở làng biển quê Quảng Nam. Này là Nhơn, người lúc nào cũng thích ca bài chòi. Cựa một tí là ca. Dù chẳng có hơi xuống giọng xề. Thế nhưng, mỗi lần rảnh là ca. Anh em trong đơn vị thích cái tính xuề xòa của Nhơn nên cũng thích luôn những lời ca dân dã ấy. Này là anh Phương, chỉ huy, coi anh em như ruột thịt. Còn biết bao nhiêu người nữa. Họ trong tranh như cười động viên anh vượt qua cơn đau.
Nhìn tranh, anh nhớ lại ngày ấy…
Trời hửng sáng. Biển vẫn trong xanh. Cả đơn vị đang ra sức xây dựng đảo. Yên bình trên từng lời bông đùa của đồng đội. Yên bình trên từng con sóng. Hải như nghe được lời của Nhơn ca: “Đảo này là của chúng ta. Ngàn năm ta giữ nước nhà Việt Nam…”. Tiếng vỗ tay vang lên. Chưa kịp cười đùa cho thỏa thích, Hải bỗng nghe tiếng loa. Lởn vởn tàu của giặc. Chúng bắt loa gọi đơn vị anh rời đảo. Nhưng lời của bọn giặc chẳng là cái quái gì. Cả đơn vị phớt lờ lời của giặc. Anh em được lệnh của anh Phương: “Phải bình tĩnh. Đảo là của ta, ta quyết giữ. Chúng ta giữ đảo là giữ đất Mẹ Việt Nam. Quyết không rời đảo!”. Lúc ấy, Hải như thấy tất cả đều có tâm niệm: “Quyết không rời đảo!”. Bọn giặc tìm cách khủng bố tinh thần của anh em. Rồi bất thần, bọn chúng xả súng về phía đơn vị anh.
Hải không ngờ tình thế như vậy. Chỉ tiếng súng nổ. Và đạn bay… Chợt tiếng của Phương vang lên: “Tất cả nắm chặt tay nhau, kết thành vòng tròn. Quyết tâm bảo vệ đảo, bảo vệ cờ Tổ quốc!”. Đó cũng là mệnh lệnh của trái tim. Trong làn đạn của giặc, Hải và đồng đội siết tay thật chặt, kết thành vòng tròn, giữ cờ Tổ quốc. Lá cờ ngạo nghễ giữa biển trời. Giặc vẫn xả súng. Hải một tay nắm tay Nhơn, một tay nắm tay Quân. Và cứ thế vòng tròn vẫn vững trước đạn thù. Bỗng, Nhơn á lên một tiếng. Giọng Nhơn đứt quãng. Máu Nhơn! Nhơn bỏ tay Hải, quỵ xuống: “Anh Hải!… Hãy… trả thù… cho… em!”. Đạn giặc trước mặt, sau lưng, bên phải, bên trái… Đạn giặc bao vây đồng đội anh. Rồi, Quân cũng bị trúng đạn. Quân ngã trên người Hải, giọng phều phào: “Anh đưa… em… về quê… nghe!… Nói… với Mẹ… là em… em… nhớ Mẹ… lắm!… Còn chuyện… mấy đứa… con gái… làng chài quê anh…,… em xin… nói lời… vĩnh… biệt… với họ… Mẹ!… ”. Quân hy sinh trên tay anh. Anh chưa kịp nói lời nào thì lại nghe tiếng gào to. Đó là tiếng Phương. Tiếng của Phương hòa trong tiếng sóng: “Thà hy sinh, chứ không chịu mất đảo”. Đạn giặc bắn không ngừng. Hải thấy hai tay mình như có ai chém.
Hai tay của Hải không còn. Trước mắt anh sừng sững lá cờ Tổ quốc cùng đồng đội. Mắt anh vẽ một khoảng không. Biển. Đảo. Đồng đội. Cờ Tổ quốc!…
*
* *
Hải được giải đặc biệt về Biển đảo Quê hương, nhiều phóng viên đã đến tìm hiểu về cuộc đời anh. Bấy lâu nay, có ai biết đến Hải Trường Sa là ai đâu. Nhưng giờ đã khác. Bút danh Hải Trường Sa khẳng định với công chúng về tài năng hội họa.
Tôi được Hội Văn học Nghệ thuật thành phố gửi giấy mời tham dự buổi khai mạc và trao giải thưởng. Vì bận việc đột xuất, nên tôi đến trễ. Chỉ được xem tranh là chính. May mắn cho tôi là được thưởng thức một số tranh dự thi đoạt giải cùng với một số tranh khác của những họa sĩ nổi tiếng trong nước.
Sau khi xem từng bức tranh, tôi giành thời gian bên bức tranh đạt giải đặc biệt. Trước mắt tôi là bức tranh mang tên “Vòng ký ức Tháng Ba”. Và điều làm tôi ngạc nhiên là, bên cạnh bức tranh, một người không còn hai bàn tay. Đó chính là Hải Trường Sa, tác giả bức tranh ấy. Một số phóng viên đang phỏng vấn anh. Anh chỉ cười. Đứng cạnh Hải, tôi nghe anh trả lời:
– Có gì đâu! Tôi không vẽ là tôi còn nợ với chính tôi. Tôi chỉ là người lính giữ đảo năm nào, giờ là như thế này đây – Anh cười và đưa hai cánh tay cụt – Cũng may cho tôi là chất lính một thời trong tôi giúp tôi vẽ. Còn đời tư tôi, xin các bạn thông cảm, tôi không muốn nói về mình. Chỉ thế thôi!
Nghe những gì anh trả lời, không hiểu anh ta khiêm tốn hay kiêu. Nhưng rồi, nhìn nụ cười hiền với tiếng nói đặc sệt chất giọng Quảng Nam, cùng với ánh mắt sáng tự tin, tôi tin lời anh nói.
Và rồi, người xem tranh cũng bớt dần. Tôi đến làm quen Hải. Tôi tự giới thiệu về mình, là thầy giáo, nhà văn, thích xem tranh vẽ. Hải nhìn tôi cười. Và đưa cái cùi chỏ đụng vào bàn tay tôi lắc lắc.
Từ đó trở đi, chúng tôi thành bạn của nhau. Những khi rảnh, tôi thường đến thăm Hải. Hoặc trao đổi qua facebook. Càng ngày chúng tôi càng thân nhau. Biết tính Hải không muốn nói về mình, nhưng tôi cũng hỏi chuyện riêng tư của Hải. Vì thân, mà đã là bạn thân cần gì phải dấu nhau điều gì, nên rồi Hải cũng tình thật kể cho tôi nghe.
– Cậu biết không, hồi thanh niên, mình thích vẽ lắm. Nhìn những tranh của Bùi Xuân Phái, Tô Ngọc Vân, rồi đến Đinh Cường, Bửu Chí, Rừng… là mình mê tít. Mình có một tập ảnh chụp lại các bức tranh mình thích. Nhìn những bức tranh ấy, nhiều lần, mình tưởng tượng các sắc màu trong các tranh ấy như muốn nói với mình: “Bạn cứ tin vào khả năng và tình yêu của chính mình thì mới có thể vẽ những tranh đẹp được”. Mình tin lời sắc màu nói với mình. Từ đó, ngoài chuyện học, mình lại lao vào việc mày mò, tìm hiểu về hội họa. Nào là cách tìm chủ đề, tìm bố cục, cách pha màu… Thú thật, mình thích vẽ từ nhỏ, lại có chút năng khiếu, nên mình vỡ lẽ ra là mình có thể vẽ những gì mình thích, những gì in đậm dấu ấn trong lòng mình.
Hải nói như trút hết tâm trạng của mình. Tôi cầm cùi tay Hải, xoa xoa, nói:
– Hèn gì! Phần thưởng cậu nhận xứng đáng với công sức của cậu.
Hải kẹp ly nước lên uống. Rồi để xuống bàn. Tôi nhìn căn phòng xinh xắn, đầy những tranh. Có bức đã hoàn thành. Có bức chưa xong. Bên cạnh giá vẽ nào là những hộp sơn, lọ màu… Đủ cả. Tất cả đều gọn gàng. Nhìn căn phòng một hồi, Tôi khen:
– Họa sĩ như cậu có khác! Nghiêm túc dữ.
Hải nhìn tôi cười:
– Sao cậu lại nói thế? Tại cái tính mình giờ nó thế. Quen rồi. Để mọi thứ lộn xộn, ngổn ngang, mình không chịu được. Cũng tại chất lính một thời tạo cho mình cái tính ấy. Thật ra, khi còn trẻ, trước khi vào lính mình cũng a-ma-tơ lắm.
– Hồi trẻ, cậu nghệ sĩ lắm thì phải? Kể cho tôi nghe cậu tập như thế nào mà được như rứa?
Hải cười to, tiếng vang như sóng biển:
– Ừ, thanh niên đa phần là thế mà cậu. Bộ cậu không có à? Nhưng giờ, như cậu thấy đó, mình phải tự nghiêm túc với chính mình mà. Cũng nhờ làm lính đó.
Như được dịp kể cho tôi nghe, Hải cho biết những năm tháng ở quân trường, anh phải tự điều chỉnh ghê lắm. Chớ thằng con trai nào không có chút máu nghệ sĩ? Cái máu ấy tạo ra những biểu hiện để gọi là chút tài tử, chút chịu chơi. Hải nói rằng con trai mười tám, đôi mươi có tính như con chim trống rướn cổ hót phô bày bản lĩnh trước lỗ tai của những chim mái; như gà trống, rướn cổ gáy, phô diễn khả năng trước sự cương trứng của gà mái; như công trống xòe sự rực rỡ, phơi sắc màu tình yêu trước ánh mắt của chim mái. Hải cũng tâm sự, hồi chưa vào lính, anh thường thức khuya, đàn hát như khoe cho hàng xóm biết tài của mình, hoặc để bọn con gái chú ý. Có lẽ, hầu như đàn ông trai trẻ đều có một thời như vậy! Nhưng rồi, khi vào lính, dù tính đàn ông con trai vẫn thế, nhưng sống có quy củ hơn. Ăn có giờ, học có giờ, tập có giờ. Chệch giờ giấc là bị kỷ luật ngay. Không một hai gì cả. Còn quần áo, mùng mền, chiếu gối đâu vào đó. Ngay ngắn, sạch sẽ, ngăn nắp. Giường nào cũng như thế, cũng răm rắp.
– Còn bức tranh được giải vừa rồi, cậu vẽ khi nào? Do đâu?
– Khi nào à? Mình chỉ nhớ là mình nhớ biển, nhớ con sóng ở Trường Sa. Không biết làm gì để đỡ nhớ, mình lên mạng tìm những bài hát về biển đảo, về tháng Ba. Tình cờ mình xem một video về trận Hải chiến ở Gạc Ma. Xem mà mắt mình rưng rưng. Như có ai bóp tim mình. Như ai đó làm mình nghẹt thở. Vòng tròn ấy cứ ám ảnh mình từ đó!
– À, ra vậy!
Từ khi đạt giải, mỗi lần Thành phố có triển lãm tranh về chủ quyền biển đảo, Hải đều được mời gửi bức tranh đạt giải tham dự. Và lần nào cũng vậy, tôi tìm cách dàn xếp công việc, thời gian để chở Hải đến phòng triển lãm. Như mọi lần, tôi cùng Hải đứng trước tranh ngắm nghía. Hải nói như thấy Nhơn, Quân, anh Phương cùng đồng đội hiện về. Còn tôi, lần này, như thấy trong tranh, trước mắt mình, hiện lên là vòng lửa bất diệt, vòng của sự sinh tồn của đất nước, vòng của sự sinh sôi, nảy nở lòng yêu nước, vòng của sự kết đoàn toàn dân tộc. Trước mắt tôi là các chiến sĩ – những chàng trai nước Việt – nắm tay nhau làm cột mốc. Những gương mặt ánh lên lòng tự hào, sẵn sàng hy sinh vì biển đảo. Tôi như nghe đủ giọng nói của mọi miền Tổ quốc. Giọng Nghệ Tĩnh, Quảng Bình, giọng Khánh Hòa, Quảng Nam… Bắc, Trung, Nam có cả. Tôi như nghe họ hát. Tiếng hát của họ hòa vào sóng biển vang mãi ngàn năm cho con cháu Việt Nam biết một thời bi tráng của dân tộc.
Đứng trước bức tranh “Vòng ký ức Tháng Ba” là mọi người và tôi. Nhìn sâu vào trong tranh, tôi nghe từ tiếng vọng từ bức tranh: “Thà hy sinh, chứ không chịu mất đảo!”.

Phan Trang Hy

SÀI GÒN NGÀY DÀI NHẤT (Chương 12)

duyenanh

23 giờ 20. Khí thế cách mạng tăng cường độ. Nhân dân chuẩn bị mít tinh, biểu tình sáng mai từ đêm nay. Đường phố đã nghẹt người, tiếng loa vẫn réo gọi nhân dân đừng quên bổn phận chào mừng cách mạng thành công. Chai rượu thứ hai của chúng tôi còn quá nửa. Tôi khó hiểu tại sao đêm nay tôi không say, dù mệt mỏi, dù ăn ít và uống quá nhiều. Bây giờ, tôi quyết định ra phố xem diễn tiến cách mạng 30-4-75 có giống cách mạng 19-8-45.
Phải thành thật nói rằng, hai mươi năm sống ở Sài gòn, tôi chưa hề thấy đêm nào Sài gòn cuồng nhiệt như đêm nay. Y hệt đêm 19-8-45 ở thị xã Thái Bình của tôi, năm tôi mười tuổi. Dân tộc Việt Nam luôn luôn khao khát cách mạng vì luôn luôn thèm khát hạnh phúc. Chúng ta đã lạm phát cách mạng, lạm phát chủ nghĩa. Mà chúng ta vẫn thiếu hạnh phúc, thứ hạnh phúc đơn sơ đủ làm con người gần gũi con người, đủ để tình tự kết đan tình tự. Khi con người bước gần biên giới của tuyệt vọng, nó sẽ thấy áng lên từ bên kia ánh sáng hy vọng. Bởi thế, cách mạng này hư đốn, chúng ta hy vọng cách mạng khác. Cách mạng khác hư đốn, chúng ta lại hy vọng cách mạng sắp xẩy ra. Nhân dân Sài gòn đang cuồng nhiệt đón chào cách mạng vô sản, sẽ nguội lạnh vài tháng sau. Có thể vài tuần sau. Tôi đoan quyết. Vì tôi đã kinh qua một lần cách mạng tháng 8. Cách mạng tháng 8 ở đêm 30-4 này còn khoác hào quang mười năm kháng chiến chống Pháp giành độc lập, được khoác thêm hào quang 20 năm chống Mỹ cứu nước.
Người ta không nhìn thấy thiên đường, dĩ nhiên. Người ta chỉ nhìn rõ trần gian, nơi người ta đang sống đọa đầy và, dù không biết địa ngục ra sao, người ta vẫn ví trần gian của người ta như địa ngục. Và người ta mơ ước thiên đường. Nếu thiên đường cộng sản, thiên đường xã hội chủ nghĩa miền Bắc Việt Nam được mặc khải như một thiên đường hoang lạnh, ở đó, con người bị tước đoạt quyền làm người, con người biến thành nô lệ thảm hại của thứ chủ nhân ông mới, điêu ngoa và bóc lột tận tình là Đảng, con người sống vô vọng trong đói khổ, ngu dốt, héo hắt, tàn tạ thì chẳng ai mơ ước thiên đường cả. Mặc khải một thiên đường bánh vẽ, đồng thời, phải hiện thực cái trần gian cho nó rực rỡ ý nghĩa làm người và no đầy hạnh phúc con người khao khát. Tiếc thay, cả hai điều đều không có. Và đó là tội ác của Mỹ và đám tướng lãnh thống trị cầy cáo. Kết quả là đêm nay, 30-4-75, dân Sài gòn như những con phù du dưới ánh đèn cực mạnh của chủ nghĩa cộng sản lạc hậu. Thiên đường cộng sản sẽ được người Sài gòn khám phá vào ngày mai. Nó sẽ rỗng tuếch, mốc meo, trơ trẽn, bịp bợm. Người ta sẽ ủ ê, cay đắng, não nề. Và người ta lại lặng thinh ôm ấp niềm hy vọng cách mạng mới. Rồi vẫn thế. Và nghìn năm dân tộc này sẽ tăm tối, sẽ chẳng biết hạnh phúc là cái gì! Thống trách gì đây? Chúng ta khan hiếm lãnh tụ lương thiện? Hay đất nước chúng ta chỉ có lãnh tụ bù nhìn, chỉ có lãnh tụ thích làm tôi mọi cho ngoại bang, chỉ có những thằng hề rẻ tiền múa may trò yêu nước bệ rạc?
Ánh sáng của đèn Mỹ trên những trụ đèn bằng cây Mỹ đem từ Mỹ sang đã soi rõ mầu cờ vô sản đêm Sài gòn đau thương. Tư bản và vô sản cần liên kết. Như môi và răng. Thiếu tư bản, vô sản mất đối tượng đấu tranh. Thiếu vô sản, tư bản hết chính nghĩa khai phóng tự do, dân chủ. Cho nên, tư bản không bao giờ muốn diệt vô sản và ngược lại. Hoa kỳ không thích hại Liên xô. Liên xô không thích hại Hoa kỳ. Cả hai kết hợp để hại các nước nhỏ chậm tiến. Nỗi thê lương nhất của thời đại, khốn nạn nhất của thời đại chúng ta là các nước nhỏ chậm tiến đã xâu xé nội bộ, nhân danh cả tư bản lẫn vô sản. Việt Nam là biểu tượng thê lương và khốn nạn. Hai mươi năm huynh đệ tương tàn để nghìn năm khó ngóc đầu dậy. Bao giờ mới lấp hết hố bom Mỹ? Bao giờ rừng mới hồi sinh tan thuốc khai quang Mỹ? Bao giờ mới trả nợ hết hỏa tiễn Liên xô? Bao giờ mới hết xuất khẩu nô lệ sang Sibérie, sang Đông âu? Không bao giờ cả. Những nước chậm tiến trên thế giới mãi mãi phải nghèo khổ. Để sáng danh chủ nghĩa vô sản. Và để sáng danh cả chủ nghĩa tư bản. Những nước chậm tiến trên thế giới lại mãi mãi cần phải có chiến tranh. Để Hoa kỳ và Liên xô đọ vũ khí mới. Thế thì ánh đèn tư bản soi rõ mầu cờ vô sản là chuyện đương nhiên. Liệu nó có soi sáng lương tri nhân loại? Liệu nó có soi sáng lương tri dân tộc Hoa kỳ?
Tiếng loa phóng thanh “giải phóng” ý nghĩ của tôi, bắt tôi trở về thực tại. Ngày mai, 1-5, còn là ngày Lao Động quốc tế nữa. Người Mỹ đã chọn ngày lành tháng tốt để tặng cộng sản Việt Nam. Và bài hát rất xưa lại vang vọng đêm nay:
Ngoài kia lời non nước
đang nhắc ta
mau nhắc cao giống nòi
yêu mến muôn giống người
Ngoài kia công nhân ơi
quốc tế đang giơ tay đón chào bầy con đoàn kết
từng nhớ những phút chiến thắng
tiền phong đua tranh bao năm
lầm than đau thương trong khốn cùng
Giải phóng thống nhất đất nước
Việt Nam ra công chen vai
cùng thế giới mới sống chung
tranh đấu cuối cùng là đời sống
với giang sơn
công nhân Việt Nam chiến đấu
cùng sống tập đoàn toàn thế giới công khai
và kiến thiết xã hội ngày mai
Lúc đế quốc đang sắp tan rã dần
Ta tiền phong tiến tới
Sức chiến đấu đi xuống miền Đông Nam
Lúc đế quốc đã tàn…
Tham vọng của cộng sản Việt Nam là nuốt gọn các nước Đông Nam Á. Họ không ngần ngại bộc lộ tham vọng này. Sớm hay muộn thôi, cộng sản sẽ thôn tính Thái Lan, Mã Lai… “Tiền đồn chống cộng của Đông Nam á” đã bị san bằng. Cộng sản đã nuốt miền Nam, họ sẽ nuốt Đông Nam á. Có khi lại là điều hay. Bởi vì, lúc ấy, sự phản công của các nước Đông Nam á sẽ tạo cơ hội thuận lợi cho người Việt Nam giải thoát quê hương mình khỏi ách cộng sản. Nhân loại rất nên nếm mùi cộng sản. Chưa nếm mùi cộng sản, nhân loại vẫn ham… làm dáng cộng sản và tưởng rằng cộng sản là đồ trang trí cho vui mắt đời sống. Bài hát Công nhân Việt Nam dạo đầu cho cuộc mít-tinh, biểu tình ngày mai, 1-5, vừa chào mừng cách mạng thành công vừa chào mừng Lao Động quốc tế thành công thật hợp tình, hợp cảnh. Đảng cộng sản Việt Nam vẫn núp trong áo Đảng Lao Động Việt Nam. Tôi muốn bài hát bay vút sang Thái Lan, Mã Lai, Tân Gia Ba… Nhưng nó tắt ngủm, nhường cho bài Đảng Lao Động Việt Nam.
Đảng Lao Động Việt Nam
Đảng của chúng ta
vì giai cấp cần lao
Đảng mưu giải phóng nước nhà
Đảng chúng ta là mặt trời
Hồ Chí Minh là mặt trời
dìu dắt cho muôn lớp người vùng lên…
Hai đứa tôi đến một góc phố. ở đây, một chị cán bộ giép râu được bảo vệ bởi thanh niên Cờ Đỏ đang “phổ biến” những bài ca ngợi Bác cho các em nhi đồng. Các em yêu cầu chị hát bài ca cách mạng. Chị cao giọng:
Như bao cô gái ở trên non
Cô gái sông Ba đầu búi tóc thon
Tay vót chông miệng hát không nghỉ
Như bao cô gái ở trên non
Như bao cô gái ở Tây Nguyên
Ai nhanh tay vót bằng tay em
Chim hót không hay bằng tiếng hát em
Mỗi mũi chông nhọn hoắt căm thù
Xuyên thây quân cướp nào vô đây
xuyên thây quân cướp nào vô đây
Còn giặc Mỹ cọp beo
Khi còn giặc Mỹ cọp beo
Em chưa ngừng tay vót chông rào làng
Nhưng nay mai giặc chạy rồi
Tre rừng ta làm nhà làm chòi cao
Ê, chân ta đi chưa mỏi
Trời trong xanh
Em còn vót chông rào làng nữa
Ê quân xâm lăng nào vô đây
Chờ bọn bay
Diệt bọn bay…
Các em nhi đồng vỗ tay hoan hô. Chị cán bộ tuyên văn giáo dục tiếp các em nhi đồng Sài gòn những bài ngắn thù hận giặc Mỹ, thù hận đế quốc. Không có gì lạ cả. Tháng 7-1954, tôi đã thấy ở những góc phố thị xã quê hương tôi, các chị cán bộ tuyên văn giáo dục các em nhi đồng thù hận giặc Pháp, thù hận đế quốc, thù hận địa chủ, ca ngợi Bác Hồ, Bác Mao, ca ngợi Liên xô, Trung quốc Thù hận “trồng” từ 1954, tiếp tục “trồng” đến 1975, và vô tận, theo chủ trương “trồng người” của ông Hồ Chí Minh. Tôi biết, từ chập tối ở các góc phố, ở các khu phố, cán bộ tuyên truyền văn hóa của cộng sản đã tụ tập thiếu niên, nhi đồng để dạy những bài ca cách mạng cho rộn ràng cách mạng sáng mai. Về điểm này, cộng sản rất “nghề”. Trẻ con mau thuộc bài và hăng say hát. Tôi chợt nghĩ thân phận tôi. Tôi quả là không khá. Riêng bài thơ Em bé của tôi đăng trên tạp chí Chỉ Đạo năm 1960 đã đủ gây hệ lụy cho tôi rồi.
Hôm nay em đi học
Mắt ngời ánh hào quang
Những vì sao mới mọc
Thắp lửa rực huy hoàng
Trang vỡ lòng thầy dậy
Đánh vẫn chữ Việt Nam
Con đi nước con đấy
Đẹp tự bốn nghìn năm
Tay mềm tô nét viết
Xanh mướt nghĩa yêu thương
Chao ơi là tha thiết
Mộng ước gửi ngàn phương
Tiếng em mùa xuân ấm
Bài quê hương loài người
Không biên thùy ngăn cấm
Không ai khóc cuộc đời
Và mãi hồn thơ ấy
Cây hạnh phúc muôn thu
Xin đừng ai nỡ dạy
Em tôi nói căm thù
Tôi đã chống chủ trương “trồng người” của ông Hồ Chí Minh, của cộng sản. Họ dạy tuổi thơ thù hận, tôi dạy tuổi thơ thương yêu. Cả đời tôi, tôi loay hoay giáo dục tuổi thơ không thù hận. Rốt cuộc, thù hận hai phía trút xuống đầu tôi. Cộng sản không tha, quốc gia không dung là vậy
Tôi muốn đi xa thêm. Nhưng chỗ nào cũng thế, Sài gòn đêm nay. Với cộng sản là rập khuôn. Một cảnh tượng là triệu cảnh tượng. Giống nhau như khuôn đúc. Một khẩu hiệu là triệu khẩu hiệu. Không được thiếu. Không được thừa. Những kẻ thiếu sáng tạo mà cứ đòi “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc” nghĩ thật buồn cười.
– Về chứ Long?
– Về thì về.
– Chẳng có gì khác hơn 19-8-1945.
– Giống hệt 1954.
– Thế mà nó thắng?
Đặng Xuân Côn thở dài. “Thế mà nó thắng”, bốn tiếng nghe sao não nùng, ai oán? Hai đứa tôi trở về nhà, tiếp tục cuộc rượu. “Cõi đời ngoảnh mặt quên xa tiếc”, tôi không nghĩ gì chuyện ngoài phố, chuyện ngày mai nữa. “Ngày mai ra sao rồi hãy hay”. Chúa Jésus đã dạy: “Ngày mai để cho ngày mai lo”.
– Long ạ. Tao cho rằng nó đã thắng, nó không cần hủy diệt bọn nhà văn đâu.
– Ông không hiểu cộng sản. Và ông càng không hiểu hệ lụy văn chương. Văn chương nó gắn liền với tư tưởng. Con người làm văn chương tư tưởng sẽ chết nhưng văn chương tư tưởng của nó tồn tại và ảnh hưởng mãi mãi. Cộng sản không tha bất cứ nhà văn nào chống đối tư tưởng của họ, trừ bọn nhà văn huê tình, rỗng tuếch… Uống đi và đừng lo cho tôi. Tôi được sống với ông trọn hôm nay là đáng sống rồi. Nếu tôi phải ân hận là tôi chưa hề làm cho ông vui lần nào. ông hy sinh cho tôi đủ thứ mà tôi không biết nhường cho ông đứa con gái, hồi chúng ta ba đào ở Nhà Hát Tây.
– Quên chuyện ấy đi!
– Làm sao mà quên? Ông thất tình ngã xước máu chân! Tôi nên thanh thỏa chuyện này trước khi tôi chết hay là tôi quằn quại trong ngục tù.
– Mày sẽ gặp hư vô?
– Mong lắm.
Hai đứa tôi cụng ly. Tưởng chừng, ngày xưa còn bé, Vũ và Côn uống những ly xi-rô Grenadine thơm phức ở đầu cầu Bo. Chúng tôi chơi với nhau từ tiểu học trường Monguillot. Nhật đảo chính Pháp, có chúng tôi chứng kiến. Chúng tôi chứng kiến Nhật chặt đứt tay người Việt Nam đói khổ ăn cắp thóc nuôi ngựa Nhật. Chúng tôi chứng kiến Nhật treo dộng đầu người xuống, trên cây cao. Rồi chúng tôi đi đếm xác người chết đói, đi ăn mày cơm gạo cứu đói. Chúng tôi chứng kiến cách mạng 19-8. Ký ức của chúng tôi còn nguyên vẹn Tầu phù tước khí giới Nhật, tiêu thổ kháng chiến, chiến tranh, di cư… Và hôm nay, giải phóng Chúng tôi đã trải dài đời mình theo những biến cố chập chùng của đất nước. Đã hết chưa? Côn chưa muốn hết. Nó đã dựa lưng vào ghế, mắt lim dim ngủ, tay còn cầm ly rượu.
***
Tôi không biết danh sĩ thời xưa đã mấy ai, chờ chết một ngày dài nhất đời mình, một ngày dài nhất của dân tộc mình, của thời đại mình. Hình như chẳng có ai. Thời của người xưa hiền như người xưa. Nên, “một ngày dài ghê” mới chỉ là “ba thu cộng lại”. Thời của người xưa đơn giản như người xưa. Nên, người xưa thản nhiên chờ đợi cái chết cơ hồ đợi chờ cuộc phiêu du vào hư vô. Người xưa không bị tưởng tượng cách chết, kiểu chết tính bằng co rút của tế bào, tính bằng héo khô của mạch máu, tính bằng rời rạc của nhịp tim. Ngày dài nhất của thời đại chúng ta là hai mươi năm cộng lại. Ròng rã hai mươi năm phiền muộn, chiến tranh, tang tóc, sinh ly, tử biệt. Chúng ta có ngày dài nhất lấy máu mà đo, đem nước mắt mà lường vì chúng ta được Hoa kỳ khai phóng tự do, dân chủ. Ngày dài nhất của chúng ta nghẹn ngào hơn bất cứ ngày dài nhất nào của loài người, từ khai thiên lập địa. Bởi nó là ngày dài nhất báo hiệu những ngày dài nhất, những vô tận ngày dài nhất, nhục nhằn nhất, cay đắng nhất, oan khiên nhất trên quê hương chúng ta. Muốn đo lường chính xác, và muốn cực tả niềm đau, phải dùng giây kẽm gai viện trợ Mỹ mà kéo chiều dài của ngày dài nhất. Hiểu tại sao chứ? à, giây kẽm gai viện trợ Mỹ không kịp di tản sẽ rào quanh nhà tù, trại tập trung cộng sản. Danh sĩ thời xưa thiếu hẳn cảm giác hứng đòn ý thức hệ. Người thời xưa không thèm nhìn mỏ Con ó, không thèm ngắm móng Con Gấu. Người thời nay bất hạnh hơn, bị Con ó mổ mù mắt, bị Con Gấu cào bấy tim. Để chờ chết một ngày dài nhất.
Còn hệ lụy văn chương của danh sĩ thời xưa thế nào? Mới chỉ nghe kiêu sĩ Cao Bá Quát lên đoạn đầu đài. Nhưng kiêu sĩ Cao Bá Quát bay đầu đâu phải tại văn chương – tư tưởng? Cái kiêu bước thêm vài bước thành cái cuồng. Cái cuồng biến thể sang ngông. Và họ Cao làm loạn tiêu sầu. Rượu chưa đủ là thế. Văn học sử chép lời giăng giối của Cao Bá Quát:
Ba hồi chuông dục: Đù cha kiếp
Một nhát gươm vung: Đéo mẹ đời
Tôi không nghĩ rằng khẩu khí của Cao Bá Quát bình thường vậy. Kẻ nghịch thiên Cao Bá Quát đếm xỉa chi cái kiếp, cái đời. ông đã chửi cái thế, cái thời. Theo tôi, ngạo nghễ bước lên đoạn đầu đài, Cao Bá Quát đã sang sảng:
Ba hồi chuông dục: Đù cha thế
Một nhát gươm vung: Đéo mẹ thời
Đấy mới là Cao Bá Quát. Há Ngô Thời Nhiệm chẳng đem thời thế trả miếng Đặng Trần Thường đó sao? Dẫu gì chăng nữa, Cao Bá Quát không hề bị bức tử vì văn chương – tư tưởng mình. Danh sĩ thời xưa hạnh phúc gấp bội danh sĩ bây giờ. Lan Khai bị nhốt vào rọ ngâm nước. Khái Hưng bị dìm dưới sông. Phan Khôi bị cô lập chết mòn. Trần Dần, Nguyễn Hữu Đang, Thụy An nằm tù, Nhân Văn Giai Phẩm đi cải tạo…. Tôi hiểu thân phận tôi sẽ ra sao, sắp ra sao.
Nhưng tôi bằng lòng thân phận tôi, tự hào thân phận tôi. Tôi chống cộng sản tự nguyện. Mười lăm năm cầm bút của tôi, tôi không hề điếm nhục ngửa tay nhận tiền của Mỹ, của các chế độ Sài gòn để làm công việc đánh đĩ văn chương – tư tưởng. Tôi chống cộng sản và vì lý tưởng chống cộng sản, tôi chống luôn cả chính sách xấc xược của Mỹ áp đặt lên số phận dân tộc tôi, chống luôn cả tập đoàn thống trị bù nhìn và bè lũ điếu đóm, chống luôn bọn tham nhũng thối nát, bất tài, vô tướng, chống luôn đám hề chính trị rẻ tiền. Nói tóm lại, tôi chống tất cả những gì nuôi dưỡng cộng sản và làm sáng chính nghĩa cộng sản. Theo tôi, những bất công xã hội, những đàn áp phát-xít đã dồn dân chúng miền Nam vào con đường cùng. Dân chúng xa quốc gia, gần cộng sản là bởi lãnh đạo quốc gia ngu dốt. Tôi chống cả đảng phái hèn mạt lẫn những kẻ đội lốt tôn giáo lãnh đoạn chính trường. Người ta bảo tôi có lắm kẻ thù. Tôi không tin. Tôi đã viết 50 tác phẩm văn chương. Độc giả của tôi nuôi dưỡng tôi tận tình, cống hiến tôi đời sống vật chất dư dả. Tôi tự hào là một nhà văn chuyên nghiệp nhiều độc giả nhất nước, nhiều độc giả tuổi trẻ nhất nước. Những kẻ coi tôi là kẻ thù là những kẻ không được tôi xếp vào hạng kẻ thù của tôi Họ ở dưới kẻ thù của tôi vô số bậc. Còn những kẻ đố kỵ tài năng của tôi, cay cú với lòng yêu mến của độc giả của tôi dành cho tôi là những kẻ luôn luôn đứng sau tôi, xa tít tắp. Họ rất đáng tội nghiệp và cần được khích lệ như những người có triển vọng ở tương lai. Tôi cô đơn sáng tạo. cô đơn chiến đấu và cô đơn chết. Nhân danh điều thiện, người thiện chống việc ác, kẻ ác tôi chết. Tôi chưa biết cộng sản bức tử tôi kiểu nào.
Tôi bỗng có một nỗi sợ hãi mới, sợ hãi hơn cả sợ hãi chết trầm. Là cộng sản không quăng tôi vô biển máu hay bắt tôi chết mòn trong tù ngục. Nếu cộng sản không thèm trả thù tôi, không thèm đếm xỉa đến tôi, tôi sẽ bị sống nhục nhã. Vì văn chương, tư tưởng của tôi chẳng giá trị tí nào. Và con người tôi cũng vô giá trị. Tôi sẽ cúi gầm mặt ở bất cứ nơi đâu trên trái đất. Tôi hết dám chống cộng sản, trừ khi tôi là đứa vô liêm sỉ.
Nỗi sợ hãi mới đã giúp tôi thản nhiên chờ đợi đao phủ và hình cụ của nó.
***
24 giờ rồi. Tôi đã trải qua một ngày dài nhất trong đời tôi, một ngày mà nhiều đời người không có. Văn hào Walter Scott viết: “Không ai đủ giầu để mua lại dĩ vãng đích thực của mình”. ở đâu đó, ngoài nước Việt Nam, sẽ có một người Việt Nam tiếc rẻ: “Tôi là tỷ phú, thừa mứa tất cả, chỉ thiếu một Sài gòn, ngày dài nhất”. Và đó, bất hạnh trong hạnh phúc. Tôi đầy đủ ngày dài nhất ở Sài gòn. Và, cũng đó, hạnh phúc trong bất hạnh.

DUYÊN ANH
1988

ĐƯỜNG NÀO ĐI QUÊ HƯƠNG?

khuatdau

Dưới nấm mồ bằng nước xanh trong
ngôi nhà em giờ thấy mất tiêu
trái tim nhỏ vẫn thầm thì đập

Em đã khóc trên vai áo tôi
như con thác chảy qua ghềnh đá
nước mắt em dựng một hồ đầy
Sơn La
Sơn La
trong một thoáng biến thành hồng thủy

Những con đường thơm gót chân em
những ruộng đồng lúa xanh con gái
những vạt rừng lau trắng phất phơ
những đỉnh núi mờ trong sương khói
chìm
chìm
chìm rất sâu trong nỗi lặng im

Quê hương không phải những sườn đồi mới ủi
không phải những con đường thẳng tắp song song
không phải những căn nhà giống nhau như trứng
không thể nhổ lên trồng
mà có được quê hương

Quê hương là dòng suối chảy qua buôn làng
là gộp đá em thường ngồi mỗi lần ra suối tắm
là những bụi cây đêm tối rất nhiều ma
là đỉnh núi thần tiên thường bay lượn

Quê hương em bị bức tử nằm dưới đáy hồ
quê hương anh cũng trở thành những sân gôn xanh mướt
để cho những trưởng giả mới học làm sang
vung cây gậy đắt tiền
đánh vào những trái banh trắng như tuyết

Chúng ta bỏ ruộng bỏ rừng
lên thành phố
nhưng em ơi!
thành phố không phải là quê nội
cũng không là quê ngoại

thành phố là rạp hát khổng lồ
diễn hằng triệu vở tuồng thường trực

Chúng ta sống như đi xem hát
mua vé lấn chen
vỗ tay và huýt sáo
lúc cao hứng
chúng ta nhảy phóc lên sân khấu làm trò
để được nghe ồn ễnh
tiếng vỗ tay và huýt sáo

Nhưng rồi đêm hát sẽ chấm dứt
những đào thương lại cười
những thằng hề lau mặt
đêm trống trơn như chiếc quần không
đêm hụt hẫng đang rơi xuống vực

Cầm tay nhau
sờ mặt nhau
chúng ta hỏi thầm trong tăm tối
đường nào đi quê hương?!

KHUẤT ĐẨU

VU VƠ VỚI BẦY CHIM NHỎ

trantuan

Có bầy chim bé nhỏ
Náu mình trên gác chuông
Ngày ngày nghe khấn nguyện
Nên bầy chim thật hiền.

Bầy chim bốn mùa ríu rít
Hồn nhiên vui với những tiếng coong kinh
Quen với tiếng bước chân chiên mặc định
Quên thời gian đang đánh cắp tuổi tên mình.

Và bầy chim nhỏ nọ
Gửi đời theo tiếng chuông
Sáng trưa chiều và tối
Không ưu tư muộn phiền

Bầy chim chọn gác chuông làm quê quán
Thôi bon chen, thôi nghĩ chuyện riêng tư
Hạt thóc rụng phai màu trong ký ức
Nên hoang vu về trầm mặc cánh đồng

Từ đó bầy chim nọ
Quên không gian,
quên cả đường bay
Quên vỗ cánh, quên mình loài oanh vũ
Quên ban đêm và ngơ ngác ban ngày.

Theo tiếng chuông chiều muộn
Một ngày xuân rất xưa
Tôi về thăm phố cũ
Hàng phong già lưa thưa

Bầy chim nay đà luống tuổi
Rong rêu nay phủ kín gác chuông.
Chủ nhật buồn hơn năm trước
Dường như tượng đá cũng buồn!

Thành phố bây giờ hiu quạnh quá
Công viên xanh xao, ghế đá âm thầm
Không hò hẹn nên chiều qua rất vội
Một chút bàng hoàng lạc giữa hư không…

TRẦN TUẤN