Bueno Aires – Ngồi bên ngọn cây du

tonnuthunga

Buổi sáng, tiếng động cơ cần trục đang xây dựng nhà cửa thức tôi dậy. Nắng đã chan hòa trên thành phố.Thời tiết ở đây gợi nhớ Sài Gòn, một buổi sáng nhiệt đới năm xưa, tôi cũng thức giấc với những tiếng động tương tự lẫn với tiếng còi xe inh ỏi trên con đường Lê Thánh Tôn. Buenos Aires không nhiều xe gắn máy, phần lớn là ô tô và họ chạy thong thả trong các đường phố rợp bóng cây xanh. Không ai bấm còi để phá vỡ sự yên tỉnh của không gian êm đềm cả. Bây giờ đang mùa hạ, nhiệt độ không tệ lắm vào buổi sáng, trời trong xanh lờ lững vài cụm mây trắng mỏng, trôi thật nhanh theo cơn gió hiu hiu. Độ ẩm khá cao nhưng chưa làm tôi đổ những hạt mồ hôi – những hạt mồ hôi hiếm hoi- ngày còn tại Cali, tôi phải tập thể dục cả giờ hoặc đạp xe mấy chục dặm mới có được.
Hôm qua, vừa xuống khỏi máy bay, tôi cũng đã được hưởng cái khí hậu ẩm ướt và oi ả, những cảm giác tôi ít khi nhớ đến. Chổ ngồi mới của tôi trên lan can lầu bốn, căn nhà nho nhỏ tại Palermo, thành phố Bueno Aires, bên ngọn cây du. Cành lá cây du xanh tươi, run nhè nhẹ, xao xác êm êm dưới chân các chú chim sẻ. Nắng vàng lung linh xuyên qua cành cây xanh, tự dưng lòng man mác, thật sự không hiểu được mình đang buồn hay vui.
Thành phố này có rất nhiều cây, trên lề đường, những đốm nắng roi qua cành lá; “vạt nắng bên thềm” nhà nào cũng có, và cũng không ít nam nhân dựa tường phì phèo điếu thuốc, nhìn người đẹp đi nhanh như gió, vui vẻ cười nói líu lo bằng tiếng Tây Ban Nha với nhau. Dù ít hiểu tiếng Anh, họ rất thân thiện và luôn luôn cố gắng đàm thoại với bạn khi được hỏi thăm. Vì thế dù chỉ biết nói lỏm bỏm các danh từ phổ thông, tôi vẫn được nhiều người khen và rất vui vẻ giúp tôi học thêm từ ngữ mới.
Mấy hôm nay hưởng lại khí hậu nóng, trái lại với mấy ngày lạnh lẻo lúc tôi rời Los Angeles. Qua ngày thứ ba trời bổng đổ mưa, sấm chớp đì đùng, gió mưa dữ dằn như những cơn bảo nhiệt đới ngày xưa. Tôi nằm quấn chăn, nghe cây du vẩy vùng gào khóc, nghe tiếng sấm như tiếng đại bác thâu đêm và các tia chớp như hỏa châu bùng cháy. Đêm ấy, giấc ngủ tôi triền miên ác mộng, những lần thức giấc cố nhớ nơi mình đang ở, thế rồi lại thiếp đi trong tiếng mưa rơi. Sáng dậy, nắng lại chan hòa, lá cây du xanh hơn và long lanh những giọt mưa, những chú chim sẻ mập nhảy sột soạt làm rơi những giọt mưa trên đầu bộ hành hoặc lộp bộp trên cánh dù rộng mở. Khí hậu mát hẳn như những ngày hè đã chào tạm biệt vì mùa thu vừa mới đến. Các chuyến mạo hiểm của chúng tôi cũng dể chịu hơn và đường xá cũng sạch sẽ, bớt bụi bậm.
Nơi chúng tôi trú ngụ là căn nhà của Carlo thuở anh còn độc thân. Anh có một bộ ghế bành cũ bằng da, rất êm ái. Lúc rảnh rổi hoặc khi đi chơi rong về, hai đứa tôi duỗi dài trong lòng ghế, uống một ly đá lạnh, lim dim nhìn tượng ông Phúc đứng giữa bàn hoặc mông lung nhìn ra ngoài balcony. Cây du vươn những cành lá xanh, long lanh giọt nắng, thỉnh thoảng giao động dưới những bàn chân của lũ chim sẻ, chuyền cành và líu lo nói chuyện với nhau. Không biết chim có ngôn ngữ không? Chúng nói tiếng Tây Ban Nha như dân địa phương hay vì bay từ chổ này qua chổ nọ nên chúng dùng Esperanto? Theo ý của Carlo thì mọi người ở đây nói tiếng Argentinien.
Carlo rất tự hào và yêu thương quê hương của mình. Anh cũng thích Á Châu vì anh có làm việc bên Tàu và Nhật mấy năm, nhờ thế anh bưng được cô Ngọc Anh về làm vợ và dắt díu nhau về sống tại Bueno Aires.
Ngọc Anh có một studio dạy các môn thể dục, khiêu vũ, múa cột, múa lụa. Mổi lần xem cô biểu diễn, cứ như là đi xem hát xiếc. Có nhiều đêm sau khi đi chơi và ăn tối về, chúng tôi xuống phòng tập học nhảy Tango Argentino. Tôi không được “sáng dạ” lắm trong nghệ thuật khiêu vũ nên không nhớ bước phải, bước trái, bước xéo, bước ngang chi cả, cứ bị thầy bắt tập đi tập lại hoài. Carlo tập cho chúng tôi nghe tiếng nhạc, phải để hết tâm hồn vào tiếng nhạc, và anh bảo rằng: tango là những bước chân không bao giờ dứt ?!?, nếu không có đủ chổ trống trên sàn nhảy, người ta chỉ cần ôm nhau mà nhúc nhích những bước nho nhỏ cũng được. Vì chưa thấm được cái tư tưởng cao siêu đó, tôi chép miệng than thầm: Nếu biết điều này thì thôi tôi ở lại nhà, ôm ông xã mà nhảy “ xì lô mông cổ” cho khỏi phải nhọc công bay ngàn dặm xuống Argentine.
Thế nhưng sau năm ngày chơi, ngủ, tập nhảy đầm tôi cũng vượt qua nỗi thống khổ của người vốn có “hai chân trái”. Carlo và Ngọc Anh an ủi tôi mãi mỗi khi tôi đi những bước sai lầm và hôm cuối cùng thì họ dẫn chúng tôi đi ra phòng trà ca nhạc để tập nhảy. Hôm ấy, chúng tôi phải mặc quần áo đẹp, đến nhà Carlos và Ngọc Anh ăn thịt nướng do chính tay chủ nhân làm, trước khi đi.
Vũ trường rộng, khách đến thật đông, sàn nhảy ở giữa, chung quanh là bàn ghế. Có nhiều người độc thân đến đây mời nhau nhảy. Họ có những ám hiệu thông thường để mời mặc dù ngồi rất xa nhau. Phần đông là khách lớn tuổi, đàn ông ăn mặc đàng hoàng sạch sẽ, các bà thì diêm dúa hơn và ai cũng mang giày gót cao nhọn hoắc. Những đôi giày ấy làm tôi rất sợ, cứ tưởng tượng bị người ta giẫm lên chân, thế nhưng sau buổi nhảy, tôi thoát nạn, không bị ai giẫm nát chân mình cả. Có nhiều lần chúng tôi bị vài mụ già đanh đá la vì cản đường đi của họ. Ngọc Anh bảo đó là mấy mụ du khách, nhảy không rành, không biết tránh kẻ khác; người dân Argentina rất chiêu đãi, nếu thấy mình mới tập nhảy lúc nào họ cũng khuyến khích chứ không sừng sộ như mấy người du khách nọ. Sàn nhảy rất đông người, tôi vừa đi theo nhạc vừa dòm chừng Ngọc Anh và Carlo, không nghe quở trách gì cả mà lại được khuyến khích ra sàn nhảy mãi nên tôi cũng hơi yên chí khi bước những bước tầm bậy tầm bạ. Thường thì ban nhạc chơi năm bản nhạc, khách phải khiêu vũ hết năm bản mới được về lại ghế. Đôi khi thấy quá đông người, chúng tôi chỉ đi vài ba bản rồi bỏ cuộc chạy về bàn ngồi xoa đầu gối. Sau nữa đêm, chúng tôi thuê taxi về nhà, rón rén, nhẹ nhàng về phòng sợ làm ồn láng giềng, ai ngờ láng giềng đang có tiệc khuya, mùi bánh nướng trong lò thơm cả hành lang.
Những ngày Bueno Aires của chúng tôi thật vui, tôi cảm thấy căn hộ độc thân của Carlo từ từ biến thành tổ ấm của mình. Chúng tôi như những con chim sẻ, chọn cây du làm tổ ấm của chúng. Ngồi trên ban công lầu bốn, bên ngọn cây du, tôi nghe đời trôi nhẹ nhàng như đám mây trắng lơ lững trong bầu trời xanh thẳm của Bueno Aires.

Bueno Aires (3/22/2016- 3/29/2016)
Tôn Nữ Thu Nga

Tình núi.

luutrongtuong

(Yosemite, một chút dư hương)

Năm năm sống trên núi
Ngày đêm chẳng thấy người.
Năm canh nghe gió hú
Cây cỏ nhớ trần ai.

Mười năm tắm nước suối
Thần xác nhẹ thanh tao.
Nhìn trời cao vời vợi.
Quên chuyện đời thương đau.

Trăm năm tình mời mọc
Gian díu ngọn tơ trời.
Cơn mơ thèm trần tục
Tỉnh giấc lại quên đời.

Ngàn năm đời xa lánh
Ðâu có gì nhớ nhung.
Hàng vạn ngày lận đận.
Thoáng chốc tựa qua đường.

LƯU TRỌNG TƯỞNG

t h ơ v ề H u ế

nguyennhumay

1.
đi trong đêm Thành-nội
chỉ mình tôi và trăng
tôi nghe lòng cây cối
nghiêng bao nỗi thăng trầm …

2.
tôi ngồi lặng ngắm sông Hương
đêm vàng ánh trăng buồn
cố đô
chợt nghe đâu có tiếng hò
hình như Em mới xuống đò
chèo đi .

NGUYỄN NHƯ MÂY
.
1986

SÀI GÒN NGÀY DÀI NHẤT (Chương 11)

duyenanh

22 giờ 30. Tiếng loa réo gọi tham dự mít tinh chào mừng cách mạng thành công sáng sớm mai làm rung cửa kính. Côn đề nghị bật đèn. Tôi đồng ý. ánh sáng ngập căn phòng. Tàn thuốc lá bừa bãi trên bàn xa-lông. Chúng tôi đã uống cạn chai rượu thứ nhất. Thiếu úy Bảo và trung sĩ Thân thấm mệt. Tôi dục hai thằng em kết nghĩa đi ngủ.
– Các em yên tâm, không có chết chóc gì cả, không có biển máu. Một nhà cách mạng chính cống đã quả quyết với anh rằng, cách mạng đại xá, đại đại xá.
– Sao lúc nãy anh không chịu nói? Bảo hỏi.
– Anh thử xem em can đảm đến đâu. Tôi đáp.
Bảo và Thân đi ngủ. Còn Côn với tôi. Chai rượu thứ hai được khui.
– Mày vừa nói gặp nhà cách mạng chính cống.
– Ừ.
– Ai đó?
– Phan Kim Thịnh.
– Thằng ấy?
– Nó chơi giép râu, nón tai bèo.
– Nó nằm vùng?
– Thứ rắn độc. ông đừng ngạc nhiên, nếu chúng ta không chết, sẽ có dịp nhìn rõ những thằng nằm vùng trong mọi lãnh vực. Và chúng ta sẽ há hốc mồm.
– Tại sao?
– Vì toàn những đạo đức gia khổ hạnh và chống cộng hơn cả người chống cộng hung hăng nhất.
– Nó nói cộng sản đại xá à?
– Ừ.
– Mày tin nó?
– Tin mẹ gì, tôi trấn an cu Bảo.
– Tao nghĩ nó đại xá thật.
– Ông nghĩ thì cứ nghĩ. Cộng sản nó làm gì, mình đâu đoán nổi. Nó bảo không là có, có là không. Nó qua mặt cả thế giới.
– Long?
– Đừng hỏi thêm nữa. Uống rượu đi.
– Tao mở ti-vi nhé?
– Chớ.
– Xem nó nói gì chứ?
– Nó khoe nó đánh Mỹ cút, Ngụy nhào.
– BBC vậy?
– Nó tường thuật cộng sản vào Sài gòn.
– VOA?
– Nó khen Việt cộng.
– Hay là mày với tao ra cổng ngắm nhân gian?
– Không. Ông làm ơn mở cửa cho khói thuốc tan loãng giùm.
Cửa mở. Khí thế cách mạng bên ngoài ùa vào nhà tôi “Nhân dân” ca hát, hô khẩu hiệu vang trời. “Nhân dân” không ngủ đêm nay. Họ không ngủ trong bóng tôi. Và họ khóc. Sao 30-4 dài thế? Với tôi, nó dài hơn cả đời tôi. Côn lại khép cửa. Chúng tôi uống rượu, hút thuốc chờ sáng. Đêm qua tôi đã chờ sáng. Đêm nay tôi vẫn chờ sáng. Tôi chẳng bao giờ ngu dại tin rằng cộng sản tha tôi. Ngày Chu Tử bị ám sát, tôi viết bài Nỗi cô đơn của người cầm bút đọc tại Viện âm nhạc và kịch nghệ quốc gia là tôi đã tiên đoán thân phận của tôi. Rồi tôi viết thêm bài nữa, đăng trên Sống*. Khẳng định tôi là kẻ cộng sản không tha, quốc gia không dung. Đến cuốn Tháng giêng ngon như một cặp môi gần xuất bản tháng 2-1975, tôi miệt thị cộng sản là bọn trả thù vặt và nói rõ, “đời sẽ có kẻ gọi ta là phản động.” Thế thì cộng sản phải trả thù tôi. Họ không trả thù tôi là họ thiếu lô-gích, họ hết là cộng sản. Cộng sản không tha tôi, đã đành. Nhưng tại sao quốc gia không dung tôi? Cái thứ gọi là quốc gia mà biểu tượng là Nguyễn văn Thiệu, Đặng văn Quang không được tôi xếp hạng quốc gia chân chính. Người quốc gia chân chính chưa hề nắm quyền bính tối cao. Tôi hằng coi Hà Nội như phỉ quyền, Sài gòn như ngụy quyền. Tôi thiết tha tranh đấu để có một chính quyền trên quê hương tôi. Muốn thế, cuộc chiến đấu của tôi phải loại bỏ phỉ quyền tôi tớ của Liên xô và ngụy quyền tôi tớ của Hoa kỳ. Và đích thị tôi là kẻ cộng sản không tha, quốc gia không dung. Họa may, quốc gia chân chính sẽ dung tôi. Tôi hy vọng thế.
Nhiều bằng hữu bảo tôi là kẻ nghịch thiên. Tôi không chối cãi. Tôi xác định thái độ nghịch thiên của tôi:
Thản nhiên ngước mặt ngạo trời
Trong cơn hồng thủy vẫn cười ngả nghiêng
Kể từ đời tắt lửa thiêng
Nỗi ta đối địa nghịch thiên mộng cuồng
Chém ngang độc nhất vô song
Tìm ra cái lẽ vô cùng thênh thang
Hỡi ơi tai đục trần gian
Sao nghe nổi máu cung đàn bão mưa
Hỡi ơi mắt trắng cõi thừa
Sao nhìn nổi ngọc trên thơ tỏ tình
Chung thân can tội nghịch thiên
Còn say cuồng mộng thản nhiên ngạo trời
Tên nghịch thiên ngồi uống rượu với bạn thơ ấu chờ sáng và chờ chết. Nó kiểm điểm nó. à, nó đã có 50 tác phẩm văn chương, 200 số báo Tuổi Ngọc, hơn 10 ngàn bài báo. Cộng sản không tha, quốc gia không dung nó nhưng đã có đứa nào bén gót nó?
– Này Côn.
– Gì?
– Người ta sẽ hâm mộ Con Thúy.
– Tại sao?
– Vì người ta sẽ thấy sau 30-4-75, giống hệt sau 19-8-45. Tôi đã viết về son phấn cách mạng nhạt nhòa.
– Mày nói đúng.
– Này Côn?
– Gì?
– Ông sẽ thoát biển máu. Tôi, có thể, sẽ thoát biển máu nhưng tù rục xương. Tôi muốn noi gương nhà văn Nguyễn Đức Quỳnh.
– Sao?
– Khi tôi chết, đừng ai khóc. Cả ông nữa. Hãy cười, cười, cười?
Côn nín thinh. Giây lát, nó lảng qua chuyện khác.
– Mày biết ông Nguyễn Mạnh Côn làm quân sư cho tướng Vĩnh Lộc không?
Tôi ngạc nhiên xuýt rơi ly rượu:
– Thật à?
– Thật.
– Hèn chi Chậm bước tiên phong, muộn chiến trường. Chắc chắn, ông Vĩnh Lộc phải đợi ông Côn hút đủ cữ rồi mới hiến kế. Hóa cho nên, ông Vĩnh Lộc lên ti vi tối qua sốt ruột dữ.
Tôi nhớ cuối triều đại Ngô Đình Diệm, anh Nguyễn Mạnh Côn ra ứng cử dân biểu đơn vị quận 3, Sài gòn. Tôi cho anh ta vay tiền bán tập truyện Hoa thiên lý và đi a-lô vận động giúp anh ta. Hôm ra mắt cử tri ở trường tiểu học Chí Hòa, anh Côn là người nói thứ nhì, sau Huỳnh Thành Vị. Tốt quá. Vì họ Huỳnh mở màn cho anh Côn. Tôi ngồi đợi anh hút no thuốc phiện rồi mới rửa mặt, đánh răng. Rồi chở Vespa, đưa anh lên địa điểm. Chúng tôi tới, cử tri về gần hết. Vì anh đến trễ, nói sau cùng?
– Ông Ngô Đình Nhu xưa muốn cất nhắc ông Côn, chỉ chê tội nghiện.
– Nay ông Vĩnh Lộc xài. Vận nước đã hết. Tôi chờ chết là hợp lẽ trời.
Bèn nốc cạn ly:
– Đời nhà Thanh, dân Tầu mới hít tô phe bạo. Mừng cho Lưu Bang và mừng cho Lưu Bị. Vì Trương Lương, Tiêu Hà, Khổng Minh không đong thóc! Ông Vĩnh Lộc đồng hóa văn nghệ với quân sự. Hỏng, hỏng! Tại hạ có lời chê điểm này.
Đặng Xuân Côn dứt cuộc:
– Bây giờ, quân sư đang nằm “đong”, tân Tổng tham mưu trưởng đi đâu không rõ, “nhân dân” hồ hởi phấn khởi và nhân dân ôm nhau khóc trong bóng tối.
***
23 giờ. Không biết mấy giờ ở Guam? Bằng hữu văn nghệ của tôi đã đến đảo Guam chưa, hay còn lênh đênh ngoài khơi, trên hạm đội số 7? Tôi chợt nghĩ tới những người Việt Nam yêu tự do, chấp nhận báng súng của “lính thủy đánh bộ” Mỹ, dắt díu nhau leo lên nóc tòa đại sứ Mỹ rồi, sau 8 giờ 30, lủi thủi bước xuống, lếch thếch trở về. Những người Việt Nam thiếu may mắn di tản đang làm gì giờ phút này? Chắc chắn, họ đang sợ hãi, đang khóc và đang thèm được chết ngon lành. Đêm qua là đêm không ngủ của tôi. Đêm nay là đêm không ngủ của Sài gòn, của cả miền Nam. Không ngủ ngoài đường. Không ngủ trong nhà. Hoặc dẫu ngủ, chỉ là những giấc ngủ chập chờn như tên một tác phẩm của Nhật Tiến. Trong những giấc ngủ chập chờn, con người thấy chập chờn những huyệt sâu chôn sống tập thể, những mã tấu vung chặt ngang thây, những băng đạn ria phọt suối máu… Và tôi, không ngủ để hình tưởng một cái cần xé chứa tảng đá và tôi ràng giây kẽm gai kín nắp liệng xuống khúc sông nào đó. Tôi chết từng giây. Tôi biết tôi chết. Tôi sặc sụa. Tôi đau đớn. Tôi giẫy dụa. Trước đó, tôi phải đứng trước đám đông phán quan y hệt tên da trắng đứng trong vòng vây của dân da đỏ, phải tự thú mình có tội với Đảng, với Cách mạng, với Nhân dân? Tôi được phép mở to mắt để nhìn đám đông phán quan của thời đại tôi Chỉ có vài tên cộng sản chính thống. Còn rặt nhân dân bị cưỡng bức hận thù. à, trong đám nhân dân bị cưỡng bức hận thù, có vài đứa theo chủ nghĩa dậu đổ bìm leo. Những đứa này to mồm nhất, nỏ họng nhất. Chúng nó xỉa xói tôi, kết tội tôi, ném đá trúng thân thể tôi. Chúng nó vớ được cơ hội ngàn năm một thuở để tuyết hận thua kém tôi mọi mặt. Cỏ hèn vươn vai chống đại thụ. Tôi sợ hãi chứ. Nhưng không sợ hãi bọn dậu đổ bìm leo. Tôi xón đái ra quần. Tôi nghĩ những giọt nước tiểu của tôi dành cho bọn dậu đổ bìm leo ở khắp nơi trên trái đất Tôi đã tưới mát cỏ hèn. Đại thụ đã ban phước cho cỏ hèn. Hãy nhận phước ấy, cỏ hèn? Hãy nhận và đừng ân hận sự hóa kiếp. Bởi vì, cây cỏ luân hồi vẫn cỏ cây. Chỉ có con người, con người công chính và việc làm công nghĩa mới được phục sinh rạng rỡ. Và mãi mãi là con người.
– Long!
– Gì?
– Nếu ngày mai mày chưa chết?
– Thì ngày mốt.
– Nếu không có biển máu?
– Thì chết mòn trong tù ngục.
– Mày chấp nhận chết mòn?
– Tại sao?
– Vì tôi mong gặp hư vô.
– Hư vô là con mẹ gì?
– Là mềm bí ẩn của đời sống. Niềm bí ẩn này chỉ tìm gặp trong ngục tù, thống khổ và cô đơn.
– Mày sảng chưa?
– Còn rất tỉnh để sợ chết, dẫu chết cách nào, kiểu nào.
– Nghĩa là mày thèm sống.
– Dĩ nhiên.
– Sống mòn và chết mòn?
-Tôi vừa nẩy ý tưởng mới. Tôi muốn tìm hạnh phúc trong bất hạnh.
– Mày lãng mạn.
– Luôn luôn lãng mạn. Lãng mạn đến chết.
Hai đứa tôi cụng ly. Bên ngoài, đường phố xôn xao tiếng nói, rầm rập bước chân. Tôi không còn tin rằng nhân dân bị cưỡng bức ra đường hoan hô cách mạng thành công nữa. Nhân dân nghèo khổ đã thật tình và nhiệt tình hoan hô cách mạng. Tội nghiệp nhân dân! Nếu họ đã đọc Con Thúy của tôi. Đừng trách móc nhân dân. Nhân dân là thế. “Bạc như dân” mà! Nhân dân oán ghét chế độ độc tài gia đình trị Ngô Đình Diệm và nhân dân hoan hô cách mạng 1-11-1963. Cách mạng của lũ thoán nghịch không đem lại hạnh phúc cho nhân dân trong vòng ba tháng, nhân dân lại oán ghét và hoan hô đảo chính, chỉnh lý. Dưới chế độ quân phiệt Nguyễn văn Thiệu, tham thũng ngập ứ, thối nát tận óc, bất công đầy rẫy, đàn áp không thương xót, nhân dân thù hận và mong đợi tân cách mang. Nhân dân lại hoan hô như đã hoan hô. Và rồi, ba tháng sau thôi, nhân dân sẽ ủ ê với cách mạng vô sản. Kể từ dân tộc Việt Nam làm quen cách mạng, chưa bao giờ niềm vui kéo dài quá ba tháng. Rốt cuộc, cái dân tộc hẩm hiu này không thiết đoái hoài tương lai nữa. Tương lai tồi tệ hơn hiện tại và nghiệt ngã hơn dĩ vãng.
– Long?
– Gì?
– Lúc mày đi mua rượu, thằng Tự chạy ngang qua cổng nhà mình.
– Nó là lính thủy sao không theo tầu mà chạy?
– Phải thi hành sứ mạng đến tận 9 giờ. Vả nữa, vợ con nó còn nằm nhà.
– Sứ mạng gì?
– Gài mìn đánh sập cầu Đồng Nai ngăn chặn xe tăng cộng sản vào Sài gòn.
– Cầu không sập?
– Tại sao?
NHỮNG NGƯỜI LÍNH THỦY VIỆT NAM CỘNG HÒA NHÂN BẢN
Những người lính thủy được chỉ huy can đảm giao cho sứ mạng đánh sập cầu Đồng Nai trên xa lộ Biên Hòa để ngăn chặn xe tăng cộng sản tiến vào Sài gòn đã hoàn tất nhiệm vụ lúc 9 giờ ngày 30-4- 1975. Cả tấn TNT gài kín gầm cầu, bọc kín chân cầu. Xe tăng cộng sản từ Long Khánh bò vô, bị quân dân Tam Hiệp đón đánh. Trận chiến hào hùng và lãng mạn này kết thúc mau lẹ nhưng đã làm chậm bước tiến của cộng sản. Xa lộ lúc ấy, hai bên cầu Đồng Nai, nườm nượp dân chúng chạy giặc và đông đầy binh sĩ tan hàng. Dân chúng Sài gòn chạy xuôi. Dân chúng Biên Hòa chạy ngược. Cầu Đồng Nai nghẹt người và xe cộ. Cùng với ông già, bà lão, thanh niên, phụ nữ, nhi đồng, những anh lính thủy giữ trọng trách đánh sập cầu còn nhìn rõ xe tăng cộng sản, bộ đội miền Bắc. Sức công phá của TNT gài dưới cầu sẽ làm tung bay cốt sắt xi-măng, phạm vi một cây số vuông. Và dân chúng sẽ bị chết, bị thương vô kể.
Những người lính thủy quay giang dinh, lao nhanh về căn cứ. Cầu Đồng Nai không bị đánh sập. Nếu là Mỹ, cây cầu sẽ bị đánh sập. Nếu là cộng sản, cây cầu sẽ bị đánh sập Cứu cánh biện minh cho phương tiện. Nhưng với Việt Nam, cây cầu không bị đánh sập. Hình như nhận loại chưa biết chuyện này. Chúng ta thua trận, còn vì tình thương và lòng nhân đạo nữa…

DUYÊN ANH

Sài Gòn Trong Trí Nhớ

tranhoaithu

Sài Gòn có mùa hạ dài hơn mùa đông
Nên Sài Gòn có mắt em xanh như da trời tháng sáu
Sài Gòn có thật nhiều quán cà phê quán cóc
Nên bàn ghế Sài Gòn đầy ắp tình thân

Sài Gòn có ngày cuối tuần Thủ Đức về thăm
Để những xe lam dập dìu Bến Thành Chợ Cũ
Để anh trở về thăm em, người em gái nhỏ
Khi ngọn đèn Sài Gòn đã thắp sáng Bùng Binh

Sài Gòn buổi chiều trời hay nổi giông
Nên những hiên nhà là những hiên tình hò hẹn
Sài Gòn có những con bồ câu cúc cù trên hàng dây điện
Nên Sài Gòn vẫn là nơi hò hẹn của hai kẻ yêu nhau

Sài Gòn ít khi thấy được ánh hoả châu
Nên đêm đêm Sài Gòn bình yên giấc ngủ
Để em đến trường như con sáo nhỏ
Để người lính trở về, có chỗ dừng chân
Để mãi mãi Sài Gòn là những bâng khuâng
Trong con tim của những người viễn xứ…

Trần Hoài Thư

MAI NGƯỜI VỀ

linhphuong

Mai người về cho ta xin gởi
Tháng tư buồn đã mấy mươi năm
Khăn tang-tóc thề bay theo gió
Đỏ thắm máu tươi dưới nắng hồng

Bạn bè ta ở trong rừng thẳm
Không mộ bia nhang khói lâu rồi
Mấy mươi năm mắt chưa hề nhắm
Ngày 30 tan nát cơ đồ

Mai người về cho ta xin gởi
Cánh hoa thời loạn giữa Sài Gòn
Nói rằng Linh Phương này vẫn nhớ
Thủ đô mình Hòn Ngọc Viển Đông

Chiều thương xá Tax-sáng Mai Hương
Đêm vũ trường hay phòng trà ca nhạc
Thanh Thúy sầu giọng liêu trai hát
Thái Thanh buồn” Kỷ Vật Cho Em”

Mai người về nghe đời lênh đênh
Tìm lại tuổi thanh niên xa lắc
Tìm lại mối tình xưa đã chết
Mùa loạn ly bạc trắng mái đầu

Phà Thủ Thiêm giờ biết tìm đâu ?
Sông xanh mãi màu xanh sông núi
Hồ Con Rùa cây cao vời vợi
Dẫu muôn thu kỷ niệm chưa mờ

Mai người về chợ Bến Thành ơi !
Có chút gì ta đau cắt ruột
Có chút gì mà ta đánh mất
Mấy mươi năm thất thủ Sài Gòn…

LINH PHƯƠNG

“Hát nữa đi H. – hát điệu nhạc buồn; điệu-nhạc-quê-hương…”

nguyentruongtrunghuy

Sẽ nói thôi, rất nhỏ…
“Những lời này cho em”…
Sẽ hát thôi, rất khẽ…
“Hát điệu nhạc buồn, điệu nhạc quê hương”…

“Nước mắt rơi cho tình ra đời
Nước mắt khô âm thầm không lời…”

Và nước mắt đã rơi trước hừng đông sau chót, của một ngày cuối tháng Tư nóng giãy, ràn rụa những chia phôi và hỗn mang…

Ôm choàng một khúc hát, cầm tay một giai điệu, soi vào những bừng sắc truyền cảm typo , dìu thêm những gam màu óng ánh một niềm nhớ…từ những nhạc tập thời tiền-thuyền-nhân, tôi biết mình đang gom lại những tả tơi vàng son của một Saigon đã úa nhàu, trên tay – ôi những “gấm nhung phiền thế thời”/ tháng Tư – “dưới mặt trời ngồi hát hôn mê” – ngồi hát (lại) như đang khấn nguyện những bản cầu hồn sầu bi và diễm ảo đã vào sâu dĩ vãng, hát một mình, hát nguyện trong nhà-nguyện-riêng-tây nơi thành-phố-tình-yêu đã mục ruỗng từ dạo đó, để rồi vấy thốc lên từng lớp bụi bảng lãng giữa không trung – Thứ ”bụi khói khóc hư vô” – ôi những bụi khói làm mắt cay vô cớ… những bụi khói thời gian mịt mùng bay lên từ điển lễ khâm liệm – khâm liệm một Saigon đẹp của những “cầu vồng bắc giữa mưa và nắng” – và đó, những lớp bụi cũng từ cuộc đào huyệt một vang bóng Saigon đẹp – đẹp từ những phế tích, từ những cố-tình-huỷ-diệt, từ những vết-tích-chết, từ những “tàn hơi hám cũ” – Saigon đẹp cả đến những cái tên nhân văn của bảng hiệu những ấn quán phát hành – những cái tên mà không cần chi khác, chỉ bằng cách nghĩ để định danh từ những chủ nhân cũng đủ thấy “tầm” & “tâm” của những người muôn năm cũ: Gìn Vàng Giữ Ngọc, Khai Phóng, Kẻ Sĩ, An Tiêm…(đó là còn chưa kể bảng hiệu của những ấn quán xuất bản triệu triệu những ấn phẩm khác như Lá Bối, Diên Hồng, Khai Trí, Trí Đăng, Cảo Thơm, Vàng Son…). Ôi cái đẹp của một thời “Thi ca trong sữa lúa /Tiểu thuyết trên lụa đào”…

Sau cuộc-khổ-nạn-của-người-Việt-Nam, sau trận phần thư khủng khiếp…Những quyển sách, những tập nhạc, im lìm…chờ hát – im lìm chờ mở ra – im lìm cam phận – Hồn một thứ gì đó/ hồn một ai đó đang âm thầm nương náu – Có phải?!?
Khi hát lên những bản tình ca cũ – trí nhớ như đã ướp bằng hương. Hương thời gian dắt mình đi trên “đường xưa lối cũ” về thời “đang nâng niu cuộc tình lộng lẫy” – để thấy lại một khung trời hoa mộng, bỏ hết những thề nguyền và bội phản của những ngày tháng Tư sầu xé lệ tang thương, chỉ còn những rung vang, chỉ còn những thi-nhạc-hoạ, chỉ còn những êm đềm (& ám ảnh) những đôi mắt cô quạnh của tranh bìa Nguyên Khai, Đinh Cường, Duy Liêm, Trịnh Cung, Duy Thanh, Hồ Thành Đức…dặt dìu như một cơn mộng đẹp; những gương mặt chìm ảo như đến từ một cõi chiêm bao – cánh áo bay lên – “đổi gì được đây lấy lại thơ ngây” – những nét đẹp khó nắm giữ, như “cho lần cuối” – “gần thắm thiết trong mối sầu” nhưng cũng “xa như hình bóng, còn gặp lại nhau chăng” & những dòng kẻ nhạc – một yêu dấu đã từng – dịu dàng & mỏng mảnh…”còn tiếng hát gửi người” – gửi những gì xa ngái…

“Sài gòn trái tim anh, tim đất nước
Anh mới hiểu
Tại sao mình yêu tổ quốc
Và tại sao mình yêu dấu Sài gòn
Em cho anh nhiều, em nhớ nổi không
Tiếng hát thê lương, điệu ru kỷ niệm…”
(Saigon Trường Ca – mở đầu Saigon Ngày Dài Nhất – Duyên Anh)

Ôi những điệu ru kỷ niệm, với bảng lảng hồn đầy và đam mê tình ngất, hôm nay, một mình mình hát – tiếng hát xé mây đưa thời gian trở lại, và dừng lại – dừng lại ở thời thảm-kịch-chưa-dựng-bày, dừng lại ở thời thiên đường – dù biết “thiên đường có thật – chỉ là sự thật – khi đó là những thiên đường đã lỡ”…

“Ngày xưa em lụa đào
Anh nắng vàng xôn xao
Ôi người yêu ngọc ngà
Sợ quên em đêm nhớ
Nụ hôn đêm nào cho
Khi về còn ngẩn ngơ
Dòng sông đưa chuyện tình
Theo sóng đầy lênh đênh
Em lụa phai nhạt màu
Nụ hôn xưa rớm máu
Vạt nắng sáng nguồn cơn
Bây giờ… hoàng hôn!”
(Chuyện Tình – Duyên Anh)

“Ngày đó chúng mình” đã hát, và hôm nay, với một lần xuyến xao được tìm lại /thấy lại bằng những khúc ca – “dung nhan mang tình yêu” chấp chới ẩn hiện về trong trí nhớ…là một cánh rừng mịt mùng thác lá đổ “nối gót người vào dĩ vãng nhạt màu” , là những ốc đảo cô đơn “đã chìm vào cơn mưa”, là những lướt thướt của chấp chới “nắng chiều”, là mãi mãi những tiếng trầm hồ cầm âm u dội vào lòng nhau vĩnh viễn một “chiều đi lặng lẽ, thương nhớ muôn bề”, là những “vì sao đêm đi về bí mật”… rơi xuống đời thành những “giọt nước mắt cho ngàn sau” – giọt nước mắt quạnh quẽ, cô liêu khi “một mình ta đứng nhìn mối tình duyên tan theo”, hay giọt nước mắt phủ xuống hồn người đã tả tơi khi “buồn rơi trên tâm hồn lẻ loi, thương hình hài con người nhỏ bé”, hay giọt nước mắt hòa tan cùng “trời còn làm nước mắt rơi mau/trên vùng tuổi mưa ngâu…”, hay cũng có thể lắm chứ, giọt nước mắt vui mừng khi “có một lần tôi đưa em, đưa em về miền nắng ấm/ những con chim thôi ngủ sau mùa đông lạnh căm” – quay lại cùng từng nhánh rong trôi về nguồn, trong từng sát na của ” năm tháng úa trên lưng tháng ngày”, trong không gian của 1 nơi chốn “sưởi ấm những giọt tình nồng”, trong từng góc phố “mưa giăng chiều nắng tàn”…và trong chất ngất những nghẹn ngào của vùng kí ức; quay về – vẹn nguyên – những buổi trưa “theo em xuống phố”, những buổi chiều “ngày hôm qua trong nắng thiên đường”, những buổi tối “đèn xanh đã tắt giọng hát ân tình”, những ngày “dĩ vãng màu xanh trong thân yêu”, những tháng “gần thắm thiết trong mối sầu”, những năm “thách đố thương đau”…

“…Ta về như hạc vàng thương nhớ
Một thủa trần gian bay lướt qua…”
(Ta về – Tô Thuỳ Yên)

Bằng những khúc hát, ta đã về như thế… Về với dĩ vãng & ở lại vĩnh viễn bởi lẽ “Từ đây tôi sống bằng kỷ niệm” như tuyên ngôn một nhân vật từ nhà văn của tuổi hoa mộng Duyên Anh.
Những tập nhạc của một thời hoa mộng, khi anh biết yêu lần đầu – khuôn mặt của thiên đường, khi em biết yêu lần cuối – nụ cười của vực thẳm.
Hát lên đi em ơi, để không còn là những “hiu hắt quê hương bến cỏ hồng”, hát lên đi em ơi, để chờ đợi, để gom lại một chút bụi khói sương của một thiên đường đã lỡ bốc cháy.
Hát nữa đi em, để còn biết “đôi khi hạnh phúc…buồn”, để biết “trong bao kiếp hoang…vui chưa tìm thấy”.

Và hát để đưa bồng bềnh của những đám mây kỉ niệm quay về gần, một lúc nào đó, sẽ rơi rụng xuống trần gian này thành những mơ mộng mông mênh…góp đầy cho một lần thương nhớ…

“mưa thân ái trên tay
tay mỏi rời trong tóc
tóc nhớ ai mọc dài
mắt nhớ ai muốn khóc

tay của em,
tóc của em, và
mắt của em
của mưa của mưa, ừ
của mưa
tay em tay mưa tóc em tóc mưa mắt em mắt mưa

ôi gia tài quí báu của đời ta
ngàn vàng không đổi được”
(Một Chút Mưa Thơm – Mường Mán)

Những “gia tài quí báu của đời ta” này…ở đây, hôm nay, hát lên trong những ngày cuối cái tháng oan khiên – tháng mà ở đó, với nhiều người, bao nhiêu năm trôi qua đi nữa thời gian mãi mãi cũng chỉ có duy nhất một – tháng mà ở đó, nửa đất nước như lên cơn đồng thiếp…

Mưa cũng đã rơi, không còn là những “móc mưa hạt huyền”, không còn là “giọt mưa tìm đến để chia lầm lỡ với người hoài trinh”, không còn là những “giọt mưa trên lá”, không còn là những “giọt mưa rớt trên tượng đá” để ai đó phải đau khổ muôn niên, không còn là những hiền như sương sớm trong tuổi đá buồn với giọt “mưa rơi mênh mang trên hai tay xuôi” …

…chỉ còn là những cơn mưa quái ác …
“qua trận gió kinh thiên”…
& mưa … & nước mắt….
…nước mắt
sau
cơn
mưa…

“Giọt nước mắt nghẹn ngào
biển ướp muối khô tim
Giọt nước mắt oan khiên
Giọt nước mắt cô đơn
…Ôi giọt nước mắt cho những thân phận sắt se
cho những tâm hồn tái tê
cho những con người não nề…
Giọt nước mắt tỏ tình thương ngàn xưa hư vô
Giọt nước mắt tội nghiệp còn thế giới hoang vu
Giọt nước mắt tâm tư
Giọt nước mắt ươm mơ
Rơi xuống em ơi. Xanh ngọc vàng tơ…”

(Giọt nước mắt cho Việt Nam – Duyên Anh)

NGUYỄN TRƯỜNG TRUNG HUY

MẤY VẦNG TRĂNG…

dungkqd

1.
Đêm nay trăng khuyết một miếng
Mọi người nhìn nhau nghi ngờ
Có đứa đổ thừa mình cắn
Thì ra là lão nhà thơ…
2.
Hôm qua trèo lên sân thượng
Thấy quả trăng tròn, giật mình
Hình như là gã hàng xóm
Cũng ngồi ngửa mặt lặng thinh
3.
Vầng trăng lơ lửng trên đầu
Lâu nay tưởng thân quen lắm
Vậy mà mỗi lần muốn ngắm
Lại phải lọ mọ thức khuya
4.
– Đêm qua đứa nào trộm mất trăng của tao?
Tìm khắp Huế cả đêm mà chẳng thấy
Đám thái giám vào chầu run lẫy bẩy
Buổi thiết triều quan lính cứ nghi nhau…
– Đêm qua đứa nào trộm mất trăng của tao ???

DŨNG KQD

DĂM BÀI THƠ NHỎ. BÀI SỐ 210,

huytuong

Mây ngưng khản đặc trên rừng
Gù lưng ụ bóng.rồi lừng lững đi
Tôi ngồi.hết chép rồi ghi
Sợ quên đôi đi nếp vô vi lúc về
Sợ quên cả nỗi buồn tê
Bao năm treo giữa tư bề âm u
Mai sau ly biệt… cho dù…

HUY TƯỞNG
(Trích từ NHỮNG BÀI THƠ CHƯA KỊP VIẾT TỰA ĐỀ,
Melbourne, tháng 04/ 2010)

SÀI GÒN NGÀY DÀI NHẤT (Chương 10)

duyenanh

21 giờ. Tôi đứng vỉa hè Công Lý số chẵn nhìn sang nhà tôi. Đặng Xuân Côn đợi tôi trước cổng. Con đường Công Lý như con đường Hai Bà Trưng, như tất cả những con đường của Sài gòn, cuồn cuộn sóng người. Người người, lớp lớp. Phải nói lớp lớp người, lớp lớp cờ, lớp lớp khẩu hiệu. Không phải là sự sách động ngoạn mục của cộng sản đâu. Cũng không phải là sự tình nguyện hoan hô cách mạng vô sản đâu. Mà chỉ là lời hăm doạ biển máu của người Mỹ vất lại, trước khi họ cuốn cờ cút chạy. Người Mỹ thí quân dân ta khá nhiều. Người Mỹ bỏ ngỏ Mậu Thân cho cộng sản tiêu diệt quân dân ta, cho những nấm mồ chôn sống tập thể ở Huế. Người Mỹ đẩy quân ta sang Hạ Lào cho một chiến trường đợi sẵn của cộng sản để quân ta thảm bại. Người Mỹ oanh kích tự do như khai phóng tự do, dân chủ xuống những vùng nông thôn khó kiểm soát an ninh. Người Mỹ thả bom CBU thí nghiệm lương tâm dân tộc Mỹ và lương tâm nhân loại. Chẳng có phản ứng gì? Người Mỹ dọa biển máu, tặng cộng sản một cuộc tiếp rước linh đình của dân miền Nam. Và, một số người Việt Nam lý luận rằng, nhờ Mỹ dọa biển máu mà cộng sản không dám chơi biển máu. Người ta không chịu hiểu rằng thời đại của tàn sát đã cáo chung. Biển máu của Mỹ chỉ nhắm mục đích khiến chúng ta sợ hãi tìm lối thoát thân để quên hết chuyện kết đoàn chiến đấu ngăn chặn cộng sản. Và rồi, vì sợ hãi biển máu, dân Sài gòn cam đành ra đường phố hoan hô cộng sản. Chẳng còn nỗi đau đớn nào hơn nỗi đau đớn mỉm cười hoan hô cộng sản trong cảnh huống rụng rời sợ hãi. Con người có khôn lớn chút nào từ nỗi đau đớn này không nhỉ?
Tôi cố lách băng qua đường. Không còn chỗ cho xe đạp lưu thông nữa. Cũng không thấy bóng dáng bộ đội miền Bắc và giải phóng quân miền Nam trong người người, lớp lớp. Toàn là dân Sài gòn. Đủ mọi thành phần. Cỏ đuôi chó và bọn nằm vùng, tay đeo băng đỏ, điều khiển an ninh, trật tự. Tôi vất vả lắm mới len tới cổng nhà mình, hai chai rượu còn nguyên. ‘
– Mày đi lâu thế? Côn hỏi.
– Gặp thằng Thế Phong, ăn tô mì, uống chai bia. Tôi đáp.
– Bình yên.
– Bình yên cái gì?
– Chưa có dấu hiệu hỏi thăm mày.
– Đêm nay sẽ có.
Tôi nhìn hai lá cờ giấy dán trên hai cánh cổng sắt, ngao ngán:
– Ai dán cờ?
Côn thở dài:
– Cu Tý và con Ki.
Côn nói:
– Thằng Bảo và thằng Thân đang núp ở trong nhà.
Bảo và Thân là hai đứa em kết nghĩa của tôi. Bảo, thiếu úy bộ binh. Thân, trung sĩ thủy quân lục chiến. Chúng tôi vào nhà. Thảm cảnh đầu tiên trong nhà tôi lúc 21 giờ 10 phút là vợ tôi cầm lá cờ quốc gia, lá cờ vàng ba sọc đỏ đứng khóc. Tay vợ tôi run rẩy. Nàng nức nở:
– Làm sao bố?.
– Cái gì?
– Cái cờ.
– Em gấp lại, cất vào tủ quần áo.
– Nhỡ nó xét nhà?.
-Thế thì em xé đi, đốt đi, liệng ra đường.
– Không được.
– Vậy gấp lại, cất đi.
Giữa lúc đó, thiếu úy Bảo từ trong buồng bước ra, ôm chặt lấy tôi:
– Em lạy anh, anh cứu em, anh cứu em…
Tôi xoa lưng người em kết nghĩa:
– Anh không cứu nổi anh, cứu em sao được.
– Vậy em trốn đâu?
– Em cứ ở đây với anh rồi cùng chết với anh.
Tôi trấn an Bảo:
– Cả nước sắp chết. Anh em mình sống với ai. Có rượu đây, anh em mình ngồi uống chờ chết.
Trung sĩ Thân đã lò dò ra:
– Anh nói đúng.
Tôi lắc đầu:
– Anh sai lớn. Đáng lẽ các em phải bám sát bọn tướng lãnh đào ngũ mà chạy. Thì giờ này các em đang ở đảo Guam tội nghiệp anh. Nhưng các em đã can đảm chiến đấu đến phút chót, cũng nên can đảm đến phút chết. Ai mà không sợ chết, song nếu biết mình phải chết, hãy chọn thái độ chết. Đừng chết sảng.
Bảo hỏi:
– Anh nói mình thoát chết?
Tôi đáp:
– Anh nói mình chờ chết. Người khôn ngoan là người biết chờ đợi.
Vợ tôi đã gấp xong lá cờ. Tôi bảo nàng dọn cơm cho anh em tôi rồi đưa trẻ con vào hết trong phòng ngủ. Gia đình Đặng Xuân Côn ở lại với chúng tôi. ăn qua loa cho xong bữa, bốn chúng tôi rời bàn ăn tới xa-lông uống rượu, hút thuốc lá. Dù đã đóng chặt cửa, âm thanh hỗn loạn bên ngoài vẫn lọt vào. Chúng tôi uống Cognac không đá, không soda. Tôi đã tắt đèn để khỏi nhìn nhau. Đốm lửa đỏ đầu điếu thuốc, mỗi khi rít, chẳng đủ soi rõ khuôn mặt méo mó của từng người. Im lặng trong chúng tôi Tôi nghĩ đến Bảo. Nó không cha mẹ, không anh em như tôi. Nó tìm tôi bằng tiểu thuyết của tôi, yêu tôi như yêu nhân vật chú Nghị ở Con sáo của em tôi và ông Nghị thầy tuồng ở Mây mùa thu. Năm 1968, khi tôi viết về một ca khúc chống phản chiến Mỹ của một nhạc sĩ Mỹ, Bảo thích lắm. Bài hát thịnh hành ở Mỹ thời đó, có đoạn:
Bố yêu nước Mỹ như yêu con
Nếu con xé bỏ thẻ quân dịch
Con đã xé bỏ nước mỹ
và con đã xé bỏ tình yêu của bố cho con….
Năm 1971, vì không chấp nhận thái độ phản chiến trốn lính của bọn sinh viên thân cộng, cũng bầy trò đốt lệnh trưng binh, Bảo bỏ ngang đại học tình nguyện nhập ngũ. Nó thích làm lính chiến. Bao nhiêu tuổi trẻ miền Nam đã như Bảo và đã, hôm nay, vất bỏ quân trang, quân dụng, võ khí, chạy về nhà tìm chỗ nấp? Tôi nghĩ đến Thân. Nó kết nghĩa anh em với tôi vì mê nhân vật Trần Đại ở Điệu ru nước mắt. Thân đăng lính thủy quân lục chiến, chọn quốc gia làm lý tưởng. Nó yêu lý tưởng quốc gia đến nỗi xâm ở cánh tay mình hai chữ Sát cộng trên da thịt mình. Tôi nghĩ đến những người lính hiên ngang và chung thủy của quân lực Việt Nam cộng hòa, đã phẫn nộ buông súng, lột bỏ chiến bào chạy về nhà mình như những kẻ chiến bại thê thảm. Những con người không biết sợ chết ngoài sa trường ấy, giờ này, đang ngồi núp xó nhà, rên rỉ vết thương tươi rói. Và nước mắt của mẹ họ, của vợ họ, của con họ tưới xuống vết thương làm xót xa thêm. Người ta sẽ diễn tả thế nào về những tiếng khóc, tiếng rên rỉ trong bóng tối của kẻ thua trận và thân nhân họ? Ai đã được nghe những tiếng khóc và tiếng rên rỉ đó? Chưa đủ não lòng, tiếng loa bên ngoài còn vọng vào, réo gọi, răn đe. “Ngày mai, 1 tháng 5, mọi người, mọi nhà, bất kể ai, phải tập họp ở khu phố để đi mít-tinh chào mừng cách mạng thành công”! Này người may mắn di tản trước 30-4-1975, người suy nghĩ gì về tiếng khóc, tiếng rên rỉ, và tiếng loa réo gọi? Này, người tướng đào ngũ trước 30-4-1975, người suy nghĩ gì về tiếng khóc, tiếng rên rỉ và tiếng loa réo gọi? Này, người chính khách, người nghị sĩ, người dân biểu, người trí thức khoa bảng may mắn di tản trước 30-4-1975, người suy nghĩ gì về tiếng khóc, tiếng rên rỉ và tiếng loa réo gọi? Vết thương vẫn còn tươi rói. Xin hãy để chúng tôi ngồi liếm vết thương trong cô đơn. Xin đừng rắc muối, vắt chanh xuống vết thương của chúng tôi bằng những hô hoán vô tích sự. Người ta chỉ biết chiến đấu, chỉ dám chiến đấu với điều kiện tiên quyết:
Chửa khi nào quên táo bạo
Chửa khi nào quên hát, quên đau
Những kẻ đào ngũ, đào nhiệm, chạy trốn là những kẻ chưa một lần táo bạo để quên, chưa một lần hát, chưa một lần dám thử đau đớn. Thì chiến đấu của họ chỉ là chiến đấu giả. Tổ quốc và dân tộc Việt Nam triền miên bất hạnh đã chán chường những cuộc chiến đấu giả. Hãy chiến đấu thật? Bằng không dám thì nên im lặng. Để tiếng khóc, tiếng rên rỉ và tiếng loa réo gọi nguyên vẹn cảm xúc và phẫn nộ.
TƯỞNG TƯỢNG RA TÂM SỰ NGƯỜI LÍNH VIỆT NAM XÂM TAY HAI CHỮ SÁT CỘNG
Anh ta ngồi trước bếp than. Con dao nung trong đó. Người lính Việt Nam đã lột bỏ chiến bào, quăng vũ khí, liệng quân trang xuống vỉa hè sau lệnh đầu hàng của Dương văn Minh. Anh ta trở về nhà mình lúc hoàng hôn thoi thóp. Mẹ anh ta ôm anh ta khóc tức tưởi.
– Thua trận hả, con?
Người lính nghẹn ngào:
– Vâng, thua trận!.
– Rồi có sao không?
– Con chưa biết!
Người lính buồn bã, mệt mỏi. Anh ta không thể giải thích cho mẹ hiểu anh không hề thua trận, quân đội Việt Nam cộng hòa không hề thua trận. Mỹ thua trận giả vờ. Bọn tướng lãnh ngu dốt thua trận thật. Lũ thống trị tham nhũng thua trận thật. Chúng nó cút và đào ngũ, đào nhiệm cả rồi. Chỉ còn anh và chiến hữu anh chiến đấu tới giây phút cuối cùng. Anh đầu hàng theo lệnh của Tổng tư lệnh quân lực Dương văn Minh. Vì anh là lính tôn trọng kỷ luật. Mẹ anh an ủi anh rồi để anh một mình ngồi góc phòng ve vuốt vết thương đời.
Người lính mân mê cánh tay mình. Anh ta quyết định xuống bếp nhóm than. Và nung con dao. ánh lửa soi rõ hai chữ Sát cộng trên da thịt anh. Nó nổi bật như chữ đắp. Anh nhìn hai chữ Sát cộng, ôn lại chuyện hai mươi năm…
***
Người Mỹ hiện diện ở Việt Nam với chiêu bài khai phóng tự đo, dân chủ cho một dân tộc kém mở mang. Đó là chiêu thức đầu tiên của ngụy quân tử Hoa-kỳ trong chính sách tân biên cương. Theo tiếng trống thúc dục của Kennedy, tuổi trẻ Việt Nam phấn khởi xây dựng đất nước mình. Muốn hưởng tự do, dân chủ phải bảo vệ tự do, dân chủ. Chống cộng sản được nâng lên hàng quốc sách. Lý tưởng quốc gia là chống cộng sản. Đơn giản lắm. Ngụy quân tử Hoa-kỳ tung ra các khẩu hiệu phó thác sự nghiệp chống cộng cho Nam Việt Nam. “Nam Việt Nam là thành trì bảo vệ tự do của Đông Nam Á.” “Nam Việt Nam là tiền đồn bảo vệ thế giới tự do”… Nghe sướng tai. Chủ tịch Liên minh á Châu chống cộng là người Việt Nam. Dân Việt Nam nức lòng chống cộng cho Thái Lan, Mã Lai hòa bình và mở mang đất nước, phát triển kinh tế. Ngụy quân tử Hoa-kỳ sát hại anh em Ngô Đình Diệm để sự nghiệp chống cộng vẻ vang hơn. Quân Mỹ sang ầm ầm. Chiến tranh leo thang. Nông thôn mất gần hết. Bắc tiến xôm tụ. Bắc phạt inh ỏi. Người lính Việt Nam chỉ biết tổ quốc mình, dân tộc mình, không thèm hiểu âm mưu của ngụy quân tử Hoa-kỳ và đám tướng lãnh thống trị cầy cáo. Noi gương người xưa xâm lên tay hai chữ Sát thát, anh ta cũng xâm lên tay hai chữ Sát cộng, thề vì nước vì dân tiêu diệt cộng sản để bảo vệ tự do, dân chủ và hạnh phúc cho giống nòi. Trung thành với lý tưởng quốc gia, người lính đã xông pha vào chiến trận, coi cái chết tựa lông hồng.
***
Con dao đã đỏ. Người lính nhấc ra. Anh ta định đốt da thịt để tiêu hủy hai chữ Sát cộng. Nghĩ sao, anh ta lại đút con dao vào bếp. Anh ta tự hỏi: Có ông tổng thống Mỹ nào đã xâm tay hai chữ Sát cộng; có ông nghị sĩ, dân biểu diều hâu nào đã xâm tay hai chữ Sát cộng (Tôi có thể trả lời anh ta rằng không). Anh ta lại tự hỏi: Nguyễn văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Cao văn Viên, Đặng văn Quang, Trần Thiện Khiêm và các tướng lãnh có xâm tay hai chữ Sát cộng không nhỉ? (Tôi có thể trả lời anh ta rằng không). Người lính phân vân một lúc rồi lẩm bẩm:
– Mẹ kiếp, mình chống cộng thật. Chúng nó chống cộng giả vờ!
Người lính Việt Nam cộng hòa anh dũng rút con dao đã nung đỏ ra. Anh ta nhúng con dao vào chậu nước. Tiếng xèo kéo dài. Nước sủi bọt. Anh ta đứng dậy, đứng thẳng. Anh ta mân mê hai chữ Sát cộng. Đôi mắt rực sáng, anh ta sảng khoái:
– Dẫu sao, mình vẫn chống cộng, mãi mãi chống cộng. Ta cần cho kẻ thù nhìn rõ Sát cộng trên tay ta.

DUYÊN ANH