Khúc Phục Tang

phuonguy

để tang cho một cái chết
hay nhiều cái chết cũng như nhau
những quặng sóng bạc màu
khóc bằng lời bọt nước
những chàng ( hay nàng) tiên cá không hề được thông báo
rằng cái chết sẽ thoát thai
từ những dối trá
lời nguyền thánh không báo trước tai ương
khi tiếng dương cầm được tấu lên
là phút giây vĩnh quyết
những ngày đại dương khóc bằng máu thay nước mắt
kết chung một cuộc xanh trong

đã qua những dụ ngôn
người rẽ lòng biển
đi sâu tìm sự sáng
sự khánh kiệt đến bằng nước mắt đỏ lửa
là tuyệt tận sinh linh

đã qua rồi câu chuyện về những tiếng gió hú qua vỏ ốc
ngày thả rớt theo kẻ tay
che dấu một cơn hèn mọn bất lực
câu tụng niệm cũng chỉ là lừa dối
bài kinh cầu an chỉ còn âm vang đớn hèn
khoảnh khắc mặt trời cúi mặt

trong buổi chiều phục tang cho những câu chuyện cổ tích
giấc mơ bật khóc xanh xao
gió giật âm âm lời bia mộ
con sóng xưa quằn một nỗi nghẹn ngào

Hoàng Phương Uy

CON VỀ

lephuhai

Con về thăm mẹ chốn yêu xưa
Lặng lẽ chiều nghiêng mấy bóng dừa
Giậu đổ bìm leo sâu đẻ trứng
Con cò đứng ngóng những cơn mưa
Em lấy chồng xa đời lưu lạc
Chị còn chạy gạo buổi cơm trưa
Nhìn quẩn quanh tìm cây gậy trúc
Cha già tai điếc đã nghe chưa?

Bao người lữ thứ vắng quê hương
Một nửa đồng xanh nửa phố phường
Lỡ mối mang rồi nên gả bán
Mai còn gì nữa để yêu thương
Cởi áo phơi ra lời trách móc
Sao tình cốt nhục chẳng thiên lương
Ngựa chạy đâu còn che mắt nữa
Mà mờ mịt mãi những đêm sương?

Con về rũ lại bụi phù vân
Thắp nén hương xa chuộc tình gần
Đứng ngắm giang sơn nghìn mảnh vá
Chạnh lòng con quốc khóc thương thân
Dĩ vãng nhẹ tênh tình non nước
Dặm trường mê mãi mõi đôi chân
Đành nợ anh linh người đi trước
Lối vào thương tiếc cỏ trên sân

Chút tình xưa cũ cũng phôi phai
Bừng tỉnh cơn mê giấc mộng dài
Đất khổ lòng đau kêu thống thiết
Mẹ già tóc trắng xác xơ bay
Niềm riêng xa lắc ngồi nghe ngóng
Đồng vọng về đâu liễu chương đài
Xiềng xích trên vai người hào kiệt
Cổng nhà chó đá sủa chân ai?

Lê Phú Hải

TÌM TÔI…

dami

khi tìm tôi ở quãng đường này
hỏi trăm ngàn gió: có mây bay?
tôi tới từ hôm xưa. rất cũ
rồi cũ thêm từng phút từng giây

tôi tới từ hôm cơn mưa qua
chọn một vòm cây, tôi gọi: nhà
đôi khi đốm lửa sao trên đó
là ngọn đèn tôi trong mắt xa!

trên bàn có đến hai cái ly
tôi uống ngụm ngồi rồi ngụm đi
những ngụm trời đày toang hoác ngực
cơn đau? ừ cũng có đôi khi

khi hỏi tôi trong một đợt chiều
tôi, cơn say, bóng đổ đìu hiu
nhớ chi? hình dung tôi xưa đó
tôi cần tôi rất đủ thương yêu

ĐA MI

Mặc cảm chiêu hồi và khát vọng tự do

trantrungdao

Mùa hè năm nay tôi đến thăm một đảo nhỏ vùng Trung Mỹ. Thật ngạc nhiên. Cuối tháng Bảy, những hàng phượng vĩ trổ bông màu đỏ rực giống hệt như trong các sân trường ở Việt Nam. Tuổi học trò mộng mơ ngủ yên trong ký ức chợt thức dậy ở một nơi rất xa xôi. Nhìn hàng phượng vĩ lòng lại bâng khuâng nhớ đến quê nhà. Cả gia đình ngồi bên hàng phượng đỏ và kể cho nhau nghe những kỷ niệm về hoa phượng. Hai mươi bảy năm. Thời gian tôi sống ở ngoài nước đã dài hơn thời gian tôi sinh ra và lớn lên trong nước, thế nhưng, Việt Nam vẫn là đề tài chính không chỉ trong sinh hoạt cộng đồng, những buổi họp mặt anh em văn nghệ, trong bữa cơm gia đình mà ngay cả trong những ngày ở lại trên một hòn đảo cách Việt Nam hàng chục ngàn dặm. Đơn giản, bởi vì đó là đất nước. Không có gì quan trọng hơn đất nước. Mỗi người rồi sẽ ra đi nhưng đất nước sẽ ở lại cho nhiều đời sau.

Có lần tôi được hỏi mai mốt có dịp trở về, ngoài gia đình, tôi sẽ đi đâu khác. Tôi trả lời rằng tôi sẽ đi thăm Hà Nội. Thật vậy, tôi không hề có ý nghĩ trở về chỉ để thăm những hàng phượng đỏ trên đường Bạch Đằng Đà Nẵng, những đồi sim tím ở Quế Sơn hay tìm lại những gì tôi đã mất. Không. Nền nhà cũ, con đường xưa, trường học, dòng sông tuổi thơ đã là kỷ niệm và dù vui hay buồn cũng đã thuộc về quá khứ. Mỗi thứ đã có một ngăn riêng trong tâm hồn. Tôi vẫn ôm ấp và sống với chúng trong mỗi ngày tôi còn có mặt ở đây. Nếu có dịp trở về, tôi sẽ đến thăm sông Hồng, Quốc Tử Giám, hồ Hoàn Kiếm, chùa Một Cột. Tôi sẽ đi Phong Châu, Phú Thọ để dâng nén hương lên anh linh các đấng vua Hùng. Tôi sẽ hành hương về Yên Tử, vùng đất tổ của Phật giáo Việt Nam. Ở mỗi nơi tôi sẽ không quên dành một phút để trịnh trọng thưa rằng tôi là người có lỗi.

Tôi có lỗi bởi vì trước đây tôi đã nghĩ sai về Hà Nội, nghĩ xấu về Hà Nội, nghĩ sai về miền Bắc, nghĩ xấu về miền Bắc. Hà Nội trong tôi 33 năm trước là trung tâm quyền lực của một chế độ độc tài, tàn bạo đã mang súng đạn của Nga, Tàu về tàn sát hàng triệu người dân miền Nam, giày xéo lên quê hương Việt Nam. Tôi có mặc cảm rằng ra Hà Nội là đầu hàng, ra Hà Nội là chấp nhận chế độ, là một hình thức chiêu hồi. Tôi ở lại Việt Nam thêm 6 năm nhưng nhất định không đi thăm miền Bắc, dù có nhiều cơ hội. Thực tế chính trị Việt Nam sau 1975 với hàng loạt các chính sách vô cùng thất nhân tâm là những đám mây đen che khuất đi những đền tháp vàng son của một Hà Nội uy nghi trong tâm hồn tôi. Đứng trên đường phố Sài Gòn buổi trưa 30 tháng 4 năm 1975, tôi nhớ lại những ngày ở Đà Nẵng đầu năm 1968 với tiếng gầm thét của những máy bay chiến đấu, những khẩu đại pháo nòng dài, những quân trang quân dụng, tất cả đều được chế tạo và mang đến từ nước Mỹ. Và 30 tháng 4 năm 1975 cũng chẳng khác gì. Từ khẩu súng trường cho đến túi lương khô, nếu không mang nhãn hiệu Trung Quốc thì cũng Liên Xô. Cả con người cùng dòng giống với tôi nhưng xa lạ không khác gì những anh chàng Mỹ đen Mỹ trắng trước đây. Đặc tính lai căn thể hiện không chỉ trong sách vở, trong giáo trình mà cả trong cách ăn nói, giọng hát, diễn kịch, điệu múa, dáng đi cũng rập theo cung cách của Nga. Hà Nội trong tôi sau 1975 không còn là Hà Nội nơi Trần Quang Khải từng khẳng khái ngâm vang “Thái bình nên gắng sức, non nước ấy ngàn thu” trong đêm liên hoan mừng chiến thắng quân Nguyên cuối thế kỷ 13. Giấc mơ được ra thăm miền Bắc của tôi không ai đụng nhẹ nhưng đã tan như chiếc bong bóng nước trong cơn mưa Sài Gòn buổi sáng cuối tháng 4 năm 1975.

Tôi cắt đứt không thương tiếc tình yêu dành cho chiếc nôi văn hóa của dân tộc Việt Nam mà từ tuổi thiếu thời tôi bao đêm mơ ước một lần được đến, được trở về thăm, được hôn lên mảnh đất nơi tôi đã từng viết “mỗi chiếc lá như còn nghe hơi thở, mỗi cành cây như có một linh hồn”. Thật vậy. Những năm đầu thập niên 1970, khi còn học trung học Trần Quý Cáp ở Hội An, nếu ai hỏi tôi sẽ làm gì sau khi đất nước thanh bình, tôi trả lời ngay rằng tôi sẽ đi thăm miền Bắc. Không phải vì tôi bị ảnh hưởng bởi nhạc Trịnh Công Sơn “khi đất nước tôi thanh bình, tôi sẽ đi ba miền”, mà vì trong các môn học tôi vẫn thích nhất môn sử. Quê cha của tôi là Quảng Nam nhưng đất tổ của tôi là miền Bắc. Khi còn nhỏ, mỗi năm trong ngày giỗ chạp, bác tôi thường nhắc nhở con cháu, dòng họ chúng tôi lần đầu từ ngoài Bắc đi vào Nam chỉ có hai anh em, người anh dừng lại ở Quảng Nam nhưng người em thì đi tiếp vào Quảng Ngãi. Nhưng cũng sau lần chia tay đó họ đã lạc nhau cho đến bây giờ. Tôi lớn lên với cảm tình sâu đậm dành cho cả hai xứ Quảng thân yêu và niềm khao khát tìm về những bà con cùng tộc ở miền Bắc vẫn âm thầm chảy trong tâm hồn tôi. Thầy dạy môn sử cũng đam mê lịch sử như tôi và đã dạy chúng tôi những giờ sử tuyệt vời. Thầy diễn tả các trận Tụy Động, Chúc Động còn hay hơn Kim Dung tả trận Tụ Hiền Trang trong Thiên Long bát bộ. Từ ô cửa của trung học Trần Quý Cáp, những buổi chiều tôi đã thả hồn mình trôi theo sóng nước sông Hồng, và đâu đó dưới lòng sông như vẫn còn những chiếc cọc gỗ lim mà hơn một ngàn năm trước đã đâm thủng chiến thuyền quân Nam Hán hay hơn bảy thế kỷ trước Trần Hưng Đạo đã đánh bại quân Nguyên. Tôi thuộc nằm lòng tên tuổi của các vị danh tướng thời Lê Lợi như Lê Thạch, Lê Sát, Lê Lai, Nguyễn Xí, Đinh Lễ, Đinh Liệt… và các vương tước nhà Trần như Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Trần Khánh Dư, Trần Quốc Toản… Những địa danh Đông Đô, Tây Đô, Chi Lăng, Vạn Kiếp, Thiên Trường đi vào ý thức tuổi học trò của tôi như những niềm kiêu hãnh không bao giờ phai nhạt.

Là một trong những sinh viên thuộc diện “sinh viên chế độ cũ”, sau mấy tháng đi làm thủy lợi, chúng tôi trở về trường Luật học tiếp. Để tìm giải đáp cho những câu hỏi về Đảng Cộng sản, về chiến tranh và cách mạng Việt Nam, tôi học rất nghiêm túc, chăm chú lắng nghe các cán bộ giảng dạy kinh tế chính trị, triết học Mác – Lê, đến nhà tập thể để tìm hiểu thêm từ các giáo sư đại học miền Bắc về những điều các ông các bà có thể không nói hết ở trường và đọc tất cả những gì có thể đọc. Sau thời gian khá dài học hỏi và tiếp xúc với nhiều người, tôi hiểu ra rằng những gì tôi nghĩ về miền Bắc trước đó là không đúng. Tôi đã vơ đũa cả nắm. Đồng bào miền Bắc, giống như chúng tôi ở miền Nam, đều là nạn nhân của ý thức hệ cộng sản, thậm chí họ còn chịu đựng dài hơn, lâu hơn và đau đớn hơn nhiều. Thế hệ trẻ chúng tôi ở miền Nam cũng may mắn hơn những người cùng tuổi ở miền Bắc. Chúng tôi sinh ra và lớn lên trong một xã hội tuy không hẳn hoàn toàn tự do nhưng vẫn có ít nhiều chọn lựa. Chúng tôi chẳng những có quyền phàn nàn, chỉ trích mà còn xuống đường, hoan hô và đả đảo. Tuổi trẻ miền Bắc thì không. Họ sinh ra khi Đảng đã có rồi. Sự có mặt của Đảng Cộng sản như họ được dạy từ lớp mẫu giáo là một quy luật tất yếu của xã hội loài người. Đảng cần thiết như hơi thở và sự sống, tự nhiên như nắng và mưa, khoa học như mặt trời mọc buổi sáng và lặn vào buổi tối. Đảng là tối thượng, là tuyệt đối, trên cả cha mẹ, gia đình và tổ quốc. Chính sách tẩy não, thuần hóa con người không phải là sản phẩm độc quyền của chế độ cộng sản, nhưng chỉ trong xã hội cộng sản việc “trồng người” mới được xem như là mục tiêu của nền giáo dục. Tôi ý thức điều đó cũng là thời gian tôi phải lo tìm đường vượt biển, nên không có dịp ra thăm miền Bắc.

Đối với miền Nam, tôi cũng hiểu ra rằng miền Nam mất không phải vì thiếu 300 triệu đôla viện trợ đặc biệt đầu 1975 hay vì bị Mỹ bỏ rơi như cố Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu thở than oán trách trong diễn văn cuối cùng của ông vài ngày trước khi lên máy bay. Miền Nam mất không phải vì quân đội Việt Nam Cộng hòa yếu kém hơn quân đội cộng sản hay các tướng lãnh Việt Nam Cộng hòa không tài ba thao lược bằng các tướng cộng Sản. Cộng sản thắng cuộc chiến Việt Nam, như tôi đã viết trong vài bài trước trên talawas, chỉ vì từ ngày thành lập 1930 họ luôn nhất quán với mục đích toàn trị và bất chấp mọi phương tiện để đạt đến mục đích; họ tổ chức tinh vi và phát huy triệt để tính Đảng từ trong mỗi tổ ba người cho đến cấp trung ương, và quan trọng nhất, họ tận dụng lòng yêu nước truyền thống, nhất là đặc tính bảo thủ, của người dân Việt Nam. Việt Nam Cộng hòa thì hoàn toàn khác. Tại miền Nam không có một đảng chính trị nào được tổ chức tinh vi đến mức có thể gọi là lực đối kháng tương xứng với Đảng Cộng sản, không có một hệ thống thông tin ngang tầm với bộ máy tuyên truyền cộng sản và các nhà lãnh đạo miền Nam, vì những vướng mắc bản thân và mải lo tranh quyền đoạt lợi, đã không làm sáng lên được chính nghĩa, không tổng hợp được lòng yêu nước, yêu tự do dân chủ trong người dân miền Nam thành sức mạnh. Vì thế, nếu không có ngày 30 tháng 4 năm 1975 thì rồi cũng sẽ có 30 tháng 4 năm 1976, 30 tháng 4 năm 1977, nói khác đi, việc miền Nam rơi vào tay cộng sản chỉ là vấn đề sớm hay muộn, trước hay sau chứ không phải là khả năng có hay không có thể xảy ra.

Với nhận thức đó, tôi không còn mang mặc cảm chiêu hồi khi nghĩ về Hà Nội và tìm lại được trong tôi tình yêu dành cho chiếc nôi của lịch sử Việt Nam. Vâng, nhưng đó không phải là quan trọng nhất. Quan trọng hơn thế nữa vì tôi hiểu đã rằng ngay từ trên những điêu tàn đổ nát, một cuộc chiến mới đã được phát động trong âm thầm trên phạm vi cả nước, đó là cuộc chiến giữa khát vọng tự do nhân bản và cộng sản độc tài toàn trị, giữa tự do và nô lệ, giữa thịnh vượng văn minh và nghèo nàn lạc hậu. Tôi bắt gặp trong ánh mắt của những người dân đang chui rúc dưới những tấm ny-long trên đường Trần Hưng Đạo, trong những căn nhà không vách ở các vùng kinh tế mới, đang sắp hàng bán máu ở bịnh viện Chợ Rẫy môt niềm đau câm nín và tôi tin một ngày những nỗi đau câm nín đó sẽ biến thành vũ khí. Không ai nói đây là cuộc tranh đấu dễ dàng. Bằng chứng là, dù nói gì thì nói, sau 33 năm chế độ cộng sản vẫn còn tồn tại và Việt Nam vẫn còn là một nước lạc hậu về văn minh, nghèo nàn về kinh tế và tất cả các quyền căn bản của một con người vẫn còn là một mơ ước xa xôi.

Cộng sản còn sống bởi vì nhiều người nghĩ rằng cộng sản đã chết.

Nếu cho rằng cộng sản đã chết thì trước khi chết cộng sản sống ở đâu? Liên Xô sau Cách mạng 1917 có phải là cộng sản không? Liên Xô dưới thời Stalin có phải là cộng sản không? Trung Quốc dưới thời Mao với những “nhà máy luyện kim sau hè” và công xã nhân dân có phải là cộng sản không? Bắc Hàn dưới thời Kim Nhật Thành có phải là cộng sản không? Campuchia dưới thời Pol Pot có phải là cộng sản không? Việt Nam dưới thời Hồ Chí Minh với Cải cách Ruộng đất và Nhân văn – Giai phẩm có phải là cộng sản không? Tất cả đều không và đều có, đều khác nhau và đều giống nhau. Không, bởi vì chưa có nước cộng sản nào kể cả Liên Xô với những kế hoạch 5 năm đầy tham vọng, đạt được những bước phát triển kinh tế có thể giải thích đúng với lý thuyết của Mác; và đều giống nhau, vì tất cả đều dùng những phương tiện mà lý thuyết Mác – Lê đã đề cao, đó là áp dụng bạo lực không thương tiếc đối với các thành phần xã hội cản trở bước tiến hay chống đối lại các mục tiêu của Đảng Cộng sản.

Đặng Tiểu Bình, một thời đã được thế giới ca ngợi là nhà cải cách xã hội lớn và thậm chí có người còn hy vọng ông ta sẽ từng bước mở đường cho một Trung Quốc dân chủ, hội nhập vào dòng phát triển của văn minh thế giới khi họ Đặng chuyển hướng nền kinh tế tập trung sang kinh tế thị trường, xóa bỏ toàn bộ hệ thống công xã thời Mao, tố cáo tội ác của Cách mạng Văn hóa, thiết lập các khu kinh tế đặc biệt làm cửa ngõ giao thương quốc tế, cho phép người dân phát biểu ý kiến qua phương tiện của “Bức tường dân chủ” gần khu Tử Cấm thành ở Bắc Kinh. Đặng Tiểu Bình viếng thăm Mỹ vào tháng Giêng 1979 và được Tổng thống Jimmy Carter tiếp đãi như quốc khách, mặc dù chức vụ của ông ta chỉ là Phó Thủ tướng. Nhưng cũng chính Đặng Tiểu Bình chứ không ai khác, là người có quyền tối hậu trong quyết định tàn sát nhiều ngàn sinh viên Trung Quốc yêu dân chủ đầu tháng 6 năm 1989. Những chiếc tăng của các binh đoàn 27 và 28 trên đường phố Bắc Kinh gợi lại cho người xem hình ảnh của những chiếc tăng Liên Xô tại thủ đô Praha, Tiệp Khắc mùa xuân 1965 hay thủ đô Budapest, Hungary tháng 11 năm 1956. Thời điểm khác nhau, nạn nhân cũng khác màu da, nhưng phương pháp mà các lãnh tụ cộng sản áp dụng để tiêu diệt kẻ thù của đảng dù ở nước nào cũng giống nhau và độc ác như nhau. Cộng sản không phải chỉ là mớ lý luận mơ hồ mà chính là thực tế vô cùng cụ thể và tàn bạo. Đặc điểm áp dụng bạo lực không thương tiếc đó vẫn còn sống hùng và sống mạnh tại Việt Nam. Các cơ quan truyền thông quốc tế khi nhắc đến Việt Nam thường kèm theo chữ cộng sản đi đầu như để nhắc nhở người đọc về một xã hội còn nhiều lạc hậu, là một cơ chế chính trị độc tài, là một đảng chính trị sống nhờ bạo lực chứ không phải là nơi có những con người đang theo đuổi mục tiêu “làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu” như Mác viết.

Cộng sản còn sống vì căn bệnh sùng bái cá nhân vẫn còn hoành hành và tác hại.

Khi nói đến bịnh sùng bái cá nhân, người ta sẽ nghĩ ngay đến Bắc Hàn trước. Nhà báo Robert Marquand, một chuyên viên về Bắc Hàn của tờ Christian Science Monitor, trong các phóng sự về phần đất cô lập từ thế giới nầy đã thu thập hàng trăm tin tức, mẩu chuyện về cuộc sống đồi trụy cha con Kim Nhật Thành mà đối với phần lớn nhân loại gần như là những chuyện khó tin đến độ hoang đường. Theo Robert Marquand, Kim Chính Nhất có khoảng từ 2 đến 4 tỉ đôla ký thác trong các ngân hàng châu Âu. Sau khi kế thừa sự nghiệp của “lãnh tụ vĩ đại” năm 1994, Kim Chính Nhật sống xa hoa trong cung điện Trường Thọ ở Bình Nhưỡng và ngày đêm tận hưởng thú vui xác thịt với các đoàn vũ cho chính họ Kim đặt tên như “đội ca vũ”, “đội hạnh phúc”, “đội thỏa mãn”. Đối với việc ăn uống, y rất kiêng cữ và chọn lọc. “Lãnh tụ kính yêu” thích món ăn Ý hơn là món do các đầu bếp Bắc Hàn chuẩn bị. Để món ăn được nấu cho đúng kiểu, lãnh tụ mướn không những chỉ đầu bếp Ý mà còn yêu cầu chở nguyên cả cái bếp từ Ý sang để nấu nướng cho y ăn. Những điều đó xảy ra trong thời điểm khi khối Xô-viết vừa tan rã, các nguồn viện trợ lớn từ các quốc gia cộng sản bị cắt đứt, hạn hán, mùa màng thất thu, và trên đường phố tỉnh Bắc Hàm Kính (North Hamgyong) người chết đói nằm la liệt. Không một thống kê nào cho biết chính xác bao nhiêu người dân vô tội, bao nhiêu trẻ em Bắc Hàn đã chết, nhưng theo ước lượng từ nhiều cơ quan từ thiện quốc tế cũng như lời kể những viên chức Bắc Hàn cao cấp đào thoát được, khoảng 600 ngàn cho đến 3 triệu (hơn 10 phần trăm dân số) dân Bắc Hàn chết đói trong giai đoạn từ 1990 đến 1997. Tại sao một đất nước 23 triệu người lại có thể chấp nhận để những người lãnh đạo đất nước đối xử một cách tàn tệ như thế? Phải chăng họ sợ chết, bị bỏ tù, tra tấn, lao động khổ sai? Tất cả lý do đó đều đúng nhưng chưa phải là hoàn toàn chính đáng. Theo giáo sư và ký giả Bradley K. Martin, tác giả của tác phẩm Dưới sự bảo bọc đầy tình thương của cha già dân tộc (Under the Loving Care of the Fatherly Leader), được nhà điểm sách Nicholas D. Kristof của The New York Review of Books đánh giá là tác phẩm xuất sắc nhất về xã hội Bắc Hàn từ trước đến nay, ở Bắc Hàn “mọi người bị tiêm nhiễm ngay từ khi mới sinh ra để tin vào các lý thuyết tôn thờ cá nhân. Họ tin rằng cha con Kim Nhật Thành là bậc thánh nhân, vượt qua khỏi các luật căn bản của loài người, là một giống người đặc biệt, loại người xứng đáng để tôn thờ”. Phần lớn dân Bắc Hàn vẫn tin rằng nạn đói là do thời tiết, hạn hán, thất thu chứ không phải là hậu quả của một chính sách cai trị dã man, ngu xuẩn và tàn bạo nhất trong lịch sử loài người.

Các đảng viên cộng sản hay đoàn viên trung kiên của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh khi đọc những mẩu chuyện đau lòng đang xảy ra tại Bắc Hàn, hẳn nhiên cảm thấy an ủi bởi vì Việt Nam không phải là Bắc Hàn. “Bác Hồ tình yêu bao la” của họ không giống như Kim Nhật Thành. “Bác Hồ” xứng đáng được gọi là “cha già dân tộc”, là “nhà thơ lỗi lạc” của văn học Việt Nam, là “nhà quân sự thiên tài” không thua kém gì Hưng Đạo Đại vương, là “nhà giáo dục vĩ đại” của đất nước, không, không thể so sánh “Bác Hồ” với cha con Kim Nhật Thành bịnh hoạn kia được. Xin đừng mừng vội. Nếu đi hỏi những người dân Bắc Hàn, họ cũng trả lời tương tự như thế. Với người dân Bắc Hàn, Kim Nhật Thành cũng là “nhà thơ, nhà khoa học, nhà giáo dục vĩ đại”, đừng nói chi là “Bác Hồ” của Việt Nam mà cả gần bảy tỉ người trên trái đất nầy không ai có một đời sống thanh bần, trong sạch, một trái tim to lớn, một tình yêu bao la dành cho đất nước hơn là “lãnh tụ vĩ đại” và “lãnh tụ kính yêu” của họ. Điều đó cho thấy mức độ trầm trọng tuy có thể khác nhau, nhưng nhiều người Việt Nam cũng đang mang một căn bịnh như người dân Bắc Hàn. Một em bé khăn quàng đỏ của Việt Nam cũng ca ngợi “Bác Hồ tình yêu bao la” một cách chân thành như một em bé khăng quàng đỏ Bắc Hàn ca ngợi “lãnh tụ vĩ đại Kim Nhật Thành” của em. Sùng bái cá nhân là căn bịnh của chủ nghĩa cộng sản, nơi nào chủ nghĩa cộng sản đặt chân đến là nơi đó bịnh sùng bái cá nhân phát sinh và tồn tại theo suốt chiều dài của Đảng. Việt Nam cũng thế, đừng nói chi các làng bản xa xôi, nông thôn hẻo lánh, nơi ông Hồ được đưa vào miếu Thần hoàng để cúng tế hàng năm, mà ngay cả ở thành phố, trong chùa chiền, trong sách vở văn học, ông Hồ Chí Minh, giống như cha con họ Kim ở Bắc Hàn, vẫn được xem như là “là bậc thánh nhân vượt qua khỏi các luật căn bản của loài người, là một giống người đặc biệt, loại người xứng đáng để tôn thờ”. Chúa và Phật có thể sai nhưng ông Hồ thì không. Tất cả những tìm hiểu, nghiên cứu khoa học, khách quan, độc lập về cuộc đời ông Hồ đều bị nghiêm cấm và có thể bị bỏ tù nếu vi phạm. Bịnh sùng bái cá nhân như một loại tà đạo mấy chục năm qua đã giết chết các mầm mống sáng tạo, vươn lên, suy nghĩ độc lập trong nhiều thế hệ Việt Nam.

Đảng Cộng sản còn tồn tại nhờ vào một tầng lớp có học phục vụ cho Đảng.

Vì các lý do địa lý-chính trị, Đảng Cộng sản Việt Nam khống chế tư tưởng và đời sống con người khôn khéo hơn cha con Kim Nhật Thành nhiều. Thay vì đóng đinh toàn bộ đất nước vào một hệ thống giáo điều không tưởng như lý thuyết Juche ở Bắc Hàn, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tạo ra những không gian sinh tồn tương đối rộng và tồn tại một cách độc lập dành cho các thành phần xã hội khác nhau. Mỗi thành phần có một môi trường sinh hoạt riêng và chịu các điều kiện chi phối riêng. Như Mác đã nói “Giai cấp tiểu tư sản là đòn xóc nhọn hai đầu”, thành phần có học phục vụ đắc lực nhưng nguy hiểm, cho nên vừa được nhiều biệt đãi mà cũng vừa bị kiểm soát chặt chẽ hơn so với các thành phần khác. Ngày nay, trong khu vườn văn học vẫn có tiếng chim kêu, có tiếng nước chảy, tiếng suối reo và các nhà thơ, nhà văn vẫn có quyền sáng tác, miễn là đừng bước ra khỏi giới hạn mà Đảng đã khoanh vùng. Ngoại trừ một số nhỏ đã vượt qua hay đang tìm cách vượt qua khỏi hàng rào cản để cùng chịu đựng với những bất hạnh của dân tộc, dùng ngòi bút để nói lên thảm trạng của đất nước hay đấu tranh cho quyền lợi đất nước, phần lớn đã ở lại trong vườn. Như Erich Maria Remarque viết trong Chiến hữu, “hạnh phúc bắt đầu từ thói quen”, họ dần dần cũng cảm thấy hạnh phúc và tự an ủi rằng ít ra môi trường sáng tác ngày nay tốt hơn nhiều so với ba mươi ba năm trước. Ngày nay họ không phải thức đêm nén bút để ca ngợi một “anh hùng diệt Mỹ” mà họ chưa bao giờ biết mặt hay tả một “chiến thắng thần thánh” mà họ chưa hề tham dự. Ngày nay họ có quyền viết về tình dục, tình yêu và cả về cuộc sống, miễn là đừng viết về cuộc sống của những người đang ở trong các nhà tù của chế độ, cuộc sống của hàng trăm ngàn phụ nữ Việt Nam đang bán mồ hôi nước mắt khắp thế giới, cuộc sống của hàng ngàn người dân oan khiếu kiện bị mất nhà mất đất đang ngồi chờ các quan lớn trả lời trong các công viên.

Hơn ai hết, thành phần có học biết rằng dù trong khoa học tự nhiên hay khoa học nhân văn, không có phản biện sẽ không bao giờ có sự thăng tiến và phản biện chỉ hình thành trên môi trường tự do sáng tạo chứ không thể ở một môi trường nào khác, thế nhưng, họ chấp nhận làm một người câm điếc để được tồn tại hơn là phản biện để rồi bị tước đi bổng lộc. Mới đây, ông Chu Hảo, nguyên thứ trưởng Khoa học Công nghệ và Môi trường, trong buổi phỏng vấn dành cho web Dân Trí mà talawas có nối lại trong mục spectrum, cũng thừa nhận rằng “để có độc lập tư duy, tự do sáng tạo và khách quan phê phán thì phải có một cơ chế dân chủ để đảm bảo cho các quyền đó.” Quá đúng. Tuy nhiên, khi được hỏi tại sao thời còn là Thứ trưởng ông đã không nói câu đó mà đợi cho đến khi không còn tại chức mới “lớn tiếng”, ông Hảo đáp “Đơn giản là khi còn tham gia quản lý, họ là con người của guồng máy đó nên phải tôn trọng kỉ luật guồng máy, chưa kể người trong cuộc khó có cái nhìn khách quan như người ở ngoài cuộc.” Ông không giải thích nhưng người đọc cũng hiểu việc “tôn trọng kỉ luật guồng máy” chính là việc phục vụ cho quyền lợi của Đảng Cộng sản theo kiểu ăn cây nào thì rào cây nấy. Nếu hiểu theo cách nói của ông Chu Hảo, trong guồng máy nhà nước hiện nay không ai đáng gọi là trí thức vì không ai dám phản biện, dám nói lên những cái đúng, tố cáo những cái sai, biết đau cái đau của dân tộc và biết buồn trong nỗi buồn của dân tộc. Như phần lớn những người thuộc tầng lớp có học, ông cũng không đủ can đảm bước ra khỏi chiếc chiếu mà Đảng đã trải cho các ông ngồi. Tâm trạng của ông Chu Hảo cũng là tâm trạng chung của những người thuộc tầng lớp gọi là trí thức trí thức xã hội chủ nghĩa hiện nay, khi về hưu, thất sủng, bị bỏ rơi, họ phê bình, phán xét như những quan tòa, nhưng thời gian trẻ trung, năng nổ, đóng góp được nhiều nhất cho đất nước thì họ lại là những kẻ tòng phạm.

Nhà báo Mike Benge của tờ Washington Times, trong bài bình luận trên ấn bản ngày 1 tháng 7 năm 2007, ‘Láo to’ sống tại Việt Nam (‘Big Lie’ lives in Vietnam), cho rằng Thomas Jefferson sẽ lăn lộn trong mồ nếu biết ông Hồ Chí Minh đã dùng câu nói bất hủ: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” để lừa gạt dân tộc Việt Nam suốt hơn nửa thế kỷ qua. Trong cuộc chạy đua vào chức vụ Tổng thống Hoa Kỳ, về quan điểm và cách giải quyết các vấn đề của Mỹ, John McCain và Barrack Obama gần như khác nhau hoàn toàn nhưng cả hai đều rất giống nhau trong định nghĩa về đất nước. Tối ngày 11 tháng 9 vừa qua, trong buổi phỏng vấn nhân dịp lễ tưởng niệm nạn nhân khủng bố, khi được hỏi tại sao ông yêu nước Mỹ, John McCain trả lời “Tôi yêu nước Mỹ, không chỉ là nơi tôi sinh ra và lớn lên mà còn là lý tưởng, là khát vọng”. Tương tự, trong diễn văn chấp nhận làm ứng cử viên Đảng Dân chủ, Barrack Obama đã nói: “Có một lời hứa đã làm cho nước Mỹ khác với các quốc gia khác, rằng qua sự làm việc cần mẫn và hy sinh, mỗi chúng ta có thể theo đuổi những giấc mơ riêng nhưng vẫn đến cùng nhau như một gia đinh nước Mỹ, để bảo đảm rằng các thế hệ sau cũng có thể theo đuổi các giấc mơ của họ.” John McCain và Barrack Obama không nói để tuyên truyền hay kiếm phiếu mà là sự thật. Từ khi Thomas Jefferson nắn nót những dòng chữ đầu tiên cho bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ 1776 cho đến hôm nay, nước Mỹ trải qua nhiều cuộc chiến, trong đó có cuộc chiến giành độc lập đầy vinh quang và một cuộc nội chiến tương tàn đẫm máu, nhưng họ vẫn là một cường quốc. Nước Mỹ trưởng thành không phải nhờ bom nguyên tử mà nhờ ở giấc mơ, lời hứa, khát vọng, như Tổng thống Kennedy một lần đã viết: “Con người có thể chết, đất nước có thể thăng hay trầm, nhưng lý tưởng luôn sống mãi”.

Nhà báo Mike Benge dùng câu nói của Thomas Jefferson để mỉa mai giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam như là những người ăn cắp ý tưởng của Mỹ để lừa gạt dân tộc Việt Nam nhưng ông có thể không biết rằng khát vọng độc lập tự do của dân tộc Việt Nam là một khát vọng có thật và bắt đầu từ nhiều ngàn năm thăng trầm của lịch sử. Câu nói của Thomas Jefferson rất hay, những câu trả lời của John McCain, Barrack Obama rất ý nghĩa, nhưng không phải là quá mới lạ. Tổ tiên Việt Nam đã mơ, đã sống và đã chết cho giấc mơ khai phóng của mình. Khát vọng tự do dân chủ chưa bao giờ bức thiết hơn lúc này, khi một phần lãnh thổ của tổ tiên đang nằm trong tay ngoại bang, khi Việt Nam mỗi ngày một lùi thêm so với đà tiến của nhân loại. Đây không phải lúc đứng trước ngã ba để chọn lựa đường nào là đúng nhất. Không giống như ngày xưa, thế hệ hôm nay chỉ có hai con đường để chọn, hoặc làm công cụ cho chế độ độc tài hoặc đi về phía dân tộc để cùng tranh đấu cho một ngày mai tươi đẹp. Nếu trước 1954, chính nghĩa của dân tộc Việt Nam là giải phóng đất nước ra khỏi chế độ thực dân bóc lột thì chính nghĩa của ngày nay là giải phóng đất nước khỏi chế độ cộng sản độc tài, chuyên chính, đưa dân tộc đi lên cùng nhịp với đà tiến tự do, dân chủ và văn minh. Vũ khí được trang bị hôm nay không phải là bom napalm, tăng T54, súng M16 hay AK47 mà là lòng yêu nước chân chính, là trí tuệ của thời đại. Người lính tự do trong trận chiến hôm nay là những người Việt Nam yêu nước, kiên nhẫn, biết hy sinh những quyền lợi và cả những đau nhức bản thân mình cho nhu cầu chung của đất nước, biết vượt qua được những cách ngăn tôn giáo, Bắc – Nam để sống vì tương lai của các thế hệ mai sau. Cuộc tranh đấu sẽ không diễn ra ở miền Nam hay miền Bắc, trên không hay ngoài biển, mà trải rộng khắp nơi, trong và cả ở ngoài nước. Chỗ dựa của người lính tự do không phải là đôla Mỹ hay súng đạn Nga mà là lịch sử, là Đống Đa, Vạn Kiếp trước đây và Hoàng Sa, Trường Sa hôm nay. Những tranh luận, biện minh, đối thoại, hay mặc cảm chiêu hồi, vì thế, đều không còn cần thiết nữa.

Chẳng lẽ 33 năm với tất cả chịu đựng và hy sinh, với tất cả máu và nước mắt nhỏ xuống khắp ba miền, chưa đủ là lý do để thay đổi chế độ độc tài này bằng một thể chế tự do dân chủ, mà phải đào xới thêm trong các văn khố ở Washington DC, Bắc Kinh, Moskva…, để chứng minh ai bán nước hơn ai?

Trần Trung Đạo

BUỒN…

daolam

tôi ngồi

gió tràn tay
nghe vàng phai
trĩu
xuống ngày quạnh hiu
tôi ngồi
ôm
cả trời chiều
nghe mênh mông
quạnh
phù du kiếp người
thì thôi
một
góc buồn tôi
cõi ta bà
liệm
trần ai
tôi buồn!

DaoLam

trộm

10735644_826194720769236_378143114_n (1)

tổ quốc gọi mỏi mồm
những đứa con giả điếc
những đứa nghe loa phường
không điếc cũng thành điếc

có đứa điếc không câm
mần bài thơ yêu nước
khi nào tổ quốc cần
con xin mần thơ trước

tổ quốc thành cái tên
chui vào chăn nằm ngủ
khi nào có ai rủ
quác miệng lại chui ra

tổ quốc bị ăn cắp
lũ trộm đạo như rươi
trong thời đại tố khổ
sâu bọ cũng làm người

quê hương như chùm khế
chùm tầm ruột chùm xoài
chiều chiều đổ rượu đế
tràn lên tiếng thở dài…

Ngô Yên Thái

Quyến rũ nhà sư ( Courting a monk)

nguyenthihaiha

Tác giả: Katherine Min.
Người dịch: Nguyễn thị Hải Hà.

Đây là một truyện ngắn rất hay. Sau khi dịch cho đến bây giờ tôi chưa đọc được một truyện ngắn nào về người di dân, tình yêu dị chủng, sự khác biệt giữa hai nền văn hóa Đông Tây ảnh hưởng tới nề nếp giáo dục trong gia đình, tình cha và con gái, và sự cố gắng để thành công của người di dân sống ở hải ngoại, hay hơn truyện này. Truyện này trích trong quyển Literature for Composition, 8th Edition, do Sylvan Barnet, William Burto, và William E. Cain biên soạn.
Katherine Min có nhiều truyện đăng trên một số tạp chí danh tiếng như Tri-Quaterly và Ploughshares. Min được National Endowment for the Arts và New Hampshire State Arts Council tài trợ và hai lần bà được mời đến cư ngụ ở trại sáng tác MacDowell Colony.

Tôi gặp chồng tương lai của tôi lần đầu tiên khi anh ấy đang ngồi kiết già ở dưới một gốc cây trên vuông sân trường. Tóc anh húi rất ngắn và mịn như những sợi lông tơ trên quả đào, đôi mắt to màu xanh lơ ngước nhìn lên trời, miệng cười ngoác ra nhưng lại không cười với ai nên trông anh có vẻ hơi ngố. Tôi “bay” thoáng qua thoáng lại gần chỗ anh ngồi, cứ một hai phút lại xáp đến gần, khi thì tranh giành, khi thì rượt đuổi (cái đĩa frisbee). Qua khóe mắt tôi thấy anh ngắm tôi và mỉm cười. Điều làm tôi chú ý đến anh là cái khả năng phi thường anh giữ cho mình yên tĩnh đến bất động. Hai bàn tay đặt trên đầu gối, bất động như tĩnh vật trong tranh; cái dáng ngồi thật thẳng của anh không thể nào chê được. Anh có vẻ như mọc rễ từ chỗ ấy, như một cái nấm kỳ lạ, độc đáo và vui vẻ, làm tôi cảm thấy ngượng ngùng vì đã cố gắng gợi sự chú ý của anh. Mồ hôi chảy vào chỗ trũng dọc theo xương sống của tôi, lạnh và dính rít khi tôi ngưng chạy, tay chống lên đầu gối, cố lấy lại hơi thở. Tôi cố gắng ngừng há hốc mồm để thở, sửa lại túm tóc đuôi gà và lau tay lên phần vải mềm phía trước cái ống quần thể thao.
Anh vẫn còn ngồi đó sau hai hiệp chơi và đội của tôi bị giảm đi một người. Sully chận bắt, rồi ném sang Graham. Graham ném lại cho tôi, rất mạnh, như quả bom bay bổng thành vòng cung rất rộng. Tôi lao theo cái đĩa Frisbee và có một khoảnh khắc tôi bay song song – bềnh bồng, bay bổng, rướn người – trước khi rơi đánh ụych! Trên mặt đất. Tôi rên rỉ. Phần dưới ức của tôi bị chạm vào rễ cây trên mặt đất đau đến độ làm tôi nín thở. Tôi nằm đó, mùi vị lá khô lẫn vào trong mồm.
“Xin lỗi, Gina. Tôi ném Frisbee tồi quá,” Graham nói và tiến đến gần. “Em có sao không?” “Không sao,” tôi thở gấp, chỉ ngón tay vào cạnh sườn của mình. “Để em ngồi nghỉ một tí.”
Tôi ngồi xuống đống lá khô, thở cẩn thận và nhìn các bạn tiếp tục chơi. Trời tối dần và rất khó nhìn thấy cái đĩa Frisbee. Mọi người đều đã mỏi mệt, chơi một cách uể oải, ném Frisbee không trúng đích, bắt hụt, và thậm chí chẳng thèm bắt. Bên cạnh tôi, trên bãi cỏ, anh chàng ngồi dưới gốc cây rón rén đến gần. Tôi đã quên bẵng anh ta. Anh ngồi phục xuống cạnh tôi vẻ thẹn thùa, lá khô lào xào dưới chân anh, và, khi tôi nhìn lên, anh thì thầm, “Em thật là tuyệt vời,” rồi bỏ đi miệng tủm tỉm cười.
Hôm sau, tôi thấy anh trong phòng ăn dành cho những người ăn chay. Tôi đi ngang phòng ăn, tay bưng cái khay trên là món thịt bê cuộn thịt heo muối và phó mát, thấy anh ngồi một mình cạnh cửa sổ. Anh lấy đôi đũa cất trong túi áo trên ngực và hờ hững xâm đũa vào miếng đậu hủ nấu với mấy hạt đậu xanh teo tóp. Tôi ngồi đối diện với anh và đòi anh kể cho tôi nghe chuyện đời của anh. Anh muốn trở thành một tu sĩ. Không phải loại tu sĩ kiêm thi sĩ thời Trung cổ, đầu hói bụng béo, áo thụng mũ trùm, nói tục như quỷ và uống rượu như hũ chìm. Tôn giáo mà anh muốn theo – Phật giáo, càng khó hiểu hơn. Anh mới vừa trở về sau một khóa học bốn tháng ở Nepal, sống trong một tu viện trên dãy núi Himalayas. Tóc anh vừa mới mọc trở lại như những sợi gai mềm trên đầu và anh có thái độ thăm dò – không phải vì cẩn thận mà có vẻ tiếp thu và chờ đợi.
Anh sinh ra và lớn lên ở King of Prussia, hơi chếch con đường hỏa xa Main của thành phố Philadelphia, và chính điều này làm tôi nghi ngờ chiều sâu đức tin của anh. Tôi phát hiện ra là sự chú ý đến nền văn hóa Đông phương thường là bước đầu của sự tán tỉnh, tiếp theo là câu nói “Tôi thấy các cô gái phương Đông rất xinh đẹp,” và cuối cùng, cái bám chặt, như gọng kềm, lên phía trên của cặp đùi. Nhưng Micah không giống như vậy. Anh hiểu tôi không có ấn tượng tốt với đức tin của anh và anh cũng chẳng cố ý gây ấn tượng tốt với tôi.
“Bố tôi theo đạo Phật,” tôi nói với anh. “Nhưng bây giờ ông là khoa học gia.” “Ô,” Micah nói. “Thế là ông không chú trọng đến tâm linh.” “Linh hồn không phải là điều cụ thể,” tôi nói. “Bố tôi không thể cầm nắm những thứ vô hình.” “Cô không thể cầm nắm những hạt nguyên tử,” Micah vạch ra. “À,” tôi nói với nụ cười, “nhưng anh có thể đếm chúng.”
Tôi nói với Micah, bố tôi là nhà khoa học, và điều này là sự thật. Ông cũng là người im lặng. Không như Micah, cái im lặng của anh có vẻ bình an, không bị quấy nhiễu, như một hồ ánh sáng trên mặt nước tĩnh mịch, cái im lặng của bố tôi như cái nắp đậy nồi áp suất, niêm kín hơi nước sôi sục ở bên trong.
Chữ nghĩa không phải là phương tiện truyền thông của bố tôi. “Ngôn ngữ,” bố tôi thường nói, “là một dụng cụ không chính xác.” (Tuy ông ít lời, nhưng nếu gặp một câu ông thích là ông dùng nhiều lần.) Bố tôi yêu thích chữ Hy Lạp và những con số được sắp xếp bên cạnh nhau trong các phương trình phức tạp, tượng trưng cho một thứ luật vật lý hay những giả thuyết thực nghiệm. Ông viết đầy những trang giấy màu vàng khổ dài bằng nét chữ thẳng cứng, ghi chép những cái đẹp này xuống trang giấy bằng cây bút đầu nỉ mềm mực đen. Tôi nghĩ có lẽ ông bực mình ghê gớm khi ông không thể giao tiếp với người chung quanh một cách có nề nếp trật tự và ông cũng không thể đặt cái dấu bằng ở phía sau câu ông vừa nói, để có thể giải phương trình tìm ra ẩn số x và y.
Cái tiếng Anh không lưu loát của bố tôi chỉ là một phần. Bình thường ông không phải là người hay nói, kể cả nói bằng tiếng Hàn trong vòng thân quyến hay với mẹ tôi. Và với cả tôi, con gái duy nhất của ông – đứa con gái không biết dùng cả hai ngôn ngữ mà ông bố yêu thích, Hàn ngữ và khoa học – bố tôi, thật lạ lùng, hầu như chẳng có gì để nói. “Dọn dẹp chỗ bừa bãi này đi,” ông bảo tôi, buổi chiều lúc ông đi làm về. “Bài làm xong chưa?” ông hỏi, nhướng một bên mày phía trên bát cơm khi tôi ăn xong và xin phép đi xem ti vi.
Ông tự giới hạn trong uy quyền, trong giang sơn của ra lệnh và chỉ huy; của những lời tuyên bố không cần nghe câu trả lời, không chừa chỗ cho thảo luận hay biện hộ. Cách giao tiếp này, với bố tôi đó là hình thức của ngôn ngữ tương đương với những phương trình toán học gọn gàng, như được niêm phong bằng bùa chữ nghĩa, kể cả không khí cũng không thể thoát ra hay nhập vào.
Khi tôi vào đại học, lời từ biệt của bố tôi là bài diễn văn dài nhất mà tôi nghe ông phát biểu. Bị những chiếc xe loại khá lớn bao vây chung quanh, trong xe chất đầy hành lý, những thùng sách và đèn học, giữa những bàn tán hứng thú và tiếng sinh viên í ới gọi nhau, giữa những cặp mắt lo lắng của cha mẹ soi mói chung quanh, bố tôi nghiêng người về phía trước đầy ngượng ngập, hai tay cho vào trong túi, nhìn tôi chăm chú. Ông nói, “Học cho chăm nhé. Đi ngủ sớm. Đừng ham chơi. Và đừng để bọn con trai Mỹ lợi dụng.”

Đây cũng là đại học của bố tôi; ông nhập học từ hai mươi năm về trước, khi ông là cựu quân nhân chiến tranh Hàn quốc chỉ có năm mươi đô la trong túi và cũng chỉ chừng ấy từ ngữ tiếng Anh. Những mẩu chuyện về thời sinh viên của ông trở nên huyền thoại của gia đình, lớn lên, tôi nghe nhiều đến độ chúng trở nên sống động và mơ màng như chính là ký ức của tôi. Bố tôi vào phòng vệ sinh của ký túc xá cố gắng một cách tuyệt vọng nấu cho chín quả trứng bằng cách cho nước nóng chảy qua quả trứng; ông chiến thắng vẻ vang trong phòng thí nghiệm vật lý vì nơi đó khả năng dùng ngôn ngữ mới của ông không cản trở ông, và đó cũng là nơi tuổi đời cùng với bộ óc khoa học tinh tế của ông đã giúp ông đạt số điểm cao nhất đưa đến giải thưởng vật lý tối ưu trong năm cuối đại học – đó là những sự kiện mà tôi có cảm tưởng đã được chứng kiến, như thể tôi là một bóng ma lẩn khuất chung quanh đầy lòng đố kị.
Trong cái bóng thành công của bố tôi, trong cùng đại học nơi ông cúi người lần đầu tiên nhìn vào kính hiển vi và đắm mình trong giấc mơ toán học đầy bụi phấn, tôi theo đuổi văn chương, Anh ngữ. Tôi quyết tâm trau dồi văn chương. Tôi học Shakespeare và Eliot, Hardy và Conrad, Joyce và Lawrence và Hemingway và Fitzgerald. Biết cho đúng rất là quan trọng, từng chữ, từng nghĩa ngầm, để lấp cho đầy cái hố im lặng di dân của bố tôi, những lỗ trống ông để lại cho tôi.
Còn những lỗ trống khác nữa ông đã bỏ lại. Thức khuya và học rất ít, tôi làm những chuyện động trời bố tôi sẽ bị chấn động đến độ nếu bảo là ông không tán thành thì chẳng thấm vào đâu. Thí dụ như chuyện giao thiệp với đàn ông Mỹ, tôi vâng lời bố tôi không để cho họ lợi dụng tôi. Trái lại, tôi lợi dụng họ, lợi dụng sự ở gần với họ, vẻ đẹp trai, cái vẻ dễ thương sẵn sàng lên giường với mình chỉ cần vài lời khuyến khích. Tôi thích cái cách họ chuyển động một cách tự hào về thân thể của họ, cái cảm giác nham nhám của những cái má chưa cạo râu, bờ vai và bộ ngực trần nhẵn nhụi của họ, đường cong bờ lưng họ như là gỗ được đánh bóng. Tôi thích ở chỗ tôi có thể ngắm họ từ dưới lên trên, hay từ trên xuống dưới, cảm nhận được cái rùng mình khoái cảm của họ như cảm nhận được cơn động đất ở một nơi nào đó rất xa xôi; tôi có thể làm cho “nó tới,” chuyển động như những vòng tròn của sóng, từ phía trên hay phía dưới, ngắm nhìn họ, ôm ấp họ, làm cho họ thấy hạnh phúc. Tôi sưu tập bạn trai như đồ chơi, như những đồ vật không đắt giá người ta cất phía trong của ngăn kéo. Cái cách trao đổi thân thể thật vui vẻ của họ là cái mà tôi thích. Tất cả họ đều là những chàng trai trẻ người da trắng.
Micah từ chối không chịu làm tình với tôi. Chuyện này trở thành một cuộc đấu trí giữa chúng tôi. “Tình dục làm cho hao mòn lý trí,” anh nói.
“Không nhất thiết phải như thế,” tôi cãi lại, “chỉ là cách chọn đi một con đường khác mà thôi.”
“Có những cách kết hợp cao quý hơn,” anh nói.
“Không thể có nếu anh không mặc áo quần,” tôi trả lời.
“Gina,” anh nói, nhìn tôi đầy nhân hậu, một sự quan tâm làm cho tôi đỏ mặt vì giận dữ. “Em có cái nhu cầu gì thiếu thốn đến độ cần phải dùng tình dục để lấp đầy?”
“Im mồm đi, Micah,” Tôi nói. “Anh hãy làm nhà sư, đừng làm nhà trị bệnh tâm lý.”
Anh cười phá lên. Tiếng cười của anh luôn làm tôi ngạc nhiên, như thể đó là một sự rối loạn nho nhỏ trong vũ trụ. Tôi muốn quyến rũ anh, thật đấy. Tôi xem Micah là sự thử thách khó khăn nhất trong một lãnh vực rất dễ dàng. Nhưng quan trọng hơn cả sự quyến rũ, tôi muốn làm cho anh bị rúng động, muốn xuyên thấu đến tận bên dưới cái cảm giác yên tĩnh, cái hài lòng hướng nội ấy. Không có ai ở lứa tuổi của tôi, tôi nại ra lý do, có quyền sở hữu bản thân toàn vẹn như thế.
Chúng tôi đi dạo vườn nuôi chim, bước lào xào dọc theo con đường mòn, vừa đi vừa thong thả thảo luận về Emily Dickinson, hay là nghệ thuật lấy mật của cây phong, nhưng tôi luôn luôn trở về chủ đề cũ.
“Thật là lãng phí cuộc đời,” có lần tôi nói. “Một sự hưởng thụ như thế là lãng phí. Tất cả những dâng hiến trong đời tu sĩ và cố gắng đạt đến mức tĩnh tâm. Làm như quan trọng lắm vậy. Đó là một sự ích kỷ. Không những chỉ ích kỷ, mà còn là lẩn tránh. Một sự chạy trốn. Trốn cuộc đời và những rối rắm của thế gian.”
Micah lắng nghe, môi hé cười, lắc đầu tiếc nuối. “Em có những đam mê rất tuyệt vời, Gina, thật sống động và hoàn toàn nhập thế. Tôi tiếc là không thể làm em nhận ra điều này. Có thể đây là một sự lẩn trốn như em nhận xét, nhưng Phật giáo không phân biệt thế giới bên ngoài và thế giới bên trong tu viện. Dựa vào lịch sử, giới tăng sĩ đã từng tham gia đấu tranh chính trị và bị cầm tù. Cứ nhìn Tibet là biết thôi.
“Em nghĩ đến, ahem, những chuyện căn bản hơn,” tôi nói.
Micah cười to. “Dĩ nhiên,” anh nói. “Dường như em không hiểu, Gina, Phật Giáo chủ trương từ bỏ thèm muốn.”
Tôi hừ bằng lỗ mũi. “Thèm muốn thì có gì sai chứ? Không có thèm muốn, có khác gì mình không sống đâu.”
Sự thật là tôi bị hấp dẫn với cái ý tưởng này: sự từ bỏ thèm muốn. Cuộc đời của tôi được thúc đẩy bởi thèm muốn, bởi những mơ ước to lớn và hào nhoáng; một nỗ lực cố vươn lên để vói lấy những thứ mà tôi không có, và có lẽ, không có cả hy vọng có được. Tôi có thể mù mờ tưởng tượng ở một đầu, ở một nơi nào đó đã vượt qua khỏi mức độ thèm muốn, là đến chỗ của sự thỏa mãn, nhưng tôi không thể hiểu thấu được chuyện từ bỏ thèm muốn, bỏ đi trong lúc còn thèm muốn tràn đầy.
“Cái thèm muốn từ bỏ sự thèm muốn,” tôi nói, “thì vẫn là sự thèm muốn, đúng không?” Micah cho tay vào trong túi và mỉm cười. “Không,” anh nói, và vượt lên đi trước tôi. “Đó là một chọn lựa có ý thức.”
Chúng tôi đến một cái hồ, mặt trời thấp thoáng ở một chỗ trống trải, cây bạch dương và cây phong vây quanh, màu lá đỏ cháy rực giữa mùa thu. Một vài chiếc lá rơi, đáp xuống mặt nước nhẹ nhàng như thể chúng được cầm đặt lên đấy. Hồ xanh màu lá cây đậm; ánh sáng lấp lánh trên mặt hồ. Có tiếng hót đầy giai điệu của những con chim bồ câu, tiếng rỉ rả của côn trùng. Micah tận hưởng phong cảnh đẹp này. Tôi không biết sự tận hưởng này có liên quan gì với Phật giáo hay không, nhưng ngắm nhìn anh đứng ở cạnh hồ, đầu ngẩng cao hơi ngã về phía sau, mắt anh hăng hái tiếp nhận ánh sáng. Tôi cảm thấy sự yên tĩnh của anh và sự thưởng thức của anh. Anh đứng bất động rất lâu.
Tôi nhổ mấy cây dương xỉ, dệt những chiếc lá hẹp thành những hình thù không giống nhau, đánh bím những sợi dây leo, trong khi Micah ngồi trên tảng đá rộng, lấy đôi đũa từ trong túi áo trên ngực, bắt đầu gõ hai chiếc đũa vào nhau nhẹ nhàng với một nhịp điệu rất nghiêm trang. “Mỗi buổi sáng ở chủng viện,” anh nói, “bọn anh thức giấc trong tiếng mõ cầu kinh. Bốn giờ sáng và bầu trời vẫn còn tối, người ta có thể nghe tiếng gõ lên một món đồ bằng gỗ rỗng bên trong – cốp, cốp, cốp – kêu gọi mọi người thiền định.” Anh cười vẻ mơ màng. Tiếng gõ của đôi đũa có vẻ kém hiệu lực, nghe như tiếng ta-ta-ta. Tôi tưởng tượng mặt trời lên, băng qua thung lũng của Himalaya – một mảng mây mỏng nhuộm hồng vào một buổi sáng lạnh lẽo và hình ảnh cái tịnh thất thanh đạm của một nhà sư.
Micah nhắm mắt, mặt hướng về mặt trời. Anh tiếp tục gõ hai chiếc đũa vào nhau chầm chậm. Anh có vẻ đơn độc và mới mẻ, ngồi trên tảng đá ấy, như một anh hướng đạo tìm kiếm con đường dẫn đến một bộ lạc nào đó, với mái tóc mới mọc và vẻ tĩnh lặng, và cái cách thân hình anh chăm chú hướng đến thiên nhiên chung quanh anh.
Tôi nghĩ, đó là lúc tôi bắt đầu yêu anh, hay, đó là lúc ý muốn chiếm hữu anh trở nên thật mãnh liệt đến độ nó không chỉ là một thèm muốn nhất thời. Tôi cần có sự đáp ứng của anh. Tôi bắt đầu hiểu thèm muốn là gì, sự khuấy động trong khoảnh khắc toàn hảo trong lúc chờ đợi sự khuấy động của một khoảnh khắc khác. “Thức giấc đi,” tôi nói. Tôi lột phăng cái áo cổ lọ và áo ấm một cách khéo léo rồi ném chúng xuống dưới chân của Micah. Micah mở mắt. Tôi cởi quần, cởi cả quần lót và đứng đấy trần truồng. “Cốc cốc, (tiếng gõ cửa), có ai ở nhà không?”
Micah không quay đi. Anh nhìn tôi, đôi đũa ngừng giữa thinh không. Anh giơ một chiếc đũa về hướng tôi và giữ nguyên tư thế, như thể anh là một họa sĩ với chiếc cọ đưa lên ngắm để đo lường kích thước, hay là một trưởng ban nhạc đang chuẩn bị điều khiển ban hòa tấu. Anh giơ chiếc đũa lơ lửng giữa khoảng cách của hai chúng tôi, như là tôi không thể di chuyển khi nào anh còn giơ chiếc đũa. Đôi mắt anh xanh thăm thẳm như không đáy. Núm vú tôi teo lại vì lạnh. Chung quanh chúng tôi lá rơi, trong ánh sáng chập chờn, dịu dàng xuống mặt hồ, tạo nên tiếng lào xào như tiếng cọ xát vào vải thô. Anh bỏ tay xuống và tôi như được thả ra. Tôi quay người nhảy vào trong nước.
Vài đêm sau, tôi mua chai rượu vang rẻ tiền và dụ Micah uống rượu với tôi. Chúng tôi bắt đầu uống ở bậc thềm của thư viện sau khi thư viện đóng cửa, và uống từng ngụm vụng về từ chai rượu dấu trong bao giấy nâu. Ánh sáng từ rặng núi Holyoke nhấp nháy từ xa, vượt qua màu tối như nhung đen của khu sinh viên năm thứ nhất. Từ chỗ này chúng tôi bắt đầu lang thang trong đại học, các sân quần vợt trải rộng, cố chịu cơn gió lạnh cóng từ khu đồi cao ở trung tâm khoa học, và mê muội lăn xuống Đồi Tưởng Niệm (Memorial Hill) như hai cuộn cỏ khô.
“Em có biết koan (công án thiền) là cái gì không?” anh hỏi tôi, khi chúng tôi ngồi trên băng ghế phía sau sân banh. Chúng tôi đi hơi lảo đảo nhưng muốn xuống con đường dốc rất cao phía sau sân banh.
“Cái đó có giống như là kem không?” tôi hỏi. “Không phải, ko-an. Trong Phật giáo.”
“Không biết.”
“Đó là một câu hỏi không có câu trả lời, như là một câu đố. Em biết không, thí dụ như ‘Tiếng vỗ của một bàn tay thì như thế nào?’ Hay là ‘Mặt anh ra làm sao trước khi anh được sinh ra?’”
“Cái mặt anh giống thế nào trước khi anh sinh ra? Hỏi vô lý.”
“Đúng như thế. Em phải cố nghĩ về câu koan cho đến khi em “ngộ” ra được câu trả lời.”
“Trả lời về cái gì?”
“Về đời sống, về ý nghĩa cuộc đời.”
“Ô, Ok.,” tôi nói, “em hiểu rồi.” Tôi ngoảnh mặt ra phía sau lưng, chai rượu gói trong bao nằm trong hai bàn tay tôi. “Thử cái này nhé, ‘Tiếng đánh rắm của một cái gò má’ ra làm sao?” Anh cười ngặt nghẽo hồi lâu, rồi ọe nôn ra bên cạnh băng ghế. Tôi đưa anh về, đưa anh vào giường; trán anh nóng sốt, mắt anh mất thần vì cơn ốm. “Xin lỗi,” tôi nói. “Em đúng là ảnh hưởng xấu cho anh.” Tôi hôn anh, môi anh nóng hổi và anh không đáp ứng. “Đừng bận tâm,” anh lẩm bẩm, nửa chìm vào giấc ngủ.
Đêm sau, chúng tôi ngủ chung giường với nhau lần đầu tiên. Anh mặc quần lót và tay anh để ngay ngắn khép chặt vào bên cạnh người, như Gandhi nằm giữa những nàng trinh nữ. Tôi quyết tâm gây khó khăn cho anh. Tôi cứ áp thân hình trần truồng của tôi vào cạnh anh, gác chân lên người anh, ngón tay tôi mân mê xoa bộ ngực gầy của anh. Anh vùng vẩy và đẩy tôi ra, giả bộ ngủ. Khi tôi thức giấc buổi sáng, anh đã đi mất và bản nhạc Ode to Joy đang phát ra ầm ĩ trên máy của tôi.
Graham nói nhớ tôi. Chúng tôi đã ngủ với nhau một vài lần trước khi tôi gặp Micah, hưởng thụ cái ấm áp lành mạnh sau khi chạy hay chơi Ultimate, tắm hơi nước và ngã lên giường. Graham đẹp trai, tóc đen, vai rộng, hai cánh tay khỏe mạnh và bộ ngực rắn chắc. Hắn làm tình với đàn bà như hắn đang tập thể dục, luôn nghiêm nghị nhắm đến một kết quả và phải đến đúng lúc. Khó mà tưởng tượng làm tình như thế có sức hấp dẫn người ta. Tôi bảo hắn tôi đang yêu người khác.
“Không phải cái gã tóc húi cua chứ?” hắn nói. “Cái gã trông giống như một con hải cẩu nho nhỏ?” Tôi rùn vai. Graham nhìn tôi vẻ ngờ vực. “Trông hắn không thuộc mẫu người thích hợp với em.”
“Không thích hợp thật.” Tôi đồng ý. “Nhưng ít ra hắn cũng không thuộc về anh.”
Đồng thời tôi tăng cường mức độ tấn công Micah. Tôi hỏi không dứt những câu hỏi về giáo lý Phật giáo. Micah nói về dukkha, hay khổ đế, về tứ đế, ngũ uẩn, về Bát chính đạo đưa đến giác ngộ. Tôi lắng nghe chăm chỉ, sẵn sàng đồng ý tất cả những điều này nghe rất hay, và cái mục đích giác ngộ và tĩnh lặng rất là đáng đạt đến. Trong khi anh nói, tôi duỗi bàn chân cho đến khi ngón chân tôi chạm vào đùi anh. Tôi thò tay vuốt lưng anh; hay cúi người thật thấp để anh có thể nhìn thấy bên dưới lớp áo rộng, tháo tung vài cúc áo của tôi.
“Rất tiếc là anh không theo phái Tantra,” tôi nói. Tôi cũng đã nghiên cứu Phật giáo một ít.
Micah khiển trách tôi. “Đó là Phật giáo kiểu Hollywood,” anh nói. “Thở mạnh và đầy tính cách trình diễn.”
“Họ không cấm cản chuyện thèm muốn xác thịt,” Tôi nói. “Họ cho phép làm tình.”
“Phật không cấm những thèm muốn của thể xác,” Micah nói. “Nhưng đó là chuyện vô thường, thế thôi. Có một cái gì đó vượt qua những chuyện vô thường.”
“Để vượt qua chuyện ấy, “ tôi nói với vẻ dằn dỗi, “anh phải làm chuyện ấy.” Micah thở dài.
“Gina,” anh nói, “em rất xinh đẹp, nhưng tôi không thể làm chuyện này. Sẽ có rất nhiều người sẵn sàng làm.”
“Bây giờ cũng có nhiều người sẵn sàng làm.”
Anh cười hơi buồn, “Thế thì…”
Tôi cúi xuống tháo dây giày của anh. Tôi cột chúng lại vào nhau thắt gút hai lần. “Nhưng em muốn anh,” tôi nói.

Bố mẹ tôi ở cách trường chừng ba mươi dặm và mẹ tôi thường gọi tôi về nhà ăn cơm tối. Tôi về chỉ một lần trong năm ấy, cùng với Micah. Bố mẹ tôi không phải là người thích ứng dễ dàng với người lạ. Họ là những người khá cách biệt, không giao thiệp nhiều hay thường đi chơi hay ăn tối ở ngoài – hay nói cho đúng, bố tôi như thế và mẹ tôi cố gắng thay đổi sao cho phù hợp với ý thích của bố tôi.
Mẹ tôi đã dọn bàn và trải khăn màu xanh trong phòng ăn. Có ly pha lê để uống rượu vang, và muỗng nĩa bằng bạc có chạm hoa. Mẹ tôi đã nướng một ít thịt gà hơi khô vì quá lửa, đậu và cà rốt nấu hơi nhừ – những món ăn mẹ dành để đãi khách Mỹ khi mời họ dùng cơm chiều. Nói về món ăn Hàn, mẹ tôi là đầu bếp thượng thặng. Cái món sườn ướp và miến xào thịt bò với rau cải của mẹ, bánh bột nhồi thịt heo, tôm chiên và kim chi mẹ tôi tự tay làm chứa trong vại rất tuyệt vời. Nhưng món ăn Mỹ thì mẹ tôi nấu không khéo, và bà không thích chúng. Tôi nghĩ, bà cho rằng các món ăn Mỹ nấu cho đúng kiểu phải tẻ nhạt như thế.
“Mẹ chỉ cần nấu thức ăn Hàn,” Tôi giục mẹ qua điện thoại. “Anh ấy sẽ thích lắm.”
Mẹ tôi nghi ngờ. “Cay lắm,” mẹ tôi nói. “Mẹ biết người Mỹ thích ăn gì.”
“Mẹ đừng nấu món gà nhé,” tôi năn nỉ. “Anh ấy ăn chay.”
“Để xem.” mẹ tôi nói, không thú nhận cũng chẳng hé lộ gì cả.
Micah nhìn đĩa thức ăn của anh chằm chặp. Mẹ tôi cười với vẻ thanh thản. Micah gật đầu. Anh dùng nĩa xúc đầy rau cải, cắn một miếng bánh mì. Cái xương nhọn ở cổ của anh có vẻ như làm việc liên tục. Bố tôi cũng bận rộn nhai thức ăn, xương cổ của ông cũng chạy lên chạy xuống như bánh cóc trong cái con đội được dùng để thay bánh xe. Không ai nói lời nào kể từ lúc bố tôi khui chai Chardonnay và đọc cho chúng tôi nghe một đoạn, trong quyển sách bìa mềm có nhiều nếp gấp, hướng dẫn cách chọn rượu vang của New York Times.
Tiếng muỗng nĩa chạm vào đồ sứ nghe dường như to hơn vang vọng hơn. Tôi để ý thấy tôi nhai lâu hơn. Bố tôi hắng giọng. Mẹ tôi nhìn bố tôi chờ đợi. Ông ho khan.
“Micah đang nghiên cứu về Phật giáo ở Nepal,” Tôi nói để đánh tan sự im lặng.
“Ồ!” mẹ tôi kêu lên. Bà cười khúc khích. Bố tôi tiếp tục ăn. Ông nuốt đánh ực và nhìn lên.
“Thế à?” ông nói, có vẻ chú ý. Micah gật đầu.
“Cháu ở đó chỉ có bốn tháng,” anh nói. “Gina nói với cháu là bác theo Phật giáo từ khi còn bé.”
Bố tôi ậm ừ. “Đó là chuyện dĩ nhiên,” ông nói. “Ở Hàn quốc bấy giờ, tất cả mọi người đều theo Phật giáo. Nhưng bây giờ, tôi không xem mình là Phật tử.”
Micah và tôi nhìn nhau.
“Theo Phật giáo bây giờ rất hợp thời trang, tôi nghĩ thế,” bố tôi nói tiếp. “Với các anh chị sinh viên Mỹ. Phật giáo là một thứ tôn giáo thời thượng.”
Tôi nhìn thấy Micah nhăn mặt. “Tôi nghĩ đây là điều rất hay, Hi Joon,” mẹ tôi đỡ lời, “giúp người Mỹ hiểu biết về tôn giáo và triết học Á châu. Tôi học Triết ở đại học, Micah. Tôi nghiên cứu Whitehead[1], chủ nghĩa thực dụng của người Mỹ. ”
Bố tôi tựa lưng vào ghế, quan sát, vẻ không hài lòng, trong khi mẹ tôi và Micah trò chuyện. Dường như ông đang phân tích Micah, không phải cách phân tích của một Bác sĩ chuyên trị thần kinh – bố tôi không ưa các nhà tâm lý học – mà là cách phân tích của một nhà hóa học, tách rời anh ấy ra thành những phân tử căn bản, một công thức hóa học đơn giản để có thể định nghĩa cách cấu tạo của anh ấy.
Micah đang nói về ngũ uẩn, cảm xúc, nhận thức, hình thành tư tưởng, và ý thức kết thành hữu thể trong giáo lý Phật giáo. “Đó là một quan niệm về bản ngã rất khác biệt với Thiên chúa giáo,” anh giải thích, mắt nhìn mẹ tôi.
“Vô lý,” bố tôi ngắt lời. “Trong học luận Phật giáo không có bản ngã. . . .”
Tôi và mẹ tôi bất lực nhìn họ bắt đầu tranh luận. Tôi ngạc nhiên khi thấy bố tôi hiểu biết rất nhiều về chủ đề này, và ngạc nhiên vì cung cách ông biểu lộ sự hiểu biết này. Tôi cũng ngạc nhiên khi thấy Micah luôn nhường nhịn. Dường như anh đánh mất vẻ chắc chắn, và cùng những bức tường bảo vệ niềm tin của anh. Anh gật đầu liên tục và rút lui trước những luận điểm của cha tôi, cũng là luận điểm mà anh đã cương quyết bảo vệ khi tranh luận với tôi. “Cháu nghĩ là cháu không biết rõ vấn đề này,” anh nói nhiều lần, và “Vâng, cháu hiểu ý Bác”đôi lần, với một vẻ khiêm nhường yếu đuối.
Tôi quay nhìn từ đôi mắt sáng lấp lánh và vẻ thông minh không nhượng bộ của bố tôi đến vẻ kính trọng, thái độ rụt rè của Micah và cảm thấy cơn bực dọc tăng lên mà tôi không biết là do bởi thái độ hiếu chiến của bố tôi, hay cái chịu thua của Micah, hay do cái động cơ quái lạ của tôi vì đã dàn xếp cho hai người gặp nhau. Có thật sự là tôi mong muốn là họ sẽ hợp tính nhau không? Tuy nhiên bố tôi đã tập trung sự chú ý vào Micah với một mức độ rất mãnh liệt – như thế anh là một đối thủ – bố tôi chưa bao giờ chú ý đến tôi nhiều như thế.
Khi cuộc trò chuyện tạm ngưng, và sau khi chúng tôi đã ăn rất nhiều thức ăn chúng tôi gọi là thức ăn lịch sự để đãi khách, mẹ tôi dọn bớt bát đĩa và mang vào một bát cơm với kimchi cho bố tôi. Mắt Micah sáng lên. “Cho cháu một ít thức ăn đó có được không, Bác Kim?”
Mẹ tôi nhìn với vẻ nghi ngờ. “Cay lắm đấy,” mẹ tôi nói.
“Ồ, cháu rất thích thức ăn cay,” Micah trấn an.
Mẹ tôi đi lấy bát cho Micah. “Cháu có dùng đũa được không?” mẹ tôi hỏi, khi Micah bắt đầu ăn.
“Mẹ à, đừng chú ý đến anh ấy nhiều quá,” tôi nói.
Bố tôi ngước nhìn lên từ cái bát của ông. Bố mẹ tôi cùng nhìn Micah lúc anh ấy ăn một miếng bắp cải làm kim chi to.
“Ha!” bố tôi nói, thình lình nở nụ cười. “Gina không thích kimchi,” ông nói. Bố nhìn tôi.
“Gina,” ông nói. “Chú bé này mang bản tính người Hàn quốc hơn con.”
“Chẳng có gì hay ho.” Tôi nói.
Bố tôi không thèm chú ý đến tôi. “Gina luôn luôn muốn làm người Mỹ,” ông bảo Micah. “Kể từ khi nó còn bé, nó muốn có mắt xanh, tóc vàng.” Ông trỏ chiếc đũa về phía mặt của Micah, “như mắt và tóc của cháu đấy.”
“Giá như mà cháu có tóc” Micah nói, cười toe, bàn tay anh vò đầu.
Bố tôi nhìn đăm đăm vào chén cơm. “Nó không muốn làm con gái Hàn. Nó nghĩ nó có thể là con gái Mỹ trăm phần trăm, nhưng không được. Nó có dòng máu Hàn, trăm phần trăm. Nơi nào nó trưởng thành không phải là vấn đề – huyết thống mới quan trọng.” Ông nhìn Micah một cách nghiêm trang. “Cháu nghĩ cháu có thể thành một tu sĩ Phật giáo. Tương tự. Nhưng tư tưởng Phật giáo không nằm trong huyết quản của cháu. Cháu không thể hiểu chân lý của Phật giáo. Cháu nên nghiên cứu Thánh kinh.
“Trời ơi, Bố!” Tôi nói. “Bố nói như là một người Phát xít vậy!”
“Gina!” Mẹ tôi nhắc nhở. “Bố làm con hổ thẹn quá,” Tôi nói. “Bố thất lễ với bạn của con. Bố nói về con như thể con không có mặt ở đây. Bố có thể nói bất cứ điều gì bố thích. Con là người Mỹ cho dù bố có thích hay không. Dòng máu dân tộc chẳng có nghĩa lý gì, quan trọng là cái ở trong này. Tôi gõ nhẹ ngón tay lên thái dương.
“Nói thế không phải là Phát xít.” Bố tôi nói. “Đó là sự thật! Cái mà con có ở trong này,” ông chỉ ngón tay lên trán, “là huyết thống, di truyền. Con thừa hưởng từ bố!”
“Xin Chúa giúp giùm con,” Tôi nói.
“Gina!” mẹ tôi van nài.
“Bác Kim” – Micah bắt đầu.
“Mày chỉ giống con gái Mỹ ở một điều,” bố tôi hét lên, “Mày không biết kính trọng bố. Ở Hàn quốc, con gái không được phép trả lời với cha mẹ, đây thật là một điều nhục nhã.”
“Ở Hàn quốc, con gái phải nhẫn nhịn chịu đựng như những tấm thảm chùi chân cho bố họ dẫm lên!” Tôi hét trả lại.
“Mày biết gì về Hàn quốc chứ? Mầy chỉ đến đó có một lần khi mày sáu tuổi.”
“Cái hiểu biết này nằm trong máu của con.” Tôi nói, và đứng dậy. “Con không ở đây để nghe những chuyện như thế này. Thôi chúng mình đi, Micah.”
Micah nhìn tôi dụ dự, rồi quay sang bố tôi. Bố tôi lại tiếp tục ăn, từ từ dùng đũa và cơm vào mồm. Ông ngừng. “Nó luôn luôn như thế,” ông nói, dường như với cái bàn. “Luôn luôn giận dữ như thế này. Ngay cả khi nó còn bé.”
“Bác Kim,” Micah nói. “Um, cám ơn hai bác rất nhiều. Chúng cháu. . . Cháu nghĩ là tụi cháu ra về bây giờ.”
Bố tôi nhai đi nhai lại. “Đáng lẽ tôi không nên rời Hàn quốc,” ông nói nhỏ, hoàn toàn quả quyết.
“Gina,” mẹ tôi nói. “Ngồi xuống đi. Hi Joon, thôi mà!”
“Micah,” tôi nói. “Anh có đi không?” Chúng tôi bỏ bố tôi ngồi một mình ở bàn ăn.
“Đáng lẽ tao nên gửi cho mày sống với cô Soo!” Bố tôi nói vọng theo. Mẹ tôi theo chúng tôi ra sân mang theo hộp thịt gà mà Micah không ăn.
Trên đường về chúng tôi ngừng lại mua kem. Koan, tôi hỏi Micah. “Kem chocolate hạnh nhân khi tan chảy thì âm thanh của nó ra làm sao?” Tôi hỏi anh. “Trước khi vanilla hiện diện trên cõi đời thì nó là cái gì?”
Bên trong tiệm bán kem ánh sáng thật chói chang, một thứ ánh sáng huỳnh quang như tẩy rửa biến mọi thứ thành một màu trắng hếu như màu của xương. Micah cúi người quan sát những hộp kem nằm trong tủ nhựa. Anh có vẻ khô héo, lặng lẽ. Anh bảo lấy cho anh một thìa kem chocolate bạc hà và một thìa kem anh đào đen cho lên trên vỏ bánh kem. Anh ăn một cách chậm rãi, liếm láp đầy tiếc rẻ như một đứa trẻ đã dùng đến đồng xu cuối cùng. Có vẻ gì sầu muộn trong cử chỉ của anh, như một lời xin lỗi. Anh đánh mất vẻ trầm lặng của một nhà sư và thình lình anh có vẻ như một người mất phương hướng. Kem lạnh làm tôi cảm thấy nhức đầu, tất cả những mạch máu trên thái dương của tôi dường như căng thẳng. Tôi run rẩy và lạnh; dường như cơn giận cùng với khí lạnh đã lan tỏa ra khắp người tôi. Micah chà xát lưng tôi.
“Em khó tính với bố của em quá,” anh nói. “Ông không phải là người xấu.”
“Thôi đừng nhắc đến chuyện này nữa,” Tôi nói. “Chúng mình về đi.”
Chúng tôi đi bộ về ký túc xá băng qua sân đậu xe trong im lặng. Có ánh đèn từ bên kia vuông sân và nhạc trào ra khung cửa sổ lan vào trong trời lạnh. Một vài ngôi sao lẻ loi xem chừng quá xa để có thể phát ra ánh sáng đều đặn. Về đến phòng, tôi mở nhạc the Rolling Stones thật to. Giọng hát của Mick Jagger đầy vẻ châm chọc và độc ác. Tôi tắt đèn và thắp một ngọn nến đỏ.
“OK. chuyện này cần phải chấm dứt.” Tôi nói. Tôi cảm thấy run rẩy. Tôi đẩy Micah trở lại giường. Tôi đang giận dữ cực độ. Anh ấy đã phá hủy dùm tôi, cái thoáng nhẹ, cái cuộc đời đã được thanh lọc của tôi. Tất cả mọi thứ đến với tôi dường như dễ dàng, với đám trai trẻ, những lời chót lưỡi đầu môi và những cảm xúc ngắn ngủi mau tàn, những mê đắm đơn giản và những lạc thú bề ngoài. Nó như là cái cảm giác đang bay, nhảy lên để vói lấy cái Frisbee lướt lên không trung. Trong một khoảnh khắc, bạn cảm thấy như mất trọng lực, mất ý thức về chính mình hay một giống loài nào đó không phải là con người. Trong cái khoảnh khắc ngắn ngủi ấy bạn cảm thấy hoàn toàn tự do.
Tôi bắt đầu nhảy múa, rất nhanh, đong đưa, lắc lư ngay trước cái giường của tôi. Tôi nhắm mắt và xoay tít, va dội vào tường như một quả banh, loạng choạng suýt ngã vì chính đôi tất của tôi. Tôi nhảy múa cuồng nhiệt đến độ làm rung rinh cái máy stereo khiến âm thanh đứt khúc, giọng hát của Jagger trở nên lắp bắp trong cổ họng với những âm thanh đơn điệu, nuốt hối hả những lời lập lại. Tôi xoay tròn và chạy theo vòng tròn, đầu ngả về hướng này đến hướng kia cho đến khi tôi nghe máu chạy trong người rần rật, tôi vén tóc tôi ra khỏi gáy và túm tóc bằng hai tay.
Micah nhìn tôi nhảy múa. Thân hình anh như một chữ S nằm trên giường tôi, tay chỏi đầu trên cánh tay. Vẻ mặt của anh trông giống như lúc anh nói chuyện với bố tôi, cái vẻ nhường nhịn, đôi mắt nai hiền lành chịu thua. Nhưng tôi có thể nhìn thấy một cái vẻ khác còn đang ẩn chìm phía dưới.
Với những ngón tay gần như tê dại, tôi tháo cúc áo ấm bên ngoài, giật phăng áo sơ mi bên trong và lột áo ra khỏi đầu. Tôi uốn éo cho đến khi váy và đồ lót rơi khỏi người, đá tất cả quần áo vào trong góc nhà, cho đến khi người tôi ướt đẫm và cháy bỏng – rồi tôi nhào tới đè lên người anh.
Như được nếm mùi vị của thức ăn sau một ngày nhịn đói – rất mạnh mẽ và tràn trề. Micah đáp lại cơn giận dữ điên cuồng của tôi với cái đam mê đầy bí ẩn của anh; như thể đó là một cơn ấu đả, một cuộc cãi nhau, cái gì đó rất quan trọng đang bị thử thách mà cả hai chúng tôi đều không muốn chịu thua. Sau đó chúng tôi ngồi trên giường và nghe bài hát Ode to Joy trong khi Micah, có rất nhiều đôi đũa bỏ vương vãi trong phòng, đã dùng đũa để giả vờ làm nhà điều khiển giàn nhạc Leonard Bernstein. Sau đó chúng tôi đi ra tiệm All-Star Dairy mua thức ăn và Micah thú nhận với tôi là anh đã yêu tôi.

Bố tôi từ chối không chịu tham dự lễ cưới. Ông thích Micah, nhưng ông không muốn tôi lấy chồng người da trắng. Câu chuyện trở thành chuyện khôi hài tôi kể mọi người nghe. Theo phong tục Hàn, tôi nói, cô dâu bị đem cho bốn tháng trước lễ cưới.
Micah trở nên giáo viên dạy Sinh vật học ở trường Trung học. Tôi là một người phó giám học của đại học địa phương. Chúng tôi có hai con. Khi Micah kể lại câu chuyện thời bắt đầu yêu của chúng tôi, anh kể với một vẻ nhún nhường và khôi hài. Anh nói như thể anh là một kẻ hết sức điên rồ khi nghĩ đến chuyện trở thành nhà sư. “Thử tưởng tượng chuyện ấy,” anh nói với các con. “Bố của chúng mày lại có thể như thế.”
Gần đây, tôi có cơ hội đọc thêm sách về Phật giáo. Siddharta Gotama chỉ có ba mươi lăm tuổi khi ngài ngồi dưới cội Bồ đề trên bờ sông Neranjara và trở nên giác ngộ. Đôi khi, khi tôi thấy chồng tôi nhìn tôi bên kia bàn ăn điểm tâm, hay đi về phía tôi từ bên kia phòng, tôi nhìn thấy một vẻ thắc mắc khó hiểu trên mặt anh, một cái vẻ bấn loạn thoáng qua, có vẻ như anh không thể nhớ ra tôi là ai. Tôi bắt gặp vẻ mặt này một vài lần, trong một ngày Chủ nhật khi anh biến mất ra khỏi nhà, anh ngồi trên băng ghế với tờ báo đặt trên lòng, mắt nhìn ra khu phố, chìm đắm trong tư tưởng đến độ anh không lay động khi tôi gọi tên anh.
Tôi nhớ lần đầu tôi gặp anh, cái vẻ yên tĩnh bao la trong anh, vẻ hài hòa trên mặt. Tôi nhớ cách anh nhìn những hòn đá bên cạnh hồ như nhà thám hiểm một miền đất lạ và tôi tự hỏi không biết anh có hối tiếc, như tôi đang hối tiếc, về việc đã đánh mất cái niềm tin không thiết thực của anh. Anh có nhớ tiếng mõ cầu kinh, tiếng gọi của cuộc sống nội tâm không có sự thèm muốn trần tục? Tôi nghĩ đến bố tôi, khi luộc trứng bằng cách cho nước nóng chảy lên quả trứng gói trong cái bí tất trong lúc ông ở xa gia đình hằng ngàn dặm, nhưng không biết là trong tương lai ông sẽ phải nuôi một đứa con gái, cũng cùng một sự hy vọng đầy tràn với tất cả cố gắng để thành công, nhưng đưa đến một kết quả không như ý muốn. Tôi nhớ cái cách tôi hay đùa nghịch với koan và tôi tự hỏi.
“Cái âm thanh của một cuộc đời, không được sống, nó như thế nào?”

THÍ DỤ, MAI TÔI VỀ…..

thuyvi

( Tặng những người bạn Saigon trong VI, VIẾT VỤN )
Khi những nỗi nhớ lay động, tôi muốn ghi xuống để tìm lại giấc mơ đã thất lạc của mình….
* Tôi sẽ đi thăm từng thầy cô giáo cũ. Tôi sẽ lễ phép khoanh tay như ngày xưa và nói lời cảm ơn chân tình muộn màng. Tôi biết giữa cái xã hội hình như nhiều người sùng thượng hư danh – nhưng thầy cô tôi vẫn một mực giữ cái tiết tâm chánh một loại hoa quân tử y như ngày nào khi bước chân ra đời đã hãnh diện chọn cho mình một nghề như một thiên chức – Đem đạo tải cho đám học trò.
* Tôi sẽ tìm lại dấu vết con đường có những tàng cây dày đặc những cánh lá lãng mạn từng ghi dấu những bước chân mong manh của bầy con gái đi từng tốp trong những tà áo trắng, hồn như trang giấy mới, điểm xuyết vài tà áo lụa màu thật yểu điệu – dập dềnh, lượn lờ như đàn bướm – trôi dài, tràn đến cổng trường Trung học ngày xưa.
* Tôi sẽ tìm lại nền cũ của ngôi trường thời tuổi nhỏ. Ngôi trường như một phần da thịt dù nó cũ kỹ và lam nham những vết bùn xấu xí. Tôi sẽ tìm lại góc sân chơi được che phủ bởi màu xanh hồn nhiên của hàng điệp chỗ chúng tôi chạy đuổi nhau, nô đùa một thuở.
* Tôi sẽ đến xóm chợ, đi lại từ đầu, thêm một lần nữa nhớ lại, chắp nối những mảnh đời, đoạn đường những ngày tháng cũ . Sẽ nhớ lại vài khuôn mặt được nhắc lại. Hoặc thỉnh thoảng bắt gặp những hình ảnh giông giống nào đó, dừng lại ngẩn ngơ… Thèm ngóng cổ nhìn vào hướng Khu Thành Công, để thấy cánh quạt máy bay chấp chới. Thèm ngửi được mùi bụi đỏ khi con trốt chạy dài về hướng ngôi nhà ngày đó.
* Tôi sẽ tìm một góc, phóng tầm mắt – lặng lẽ ngắm bà chị học chung trường. Một người đàn bà thân cò nhỏ bé – ngày xưa từng là một cô gái con nhà thừa hưởng hết hương vị cuộc đời, ngoài
ra, chị còn có một giọng hát nhạc Tây rất Tây, chị nhả từng chữ thật tròn trịa – một nữ sinh tỉnh lẻ buồn ngắt hát Bésame Mucho hay hơn một nữ sinh Thành Đô đã cào xé trái tim những kẻ yêu nhau, là một niềm kiêu hãnh cho cả trường.
Đúng là ân sủng trời ban không dành hết cho ai – bao kỳ vọng tương lai với một hành trang kiến thức, nhưng chị phải chịu theo số phận cay nghiệt, số phận bắt chị phải một đời giang tay bảo bọc nhường cơm xẻ áo cho các em, san sẻ gánh gồng buồn nhiều hơn vui cùng thống khổ với cả đại gia đình…
Tôi cứ ngậm ngùi tự hỏi, sức mạnh nào đã khiến chị sống qua những năm tháng trùng trùng khó khăn và gần tới mức cuộc đời vẫn chưa có ngày an thân !
* Bên ngoài, trời đang mưa, những giọt nước rơi rào rào trên mái nhà khiến tôi mường tượng đến cơn mưa rơi trên vùng Củ Chi, tôi mường tượng đến cái bóng gần như đổ ập của người phụ nữ lớn tuổi ngồi hắt hiu cạnh xe bán bánh mì trong cơn mưa nơi lề đường, miệng móm mém chỉ còn sót lại vài cái răng cùn mằn trong tấm hình trên trang Web của trường mấy hôm nay.
Thú thật, khi vừa nhìn thấy tấm hình mới nhất của cô Hồng Châu, lòng tôi sững lại, tôi chưa kịp buồn, chưa kịp nghẹn ngào, chỉ im sững chăm chú nhìn, để tìm, mà không thấy còn lại chút nét xưa nào !
Vào thời gian học với cô, tôi sắp bước sang tuổi mười lăm. Mặc dù, lúc đó chỉ là trí nhớ của một đứa trẻ con, nhưng, không hiểu sao, tôi nhớ về cô nhiều nhất, có lẽ, cô là một giáo sư mà hàng tuần đến giờ cô dạy, bầy con gái chúng tôi bao quanh cô…
Trong thế giới con gái trong lớp, tôi là con bé vụng về thêu thùa lại rụt rè, ít nói nhưng ương bướng nhất nên không được cô “cưng “ như nhiều đứa khác.
Tấm hình mới nhất của cô, còn dẫn tôi lội sâu vào những kỷ niệm… tuy có lúc rõ, có khi mơ hồ, và, xúi tôi ngồi viết lụn vụn về
một chút góc đời và phác họa hình ảnh của cô dạy môn Nữ Công ngày đó.
Cô Hồng Châu không là một trời nhan sắc, nhưng làn da trắng như hoa sứ của cô ngời ngợi trong những tà áo lụa màu đã khiến bọn nữ sinh chúng tôi nhiều lúc trầm trồ, ngẩn ngơ. Tuy cô thiếu bờ lưng thật thẳng, nhưng cô khéo léo bước những bước đi thật ngắn, vì thế từ cửa văn phòng bước ra, dáng cô thật uyển chuyển khi băng qua khoảng sân cỏ để vào lớp. Nhưng đối với tôi, cô nổi bật hơn hết thảy các cô khác là màu son cánh sen lúc nào cũng thật tươi, thật đượm trên vòng môi khép lại thật khéo.
Lúc cô về dạy ở Kiến Tường, ngôi nhà của thầy cô là một phòng học nằm ngang cuối dãy mà mỗi buổi chiều ánh nắng hắt vào thật gay gắt cùng với sức nóng của mái tole ụp xuống như chảo lửa. Tuy nhiên, căn phòng trống trải không vách ngăn đó là một khoảng không gian tuyệt vời hạnh phúc, và những ngày tháng đó, là, những ngày tháng mật ngọt, thanh thản, viên mãn nhất đến khi biến cố xãy ra.
Thường, giờ ra chơi, tôi hay mon men đến “mái ấm” để nghe cô kể những chuyện… Như chuyện cô đi thăm thầy (?) trên những chuyến xe ô tô buýt ở Sài Gòn dạo trước, hay cô kể về những món ăn nào đó thầy muốn cô nấu, hay những cái tên thật ý nghĩa mà thầy cô chọn cho em bé đầu lòng… Cô vừa nói, vừa đi tới đi lui lắc xắc làm công chuyện nhà. Lúc đó, tôi thấy cô thật đẹp, thật duyên dáng, quý phái và thật …dễ thương hơn khi cô ngồi coi tôi thêu từng mũi kim xệu xạo…
Tôi rời trường trở về Saigon từ năm đệ Tứ. Tiếp theo những mảng sóng cuộc đời dồn dập xô đẩy chập chùng, và tôi mất tin tức cô từ đó.
Tuổi già đi chung với sự tàn tạ, là lẽ hằng thường của con người… Nhưng tôi vẫn ngỡ ngàng tự hỏi: Có lẽ, đau khổ của cô đã chạm đến đáy cuộc đời hơn hẳn nhiều người khác !
* Tôi nhất định phải đi thăm bà chị có mái tóc dài liêu trai, đã khiến nhiều chàng ngẩn ngơ một thời. Mặc dù tôi chưa gặp chị lần nào, nhưng tôi có cảm tưởng tâm hồn mình hòa nhập vào ánh mắt bao dung của một người phụ nữ tuy trầm mặc hướng về nội tâm nhưng không kém ý nhị và dí dõm. Tôi sẽ ở với chị trọn một ngày để kịp cầm bàn tay giấu đi những ưu phiền cuộc đời để điểm lục chuốt hồng những mảng màu sắc tuyệt đẹp trên từng tà áo lụa tô đẹp cho người. Để nói cho chị biết, có rất nhiều tình cảm hướng về chị. Bởi chị đã đãi mọi người bằng tình cảm chân thành. Bởi chị đã sống với mọi người bằng một cuộc sống chân thành. Người đàn bà thiếu sự chân thành trong tình cảm, thiếu sự chân thành trong cảm xúc thì làm sao mà khả ái cho được. Tôi nhớ bà nhà văn nào đó đã nói vậy.
* Về Saigon, tôi sẽ mặc lại chiếc áo dài lụa màu nắng, sẽ nép mình vào dòng chuyển động rùng rùng xe cộ, để đi dọc theo hè phố những con đường nhìn những cánh lá me rơi lắc rắc. Tôi sẽ bước tới góc đường xưa – nơi một thời có người thanh niên đứng đợi. “Tôi chờ em một vòng đời lộng gió. Em chờ tôi đợi lúc dẫn qua đường”
Hai câu thơ khiến tôi rưng rưng, nên tôi biết, bước tới nơi nào tôi cũng hình dung ra được tình yêu…Tình yêu lẫn khuất trong chùm nắng hanh hao, trong vòm lá, trong bóng cây… Vì tất cả hầu hết là mùa Xuân. Nhưng có một mùa Xuân của anh mang đến, tôi vẫn giữ trong đời, cho nên dù chỉ một mình tôi trong thành phố này, tôi vẫn say đắm cảm ơn anh cho tôi biết ý nghĩa tuyệt vời của tình yêu và nghĩa lý vô cùng của cuộc sống.
* Tôi không chắc mình sẽ đi thăm đủ người quen, thân. Sẽ không nói đủ lời tạ ơn…Bởi, tạ ơn còn là tiếng nói sâu xa nào đó của người và người, của tình và tình. của kể lể, của bày tỏ của mình.
Cảm ơn bạn tôi : NM, LNT, TNN…
Tôi cũng sẽ tự tay nấu từng món ăn của từng miền, sẽ nắm chặt tay từng người. Tôi sẽ mời món canh chua thơm nức mùi ngò om với những lát bạc hà xanh giòn mát mắt cùng với tô cá kho màu hổ phách còn sôi sùi sụt đúng điệu miền Nam.
Sẽ nấu nồi nước xương ngọt lừ đỏ au màu ớt, sẽ đặt miếng giò mỏng vừa chín tới, điểm xuyết thêm vài lát hành trắng ngan ngát cùng những nhánh ngò gai xắt nhuyễn với từng lớp bún to sợi đãi món bún bò đúng Huế.
Sẽ xối lớp mỡ thật sôi nghe xèo xèo vui tai trên từng miếng cá vuông vức ánh lên màu nghệ, lẫn với những khúc Thì Là, kèm theo chén mắm tôm đánh sủi bọt dậy mùi quyện chút ớt thết món chả cá Thăng Long Hà Nội…
Sẽ có cảm giác nôn nao chờ đợi bạn tôi gắp miếng đầu tiên, và sẽ thỏa lòng chảy nước mắt khi bạn tôi gật đầu thích thú.
Còn hạnh phúc và sung sướng nào hơn nỗi hân hoan đem chút tình ra tặng.

thụyvi

buồn như bóng đêm

nguyenminhphuc

Chiều nay có ai về quanh mộ
Cho tôi vay một nén nhang tàn
Đắp lên mặt cỏ ngàn cơn gió
Và gió bồng bềnh treo nghĩa trang

Ngày đi rất chậm e chừng muộn
Buổi nằm nghe máu rã rời đông
Hồn khuya xơ xác mù con sóng
Lạnh trái tim khô chảy ngược dòng

Không chừng tôi ghé qua đời. chậm
Thả khói nhang trầm ngang bến sông
Đã nghe một thoáng buồn ngùi ngậm
Khi gió hoàng hôn buốt chạnh lòng

Chắc hẳn tôi về. nhưng không vội
Bao điều chưa nói được cùng em
Tiếng còi đã thổi ngày sau cuối
Riêng cõi tôi. buồn như bóng đêm…

Nguyễn Minh Phúc

VỀ CHƯA MUÔN VẠN NỖI ĐỜI

truongdinhphuong

1.
Về chưa, cơn mộng cuối mùa
Cho tôi làm kiếp gió lùa qua hiên
Khẽ ru nhánh có rất hiền
Nghe từ mạch đất ý thiền vạn năm

2.
Về chưa, giọt nước, cuối nguồn
Cho tôi làm gợn sóng buồn đi rong
Về chưa những mạch tim đồng
Cho tôi làm ánh nắng hồng ban mai…

3.
Về chưa, năm tháng mệt nhoài
Cho tôi, lặng lẽ, đứng ngoài gió mưa
Về chưa những phím âm thừa
Cho tôi làm nốt nhạc vừa, thiết tha…

4.
Về chưa, muôn dặm đường xa
Cho cay đắng giữa hồn cha, ngọt dần
Về chưa, muôn nỗi tảo tần
Cho tay mẹ dịu những phần bão giông…

Trương Đình Phượng