Lòng Ai Ở Xa

maithao

tản mạn

Những buổi sáng cuối năm Hoa Kỳ xanh, lạnh, nhiều ngày không có mặt trời, tới 8, 9 giờ sương mù còn dày đặc suốt giải thung lũng Glendale, tôi từ ngôi nhà cổ ở chung với mấy người bạn trẻ trong ngõ cụt Viola đi ra, lại châm một điếu thuốc, kéo cao cổ áo, thả bộ một quãng đường, tới làm việc ở cái tòa soạn Hồn Việt nhỏ chật nằm ở dưới chân núi.

Sáng nào tôi cũng ra đi như thế. Thả bộ. Lững thững. Và chiều nào, khi bóng núi Glendale đã thẫm màu ở xa xa và những ngọn điện đường trong khu Đại Nam Hồn Việt đã thắp trở về cũng vậy. Lộ trình cố định đi về tới mấy tuần lễ năm cùng tháng tận đã ngót một năm, thoạt đầu xa lạ rồi trở thành thân quen, tôi đã thu nhận được vào trí nhớ một số cảnh tượng bừng sáng từng chiều gặp lại. Triền núi phía Đông. Chạy dài. Muôn đời. Cao ngất. Một ngăn cách đậm đặc, dày nặng, với phía bên kia là Downtown Los Angeles ào ào thác lũ mà nghìn triệu con sóng sinh hoạt đổ hồi đều tắt nghỉ vào một bờ bến núi, để phía núi bên này là một cõi êm đềm và tịch lặng quanh năm. Những ngôi nhà cao thấp nhiều tầng, từ trên lưng chừng vương giả ngó xuống. Những biệt thự tỷ phú ấy, bây giờ Giáng sinh đã qua, những chiều muộn tôi trở về không còn nhìn thấy nữa ngôi sao lớn năm cánh dựng trên đỉnh núi và những dàn đèn ngũ sắc lấp lánh giữa mù sương. Buổi sáng, những thảm cỏ ướt đẫm, mỗi ngọn cỏ Mỹ nào trên lộ trình cũng đội trên nó một cái mũ ngọc. Buổi chiều, những ngôi nhà Mỹ lùi vào thật xa, cửa ngõ đóng kín, tưởng chừng như chớm hoàng hôn là xã hội trắng đã ẩn náu bằng hết vào những hang động an toàn cách biệt, giao hết tạo vật và thiên nhiên vô thừa nhận cho Việt Nam thả bộ trở về.

Trong cái sự đi về sáng sáng chiều chiều như thế, con đường và lộ trình và tôi dần dần tạo thành với nhau một thân thuộc, một hợp nhập hoàn toàn. Tưởng chừng như nó đã là một phần tôi, của riêng tôi. Cảm giác này, tôi đã có thời gian hai năm làm việc ở một tòa soạn trên vùng Tây Bắc, với chuyến bus ra đi mỗi buổi sáng, và chuyến bus trở về mỗi buổi chiều. Bus chạy trên một lộ trình cố định, từ con đường Hồng trên một ngọn đồi cao đổ xuống thung lũng Rainier, tới tận điểm của nó là thành phố dưới thấp nằm trong lòng vịnh. Buổi sáng, trời mưa gió, tôi đội mũ len, mặc áo tơi mưa, ngồi giữa những người da đen im lặng không nói. Tôi cũng im lặng như họ. Buổi chiều, mưa gió mịt mùng hơn, từ thành phố dưới lòng vịnh trở về, tôi lại ngồi giữa cái xã hội người đen âm thầm như vậy, tầm mắt cùng nhìn những xưởng máy bỏ hoang, những nhà cửa đổ nát, những đồi thông ngút ngàn lướt thướt lùi ngược ngoài khung kính. Riết rồi cái chỗ ngồi trên bus ấm, thân vô tả, những người đen lầm lì, xa lạ mà như bạn bè, như tri kỷ. Riết rồi những chuyến bus và lộ trình là cái phần sống chính yếu của mình. Mà đúng vậy. Rời Tây Bắc, tôi quên ngay những hồ vịnh cẩm tú của nó. Chỉ còn nhớ những người đồng hành da đen. Chỉ còn nhớ cái lộ trình mưa gió. Chỉ còn nhớ những chuyến bus.

Cái lộ trình Viola – tòa soạn Hồn Việt của tôi bây giờ, trên con đường Stocker và dọc theo bóng núi Glendale, xem chừng còn thân thuộc hơn nữa. Vì không trên một chuyến bus. Vì thả bộ, một mình. Tôi nhớ đâu như năm ngoái, trong một trả lời phỏng vấn trên tờ Đất Mới, nhà văn Lê Tất Điều cũng có nói đến cái quãng đường, cái thời giờ ông coi là thân thiết là của ông nhất là đoạn đường ra khỏi nhà từ 4 giờ sáng, âm thầm lái xe một mình trong đêm tối trên xa lộ. Chỉ lúc đó, ông được là ông, được suy nghĩ, mơ mộng, tưởng tượng, hồi nhớ lại chuyện này chuyện khác, những lúc khác bản ngã bị nghiên nát chỉ còn là một con số trong guồng máy đời sống âm thầm cuốn hút. Trên một hè đường có bóng cây thấp tới ngang đầu, chạy dọc theo triền núi Glendale, trên một lộ trình cố định mỗi sáng ra đi, mỗi chiều trở về, tôi cũng đang có được cho tôi một trạng thái vừa tách thoát và êm đềm vừa khép kín riêng tây như vậy.

Thế những tuần lễ cuối năm đã tới, buổi sáng thung lũng Glendale kín đặc, sương mù, buổi chiều khí núi lạnh buốt, cái đi cái về sáng sáng chiều chiều của tôi bỗng bị một có mặt mới làm cho xáo động. Như trên mặt hồ lắng đọng, vừa có một vật nặng ném xuống. Như trên những sự thể tĩnh tại, vừa có một chuyển động tràn vào.

Có mặt ấy mang tên mùa Đông. Có mặt ấy là những phiến lá xanh mấy tuần nay đã thôi sống trên những thân cành. Là những trận mưa lá vàng, buổi sáng buổi chiều đang trên lộ trình tôi đổ xuống.

Những trận mưa lá vàng. Lộ trình hàng ngày của tôi đang những trận mưa lá vàng tháng Chạp, đang những trận mưa lá vàng cuối năm. Mưa của lá khởi sự từ một lúc nào không rõ. Chỉ nhớ một đêm của tuần lễ trước, bất chợt thức giấc, tôi nghe thấy nhiều tiếng đụng khô trên mái. Như những bước chân thứ nhất của mùa. Rồi từ đó, đoạn đường đi về hàng ngày của tôi chỉ còn là một nghĩa địa tầng tầng của lá. Lá rơi trong đêm. Không ngớt, không ngớt. Từ ngôi nhà cổ đi ra, chân tôi đã dẫm đạp ngay trên những lá vàng. Tiếng lá tan nát, vỡ vụn. Trên cả những tờ L’Express, Le Monde tôi phải sang mua tận Hollywood và mang về đọc tối qua. Lá rơi trong buổi trưa như thế nào? Có phải rơi như rơi trong lăng tẩm ở Huế? Trên Cổ Ngư ở Hà Nội? Trong sở thú Sài Gòn? Không rõ. Tôi đang ngồi làm việc ở tòa soạn. Những buổi chiều từ tòa soạn trở về, thì đã gặp lại. Lá trút xuống, bay qua dòng ánh sáng lạnh lẽo từ những ngôi nhà hang động khóa chặt chiếu ra. Trước những mũi chó hếch hếch một bà già Mỹ quắt queo như một trái táo chín nẫu chăn dắt trở về, bà già Mỹ này phục sức hết sức ngộ nghĩnh, jupe trắng, vớ đỏ, đồng bóng, xuất thế, sáng nào tôi cũng gặp chăn dẫn chó về phía chân núi, trong hoàng hôn chập choạng lại từ chân núi chăn dẫn chó trở về. Im lặng và mênh mông mùa đông Hoa Kỳ. Lá quê người trút xuống như thế trước Việt Nam lữ thứ. Lá trút, vừa theo nhịp điệu vận hành mạnh mẽ không thể nào tưởng tượng được cái xã hội đã ba năm đón tôi vào cuộc sống khác thường của nó.

Tôi đi về mấy tuần lễ liền dưới và qua những trận mưa lá vàng cuối năm ấy. Hiểu được cái tại sao. Thấy được cái bởi đâu. Ngôi sao năm cánh trên đỉnh núi cao kia. Đã Phục Sinh qua. Đã chuông vàng ngân khắp nhân gian. Lá trút. Những đầu cành đang tàn tạ cho thân cành và dưới lòng đất, những mầm hạt mới thành hình. Mùa đồng chết cho mùa xuân trở lại. Tôi hiểu. Nhưng lại không thể sống theo cái hiểu. Bỡi vì trên con đường Stocker, sau một ngày làm việc với văn chương và chữ nghĩa lữ thứ trở về, đi dưới trận mưa lá vàng quê người, tôi lại nhớ tới trận mưa lá vàng đêm ấy. Một mùa đông của văn chương hơn 40 năm về trước. Một đêm đông Hà Nội. Một đêm đông Tự Lực. Lá của những đầu cành Hà Nội cũng rụng nhiều như lá của Glendale chiều nay. Nhà văn Nhất Linh không ngủ được. Ông mặc áo. Xuống đường. Đến tòa soạn Ngày Nay ở đuờng Quan Thánh. Lên gác. Bật đèn. Mang tấm lòng nhà văn và nhân chứng một thời để khởi đầu cho một đêm đó một kiệt tác. Về lên đường. Về cách mạng. Về thời thế mù sương, trí thức cùng đường. Về hành động, Về bằng hữu. Cuốn Đôi Bạn đó. Cuốn sách về Loan và Dũng. Loan, mỗi mùa đông lại cài một bông hoàng làn lên trên mái tóc. Để tưởng nhớ mùi hương. Dũng, của “ánh đèn nhà ai mới thắp như một nỗi nhớ thương đang mờ dần.” Nhưng đêm đó, Nhất Linh không viết được gì. Vì bên ngoài, đêm đông lạnh. Lá vàng đổ xuống.

Cuối năm quê người. Lộ trình tối thẳm. Buổi chiều lạnh buốt. Tới chiều nay, trận mưa lá đã ngớt. Chỉ còn vài cành. Đâu đó. Lác đác. Trên vai, trên tóc. Chỉ sáng mai thôi, trên con đường hai buổi đi về của tôi, sẽ không còn đeo bám trên những thân cành một chiếc lá cuối cùng nào. Trận mưa lá vàng liên tiếp suốt mấy tuần cũng sẽ chấm dứt.

Và câu văn còn lại, câu văn mà tôi sẽ nhớ mãi trong suốt mùa đông và Nguyên Đán này, chắc chắn là như vậy, cũng là một câu văn về lá. Cũng là của Nhất Linh. Câu văn cuối cùng bài vào tập Đôi Bạn. Câu văn nói với những người thân ở xa, gởi về những thân thương ngàn dặm. Như một tạ lỗi. Câu văn tôi còn nhớ nằm lòng từng chữ, như thế này: “Những lá vàng nhặt được chẳng là bao và chẳng biết có sưởi ấm được lòng ai ở xa không?”

Mai Thảo

Có thể mình đã gặp nhau

trantuan

Ta đã gặp em từ trong tiền kiếp.
Tóc mây bay vướng víu lạc tia nhìn.
Nên bối rối kiếm tìm nơi bản ngã.
Mê đắm hoài nay chưa kịp hồi sinh…

Ta đã gặp từ hồng hoang…xa lắc.
Thuở sơ khai chưa tên gọi sao trời.
Em đắm đuối ta ngỡ loài dã thú.
Nên giật mình đánh mất trái tim vui !

Có thể lắm, môi em là búp nõn.
Thuở trần gian chưa biết đến lửa hồng.
Ta lỡ chạm nên toàn thân cháy bỏng.
Nên mãi hoài vá víu mảnh thanh tân !

Có thể lắm em ơi !
Có thể…
ta nợ nhau. Quên trả, quên đòi.
Nên áy náy, ngượng ngùng thiên cổ
và trốn tìm nhau đến tàn hơi!

Trần Tuấn

CHẠNH LÒNG THƯƠNG MỘT ĐÓA THU RƠI

truongdinhphuong

cho tôi một phút nghe mùa rụng
chạnh thấy lòng thương nhánh cỏ gầy
và em như đóa tình năm ấy
xanh mãi bờ xưa những ước mơ…

buồn như sợi chỉ xuyên ngày tháng
đan kín đời tôi vạn nẻo đường
những buổi chiều hoen lòng viễn xứ
giật mình, thèm khát một mùi hương…

tháng chín, chừng như thu đã chớm
áo heo may, ai để tơ chùng
nắng tà hay mắt người xưa nhỉ?
sao mình chợt thấy nhớ mông lung?

một phút, người ơi, xin một phút
thoảng nghe trong gió tiếng ai cười
hồn nhiên như buổi đầu tiên ấy
cho tình thơm mãi tuổi hai mươi!

Trương Đình Phượng

Ghen

nguyenthihaiha

Quê liếc nhìn tờ giấy đặt ở góc bàn làm việc của chồng. Đến gần hơn một chút chị nhận ra đó là tờ báo cáo hàng tháng của Visa. Quê ngạc nhiên, chồng chị không khi nào để giấy tờ liên quan đến tiền bạc lộ liễu như thế. Lấy nhau lâu năm chị không hề biết chồng làm bao nhiêu tiền, tiêu xài vào khoản nào bởi vì chồng chị giấu rất kỹ những chuyện “riêng” như thế. Có lẽ anh vội vã chuyện gì đó nên quên. Tò mò chị cầm tờ báo cáo lên xem, dịp may có một không hai mà. Trên tờ báo cáo đa số là những khoản chi tiêu bình thường như tiền chợ ở Shop Rite, đổ xăng, cái bánh sinh nhật mừng chú em rể. Tuy nhiên, có ba khoản tiền lạ, đó là tiền ăn ở nhà hàng sushi ở Highland Park vào buổi trưa một ngày thứ Tư, tiền ăn ở một tiệm sushi khác ở Edison vào chiều thứ sáu, và tiền ăn ở cái Diner Sunset cách nhà Quê hai đèn giao thông vào sáng thứ Bảy. Thứ Tư và thứ Sáu Quê đi làm. Thứ Bảy Quê đi thư viện rồi đi chợ và thật tình chị không chú ý anh ở nhà hay đi đâu. Mà anh có đi đâu loanh quanh thì cũng là chuyện bình thường. Anh em của anh sống gần chung quanh. Anh đến nhà anh em, ở ăn cơm hay giúp làm giấy tờ nếu có ai nhờ.

Chị biết tính chồng rất giản dị. Anh không thích đi ăn ở nhà hàng, viện cớ phải đóng bộ cho tươm tất, phải chờ đợi lâu lắc, thức ăn dầu mỡ không tốt cho sức khỏe. Anh lại càng không thích sushi bảo rằng ăn gỏi cuốn ngon hơn gấp mấy lần. Quê không thể nào hình dung chồng chị vào nhà hàng gọi thức ăn rồi ngồi ăn một mình bởi vì cái hình ảnh ấy quá khác biệt với người chồng chị chung sống bao nhiêu năm.

Ai? Đồng tiền nối liền khúc ruột. Đàn ông thường mở hầu bao nơi họ đặt trái tim. Ai là người khiến anh vượt qua thói quen không đi ăn nhà hàng và không thích ăn sushi? Nếu anh đi ăn với bạn bè sao chẳng nghe anh nói? Trước hôm tiệc Giáng sinh, anh đi mua sắm quần áo. Đây là chuyện lạ, ít khi anh chưng diện se sua. Có lẽ chị để lộ vẻ ngạc nhiên nên anh giải thích, “tiệm nào cũng có big sale, anh thấy rẻ quá nên mua thêm quần áo giày vớ.”

Quê vừa khen chồng, vừa đùa: “Anh diện lên trông trẻ hẳn ra. Coi chừng người ta mê là mệt nhé!”

Anh trả lời: “Anh không diện cũng có người mê!”

“Ai mê?” – Chị hỏi.

Anh cười, không trả lời.

Bạn gái của anh chỉ có Katya, cô bạn học chung trường Luật. Cô chừng hơn bốn mươi, tóc vàng, mắt xanh. Katya nói tiếng Anh có giọng Nga khá nặng. Nàng có một con trai và đã ly dị chồng. Katya có cặp mắt rất to, dường như thu hồn người. Trước khi gặp Katya, Quê không thể nào tưởng tượng được có người có cặp mắt to và sâu như thế. Quê nghĩ với đôi mắt ấy nhìn sâu vào có thể thấy được rừng cây khô sau nhà, vẽ thành tranh chắc cũng đẹp như tranh Đinh Tiến Luyện trên những bìa của báo Tuổi Ngọc. Cô không đẹp đến choáng người nhưng càng nhìn càng thấy xinh. Hôm lễ Tạ ơn, anh đột nhiên bảo Quê:

“Ngày mai Quê làm gỏi cuốn nhé.”

Quê hơi ngạc nhiên. Anh ít khi nào đặt món ăn như thế. Thậm chí chị hỏi anh thích ăn món gì anh cũng chỉ ừ à cho qua chuyện. Quê hỏi:

“Tại sao lại làm gỏi cuốn?”

“Vì ngày mai Cá Linh ở trường về, sẵn dịp đãi con bé.”

Cá Linh đang học nội trú ở Rutgers , trường đại học cách nhà chừng nửa giờ lái xe. Mãi một lúc sau, giữa những chuyện lặt vặt trong nhà anh như sực nhớ ra, nói thêm: “Ngày mai sau khi ký giấy tờ sang tên nhà của anh Tu chị Na cho đứa con trai của anh chị, anh mời Katya ở lại ăn tối.”

Anh giải thích thêm là tuy anh làm sẵn giấy tờ nhưng anh muốn Katya làm luật sư cho anh chị bởi vì anh là người trong gia đình nên không muốn ra mặt chịu trách nhiệm. Quê đoán là anh muốn giúp đỡ Katya bằng cách đưa thân chủ cho nàng. Nàng mới mở văn phòng luật, chưa có thân chủ, nợ nần tứ tung lại còn phải nuôi đứa con trai tật nguyền. Chị có cảm tưởng anh muốn đãi Katya món gỏi cuốn; nhưng tại sao lại không nói thẳng với chị? Bữa ăn ấy Quê không làm gỏi cuốn vì Cá Linh bảo muốn ăn cà-ri. Quê nghe anh giải thích với Katya, gỏi cuốn tương tự sushi và nàng nhìn Quê với đôi mắt xanh thăm thẳm bảo rằng nàng rất thích sushi nhưng chưa bao giờ được ăn gỏi cuốn. Quê cười nói với Katya: “Lần khác Quê xin được đãi bạn món này. Quê không biết chồng Quê muốn giới thiệu món gỏi cuốn với bạn. Giá mà anh ấy bảo với Quê thì Quê đã làm.”

Có thể nào là nàng không? Quê không dám nghĩ sâu xa hơn. Lâu nay chị hoàn toàn tin cậy chồng; giữa hai người nếu có vấp ngã thì chỉ có Quê là người vấp ngã. Dù gì hai người cũng quen nhau từ hồi ở Việt Nam, gặp lại nhau ở trại tị nạn, yêu nhau giúp đỡ nhau học hành suốt mười năm trời trước khi chính thức kết hôn. Tình sâu nghĩa nặng lắm mà. Ăn tối xong, Quê dọn dẹp rửa chén bát, còn anh và Katya ngồi nán lại ở bàn ăn nói chuyện thì thầm rất lâu. Ách Cơ, đứa con lớn bảo với Quê, Katya đến nhà vài lần khi mẹ không có ở nhà, mẹ có biết không? Quê tự bảo mình không nên ghen xằng nhưng bỗng dưng thấy mệt đuối. Ngày mai anh sẽ đưa Quê đi leo núi nhân dịp này chị sẽ hỏi anh cho biết đầu đuôi.

Quê soi mình trong gương thấy thương hại cái già nua xấu xí của mình. Không béo lắm nhưng đã có cằm đôi. Quê có gương mặt tròn ngày còn nhỏ thường bị mắng là mặt thịt, mặt thịt là mặt của người ngu. Nhiều khi ngẫm nghĩ Quê thấy mình thật thà quá hóa ngu. Cái eo của Quê ngày trước hình chữ V nay đã biến thành chữ U. Quê bị chứng mặc cảm tự ti rất nặng; ít khi giao du bạn bè vì Quê tin rằng người nào tiếp xúc với chị đều không thích chị vì chị không dịu dàng hay bặt thiệp. Quê đi leo núi với chồng vì anh bảo Quê cần phải vận động nhiều hơn, ngồi một chỗ nhiều dễ sinh bệnh tật, nhất là mới đây Quê bỗng bị ngất xỉu đôi lần. Biết mình cần đi khám tim nhưng Quê cứ chần chờ, dường như chị sợ khám phá trái tim của chị có chứa những điều không hay.

Địa điểm leo núi cách nhà khoảng hơn một giờ lái xe. Điểm cao nhất khoảng ba trăm năm mươi mét so với mực nước biển. Mùa Đông năm nay thời tiết ôn hòa, giữa mùa Đông mà ấm đến 45 độ F. Quê nhìn rừng núi, tuy đã rụng hết lá mà vẫn đầy vẻ rậm rạp nói với chồng:

“Mùa hè mà đến đây có lẽ sẽ bị con tick cắn hay muỗi cắn anh nhỉ?”

Chồng chị nói nhẹ nhàng: “Con tick là con bọ chét. Em có cái tật hay chêm tiếng Anh nói hoài không được.” Anh lúc nào cũng khôn hơn, giỏi hơn, cầu toàn hơn và luôn luôn chỉnh sửa Quê. Nhiều khi không vui nhưng Quê vẫn im lặng vâng lời chồng. Vợ chồng Quê ít khi cãi nhau, bạn bè người thân vẫn thường kháo nhau gia đình Quê hạnh phúc nhất. Anh nói thêm: “Bọ chét thì có thể nhưng muỗi chắc không nhiều vì ở đây không có đầm lầy.”

Tin cậy chồng, Quê lặng lẽ nối buớc. Quê không thường thắc mắc chất vấn vì biết tính chồng cẩn thận chu đáo. Đôi khi Quê có ý thích khác nhưng biết rằng khó mà lay chuyển quyết định của chồng nên thường chịu thua trước khi mở lời. Mỗi khi đi đâu anh nghiên cứu bản đồ biết rõ địa thế nơi muốn đến vì thế Quê thường để tùy anh quyết định. Lúc nãy chị thấy bảng ở bãi đậu xe cho biết đây là con đường mòn vòng quanh núi Turkey. Chị đi theo anh, quá thân thuộc nên không có gì phải nói. Bước đi của hai người đều đặn nhịp nhàng như một bản đàn quen thuộc. Anh chỉ cho chị thấy những ô vuông màu đỏ khắc trên cây.

“Cứ đi theo những ô vuông màu đỏ khắc trên cây như thế này là sẽ đi hết con đường mòn vòng quanh núi và về địa điểm khởi hành.” – Anh nói.

Rừng già, lá vàng khô rơi phủ mặt đất dày như thảm. Vài nơi, nước đóng thành băng từ dưới lòng đất trồi lên trông giống như những cây đinh to màu đá cẩm thạch trắng đục có vân đen. Đường đi mỗi lúc một cheo leo. Bên cạnh con đường mòn hẹp là hố sâu. Chỉ cần không chú ý là có thể trượt chân rơi xuống hố. “Giá mà rơi xuống có lẽ sẽ không đau đâu nhỉ, thảm lá dày trông êm ái như thế kia. Nhưng có lẽ khó mà leo lên từ hố sâu như thế.” – Quê nghĩ thầm. Một cơn mưa to những đường trũng ấy sẽ biến thành những con suối ồ ạt chảy. Chăm chú leo núi, Quê thở gấp. Đôi ba lần chị muốn hỏi về những lần đi ăn nhà hàng của anh nhưng không tiện mở lời.

Ở đỉnh núi, nhìn phía xa xa là một chục ngôi nhà dưới thung lũng. Bên tay phải là hai cái hồ, một cái rất to, một cái nhỏ hơn, nối vào nhau. Anh bảo:

“Đó là hồ Valhala. Mình đi đến đó để chụp ảnh nhé.”

Quê yêu thích cảnh đẹp. Những lần đi chơi chị đều mang theo cái máy ảnh bỏ túi để ghi lại cảnh thiên nhiên. Quê thường xa lánh những nơi nhộn nhịp, thiên nhiên là nơi tịnh dưỡng tâm hồn. Rủ đi đâu chị có thể từ chối nhưng để được ngắm cảnh đẹp Quê sẵn sàng lặn lội. Đi để có thể viết bài và có hình đăng lên blog.

Hai người leo qua những tảng đá, lội qua những con suối cạn, nước trong veo thấy những hòn đá trắng dưới đáy. Quê bảo với chồng:

“Hễ có hồ là có nước đọng và thế nào cũng có muỗi.”

Hai người bắt đầu chuyến đi hơi trễ. Ra khỏi nhà một giờ trưa. Đến nơi hơn hai giờ. Lang thang trong núi rừng vẹt lau xua cỏ tránh nhánh gai, chị mệt đuối sức và mặt trời sắp lặn. Buổi chiều sụp xuống rất nhanh, hơi núi làm chị thấy lạnh. Hai cái hồ thấy gần như vậy mà đi hoài không đến. Quê thấy lo lắng, đòi về.

“Thôi mình đi về đi anh, tối rồi, coi chừng bị lạc trong rừng.”

Chồng chị đưa cho chị bình nước anh đeo trong ba-lô. Mấy tiếng đồng hồ mà bình nước trà có pha chút cà phê vẫn còn ấm áp.

“Em ăn thêm chút phô-mai cho đỡ mệt.”

Quê nhìn quanh, những cây chung quanh Quê không còn ô vuông đỏ nào cả. Quê nói với chồng: “Mình đi lạc rồi anh.”

Chồng chị nói giọng vẫn đầm ấm tỉnh táo:

“Mình chỉ cần đi lên chút nữa đến gần hồ sẽ bắt vào con đường mòn khác và sẽ trở ra đường lớn chỗ để xe.”

Bóng cây với những cành khô có vẻ gì dọa nạt, trông giống như những bàn tay xương xẩu móng nhọn níu xước áo chị. Quê thấy sợ hãi, tim đập mạnh khó thở choáng váng. Anh đi trước, nhẹ nhàng, nhanh nhẹn tay bật đèn pin. Cây gậy dùng để giữ thăng bằng khi leo núi vung vẩy trên tay. Quê nghĩ chồng giống Hiệp Khách Hành. Trên đồi cao trông anh dường như cao lớn hơn. Quê càng lúc càng bị tuột lại sau lưng. Quê có cảm tưởng suốt đời mình cứ phải cố gắng để đi theo kịp chồng trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Một cố gắng lâu dài đôi khi Quê thấy mình mỏi mệt như kiệt sức. Anh đi nhanh quá, khỏe quá, hăng say quá không ngó lại sau lưng. Thoáng một cái anh khuất sau những bụi cây tảng đá rồi mất dạng. Quê cố gắng ngóng cổ tìm bỗng trượt chân, bổ nhào hai ba bước. Quê thấy mình rơi, quơ níu hụt hẫng. Và tất cả chỉ còn lại bóng tối.

Khi tỉnh lại, Quê thấy vầng trăng đã lên. Hai chân Quê mềm èo nằm quặt dưới thân người Quê như hai sợi dây thừng. Quê không thấy đau, chỉ thấy tê dại. Trăng trên núi thật lạ, gần như ở sát mặt của Quê. Ở giữa mặt trăng là một đường rạn nứt thật to. Một bên trăng màu nâu đỏ trông giống như một miếng kẹo có đường phơn phớt, bên kia màu xanh lá cây thật nhạt có thủng nhiều lỗ tròn trông ngon như một miếng Swiss cheese. Nghiêng đầu, Quê nhìn thấy phía dưới chỗ mình đang nằm là những vệt trắng đang chuyển động. Nhìn kỹ, Quê thấy đó là những con mèo, chó, chim cú, ếch nhái, ốc sên đủ loại đủ cỡ màu đất sét nung đang di động như đang sống trong cái xã hội nho nhỏ của chúng. Con chó to như con voi trong khi con bò thì lại bé cở nắm tay và ếch nhái giống như những cái cúc áo. Quê nghĩ, mình đang nằm mơ chăng? Đám thú vật màu đất sét nung di chuyển nhưng cứng ngắc như những pho tượng bị giới hạn trong một dòng chảy chậm từ từ trôi đi đều đặn liên tục. Quê thấy có cái gì vừa nhám vừa ấm trên má. Con mèo Nora đang liếm mặt Quê. Nó mang mắt kính đen, mặc váy, đi hai chân như trong phim hoạt họa.

“Nora đấy à? Sao Nora lại ở đây? Anh đâu?” – Quê hỏi.

“Anh đi tìm người đem chị về. Lâu lắm anh mới quay lại.” -Nora trả lời.

“Quê bị ngã?” – Nora không trả lời.

Đầu óc Quê bỗng dưng không còn mụ mị nữa. Quê nhận ra ý định của chồng. Quê bảo Nora. “Đây là âm mưu của anh!”

Nora lặng thinh. Chị nhớ một lần anh đòi lái xe bắt đầu từ lúc mười giờ khuya đưa Quê vào hồ Tahoe, chung quanh là núi đèo cao bảy tám ngàn feet. Quê sợ không dám đi bảo rằng đi như thế rất nguy hiểm. Quê không muốn chết. Anh nổi giận gắt to, đi với anh làm sao mà chết được. Lần đầu tiên Quê nghe theo linh tính và chống lại quyết định của chồng đưa đến chỗ hai vợ chồng to tiếng với nhau ở một nơi công cộng, cây xăng. Anh bảo Quê thuộc loại đàn bà bossy. Lần khác anh nhất định chọn con đường lạ băng rừng trong khi xe đã hết xăng. Mỗi lần sợ hãi là Quê choáng váng khó thở muốn ngất đi. Tai nạn chết người dễ dàng xảy ra với người bị ngất xỉu, chóng mặt rơi xuống hồ chết đuối, nứt sọ, hay gãy cổ. Gia đình của Quê nổi tiếng là hạnh phúc, sẽ không ai nghi ngờ nếu tai nạn xảy ra. Một lần đang ngủ thức giấc Quê thấy chồng đang dùng ngón tay ấn chặt mạch máu cổ của Quê như muốn chắn đường không cho máu chạy lên óc. Quê cố xua đuổi những nghi ngờ của mình. Tính anh vẫn dịu dàng ngọt ngào như ban đầu khi mới quen nhau.

“Quê cho anh đầy đủ tự do, nếu không muốn ở với nhau nữa thì cứ chia tay tại sao lại âm mưu giết Quê? Tại sao?” – Quê hỏi Nora. “Nora ở nhà, thấy hết, biết hết. Nói cho Quê biết đi. Vì tiền phải không?”

Nora gỡ cặp mắt kính đen. Ánh trăng rọi vào mắt nó một bên có màu xanh biếc còn bên kia đỏ như lửa cháy. Và đôi mắt của nó bỗng nở to ra sâu thăm thẳm như đôi mắt Katya. Nó nói thong thả, nghe như tiếng gù gù trong cổ nó mỗi lần nó nằm trên lòng Quê lúc chị viết blog.

“Tiền là một trong những lý do. Chị không giàu lắm nhưng có thể nói là khá nhiều tiền. Nếu ly dị tiền của phải chia hai. Nếu chị chết tiền gom về người thừa kế.”

Quê và chồng tuy chính thức kết hôn nhưng mỗi người có ngân hàng riêng. Đời sống và văn hóa ở đây cho phép như thế. Lúc mới lấy nhau tiền bạc thường là lý do cãi vã của hai người. Giữ tiền riêng nhưng cùng góp chung vào những chi phí trong gia đình giữ được hòa khí của hai người.

“Tuy nhiên tiền không phải là lý do duy nhất.” – Nora bảo.

Quê suy nghĩ. Chồng chị biết, chị không bao giờ van xin hay khóc lóc nếu anh muốn chia tay. Nora cười, nhe mấy cái răng nhọn hoắc. Con mèo này kỳ cục, đáng lẽ nó phải mếu vì thương xót chị chứ. Chẳng lẽ nó chẳng thương mến Quê? Suốt ngày nó quấn quít với Quê thế mà… ừ, phải đến lúc ngặt nghèo thì mới biết được ai là người thương yêu mình. Nora hỏi:

“Chị có nhớ chuyện năm năm về trước không? Lúc chị …”

Quê vội ngắt lời Nora vì không muốn nghe thêm. “Nhớ chứ. Nhưng sau đó anh đồng ý quên quá khứ, bắt đầu lại từ đầu và xây lại hạnh phúc với Quê.”

“Nhưng anh không thật sự quên. Anh vẫn nghi ngờ, theo dõi và bắt đầu lập mưu kể từ khi anh thấy chị mở blog và bắt đầu viết trở lại.” – Nora nói một cách đầy hiểu biết.

Từ lâu Quê nhìn thấy vết rạn nứt trong lòng mình nhưng không thể nói với ai. Không ai hiểu được vì sao Quê không thấy hạnh phúc. Dường như có chồng tốt, không cờ bạc, không đĩ điếm, không hoang đàng lãng phí vẫn không làm người ta thấy hạnh phúc khi không thể bù lấp khoảng cách giữa hai tâm hồn. Anh đòi hỏi một sự toàn hảo từ nhan sắc đến tâm hồn mà Quê không thể nào có được. Quê mê văn chương. Vì phải kiếm sống, nuôi con, trong môi trường ngôn ngữ xa lạ, Quê chỉ có thể viết blog cho đỡ nhớ tiếng Việt. Đàn bà mà, khi mê say một cái gì quá, cũng bị người ta cho là lố bịch. Anh chỉ trích, Quê viết toàn những chuyện nhảm nhí. Thời buổi này, Quê có viết cũng chẳng ai đọc. Quê nói như phản đối dù rằng phản đối với con mèo thì chẳng ăn nhằm gì. “Quê chỉ viết thôi. Còn anh thì ôm cái computer tủm tỉm cười một mình đến cả hai ba giờ sáng. Quê không bao giờ gặng hỏi anh làm gì, trò chuyện với ai. Quê để cho anh tự do.”

“Chính vì thế anh mới nghi ngờ chị. Chị chỉ chúi đầu vào cái computer không đếm xỉa gì đến người chung quanh. Rồi chị viết những chuyện tình ướt át. Chị yêu thương, khóc cười, dịu dàng, đam mê với nhân vật trong khi chị nguội lạnh với anh. Những nhân vật ấy là ai? Liên hệ như thế nào với chị? Phải có thật thì viết mới giống thật như thế. Chị phải có người nào nên chị mới chẳng quan tâm đến chuyện mất chồng.” – Nora giải thích. Quê muốn khóc nhưng không khóc được; chợt thấy một nửa mặt trăng rơi những hạt nước mắt màu xanh. Nửa mặt trăng màu nâu đỏ thoát ra tiếng dồn dập như tiếng trống, như nhịp tim đập nhanh, rối loạn, nhức nhối. Ước gì được nghe những khúc sáo và vĩ cầm trong phim Chocolate nhỉ? Khúc nhạc này có thể ru ngủ. Quê nghĩ nếu ngủ được lúc này mình sẽ dễ chịu biết mấy. Cái cảm giác có một khối nặng đè trên ngực càng lúc càng tăng.

“Thế Nora có thể giúp Quê thoát ra khỏi nơi này không?” -Quê dịu giọng với con mèo.

“Nora có nhiệm vụ rước chị rời nơi này vì chị chỉ có Nora là bạn. Chị có thể nghiêng người và lăn xuống cái dòng chảy có những con thú màu đất sét nung, rồi chị cũng biến thành màu đất nung như thế. Hay chị có thể đi theo Nora.” Con mèo lấy đôi kính đen đeo lên mắt. Trông nó có vẻ sang trọng, bệ vệ. Nora không phải là một cô bé mười lăm tuổi như Quê vẫn tưởng. Trông Nora như một người phụ nữ chín chắn ở tuổi bốn mươi. Không. Quê không muốn đi theo Nora nữa. Quê sẽ đi một mình. Mặt trăng sà xuống gần mặt Quê. Quê rướn người vói lấy mặt trăng để đứng dậy. Mặt trăng vỡ làm đôi, và Quê lại rơi. Rơi cho đến khi Quê nghe tiếng kêu “Mẹ! Mẹ!”

Cá Linh đang lay vai Quê thật mạnh. “Mẹ! Mẹ! Nước tràn ra ngoài lâu rồi.”
Quê đang đứng rửa chén mãi suy nghĩ không ngờ nước tràn mà không hay.

“Mẹ đang lo nghĩ chuyện gì?” – Con gái út của Quê nhìn mẹ dò hỏi.
Quê nói với Cá Linh: “Mẹ có một thắc mắc mấy hôm nay mẹ suy nghĩ mãi và nghi ngờ bố. Bố không thích ăn ngoài, cũng không thích sushi thế mà mẹ thấy bố dùng thẻ tín dụng trả tiền nhà hàng sushi ở Highland Park trưa ngày thứ Tư tháng trước.”
“À! Cái đó của con. Con và các bạn đi ăn.” Cá Linh nói.
“Bố cũng đi ăn sushi ở Edison .” – Quê nói.
“Cái đó cũng của con luôn.” – Cá Linh nói.
“Thế còn cái bữa ăn sáng ở Diner Sunset?” – Chị hỏi.
“Cái đó cũng của con. Mẹ không nhớ con đã kể với mẹ à. Con ở chơi qua đêm nhà bạn Rohini, buổi sáng tụi con đi ăn trước khi chia tay.” – Cá Linh nói.
“Nhưng tại sao lại trên thẻ của bố?”
“Bố đưa thẻ của bố cho con dùng, chỉ dặn con là đừng tiêu quá mức.” Quê nhận ra Highland Park và Edison đều gần trường Rutgers .
Quê hỏi Cá Linh: “Nora đâu rồi?”
“Nora đang ngủ trên giường của con.” – Cá Linh nhìn Quê lạ lẫm. Quê thấy cục nghẹn trong ngực mình đã biến mất tự bao giờ. “May mà mình không đặt vấn đề với anh nếu không đã để lộ tính ghen bậy.” – Quê tự nhủ.

Một tuần sau báo địa phương đăng tin có một cặp vợ chồng người Việt Nam trên đường leo núi để chụp ảnh, người vợ bị ngã. Lý do chết là vì mệt quá sức. Người vợ dường như biết cái chết sẽ đến với mình nên đã viết một bài rất chi tiết đăng trên facebook. Cảnh sát phỏng vấn, người chồng không biết vợ anh có trang facebook. Anh chỉ biết trang blog của chị thôi.

Nguyễn thị Hải Hà

You! Tui kể cho You nghe…

luuthy

You! Tui kể cho You nghe câu chuyện như thế này:

Trong một ngôi làng nọ có một cái xóm nọ, trong cái xóm nọ có một ngôi nhà nọ, trong ngôi nhà nọ có hai người phụ nữ nọ. Hai người phụ nữ nọ một người lớn tuổi là mẹ chồng một người nhỏ tuổi là nàng dâu.

Một ngày nọ cả xóm nghe tiếng la hét ầm ĩ của người phụ nữ trẻ là nàng dâu. Cả xóm bu lại xem. Không những xem mà còn nghe. Có người chỉ dùng hai tai để nghe, có người yếu tai dùng máy nghe, có người mạnh tai vừa nghe vừa ghé tai vô radio theo dõi Đài Tiếng Nói Việt Nam… phát đi từ Hà Nội… thủ đô nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Bên trong nhà, nàng dâu vừa la hét kể tội bà mẹ chồng vừa thu dọn đồ đoàn tính chuyện ra đi, còn bà mẹ chồng thì vừa kể tội nàng dâu vừa cầm cuộn băng keo tính muốn bịt miệng cô nàng.

Bên ngoài nhà, bà con hàng xóm cũng chia thành hai phe.

Một phe bênh vực nàng dâu vừa vỗ tay vừa ồ le ồ lé ồ lè bảo nàng dâu kể tiếp, kể thêm, kể cho nhiều vào, kể càng nhiều càng tốt càng hấp dẫn mê ly rùng rợn.

Còn phe kia thì bênh vực bà mẹ chồng, xúi bà mẹ chồng dùng băng keo bịt ngay cái miệng nàng dâu, khoá ngay cái mỏ con đĩ thúi đó, cái con mất dạy, đồ vô văn hoá không công dung ngôn hạnh, không nhường dưới kính trên, cái thứ ăn hàng ngoài chợ, đồ đá cá lăn dưa. Bịt miệng nó đi, kêu công an tới thộp cổ nó, đưa ngay nó ra đường, cột vô cái cây đa làng, đập cho nó một trận, ném đá nó, tùng xẻo nó, cắt ngay cái lưỡi ăn gian nói dối, nói không bằng cớ chẳng có đường link.

Nàng dâu la hét xong, đóng cửa cái rầm rồi cuốn gói ra đi. Trước khi đi, còn giơ tay bái bai hàng xóm.

Một nửa những cánh tay hàng xóm giơ lên vẫy chào nàng dâu, hẹn nàng ngày tái ngộ see you again.

Một nửa những cánh tay còn lại giơ lên với ngón tay giữa chĩa lên trời chửi thề ĐM.

Bà mẹ chồng cầm cuộn băng keo dán ngay bốn cái miệng bốn đứa cháu bốn đứa con của nàng dâu, xong cột tay cột chân xóc vô hai bên đòn gánh, quảy lên đồn công an, báo cáo với công an, cái đứa con dâu trốn nhà theo trai, cạy tủ lấy của bà cái tượng đầu ông chồng bằng vàng rỗng ruột, trong chứa ba trăm năm mươi hai hột kim cương.

(còn tiếp…)

Lưu Thy

ngụ ngôn gió cát 1: Quê nhà

buidiep

Tôi hỏi nhà còn quê không
Trăng xưa đem rằm trốn biệt
Cát dưới phận người chảy riết
Bao giờ cho đến ngày xưa

Bạn tôi lăn đời long chong
Ôm những cuộc tình chạng vạng
Gai cát đâm buốt đêm sâu
Gió miền hoang vu thổi rát

Tôi về thiếu hoa thiếu lúa
Dựa bừa cột kèo ngồi nghe
Tha hương người còn bay mãi
Trong bụi bặm đời không quê

Gặp em mùa thu qua sân
Trong mưa ôm dăm chữ vụn
Gặp lại trong mắt em trong
Hồn tôi thời chưa khổ tận

Quê nhà tôi phía ngày xưa
Ai giấu phận ai trong cát
Quê nhà giờ vẫn sớm trưa
Chợt hỏi lòng mình còn khát?

BÙI DIỆP

hỏi thăm nẻo về

npphan

sầu tan mấy giọt đầu mùa
tuổi nào tóc buộc hững hờ dung nhan
cúi xin chút mộng huy hoàng
chợt nghe hư ảo đã tan cuộc chờ

đường về đã lặng cơn mưa
bao nhiêu hò hẹn đã vừa nhớ nhung
cho em tiếng guốc ngập ngừng
tình ta xuống ngự vô cùng mắt môi

tuổi nào lược ngắm gương soi
nắng mưa thì cũng đất trời trăm năm
ngày trông tháng đợi trầm ngâm
chút buồn đăm đắm hỏi thăm nẻo về

NP phan

Để hiểu thêm về KHÚC THỤY DU

dutule

“Khúc Thụy Du” không phải là một bản nhạc xưa nhưng rất được đón nhận bởi hầu hết ca sỹ cũng như công chúng yêu dòng nhạc này. Đó là một nhạc phẩm mà nhạc sỹ Anh Bằng viết tại hải ngoại sau 1975, lấy ý thơ từ bài thơ cùng tên sáng tác năm 1968 của nhà thơ Du Tử Lê. Lần đầu nghe bản này là vào đầu thập niên 1990 qua tiếng hát đầy cảm xúc của ca sỹ Tuấn Ngọc.
Bản nhạc nổi tiếng thế nào thì chắc có lẽ chúng ta không cần nói thêm. Thế nhưng rất ít người yêu nhạc biết rằng tựa bài thơ là sự kết hợp giữa chữ lót của người yêu nhà thơ (bà Thụy Châu) và chữ đầu trong bút danh Du Tử Lê.

VỀ BÀI THƠ “KHÚC THỤY DU”, Du tử Lê tâm sự:

Khi biến cố Tết Mậu Thân, 1968 xẩy ra, đó cũng là lúc cuộc tình của tôi và một nữ sinh viên trường Dược, ở Saigòn cũng khởi đầu.
Đầu tháng 3-1968, tôi bị chỉ định đi làm phóng sự một tiểu đoàn TQLC đang giải toả khu Ngã tư Bảy Hiền.
Lúc đó, cả thành phố Saigòn vẫn còn giới nghiêm. Trên đường đi, từ cục TLC ở đầu đường Hồng Thập Tự, gần cầu Thị Nghè tới khu Ngã tư Bảy Hiền, đường xá vắng tanh. Khi gần tới ngã tư Bảy Hiền, ngoại ô Saigòn, tôi thấy trên đường đi còn khá nhiều xác chết. Đó là những xác chết không toàn thây, bị cháy nám; rất khó nhận biết những xác chết là dân chúng, binh sĩ hay bộ đội.
Khi tới gần khu ngã tư Bảy Hiền, dù không muốn nhìn, tôi vẫn thấy rất nhiều mảnh thịt người vương vãi hai bên đường. Có cả những cánh tay văng, vướng trên giây điện…Rất nhiều căn nhà trúng bị bom, đạn. Đổ nát. Tôi cũng thấy những con chó vô chủ gậm chân, tay xương người bên lề đường… Tất cả những hình ảnh ghê rợn này đập vào mắt tôi, cùng mùi hôi thối tẩm, loang trong không khí.
Khi tới vùng giao tranh, tôi gặp người trách nhiệm cuộc hành quân giải toả khu chợ Bảy Hiền. Đó là thiếu tá Nguyễn Kim Tiền. Anh vốn là một bạn học thời trung học của tôi. Tiền cho biết, đơn vị của anh đang ở giai đoạn cực kỳ nguy hiểm. hai bên rình rập nhau, như trò cút bắt, để tranh giành từng gian hàng, từng ngôi nhà… Anh nói tôi phải rời khỏi khu chợ, lập tức. Vì anh không thể bảo đảm sinh mạng cho tôi, dù là bạn cũ….
Trên đường về, cái khung cảnh hoang tàn, đổ nát với xương thịt người vung vãi khắp nơi, cùng với mùi người chết sình thối…khiến tôi muốn nôn oẹ, một lần nữa lại gây chấn động dữ dội trong tôi…
Giữa tháng 3 – 1968, nhà văn Trần Phong Giao, Thư ký toà soạn Tạp chí Văn, gọi điện thoại vào phòng Báo Chí, cục TLC, hỏi tôi có thể viết cái gì đó, cho Văn số tục bản.
Gọi là “tục bản” bởi vì sau số Xuân, khi biến cố mồng 1 Tết xẩy ra, báo Văn ngưng xuất bản. Lý do, các nhà phát hành không hoạt động. Đường về miền tây cũng như đường ra miền Trung bị gián đoạn. Saigòn giới nghiêm. Tuy nhiên, ông nói, hy vọng ít ngày nữa, giao thông sẽ trở lại – – Thêm nữa, không thể để Văn đình bản quá lâu.
Sau khi nhận lời đưa bài cho Trần Phong Giao, tôi mới giật mình, hốt hoảng.
Tôi nghĩ, giữa tình cảnh ấy, tôi không thể đưa ông một bài thơ tình, hay một chuyện tình. Mặc dù thơ tình hay chuyện tình là lãnh vực của tôi thuở ấy. Nhưng, tôi thấy, nếu tiếp tục con đường quen thuộc kia, tôi sẽ không chỉ không phải với người đọc mà, tôi còn không phải với hàng ngàn, hàng vạn linh hồn đồng bào, những người chết tức tưởi, oan khiên vì chiến tranh nữa…
Cuối cùng, gần hạn kỳ phải đưa bài, nhớ lại những giờ phút ở ngã tư Bảy Hiền, tôi ngồi xuống viết bài thơ ghi lại những gì mục kích trên đường đi.
Viết xong, tôi không tìm được một nhan đề gần, sát với nội dung!
Bài thơ dài trên 100 câu. Nhưng khi Văn đem đi kiểm duyệt, bộ Thông Tin đục bỏ của tôi gần 1/ 3 nửa bài thơ.
Thời đó, tôi viết tay, không có bản phụ, nên, sau này khi gom lại để in thành sách, tôi không có một bản nào khác, ngoài bản in trên báo Văn (đã kiểm duyệt.)
Tuy còn mấy chục câu thôi, nhưng nội dung bài thơ, từ đầu đến cuối, vẫn là một bài thơ nói về thảm cảnh chiến tranh. Người phụ trách phần kiểm duyệt vẫn để lại cho bài thở của tôi những câu cực kỳ “phản chiến” như: “…Ngước lên nhìn huyệt lộ – bày quả rỉa xác người – (của tươi đời nhượng lại) – bữa ăn nào ngon hơn – làm sao tôi nói được…” Hoặc: “…Trên xác người chưa rữa – trên thịt người chưa tan – trên cánh tay chó gậm – trên chiếc đầu lợn tha…” vân vân…
Nói cách khác, tình yêu chỉ là phần phụ; với những câu hỏi được đặt ra cho những người yêu nhau, giữa khung cảnh chết chóc kia, là gì? Nếu không phải là những tuyệt vọng tột cùng, tất cả sự vô nghĩa chói gắt của kiếp người?
Như đã nói, thời gian ra đời của bài thơ cũng là khởi đầu của cuộc tình giữa tôi và một sinh viên đại học Dược…Tôi lấy một chữ lót trong tên gọi của người con gái này, cộng với chữ đầu, bút hiệu của tôi, làm thành nhan đề bài thơ. Nó như một cộng nghiệp hay chung một tai hoạ, một tuyệt lộ.
Bài thơ ấy, sau đó tôi cho in trong tuyển tập “Thơ Du Tử Lê (1967-1972).
Cuối năm, tập thơ được trao giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc, bộ môn thi ca, 1973.

Năm 1983, tôi cho tái bản cuốn thơ này sau khi được một độc giả du học tại Mỹ trước năm 1975, cho lại. Cô nói, tôi phải hứa in lại và dành bản đầu tiên cho cô…
Sau đấy, một buổi tối, nhạc sĩ Anh Bằng đến tìm tôi ở quán Café Tay Trái (toạ lạc ngay ngã tư đường Trask và Fairview.) Ông nói, ông mới phổ nhạc bài “Khúc Thuỵ Du.” Ông cho tôi quyền chọn người hát. Ông nhấn mạnh: “Tôi có thể chỉ cho người đó hát…”
Thời gian đó, trong số bằng hữu giúp tôi điều hành Café Tay Trái, có nhạc sĩ Việt Dzũng. Lúc nhạc sĩ Anh Bằng đến tìm tôi, cũng là lúc Việt Dzũng có mặt; đang chuẩn bị cho chương trình ca nhạc buổi tối. Tôi giới thiệu hai người với nhau.
Khi ca khúc “Khúc Thuỵ Du” ra đời dạng casette, với tiếng hát của Việt Dzũng, tôi mới biết, nhạc sĩ Anh Bằng chỉ lọc, lựa một số câu thơ liên quan tới tình yêu mà, không lấy một câu thơ nào nói một cách cụ thể về chiến tranh, chết chóc… Chết chóc hay chiến tranh được hiểu ngầm, như một thứ background mờ nhạt.
Từ đó đến nay, thỉnh thoảng vẫn còn có người lên tiếng phản đối sự giản lược nội dung bài thơ của tôi vào một khía cạnh rất phụ: Khía cạnh tình yêu trong ca khúc “Khúc Thuỵ Du”…
Nhưng, hôm nay, sau mấy chục năm, nhìn lại, tôi thấy, ông cũng có cái lý của ông…(1-30-2010.)

NGUYÊN VĂN BÀI THƠ “KHÚC THỤY DU”

1.
như con chim bói cá
trên cọc nhọn trăm năm
tôi tìm đời đánh mất
trong vụng nước cuộc đời
như con chim bói cá
tôi thường ngừng cánh bay
ngước nhìn lên huyệt lộ
bầy quạ rỉa xác người
(của tươi đời nhượng lại)
bữa ăn nào ngon hơn
làm sao tôi nói được
như con chim bói cá
tôi lặn sâu trong bùn
hoài công tìm ý nghĩa
cho cảnh tình hôm nay
trên xác người chưa rữa
trên thịt người chưa tan
trên cánh tay chó gặm
trên chiếc đầu lợn tha
tôi sống như người mù
tôi sống như người điên
tôi làm chim bói cá
lặn tìm vuông đời mình
trên mặt đất nhiên lặng
không tăm nào sủi lên
đời sống như thân nấm
mỗi ngày một lùn đi
tâm hồn ta cọc lại
ai làm người như tôi ?
2.
mịn màng như nỗi chết
hoang đường như tuổi thơ
chưa một lần hé nở
trên ngọn cờ không bay
đôi mắt nàng không khép
bàn tay nàng không thưa
lọn tóc nàng đêm tối
khư khư ôm tình dài
ngực tôi đầy nắng lửa
hãy nói về cuộc đời
tôi còn gì để sống
hãy nói về cuộc đời
khi tôi không còn nữa
sẽ mang được những gì
về bên kia thế giới
thụy ơi và thụy ơi
tôi làm ma không đầu
tôi làm ma không bụng
tôi chỉ còn đôi chân
hay chỉ còn đôi tay
sờ soạng tìm thi thể
quờ quạng tìm trái tim
lẫn tan cùng vỏ đạn
dính văng cùng mảnh bom
thụy ơi và thụy ơi
đừng bao giờ em hỏi
vì sao mình yêu nhau
vì sao môi anh nóng
vì sao tay anh lạnh
vì sao thân anh rung
vì sao chân không vững
vì sao anh van em
hãy cho anh được thở
bằng ngực em rũ buồn
hãy cho anh được ôm
em, ngang bằng sự chết
tình yêu như ngọn dao
anh đâm mình, lút cán
thụy ơi và thụy ơi
không còn gì có nghĩa
ngoài tình anh tình em
đã ướt đầm thân thể
anh ru anh ngủ mùi
đợi một giờ linh hiển
(3-68)

Em Là Trăng. Trăng Soi Biển Dâu

tranvanle

Cánh cửa thời gian đã mở ra
Cảm ơn Thu nhé đến thăm nhà
Trăng vàng mà giậu mồng tơi tím
Trăng cũng vàng trên cả ruộng cà!

Chợt nói làm chi màu tím nhỉ?
Là buồn nên mới nói mông lung?
Em mười bảy tuổi xa hồi đó
Cánh cửa thời gian khép. Lạnh lùng!

Cánh cửa thời gian khép…Khép hoài
Tôi thì tan tác một đời trai
Cũng mong non nước ngày tươi đẹp
Đâu nghĩ mùa Thu tiếng thở dài!

Nay ở xứ người…trăng rất sáng
Rất bình yên, Trời ạ, bình yên
Rồi mai rồi mốt, trăng Mười Bảy
Nhìn biển, lòng thêm nỗi nhớ em!

Mình thật xa từ năm Bảy Lăm!
Mình thật xa giọt lệ khôn cầm!
Em đi ra biển không tin tức
Anh cải tạo về…đứng lặng câm!

Em có chồng, anh đâu có giận?
Em sang sông, thật anh có buồn!
Không hờn không giận nhưng mà tiếc:
Hoa Tầm Xuân mờ trong màn sương…

Đêm nay trăng sáng, trăng Thu sáng
Không gió mưa không mờ trăng Thu
Em cũng không mờ khuôn mặt ngọc
Em là trăng, trăng soi biển dâu!

Nghĩ tới Quê Hương, nghĩ tới mình
Tại sao Trời cứ bắt điêu linh?
Trời cho trăng sáng sao không rực?
Rực rỡ nhân gian một chữ Tình!

Trần Vấn Lệ

TỰ KHÚC MÙA HẠ

hoangvancham

Ta cuốn giấc mơ đêm
Gối tay thương lầm lỗi
Chiếu chăn lẻ loi khúc nhớ…
Bỗng chợt về.
Em như đầu giường ru câu tình lỡ
Cánh mộng đầu đời thức ngủ với cơn mê.

Ta đếm giấc mơ đêm có bao vết xước
Hằn nét phôi pha… nóng bỏng dấu tình phai
Em mịt mờ khói sương con dốc đời thầm lặng
Một thời nhớ quên câu hát xưa ru lòng ai.

Ta đếm bao lần về có mùa hoa tím phố
Em giấu kín niềm đau… thì thầm như nhịp thở sông quê
Nối tiếp mùa bằng lăng như nâng niu nỗi nhớ
Níu một bước đi xa như còn mãi… cõi về.

Ta đếm giữa muộn màng bao tiếc ngùi cách biệt
Bay theo tóc gió thương chiều đôi bờ
Con nước xuôi… chiều không em xao động
Rung nhẹ cung trầm thăm thẳm… một khung thơ.

Ta đếm bao cuốn xô ngược về ký ức
Áo lụa chìu lòng em về phía không nhau!
Dấu nghìn trùng gọi tên môi khô mắt ướt
Vầng trăng trôi xa nghiêng lòng bao niềm đau.

HOÀNG CHẨM