THỨC DẬY ĐI

trantrungdao

Mặt trời mới mọc bên kia biển
Hay lửa phương đông báo hiệu mùa
Thức dậy đi em giờ đã điểm
Mẹ khóc lâu rồi em biết chưa?

Thức dậy đi hỡi rừng núi cũ
Nghe tiếng nghìn xưa vọng trở về
Ai đứng trông ai mùa lá đổ
Mà lòng thao thức mấy đêm khuya

Ai khóc đêm nay ngoài ải Bắc
Phải hồn sương phụ ngóng phương xa
Hay tiếng Phi Khanh trào nước mắt
Về đi, lấy máu trả thù cha

Thức dậy đi hồn thiêng sông núi
Gió Nam Quan xô sóng Bạch Đằng
Nửa đêm không bóng người bên suối
Sao tiếng gươm mài vang dưới trăng

Thức dậy đi hỡi lòng vô lượng
Ngại ngùng chi đau khổ điêu linh
Dù cho nước vẫn còn nhơ đục
Nhớ giữ cho nhau một chút tình

Thức dậy đi đồi cao dốc sỏi
Đất đá mòn theo mỗi vết chân
Gã tù lặng đứng nhìn mưa đổ
Đâu biết xuân qua chỉ một lần

Thức dậy đi màu nâu của đất
Màu xanh trong ánh mắt của em
Bao nhiêu năm ngồi nghe nhau khóc
Đã đủ chưa máu chảy ruột mềm?

Thức dậy đi từng trang lịch sử
Những chuyện buồn vui lẫn tủi hờn
Như mắt mẹ nghìn đêm không ngủ
Thương đám con khờ chưa lớn khôn.

Trần Trung Đạo

Tôi biết ơn Việt Nam Cộng Hòa

nguyenngocgia

Một số người trong nước cũng như người Việt hải ngoại cho rằng không nên vực dậy “xác chết” có tên Việt Nam Cộng Hòa.

Tuy nhiên, lịch sử là nguồn cội của bất kỳ dân tộc nào. Lịch sử là khoa học và tính Người được thể hiện cao nhất từ đó. Bất kỳ một giai tầng nào hay một bậc vua chúa hoặc một nhà độc tài nào đi nữa, cũng không thể nào trốn được lịch sử. Lịch sử là Con Người.

Lịch sử dù đau thương như VNCH đã để mất Hoàng Sa, hay đáng tủi hổ như công hàm 1958 của VNDCCH và hội nghị Thành Đô của CHXHCNVN cùng nhiều biến cố sự kiện quan trọng khác không thể không nhắc lại.

Nhắc lại để hiểu rõ hơn và để cho thế hệ con cháu hôm nay, ngày mai nghiền ngẫm, dọn mình cho một thời đại mới – đang bắt đầu ló dạng. Tôi không biết mình có mơ mộng hão huyền trong tình thế của nước CHXHCNVN hôm nay không, nhưng trong tâm hồn tôi, từ lâu, tôi muốn nói: Cám ơn Việt Nam Cộng Hòa – Nhà Nước mà ở đó, làm cho tôi “Trích Lục Bộ Khai Sanh” [*].

Sài Gòn – nơi tôi được sinh ra, lớn lên, chứng kiến một góc nhỏ nhoi những trầm luân của số phận dân tộc Việt Nam.

Dù VNCH tồn tại ngắn ngủi, nhưng tôi không sao quên được cuộc sống chan hòa nhân ái của tuổi hoa niên, dù ngay trong những ngày chiến tranh lửa khói.

Hôm nay, bỗng nhiên trong tôi bật ra lời thành tâm này. Tôi viết với nỗi xúc động rưng rưng trên khóe mắt, khi xem lại hình ảnh những tử sĩ đã ngã xuống tại Hoàng Sa – Trường Sa ngày xưa.

Thay mặt gia đình,

Như đã viết rải rác trong nhiều bài trước đây, tôi sinh ra và lớn lên tại Sài Gòn, trong một gia đình trung lưu với việc làm ăn phát đạt, dần dẫn đến giàu có hơn.

Thật ra, sau này tôi mới biết ba tôi là “Việt Cộng nằm vùng”, do đó có thể nói, gia đình tôi là gia đình “ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản”. Cách đây vài chục năm, khi nghe câu này, tôi khá giận dữ và cảm thấy bị sỉ nhục. Cảm giác đó dễ hiểu bởi sự thật chưa được phơi bày như sau này.

Tuy nhiên, cũng nhờ đó mà tôi tự tìm tòi. Tôi nghĩ, không có cách gì thuyết phục nhất cho mỗi người, nếu như tự thân mình không chủ động tìm hiểu và can đảm nhìn thẳng vào Sự Thật. Nhìn một cách thẳng thắn, không hề né tránh là điều chưa bao giờ dễ dàng, cho bất kỳ ai, cho bất kỳ điều gì, không riêng lãnh vực chính trị.

Ít nhất, cho đến nay, tôi có thể nói, tôi đã nhìn thẳng vào Sự Thật mà tôi biết, tôi tin một cách có căn cứ.

Từ cảm giác giận dữ, dần dần tôi chuyển qua cảm giác nhục nhã. Nhục nhã vì sự vong ân bội nghĩa của gia đình mình đối với Quốc Gia mà từ đó gia đình tôi làm ăn khá giả một cách chân chính, còn bản thân tôi lớn lên từ đó.

Tôi không có ý định chạy tội cho ba tôi hay những người thân khác. Suy cho cùng, gia đình tôi vừa là đồng phạm, vừa là nạn nhân của cộng sản. Đó là sự thật. Ba tôi chưa bao giờ giết bất kỳ một ai.

Ba tôi đã chết dưới tay người cộng sản. Tôi có căm thù không? Có. Có muốn báo thù không? Đã từng. Điều mỉa mai, ba tôi chết không phải vì người cộng sản trả oán hay trù dập mà cái chết của ba tôi đến từ sự “ân sủng” dành cho ông – một người chưa bao giờ cầm một đồng tiền bất chính nào, cũng như chưa bao giờ nhận bất kỳ sự “ban ơn” nào từ người cộng sản. Một cái chết khá đặc biệt trong muôn vàn cái chết, do người cộng sản gây ra. Có thể đó là một niềm an ủi cho tôi. Cũng có thể đó là một ơn huệ của Ơn Trên, đã sắp đặt cho ba tôi một cái chết không hề nhơ nhuốc mà nhuốm màu thê lương trong một con người thơ ngây và chơn chất. Nhưng đó là câu chuyện quá vãng của gần 20 năm về trước, không phải những gì tôi muốn viết hôm nay.

Tôi có ba người chú ruột đều được “phong liệt sĩ”. Cả ba người đều chết thời Pháp. Bà nội tôi được “tặng” “bà mẹ Việt Nam anh hùng”. Tôi có hai người cậu ruột, trốn ngoại tôi để đi tập kết năm 1954. Hai người cậu ruột khác lại làm trong chế độ VNCH. Hai người cậu này đều có chức phận vào thời bấy giờ. Tôi có một người chị ruột làm trong nhà thương và “thân cộng” lúc đó. Một người anh ruột là sĩ quan thuộc quân lực VNCH (nhưng thật ra là VC nằm vùng), một người anh ruột khác là hạ sĩ quan cũng thuộc quân lực VNCH (thuần túy là lính, không quan tâm và tham gia vào chính trị, cũng như không phải VC nằm vùng). Tôi có vài người anh, chị ruột nữa, họ là dạng “cách mạng 30/4”. Một số bà con thân thuộc nội ngoại khác, người thì ở trong “khu”, người lại chống Cộng triệt để. Vài người khác, người thì là quân nhân, người nữa lại là công chức của VNCH v.v…

Hồi trước 1975, đa số gia đình đều đông con. Ít thì ba, bốn; nhiều thì chín, mười. Có gia đình lên đến mười hai – mười bốn người con, đều bình thường trong nếp sống lúc bấy giờ. Một đời sống sung túc, hầu hết gia đình khá giả, đều giống nhau suy nghĩ: nhiều con là phúc lộc Trời cho. Chế độ VNCH cũng không có việc “sinh đẻ có kế hoạch”. Mắn đẻ lại là điều tốt mà phụ nữ thời xưa luôn tự hào. Cuộc sống dung dị như thế. Không chỉ riêng những gia đình giàu có mà có thể nói hầu hết đều tương tự như vậy.

Dông dài như thế, để nói rằng giòng tộc nội ngoại của tôi khá phức tạp. Giá như…

Vâng, chính cái “giá như” nó đã làm hầu hết giòng tộc, anh chị em đại gia đình tôi “tan đàn xẻ nghé” từ dạo ấy. Dạo mà “rầm rập bước chân ta đi rung chuyển đường phố Sài Gòn” với ngày 30/4/1975 (!)

Một giòng tộc như thế mà nói đến “đoàn kết” (như CSVN đang kêu gọi) thì quả là… hài kịch.

Ba tôi và anh chị tôi đã từng đi tù dưới chế độ VNCH. Ba tôi ra tù sớm, chị tôi thì được tha bổng sau vài tuần tạm giam, vì không đủ chứng cớ kết tội. Riêng anh tôi nhận án “20 năm khổ sai” và bị đày đi Côn Đảo cho đến (tất nhiên) 1975.

Điều tôi cám ơn Nhà Nước Việt Nam Cộng Hòa thật giản dị:

– Ngày ba tôi ra tù, ông vẫn mạnh khỏe. Về đến nhà chỉ một tuần sau là ông có thể bắt tay trở lại công việc làm ăn.

– Suốt thời gian ba và anh chị tôi bị điều tra cho đến lúc kết án chính thức, gia đình tôi (những người không liên quan) không hề bị săn đuổi, bắt bớ vô pháp, hành hung, xách nhiễu v.v… Má tôi đã gánh vác mọi việc làm ăn vào lúc đó. Chúng tôi vẫn đi học bình thường và sống trong môi trường không hề bị kỳ thị của bất kỳ thầy cô hay bạn bè nào. Hàng xóm láng giềng cũng không vì thế mà ghẻ lạnh, hắt hủi hay tiếp tay như kiểu bây giờ mà người ta gọi là “đấu tố thời đại mới”.

– Anh tôi – người ở tù Côn Đảo, ngày trở về đất liền vẫn mạnh khỏe, dù ốm o đen đúa, nhưng không hề mang thương tật gì cả.[**]

Cá nhân tôi,

Tôi cám ơn Việt Nam Cộng Hòa, không chỉ vì tôi được sống trong một xã hội – có thể chưa phải là tốt đẹp nhất – nhưng tốt đẹp hơn chế độ cộng sản 39 năm qua, mà tôi còn biết ơn vì tôi đã hấp thụ được nền giáo dục, có thể nói, cho đến nay 39 năm, dù VNCH không còn, dù CHXHCNVN cố gắng “cải cách” giáo dục nhiều lần rất tốn kém nhưng không hề mang lại chút tiến bộ nào khả dĩ. Và nói cho công bằng, giáo dục hiện nay tính về chất lượng, vẫn không thể nào đạt được như trước 1975 của miền Nam.

Nền giáo dục trước 1975 mà tôi hấp thụ, dù ngắn ngủi, nó thật sự là nền giáo dục nhân bản và khai phóng. Trung thực và hiền lương. Ganh đua nhưng không đố kỵ. Biết phẫn nộ nhưng không tàn ác. Đặc biệt nền giáo dục đó giúp cho hầu hết học trò luôn biết dừng lại đúng lúc trước cái sai với nỗi xấu hổ và tính liêm sỉ – tựa như “hàng rào nhân cách” được kiểm soát kịp thời.

Chính xác hơn, tôi cám ơn Thầy – Cô của tôi, có lẽ bây giờ hầu hết đã qua đời, nếu còn sống chắc cũng đã nghễnh ngãng hay quá già yếu.

Tôi biết ơn các Giáo sư [***]. Tôi muốn nói rõ: Tôi không hề có danh vị, bằng cấp gì cả.

Tôi biết ơn Thầy – Cô của tôi, vì nhiều độc giả thương mến (có lẽ qua những bài viết), họ ngỡ tôi là: giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ, nhà văn, nhà giáo v.v… nhưng tôi thưa thật, tôi chỉ là một người “tay ngang” trong viết lách. Qua từng bài viết, tôi rút ra kinh nghiệm. Đặc biệt, tôi luôn cố gắng viết cẩn trọng và khách quan nhất để thuyết phục độc giả. Tính cách này, tôi đã học từ Thầy – Cô tôi, ngày xưa. Dù môn Văn Chương ngày ấy, tôi luôn nhận điểm thấp tệ.

Tôi biết ơn Thầy – Cô của tôi cũng vì, sau 1975, cả nước rơi vào đói kém, làm cho “tính người” trong xã hội cũng mai một dần và tôi không là ngoại lệ. Thảm trạng xã hội lúc đó biến tôi trở nên chai lỳ, mất cảm xúc và lạnh lùng. Đặc biệt “chữ nghĩa” hầu như trôi sạch hết cùng những “tem phiếu”, “xếp sổ mua gạo”, chầu chực “mua nhu yếu phẩm” v.v… ngày xưa.

Về sau này, khi cuộc sống đỡ hơn, tôi có thời gian hơn cùng với thời cuộc đảo điên, dần dần, tôi cảm nhận tôi “trầm mình” trong nỗi đau của bản thân, gia đình, từ đó tôi mới thấu hiểu những điều ngày xưa tôi học và tôi giật mình vì sự lãng quên đáng trách đó.

Tôi tìm lại được “tính Người” mà bấy lâu nay tôi đánh mất.

Một lần nữa, tôi cám ơn Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa và các Thầy – Cô của ngày xưa.

[*] Vì những năm loạn lạc, đặc biệt tết Mậu Thân, nhiều nơi cháy nhà và thất lạc giấy tờ. Sau khi tạm bình yên, má tôi đã ra Tòa Hành Chánh Quận 3 thời bấy giờ để làm “Trích Lục Bộ Khai Sanh” cho tôi.

Nguyễn Ngọc Già

——————

[**] Tôi nhớ khoảng đến cả tháng sau (tức đâu khoảng cuối tháng 5/1975) anh tôi mới về tới SG, nhưng chưa được về nhà ngay mà ở đâu đó (lâu quá rồi tôi không còn nhớ địa điểm, hình như lúc đó ở tại một trường học nào đó thì phải?) đợi thẩm vấn điều tra từ “chính quyền cách mạng lâm thời” lúc bấy giờ, đâu hết cả hai tuần nữa mới được về nhà. Tôi nhớ lúc đó, tôi hỏi anh tôi rất ngây ngô: Ủa! Sao hơn cả tháng trời anh mới về nhà? Anh tôi cười và im lặng không nói. Mãi về sau, tôi mới lò mò tìm hiểu, thì ra, dù là “phe mình”, nhưng bản chất người cộng sản là “bản chất Tào Tháo”. Họ có tin ai bao giờ đâu! Họ giữ lại tất cả tù chính trị để điều tra xem thử có phải là gián điệp (các loại) được cài lại hay không (để tính chuyện lâu dài).

[***] Trước 1975, từ đệ thất (nghĩa là lớp 6 bây giờ), Thầy – Cô được gọi là Giáo Sư – một cách gọi trân trọng, không phải học hàm như bây giờ nhiều người biết.

NHỮNG NGÀY Ở KHÁNH HỘI

nguyenanbinh

Nhìn cao ốc ngày mọc lên như nấm
Đời cứ trôi theo từng bước chân quê
Đi một chút đường như bàn cờ trận
Lạc qua sông không thấy lối quay về.

Tiếng búa máy len vào trong giấc ngủ
Đêm nằm mơ thấy mây khói quê nhà
Tôi xa lạ giữa Sài Gòn trăm ngả
Nhà tầng tầng nuốt mất khoảng trời xa.

Ngày vẫn đi bánh xe đời vẫn chảy
Nước qua cầu ai biết được về đâu
Đèn vẫn sáng Sài Gòn dường không ngủ
Tiếng rao dài nghe hun hút đêm sâu.

Thương biết mấy những mảnh đời hạ bạc
Trên dòng kênh trôi nổi kiêp thương hồ
Mui nhiều màu xác xơ bờ Kênh Tẻ
Bao phận người chấp vá những ước mơ.

Mưa theo tôi suốt những ngày Khánh Hội
Tàn lá xanh đâu kể hết buồn vui
Thèm một chút khói sương trời quê cũ
Dòng sông xưa chỉ còn lại ngậm ngùi.

NGUYỄN AN BÌNH

RẰM LỄ CHÙA

mocmienthao

Hương trầm rơi nhè nhẹ
Trên tiếng chuông chùa xa
Nép mình vào hiên gió
Thoáng áo dài thướt tha

Cứ mỗi độ trăng tỏ
Thoang thoảng hương trầm bay
Tiếng kinh trong tiếng mõ
Gót hài em qua đây

Mong ánh trăng sáng mãi
Trên bốn mùa thơ ngây
Được ngắm em qua lại
Khi viếng lễ chùa nầy.

Bonus:
Hương trầm rơi nhè nhẹ
Trên đóa quỳnh nở đêm
Tiếng chuông khuya khe khẽ
Trên trăng xưa bồng bềnh
Của một thời để nhớ
Cho một ngày để quên…

MỘC MIÊN THẢO

ĐI VỀ PHÍA CON NGƯỜI: KÝ ỨC SẮC MÀU ( truyện dài)

ledachoanghuu

Chuyện rằng ở một làng hẻo lánh heo hút nọ có một bà mụ rất mát tay. Bà đỡ cho sanh nở được mẹ tròn con vuông hông chỉ trong làng, mà các làng kề cận đều một tay bà của bà lo liệu. Một bữa sáng còn sương đọng, bà thức dậy thì hoảng hồn đứng như trời trồng bởi ngay trước mặt, trong sân nhà là một ông hổ trắng, nhưng nhận biết bà đang run sợ, ngay lập tức hổ lắc đầu liên tiếp, sau đó khụy hai chân sau xuống, trở thành dáng thế ngồi, hai chân trước chắp thành hay tay, cuối đầu xá lạy liên tục. Ngừng lạy thì thấy bà vẫn còn tròn mắt, hổ ta tiếp tục lạy nữa. Chừng bà hiều rằng hổ cần giúp việc gì đó chớ muốn quật bà thì phóng ào vào cái một là xong. Bà gật đầu ra hiệu đã hiểu. Hổ liền mọp thân xuống ý mời bà lên. Bà lấy hết bạo dạng làm theo. Hổ đứng dậy cõng bà chạy như bay bằng hai chân tới một hang động. Trong hang có một con hổ cái nằm đau đẻ rên hừ hừ nhưng hông đẻ được. Tới đây thì bà đã rõ. Bà hết sức cứu giúp, hổ cũng mẹ tròn con vuông ra đời. Hổ cha vui mừng cõng bà quay về. Từ đó, cứ lâu lâu, buổi sáng thức dậy bà lại thấy trong sân có các loại thú rừng giống như của ông thầy Bí Ẩn, như một sự trả ơn cho bà. Vì vậy người ta đồn rằng ông như hổ tinh và có hàm ơn gì đó với người làng nên báo ân.
Một giai thoại truyền lại nữa là của những người thợ khai thác gỗ. Ngày trước, mùa mưa đi mần gỗ thường đưa về bằng cách chờ có có mưa lớn, nước đầu nguồn chảy mạnh sẽ thả gỗ cho trôi theo dòng suối, chỉ việc cặp bờ đi theo, gỗ bị đâm đầu vào bờ hay vào đá, nói chung là vướng chướng ngại vật thì lấy cây sào mà đầy mà xỉa cho nó bung ra khỏi là trôi tiếp. Đưa về cách này rất nhẹ nhàng, đỡ nhiều công sức người và trâu bò. Một bữa gỗ về ngang hòn đảo Bí Ẩn thì bị đâm sầm vào mấy tảng đá lớn, đợt này gỗ nhiều, nước cũng mạnh nên ào ào dồn chất đống, không cách gì đẩy ra nổi. Tới điểm tập kết cũng còn khá xa, đưa lên ngay đây đưa đi tiếp khá nhọc công. Toán thợ đành ngồi đốt thuốc bên bờ tìm cách, bàn nhiều cách sao cho an toàn nhứt mà chưa ra. Đang nhăn mặt, nhíu mày suy nghĩ chợt nghe rầm rầm, cây gỗ lúc nhúc dạt ra rồi từ từ trôi đi. Rất là kỳ lạ, chẳng thấy tác động gì, cây gỗ như tự động di chuyển. Và một vài người theo sau cùng với gỗ thấy thấp thoáng bóng trắng ẩn hiện trong các lũy tre bên kia bờ. Từ đó ông thầy Bí Ẩn là hổ tinh người ta càng tin hơn cho tới tận lúc này.
Với cu Sô do đã thấy thoáng dáng ông và có điều gì đó khang khác trong mắt ông Tiên kể chuyện khi ông nhắc tới rồi bỏ qua liền nên nó không tin là vậy. Trong đầu nó xuất hiện một màu thần chưởng. Nó đọc được những cuốn truyện về võ thuật, võ công siêu phàm của ba nó cất giấu được. Nó nghĩ ông thầy Bí Ẩn như những người tu luyện lâu năm trong động, trong cốc, râu tóc bạc phơ, sống lâu hơn trăm tuổi nên đã đạt được nội công thâm hậu, đạt được thần chưởng và ông là giáo phái tâm đạo chứ không phải là tà giáo nên cứu nhân độ thế.
Một buổi hoàng hôn êm ả mát mẻ nhưng đượm buồn, mảnh đất bên này suối giáp ốc đảo Bí Ẩn lại một lần nữa loang máu đổ. Lần này không phải là tai nạn mà máu thổ huyết tràn lênh láng của một ông là hậu duệ cha ông khai phá đất này. Đổ biết bao công cức, biết bao mồ hôi nước mắt và cả máu mới nên nhưng bây giờ người ta trưng thu tất cả để vào hợp tác xã. Chỉ chừa lại mảnh đất nho nhỏ làm vườn xung quanh nhà. Ông đau buồn sinh bịnh. Người ta lại phát cho một bọc thuốc từ trạm y tế, bọc thuốc xuyên tâm liên gọi là thuốc trị bá bịnh, như là thần dược. Những người hiểu biết chỉ có lắc đầu, trên đời làm gì có thuốc thần tiên. Xuyên tâm liên cũng tốt như chỉ dành cho một số bịnh nào đó thôi. May, khi ngã xuống, xung quanh bốn bề vắng lặng như tờ thì ông lờ mờ thấy được người bận nguyên bộ đồ trắng, râu tóc cũng trắng phau cứu giúp, ông không biết bằng cách nào nhưng máu ngưng chảy rồi ông được đưa về nhà bằng cách nào đó cũng rất bí ẩn cùng bọc thuốc Nam với cả chỉ dẫn. Con cái ông ở nhà cũng không hề hay biết, chỉ thấy ông đã nằm gọn trên tấm phản trong nhà với bọc thuốc này. Và ông chắc chắn đó là ông thầy Bí Ẩn. Câu chuyện lan truyền cu Sô nghĩ rằng không chỉ giỏi về võ thuật võ công, ông thầy Bí Ẩn còn rất giỏi về các bài thuốc chữa bịnh trong dân gian.
Những năm tháng bà con cô bác phải vào làm ăn tập thể, ốc đảo Bí Ẩn vẫn không ai đá động tới, ông thầy Bí Ẩn vẫn một mình một cõi nơi đây.

Từ khi nghe được câu chuyện cha ông đi khai hoang, cu Sô không còn ghét đêm tối trời.
Đêm tối trời nó vui mừng là đêm có đom đóm. Nó bắt chước ông Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi bắt đom đóm bỏ vào vỏ trứng. Vỏ trứng khá hiếm nên phải giữ kỹ càng. Bắt đom đóm làm đèn phát sáng vui chơi chớ không phải lấy ánh sáng học bài. Nó vẫn còn có cây đèn dầu hột vịt dù leo lét và hay bị tắt ngúm do ngọn gió thổi ngang khi bị bể bóng đèn, chưa kịp có bóng mới để thay, bóng đèn cũng thuộc hàng xa xỉ nhưng buộc phải có, còn hiếm hơn vỏ trứng. Cái đèn dầu lớn hao dầu nên chỉ đốt những dịp tết, giỗ quảy, có khách quý… Ý nghĩ là lạ trong nó rằng, nhờ đom đóm mà ông Trạng nguyên thành tài. Nó cũng muốn như vậy, muốn soi những vùng u tối trong mình, nhiều chuyện khó hiểu với nó quá chừng quá đỗi. Có lúc nó lóe lên, hiểu ra một điều, nó thấy mình phát sáng, đó là lúc vui mừng hơn tất cả, càng tự tin sẽ tiếp tục phát sáng. Và đó là niềm hy vọng để nó chờ đợi đêm tối trời.

Đom đóm có khi nhiều có khi ít.
Ta cũng vậy, bản nhạc có khi dài, có khi ngắn. Có khác là bản nhạc khó làm nên từ một hay vài nốt. “Tưng” – “Vui”, “Tưng tứng từng” – “Vui quá chừng”, có thể là một bài nhạc, nhưng chưa đủ vui, lặp đi lặp lại thì nhàm chán.
Đom đóm thì có một con giữa đêm tối trời.
Cu Sô thấy một đốm phát sáng. Nó chạy lại định bắt thì vấp té cái đụi, ngã lăn quay. Một ánh đén pin sáng lên rọi vào nó. Tiếng quát lớn đi theo sau:
“Thằng quỷ sứ. Phá hả mậy, gông cổ bây giờ.”
Liền ngay đó là tiếng chân người vùng chạy ào ào chỗ gốc cây lớn gần kề. Nó đứng dậy rúm người trong ánh đèn pin và tiếng quát mà chẳng biết ất giáp gì rồi bị nhéo tai buộc chỉ đường đưa về nhà, giải thích bao nhiêu cũng bằng thừa. May ở nhà còn cái đèn đom đóm mà con đom đóm nằm chết queo với xác nhận của cha nó mới tạm thoát, vẫn còn nghi ngờ phá đám. Cha nó im lặng không la chửi, chỉ kêu đi ngủ. Làm sao nhắm mắt được với tội lỗi tày đình bị gán ghép này. Qua mẫu đối thoại bên ngoài và những mẫu chuyện đàn anh lớn hơn kể lại nó mới biết thêm, ngoài ma quỷ, trong đêm tối trời còn có màu lén lút và màu rình mò. Một cặp đôi nào đó lén lút bên gốc cây, phả ra màu hơi thở gấp gáp nóng hổi, màu đôi môi run run chạm vào nhau nồng cháy, rồi màu trầm xuống, màu của nín thở, bàn tay lần mò, lần mò bật nút áo sao cho nhẹ nhàng nhứt, sao cho không phát ra tiếng động, tới màu của nín thở hết sức có thể để phát ra thì thào, anh yêu em và ngược lại em yêu anh vừa đủ cho đôi tai của nhau nghe… Đó là màu của cây mắc cỡ, ai động vào sẽ khép lá ngay tức thì, mắc cỡ không biết đi, biết có lẽ cũng trốn vào đêm tối. Màu của rình mò cũng nín thở nhưng nín thì cũng phải phả ra, phả ra hơi không nóng hực mà bốc mùi khó ngửi như tiếng xì hơi bị dồn nén. Màu này kèm màu mắt lăm lăm, mắt cú vọ rực sáng trong đêm tối, màu thân thể của chó sói chực vồ mồi… Rình mò để chực bắt tại trận những kẻ lét lút hò hẹn bị gán cho là lăng loàn. Nó cũng chưa hiều rõ nghĩa lăng loàn là gì, mơ hồ là bậy bạ, là sai trái. Những ánh mắt rình mò mang tên cán bộ, kết hợp rất nhiều, cán bộ xã đội, công an và văn hóa, đôi khi có hội phụ nữ, đoàn thanh niên… Những kẻ tuổi thanh niên cả nam lẫn nữ “lăng loàn”, những kẻ tuổi thanh niên cả nam lẫn nữ chưa “lăng loàn” được cán bộ dạy bảo luôn luôn mang trong mình một tình yêu trong sáng, một tình yêu minh bạch, một tấm gương trinh nguyên… Cu Sô chưa biết tức cười, nó chỉ thấy sự mâu thuẫn, sự lạ đời. Người ta cũng dạy cho những kẻ tuổi thanh niên cả nam lẫn nữ “lăng loàn”, chưa “lăng loàn” rằng phải có tư tưởng mới, tư tưởng tiến bộ, tư tưởng tự do, đến với nhau bằng tình yêu tự do, không bị áp đặt, không bị tư tưởng cổ hủ áp đặt là cha mẹ ông bà đặt đâu ngồi đó, không mối lái mai mối mồi chài trong tình yêu… Tự do là phải ngồi một đống trước làng nước qua lại để trò chuyện, tìm hiều rồi nói anh yêu em, em yêu anh không chút ngượng ngùng hay sao? Không được thử hơi thở có nóng hổi, có hòa hợp, đôi môi có run run thiệt tình trong tình yêu, hay phải thử trước làng nước? Thanh niên là phải hùng hồn, là phải anh dũng, là phải kiên định, là phải lập trường… cho dù là nữ cũng phải vậy(!). Cọc đi tìm trâu thì có sao(?!). Không được tồn tại khái niệm mắc cỡ, ôi! cái loài hoa mắc cỡ thiệt kỳ quặc(!). Phát sáng trong đêm tối lần này nó đã lầm, nhảy vào chụp bắt không phải là đom đóm mà có thể là miếng đai nịch bằng inox hay viên đạn đồng, đạn bạc chưa lắp vào khẩu súng phát ra.
Đom đóm có khi có cả đàn. Cả đàn như bãi sao sa. Những đóm lân tinh đẹp hơn vì nó ở gần, tận mắt thấy nhấp nháy phát sáng rất sáng, rất lung linh. Những đêm như vậy nó không bắt nữa mà nằm sải dài người ngay bên cạnh, tiếp tục ước và dĩ nhiên nghĩ mình sẽ phát sáng rất sáng, rất lung linh.

Nó không ngã người một mình mà cùng với đám bạn con nít là ngã ở ụ rôm những đêm tối trời đầy sao. Bầu trời đầy sao đẹp đẽ chỉ sau đàn đom đóm bởi đom đóm thấy ngay cận kề. Có bữa nó nghe chuyện trò, kể chuyện, có bữa nó bỏ qua, chằm chằm bầu trời mà đếm sao. Nó ví con người như những vì sao. Sao ông sao bà, sao cha sao má, sao anh sao chị sao em, sao bạn bè, sao bà con xóm giềng… Những sao lớn nhưng xa xôi là những người cán bộ và của thầy cô.
“Của thầy cô mà xa xôi?”
“Ừ, của thầy cô.”
Một lúc nào đó ta sẽ tấu khúc nhạc vui nhộn nhưng có xen nhiều dấu lặng, sẽ gặp nó ở điều này.
Cu Sô cảm nhận về sao dừng lại ở đó. Cũng như những giọt sương long lanh, về sau nó mới nhận ra hết vẻ đẹp của sao, của ánh trăng.

Có một đêm tối trời nó rất mong chờ, đây là đêm tối trời nhứt, đó là đêm ba mươi. “Tối như đêm ba mươi”, đêm tối như mực đã được lưu truyền trong dân gian không biết từ bao đời, có lẽ từ ngàn xưa. Đêm ba mươi, đêm cuối cùng, cánh cửa cuối cùng khép lại một năm. Đêm tối nhứt lại chuẩn bị mở một cánh cửa cho một năm mới. Một năm phía trước chưa biết ra sao nhưng chí ít mở ra ngày mùng một sáng tươi và những ngày xuân hồng, vui nhộn trước mắt. Nó khoái màu lửa bập bùng, màu những cục than to tướng từ những khúc củi bự cháy thành, củi lửa nấu nồi bánh tét, có mấy đòn bánh của nó trong đó, mấy đòn nhỏ xíu vụng về so với bánh tròn dài rất đẹp của cha của má làm thiệt điệu nghệ. Cả nhà thay phiên nhau canh chừng và lăng xăng chuẩn bị bông hoa, mâm ngủ quả. Lúc có một mình nó len lén bỏ vào mớ cành củi nhỏ, những cành củi đan chéo, chồng lên nhau cháy hết rụm xuống từ từ giống như tổ ong màu đỏ, như ngày đốt cỏ còn lại tàn lửa, trong lò cây củi đượm hơn, giữ lâu hơn và tự tay nó làm nên thấy đẹp tuyệt vời hơn. Mâm ngũ quả trên bàn thờ ông bà tổ tiên đã bày xong từ sáng cùng với bàn thờ Phật để buổi trưa cúng đón rước về cùng ăn tết. Đồ ăn ngon từ trưa còn lại nó còn no và ngán chớ không với bếp lửa này nó nghĩ ngay tới củ khoai lang lùi, trái bắp nướng… Mâm ngũ quả đang chuẩn bị là để giành giờ phút cúng mở cánh cửa năm mới, giờ phút giao thừa. Lăng xăng chuẩn bị nhưng rất nhẹ nhàng, nói năng nhỏ nhẹ hầu giữ cho bầu không khí tĩnh lặng, thật tĩnh lặng để chờ đón giờ phút thiêng liêng lắm lắm! Và cả tĩnh lặng để lắng nghe tiếng chuông chùa, tiếng chuông nhà thờ gióng lên từ xa xôi vang vọng tới cho đúng thời khắc, cha trang nghiêm đốt những nén nhang vái lạy. Không có tiếng điểm của đồng hồ, đồng hồ thuộc màu xa xỉ. Và sau đó là tiếng pháo nổ đì đùng. Làng quê thanh vắng tiếng nổ vang xa và vọng. Những viên pháo đỏ nổ tung tóe, xác lại ra màu hồng phơi đầy. Cu Sô nghĩ nôm na, có lẽ vậy mà được gọi là xuân hồng, bởi xuân sặc sỡ màu vàng, vàng của cội mai cổ thụ trước sân, vàng của gốc mai rừng chặt về chưng trong nhà, trong rừng cũng vàng mai khắp nơi, rồi vàng của vạn thọ, của cúc, của hướng dương, lát đát tô điểm vài màu cúc đỏ cúc trắng, một ít đỏ của mào gà không đủ khoe sắc với màu vàng tươi, tới ánh nắng cũng hao hao vàng. Qua thời khắc giao thừa nó lên giường ngủ vùi, phần do thức khuya phần buộc không nghĩ ngợi điều gì để sáng mai tránh kiêng cữ, tránh gương mặt ủ dột ỉu xìu, đầu tóc bù xù rũ rượi cạo gãi tứ tung, hay co ro vòng tay sát ngực… để đón xuân may mắn. Lúc này và vài năm về sau nữa không được như những năm trước nhưng tụi con nít vẫn vui. Vẫn có bộ áo mới súng sính chạy nhảy ra ngoài lộ mà xum xoe. Không có món xa xỉ khổ qua nhồi thịt, chả lụa, nem chua thì vẫn còn nồi măng kho dù ít thịt đi, nồi thịt kho hột vịt lưng bớt, vẫn còn hủ dưa món, khạp cải tà xị muối chua. Không có món xa xỉ bánh mứt thì vẫn có cái bánh in đóng bằng bột nếp lạt hơn bởi ít đường, học cốm đóng từ nổ nếp cũng vậy. Những thứ có được từ sự chắt chiu, nhịn nhục để dành, dù sao cũng là tết, đón ông bà cúng tổ tiên. Hơi buồn chút là thiếu tiền lì xì và những viên pháo lẻ đốt nổ bì bùm như những năm trước. Người lớn tới chúc tụng cũng ráng bỏ gương mặt lo âu, phiền muộn chán chường để hy vọng, nhâm nhi chút rượu với củ kiệu mà tôm khô đã búng bay đâu mất, hủ tai heo ngâm chua cũng vậy, đã “vẫy tai” chào đi…

LÊ ĐẮC HOÀNG HỰU

TRỜI XÁM

truongdinhphuong

Trời u ám, mây như tấm màn xám bọc lấy khoảng không gian, gió vần vũ, xác lá vàng rơi ngập đường. Nguyễn Du ngồi bên ấm trà nóng, mắt mơ màng nhìn vào cõi thinh không. Hình ảnh những phận người trong cõi trần gió bụi lần lượt lướt qua tâm trí Du.
Cuộc đời Du trải qua bao thăng trầm biến thiên, nay đã ngán ngẩm bả phù danh. Du chỉ muốn an nhiên tự tại thả hồn vào mây trời trăng nước, nhưng lòng Du cứ luôn đau đáu về số phận những kẻ thấp cổ bé họng trong cõi nhân thế này.
Du nâng chén trà uống một ngụm, vị trà sen thơm ngát lan tỏa, xông lên mũi làm tâm trí Du khoan khoái. Du như bồng bềnh trong cõi hư huyễn.
Du đang miên man trôi trong giấc mơ thì tiếng người nô bộc bất ngờ vang lên bên cạnh:
-Dạ bẩm ông.
Du giật mình choàng tỉnh quay lại hỏi khẽ:
-Có chuyện gì vậy?
Nô bộc đáp:
-Dạ thưa nhà cái Xoan cho người sang nhờ ông viết giúp bài văn tế ạ.
-Nhà Xoan ai vừa chết vậy?
-Dạ bẩm chồng thị đi tìm trầm trong rừng bị ngã xuống vực mà chết.
Toàn thân Du rúng động. Nhà cái Xoan hoàn cảnh bần hàn, Trần Chung chồng thị trước đây cũng là một tay học trò có tiếng nhưng vì đường công danh trắc trở đành gác việc bút nghiên, lao vào dòng đời kiếm miếng cơm manh áo.
Cha Trần Chung đã chết vì bị triều đình xử chém trong một vụ án văn. Nhà hắn còn mẹ già hơn tám mươi tuổi, một vợ và ba đứa con nhỏ.
Hai mắt Du rơm rớm lệ, khẽ nói:
-Ngươi vào mài mực rồi đưa giấy bút ra đây cho ta.
Người nô bộc đưa giấy bút ra. Du chấm mực viết một mạch xong bài văn tế , trao cho người nô bộc nói:
-Ngươi đưa sang cho nhà Xoan, à nhớ mưa ít đồ hương vàng thay ta sang thắp cho Trần Chung vài nén nhang nhé.
Người nô bộc dạ khẽ rồi cúi mình chào Du. Còn lại một mình Du lại chìm vào suy tưởng. Trên ngọn cau đầu hồi tiếng con cú rúc lên từng nhịp buồn thảm. Dưới mảnh sân rêu con chó co ro thu mình trong ổ rơm, ư ử rên vì lạnh. Du bất giác thở dài….
Mấy tháng nay Nguyễn Huệ đem quân ra thăng Long với danh nghĩa phò Lê diệt Trịnh. Kẻ sỹ khắp nơi tìm đến đầu quân cho Huệ. Khản bảo Du:
-Chú có tài sao không theo Huệ cống hiến vì dân vì nước.
Du lơ đãng nhìn đám mây cháy cuối trời khẽ nói:
-Ai cũng bảo Huệ là tay dũng tướng tài năng xuất chúng, có tấm lòng quảng đại, tài trí hơn người riêng em lại nghĩ khác.
Khản hỏi:
-Ý chú thế nào?
Du đáp:
-Anh chờ rồi sẽ thấy.
Dứt lời quay đi, im lặng. Khản lắc đầu, rời gót.
Đêm thu không khí êm như nhung. Du ngồi dưới ngọn đèn dầu lạc, tâm trí để cả vào ngòi bút, mỗi chữ như tút từ gan ruột, nước mắt Du lặng lẽ rơi.
Người nô bộc mỗi lần mở hé cửa ra nhìn thấy Du đang say sưa đưa bút, lắc đầu, đóng cửa lại. Du buông bút. Cho tay vào miệng, nghiến chặt. Năm đầu ngón tay bật máu. Du lẩm bẩm:
-Thế sự đa đoan, ta biết làm gì. Dòng sông đục ngầu ta chỉ là con cá nhỏ biết phương nào mà bơi về đây.

Sáng sớm mưa như trút. Du ngồi bên mái hiên ngắm mưa rơi. Lòng ngổn ngang trăm mối.
Thời gian này Du vẫn để tâm nghe tin tức ngoài Thăng Long. Huệ đã tiêu diệt bọn phản loạn và trao lại quyền bính cho vua Lê. Tuy nhiên đó chỉ là vẻ bề ngoài. Thực sự Huệ vẫn nắm toàn bộ quyền chính trong tay. Hôm qua Khản lại sang. Khản nói:
-Chú nói đúng, Huệ là tên khốn nạn. Hắn thừa nước đục thả câu, lần này hắn đem quân ra Hà Bắc thực chất là muốn chiếm đoạt giang san của nhà Lê chứ đâu phải có bụng tốt giúp dẹp phản loạn. Anh tính tập hợp kẻ sỹ kéo quân ra Bắc sống mái với Huệ một phen. Chú có ý kiến gì chăng?
Du nói:
-Anh đừng nên vọng động. Thời thế bây giờ đang hỗn loạn như canh hẹ. Nhà Lê cũng chả tốt đẹp gì. Cứ để cho Huệ và vua Lê đấu đá với nhau.
Khản nói:
-Thiên hạ nói chú là kẻ bạc nhược thật chả sai. Anh đã nhìn lầm chú.
Du nhìn theo dáng Khản lắc đầu. Khản cũng như mọi người vĩnh viễn không hiểu được tâm can của Du.
Mưa mỗi lúc một dữ dằn. Du tựa đầu lên tay, chập chờn đi vào giấc ngủ.
Thăng Long thành. Đêm mùa xuân. Du ngồi bên bàn, ngọn đèn dầu lạc khi mờ khi tỏ. Tiếng đàn nguyệt cầm như từng sợi tơ xuyên vào tâm hồn Du.
Mọi âm thanh cuộc sống lúc này dường như không còn tồn tại, chỉ có người con gái mảnh mai ngồi trước Du từng ngón tay thon mềm đang lướt trên những cung đàn ma mị.
Khuôn mặt người đẹp sầu như cánh hoa chiều muộn. Du lặng lẽ quan sát, lòng như không uống rượu mà say.
Trời khuya dần. Ngoài phố lác đác bước chân của những kẻ lang bạt. Du bước lại mở hé khung cửa sổ. Ánh trăng nhờn nhợt chiếu vào gian lầu nhỏ, không khí khăm khẳm.
Người đẹp đã dừng đàn, đang lặng lẽ nhìn Du. Du nói, âm thanh như vẳng về từ cõi xa xăm nào đó:
-Mai ta đi rồi, chả nhẽ nàng không có gì muốn nói cùng ta sao?
Bàn tay người đẹp khẽ vòng qua tấm thân gió bụi của Du, một cảm giác dịu dàng ấm áp. Tâm hồn Du chao đảo. Gió xuân như chiếc lưỡi tình nhân lả lướt trên khuôn mặt rám mùi dâu bể. Du cầm lấy bàn tay bé nhỏ của người đẹp.
-Lần này chia tay không biết có còn ngày gặp lại, nàng hãy vì ta mà sống cho thật tốt nhé.
Người đẹp tựa đầu vào vai Du, giọng oanh đượm nỗi thê lệ:
-Chàng không thể nán lại cùng thiếp thêm dù chỉ một ngày thôi sao?
-Đời kẻ nam nhi lấy gian nan làm thuyền, lấy đường xa gió bụi làm nhà, lấy khát vọng thay trời đổi đất làm chí hướng, nàng hiểu không?
-Thiếp hiểu. Những ngày qua ở bên nhau những tâm sự của chàng khiến thiếp thêm hổ thẹn bởi mình chỉ là gái giang hồ, phận liễu bồ mềm yếu không thể cùng chàng xông pha gió bụi cùng tạo nên nghiệp lớn.
Du thở dài:
-Trai thời loạn da ngựa bọc thây, gái thời loạn lênh đênh bể khổ. Thật đúng lắm thay!
Du quay lại, hai bàn tay đặt lên bờ vai thon của người đẹp. Hai đôi mắt nhìn nhau vừa đắm đuối thiết tha vừa trăm mối tơ vò.Người đẹp khẽ tựa vào ngực Du từng lời nói như bàn tay mượt mà xoa dịu trái tim Du:
-Chàng hãy ôm thiếp cho thật chặt có được không? Sao đêm nay thiếp thấy thân thể thiếp lạnh lẽo quá. Hãy sưởi ấm tâm hồn kẻ hèn mọn này trong những giây phút sau cùng để mai này hai ngả biệt ly mỗi khi mưa khóc sương hờn thiếp nhớ về đấng trượng phu để cõi lòng cô độc tìm thấy sự ấm áp.
Du ôm chặt người đẹp. Gió đêm lẻn qua khung cửa sổ đùa giỡn ngọn đèn dầu lạc chập chờn chực tắt.
Bên ngoài tất cả đã chìm vào sự im lặng muôn đời của đêm khuya. Du khép cửa sổ lại, dìu người đẹp đến bên giường….
Trái tim hai người tăng nhịp theo từng cung bậc cảm xúc. Du nói:
-Ta và nàng chỉ là hai kẻ lưu lãng giang hồ gặp gỡ nhau là duyên phận ly biệt cũng là duyên phận, xin nàng hãy nhận của Du này một lạy gọi là sự cảm tạ nàng bấy nay đã cho ta nương náu chốn này.
Người đẹp giơ tay ngăn cản:
-Đừng chàng đừng làm thế.
Tiếng dế buồn thảm thả vào màn đêm thăm thẳm. Bàn tay Du lần theo từng cúc áo của người đẹp…Hơi thở của người đẹp dồn dập.
-Không, ta không thể…
Du vùng đứng dậy. Chạy lại mở tung cửa sổ. Ngoài trời đang mưa. Từng giọt nước thi nhau bắn vào thân thể Du. Khuôn mặt Du ướt đẫm. Du thấy lòng mình ngập tràn sự thống khổ. Du yêu nàng nhưng Du không thể…
Người đẹp gài lại áo, lặng lẽ ngồi xuống bàn, những giọt lệ âm thầm rơi. Họ cứ như thế kẻ ngồi người đứng, mà trong tâm hồn đang từng cơn bão giông vần vũ…

Du tỉnh dậy chiều đã buông đầy mảnh sân gạch. Người nô bộc đặt ấm trà trước mặt Du nói khẽ:
-Dạ mời ông dùng trà.
Du quay lại nhìn người nô bộc cười, nụ cười của người bạn dành cho người bạn.
Du nói:
-Ngươi vào thu xếp hành trang, mai chúng ta lên kinh.

Đã gần bảy năm trôi qua, kể từ độ Du rời Thăng Long, bao nhiêu mong nhớ Du cất giữ dưới đáy lòng. Lần này quân Tây Sơn kéo ra Bắc , lòng Du bỗng trào dâng niềm lo lắng cho người con gái năm xưa. Du từng nghe người ta nói về Huệ. Huệ là tay kiêu hùng, sức vóc như mãnh hổ, trí tuệ hơn người nhưng Huệ lại là tay thô lậu trong lối hành xử với đàn bà. Những kẻ đi theo Huệ bảo rằng Huệ là kẻ háo sắc, thấy gái đẹp như chim ưng thấy gà con. Đã có biết bao nhiêu dân nữ bị chứng dâm cuồng của Huệ làm cho “nát liễu tan đào”. Huệ có thói quen mỗi lần hành lạc thường bắt người đàn bà cởi trần truồng nằm dưới nền đất rồi Huệ lấy rượu đổ khắp thân mình, Huệ lại vạch miệng đổ rượu cho đến khi đối phương say ngất ngư, lúc bấy giờ Huệ cởi hết áo quần đứng nhìn con mồi cười sảng khoái…
Mỗi lần Huệ hành lạc kéo dài cả tiếng đồng hồ, thõa mãn Huệ nằm lăn ra ngủ.Huệ ngủ thường hay ngáy.Tiếng nói của Huệ như chuông vỡ , cái uy khiến kẻ khác run sợ. Nhưng tiếng ngáy của Huệ lại ri rí như tiếng cú rúc trong đêm trường tăm tối.
Những thôn nữ sau khi đã bị Huệ chiếm đoạt sự trong trắng sẽ bị tiệt luôn đường sống, những kẻ dưới trướng Huệ lôi con mồi ra một nơi kín đáo bóp cổ cho đến chết rồi cắt nhỏ ra từng phần đào đất chôn chặt, sau đó san phẳng, người ngoài nhìn vào không thể phát hiện ra chỗ đó vừa bị đào xới.
Thủ đoạn đó của Huệ được bọn hạ nhân giấu nhẻm như mèo giấu cứt lại thêm những hành vi “ tự vẽ mặt anh hùng” của Huệ càng khiến nhân dân bốn cõi nhìn Huệ như một vị thánh sống. Trong quân của Huệ có tay Trương Thoại làm người chăm voi cho Huệ vốn là bạn tri giao của Du, thi thoảng hai người vẫn biên thư thăm hỏi nhau. Qua lời kể của Thoại, Du nắm bắt khá rõ về con người của Huệ.
Thoại còn tiết lộ với Du, không chỉ là kẻ dâm ô mà Huệ còn là tay khát máu. Năm 1777 Huệ đem quân đánh thành Gia Định nhân dân trong thành nguyện trung thành với chúa Nguyễn nhất quyết thà chết không đầu hàng. Huệ điên tiết ra lệnh cho quân lính chôn sống hai mươi hộ dân tổng cộng hơn một trăm nhân mạng hòng đe dọa dân chúng trong thành. Sự việc này lịch sử không hề nhắc đến!
Những điều ấy Du giữ kín trong lòng. Du biết Huệ là kẻ có tài kinh bang tế thế nhưng bản thân Huệ xuất thân hèn kém, giống như con cú phút chốc biến thành phượng hoàng từ kẻ tay trắng bỗng đâu quyền hành đầy tay, dĩ nhiên những thói xấu tiềm ẩn lâu ngày sẽ theo đà mà bộc lộ.
Ngày mai Du sẽ trở lại Thăng Long, ngoài mục đích gặp lại người con gái năm xưa Du còn muốn xem sự tình ngoài đó hiện nay thế nào.
Ăn cơm chiều xong Du cho người sang mời Khản. Nghe bảo Du có chuyện quan trọng về Thăng Long cần bàn, Khản không kịp thay đồ tất tả đi theo người nhà Du.
-Chuyến này em định cùng anh ra Thăng Long xem xem sự tình ngoài đó thế nào. Theo ý em chỉ cần hai anh em mình đi là đủ, chớ nên mang theo người hầu lỡ có sự việc gì xảy ra thêm rối.
Khản nhấp ngụm trà, nói:
-Chú nói cũng phải. Hiện nay Huệ như thế nào chúng ta chưa nắm rõ tốt nhất chớ nên đánh rắn động cỏ.
Du đáp:
-Tính anh cương trực hay hành động nóng vội, lần này anh phải thật bình tĩnh có chuyện gì cũng từ từ tính toán.
Khản cười ha hả:
-Chú cứ làm như anh là trẻ mục đồng không bằng. Rứa nhé để anh về thu xếp, chú ngủ sớm đi, mai anh em mình lên đường.
Khản ra về. Du cầm mãi chén trà trên tay, nhìn vào bóng tối. Từ phía dòng Lam vẳng lên điệu “giặm kể” buồn da diết. Du buột miệng thốt:
-Mai ta lại phải rời mảnh đất thân thương này rồi!
Làn gió lạnh phớt qua sân. Tiếng dế ngoài thềm xoi xói…
!
Thăng Long thành qua cơn binh biến phờ phạc như người phụ nữ bị hiếp dâm. Những ngôi nhà kiến trúc cầu kỳ nay cửa lủng ngói nát. Nét mặt dân chúng người nào người nấy lấm la lấm lét như tù mới được tha.
Du và Khản ghé vào quán nước bên đường. Du hỏi bà cụ chủ quán:
-Nghe nói từ khi Nguyễn Huệ đem quân ra dẹp loạn đời sống dân chúng ổn định lên nhiều phải không cụ?
Bà cụ nhìn quanh dò xét hạ giọng nói:
-Hình như hai bác là người Nghệ?
Khản đáp:
-Đúng vậy.
Bà cụ nói:
-Chả giấu gì các bác từ khi Huệ ra đây làm bao nhiêu việc thất đức khiến nhân dân oán hận nhưng quân Huệ như beo như cọp nên dân chúng ai cũng sợ chả dám lên tiếng. Vua Lê thì ngu hèn Huệ nói gì cũng nghe. Trăm quan có mắt như mù.
Du liếc mắt ra hiệu với Khản, lấy tiền trả tiền nước chào bà cụ rồi hai anh em vội vã đi tìm nhà trọ. Chiều buông nhanh, thành Thăng Long run rẩy như người mới ốm dậy.
Đêm. Kinh thành Thăng Long tĩnh lặng. Có vẻ như qua cơn binh biến sự nhiệt náo của vùng đất này đã bị bóp nghẹt thay vào đó là sự đìu hiu, hoang phế.
Chỉ có nơi nhà thổ không khí mua hoa bán nguyệt vẫn diễn ra rôm rả như thường. Thời đại nào cũng vậy, chuyện nhục dục luôn là món ăn khoái khẩu của loài người. Cái nghèo khổ, túng quẩn hay cuộc sống luôn bị cái chết rình rập không khiến người ta quan tâm bằng nhục cảm thể xác.
Du và Khản chậm rãi tiến về phía khu phố “Bình Khang”. Mấy năm nay Thăng Long thành kỹ viện thi nhọc mọc. Mỗi kỹ viện ra sau càng được xây dựng kỳ công hơn, từ lối trạm trổ tinh vi đến lối trang trí lòe loẹt với mục đích chèo kéo khách làng chơi.
Hai bên đường những cô gái trạc tuổi đôi mươi ăn mặc hở hang, uốn éo chào mời. Khản nắm chặt tay, nghiến giọng:
-Hủ bại quá đi mất, nhà Lê đến thời mạt vận rồi. Ngay giữa chốn kinh thành mà ô uế thế này thử hỏi sao mà dân không loạn nước không nhơ.
Du nói khẽ:
-Anh bình tĩnh, hãy nhớ chúng ta đi chuyến này tránh được rắc rối từng nào hay chừng đó.
Khản vẫn còn hậm hực:
-Thật sự ta đã thờ nhầm chúa.
Hai người thận trọng đi đến Tĩnh Nguyệt Lầu. Du muốn rẽ qua thăm người năm cũ. Lần này ra Bắc theo chủ ý của Du nên Khản hoàn toàn chấp nhận nghe theo chỉ đạo của Du.
Hai người lấy phong thái đạo mạo bước vào, ngay lập tức năm sáu cô nàng môi hồng má thắm chạy lại xun xoe:
-Ôi hai vị đại quan nhân, lâu quá mới thấy hai vị ghé chơi, khiến tụi em nhớ quá giời.
-Ấy ấy, mày tham vừa thôi chứ, để vị này cho tao.
Thôi thì trăm câu ngàn câu ong ve . Khản cau mày khó chịu. Du day day áo Khản. Khẽ cười nói:
-Xin các nàng cho hỏi hiện nay nàng Nguyệt Cầm có còn ở đây nữa chăng?
Mấy cô nàng liếc mắt nhìn Du lại nhìn Khản. Một cô nói:
-Không ngờ hai vị cũng là tay trăng gió không phải dạng vừa. Nguyệt Cầm cô nương hiện tại vẫn là “món đồ quý” ở chốn này, tuy nhiên hôm nay hai vị đến muộn mất rồi. Đêm nay Nguyệt Cầm cô nương đang bận tiếp một vị khách vô cùng quan trọng, một vị anh hùng uy vũ bốn phương.
Một ý nghĩ chạy nhanh qua đầu Du, lẽ nào kẻ đó là Huệ chăng.
Ngay lập tức Du nắm tay Khản chạy nhanh lên lầu, mấy cô ả không ngăn kịp la oai oái. Đã gần mười năm nhưng Du vẫn còn nhớ rõ căn phòng năm xưa. Cẩn trọng hai người tiến sát lại. Phía trong tiếng một người đàn ông, giọng như sấm rền:
-Nàng hãy chiều ta đêm nay, đảm bảo rồi đây ta sẽ trao cho nàng cuộc sống phú quý đầy đủ.
Tiếng người đàn bà run rẩy, van vỉ:
-Xin ngài hãy tha cho thiếp, nếu Ngọc Hân công nương mà biết thì cái mạng hèn của tiện thiếp có khác gì con sâu con kiến, chết không đất dung.
Cộp tiếng chén dằn xuống mặt bàn:
-Khốn nạn, ả là cái quái gì, ngay cả chuyện làm cho đàn ông sướng khoái ả cũng chả biết, thì mang danh công chúa thật uổng quá.
Du ghé mắt nhìn qua khe cửa. Một gã đàn ông uy phong lẫm liệt đang ngồi rót rượu uống như voi, đích xác là Huệ.
Người đàn bà vẻ đẹp chim sa cá lặn tay ôm chiếc đàn Nguyệt ngồi co rúm dáng điệu sợ sệt. Người đó chính là ý trung nhân trong mộng của Du.
Huệ đứng dậy tiến về phía người đẹp. Bàn tay thô bạo chộp lấy bờ vai nàng. Nàng run lên:
-Ngài say quá rồi, ngài về nghỉ ngơi đi mai tiện thiếp xin hầu đàn tiếp.
-Ta chưa bao giờ sayrượu, nàng nên biết Huệ này chỉ say một thứ mà thôi, đó là giang san Đại Việt này. Từ khi ta sinh ra trên cõi đời này đến nay thiên hạ luôn nhìn Huệ này bằng ánh mắt khinh thường, ngay cả anh em của ta cũng xem nhẹ ta, ta thề phải làm nên nghiệp lớn cho chúng nhân mở mắt mà nhìn Huệ này đầy ngưỡng mộ. Nhưng đêm nay, ha ha, ta mới phát hiện ra ta còn say một thứ nữa, đó chính là sắc đẹp có một không hai của nàng.
Người đẹp hoảng hốt đứng dậy, thoát khỏi bàn tay của Huệ. Huệ lao đến như con hổ khát mồi.
-Nàng đừng cố cưỡng, hãy ngoan ngoãn chiều ta, thuận ta thì sống nhược bằng nghịch ta thì chỉ có nước chết mà thôi.
Sự dồn ép của Huệ đẩy người đẹp lui dần đến sát chân tường. Nàng nhìn Huệ đầy căm hận. Huệ cười sảng khoái:
-Ta nói rồi,cái gì mà Huệ này muốn nhất quyết dành cho bằng được.
Bên ngoài hai bàn tay Du nắm chặt tưởng chừng gãy từng khớp xương, toàn thân Du run lên vì phẫn uất, Khản đứng bên bầu máu cũng sôi lên sùng sục. Khản cảm thấy tởm lởm thay cho một kẻ được thiên hạ tôn xưng là đấng anh hùng đội trời đạp đất.
Hai bàn tay thô của Huệ ôm chầm lấy người đẹp, sự quẫy đạp của nàng thành vô dụng dưới sức mạnh beo cọp của Huệ. Huệ nắm tóc nàng kéo lê lại giường, vật nàng xuống, Huệ chộp lấy bình rượu trên bàn, đổ vào miệng nàng:
-Uống đi, uống với ta nào, say rồi hành lạc mới thống khoái.
Du nghiến răng nghiến lợi nói thầm “Qủa đúng như lời đồn của thiên hạ, hắn là một tay bệnh hoạn”.
Khản đưa tay sờ thanh gươm bên hông, bụng bảo dạ:
-Đêm nay ta thề băm vằm tên khốn nạn này, bây giờ ta mới hiểu vì sao hắn lại dựng Lê Chiêu Thống lên làm vua. Hắn muốn cho một kẻ nhu nhược hèn yếu hờ hững ngồi ngôi cao để dễ bề thay triều đổi ngôi khi cần, không ngờ mưu kế của ngươi thâm độc đến vậy.
Bên trong người đẹp đã bị Huệ nhồi rượu say khướt, tấm áo trên mình nàng đã bị Huệ xé rách lộ ra bầu ngực căng đầy. Hai hàm răng Du cắn vào nhau bật cả máu.
Khản đưa chân đá văng hai cánh cửa, nhảy vào phòng, chỉa mũi gươm vào Huệ thét lên:
-Hồ Thơm, ngươi là tên chó chết.Một kẻ dâm loàn, tàn bạo như ngươi không xứng đáng được muôn dân ca ngợi.
Huệ quay lại, hai mắt đỏ ngầu, hai con tròng vằn lên từng tia máu:
-Mi là ai?
Khản dõng dạc:
-Ta là Nguyễn Khản.
Huệ cười ngạo mạn:
-Thì ra là con cò hen Ngàn Hống.
Khản lao về phía Huệ quyết tâm một đường kiếm lấy mạng Huệ, Huệ lách người rút nhanh thanh gươm bên mình, vung lên gạt kiếm Khản.
Xoay tay đâm thốc vào ngực Khản, máu phún ra, Khản gục xuống, máu trào ra như suối.
Đúng lúc đó rượu cũng vừa ngấm sâu vào nội tạng Huệ, Huệ gục luôn xuống bàn, ngáy ri rí. Du liều thân lao vào phòng, nhìn nhanh ý trung nhân rồi mau chóng xốc lấy Khản tẩu thoát.
Lịch sử ghi chép rằng “Bấy giờ có cựu tham tụng Nguyễn Khản ở Nghệ An ra khuyên Đoan Vương “nên sai tướng đóng giữ kinh thành. Còn chúa thì rước xa giá vua Lê đi Sơn Tây, không chế miền thượng du để toan tính việc cử sự sau này. Vả lại ở bãi Tự Nhiên (Thường Tín, HàĐông) kíp thả cầu phao để chặn thủy sư của giặc. Hai bên bờ sông đóng đồn quân theo lối “vẩy sộp” để đề phòng có sự xô xát xung đột. Lại xin chiêu dụ bọn giặc thủy như Trương Dao và Ba Bá, ban thêm quan tước cho chúng, khiến chúng chặn đánh phía sau quân Thủy Tây Sơn. Huệ và Chỉnh đã nêu danh nghĩa phò Lê, nhưng khi vào kinh thành không gặp được Lê hoàng thì tiến hay lùi cũng đều bất lợi. Một khi giặc mỏi mệt, hết lương ăn, tình thế tất không ở lâu được. Bấy giờ ta kíp viết thư phi báo cho các hào mục Thanh Hóa và Nghệ An khiến họ chận đánh đường về của Tây Sơn thì dù không bắt được Huệ, Chỉnh, chúng cũng bị thiệt hại nặng. Chứ nếu giao chiến với chúng thì kiêu binh (của ta) quyết không thể dùng được. Nếu thua một trận hết sạch như chùi, việc nước tất hỏng mất “. Chúa toan nghe theo mưu chước của Khản, nhưng các quân họp lại, làm ầm lên, cho rằng Khản đưa giặc đến, rồi chực giết Khản.”
Nguyễn Khản phải xin đi Sơn Tây, Hưng Hóa chiêu dụ nghĩa sĩ, được một tuần quân ứng mộ khá đông ông giao cho em là tri phủ Nguyễn Trứ điều khiển tại Mỹ Lương. Ông được lệnh chúa triệu hồi, vừa về thì bị cảm bệnh, ông qua đời ngày 17/9Â.L. (1786)”
Cái chết của Khản là do chính tay Huệ giết lịch sử đã không ghi chép lại.
Du trở lại quê nhà. Sau khi an táng anh xong, hai năm sau Du về ở tại quê vợ Quỳnh Côi, Thái Bình , và sống một cuộc sống khép kín.
Ngày qua ngày Du giam mình trong nhà, không đi đâu, đêm đêm Du chong đèn tận khuya mài mực viết nên những bài thơ gan ruột, nỗi nhớ thương người con gái năm xưa luôn hiện về dày xéo tâm hồn Du.
Có hôm người nô bộc bưng bữa sáng vào phòng cho Du, Du hỏi:
-Bên ngoài trời trong hay xám?
Người nô bộc nói:
-Dạ trời quang đẹp lắm ạ.
Du xua tay bảo người nô bộc đi ra, thở dài tự nhủ:
-Trời quang đẹp sao? Nhưng sao xã hội vẫn còn tăm tối ?
Bao giờ thì đời sáng đây?

Năm 1802 Nguyễn Ánh tiêu diệt nhà Tây Sơn lập nên triều Nguyễn sau nhiều lần thoái thác Du chấp nhận ra làm quan, trải qua nhiều vị trí khác nhau, được cử đi xứ nhà Thanh, tuy nhiên trong thâm tâm Du không hề muốn vướng bận cân đai áo mũ. Lòng Du lúc nào cũng đau đáu nhớ về người con gái năm xưa. Và trong tâm khảm Du hình ảnh những số phận con người khốn khổ không lúc nào nguôi.
Du bị bệnh dịch chết ngày mồng 10 tháng 8 âm lịch (16 tháng 9 năm Canh Thìn (1820) lúc 54 tuổi.
Nghe nói trước lúc trút hơi thở cuối cùng Du hỏi người nhà:
-Chân tay ta lạnh chưa?
Người nhà đáp:
-Dạ sắp lạnh rồi.
Du lại hỏi:
-Hôm nay trời ra sao?
Người nhà đáp:
-Dạ trời quang đẹp ạ.
Du bảo mở cửa ra, bên ngoài lá bắt đầu rơi, mưa lác đác. Du thở dài:
-Cuối cùng trời vẫn xám!
Du nhắm mắt, nét mặt dường như vẫn còn đượm nỗi đau đời !

TRƯƠNG ĐÌNH PHƯỢNG

Mỗi Ngày Trong Vườn Tôi

tranvanle

Vườn nhà tôi không rộng, đi hoài sao bao la?
Con chuồn chuồn bay qua, mỏi hay sao mà đậu?
Và kìa con sáo sậu nhặt chi cọng cỏ vàng?
Vườn tôi nắng mơn man, chưa một lần em đến
Ôi em con én liệng, anh mong hoài mùa Xuân!

Vườn tôi mưa rưng rưng từ khi tôi biết nhớ.
Vườn tôi cây sào lỡ: không trái nào trên cao!
Bởi em: một vì sao, tôi đầy tràn nước mắt!
Bởi em: còn như mất, muôn đời là chiêm bao!
Tôi hỏi cỏ. Nghẹn ngào. Tôi hỏi hoa. Hoa héo.
Kìa con chim chèo bẻo bay đi rồi, hoàng hôn!

Vườn tôi đầy trong hồn những mùa thương nhớ cũ:
Chỗ Ngoại nằm: ngôi mộ. Chỗ Má đi: không về.
Má với Cha nằm kề mà âm dương cách biệt
Mà bầy con tha thiết. Nhang tàn. Nhang tàn hương…

Chỗ tôi đi trong vườn, con đường mòn thăm thẳm.
Em, mối tình xa lắm, nhện giăng vàng nhánh cây…

Vườn tôi, vườn tôi đây, sáng tôi ra mở cổng
Đón những cơn gió lộng, chiều khép lại. Xa xôi!
Em mãi là mặt trời. Em mãi là bóng nguyệt.
Một ngày nào tôi chết. Vườn tôi thêm bao la…

Trần Vấn Lệ

U UẤT

suongnguyen

Xương cốt trời ơi lạnh buốt mình
Tan tành nhật nguyệt cõi vô thanh
Vẫn biết cuộc đời là hư ảo
Mà hồn vẫn nuối một bình minh
Tiếng chim khắc khoải buồn trong nắng
Hạnh phúc còn mơ những bóng hình
Cho tôi níu một vầng tinh tú
Và ngã bên bờ cỏ rất xanh.

SƯƠNG NGUYỄN

CƯỠI NGỌN SẤM 29

cuoingonsam

richardbotkin

Chương 24

Buổi Sáng Lễ Phục Sinh tại Sài Gòn

Sài Gòn
Buổi sáng Lễ Phục Sinh
Nhà ông Lê Bá Sách – Cha mẹ của Bình

Khi Cầm Bành kết hôn với Lê Bá Bình vào ba tháng trước, nàng phải bỏ công việc đã làm khá lâu ở thương xá của Hải Quân Hoa Kỳ tại Sài Gòn. Sau đó, đời sống của nàng như được chia thành hai mảng. Khi chồng không hành quân tận tuyến đầu phía Bắc để chiến đấu chống bọn Cộng sản đáng ghét thì Cầm đến ở với anh tại căn cứ Sóng Thần, hậu cứ của TQLC tại Sài Gòn và cũng là nơi mà họ đã thành hôn với nhau. Trong thời gian này, nàng cũng hoàn thành hết mọi trách nhiệm trong vai trò là vợ của một sĩ quan chỉ huy Sói Biển.

Khi Bình đi hành quân xa, mà đó là gần như suốt thời gian, Cầm về ở với cha mẹ chồng ở Tân Định trong vai trò con dâu trưởng của gia đình. Thật may mắn là nàng và mẹ chồng (mẹ kế của Bình, nhưng người phụ nữ này đã thương yêu và nuôi dạy anh ta như là mẹ ruột) rất hòa hợp với nhau. Cầm phụ giúp công việc nhà và chăm sóc bốn đứa em còn ở nhà. Nàng được mọi người yêu mến. Nếu có thời gian rảnh rỗi, nàng thường đón xích lô về thăm mẹ cũng đang ở gần đó. (Bấy giờ, cả hai người anh cũng đang phục vụ trong quân đội). Nếu có TQLC nào bị thương ở bệnh viện Thủ Đức cần phụ, nàng cũng sẽ đến giúp ngay.

Vào lúc xế chiều ngày thứ Bảy 1/4/1972, ngay cả đối với vợ lính và người thân, có rất ít tin tức liên quan đến tình hình của các lực lượng QLVNCH và TQLC đang giao tranh ở phía Bắc. Tuy nhiên trong mạng lưới thông tin của các bà vợ đã có sự bàn tán là có một chuyện gì đó sắp xảy ra.

Ai cũng biết cái thông lệ là luôn luôn phải giữ hai trong số ba lữ đoàn TQLC ở tuyến đầu. Do đó khi có tin Lữ đoàn 369, đơn vị đang ở Thủ Đức dưỡng quân như thường lệ để nghỉ ngơi, bổ sung quân số v.v… đã được điều động ngay lập tức ra phía Bắc trước thời hạn, mọi người bắt đầu bàn tán xôn xao. Có một cái gì đó khá nghiêm trọng đang xảy ra. Trong bao năm qua Cầm vẫn thấy chồng thường xuyên trở về từ chốn nào đó với thân thể mang hết thương tích này đến vết thương khác, thì nay nàng chỉ biết chịu đựng với nỗi chờ mong và cố làm nhiệm vụ của một người vợ đảm đang.

TRỞ LẠI ĐÔNG HÀ VỚI TIỂU ĐOÀN 3

Khi Thiếu tá Bình, Đại úy Ripley và các chiến sĩ của Tiểu đoàn 3 được điều động tới Đông Hà vào xẩm tối ngày 30/3/1972 để lãnh nhiệm vụ trừ bị cho Sư đoàn, họ không hề được nghỉ ngơi chút nào. Mặc dù những cánh quân tiên phong của bộ đội Bắc Việt đang xâm lấn chưa đến được Đông Hà nhưng sự xuất hiện của Tiểu đoàn 3 đã bị phát hiện. Đề-lô pháo binh Bắc Việt ở phía Bắc của dòng sông, cũng là những tên thường xuyên hướng hỏa lực pháo kích vào dòng người đang chạy nạn vào Nam trên Quốc lộ 1, đã gọi hỏa lực bắn vào Sói Biển mỗi khi có điều kiện. Không một ai trong Tiểu đoàn 3 kể cả Bình và Ripley có kinh nghiệm về cường độ của những cuộc pháo kích vốn đã xảy ra liên tục trước khi họ đến. Không tài nào ngủ được. Nghỉ ngơi thôi cũng khó khăn mặc dù họ đã nằm sâu dưới hầm và những trái đạn rơi xuống ở một khoảng cách an toàn khá xa. Điều tốt nhất mà các TQLC có thể làm được, như Bình, Ripley và tất cả những người khác trong Ban chỉ huy đã cố gắng thực hiện là mặc kệ và thích nghi với hoàn cảnh khi cho phép – chẳng hạn như ngả đầu ra phía sau mà vẫn theo dõi được các cuộc nói chuyện qua máy truyền tin v.v… – càng nhiều càng tốt mỗi khi đạn pháo kích không rơi gần lắm. Chuyện này họ đã làm khá thành công kể từ lúc đến Đông Hà. Các Đại đội tác chiến khác cũng vậy. Đành rằng không ai có thể hoạt động mãi như vậy được nhưng trước mắt không còn giải pháp nào khác hơn.

Thiếu Tá Bình giữ các Sói Biển trong tư thế sẵn sàng bất cứ lúc nào và luôn luôn chuẩn bị để chuyển nhanh từ phòng ngự sang tấn công. Cách hành quân căn bản cho tất cả các Tiểu đoàn TQLC là hiếm khi nào cả đơn vị cùng hoạt động chung với nhau thành một khối. Tiểu đoàn 3 gồm hai cánh là Alpha và Bravo. Hiện tại cánh Alpha gồm Bình, Ripley, lính của Ban chỉ huy, Đại đội 1 và Đại đội 4 cùng với phần lớn hỏa lực của Đại đội Vũ Khí Nặng của Tiểu đoàn 3. Họ đang hoạt động ở trong và bên ngoài thị trấn Đông Hà. Cánh Bravo do Tiểu đoàn phó chỉ huy gồm các đơn vị còn lại, Đại đội 2 và Đại đội 3 cùng với những người khác, đang nằm cách thị trấn vài cây số phía Tây trên Quốc lộ 9 hướng về Cam Lộ và đang phối hợp với Tiểu đoàn 20 Thiết Giáp QLVNCH.

Nhằm giảm thiểu tối đa nguy hiểm cho binh sĩ trong những trận pháo kích không ngớt của quân Bắc Việt, Bình liên tục tái phối trí các đại đội, thường xuyên di chuyển đến một vị trí ngụy tạo trước khi trời sập tối để chắc chắn là bọn trinh sát địch trông thấy rồi lại lặng lẽ bỏ đi chỗ khác khi trời vừa tối xuống. Để cho việc ngụy tạo được hoàn hảo hơn, Bình cho lính ngụy trang vị trí giả, đặt ăng-ten truyền tin và tiếp tục điện thoại từ xa thông qua các vị trí đó. Khi bọn pháo binh Bắc Việt pháo kích vào các vị trí bỏ trống, nhân viên truyền tin của Bình phát đi những thông tin giả mạo mà họ đoán chừng địch sẽ nghe lén, về các thiệt hại và yêu cầu trực thăng tản thương. Bình làm hết mọi cách để địch tiêu hao đạn dược vào những mục tiêu vô giá trị. Những chuyện này đòi hỏi các Sói Biển lúc nào cũng phải cảnh giác và di chuyển không ngừng. Mặc dù họ chưa thực sự chạm trán với địch nhưng việc di chuyển vòng quanh và tích cực phòng thủ cũng làm tiêu hao năng lượng một cách đáng kể.

Quan sát của John Ripley về người tỵ nạn Việt Nam bơ vơ cũng tương tự như Gerry Turley đã thấy, nếu không nói là còn mang tính cách cá nhân nhiều hơn. Khi Ripley tiến gần sát toán tiền phương địch, tức khoảng 10 cây số gần hơn so với Turley khi ở Ái Tử, anh đã chứng kiến một sự chết chóc và hủy diệt tàn khốc. Lòng căm thù của anh đối với bọn Cộng sản chồng chất lên một mức độ mới sau khi nhìn thấy dã tâm cố ý và hành động giết người bừa bãi hàng loạt những người dân vô tội nhiều như vậy. Anh tự hỏi không biết các Sói Biển sẽ nghĩ sao, có ai còn có thể thù hận bọn Cộng sản nhiều hơn được nữa hay không? Anh đã từng ngồi lặng yên hàng tháng nghe hết chuyện này qua chuyện khác do lính của Bình kể lại – họ đã hiểu và tin tưởng anh – biết bao nhiêu chuyện gia đình họ đã phải chịu đựng sự đau thương, nhọc nhằn và sỉ nhục trong tay bọn Cộng sản mà hầu hết người Mỹ không thể nào hình dung được. Sau cùng anh chỉ biết cám ơn là anh đã không phải đối phó với những vấn đề như vậy. Giống như Turley, tuy hai người chưa hề trao đổi với nhau về đề tài này, nhưng anh thầm tạ ơn là vợ con anh được ở xa, rất xa chốn này.

Nhiệm vụ giao cho Tiểu đoàn 3 của Thiếu Tá Bình như là đơn vị trừ bị cho Sư đoàn hóa ra là một quyết định sáng suốt. Điều hiển nhiên là hiện nay cầu Đông Hà đang là mục tiêu chiến lược của địch. Nói chung, sự biểu lộ yếu kém của các đơn vị bộ binh QLVNCH và nhất là sự tan rã của Trung đoàn 57 trong khu vực chung quanh Đông Hà nói riêng, đã để lại công tác phòng thủ sắp tới vào tay các đơn vị TQLC Việt Nam, những chiến sĩ sẽ không bỏ cuộc khi chưa đánh đấm gì cả.

Các Sói Biển có mặt ở Đông Hà vào chạng vạng tối ngày 30/3/1972 và các Đại đội tác chiến đã được bố trí tại những vị trí mà Bình cho là tốt nhất cho việc phòng thủ trong lúc này và sẵn sàng cho những trận phản công sắp tới. Sau khi đã quyết định phá cầu, Trung tá Turley gọi điện thoại xuống Bộ tư lệnh mới của Sư đoàn 3 Bộ Binh ở thành phố Quảng Trị. Cũng nên nhắc lại là tuy có toàn quyền điều động hỏa lực Hoa Kỳ nhưng khi trực tiếp điều động các đơn vị QLVNCH và TQLC thì người Mỹ chỉ là cố vấn. Tất cả công việc điều động binh lính và quyết định sử dụng các đơn vị đó như thế nào đều thuộc thẩm quyền người Việt Nam. Người Mỹ có thể đưa ra các đề nghị nhưng quyền tối hậu vẫn thuộc vào những người mà họ có nhiệm vụ cố vấn.

Turley đã gọi xuống cho Bộ tư lệnh Sư đoàn 3 Bộ Binh với mục đích đề nghị Tướng Giai cho sử dụng lực lượng trừ bị – trong trường hợp nầy là giao cho Tiểu đoàn 3 việc trấn giữ cầu Đông Hà – để ngăn chận không cho quân Bắc Việt vượt qua cho tới khi cầu có thể bị phá đi.

Đưa vào sử dụng lực lượng trừ bị là một chuyện rất quan trọng. Điều đó có nghĩa là tình hình đã nghiêm trọng lắm rồi. Đó cũng là biện pháp cuối cùng. Các Tư lệnh thường miễn cưỡng chấp nhận những biện pháp như vậy bởi đó là sự chọn lựa sau cùng; mũi tên cuối đã bắn ra rồi thì ống đựng tên trở thành trống rỗng. Đôi khi, đó lại là tất cả những gì mà người chỉ huy có thể làm. Tuy nhiên Gerry Turley tin chắc chắn rằng với tình hình chiến sự này thì cần phải hành động như vậy và phải làm ngay lập tức.

Khi Turley gọi lại Bộ tư lệnh Sư Đoàn 3 thì cả Tướng Giai và vị Đại tá cố vấn của ông – cũng chính là viên Đại tá trách nhiệm cho toán Cố vấn 155, người đã buộc Gerry vào nhiệm vụ hiện nay – đều không có mặt ở đó. Thay vào đó, cuộc trao đổi với Tham mưu trưởng của Tướng Giai đã như bị va vào bức tường gạch của truyền thống văn hóa. Tay Đại tá QLVNCH này, trong lúc thế giới chung quanh đang sụp đổ tan tành, chỉ khăng khăng từ chối vì sợ bị mất mặt và những chuyện linh tinh khác đã khiến cho máu của Turley bốc lên cao tới mức báo động. “Chúng ta phải đợi Tướng Giai trở về đã. Tôi không làm được gì ngay bây giờ. Chúng ta phải chờ.” Đó lại là một vấn đề truyền thống văn hóa nữa.

Tỉnh táo hơn tuy thất vọng cùng cực, Turley tuyệt vọng xoay qua Đại tá Định, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 258 đang cùng với anh ở trong hầm Trung Tâm Hành Quân.

Turley vừa mới mở thêm mặt trận thứ ba cho chính mình. Phía Bắc và Tây của anh là ba hoặc bốn Sư đoàn Bộ binh Bắc Việt, năm Trung đoàn Pháo binh rồi hình như đang có thêm một số lớn chiến xa địch chưa xác định được là bao nhiêu, và không ai biết còn cái gì khác nữa.

Quân tiếp viện của địch có thể không xa lắm ở phía sau. Về phía Nam, Turley đối diện với một hệ thống quân giai càng lúc càng không thân thiện tại Đà Nẵng và Sài Gòn, cứ liên tục chĩa mũi dùi vào quyền hạn của anh và chống đối các quyết định của anh.

Turley trông đợi nhiều vào Đại tá Định vì ông này cũng là TQLC. Tuy nhiên Turley nhận được câu trả lời y hệt như của tay Đại tá Tham mưu trưỏng trước đó. Ban đầu bị choáng váng nhưng Turley không chịu thua. Anh trình bày lý do của mình. Anh lập luận kế hoạch của mình với một sự nồng nhiệt mà chính anh cũng không ngờ mình lại như vậy. Bằng mọi cách hợp lý nhất, anh khẩn khoản Đại tá Định cho sử dụng Tiểu đoàn 3 tại cầu Đông Hà. Turley giải thích nhiều lần sự cần thiết phải hành động ngay nhưng Định vẫn đẩy quyết định cho cấp cao hơn. “Tôi không thể” là câu trả lời cố định lập đi lập lại của ông. Chán nản, Turley biết rõ rằng, nếu không điều động Sói Biển thì hoàn toàn không có hy vọng gì để ngăn chận được quân Bắc Việt.

Sự trao đổi giữa Turley và Định đã diễn ra ở một khoảng xa thích hợp đối với những người khác trong khu vực G-3. Khi Turley trở lại để gặp thuộc cấp của mình, đặc biệt là nhóm sĩ quan gần gũi đã cùng làm việc chung với nhau trong suốt ba ngày qua, họ có thể cảm thấy qua sự biểu lộ trên khuôn mặt và điệu bộ là anh đã thất bại trong việc thuyết phục Đại tá Định. Tuy nhiên anh biết vẫn phải bằng cách nào đó giữ một thái độ lạc quan cho những người khác nhưng anh chưa biết phải đưa ra lời khuyên gì đây.
May mắn thay là anh không phải làm gì cả. Chỉ một hay hai phút sau đó, Đại Tá Định bước đến phía sau Turley tuyên bố “Tiểu đoàn 3 sẽ chiếm cầu Đông Hà. Tôi sẽ ra lệnh cho Tiểu đoàn trưởng giữ lấy Đông Hà. Anh gọi cho cố vấn của anh đi và báo cho ông ta biết quyết định của tôi.” Trong nỗi vui mừng bất ngờ và với một tình cảm đặc biệt, Trung tá Turley đã ôm chầm lấy vị Đại tá TQLC Việt Nam.

SAU CUỘC GỌI MÁY VÔ TUYẾN

Tập họp lại cho đến người cuối cùng Tiểu đoàn 3 trong điều kiện hiện tại với mục đích cấp bách để phòng thủ khu vực chung quanh cầu Đông Hà không phải là một chuyện dễ dàng. Bình, Ripley và toán cận vệ vốn luôn bên cạnh họ, sau khi nhận được lệnh từ Đại Tá Định, đã để lại Đại đội 1 và Đại đội 4 đóng ở ngay cầu; sau đó họ di chuyển qua hướng Tây về phía Cam Lộ để bắt liên lạc và mang cánh Bravo cùng với Tiểu đoàn 20 Thiết Giáp quay trở lại khu vực cầu.

Mãi cho đến lúc này, Bình và Ripley không thích thú lắm với nhiệm vụ trừ bị cho Sư đoàn. Trong tình huống thế giới chung quanh có vẻ như đang sụp đổ, họ cảm thấy hết sức bực bội vì không đóng được vai trò chủ động nào trong diễn tiến các sự việc. Trong nhiều ngày vừa qua họ đã phải chịu đựng cơn pháo kích liên tục và bao nhiêu là căng thẳng mà không có cơ hội để phản công. Bây giờ thì mọi chuyện sắp sửa thay đổi rồi.

Cả Bình và Ripley đều biết là họ sẽ cần đến hỏa lực của Tiểu đoàn 20 Thiết Giáp và tất cả các tay súng dự phòng của Sói Biển để có được tối đa cơ hội sống còn nếu họ có ý định giữ lấy Đông Hà, bất chấp cái xác suất xấu một cách đáng sợ đang tăng dần theo từng giây phút trôi qua. Điều mà họ chưa biết là “địch có khoảng 20 chiến xa” nhưng trên thực tế hóa ra là hai trăm chiếc. Việc bắt liên lạc và mang được cánh Bravo cùng Tiểu đoàn 20 Thiếp Giáp về khu vực cầu là một điều hết sức then chốt nếu họ mong chận được địch quân ở phía Bắc dòng sông.

Điều khá nghịch lý là trong tất cả những người trong Ban chỉ huy Tiểu đoàn 3 và Tiểu đoàn 20 Thiết Giáp thì John Ripley, người Mỹ duy nhất trong nhóm, lại là người có nhiều kinh nghiệm hoạt động trong vùng nhiều hơn là bất cứ ai trong những người Việt Nam. Anh là người thông thạo địa hình trong và ngoài Đông Hà nhiều nhất. Khi cả hai đơn vị cuối cùng kết hợp lại được với nhau ở phía Tây của thị trấn và Bình trực tiếp gặp gỡ vị Trung tá QLVNCH chỉ huy Tiểu đoàn 20 Thiết Giáp thì bọn Bắc Việt tung ra một đợt pháo kích “trừng phạt” trên toàn bộ khu vực Đông Hà. Ripley tin chắc là trong thời gian 45 phút bắn phá có vào khoảng 1.000 trái đạn đã rơi xuống. May mắn là vị trí đóng quân của họ nằm ngoài vùng pháo kích nhưng tác động tâm lý khá nặng nề đối với những binh sĩ đang chứng kiến màn “trình diễn sống sượng” của hỏa lực địch, nhất là viên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 20 Thiết Giáp thì kinh hãi thấy rõ.

Trong hoàn cảnh chiến đấu cùng cực, mỗi lần gặp gỡ hội họp với nhau hiếm khi nào là dịp tốt nhất để giao hảo một cách lịch sự, chuyên nghiệp giống như trong các cuộc gặp nhau bàn chuyện làm ăn. Tuy nhiên hội họp trong những điều kiện khắc nghiệt lại cho phép bỏ qua các thủ tục chào hỏi rườm rà để có thể đi thẳng được vào vấn đề. Cảm giác ban đầu của Ripley đối với viên sĩ quan VNCH chỉ huy Tiểu đoàn 20 Thiết Giáp không được thoải mái, có lẽ vì anh đã có thành kiến chung coi thường thành tích của hầu hết các đơn vị QLVNCH trong vùng gần đó. Điều hiển nhiên mà ai cũng thấy là cái nhân vật chịu trách nhiệm nguyên một đoàn gần 50 chiến xa M-48A3 có vẻ không nhiệt tình lắm trong chuyện đưa thiết giáp vào việc bảo vệ Đông Hà. Khác với hầu hết các sĩ quan TQLC nghiêm nghị, chuyên nghiệp, tận tâm cùng với một ít sĩ quan QLVNCH khác mà Ripley đã quan sát – họ thà chết chứ không chịu để mất mặt hay bị đánh giá là yếu ớt hoặc hèn nhát – vị sĩ quan QLVNCH này có vẻ không quan tâm đến vấn đề giữ thể diện hay không trong lúc này. Ripley thấy rõ là ông này tuy cấp bậc cao hơn Bình nhưng không thể sánh bằng về mặt tinh thần với Bình.

Vị sĩ quan chỉ huy Tiểu đoàn 20 Thiết Giáp này có cái may là điều luật về việc bổ dụng sĩ quan cố vấn bộ binh Hoa Kỳ hiện chỉ được thực hiện ở cấp Trung đoàn đối với các đơn vị bộ binh do việc tiến hành Việt Nam hóa chiến tranh tất cả các hoạt động, nhưng vì lý do nào đó chưa áp dụng đối với đơn vị của ông. Do đó Ripley đã gặp được Thiếu tá Jim Smock, cố vấn Hoa Kỳ cho Tiểu đoàn 20 Thiết Giáp cùng một lúc với viên Tiểu đoàn trưởng VNCH. Phút đầu gặp gỡ còn có nghi ngại, nhưng cũng phải thông cảm cho Ripley về những cảm giác đó vì các đơn vị VNCH lúc này có vẻ chẳng làm được trò trống gì ngoài chuyện rút lui hàng loạt. Đại úy Ripley cho là những lời nhận xét táo bạo và lạc quan của Thiếu tá Smock cũng cần phải xem lại. Về phần mình, Ripley tin là rốt cuộc rồi thì đoàn thiết xa này cũng sẽ phải đưa vào chiến địa thôi.

Lý luận của Ripley rất đơn giản và thẳng thắn. Chiến xa VNCH là loại M-48, khá tốt nhưng chiếc T-54 có hai lợi thế mà anh biết địch sẽ tận dụng tối đa. T-54 được trang bị súng lớn hơn – 100 ly so với 90 ly của M-48 – và trong hầu hết các tình huống, kích thước thực sự làm nên sự khác biệt. Lợi thế cốt lõi thứ hai là hình thù T-54 thấp hơn rất nhiều. Hình dạng này khiến T-54 thành một mục tiêu khó bắn trúng hơn chiếc M-48 cồng kềnh hơn, ồn ào và tốn nhiều công bảo trì, tuy được chế tạo tinh xảo hơn. Dù vậy, bỏ qua những vấn đề đó, yếu tố quyết định thực sự vẫn là khả năng chỉ huy và lòng nhiệt thành chiến đấu của các binh sĩ.

Điều lạ lùng là tại sao chiến xa lại được sử dụng tại đây? Ai cũng biết Việt Nam khó là một môi trường lý tưởng cho các chiến xa tối tân. Dụng tâm của chiến xa là để sử dụng trong những đội hình càn quét khổng lồ trên những cánh đồng trung tâm Âu Châu hay các sa mạc rộng lớn ngút ngàn Trung Đông; chứ không phải tại Việt Nam mà địa hình hầu hết là rừng già ẩm mốc hay những cánh đồng lúa mênh mông. Tuy nhiên đây cũng chính là lý do mà Cộng sản đã mang chúng ra sử dụng. Bọn vẽ kế hoạch Bắc Việt đã đoán đúng là miền Nam và ông chủ bù nhìn Hoa Kỳ sẽ không ngờ là chiến xa lại được mang ra trên một quy mô lớn như vậy như họ sắp thấy.
Một số lợi thế vốn có ngoài chiến trường của chiến xa đã bị vô hiệu hóa bởi địa hình đã khiến cho những con thú vật khổng lồ kềnh càng này chỉ chạy được trên một số ít đường nhựa hay đường mòn có đủ sức chịu đựng của chúng. Tuy vậy, đối với các đơn vị QLVNCH và TQLC lúc này chưa có, hay không có vũ khí chống xe tăng thì cái hỏa lực di động và ảnh hưởng kinh hoàng của chiến xa có khả năng bắn trực xạ rất đáng kể.

Mặc dù Thiếu tá Smock thừa nhận rằng vị Tiểu đoàn trưởng mà anh đang cố vấn còn cần phải được góp ý nhiều hơn nữa nhưng anh cam kết với anh bạn TQLC là những tay lính trẻ trong các chiến xa đã sẵn sàng để xung trận và đang ngứa ngáy được đụng độ với địch. Lúc này Thiếu tá Bình đang thực sự nhiếc móc viên sĩ quan cấp cao hơn anh, khuyến cáo ông ta phải hành động như một người đàn ông và ra lệnh cho đơn vị của ông phải làm điều đúng là phòng thủ Đông Hà. Trong suốt cuộc tranh cãi gần như một chiều giữa con sư tử và con cừu, Bình không kềm giữ trong lòng điều gì nữa và cố gắng truyền chút sinh khí cho tay Tiểu đoàn trưởng Thiết Giáp. May cho Bình là anh không bị giới hạn bởi những phong cách hành xử mà Gerry Turley đã từng bị. Cũng mất một hồi lâu và Bình đã phải sử dụng khéo léo tất cả các mánh khóe trong “sách” nghệ thuật chỉ huy của mình nhưng rồi cũng thành công phần nào. Sự hổ thẹn và mặc cảm tội lỗi cũng là những động lực mạnh mẽ.

Kiến thức rộng rãi về địa hình trong khu vực của Ripley là một ưu điểm rất lớn. Trong lúc Bình vẫn tiếp tục khuyên bảo viên Trung tá VNCH thì Ripley hướng dẫn các TQLC và đám lính miễn cưỡng của Thiết Giáp đi vòng qua những ngã sau của Đông Hà nhằm thoát ra khỏi hàng rào pháo kích liên tục của địch và cuối cùng đến được vị trí ngay phía Nam của cây cầu.

Tại cầu Đông Hà, Đại đội 1 và 4 của Sói Biển đã thực sự đụng độ ác liệt với các lực lượng Bắc Việt mới đến tại bờ Bắc của dòng sông. Vừa trông thấy chiến xa địch xuất hiện, Ripley đã gọi ngay hải pháo. Loạt hải pháo đầu tiên trước đó lúc anh còn ở phía Tây của thị trấn đã có kết quả là tiêu diệt được bốn chiếc PT-76. Khi họ đến gần Đông Hà, Ripley vẫn tiếp tục sử dụng hải pháo. Những loạt sau tiêu hủy hầu hết là T-54.

Sự xuất hiện những chiếc dẫn đầu của Tiểu đoàn 20 Thiết Giáp làm thay đổi tình thế vì M-48 VNCH thực sự lần đầu tiên đã “lấy máu” được kẻ thù lâu nay không ngờ có thể bị đụng với thiết xa VNCH. Ngay lúc này thì bọn Cộng sản không lộ vẻ gì là sẽ mưu toan vượt sông trong thời gian sắp tới. Nhưng mọi người đều biết là chúng sẽ làm thôi, không chóng thì chầy.

TRONG KHI ĐÓ TẠI TRUNG TÂM HÀNH QUÂN CHIẾN THUẬT

Ranh giới của vũ trụ hiện tại ngay trước mắt đối với John Ripley, Lê Bá Bình, và các chiến sĩ Sói Biển là tầm bắn hiệu quả tối đa của tất cả các vũ khí mà họ có thể sử dụng và nhìn thấy được điểm rơi. Đối với Gerry Turley tại Trung Tâm hành Quân Ái Tử thì có phần rộng hơn một chút. Bất cứ ai đọc được bản đồ cũng đều thấy Đông Hà và cây cầu là chìa khóa của sự thành công hay thất bại trong vòng vài giờ sắp tới. Mặc dù nhận thức được điều đó nhưng Turley và toán của anh vẫn phải lo lắng và phối hợp những vấn đề tại các điểm khác trên địa bàn phía Bắc Vùng I Chiến Thuật. Tại những nơi này lực lượng VNCH và TQLC đang chịu đựng các tình huống càng lúc càng thêm khó khăn.

Trong lúc liên tục phân tích để điều động thời gian, nỗ lực, sự lo âu và nguồn lực, những điều dự đoán sắp sửa xảy ra tại Đông Hà đã khiến cho nơi này trở thành trọng tâm nhưng không phải là tất cả nỗ lực chung. Còn nhiều chỗ khác nữa cũng cần phải chú ý đến vì nếu lơ là thì sẽ có ảnh hưởng xấu đến bức tranh chiến lược tổng thể.

Không đầy 15 cây số về phía Tây của cầu Đông Hà có một cây cầu nhỏ hơn bắc qua sông tại Cam Lộ cũng có khả năng chịu đựng được chiến xa hạng nặng. Cái cầu đó hẳn nhiên đối với mọi người sẽ là lối giải quyết thứ nhì của Bắc Việt cho các đoàn thiết xa nếu họ không chiếm được cây cầu chính của Đông Hà. Turley cũng muốn phá nó luôn. Một lợi thế mà quân Đồng minh có là hải pháo, tuy không đủ sức để phá cho cầu sập xuống nước luôn nhưng cũng đã được sử dụng với hiệu quả tốt khi chống lại đợt tấn công ban đầu của thiết xa địch, nhờ sự phối hợp và kế hoạch đã tính trước của toán Joel Eisenstein rất phù hợp với quyết định nhanh chóng của John Ripley đã gọi và điều chỉnh hỏa lực nhắm vào địch. Cam Lộ thì nằm quá xa trong đất liền cho việc hỗ trợ bằng hải pháo, còn không quân thì không thể sử dụng được cho tới khi nào thời tiết tốt hơn.

Lúc này thì trung đoàn thứ nhì của Sư đoàn 3 BB QLVNCH đang rút xuống Cam Lộ tương đối có trật tự hơn là Trung đoàn 57 tại Đông Hà. Bị quân Bắc Việt rượt theo sát đuôi nên lực lượng Công Binh Chiến Đấu không tài nào đặt chất nổ để phá hủy cầu Cam Lộ được.

Năm cây số về hướng Tây Nam của Cam Lộ là căn cứ Carroll, nơi đó có Trung đoàn 56 và 22 khẩu trọng pháo trọng yếu gồm cả bốn khẩu 175 ly quý giá cũng đang chịu áp lực nặng nề của địch. Turley và toán của anh trong Trung Tâm Hành Quân không lường trước được là có các thế lực ngấm ngầm bội phản trong nội tình lãnh đạo địa phương của QLVNCH. Kết quả đưa đến là sự đầu hàng hèn hạ của cả căn cứ hỏa lực với tất cả binh sĩ, súng ống và trang thiết bị. Lúc đó thì tất cả những gì Turley biết được là tình hình tại căn cứ Carroll đã tuyệt vọng và các yêu cầu bắn hỗ trợ không được trả lời.

Điều duy nhất còn khả quan về tình trạng của căn cứ yểm trợ hỏa lực Mai Lộc, non bốn cây số về hướng Nam của trại Carroll nơi mà Lữ đoàn 147 TQLC Việt Nam đang trấn giữ, là các lực lượng TQLC tuy bị áp đảo về quân số và hỏa lực nhưng vẫn chống trả kịch liệt. Tuy nhiên họ khó mà giữ mãi được.

Từ khởi đầu của cuộc công kích lễ Phục Sinh (Mùa Hè Đỏ Lửa), hải pháo đã chứng tỏ là nguồn hỏa lực duy nhất có thể tin cậy được trong việc yểm trợ cho các đơn vị nào trong tầm hoạt động. Cho đến buổi sáng lễ Phục Sinh, có năm chiến hạm ngoài khơi là những chiếc: USS Buchanan (DDG‐14), USS Strauss (DDG‐16), USS Waddell (DDG‐24), USS Anderson (DD‐786), và USS Hamner (DD‐718). Tất cả những chiếc tàu này đã bắn đi những đợt hỏa lực áp chế mạnh mẽ và chính xác. Các hạm trưởng đã cho chiến hạm vào sát bờ tối đa để tận dụng từng thước cho tầm đạn của hải pháo.

Việc điều động hỏa lực Hải quân như vậy đòi hỏi sự phối hợp và liên lạc chặt chẽ giữa các chiến hạm và các lực lượng trên bờ. Đồng thời với nỗ lực đó, các hạm trưởng cũng gởi bản sao các thông điệp cho cả Trân Châu Cảng lẫn Sài Gòn. Sự liên lạc này phần nào đã bị trì trệ với hậu quả là làm ảnh hưởng đến Turley và toán của anh tại Trung Tâm Hành Quân. Chính Turley cũng không đoán trước được sự việc này và hoàn toàn không hay biết gì hết.

Cho đến sáng lễ Phục Sinh thì mọi người trong Trung Tâm Hành Quân bắt đầu nghe tin đồn nhiều hơn từ những người anh em Hải quân ngoài khơi ám chỉ đến các lực lượng TQLC Hoa Kỳ đang lênh đênh ngoài biển và gợi ý một cách lộ liễu là họ chỉ chờ được mời vào nhập cuộc. Turley dẹp hoàn toàn và bỏ ra ngoài tai cái ý tưởng này. Thay vào đó, anh tập trung vào việc sử dụng tối đa các phưong tiện mà anh vẫn tin tưởng tuyệt đối.

Điều mà không ai trong Trung Tâm Hành Quân có thể lường được là sự lan truyền nhanh chóng của các tin tức sai lạc đó. Nó giống như Turley và toán của anh tự dưng là thành viên bất đắc dĩ của một kiểu trò chơi “điện thoại” dành cho người lớn trong đó cứ mỗi lần truyền tin đi truyền tin lại thì các dữ kiện được báo cáo lên các cấp cao hơn theo hệ thống quân giai lại càng bị bóp méo hơn. Mặc dù các nhân vật tại Sài Gòn từ từ cũng nhận ra là tình hình tại phía Bắc Vùng I Chiến Thuật không khá lắm nhưng đồng thời họ có vẻ như hết sức quân tâm là có một tên Trung tá TQLC nổi loạn nào đó đang giở chứng tại Trung Tâm Hành Quân Ái Tử.

Screen Shot 2015-06-03 at 9.18.31 AM

CHỐN CŨ…

hienmay

ừ thế nhé anh đi cho kịp bước
ngoái lại chi trời mù lối phía sau
giọt thinh không lơ lửng ở trên cao
nào ai biết… em – tinh cầu vỡ vụn

và vội vã… triệu vì sao tắt ngúm
sau lưng anh (em trước mặt) – buồn thiu
đường thênh thang – một bóng hắt… liêu xiêu
thành đôi đấy (mà là đôi… hai nửa)

anh thừa sức tặng người nhiều lời hứa
em cả tin ôm vất vả đời mình
tình níu tình đợi khắc khoải… bình minh
đông lập sớm – em ngưng thu… thảng thốt

giữa màn tối… chập chờn cơn mê hốt
em vẽ anh bằng cọ nhớ rất mềm
buồn làm màu – nét nguệch ngoạc… thành tên
môi buột gọi – lá ngoài sân… xao xác

nước mắt rơi (nước mắt em) đắng chát
lã chã tuôn nhòe bức ảnh anh rồi
làm sao dừng (lững thững… cuộc tình trôi)?
em lạc mất… trái tim em – duy nhất

lặng lẽ… cọ tìm góc riêng khóc ngất
nghe dậy sầu (rượu chưa nhấp… đã cay?)
anh ngang qua… hoa cỏ chỉ khẽ lay
mà hất gọn em vào sâu huyệt mộ

**
chốn cũ bây giờ sót lại cái tên (khi xưa anh từng gọi em) – nhỏ ngốc… .

HIỀN MÂY